Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

Ta đã làm chi đời ta 2

Ta đã làm chi đời ta 2

Bơ vơ

Vừa chân ướt chân ráo về đến Hà Nội đã có tiền tiêu rồi. Số Tử vi của Hoàng có ngôi Thiên Lộc hay sao ấy; để hôm nào tính lại coi!
Tiền thì không nhiều, đối với thời giá; tám trăm bạc giữa thủ đô Hà Nội khoảng 1950-1951, nghĩa lý gì! Nhưng đối với một kẻ vừa hồi cư thì giá trị lớn lắm!
Có tám trăm bạc là thuê được nhà rồi; và cũng sống tạm được rồi. Mặc dầu đến tháng sau lại phải lo tiền nhà, và cái chuyện sống tạm chỉ kéo dài được chừng bảy ngày là kịch liệt!
Đó là số tiền tác giả do Ban kịch Mai Lân trả cho Hoàng. Vở kịch thơ Vân Muội được ban kịch này đưa lên sân khấu Nhà hát Lớn khoảng một tháng trước; sau đó Hoàng hồi cư, vừa kịp để lãnh tiền; đỏ thật! Năm 1944 đã một lần, đến nay lại một lần; vở kịch Vân Muội đóng vai trò "cứu nguy" đúng lúc quá đi thôi! Ban Thế Lữ, ban Mai Lân đều đáng cám ơn cả.
… Thế rồi anh em tìm đến, và Hoàng đi tìm gặp anh em…
Trong số anh em làng văn, Ngọc Giao của Tiểu thuyết thứ bảy ngày xưa có vẻ nhiều thiện cảm với Hoàng nhất.
Nhà văn lãng mạn này vẫn còn viết văn lãng mạn, và có nhiều thế lực ở một vài nhà xuất bản lớn của Hà Nội 1950. Nhưng đồng thời anh cũng trở thành biên tập viên của Sở Thông tin Bắc Việt, nên đã vững lại càng vững hơn.
Thấy Hoàng đi giữa phố Hàng Đào mà nghênh ngang chiếc "ba-toong", trên mình lại mặc một cái áo dài bằng vải ta nhuộm nước củ nâu; sư chẳng ra sư. Tây thuộc địa chẳng ra Tây thuộc địa, Ngọc Giao liền kéo phăng Hoàng về nhà, lấy ra một bộ quần áo Tây bằng "lên", màu tím sẫm, có đủ cả "gi-lê"; rồi "sơ-mi", "cờ-ra-vát", khuy tay mạ vàng… Cũng lại đủ cả bít tất, giầy "bốt can". Và cả mũ "fớt" nữa.
Ngọc Giao ngắm nghía Hoàng thay bộ cánh xong; gật gật cái đầu, có vẻ đắc ý lắm.
Thế là Hoàng ra đường, y hệt một dân Hà Nội chính cống, chẳng còn chút màu sắc mùi vị tản cư nào bám vào người.
Ba hôm sau, Ngọc Giao lại tìm đến, reo lớn từ cầu thang, nơi căn gác Hoàng vừa thuê được trên con đường Quan Thánh, đối diện vườn hoa Hàng Đậu:
"Có tiền cho ông rồi!".
Thì ra ông bạn quý của Hoàng đã mách nước cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh xin tái bản tập thơ Mây. Tác quyền định là hai ngàn đồng; hãy đưa một ngàn trước, còn một ngàn nữa đưa sau, rất có thể ngay khi sách lên khuôn chữ.
Đang nằm dịch bài Tương tiếu tửu, phân vân chưa biết dịch đoạn cuối ra sao:

Ngũ hoa mã, thiên kim cừu
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

Hoàng nghe câu chuyện của Ngọc Giao, liền nổi hứng, dịch luôn thành bốn câu thơ Song thất lục bát:

Ngựa hoa đấy, áo cừu cũng đấy,
Gọi trẻ đem đổi lấy rượu mau!
Ta cùng ngươi, lại cùng nhau
Uống cho ngàn trước ngàn sau tan buồn. 1.

Tuy "ngàn sau" chưa đến, nhưng có "ngàn trước" trong túi, cũng là oai lắm rồi, Hoàng vững bụng dời nhà tại Hàng Điếu, và đi tìm cố tri.
Đỗ Quân – người phiếm du Kinh Bắc hồi xưa – lúc này cũng đang có mặt ở Hà Nội, thuê nhà ở trại Trung Phụng, xóm Khâm Thiên, đúng ngôi nhà của họ Đinh trước mới là quái ác chứ!
Hỏi tin các bạn hầu hết vẫn còn phiêu bồng. Chưa một nhân vật nào trong bài thơ của Hoàng tống biệt Đỗ Quân năm 1942 về họp mặt ở đây với Đỗ và Hoàng cả! Ông Quỹ thì còn bàn trời bàn đất ở tận đâu. Ông Đoàn thì đang viết kịch dựng kịch cho những ai chẳng biết. Ông Cung thì say vẽ tranh, say đi bộ, chẳng hiểu đang dừng chân múa bút tận phương trời nào…
Theo đà câu chuyện, Đỗ cho hay tin nữ sĩ Ngân Giang đã hồi cư lâu rồi, và cũng thuê nhà trong xóm này, chỉ cách trang trại của Đỗ chừng năm mươi thước.
Hai chữ "Ngân Giang" được ném ra như cả một con rắn bạc khổng lồ đang quằn quại vươn mình về quá khứ, kéo theo cả Hoàng trên nẻo ngược Thời gian…
Ôi! Hoàng với Ngân Giang chẳng có duyên chút nào hết! Những từ 1936, đã có người rủ Hoàng đến thăm phòng khách thính của Ngân Giang, lúc ấy còn là Hạnh Liên nữ sĩ. Đào Quân, tác giả Mấy nét mơ rủ Hoàng đi chứ ai! Vườn Bách Thảo – nơi Hoàng cư ngụ lúc bấy giờ – được lấy làm địa điểm tập hợp. Rồi cái ông chuyên làm thơ tám chữ, là Thao Thao; và cái ông chuyên viết về ngày xưa, là Nguyễn Nhược Pháp cũng lục tục y hẹn đến.
Nhưng chẳng hiểu sao lại chỉ gặp nhau ở Bách Thảo rồi giải tán luôn, không có mục kéo đến "salon littéraire" của Hạnh Liên, mới kỳ chứ!...
Mãi sau tám năm, trải biết bao vật đổi sao dời, bút hiệu Hạnh Liên đã nhường chỗ cho bút hiệu Ngân Giang, giòng sông nước mắt, càng ngày càng sáng rực trên thi đàn, lúc ấy Hoàng mới được cùng "ai" hội ngộ.
Nhưng, khoảng thời gian này, Ngân Giang có vẻ bận rộn về chuyện chồng con; mà Hoàng thì vừa viết xong vở kịch thơ Vân Muội, đang chạy khắp Hà Nội cùng Chu Ngọc để tìm cho ra vai nữ đủ khả năng diễn xuất vai "Cô gái làng trên" nghĩa là vừa có giọng ngâm ma quái, mê hồn, lại vừa có chút ít tiếng tăm trong văn giới, và lẽ dĩ nhiên về xuân sắc nếu chẳng được cả mười phần thì cũng không đến nỗi làm thất vọng giới mê kịch mê thơ của Hà Nội thanh lịch!
Được Ngân Giang hợp tác thì còn nói gì nữa! Thế mà rồi câu chuyện chẳng đi đến đâu, chỉ vì đức lang quân của Ngân Giang không chấp thuận. Ấy là Ngân Giang bảo thế!
"Anh ấy ghen ghê lắm. Họp thơ với các bạn còn khó khăn; huống hồ lại lên sân khấu mà thỏ thẻ uốn éo!"

Duyên ngoài đời đã không, duyên sân khấu cũng không! Mấy lần gặp sau đều vô ích như vậy nốt. Khoảng 1943, 1944, lúc nào cũng thấy "người đẹp sông Ngân" vướng vít bận rộn về chuyện chồng con cả. Còn thơ, còn kịch gì!
Cho mãi đến nay, cái tuổi giang hồ lạc phách có chiều đã xế bóng. Hoàng mới lại tái ngộ Ngân Giang.
Từ nhà Đỗ Quân đi tới nhà "người đẹp’, quả nhiên chỉ trong gang tấc. Thế mà không biết sao, vừa nói chuyện được mấy câu, Hoàng đã thấy cả muôn trùng quan san dựng lên ngay trước mặt… và chặn ngang lấy cổ họng, chặn ngang lấy trái tim.
Chả là người Hà Nội lúc bấy giờ có một mặc cảm ly kỳ lắm – chẳng biết đẹp hay không đẹp? – Mặc cảm rằng kẻ hồi cư trước phải giúp đỡ người hồi cư sau mình. Ngân Giang đã "bỏ chiến khu" về Hà Nội từ một năm trước, cũng đề ra cái bổn phận quái gở ấy để đòi Hoàng phải nhận một số tiền, mặc dầu chỉ là số tiền mọn… ba trăm thôi!
Hoàng vội xua tay: "Không được! Hoàng đến đây hôm nay là do ngẫu nhiên; đâu có ý "đả thu phong". Nếu thật Ngân Giang bây giờ đã trở thành "con sông Bạc", thì cứ để đấy; còn nhiều dịp, lo gì? Hôm nào tan sở (sở Thông tin) và rảnh rỗi, Ngân Giang đến nói chuyện Thơ với Hoàng nhé! Địa chỉ: số nhà tám, phố Hàng Điếu, cứ đi vào cái cổng bên cạnh, vượt qua sân là tới cầu thang ngay, Hoàng ở phòng thứ nhất trên lầu đó!".
Người-đẹp-công-chức lại bỏ chiếc phong bì đựng tiền vào ngăn kéo, nở một nụ cười rất tươi.
"Anh không giận Ngân Giang đấy chứ?"
"Sao lại giận! Anh chị em làng văn chúng ta thiếu tiền và đưa tiền cho nhau là sự thường. Chỉ vì hôm nay, Hoàng hãy còn đang "giàu", những tiền "trời ơi đất hỡi" tiêu chưa hết. Cũng như cái lần sơ ngộ năm 1942 đó, Ngân Giang nhớ không?"
"Lần nào nhỉ?"
"Thì cái lần Hoàng cùng đi với Chu Ngọc đến phố Hàng Bông ấy!"
"À… nhớ rồi! Thế sao?"
"Thì hôm đó, Hoàng cũng dự bị trước một số tiền đựng trong phong bì, định rằng nếu Ngân Giang nhận lời đóng giúp vai Vân Muội, thì, với tư cách người tổ chức, Hoàng sẽ "a văng" luôn. Vừa là tác giả, vừa là "giám đốc" Ban Kịch Hà Nội mà!

Bẵng đi hai tuần lễ, mới thấy Ngân Giang tìm đến. Và chưa kịp ngồi xuống chiếu đã vừa nói vừa cười:
"Ngân Giang đang đói đây. Có gì Hoàng cho ăn ngay đi nhé!".
"Yên tâm. Thục Oanh làm bếp rất nhanh, lại rất khéo!"
Và lần thứ nhất Hoàng giới thiệu Oanh với Ngân Giang…
Đúng như lời Hoàng khoe trước, Oanh chỉ tốn mười lăm phút là cơm rượu đàng hoàng đã bày ra. Ngân Giang cao hứng quá, nghĩ ngay đến… tương lai:
"Chà! Công chức đi làm về mà ngửi thấy mùi xào nấu thơm phức thế này thì tốt số nhất còn gì! Mai mốt cứ buổi trưa là Ngân Giang về đây cho gần nhé! Từ sở đạp xe về tận Khâm Thiên giữa trưa để ăn cơm rồi lại hối hả đạp xe đi làm buổi chiều, ngại quá!".
Rồi Ngân Giang ngồi vào mâm. Ăn ngon miệng và uống rượu cũng khá lắm. Con-người-công-chức theo với hơi men tan dần, để lộ nguyên hình một nữ sĩ tài hoa, từng vang danh một thuở, khiến cho vô khối anh chàng mất hồn vì "Tiếng vọng sông Ngân".
"À, mà Ngân Giang có bài thơ "Mây trắng…" nổi tiếng lắm thì phải. Hoàng đã nghe một anh bạn nào ngâm khi còn ở hậu phương. Bài ấy thế nào nhỉ? Hoàng chỉ nhớ có năm vần: trời, nơi, rồi, đôi, và rơi. Ngân Giang thử ngâm lại coi nào".
"Anh cũng biết bài ấy hả? Nó như thế này!"
Và Ngân Giang lấy giọng cao ngâm:

Mây trắng lang thang mãi cuối trời,
Gió chiều heo hút khắp nơi nơi.
Cung đàn biết mấy dây chùng hẳn
Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi.
Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa nàng chim nhạn có chung đôi?
Thương thay trên quãng đường chia ngả.
Thì ngả nào không có lá rơi!

Hoàng vỗ tay tán thưởng:
"Tuyệt lắm! Lúc nãy Hoàng bảo rằng nhớ vần, ấy là vì chính Hoàng đã họa nguyên vận từ năm ngoái năm kia, trên bước đường "mưa gió". Tiện đây Hoàng đọc cho Ngân Giang nghe!".
Thế rồi Hoàng cũng ngâm:

Lửa khóa mây then bốn vách trời,
Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi.
Vẫn chưa ý gửi vào thơ được,
Mà đã dâu toan hóa biển rồi.
Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng
Vầng trăng ai nỡ xẻ làm đôi?
Tin thu lạnh lắm… rồng ao cạn,
Há chỉ phòng thu lệ nến rơi! 2.

Hôm sau quả nhiên Ngân Giang về nghỉ buổi trưa ở nhà Hoàng thật. Căn lầu ở phố Hàng Điếu chỉ có độc một chiếc giường, nơi dành riêng lão mẫu. Còn Hoàng thì trải chiếu trên nền đá hoa, sách vở bề bộn, mây khói tung hoành. Ngân Giang phải chen vào nằm giữa Oanh và Hoàng. Nghĩa là Hoàng vẫn cao ngọa, đối diện với hoa đèn. Còn Ngân Giang thì nằm ngủ ngay sau lưng Hoàng; rồi đến Oanh. Kế đó là soong, chảo, bếp cồn, mọi thứ lủng củng. Nhưng Oanh đâu dám ngủ. Còn phải cứ đợi đến giờ đi làm thì gọi Ngân Giang dậy chứ! Tin vào Hoàng thế nào được. Vì Hoàng mà bận nghĩ câu thơ nào thì chẳng còn biết gì trời đất chung quanh nữa; nhớ sao nổi giờ-đi-làm của ai!…

Thế rồi Thục Oanh cũng thân với Ngân Giang lắm. Chẳng rõ hai nàng thủ thỉ với nhau những gì mà ít lâu sau, Ngân Giang đem đến cho hai tấm hình, cỡ 9x12. Đằng sau một tấm có chép đủ bài thơ "Mây trắng lang thang mãi cuối trời" và lời đề tặng. Còn một tấm thì chép bốn câu thơ Thất ngôn:


Ngày muộn nắng soi vàng nhạt nhạt
Chợ tàn quán đổ bóng xiêu xiêu.
Có con chim én bay trong gió
Cánh đập bơ vơ bạt mấy chiều.


Và hai câu lục bát:


Từ khi trở lại Kinh thành
Chiều nay mới thấy rằng mình bơ vơ.


Hoàng chợt nhớ lại mấy lần ngồi đối ẩm, Ngân Giang có vẻ làm ra "say-quá-chén". Rồi giọng nói trở nên bi phẫn khác hẳn những lúc thường. Và cả mấy phen Hoàng đến sở đón Ngân Giang cùng về, cũng thấy "mặt hoa ủ dột" lo lắng thế nào ấy! Hoàng bèn hạ bút một bài như sau:


Đôi bờ thăm thẳm giấc Tiêu Tương
Chợt bóng hoa mai động cách tường.
Tâm sự đã nhàu trong khói lửa
Thiên duyên còn ngát ở văn chương.
Giả say, ta biết sầu kia thực,
Gỡ mộng, người e nghiệp sẵn vương.
Đừng nói "bơ vơ từ trở lại",
Tháp ngà ai khép với đài gương!

° ° °

Thơ chẳng cần trao tay, vì đọc lên ngâm lên cho nhau nghe là đủ.

"Phải họa nguyên vần đấy nhé! Rượu sẵn đây, chúng ta là đôi bạn "vong hình"; mặc cho tửu hứng đưa đường dẫn nẻo! Cùng với "Mây trắng lang thang…".

"Hoàng có "đòi nợ" thì cũng để thong thả đã chứ! Bây giờ hãy ngâm trước một câu; Ngân Giang thấy có thể nối vần được thì nối; bằng không, Ngân Giang sẽ đọc liều một câu khác để Hoàng nối theo".

"Cũng được. Ờ…! Hãy uống một hớp đã!…" Và Hoàng ngâm:


"Tình đã trần gian mấy thuở rồi"


Ngân Giang có vẻ tư lự:

"Nối cũng sẵn vần; nhưng chỉ sợ ý không liền. Hay là không tự nối lấy đi; Ngân Giang sẽ lãnh phần bốn câu cuối".

"Khó tính quá! Vâng, thì xin chiều… Đây nhé bốn câu đầu:


Tình đã trần gian mấy thuở rồi
Hồn thơ chung một hướng về ngôi.
Bước chân Bắc đẩu vàng toan dạo
Khóe mắt Thiên hà bạc muôn trôi".


"Hoàng sẵn chữ nghĩa quá nhỉ? Ngân Giang đến chịu thôi".

"Sao lại chịu? Tâm sự thế nào, cứ trút xuống lời thơ. Vần sẽ liệu sau. Bất chấp!..."

"Nghĩ được hai câu rồi đây; Hoàng nghe nhé!


Thuyền buộc quê xưa, lòng họ Đỗ;
Hoa cười năm ngoái, hận chàng Thôi".


Hoàng reo lên:

"Hay quá! Chịu Ngân Giang. Thú thật hồi trước đọc đến những câu:


Sương thu giá áo;
Mây thu ngưng trời.
Chốn đài trang bối rối ruột tằm, trăng thu một mảnh;
Chiều quan ải xông pha vó ngựa, sầu thu đôi nơi. 3


Hoàng không dám tin rằng của Ngân Giang; mà cứ nghi nghi hoặc hoặc, chẳng đoán ra được nhà Nho lãng mạn nào đã gà cho "người đẹp"… Bây giờ thì Hoàng tin, tin cả mười phần".

"Hoàng không "nịnh đầm" đấy chứ?"

"Thì nịnh cũng được, có sao đâu! Nhưng nịnh "Sông" chứ sao lại nịnh "Đầm"?... À… mà… Hoàng chỉ khen "hay" thôi; chưa hẳn đã đồng ý. Thử ngâm lại hai câu giai tác ấy xem nào…


Thuyền buộc quê xưa, lòng họ Đỗ;
Hoa cười năm ngoái, hận chàng Thôi.


Sao chàng… lại… "thôi"? Có gì để chàng hận? Ai chả biết câu trên nói Đỗ Phủ, câu dưới nói Thôi Hộ. Nhưng ở đây – trên mảnh chiếu này, đúng nửa đường thế kỷ XX này – chỉ có Ngân Giang với Hoàng; Đỗ chính là họ của Ngân Giang, như vậy chàng Thôi chẳng là Hoàng thì còn ai vào đó nữa? Mà… Hoàng… đâu có "thôi"!"

"Vậy Hoàng sẽ…"

"Yêu cầu được đổi lại câu dưới. Nàng "Thôi" chứ không chàng "Thôi", nếu quả có cái sự "thôi" ấy! Nghĩa là hai câu tuyệt tác của Ngân Giang phải là:


Thuyền buộc quê xưa, lòng họ Đỗ.
Mây in trăng mới, ý nàng Thôi…"


Vừa lúc Thục Oanh đi mua hoa quả về, Ngân Giang nhìn Oanh cười lớn… Rồi ngâm đi ngâm lại mãi. Ngâm một lần, cũng một lần uống cạn chén.

Mặt đỏ bừng. Oanh phải đỡ xuống chiếu nằm nghỉ. Ngân Giang đã say quá. Hai câu cuối đành bỏ dở. Và bài thơ Đường luật chỉ có sáu câu…

Bẵng đi mấy tháng, Hoàng được tin Ngân Giang lại bước lên xe hoa thêm lần nữa. Không ngạc nhiên. Chỉ buồn cho bài thơ đành thiếu hẳn hai câu kết.

Nhưng còn may mắn ở điểm người đẹp vẫn tiếp tục nghề công chức. Hoàng vẫn đến sở tìm gặp được. Và trao một bài thơ khác – cũng chỉ sáu câu – trong đó câu nào cũng giữ lại mấy chữ đầu của bài cũ:


Tình lại trần gian nữa đó sao?
Hồn thơ lẻ hướng xót ngôi cao!
Bước chân Bắc đẩu vàng chưa động,
Khóe mắt Thiên hà bạc sớm trao.
Thuyền buộc quê xưa, giòng lệ cũ,
Mây in trăng mới, giấc mơ nào?...

° ° °

Thơ trao theo kiểu chim xanh; nhưng càng nghĩ đến hai câu thơ Khiển sầu của cố nhân, càng thương cho nòi thi sĩ luôn luôn bị thực tế vây hãm dưới vùng trời vẩn đục này:


Bồng lai tiêu tức trầm thanh điểu
Kinh lạc phong trần cảm tố y. 4


Nhưng Ngân Giang không năng lui tới nữa, âu cũng là một điều may mắn cho Hoàng.

Lý do là mấy khoản "ngàn trước, ngàn sau" đã tiêu hết sạch. Cả số tiền gọi là tác quyền vở kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần công diễn tại Nhà hát Lớn đêm mồng một tháng Một năm 1951.

Bước sang "Hậu bán thế kỷ hai mươi" rồi, Hoàng phải dời khỏi căn lầu phố hàng Điếu, dọn về một đường hẻm, phố Sinh Từ.

Không khí ban đầu của buổi hồi cư đã mất hết ý nghĩa! Chỉ còn một Hà Nội mệt mỏi và đầy cát bụi thôi.

Đêm đêm ngẩng nhìn giải Thiên hà, cố trấn tĩnh để lắng tai nghe, Hoàng chỉ còn bắt được một vài "tiếng vọng" yếu ớt!

° ° °

Mãi hai năm sau. Giữa mùa ve gọi. Bỗng dưng đưa đẩy một gợn sóng bất ngờ khiến cho kiếp phiêu bồng của Hoàng lại có dịp bay tới gần Sông Bạc.

Chiều hôm đó – chừng đã quá giờ Mùi – Hoàng đang cao ngọa trong ngõ Hàng Đũa, sau phố Sinh Từ, thì… cổng ngoài xịch mở. Có khách của Hoàng.

Nhưng Hoàng trông ra không khỏi thất vọng: một thiếu nữ – hay thiếu phụ? – áo gấm hoa tròn, màu đỏ tím, quần sa tanh trắng, giầy kinh thêu cánh phượng, hành lý khá nặng trên tay; mà… mà… giọng nói sao xa lạ, hình như Hoàng chưa nghe thấy bao giờ. Cả đến mặt hoa vẻ ngọc, Hoàng cũng chưa bao giờ được chiêm ngưỡng thì phải!

Thục Oanh ra đón khách mời vào; rồi khi biết rõ chủ nhân là ai, khách tự giới thiệu:

Mai Đình nữ sĩ. Từ miền Trung bay ra. Có chút việc riêng. Và nhân dịp cũng để tiếp xúc với làng Thơ đất Bắc. Cho nên Phượng mới đến cầu… Hoàng.

"Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ!". Sách đã dạy thế; Hoàng không vui sao được! Huống chi danh hiệu "Mai Đình" từ ít lâu nay gắn liền vào tiếng tăm của nhà thơ bạc phước và yểu mệnh Hàn Mặc Tử.

Một nữ thi sĩ từ xa muôn dặm tìm đến, mình có bổn phận phải chiều ý, và – nếu cần – phải lựa lời hỏi cho rõ ý của người đẹp để chiều theo. Tận kỳ tâm, kiệt kỳ lực, không được thoái thác hay phàn nàn.

Tuy vậy, ý muốn của Mai Đình rất đơn sơ, mà lại dễ thực hiện:

"Tìm gặp nữ sĩ Ngân Giang".

Oanh pha trà mời khách; Hoàng vội lui vào phía trong, chỉnh tề y phục để còn ra đường nên quên phắt ngay đi không hỏi Mai Đình rằng tại sao lại cứ phải Hoàng mới được, và ai là người đã cho địa chỉ Hoàng.

Chiều Thăng Long êm như giấc mộng cung vua phủ chúa thời nào. Chẳng cần đến xe, ngựa, hay … võng kiệu!

"Mai Đình tìm gặp Ngân Giang có việc gì gấp lắm chăng?"

"Làng Thơ chúng ta thì đâu có việc gì gấp. Chẳng nay thì mai, mốt… hay lần sau".

"Hoàng hỏi vậy thôi, chứ tìm gặp Ngân Giang, không khó gì hết. Mà cũng gần thôi. Chúng ta đi về nẻo Hồ Gươm đi!"

Hoàng đinh ninh: cứ đến Sở Thông tin là tin tức Nguồn Đào sẽ thông suốt ngay. Ngư phủ này mê đường mê bến thế nào được!

Ai hay Trời lại còn chiều người hơn thế nữa. Chẳng cần phải thả bộ đến tận sở làm của Ngân Giang chi! Kìa, Ngân Giang đương ngồi trong một quán giải khát lớn bậc nhất của phố Trường Tiền, kế cận nhà "Gô-đa" cũ.

Thế là Hoàng dẫn Mai Đình vào ăn "kem", uống "cà phê", Ngân Giang và các bạn đồng ẩm – trong đó hình như có tác giả tập bút ký hoạt kê Trên vỉa hè Hà nội! – trông thấy Hoàng đi với người đẹp, liền gọi ầm lên.

Tiếp đó, Hoàng giới thiệu… và… bàn giao.

"Hoàng đi tìm Ngân Giang chứ không phải ngẫu nhiên gặp đâu. Mai Đình thích Ngân Giang lắm đó. Cứ bắt Hoàng dẫn nẻo lên "Sông Trời’. Hai nữ sĩ hội ngộ hôm nay, thỏa lòng mong ước nhé! Vậy, cho Hoàng rút lui thôi. Vì nhiệm vụ của "băng nhân" đã chấm dứt".

Ngân Giang cười lớn, rồi gật đầu:

"Tùy ý Hoàng đấy. Có bận thì cứ để mặc chị em chúng tôi".

Và quay sang phía người khuê hữu vừa nhất kiến:

"Có phải không, chị Mai Đình?..."

Nhưng đến khi tiễn thêm Hoàng mấy bước, thừa dịp vắng người, Ngân Giang đứng dừng lại, trỏ mặt Hoàng, trách khéo:


Mai Sinh ơi hỡi Mai Sinh,
Toan gieo cái vạ tầy đình cho ai? 5


Hoàng không cãi; biết tính Ngân Giang hay nói đùa rồi mà! Vả lại, nữ sĩ Mai Đình đâu phải "một cái vạ". Mà từ xưa, Hoàng cũng có "gieo vạ" cho ai bao giờ đâu! Phép lịch sự tối thiểu phải như vậy chứ. Nhân vật "tương đương" với Mai Đình tại Hà Nội là Ngân Giang. Hoàng chỉ có thể tiếp tay, không vượt quá vị trí được…

Nhưng rồi… đợi mãi chẳng thấy ai cả; hôm sau, hôm sau nữa… rồi tuần sau, bặt tin Mai Đình nữ sĩ, lạ chưa! Có dễ Hoàng chiêm bao chắc? Rõ ràng buổi đó Hoàng đã yêu cầu Mai Đình hôm sau trở lại để Hoàng hướng dẫn đi gặp Hoài Điệp Thứ lang, một thi sĩ rất thông cảm với thơ Hàn Mặc Tử.

Đành nhắn hỏi Ngân Giang vậy. Cũng bặt luôn chẳng có hồi âm.

Thế mà – khoảng một tháng sau – lại tiếp được thư của Ngân Giang mời tới họp bạn ngâm vịnh. Địa chỉ mới: Đường Phủ Doãn, ngay Hàng Bông Đệm quặt xuống.

Đến nơi, hỏi chuyện về Mai Đình, Ngân Giang ngơ ngác một lúc lâu mới nhớ ra; nhưng rồi khách đến đông – có cả nhà tướng số Khánh Sơn và nhà văn Triều Đẩu – câu chuyện bị chìm mất giữa một bầu không khí thật khó hiểu đối với Hoàng.

Lúc chia tay, Ngân Giang có vẻ cởi mở: "Bây giờ Ngân Giang ngâm vịnh được rồi. Tương đối tự do hơn năm ngoái. Hoàng cứ đến đây thăm Ngân Giang hoặc ra Sở tìm cũng được nữa!".

Hoàng vội lắc đầu; trách khéo để trả đũa:


Ngân Giang ơi hỡi Ngân Giang!
Toan đeo cái ách giữa đàng cho ai?


Vì ai còn lại gì! Mối "tình trần gian" kia đã trở thành một cái dây trói khắc nghiệt cho người bạn thơ khả ái của Hoàng tự buộc lấy mình, khó gỡ ra lắm!

Dầu sao Hoàng cũng có dịp nhắc lại – ít lâu sau – không phải câu chuyện Mai Đình, mà câu chuyện Thơ giữa Hoàng và Ngân Giang kia!

"Thế nào, dạo ngày Ngân Giang có sáng tác gì đắc ý không?"

"Chuyện đời phiền lắm, có giản dị như Hoàng tưởng đâu! Ngân Giang mỗi ngày một thấy buồn hơn trước. Và một quãng nào đó trong dĩ vãng cứ ám ảnh Ngân Giang, lôi kéo trở về. Thế có rắc rối không!"

"Lạ nhỉ! Mà… quãng nào trong dĩ vãng?"

Ngân Giang không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hoàng. Chỉ cất giọng ngâm:


Sau trước nghìn thu một Quế Anh
Hòa Phiên từng đã xót phân tranh
Ngựa Hồ tiếng thét mười phương gió,
...


Hoàng đợi mãi không thấy Ngân Giang ngâm tiếp – chẳng hiểu vì lý do gì! – đành phá trước sự im lặng đến nặng nề đó:

"Hồ thì đối với Hán; gió thì gọi ra trăng; ở địa vị Hoàng là tác giả, câu bốn sẽ như sau:


Cung Hán màu trăng vạn dặm thành.


Có đúng với tâm sự Minh Phi đời nay không?"

Ngân Giang trầm tư một lúc:

"Nếu vậy câu năm và câu sáu phải đặt:


Chí dẫu côn bằng, e hẹp biển
Lòng còn sương khói, ngại tan canh".


Hoàng vỗ tay tán thưởng, nhưng khi lấy giọng:


"Chí dẫu côn bằng e hẹp biển
Lòng nàng sương khói, ngại tan canh".


Ngân Giang phản ứng ngay:

"Sao lại có "gã" với "nàng" trong đó?"

"Thì Ngân Giang để cho Hoàng cùng chung tâm sự với, không được ư?... Và Hoàng đọc luôn câu bảy nhé!


Làm mây Ải Nhạn chiều heo hút".


"Để Ngân Giang hoàn tất câu tám cho! Cấm Hoàng không được tranh phần đấy!"

"Thơ của Ngân Giang mà! Hoàng tranh sao được! Cả đến chữ "mây" chữ "heo hút" cũng của Ngân Giang đó thôi!


Mây trắng lang thang mãi cuối trời
Gió chiều heo hút khắp nơi nơi".


Hoàng vừa ngâm dứt, Ngân Giang đã tìm ra câu tám để kết cho liền ý; và ngâm lại cả câu bảy của Hoàng nhân thể:


"Làm mây Ải Nhạn chiều heo hút
Rồi cũng lang thang kiếp độc hành".


Thế là lần đầu tiên Hoàng có một bài thơ trọn vẹn cùng làm với Ngân Giang. Mặc dầu "độc hành" là hai chữ kết thúc; buồn quá!


Sau trước nghìn thu một Quế Anh
Hòa Phiên từng đã xót phân tranh.
Ngựa Hồ tiếng thét mười phương igó
Cung Hán màu trăng vạn dặm thành.
Chí dẫu côn bằng e hẹp biển
Lòng còn sương khói ngại tan canh.
Làm mây Ải Nhạn chiều heo hút
Rồi cũng lang thang kiếp độc hành.

° ° °

Cuối năm Giáp Ngọ – tức là tháng Hai dương lịch 1955 – các chuyến đi đi về về Sài Gòn – Hải Phòng hãy còn hợp pháp; nhân có một bạn quen ra buôn bán ngoài đó, Hoàng gửi cho Ngân Giang bài thơ sau đây:


Đặt bút cùng ngâm khúc Bể dâu
Nổi trôi từ đấy xót cho nhau.
Một phen nhật nguyệt tranh ngôi Sáng
Hai ngả lòng thu dựng tháp Sầu.
Tỉnh cũng hoài thôi, say chẳng nỡ
Xuân sang đó nhỉ, mộng về đâu?
Rằng hư rằng thực lời tâm huyết
Non vẫn cao, hề, nước vẫn sâu! 6


Nhưng lần này thì Hoàng biết trước rằng "Sông Ngân" chẳng thể nào có "Tiếng Vọng" được nữa. Thơ của Hoàng có đến tay ai hay không, cũng thế thôi.

--------------------------------

1

Trọn vẹn bản dịch bài Tương tiếu tửu (của Lý Bạch) sang Quốc văn như sau:
Ngươi chẳng thấy từ cao đổ xuống
Nước sông Hoàng cuồn cuộn ra khơi?
Một ra biển, chẳng về trời;
Nhà cao gương sáng thương ai bạc đầu!
Sớm như tơ, xanh màu tóc ấy
Chiều đã như tuyết đấy… biết không ?
Thì vui sao chẳng đến cùng?
Việc đời dễ được như lòng mấy khi!...
Đừng để chén vàng kia trơ đáy
Cùng vầng trăng đây đấy ngẩn ngơ.
Trời sinh tài, chẳng để hư;
Ngàn vàng, một trắng tay ư?... Lại về…
Hãy mổ thịt trâu dê mà khoái,
Gặp nhau đây là phải say sưa,
Uống, xin đừng một giọt thừa,
Ba trăm chén, hãy cho vừa một hơi.
Ý ta muốn chén mời chẳng gác
Chớ dừng tay, hai bác Đan, Sầm!
Vì nhau một khúc ca ngâm,
Lẳng tai, nào bạn tri âm đó hề!
Của trước mắt đủ gì quý báu,
Cho ngọc ngà! Cho dẫu trống chuông!
Nguyện say một giấc ra tuồng,
Mình ta tỉnh, bốn phương cuồng… nhảm chưa?
Đều thế cả… từ xưa hiền thánh
Cũng giờ đây nằm lạnh Thời gian.
Tiếng tăm còn để trần hoàn
Chỉ duy có gã say tràn cung mây.
Trần Vương trước, tiệc vây Bình Lạc
Rượu ngàn chum thả sức vui đùa.
Chủ nhân, nào! đã nhớ chưa?
Nói chi tiền ít mà thưa dặt dìu!
Ngựa Hoa đấy, áo Cừu cũng đấy,
Gọi trẻ đem đổi lấy rượu… mau!
Ta cùng Ngươi… lại cùng nhau
Uống cho ngàn trước ngàn sau tan buồn.
V.H.C.

2

Tám câu thơ này có in trong tập Rừng phong (Sài Gòn, 1954).

3

Trích trong bài văn biền ngẫu của Ngân Giang bắt đầu bởi câu "Hoa cúc gầy rồi; Non vàng xa khơi", và có in trong tập thơ Tiếng vọng sông Ngân, sau khi đã đăng vào Tri Tân tạp chí (Hà Nội).

4

Tạm dịch là :
"Bồng Lai dứt nẻo chim xanh
Ngùi thương áo trắng kinh thành bụi bay"
V.H.C.

5

Hai câu thơ này rút từ truyện Nhị Độ Mai.

6

Bài này có in trong tập Trời một phương với nhan đề Nổi trôi (Sài Gòn, 1962).

Đoản đình trường đình

Yên vị trên phi cơ, Hoàng lơ đãng nhìn xuống cánh đồng mây đang trải rộng, và mênh mông bàng bạc không biết đâu là tận cùng. Chợt nhớ hai câu thơ thất ngôn nào đó, Hoàng cao hứng ngâm vang:


Làm mây ải Nhạn chiều heo hút
Rồi cũng lang thang kiếp độc hành.


Ngâm xong thơ mới nhớ ra được xuất xứ: câu dưới của nữ sĩ Ngân Giang và câu trên của chính Hoàng, nguyên là hai câu liên ngâm ra đời ở Hà Nội, tính đến nay đã vừa đôi-tám-xuân-xanh.

Tuy vậy, bảo là "ngâm vang" thì hơi quá. Vì nếu có tiếng vang thật sự trên chiếc phi cơ tràn đầy hành khách này, hẳn người ngồi đối diện với Hoàng kia đã nghe thấy và đã không ngạc nhiên, cái ngạc nhiên của người tưởng mình đối diện với một gã khùng đầu lắc lư, môi mấp máy chẳng biết có phải đang tự diễn thuyết để tự làm thính giả chăng.

Người ngồi trước mặt Hoàng? Đến lúc này Hoàng mới để ý: một thiếu nữ trang điểm kín đáo và nhan sắc chỉ bình thường, phục sức lại giản dị, quá giản dị là khác. Áo dài màu hồ thủy, chuỗi ngọc trai và chiếc vòng huyền… Có thế thôi! À quên, còn mớ tóc bới cao, chứ không cắt ngắn hoặc buông xõa; mặc dầu có thể là tóc mây được lắm, nhưng không cởi mở, không hấp dẫn bao nhiêu.

"Ông sang Pháp ạ?"

"Thưa cô, tôi đi La Mã; nhưng vì một lý do nào chả biết, Tân Sơn Nhất cho tôi hay rằng chuyến phi cơ này chỉ có nhiệm vụ chở tôi đến Vọng Các thôi; tôi phải xuống đó chờ một chuyến khác".

"May quá, Yến cũng bị đặt vào trường hợp giống y như trường hợp của ông vậy… À quên, xin lỗi ông, em chưa tự giới thiệu: Em là Yến, nữ y tá…"

Qua mấy câu trao đổi, Hoàng được cô bạn đồng hành cho biết rằng đây là lần đầu tiên cô ra khỏi nước, lại đi một mình… nên lúng túng lắm. Gia tư chỉ bậc trung thôi, và may mắn được học bổng nên mới có cơ hội sang tận kinh đô Ánh Sáng đấy chứ. Điều may mắn nữa là cô có một người chị em thúc bá hiện đang ở kinh đô này, và sẵn sàng cung cấp cho cô nơi ăn chốn ở, chỉ cốt sao đặt được chân xuống đất Pháp là cô yên trí rồi.

"Ông…"

"Cứ gọi tôi là Hoàng cho tiện".

"Vâng, vâng! Ông Hoàng đã từng xuất ngoại nhiều lần, có phải thế không ạ?"

"Tôi ngại xê dịch lắm nhưng việc bắt buộc phải đi thì đành vậy chứ biết sao, thưa cô!"

"Đành thế; ông vẫn có nhiều kinh nghiệm về xê dịch. Và điều tôi mong mỏi là ông sẽ giúp tôi…"

Giúp Yến? Thì Hoàng đã sẵn sàng. Vả lại, có gì phiền phức lắm đâu. Một vài thủ tục giấy tờ khi xuống Bangkok, một vài trao đổi điện thoại với sứ quán… thế là xong. Hoàng và Yến thong dong về khách sạn bằng xe của hãng hàng không, Hãng A.F. thì phải. Họ có trách nhiệm cung phụng hai khách hàng đặc biệt này cho đến khi một người lên được chiếc phi cơ đi Paris và một người tìm ra được chuyến bay thích hợp để trực chỉ La Mã.

Lẽ dĩ nhiên sự cung phụng, dầu khả ái đến đâu, vẫn chỉ giới hạn ở hai khoản: ăn và ở. Còn như các chuyện lặt vặt khác, như đi dạo phố mua quà kỷ niệm, đi coi múa hát, xem phong cảnh, v.v. thì ai nấy phải tự túc, kể cả cô Yến và ông… Hoàng!

Thế gian cứ thế mà trôi. Không ai nóng lòng sốt ruột, tuy thời tiết ở Bangkok chẳng êm dịu chút nào. Còn nóng hơn cả Sài Gòn nữa!

Cái phiền là ở chỗ Hoàng phải lên phi cơ tiếp tục cuộc hành trình ngay nửa đêm hôm đó; mà Yến thì phải lưu lại Bangkok mãi cho đến năm giờ chiều hôm sau.

Cuộc chia tay nào chẳng buồn? Huống hồ cuộc chia tay này còn đeo theo nó cả một cuộc bàn giao… bất đắc dĩ.

Nguyên nhân là hồi chiều cùng đi dạo phố với Yến, Hoàng đã cao hứng nhắc đến chùa Phật Ngọc và hết sức ca tụng vẻ đẹp huyền bí của nơi này, vẻ đẹp từng gợi cho Hoàng xiết bao thi cảm trong chuyến du ngoạn tám tháng trước đây:


Ôi! Chùa Phật Ngọc mái long lanh
Đất Phật từng gieo hạt Ngọc Lành.
Du tử dâng hồn lên Vọng Các
Gương soi chẳng chút úa màu xanh…


Thế là Yến nhất định đòi thực hiện chuyến hành hương tới ngôi chùa vương giả đó. Nhưng thời gian quá gấp, Hoàng đành phải điện thoại cho một ông bạn tòng sự tại sứ quán để nhờ ông ấy thay thế Hoàng trong cái sứ mạng làm hướng đạo cho "người đẹp". Chứ biết sao!

Cuộc bàn giao diễn ra – rất tốt đẹp – ngay tại phòng khách lớn của khách sạn lúc tám giờ tối. Hoàng chia tay với Yến lúc mười một giờ, và tới phi trường vào đúng nửa đêm.

Mặc dầu Bangkok là một phi cảng lớn bậc nhất Đông Nam Á, và lúc này – tháng Bảy dương lịch – đang là mùa phiếm du, hành khách đợi các chuyến bay đêm cũng chỉ thưa thớt, khiến cho quang cảnh đột nhiên trở thành hiu hắt tiêu sơ. Gió lạnh như mùa thu Hà Nội. Và tưởng đâu có mưa bụi lất phất, hay mưa phùn dai dẳng từng đợt ly sầu. Không khí bỗng trầm xuống, màu sắc Đường thi tỏa ra, mỗi phút một thêm hư ảo. Hoàng thấy mơ hồ như có ai nhắc khẽ vào tai – hay vào tiềm thức? – mấy câu thơ đời Đường (của ai, không nhớ nữa!):


Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô
Bình minh tống khách Sở cơn cô…


Và, đúng như định luật về phản ứng dây chuyền, thơ đã gọi ra thơ… Một viên cuội nhỏ vừa ném xuống mặt ao trầm tư; một vòng tròn nhỏ hiện ra, phút giây sau hàng trăm ngàn chiếc vòng đồng tâm lần lượt hiện hữu, lớn dần, lớn dần… Mấy câu thơ trên đã tự xóa mờ trên cái dốc êm đềm của ký ức Hoàng, để được thay thế bằng những câu khác. Cứ thế… cho đến khi một hình ảnh vút bay ra, tràn ngập cả câu thơ. Và những câu tốt số này ngưng đọng hẳn lại; như phía trước mặt, con dốc không còn nữa, nhường chỗ cho một âm hưởng hay một mùi hương man mác nào.

Hoàng nghe thấy chính mình ngâm lên, sương khói bay theo từng tiếng bằng tiếng trắc; và có lẽ là thơ trong kịch Tây Sương:


Thi ông lão khứ Oanh Oanh tại,
Công tử quy lai Yến Yến mang.


Và ngay tức khắc, Hoàng ngâm luôn bốn câu phỏng dịch, tưởng như mình đã dịch sẵn từ bao giờ:


Vương tôn có lúc hồi hương
Thi nhân có lúc điểm sương mái đầu.
Oanh còn tiếng hót giọt châu
Yến còn ngơ ngác vòng sầu nắng mưa?

° ° °

Thế rồi… lại yên vị trên phi cơ. Lại lơ đãng nhìn xuống… Nhưng chỉ là nhìn xuống cả một rừng đèn sáng rực đủ màu, xa dần như ảo ảnh, nhường chỗ cho đêm tối mênh mang.

Tiếng hót của Oanh cũng chìm theo, vòng sầu của Yến cũng liệng sâu mãi vào tiềm thức để cùng nối lại trong đó giấc trường miên. Vọng Các – một đoản đình bất ngờ – đã chỉ còn là kỷ niệm đối với Hoàng. Cái bóng lớn của thủ đô La Mã bắt đầu lấp ló rồi kia! La Mã, một trường đình có ghi sẵn chứ đâu phải bất ngờ như đoản đình Vọng Các. Theo truyền thuyết Tây phương, thủ đô tráng lệ này phải là điểm tận cùng của mọi con đường; nhưng theo ý Hoàng lại khác hẳn.

Đó là khởi điểm của nhiều con đường, mặc dầu đối chiếu vào trường hợp của Hoàng, khởi điểm đó còn mang tính chất tất yếu và bất khả kháng nữa, chứ có phải Hoàng lựa chọn nó, hoặc tha thiết gì với nó đâu. Thật vậy, Hoàng không xuống La Mã không xong; nghĩa là không thể nào đến được nơi mình định đến, nếu chẳng ghé vào La Mã ít nhất ba hôm, ban ngày thì lo thủ tục nhập cảnh, ban đêm thì ngửa trông vòm sao du mục, tiên đoán một vài chuyện sắp xảy ra, hoặc tiên liệu một vài thái độ thích nghi nào đó.

Ôi, trường đình La Mã, dầu sao ta cũng có chút duyên với mi! Sáu năm trước ta cùng mi sơ ngộ đúng nửa đêm; lần này thì đúng nửa đêm ta dời bỏ Vọng Các, vượt muôn trùng gió mây để cùng mi tái ngộ. Không duyên mà thế sao?

Bởi vậy, ngay từ khi chưa vào tới không phận của Âu châu, Hoàng đã viết được trọn vẹn sáu giòng thơ mở đầu cho bài "Đêm vào La Mã":


Ai xưa mưa tạnh liền sông,
Ta liền đêm rối phiêu bồng đường bay.
Gió sương đổ hết về đây,
Phi trường La Mã khoác dày áo đêm.
Vòng theo khoảng cách đôi kim
Thời gian buông bắt trái tim giang hồ.
...


Vòng kim thời gian đã vậy; chẳng biết có còn vòng Yến-bay-hoang nào nữa không, hỡi kẻ độc hành mang nặng Nghiệp?

Sài Gòn, tháng Tám dương lịch 1971
(Ghi lại chuyến đi 1965)

Vớt lại trần ai…

Khó mà quên được Tết năm đó, mỗi khi ngồi uống trà một mình. Không bắt buộc phải trà ướp sen. Quý hồ đợt khói trên miệng chén trà có hồn sen là đủ!


Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai biết mình sen rụng xác xơ… 1


Năm đó, phải chăng năm Quý Mùi, tây lịch 1943? Hoàng ăn Tết dưới mái gia đình, như thường lệ. Nhưng khác thường lệ ở chỗ ngay từ mồng Hai Tết, Hoàng đã lấy xe lửa di chuyển từ Nam Định lên Hà Nội, và có mặt giữa đám anh em làng Say ròng rã từ chiều mồng Hai cho đến hết tháng Giêng mới rã đám.

Chẳng hiểu vì lý do nào mầu nhiệm, mà Tết năm ấy xem chừng bạn văn của Hoàng, anh nào cũng phong lưu cả. Không dám nói là tiền bạc như nước, nhưng cái khoản chi phối vào tửu quán ca trường thì ai cũng đủ sức chu biện cho ba ngày tròn là ít.

Thoạt tiên chỉ có bốn người, Hoàng cũng ở trong số ấy. Rồi sau bốn ngày, mỗi người lại tìm được ba người khác để tách rời ra khỏi nhóm nguyên thủy. Rồi cứ thế… cứ thế! Mấy chốc mà chẳng bay vèo hết sạch cái "tháng ăn chơi".

Tuổi Hoàng chưa đến ba mươi; chẳng cần mang kính màu hồng màu biếc, Hoàng cũng thấy cảnh trước mắt toàn hoa nở lá tươi, vừa đẹp vừa say như chén rượu Đào-viên-kết-nghĩa.

Huống hồ từ lâu nay Hoàng đã quyết mang vào thân cái nghiệp của một kẻ làm thơ viết kịch! Nên càng tin rằng cảnh trước mắt kia đang là "cảnh khói", đúng như câu văn bất hủ của Lý Bạch: "Dương xuân triệu ngã dĩ yên cảnh, Đại khối giả ngã dĩ văn chương".

Cảnh xuân tại Hà đô mướt dịu như khói, mình được triệu thỉnh đến thưởng thức, không lẽ mình chối từ! Lại được trời đất kia cho vay tạm cái hồn văn trong một kiếp người, đâu lẽ mình để cho khối ngọc bị hoen mờ nơi bùn bụi trên các nẻo lợi danh! Có ngọc quý – dầu chỉ vay tạm trong thời hạn một trăm năm – tất phải đưa nó lên những đỉnh cao nhất của tình cảm để nó có dịp hội tụ được tối đa những tia sáng vạn năng từ đó bùng cháy lên ngọn lửa sáng tạo.

Các bạn văn bạn chơi của Hoàng dĩ nhiên cũng chung một ý nghĩ. Mà không thể sao được, khi bốn chung quanh, thời tiết đang mê hoặc mọi cảm quan, và miền ngoại ô Hà Nội đang biến dần thành giấc mơ những sự thật phũ phàng nhỏ mọn nhất.


Ôi, mùa rét ngọt mưa bay rượu,
Thành gấm thôn hoa mộng nở bừng!...


Hoa thôn với Cẩm thành nào đây mà nghe như trong kịch Tây sương hoặc truyện Liêu trai chí dị? Không! Nơi đây chỉ là một ngã tư, trông lên phía Bắc là đô thành Hà Nội, nhìn xuống phía Nam là nối tiếp nhau từng thôn xóm có lũy tre xanh bao bọc. Còn hai ngả kia thì một dẫn tới ngoại ô Bạch Mai và một đưa bước kẻ du hành qua vùng Láng, vòng sang Cầu Giấy, hồ Lãng Bạc, đường Cổ Ngư. Giống như hai cánh tay mở rộng ôm lấy cố đô Thăng Long. Ngã tư đó, nơi Hoàng họp bạn lúc bấy giờ – tháng Giêng năm Quý Mùi – chính là Ngã tư Sở.

Và câu chuyện phải bắt đầu từ nhà văn họ Lê, tác giả cuốn tiểu thuyết "Cánh sen trong bùn". Người đã từng nổi danh trên văn đàn cũng như trong cái thế giới đặc biệt của khói men, của xênh phách. Người giữ được tiếng tăm rất lâu, chứng minh được rằng ba chữ "sống để viết" có thể kéo theo chúng cả một định lý đảo: "viết để sống"; và chứng minh rất hùng hồn nữa kia! Người mà tuần báo Phong hóa đã giễu cợt bằng cách gọi đích danh để mắc theo vào một biệt hiệu dễ gây ngộ nhận: "Lê Văn Trương, huênh-hoang-tôn-ông".

Phải! Cái dáng điệu hùng dũng như sắp "thanh gươm yên ngựa" đến nơi, cái giọng điệu "đao to búa lớn" vang dậy trong câu hỏi ngắn và sắc đi liền theo tiếng gọi như sấm nổ:

"Hoàng Say đại huynh, vi hành đâu đấy? Chẳng phải Lê Văn Trương thì còn ai!"

"Lê tôn ông đó ư? Tiểu đệ đang "lêu têu", và sẵn sàng nghe lệnh".

Câu trả lời của Hoàng – có vẻ phường chèo đối với người khác – đã được Trương đón nhận như những lời nghiêm chỉnh nhất của một kẻ đồng điệu, một bạn tri âm. Và Trương quay về phía sau nói như quát:

"Anh em, sửa soạn nghênh tiếp Hoàng đại huynh nghe! Nói với chị Ba rằng chuyện gì cũng phải dẹp đi hết. Nếu cần, đuổi bọn tục khách ra đường! Khách quen cũng đuổi. Nhớ nhé! Bảo rằng lệnh của "anh".

Lúc này Hoàng mới kịp nhận diện hai người bạn tháp tùng họ Lê. Tưởng ai xa lạ, chẳng hóa ra vẫn Hồng với Hiến, tả hữu mà cũng đồng thời là tâm phúc, là "anh em kết nghĩa vườn đào" với Trương. Nhưng Hoàng chưa kịp chào hỏi thì họ đã quay gót chạy vụt đi như một cơn gió.

Mà… mà… gió lên thật, mới thú chứ! Vì chỉ năm phút sau, hai người "anh em" đã hoàn tất sứ mạng, trở về phụng chỉ rất đàng hoàng.

"Nào, xin mời đại huynh!"

Trương vừa nói vừa kéo mạnh tay Hoàng dắt đi, lại còn ngoái cổ dặn tả hữu:

"Hiến, về báo cho cả bọn nó biết rồi ra ngay. Còn Hồng, đi chu biện gấp. Hôm nay đại yến, phải một "quả cà" mới đủ được, nghe! Thêm một cóng "ngoại thủy" nữa cho đậm. Nhớ chứ?"

Rồi chẳng cần "hướng đạo quan", Hoàng và Trương – oai vệ như hai bậc đế vương – từ xóm Vĩnh Hồ đổ xuống ngã tư, rồi rẽ tay trái. Lầu hao của Bạch Liên thư thư.

Đêm ấy họ Lê "hùng" lắm. Ăn nhiều, nói lớn, uống cũng khỏe và… mây khói đi về cũng tan tác Vu Sơn…

"Quả cà" do Hồng đem tới mới lợi hại làm sao! Ít khi Hoàng say đến thế. Tự hỏi: Không biết có phải là "cà độc dược" chăng?

Cơn say "lơ mơ" kéo dài qua những cung bậc quen thuộc, đến độ rơi hẳn vào cõi "vô cùng thiên địa" lúc nào chẳng hay…

Kịp đến khi phân biệt nổi nhịp phách "Dựng" líu ríu đổ theo cung đàn tuôn thác lũ xuống ghềnh, và phảng phất nghe như rơi rụng từng hạt châu hiện thành tiếng:


Xa… từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm dương đất trích ư… ư… gối sầu hôm mai.


Thì mở mắt nhìn ra đã… "đông tây lặng ngắt". Lê Tôn Ông, nhị vị Hồng, Hiến và cả bọn đã rút lui từ bao giờ.

Hoàng định thần một phút, toan ngồi dậy. Nhưng Bạch Liên đã dồn phách dứt câu, rồi đặt phách xuống, khoát tay cho nghỉ đàn, và thong thả tiến lại, nơi Hoàng cao ngọa…

Khoảng cách giữa hai cái sập gụ trải chiếu hoa chỉ vào khoảng ba thước rưỡi Tây, thế mà Hoàng có cảm giác nó dài như dãy núi nào ở miền Trung nước ta, hay con sông nào ở miền Nam nước Tàu. Mới lạ chứ!

Hẳn là vì Hoàng nằm đối diện với chiếc gương lớn chạy dọc theo bức tường phía bên này. Trong khi, chênh chếch về phía bên kia, Bạch Liên đang hài tơ nhẹ chuyển.

Mắt Hoàng dán vào gương. Như muốn giữ chặt lấy màu da vẻ tóc… Như muốn giữ luôn cả hơi hướng tiết ra từ đàng sau nét son, cả những rung động truyền đi từ chiều sâu khóe hạnh của người đẹp… Con người bao năm trước, tháng trước, tuần trước, Hoàng chỉ thấy đẹp có một vài phần, đáng tin cũng chỉ một vài phần hay ít hơn nữa. Thế mà lúc này, giây phút này, Hoàng bỗng thấy đẹp cả mười, và đáng tin cả trăm ngàn ức triệu…

Giây phút quý báu thật. Lẽ nào không bắt nó ngưng lại, đứng hẳn lại! Nếu dòng thời gian chẳng thuận tình, thì tách nó ra khỏi thời gian. Bằng đủ mọi cách. Đủ mọi cách… Đủ mọi cách…

Và lần này, Hoàng mê đi khá lâu.

Trong cơn mê, hồn Thơ tỉnh táo hơn lúc nào hết. Vì khi thức giấc, đêm đã quá khuya, Hoàng phải khêu lại bấc để ghi vội tám câu lục bát vừa lẻn vào tâm trí như một mùi hương nhẹ thoáng mà lấn át cả "hương nâu". Ghi vội kẻo sáng mai quên hết mất. Lấy gì tạ lòng ai cho xứng đáng bằng?

Nhưng sáng hôm sau, chờ mãi chẳng thấy Bạch Liên xuất hiện. Các em trong "Lầu hoa" đều không biết rõ "mợ" đi đâu và đến bao giờ mới về. Hoàng đành gửi lại tám câu đó:


Gót sen vừa nở đã tàn
Bóng gương chết lặn âm đàn phai theo
Mùi hương sứ giả bay vèo
Dễ đâu tâm ý cùng gieo ngắn dài
Chông chênh vần lạc phách sai
Lỡ nhau Bông trắng lầm ai Thơ vàng
Ôi, nàng… sen dời lầu trang
Đường tơ ai nối cho chàng say đây.

° ° °

Bẵng đi đến cả tháng. Một hôm bất ngờ dậy sớm, Hoàng ra đứng ngoài bao lơn nhìn xuống lòng đường. Con đường nhỏ hẹp của phố Hàng Đàn, chỗ sắp rẽ ra Hàng Quạt. Chừng chín giờ thì phải. Đường vắng hoe. Chợt thấy một chiếc xe nhà từ miệt Cửa Nam đi tới. Người kéo xe thả chậm bước, chừng như người ngồi xe đang muốn tìm nhà ai. Cứ thế, chiếc xe tiến dần về ngã ba Hàng Quạt. Rồi… xe quay trở lại. Vừa lúc Hoàng nhận ra được Bạch Liên, bệ vệ như một "bà lớn".

Tiếng Chu Ngọc vang lên sau lưng Hoàng:

"Chết cha! Cậu còn "kẻ râu" ở dưới ấy hả?"

Hoàng chột dạ, toan quay vào. Nhưng không kịp nữa. Bạch Liên đã nhanh mắt trông lên và nhận diện được cả hai gã rồi.

Tuy nhiên, căn gác này Hoàng và Ngọc bày ra bề bộn quá; chỗ thuê để tập kịch ấy mà! Đồ đạc có thứ nào vào với thứ nào đâu! Mời người đẹp lên thì bất tiện quá. Ấm chén cọc cạch, lại chẳng có gói trà nào ra hồn; chẳng lẽ mời khách lầu hoa uống nước theo kiểu dân lao động?

May sao lúc đó Hoàng đã đóng bộ được một nửa 2. Nghĩa là chỉ cần xỏ giày, thắt cờ-ra-vát nữa là xong. Liền vội vã xuống đường. Ngọc còn dặn với theo:

"Chớ có mời lên đấy!"

Rõ khéo anh chàng Ngọc vô duyên! Đã dễ "người ta" lên cái ổ chuột này đâu mà mời với chẳng mời!

Hoàng nghĩ thế mà đúng. Vì xe dừng phía bên kia đường. Hoàng vượt sang hội diện.

Câu chuyện trao đổi rất nhanh. Vì Bạch Liên vẫn ngồi trên xe chứ không xuống…

Thế rồi xe lại "như bay trong cõi hồng trần" đưa nàng "trở gót trướng hoa"… Phố xá lại vắng ngắt. Hoàng lại vượt qua đường, vào nhà, lên gác. Như không có chuyện gì xảy ra.

Mà… không có chuyện gì thực! Đâu phải Hoàng nói dối ai. Mùa xuân đã sắp ngả màu, thiên hạ đều vô sự. Cả cái sự "diễn kịch" của Ngọc và Hoàng. Ban Kịch Hà Nội vừa tái diễn hai vở Vân Muội (của Hoàng) và Cái tủ chè (của Vũ Trọng Can) ở rạp Hàng Bạc. Thuê căn gác phố Hàng Đàn này là để nghỉ xả hơi, và sửa soạn tập vở mới. Lần này định diễn một vở thoại kịch dài: Lệ chi viên (của Vi Huyền Đắc). Các vai đã phân phối đâu và đấy rồi. Hoàng Cầm sẽ thủ vai vua Lê; Lê Trọng Quỹ vai Nguyễn Trãi, được quá đi chứ! Vai Thị Lộ – cái đinh của vở kịch – thì đã thương lượng với cô Hạc Đình, ái nữ nhà thơ ngụ ngôn họ Bùi, thanh sắc gồm đủ, thế là nhất còn gì! Tuần sau mới bắt đầu tập. Vả lại tập thì tập chứ Hoàng có ăn thua chút nào vào đấy đâu. Diễn viên, không! Đạo diễn, cũng không! Chạy hiệu, cũng không nốt! Thế thì Ngọc lấy quyền gì ngăn trở Hoàng. Người ta muốn đi đâu thì đi chứ. Kể cả đi theo tiếng gọi của… Bạch Liên, nữ chúa Mê Cung. Huống nữa, từ ba hôm nay, Hoàng cứ như người bị ma ám, lúc nào cũng gật gù lẩm nhẩm, ai kéo ra đường thì ra, đưa cơm rượu đến tay thì đỡ lấy ăn, uống, đưa thuốc đến miệng thì hút liên miên; chẳng cần biết mùi vị ra sao nữa. Và nhất là không cần biết ai trả tiền. Hoàng đang "làm thơ" đó! Bài hát Cuồng viết mới được một nửa. Mới đến những câu:

Sao chiều xuống chênh song, hề, còn đau thân thế?
Còn tủi bình sinh, hề, khi gió lên đầy trời?

Ngọc sốt ruột quá. Ra đường đã mất công dẫn đi, lôi đi. Về đến nhà lại khổ cái lỗ tai vì phải nghe từng nhịp bách bộ quanh sân gác. "Thôi, cho ông mãnh xuống núi, càng đỡ mệt. Cũng chẳng đòi theo hắn làm gì!". Ngọc nghĩ vậy là biết điều quá. Vì theo Hoàng thế nào được lần này!

° ° °

Xuống đến Ngã Tư Sở cuối giờ Tỵ, Bạch Liên chờ đã nóng lòng. Ấy là nàng bảo thế, Hoàng có tin nổi thì cứ tin.

"Có chuyện gì mà triệu thỉnh gấp vậy? Để đến chiều tối không được sao?"

"Chiều tối lại là chuyện khác…"

"Thế còn chuyện này?"

"Cứ thong thả. Hãy lên gác đã nào!

Thì ra Bạch Liên không chịu bốn chữ trong câu thứ hai của bài thơ Hoàng gửi lại hôm tháng Giêng.

"Sao lại "… âm đàn phai theo"? Rất có thể Hoàng định nói những tiếng đàn đáy hòa theo nhịp phách. Nhưng lỡ thiên hạ lầm tưởng đó là tiếng đàn của chính Liên? Mà… đàn của Liên thì… phai… thế nào được! Liên tin rằng nếu Hoàng lắng nghe – để hết tâm hồn mà nghe cơ! – Tất phải nhớ mãi. Bóng gương có thể chết lặng, như lời Hoàng viết, nhưng âm đàn thì chẳng bao giờ phai theo được, nhớ chưa?"

"À, ra thế, hôm nay Liên định "nối đường tơ" cho "chàng say" đó hẳn? Đã hỏi kỹ lại lòng mình, và lòng… người ta… chưa?"

"Làm gì có "người ta" nào vào đấy! Đã bảo chuyện này khác kia mà!"

Lại cái điệp khúc "chuyện này khác!". Nào thử xem nó khác ở chỗ nào, ranh giới có phải là Dòng-sông-nước-mắt chăng?

Trước hết, căn gác này không phải căn gác Lê Văn Trương đưa Hoàng tới hôm đầu năm. Đây không phải "nhà hát", mà chính ra là "phòng loan" của Bạch Liên thư thư. Chẳng có trống phách đèn đóm gì cả! Nhưng có khói trầm, có hoa tươi cắm trong bình, có trà mạn sen ngưng thẫm màu trong những chiếc chén cổ, trà đãi "quý khách" do đích thân "bà chủ" pha mời…

Trên tường, một cây nguyệt cầm óng ả đang chờ tay ai với xuống. Khói trầm và khói trà đã như quyện lấy dây tơ, và hồn của con tằm đã muốn bật ra tiếng gọi tri kỷ.

Ánh mắt Hoàng chưa kịp thu về, Bạch Liên đã đứng dậy, trân trọng đỡ cây đàn xuống. Và rồi:


So dần dây Vũ dây Văn…


Khiến cho Hoàng có cảm giác như đang ngồi trên sân khấu, đóng vai trò Kim Trọng nơi Vườn Thúy, lắng nghe khúc Bạc mệnh của Kiều nương.

Hoàng vốn ít khi chịu nghe đàn của ai, mặc dầu ai đó là tay danh cầm thượng thặng. Nhưng lần này Hoàng đã chịu nghe, và nghe thật sự, chứ không phải lơ là chiếu lệ đâu. Vì Hoàng thấy rõ Bạch Liên chỉ đàn cho một mình Hoàng nghe thôi. Lại tha thiết đến độ phải thân hành đi triệu thỉnh để Hoàng chịu đến và chịu "lắng tai" cho. Khác hẳn trường hợp của Thúy Kiều, phải đợi chàng Kim van nài mới phô bày "tiện kỹ":

Đã lời dạy đến, dạy thì phải vâng.

Cho nên Kim Trọng có thể quên được khúc Bạc mệnh, chứ Hoàng thì không bao giờ quên được tiếng đàn Bạch Liên. Đó là những "âm đàn" chẳng sao "phai" được trong ký ức Hoàng. Nghe chỉ một lần ấy cũng đủ cho bao kiếp trầm luân sau này. Không cần phải nghe lại một lần nào khác nữa.

Bởi thế, khoảng nửa năm sau đó, ở nhà Chu Thị xóm Khâm Thiên, Nguyễn – lúc ấy đang là bác trai của nhà này – đã bị một phen ngạc nhiên không ít. Nguyễn cứ tưởng có Hoàng phải có Bạch Liên; và đã phái người đi mời cho kỳ được, lại yêu cầu mang cả nguyệt cầm theo. Đành rằng cũng nhân dịp đó, Hoàng viết được những câu:


Mơ xanh đắng vị thu già
Sắt vàng chen, ngón tay ngà gió mưa.
Chiều nay gợi nhớ chiều xưa…
Nhưng thật ra cái dáng ngồi:
Lòng hoa nghiêng dáng cầm trăng
Phím dây bừng thức cung Hằng áo xiêm…


của Bạch Liên, Hoàng đã in sâu vào tâm khảm ngay từ buổi trưa hôm nào rồi. Cả những tiếng âm đàn gió mưa. Cả mùi hương sứ giả. Chỉ còn việc nâng niu chúng, đau khổ vì chúng, là chúng kết nụ và nở ra thành Thơ liền. Đâu cần đến Nguyễn và Chu Thị phải mối manh, thúc đẩy!

Thành ra Nguyễn tưởng chiều Hoàng lại suýt nữa bị Hoàng gây sự. Mà cái hận của Hoàng cũng vô nghĩa lắm cơ! Từ buổi "lắng tai Chung kỳ" tại xóm Ngã tư, Hoàng không muốn tiếng đàn của Bạch Liên bị lọt vào thính giác bất cứ ai nữa cả. Huống hồ lại phải tham dự cái cảnh "nghe đàn hội chợ" thì còn ức đến đâu! Nói ra không được càng ức, càng hận.

Nguyễn cứ phải vuốt mãi. Rồi khi tiệc tan, hoàng hôn xuống, Nguyễn rủ Hoàng lên Đông Hưng Viên, sau đó lang thang mãi đến khuya mới tạt qua Tự Hưng Lâu mua chim quay làm thức nhắm. Về đến Khâm Thiên, vừa nửa đêm. Bài thơ "Ý đàn" của Hoàng cũng hoàn tất, tổng cộng hai mươi bốn câu lục bát. Ngâm vang cả gian gác của Chu Thị. Nguyễn gọi một cô em trao cho cái sứ mạng đem bài thơ xuống nhà Bạch Liên tức khắc. Quả là chí tình với nhau! Lúc ấy Hoàng mới thật nguôi hận 3.

Nguyễn nhìn trong chiếc áo dài trắng, như biểu lộ hết cái tinh thần của những kẻ đa tình mang lấy nghiệp "bác trai’, Hoàng đã bất giác phá lên cười. Và ngâm lớn đoạn kết bài Qua áng hương trà, cũng vừa sáng tác, ngay sau khi Bài hát cuồng thành tựu:


Nâng chén mời anh thưởng vị trà
Đừng quên tan tác mấy đời hoa
Cạn từng hớp nhỏ cho SEN đượm
Vớt lại trần ai một chút ta.


Sài Gòn 1971

--------------------------------

1

Trích bài "Qua áng hương trà" (trong tập Mây, Hà Nội, 1943).

2

Trích "Bài hát cuồng" (cũng trong tập Mây).

3

Trích bài Ý đàn , mãi sau mới in vào tập Hoa đăng (Sài Gòn 1959).

Người xưa giờ đâu?

Phi la đới lệ, Tam lư thị cảm nhi vi Tao. Ngưu quỷ sà thần, Trường trảo lang ngâm nhi thành tích.

Câu văn biền ngẫu trên đây của Bồ Tùng Linh, nhiều người đã dịch Nôm, nhưng Tản Đà dịch hay nhất. Thú vị nhất.

"Đai cây áo lá, họ Tam lư ngùi cảm viết văn Tao. Thần rắn ma trâu, cậu Dài móng ngâm nga thành bệnh Nghiện".

Hay thật! Thú vị thật! Ít ra là "hay", là "thú" riêng với hai đứa tôi: Thứ lang họ Đinh, và Hoàng lang họ Vũ.

Lý do: Một đứa mang bệnh kinh niên ở con Tỳ, một đứa cũng từ thuở học trò mang bệnh nơi con Tâm, rồi dần dần cả hai cùng tiến vào hành lang ma quái để cùng rước lấy một chứng bệnh chung: bệnh của "Cậu Dài móng"!

Đồng bệnh tương liên, đã hẳn rồi. Nhưng việc đời bối rối quá, gặp nhau rất ít, thật sự vui cười lại càng hiếm. Có thể đếm trên đầu ngón – mà chưa chắc đã sang được bàn tay thứ hai – những lần họ Đinh hoàn toàn cởi mở với bạn.

Thế mà hôm ấy – cũng chẳng nhớ rõ hôm nào, ở ngõ hẻm nào của Sài Gòn – họ Đinh đã cười một trận mê tơi, cười khoái trá, cười thích thú… như vừa đạt được cái điều mong mỏi ngộ nghĩnh nhất đời mình.

Hôm ấy, nhân bàn phiếm về các nhân vật của sông Vị non Côi – thời sông này chưa bị lấp và non kia chưa bị án ngữ bởi con đường sắt cùng Ga Núi Gôi – chủ nhân họ Vũ thao thao bất tuyệt: "Thiên hạ kỳ quá! Họ tưởng đâu làng Vị Xuyên chỉ có ông Tú Xương. Người học rộng hơn chút thì chỉ biết thêm được ông Tam nguyên Trần Hy Tăng là cùng. Danh sĩ Vị Xuyên, trong mắt ngu huynh, còn một người nữa, đáng lẽ thiên hạ phải đặt lên trên cả hai người kia, nếu quả thật không lấy cái chuyện "có tên trong văn học sử" làm vinh – như thiên hạ đời nay! – hoặc lấy cái chuyện "kim bảng đề danh" làm thước tấc khuôn mẫu cho văn tài – như thiên hạ đời trước! – Nói thế, đâu phải ngu huynh ác cảm gì với ông Tú Xương hoặc ông Tam nguyên Trần. Không! Trái lại là khác! Ngu huynh chỉ cốt nhấn mạnh ở điểm: danh sĩ "thần tượng" của ngu huynh chẳng liên quan gì tới văn học sử, mà cũng chẳng hề lưu lại tính danh trên bất cứ một bảng nào – bảng vàng, bảng hổ, hay bảng mai đi nữa!"

Họ Đinh nằm lim dim, vội tán thành ngay, giữa hai đợt khói ngát:

"Đúng! Tại sao cứ hẹp hòi quanh quẩn mãi trong cái vòng mê cờ ấy nhỉ? Đã đành ông Tam nguyên là bậc có khí tiết, ông Tú Xương là tay trào phúng cừ khôi, nhưng thảo dã anh hùng, ta cũng phải kể đến chứ! Thế… thế… "đệ tam nhân" của Vũ là ai nào?".

"Là cậu Ba, em vợ ông Tam nguyên, vừa nói trên đó!"

"Vậy hả?"

"Mà ông anh rể lừng lẫy tiếng tăm kia lại phải hạ bút viết vào cuốn thơ của ông em vợ mình hàng chục lần những chữ "Hy Tăng bái phục, bái phục" mới là tuyệt chứ!"

"Thử đọc bài trong tập ấy coi! Xem có "bái phục" thật không. Hay chỉ là ông Tam nguyên muốn đẹp ý lão bà nên đã quá lời tâng bốc "cậu nó" đấy?"

Vũ trầm ngâm, không đáp. Rồi chăm chú khêu lại ngọn đèn. Rồi nằm xuống… theo đúng thế nằm "cao ngọa". Nhiên hậu mới cao ngâm:


Mỗi đam yên xúy bị nhân trào,
Vạn khổ thiên tàn bất khẳng phao,
Tọa áp sàng đầu nga dẫn cảnh,
Phân lại chưởng thượng yến quy sào.
Thủ tiêm đã toái phương thành khối.
Tân địch xuy can thủy hợp dao.
Mao ốc bán thiềm đăng nhất chản.
Kê minh phong vũ thoại cùng giao.


Tiếng ngâm của Vũ chưa dứt, Thứ lang đã phá lên cười, chảy cả nước mắt. Rồi đang nằm ở phía bên kia ngọn đèn bỗng ngồi bật dậy, tự thưởng một chén trà Thiết la hán. Rồi… kéo chiếc điếu lại gần:

"Thú thật đệ chỉ lỗ mỗ về Hán tự thôi, nhưng bài thơ này có "thần" đến cực điểm, cho nên vì lẽ "thần giao" đệ mới "trực cảm" một cách thấm thía đến vậy chứ".

Rít một hơi thuốc lào xong, họ Đinh lại tiếp:

"Uổng quá! Nếu dịch nôm được mà "ngâm Tao đàn" thì hay biết bao!".

Vũ từ nãy giờ chưa phát ngôn, vội ngồi nhỏm dậy:

"Có dịch chứ sao không! Nhưng đọc nghe chơi thôi đấy nhé! Chớ có mà "ngâm Tao đàn". Thơ là Ngọc, đồng ý; nhưng Ngọc này kỵ nhiều thứ lắm, đem ra bày giữa chợ, đâu được!".

"Ừ thì nghe chơi thôi. Đọc đi!"

"Khoan! Còn điều kiện thứ hai nữa: phải nằm xuống cái đã, rồi hãy ngâm, hãy nghe".

Và đây, bản dịch nôm của Vũ:


Mặc chúng cười, say vẫn cứ say.
Quản gì trăm đắng với ngàn cay!
Trao tiền, ngỏng cổ cò bên sập!
Vơ thuốc, tung mình én tới mây.
Sái phải hà hơi khô quắt ruột,
Tiêm cho thành điếu mỏi rừ tay.
Nửa thềm mưa gió đèn leo lét
Chuyện vãn canh gà bạn khố dây.

Lại một cơn cười dài, đến rung chuyển cả tinh đẩu… Hoa đèn cũng rung theo, như giễu cuộc "thông cảm" trái thường lệ đó, một cuộc thông cảm ầm ĩ nhất thế gian.

Rồi Đinh nhìn Vũ bắt nọn: "Dịch ‘thơ tri kỷ’ không thể chỉ dịch một bài. Hẳn còn nhiều bài khác mà huynh giấu đệ?".
"Chịu thầy, chịu thầy! Nhưng chỉ sợ dịch không lột được tinh thần của nguyên tác, thì mang tội thất kinh với tiền nhân. Tâm huyết của người ta mà! Kể cả thơ ngâm vịnh!"
"Thì một bài nữa thôi vậy. Ngâm hoa vịnh nguyệt cũng được đi!"
"À, có bài thơ Vịnh hoa cúc".
"Hay! Hay lắm! Hoa đèn vừa kết thì hoa cúc đến ngay, đồng khí tương cầu có khác! Nào, ta thử "tái đáo Thiên thai phỏng ngọc…" xem sao! Đâu phải ai cũng xấu số như hai chàng Lưu, Nguyễn!"
"Đành thế rồi. Nhưng bản động chủ xin mời khách hãy "tái cao ngọa" cái đã! Thơ ở đây không có lệ ngồi nghe, ngồi ngâm!
Thời gian lại qua đi, bóng chiều bắt đầu vẽ trứng gà trên vách ván, chủ nhân họ Vũ mới ngâm bài thơ thứ hai.
Thơ rằng:
Khai hướng thu thiên phẩm dị thường
Như hà Đào kinh nhất thời hoang?
Tẫn giao tùng bách cô lăng tuyết
Tòng thử sơn hà chỉ kiến sương.
Nhất khứ đốn giao không Lão phố
Trùng phùng ưng nghĩ hự Trùng dương.
Cận lai tiêu tức tri hà tự;
Đa thiểu tinh thần phó Túy hương.
Và dịch rằng:
Phẩm vượt trời thu đáng tiếc thay
Một phen Đào lệnh để hoa gầy!
Non sông từ đó mờ hơi rét
Tùng bách tha hồ được tiếng hay.
Ngơ ngác Cố viên đời ngóng hão,
Lân la Trùng cửu chuyện cầu may.
Nghe như đã tối nào trăng sáng,
Trút cả hồn thơm cho nước say.
Bài dịch Nôm thứ hai vừa đọc dứt, thì khói xanh cũng tràn ngập gian phòng, xóa luôn cả mấy chục chiếc "trứng gà" trên vách.
Họ Đinh thở dài. Chủ khách cũng im lặng.
Đột nhiên cả hai cùng nhìn nhau, và nhìn về phía ngoài trời đen kịt bóng tối.
Đưa khách ra đầu con ngõ hẻm, Vũ còn đọc thêm hai câu thơ của bậc danh sĩ tiền bối kia, người đáng được sắc phong là "Cậu Dài móng can đảm nhất". Vâng, chỉ can đảm thôi!
Vì nói đến tâm huyết, khí phách, thì cậu đã có thừa! Con ông Nghè Vị Xuyên mà nghèo nhất tỉnh Nam, thế cũng đủ biết!
Hai câu thơ như sau:
Giang sơn nhập dạ trùng vi chính
Thiên địa phi thu thụ hữu thanh.
Và dưới đây là Vũ tạm dịch:
Sâu bọ nắm quyền, lâu mới sáng;
Cỏ cây khóc hận, cứ gì thu!
Chỉ mười bốn chữ thôi mà như vẽ ra "cái thuở ban đầu Pháp thuộc", khi mà ông Tam nguyên Vị Xuyên đã thà chết không đi sứ Tây, cũng khi mà ông Tú Vị Xuyên mới chập chững vác lều đến cổng trường thi Nam Định.
Tuy nhiên, đó chỉ là ý nghĩ thầm kín của Vũ. Chứ còn Đinh Thứ lang thì đã lê gót ra khỏi ngõ, hồn mộng bay tới tận nơi nào rồi, thời gian và không gian đều bất chấp.
Vũ Hoàng Chương
Theo https://vietmessenger.com/
 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...