Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Lưu Quang Vũ: Thơ tôi là mây trắng đời tôi

Lưu Quang Vũ: Thơ tôi là mây trắng đời tôi
Lỗi hẹn với Đại học Duy Tân và Viện Văn học chương trình Hội thảo khoa học “Cuộc đời và sự nghiệp văn học Lưu Quang Vũ” diễn ra sáng ngày 29/8/2018, tại Đại học Duy Tân, Đà Nẵng. Xin trích đăng một phần nhỏ nội dung thơ Lưu Quang Vũ trong chuyên luận Thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. NXb Hội Nhà văn, 2010.
Một nén hương tri ân một nhà thơ tài hoa...
1. Thơ Lưu Quang Vũ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước
Tư duy của văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vốn quen với tính sử thi hùng tráng, thường trực hình ảnh kỳ vĩ, hào quang rạng rỡ; ngợi ca con người cao cả, phi thường, say với lý tưởng...
Nếu đề cập đến nỗi đau, thì đó vẫn là nỗi đau của con người ý chí, coi thường hy sinh, gian khổ nên dường như “ý nghĩa của nỗi đau đều nằm ngoài nỗi đau” [179]. Ở trường hợp đó, tinh thần sử thi vẫn chiếm giữ vị trí chủ đạo.
Vào thời kỳ đầu, dưới con mắt nhà thơ, hiện thực chiến trường được thể hiện bằng cảm xúc lãng mạn, bay bổng. Đó là tình cảm tươi mát, dạt dào sức sống, đầy ắp kỷ niệm đẹp đẽ về cuộc sống, về quê hương, tình bạn, tình yêu. Tâm hồn người lính trẻ đằm thắm. Cảm xúc còn nhiều dấu vết sách vở nhà trường trong trẻo, đầy tin cậy “Ôi lá bưởi lá chanh - Hương vị quê nhà quen thuộc quá - Như ngày thơ nhỏ - Có cây bưởi cạnh cầu ao” (Lá bưởi, lá chanh - Lưu Quang Vũ)...
Nhưng không vì thế, cái góc khuất, những điều không dễ nói ở thời điểm đó chưa đến với thơ chống Mỹ. Bên cạnh hào quang chiến thắng, những tâm trạng nhìn từ số phận cá nhân và muôn mặt đời thường đã được thơ chống Mỹ thể hiện một cách thấm thía, nhân bản. Trong đó, thơ đã hé mở sự đa dạng trong những đối cực: “thánh thần và ác quỷ”, “cao thượng và thấp hèn”, “thành thật và giả dối”... Thơ nói nỗi đau được ý thức như một tổn thất không dễ gì bù đắp của con người vật chất, con người trần thế. Con người một mặt vừa chịu áp lực sử thi, một mặt lại trở về với cái tôi nhân bản. Thơ chống Mỹ đã góp một thành tựu trong việc thể hiện con người, khát vọng con người từ cái nhìn phi sử thi. Trong số ít những nhà thơ ấy, phải kể đến Lưu Quang Vũ.
2. “Thơ tôi là mây trắng của đời tôi”
Những năm cuối đời, nhà thơ được đông đảo công chúng mến mộ với tư cách nhà viết kịch. Sự cống hiến của anh cho sân khấu đáng được ghi nhận. Nhưng ở lĩnh vực thơ, trước khi qua đời, anh đã có hơn 20 năm sáng tác, kịp đặt tên cho 12 tập thơ, trong đó nhiều tập đã hoàn chỉnh (Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Cỏ tóc tiên, Cuốn sách xếp lầm trang) và một số tập khác đang sắp xếp dở dang, cần viết bổ sung. Ngoài nửa tập thơ (phần Hương cây) in chung với Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa (1968), hầu như thơ anh chưa công khai trước bạn đọc. Mãi đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước, các tập Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993), Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ (1994), Lưu Quang Vũ Thơ và Đời (1997) mới được gia đình và bạn hữu tiến hành xuất bản và đặc biệt Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010) với hơn 100 thi phẩm, có thể xem là tuyển thơ Lưu Quang Vũ được lựa chọn đầy đủ và kỹ lưỡng nhất từ trước đến nay.
Mặc dù gặt hái thành công trên nhiều lĩnh vực, nhưng thơ vẫn là thể loại anh đam mê nhất và đồng thời là con người thật của anh. Nếu kịch chỉ là một quãng thời gian thăng hoa, thì thơ anh sẽ đi những bước rất dài với nó. Kịch là trách nhiệm của công dân Lưu Quang Vũ với xã hội, còn thơ là trách nhiệm của Lưu Quang Vũ với chính mình. Thơ đã đi cùng anh trong suốt hành trình cuộc đời; là nơi anh ký thác nhiều nhất tâm sự, đồng thời cũng ngổn ngang nhất tâm trạng của riêng mình. Anh thích làm thơ hơn viết kịch, viết truyện. Thơ như cứu cánh giúp anh điểm tựa, vịn đứng lên trước những lúc cô đơn, tuyệt vọng.
Thơ là nhật ký cuộc đời “Thơ tôi là mây trắng của đời tôi”. Vì thế, thành công của thơ thường mang lại cho anh nhiều hơn và lâu hơn những niềm vui. Những bước đi của lịch sử đều tạo nên những chuyển biến trong thơ anh với nhiều cung bậc tình cảm. Trải nghiệm thời gian và thực tiễn cuộc sống, thơ anh dần đạt đến độ “nhuần chín”.
Sự nhạt dần cảm hứng sử thi có thể thấy rõ hơn trong cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ những năm cuối chiến tranh. Ở vị thế một nhà thơ, bắt đầu từ năm 1968, anh được bạn đọc yêu thích cùng một số cái tên quen thuộc, như: Bằng Việt, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy... ở vẻ tươi tắn, cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan chung của những người làm thơ trẻ hồi ấy. Thơ của anh qua từng mốc thời gian của cuộc đời riêng đã gắn với những biến đổi, thăng trầm chung của đất nước. Thời gian đầu, thơ Lưu Quang Vũ giàu cảm xúc tinh tế, những rạo rực đầu đời - tình bạn, tình yêu, tình quân dân, tình yêu quê hương đất nước... đan xen một cách ý vị bằng một giọng điệu thơ đắm đuối, những cảm xúc trong trẻo, non tươi, man mác, thiêng liêng đầy tin cậy “Bồi hồi nghe hương bưởi, hương chanh” (Lá bưởi lá chanh). Tiếp theo sau Hương cây là một thời kỳ khác của thơ anh, gắn với những bi kịch, khủng hoảng trong cuộc đời riêng với bao nỗi đa đoan. Thời kỳ của một hồn thơ ngổn ngang những dằn vặt, đau xót, cô đơn đến cùng cực. Đây chính là thời điểm anh “ẩn mình”, “rút ruột”, “vắt mình đến cùng kiệt” để viết nên những vần thơ trĩu nặng cảm thức cô đơn. Anh viết chân thành - chân thành đến tàn nhẫn (chữ dùng của Vũ Quần Phương) cho riêng mình, cho nhu cầu của bản thân nén chặt trong cả bài thơ Cuốn sách xếp lầm trang - tên một bài thơ cũng là tên của cả tập thơ dự định trong bản thảo, chưa in trọn vẹn. Sự cô đơn đậm đặc, triền miên thường trực đã đi cùng Lưu Quang Vũ trong suốt năm tháng không bình yên, thời kỳ đất nước đang oằn mình trước khó khăn, bom đạn, chiến tranh. Dường như “Bản năng thi sĩ giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng” (Lưu Khánh Thơ).
Với anh, nỗi cô đơn là một trạng thái buở vây từ cả hai phía: khách quan (hoàn cảnh) và chủ quan (cái tôi nhà thơ) chủ động tách mình ra khỏi sự đơn điệu, buồn tẻ, chọn con đường riêng cho mình. Nhân vật trữ tình thú nhận cô đơn ngay trên con đường mình chọn “Anh là con ong bay giữa trời lận đận - Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao” (Bầy ong trong đêm sâu; là người lính cô đơn giữa đồng đội “cô đơn giữa trung đoàn...Nỗi cô đơn hoàn toàn, nỗi cô đơn khủng khiếp” (Mấy đoạn thơ); không nhận được sự chia sẻ của bạn bè, nên “Tôi chán cả bạn bè” vì họ “chẳng nói được câu gì mới”, “Tôi bỏ ra đi” và “họ ngồi ở lại; cuối cùng chỉ một mình nhà thơ trong “phố vắng ban đêm” (Có những lúc). Quá nhạy cảm khiến anh nhận ra sự cô đơn của những người xung quanh khi chính họ không cảm biết được “Những lá thư không biết gửi về đâu - Những hải cảng không có tàu cập bến” (Lá thư); lạc lõng giữa bạn bè “Mặt tôi âm u như rừng rậm - Nghe em cười giữa bè bạn đông vui” (Có những lúc); lẻ loi giữa lớp học ồn ào; đổ vỡ trong tình yêu “Em sập cửa lại rồi, một mình “nhận bao cái tát” (Mấy đoạn thơ); xa lạ ngay bên cạnh những người ruột thịt thân yêu “Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ”; và cuối cùng vẫn “khép lại” trong vòng tuần hoàn “Anh bỏ hồ trong, bỏ vườn cây mát - Đi tìm chân trời nhưng chỉ thấy cô đơn” (Những ngày chưa có em)...
Bên cạnh giọng điệu chung phấn khởi tự hào chi phối bởi tinh thần sử thi, thì những bài thơ, tập thơ, những câu thơ tỉnh táo có tính chất nhận thức lại hiện thực chiến tranh như vậy rất hiếm hoi, có thể bị coi là lạc điệu. Tác giả của nó nhận thức được “Khi những bài thơ anh viết ra - Chỉ một mình anh đọc” (Nếu đó là tội lỗi). Đọc thơ anh, có thể thấy một chút bi quan quá sớm, nhưng cũng đã thấy một linh cảm trước thời cuộc của một trái tim thông minh, nhạy cảm, luôn có tính dự báo. Hơn chục năm sau, những chủ đề này đã trở lại trong thơ Lưu Quang Vũ và làm sôi động sân khấu kịch cả nước.
29.8.2018
Lê Thị Bích Hồng
Nguồn: Trích chuyên luận Thơ với cuộc 
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. NXb Hội Nhà văn, 2010
Theo http://demo.trieuxuan.info/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc “Vườn mộng” thêm lần nữa, tôi có niềm xác tín hoàn hảo về Nguyễn Văn T...