Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng (1912-1939), nhà văn hiện thực viết nhiều cho nhà Tân Dân và các báo đương thời: Loa, Tương lai, Tiểu thuyết thứ bảy v.v… Các tác phẩm chính: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê v.v…
Tuổi 24 rực rỡ
Cũng như nhiều việc đời
khác, hoạt động sáng tạo thường xuyên bao hàm trong nó những nghịch lý, bất ngờ,
trái khoáy, và khả năng sáng tạo ở một con người đôi khi lại chính là khả năng
tạo ra những nghịch lý thú vị ấy.
Với Vũ Trọng Phụng, năm 1936
nên được coi là thời điểm lý tưởng của việc bộc lộ văn tài. Cùng trong năm ấy,
ba tác phẩm chủ yếu của ông được viết ra, được đăng báo từng kỳ một: Giông
tố bắt đầu in trên Hà Nội báo từ tháng 1-1936. Cũng báo ấy, từ
tháng 10-1936, cho in đều đều Số đỏ. Nhưng từ tháng 9 ngòi bút họ Vũ
còn phải lo “trả nợ” Vỡ đê cho tờ Tương lai. Với lao động
nghề nghiệp cật lực như vậy, nhà văn quả đã đi đến tâm của một phía nào đó của
sự sáng tạo và trong việc khai thác bản thân, vắt kiệt tiềm năng sẵn có ở mình,
trường hợp của ông là cả một bài học.
Cả như một con người lẫn một
ngòi bút, sự trưởng thành của Vũ Trọng Phụng gắn với chữ sớm. Ông sớm
mồ côi cha, sớm phải từ giã quê hương theo gia đình lên Hà Nội rồi sớm phải bỏ
học đi làm. Ông lại cũng bệnh sớm và do đó mất sớm, năm mới 27 tuổi.
Mặt khác, lại cũng phải nhận
là con người đó sớm đạt tới sự chững chạc của ngòi bút, hoặc bảo ông sớm già dặn
cũng được. Nhìn qua những vấn đề đặt ra từ tác phẩm Vũ Trọng Phụng, người ta sẽ
hơi bất ngờ khi thấy chúng được khởi xướng từ một người nằm xuống khi chưa đầy
ba mươi tuổi. Cho đến trình độ làm nghề của Vũ Trọng Phụng cũng vững vàng,
thành thục. Với tư cách một đồng nghiệp, nhân nhớ về những kỷ niệm cũ, Tam Lang
nói một cách giản dị “cái tên Vũ Trọng Phụng đã là tên rất quen đối với những
người biết cầm tờ báo đọc, từ Bắc chí Nam”. Trong diễn văn bên mồ, Lưu Trọng Lư
đưa ra một lời đánh giá khái quát hơn “Vũ Trọng Phụng, đối với thời đại của Vũ
Trọng Phụng cũng giống như Balzac đối với thời đại của Balzac”. ấy thế nhưng lạ
một nỗi là, để viết nên những trang sách có sức lôi cuốn và có giá trị như những
sử liệu, cách thức tổ chức công việc, cách hoạt động, cách bộc lộ ra với đời của
tác giả lại thường gợi ra cảm giác quá dễ dàng. Nó như mạch nước ngầm, khi khơi
đã trúng là phun lên ào ào. Nó mang nặng tính cách bột phát. Trong hồi ức của
mình, Vũ Bằng kể: “Tôi chưa thấy Phụng viết một tác phẩm nào thật dụng công (…)
Phụng viết cho Công dân, Tương lai, Hà Nội báo, nhà xuất bản Mai
Lĩnh, nhà xuất bản Tân Dân…, viết lung tung, vì thế có khi cầm
cây bút viết anh giật nảy mình, (…) và hỏi ầm anh em “Kỳ trước tớ viết đến đâu
rồi nhỉ” (…) và phải cố gạn óc ra xem mấy nhân vật chính trong truyện của mình
viết đã nói những câu gì và có những hành động gì, sợ léng phéng mà mâu thuẫn với
nhau thì chết sớm!”.
Những người say mê bóng đá đều
biết có một cách nói rất hay để chỉ một số tài năng kỳ lạ, đó là những cầu
thủ đi bóng theo lối bùng nổ. Thuộc loại này là những ngôi sao của khả
năng tạo ra những vận động bất ngờ, tùy hứng mà lại biến hóa lắt léo, từ lúc đường
bóng được khởi sự đến lúc nó hoàn chỉnh (tức bóng nằm gọn trong lưới) là cả một
cảnh tượng kỳ thú và bởi lẽ không ai đoán trước được, nên người ta lại rất
thích thú theo dõi.
Từ bóng đá nhìn rộng ra, có
thể bảo bất cứ hoạt động nào vượt lên trên lối diễn biến bình thường tạo ra sự
đột khởi và giả định những kết quả không ai ngờ tới, đều nên gọi là có sự bùng
nổ.
Và đó chính là trường hợp Vũ
Trọng Phụng năm 1936.
Đứng về mặt tâm lý học sáng
tạo mà xét, người ta có quyền gọi năm ông 24 tuổi là thời gian xuất thần của
ngòi bút tác giả, lúc mà ông như có ai đó ốp đồng vào tay, đã viết là được, viết
như đùa như bỡn mà thành quả làm ra toàn những thứ thượng thặng. Quy luật chi
phối ngòi bút nhà văn lúc này là quy luật của những hiện tượng tự nhiên. Lúc sấm
chớp đã nổi lên, thì người ta chỉ có cách khoanh tay quan sát, rồi chờ đến lúc
nó kết thúc, chứ có muốn nó dùng dằng từ tốn cũng không được!
Nhân đây, chúng ta thử bàn về
một khía cạnh trong cách sống, cách làm việc của những người làm nghề sáng tạo.
Một trong những lời khuyên
mà tất cả những người lao động, cả chân tay lẫn trí óc thường xuyên khuyên bảo
nhau, và đó là một sự khuyên nhủ đúng – ấy là phải cần cù phải tận tụy, phải hết
lòng với công việc. Trong giới viết văn, người ta cũng chỉ có cách khuyên nhau
tương tự. Trước mắt một cây bút trẻ, thường có bao nhiêu tấm gương lao động miệt
mài, đến mức người nhẹ dạ lầm tưởng rằng chất lượng một tác phẩm là tỷ lệ thuận
với thời gian mà người viết ra nó ngồi trước bàn. Đã bao nhiêu lần, biên tập
viên các tờ báo các nhà xuất bản bắt gặp cái nhìn cật vấn của các cộng tác viên
trẻ, tôi đã thức trắng mấy đêm liền để làm bài thơ này, tôi đã suy nghĩ về
thiên truyện hàng tháng trời nay, lẽ nào các anh từ chối không in cho tôi? Có
biết đâu, sự sáng tạo có phần bề nổi bên trên, nhưng lại có phần bề chìm ở dưới,
nó là ở sự kỹ lưỡng, sâu sắc của anh trong chuẩn bị và bồi đắp vốn sống, sự
căng thẳng và mới mẻ trong tư duy, sự nhạy cảm và khó tính riêng trong quan niệm
về nghệ thuật. Khi đã có cái phần chìm này rồi thì lúc viết ra có dễ dàng, và
nhẹ tay cho mình một chút, trong lao động nghệ thuật, cũng không có gì đáng ngại.
Muốn gây hiệu quả bất ngờ, mà cũng là muốn cho bạn đọc chia sẻ thêm với những
khốn khó của nghề cầm bút, khi nói về Vũ Trọng Phụng, các đồng nghiệp của ông
thường hay tô đậm cái vội vã luộm thuộm trong động tác hành nghề của ông. Thế
nhưng đấy mới chỉ là một phương diện của lao động nghệ thuật nơi ngòi bút tác
giả Số đỏ. Còn một mặt khác, đây đó đã có người nói tới, nhưng người
đọc vẫn dễ bỏ qua: ấy là những thiết tha muốn biết thêm về đời sống và hơn nữa,
cái quyết liệt cái háo hức muốn mang tất cả những điều đã biết lên mặt giấy,
cái đó mới là thành phần chính làm nên lao động sáng tạo của nhà văn họ Vũ. Lại
như câu chuyện bồi dưỡng thêm cho mình vốn liếng văn hóa nghệ thuật, trong số
các nhà văn đương thời, Vũ Trọng Phụng cũng là một trong những tấm gương sáng.
Đọc những lá thư Vũ Trọng Phụng gửi cho hai vợ chồng người bạn là Nguyễn Văn Đạm
(tài liệu này, cũng như các tài liệu đã dẫn trên, đều in trong Vũ Trọng Phụng
con người và tác phẩm NXB Hội nhà văn, 1994) người ta đã thấy khả năng
tiêu hóa sách vở của ông là ghê gớm. Về phần mình, trước khi kể tác giả Số
đỏ viết dễ như thế nào, Vũ Bằng không quên lưu ý: “Có khi nào bị “phá”
quá, không viết được anh lại ngồi dậy hút thuốc lào, thở khói rất từ từ, hai mắt
lim dim, tán chuyện vẩn vơ một lát về thời cuộc, về mấy bài mới in trên
báo Le Canard enchaine hay Le Monde. Bởi vì Vũ Trọng
Phụng là một người ham đọc ham hiểu. Có thể nói trong bọn chúng tôi lúc ấy, anh
là người theo sát nhất tình hình quốc tế…”. Vâng, đặt trên cái nền rộng lớn ấy,
thì một vài vội vã luộm thuộm của Vũ Trọng Phụng khi cầm bút viết trả nợ là cái
gì được phép. Chẳng những thế, bản thân sự dễ dàng lúc này lại chứng tỏ ông đã
chuẩn bị khá kỹ cho công việc; khi ngồi vào bàn, tiềm năng sáng tạo ở ông như
trái cây đã chín mọng, chỉ một mũi kim nhỏ chọc vào cũng đủ ứa ra mật ngọt.
Tóm lại, sự sáng tạo vốn có
nhiều công đoạn và ở mỗi công đoạn ấy, cách làm việc của người ta lại phải
khác. Lời khuyên chăm chỉ cần cù bao giờ cũng đúng, nhưng đó là lời khuyên dành
cho toàn bộ đời người, mà việc ngồi trước bàn chỉ là một phần. Đọc sách, quan
sát và suy nghĩ về đời sống, những câu chuyện tưởng như đâu đâu ấy, thật ra lại
quyết định tất cả. Rồi ra, một trong những dấu hiệu cho thấy sự tích lũy của
anh đã chín muồi và nhìn chung anh làm việc có hiệu quả, là đến một lúc nào đó,
tự nhiên ở anh nảy sinh ra nhu cầu viết, chẳng những cảm thấy phải viết mà còn
cuống lên muốn viết bằng được, cả người thờ thẫn nếu không được viết. Đến cái
giai đoạn “sinh nở” ấy, thì mọi sự đận đà lại không cần thiết nữa, sau bao nhiêu
ngày từ tốn nhẩn nha, đến lúc này, sự sáng tạo được đẩy tới theo một tốc độ
mãnh liệt và vượt ra ngoài cách hiểu thông thường, thời gian lúc này cũng không
được đo đạc theo những thước đo thông thường, mà dường như phải dùng đến những
thước đo khác. Và điều người ta khuyên bảo nhau, cầu chúc cho nhau lúc này là
làm sao viết được suôn sẻ, tự nhiên, viết được nhanh nhất.
Những người có đọc tiểu sử
Tchékhov đều biết lúc mới vào nghề, ông viết cực kỳ dễ dàng, truyện này viết
trong một giờ, truyện kia viết ngoài bãi tắm, truyện kia nữa viết để trả lời sự
thách thức một người bạn, viết một lèo là xong, không sửa chữa chi hết.
Người ta cũng có thể được
nghe những chuyện tương tự khi đi vào bếp núc sáng tạo của các nghệ sĩ Việt Nam
đã và đang sống hôm nay. Theo Nguyễn Quân cho biết, Bùi Xuân Phái vẽ nhanh lắm;
mượn một tích truyện hài hước của Azit Nexin, ông thường đùa là bởi không có ruồi
quấy nhiễu, nên không lý do gì để vẽ chậm cả.
Những lúc vui chuyện, Tô
Hoài cũng tiết lộ: hồi 20-25 tuổi, cứ mỗi tối ông guồng xong một truyện ngắn,
mà toàn những truyện đến nay còn in đi in lại.
Hóa ra lối viết nhanh, lối
làm việc dễ dàng luộm thuộm của Vũ Trọng Phụng không phải quà tặng riêng của tạo
hóa cho tác giả Số đỏ, mà nó là cái cách làm việc thấy phổ biến ở nhiều
người. Bởi chính cách làm việc đó sẽ tạo nên sự bùng nổ của ngòi bút ở họ, như
với Vũ Trọng Phụng, nó đã mang lại cho ông tuổi 24 rực rỡ. Cuộc đời, suy cho
cùng, là công bằng. Dù làm việc gì, mỗi chúng ta đều có thể có thời điểm xuất
thần của mình. Những giây phút của tuổi 24 rực rỡ ấy sẽ đến với ta, nếu ta biết
chuẩn bị cho nó kỹ lưỡng và nắm bắt nó đúng lúc.
Say mê và tâm huyết
Một vài khía cạnh trong di sản
tinh thần của Vũ Trọng Phụng
Qua đời ngay từ 1939, song
Vũ Trọng Phụng lại có một cuộc sống vẻ vang trong những năm cuối cùng của thế kỷ
XX và những năm tháng tiếp theo. Giữa thời buổi bạn đọc hết sức hờ hững với
sách vở, những tác phẩm chính của ông như Số đỏ, Giông tố cùng với
các sáng tác nổi tiếng khác của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, hoặc các
tiểu thuyết chủ yếu của nhóm Tự Lực văn đoàn… vẫn được in đi in lại đều đều.
Xét ở mức độ phổ biến, người ta có thể tạm bảo tác giả của chúng đã trở thành
nhà cổ điển. Mà ở nước nào cũng vậy, một trong những đặc điểm của các sáng tác
cỡ cổ điển là luôn luôn có bạn đọc, luôn luôn được bàn bạc, được đánh giá lại;
đây là những nguồn văn không bao giờ cạn, tùy theo sự hiểu biết của người đời
mà chúng luôn luôn trở nên mới mẻ.
Cái nhìn nhất quán
Ngay từ 1937, Khái Hưng đã
viết trên báo Ngày nay: “Khi vào trại con gái lính Tây, khi vào đám bạc,
khi len lỏi vào Lục xì, khi đi theo Thị Mịch, khi đứng ngắm bà Phó
Đoan, cũng như khi lẻn vào gia đình ông lão lòa, Vũ Trọng Phụng vẫn chỉ nhìn
cái gì ông muốn nhìn, thấy cái đê hèn bẩn thỉu của người đời”.
Nói cách khác, có một điều
mà Khái Hưng có thể không thích, nhưng vẫn phải ghi nhận, ấy là qua tất cả các
văn phẩm của mình, trước sau Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng giữ được một cái nhìn
nhất quán. Cái cặp kính ông quen mang ra soi rọi thế giới này, là cặp kính màu
xám. Trong thế giới ấy, những hành động độc ác, giả dối, những ý nghĩ dung tục
hèn hạ, những lối xử thế mất dạy, đểu cáng… được trình bày như một cái gì nảy
nòi tự nhiên và lan tràn mỗi ngày mỗi rộng. Không phải ngẫu nhiên khi khái quát
về cuộc đời này, Vũ Trọng Phụng hay dùng đến mấy chữ gàn dở, nhảm nhí, vô
thường, vô nghĩa lý. Hãy nhớ đến Long trong Giông tố, nhân vật
mang nhiều tâm tư của Vũ Trọng Phụng. Long đã có lần hoang mang tự nhủ “Không
biết rằng cuộc đời có còn là cuộc đời không, hay là Long đã ngủ mê”. Bởi trước
mắt Long, cái xấu, cái ác hiện ra ở mọi nơi – chẳng những ở chốn thành thị nơi
Long làm việc, mà còn ở làng quê, nơi Long từng đặt nhiều mơ mộng; và những lố
bịch, những nhảm nhí không chỉ xảy ra ở gia đình Nghị Hách, Long vốn khinh bỉ,
mà còn xuất hiện ngay ở cái gia đình Long vốn hy vọng là gia đình ông đồ Uẩn (bố
mẹ Thị Mịch). Khi nhận xét về cái cách mà dân làng Quỳnh Thôn phản ứng trước việc
không may của Thị Mịch, Long đã có lần khái quát một cách trùm lớp “cái làng
này bất nhân cả làng” và toan xúi giục gia đình ông đồ bỏ làng ra tỉnh. Thế
nhưng đấy chưa phải điều ghê gớm nhất. Với Long, một điều đáng sợ hơn, ấy là mặc
dù tỉnh táo đến thế, nhạy cảm đến thế, nghiệt ngã với mình đến thế, rồi cũng có
lúc Long cũng không còn kiểm soát được mình, trở nên bất nhân, bạc ác, hư hỏng,
như Mịch đã hư hỏng. Thời Vũ Trọng Phụng viết văn, nhân loại còn chưa biết đến
bệnh AIDS, nhưng giờ đây đọc lại ông, có thể dự đoán là nếu sống đến ngày nay,
ông sẽ rất thích thú được nghe nói về căn bệnh đó, bởi trong tác phẩm của mình,
ông đã có dịp miêu tả những con người bất lực hoàn toàn chuồi theo sự đưa đẩy của
hoàn cảnh, và mất đi khả năng miễn dịch mà cơ thể khỏe mạnh vốn có (ở
đây là trên lĩnh vực tinh thần).
Trong văn học Việt Nam, quả
thật chủ đề “con người không đủ khả năng tự vệ trước sự tàn phá của hoàn cảnh”,
chủ đề về sự bất lực của con người, chưa bao giờ được miêu tả với tất cả đau đớn
ê chề, như trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
Nỗi căm hờn thường trực
Như các tài liệu có liên
quan đến tiểu sử tác giả đã chỉ rõ, chính gốc gia đình Vũ Trọng Phụng là dân
nông thôn, cả nhà chỉ mới dọn lên Hà Nội từ những năm ông còn nhỏ. Thành thử mặc
dù lớn lên rồi đi học tiểu học ở Hà Nội, song sự hiểu biết về nông thôn của Vũ
Trọng Phụng có thể nói là khá chắc chắn, và ông sẽ tận dụng cái tình thế nước
đôi đó, để khi cần, cho phép ngòi bút tung hoành trên một phạm vi rộng rãi.
Nhưng về mặt nhận thức, ở đây có một khía cạnh khá tế nhị. So với người nông
dân suốt đời quanh quẩn sau lũy tre xanh, thì hiểu biết cuộc sống của đám dân
ngụ cư kiểu gia đình Vũ Trọng Phụng đã được cải thiện, ít nhiều họ đã mở to mắt
nhìn đời, chứ không chịu nép một bề, thụ động chấp nhận, như hồi còn ở nông
thôn. ở mức độ nào đó, có thể nói một cảm giác tự do đã thấp thoáng nảy nở trong
lòng họ. Nhưng mọi chuyện chỉ dừng lại ở chỗ ấy. So với đám dân giàu có thuộc
loại Hà Nội chính cống, thân phận họ vẫn là thấp hèn và cuộc sống thì quá ư bấp
bênh tạm bợ. Nhất là bản thân họ không có điều kiện vươn tới một trình độ khái
quát cần thiết, để lý giải đời sống một cách hợp lý. Chính cái sự nửa vời này sẽ
khiến cho loại người cả nghĩ như nhân vật Long trong Giông tố thêm
đau khổ. Cái đôn hậu cái thuần phác của người nông dân sống gần thiên nhiên nay
ở họ không còn nữa. Thay vào đó, trong tâm trí họ lúc nào cũng đục ngầu những
căm hờn, giận dữ, và càng không tìm ra được nguyên nhân, tức không được một lý
trí lành mạnh hỗ trợ, sự căm hờn ấy càng quẩn quanh trong những lối mòn bế tắc,
để rồi tàn phá ngay chính tâm hồn của người trong cuộc. Sự có mặt của loại người
do quá căm hờn cuộc đời mà tâm hồn trở nên méo mó, tàn tật ấy đã tạo nên một
không khí nặng nề đặc trưng cho nhiều trang viết của Vũ Trọng Phụng. Ngay ở một
tác phẩm như Lục xì, một me Tây đã thở ra đặc giọng tác giả: “Hạng
người chúng tôi là hạng bỏ đi, ông ạ. Dù xã hội không khinh chăng nữa, chúng
tôi cũng tự biết phận mình. Bây giờ nghèo hèn, tôi cũng chẳng còn sợ ai cười,
chỉ cố làm giàu để sau này có thể ác được lại với những kẻ đã
khinh tôi mà thôi” (V.T.N. chú). Đến Giông tố, thì sự thù hận ấy, sẽ
lại được khai thác kỹ để trở nên sâu sắc hơn mà cũng phổ biến hơn bao giờ hết.
Long thù đời, mà cả Mịch, cả Vạn tóc mai và suy cho cùng, cả Nghị Hách, cả ông
già Hải Vân cũng thù đời. “ở Vũ Trọng Phụng, căm hờn là cả một sự say mê” (lời
của Trương Tửu, viết trong Tao đàn số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, ra
12-1939).
Nguyên nhân của cái chết yểu
Việc một nhà văn hướng cái
nhìn của mình xoáy sâu vào mọi dơ bẩn xấu xa của cuộc đời, là cả một xu thế mạnh
mẽ trong nền văn chương Việt Nam thời kỳ 1932-1945 và người ta thường khoác cho
các văn phẩm loại này một cái tên chung là khuynh hướng hiện thực. Cùng thời với
Vũ Trọng Phụng, còn có cả loạt các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Trọng
Lang, Tam Lang, và quá về sau nữa, Nam Cao, Nguyên Hồng… đã xây dựng văn nghiệp
của mình, bắt đầu từ một cái nhìn sắc sảo như vậy. Thế nhưng, xét cho kỹ, mỗi
người trong họ vẫn có một cách làm cách viết riêng biệt. Lấy ví dụ như trường hợp
Nguyễn Công Hoan. Qua hàng trăm truyện ngắn đã in, nhà văn này đã tự chứng tỏ
mình là người thạo đời, biết bắt lấy từng biến thái nhỏ trong thái độ cư xử xấu
xa, độc ác, bất nhân bất nghĩa của người đời. Chỉ có một điều cần nhớ là khi viết
vậy, Nguyễn Công Hoan luôn luôn tạo ra được một khoảng cách với các đối tượng
được miêu tả. Đọc ông, người ta thấy những cái xấu cái ác kia, không dính được
đến con người ông, bao giờ ông cũng đứng cao hơn tất cả để mà cười cợt, khinh bỉ.
Kể ra, cũng có lần Vũ Trọng Phụng đã viết theo cái cách đứng ngoài mà nhìn như
vậy, đó là trường hợp tiểu thuyết cười dài mang tên Số đỏ. Nhưng
trong phần lớn tác phẩm còn lại, ông đứng khá gần, ông gắn bó khá chặt chẽ với
thế giới được miêu tả, khiến cho đôi khi người ta phải nghĩ không phải ông đang
làm văn, mà như được nghe ông tâm sự về chính những nỗi đớn đau tức tối đang
hành hạ ông vậy. Nói cách khác, việc cầm bút đối với Vũ Trọng Phụng lúc này
cũng là một hành động trả thù đời, ông phải viết và chỉ có trong sự viết, ông mới
thấy đỡ tức, mới được hả giận. Người mơ mộng đọc văn ông có thể khó chịu và trách
ông nhìn đời quá đen tối. Người từng trải việc đời có thể chê các nhân vật của
ông và chính ông nữa, là nông nổi, không tạo ra được một độ lùi cần thiết để
xem xét mọi chuyện, từ đó sống và viết cho thanh thản, nhẹ nhõm. Tuy nhiên, điều
chắc chắn ai cũng phải công nhận, đó là ở Vũ Trọng Phụng, trang viết gắn liền với
cuộc sống, sống đến đâu viết đến đấy. Ông đã sòng phẳng và nhất là ông đã tận tụy
với mọi ý tưởng của mình. Sách vở còn ghi rõ là Vũ Trọng Phụng chết vì làm việc
quá sức, phổi đã bị vi trùng lao ăn ruỗng, những ngày cuối đời phải mượn ít liều
thuốc phiện để lãng quên bệnh tật và tiếp tục viết. Song, lại có thể đoán sở dĩ
bệnh tật có dịp hoành hành trên cơ thể ông vậy, vì ông quá thù sâu, oán nặng,
quá đau đời, và lúc nào cũng chỉ muốn thét lên những tiếng mạnh mẽ tố cáo sự đời.
Tức là trong cuộc chiến đấu đơn độc, ông đã bị thương nặng. Đối với người đọc
hôm nay, nỗi căm hờn toát ra từ các văn phẩm của ông, không chắc là điều ta nên
noi theo, nhưng sự sòng phẳng, sự tận tụy của ông, chắc chắn là những bài học bổ
ích: Ai đã cầm bút đều biết trừ một số ngoại lệ, còn với phần lớn trường hợp đấy
là điều kiện thiết yếu để có được những trang sách văn chương chân chính.
Cái nhìn bi quan mang ý
nghĩa cảnh tỉnh
Vũ Trọng Phụng và xu thế lưu
manh hóa con người trong xã hội Việt
Nam trước 1945
Phẫn uất, tức tối, khó chịu,
là cảm giác chung mà nhiều người chia sẻ khi đọc văn phẩm của Vũ Trọng Phụng. Bởi
tác giả này hay trưng ra những cảnh dâm bôn trụy lạc trong đời sống đương thời,
đấy là một lẽ. Song sở dĩ người ta có cảm giác ấy, cái chính là do từ tác phẩm
của ông, bắt gặp một cái nhìn gần như tuyệt vọng với bản chất con người. Vốn là
cây bút chuyên về phóng sự, nhà văn này có một tầm quan sát rộng rãi và sự thực
đã đưa vào trang sách của mình nhiều loại người khác nhau, từ một nông dân bình
thường, một ông đồ ở làng quê, một viên chức thất nghiệp, đám “cơm thầy cơm cô”
đi ở cho dân thành phố, cho đến một viên quan huyện, một công sứ Pháp, một “Bắc
kỳ nhân dân đại biểu”… Và cái nét chung thấy rõ ở tất cả các nhân vật ấy là bất
kể xuất thân từ thành phần nào, khá nhiều người trong họ đều có xu thế lưu manh
hóa trong cư xử và hành động – đáng sợ là ở chỗ đó.
Một cách sống, một cách nghĩ
Từ điển tiếng Việt (do
Hoàng Phê chủ biên) giải thích nghĩa hai tiếng lưu manh quá sơ sài và thiên về
bề ngoài. “Kẻ lười lao động, chuyên sống bằng trộm cắp lừa đảo”. Từ điển
Văn Tân nói rõ hơn một chút, “Kẻ làm những việc phi nghĩa (chúng
tôi nhấn mạnh – V.T.N.) như ăn cắp ăn trộm, bịp bợm, đánh bạc, làm đĩ để sống”,
song cũng chưa đủ. Riêng Từ điển Thanh Nghị ghi thêm cả nghĩa rộng:
“người có đầu óc xu thời và chỉ tính việc lợi cho mình trước mắt”. Theo chúng
tôi hiểu, cách giải thích như vừa nêu có rõ hơn, vì đã phần nào đi vào bản chất
bên trong của hạng người lưu manh, xem xét vấn đề không phải ở cách kiếm sống
mà là ở quan niệm sống chi phối loại người đó. ở họ, không có cái gọi là chuẩn
mực, nguyên tắc để sống. Họ không coi cái gì là thiêng liêng, không thấy chỗ
nào là giới hạn cho hành động. Muốn là họ làm, có lợi là họ làm, dù việc làm ấy
bất nhân thất đức và gây tai họa cho xã hội. Thường một người nào đó chỉ sống
và nghĩ như một tên lưu manh sau khi bị đối xử bất công, tàn nhẫn, hoặc rơi vào
vòng cực khổ lâu ngày (theo nghĩa này mà nói, người ta không sinh ra đã là
lưu manh mà chỉ trở nên lưu manh). Song một khi đã rơi vào cảnh “dưới
đáy”, ở họ mất hết đạo lý, sự xấu hổ, lòng tự trọng. Chỉ có những việc chưa làm
được, chứ không có những việc không được phép làm. Chúa đã chết! Hoặc nếu chưa
chết, thì ông Chúa trời ấy, các bậc thần thánh ấy cũng hám lợi và vô nguyên tắc
như họ, chỉ chút quà “đấm mõm” là tha hồ sai khiến. ở đây, sở dĩ chúng tôi muốn
nhấn mạnh không chỉ cái cách kiếm sống mà cả cái quan niệm toát ra qua mọi hành
động của đám lưu manh, vì như chúng ta vẫn thấy, cái gọi là chất lưu manh, có
thể có muôn ngàn bộ mặt khác nhau, nó dễ dàng len vào rồi trở thành nhân tố chỉ
đạo, thành cái thần thái trong cuộc sống cách nghĩ của nhiều hạng người trong
xã hội, ngay cả khi bề ngoài, họ thuộc về các tầng lớp khác nhau, uan lại, nhà
buôn, thợ thuyền, trí thức… Mà về mặt này, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có thể
cung cấp cho chúng ta những bằng chứng sinh động. Chỉ cần nhớ lại nhân vật
chính trong tiểu thuyết Giông tố là Nghị Hách. Trong cơn biến động của
xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, hạng người phất lên cả trong khu vực buôn
bán kinh doanh lẫn trong quan trường, tương tự như Tạ Đình Hách, không phải là
hiếm. Chết nỗi, muốn tiến thân nhanh, thường người ta phải dùng đến những
phương sách hèn hạ, bao gồm lừa đảo, bịp bợm. Kịp đến khi đã giàu có rồi, vẫn
chưa nhập nổi cái vai trò của mình, lại càng không có thì giờ bình tâm suy nghĩ
về sự đời và chịu hối cải. Vậy nên không có gì là khó hiểu khi thấy ở một người
như Tạ Đình Hách, lốt bề ngoài là nghị viên, là nhà buôn, là chủ đồn điền,
nhưng cái cốt bên trong vẫn là lưu manh thứ thiệt, và ở con người ấy, trước sau
vẫn là một lối cư xử nhất quán, cách nghĩ lưu manh thấm vào con người Nghị Hách
trở thành bản chất tự nhiên của con người hắn. Một ví dụ nhỏ: sau khi mua vui
chốc lát với Thị Mịch, bị dư luận lên án và cả người con trai cả là Tú Anh cằn
nhằn, trách móc, thì sau một thoáng làm như là hổ thẹn, Nghị Hách nói như
không: “Ô hay! Sao mày dở hơi thế? Thì tao mua con bé ấy làm hầu là cùng chứ
gì?”. Cái cách nghĩ ráo hoảnh, lối thoát ra khỏi thế bí gọn ghẽ chóng vánh,
không phân vân, không ân hận như thế, là chỉ lưu manh mới có, lưu manh chính cống.
Từ sự lan tràn rộng rãi đến
một điển hình bất hủ
Không phải tới Vũ Trọng Phụng,
văn chương Việt Nam mới biết đến chân dung những kẻ lưu manh, có điều, trong
khi các ngòi bút khác– kể cả những người đương thời của ông - chỉ dừng lại lớt
phớt, thì nhà văn này, dường như bị một ma lực nào đó lôi cuốn, dốc hết tài
năng để cực tả thói lưu manh trong xã hội thời ông sống. ít ra, ông cũng đã
thành công ở hai khía cạnh:
- Một là, cho thấy
lưu manh hóa là cả một xu thế phổ biến không thể cưỡng nổi.
- Hai là, đưa ra
được những điển hình lưu manh phải nói là bất hủ.
Có thể thấy rõ khía cạnh thứ
nhất qua tiểu thuyết Giông tố. Theo cách hiểu thông thường thì một
gia đình như gia đình ông đồ Uẩn là loại yếu tố cố kết làm nên sự ổn định của
nông thôn Việt Nam: ông bố làm cái nghề nhân đức là dạy con trẻ dăm chữ thánh
hiền, con cái trong nhà chăm chỉ việc đồng áng. ấy vậy mà theo cách miêu tả của
Vũ Trọng Phụng cơ sở đạo đức tối thiểu ở cái gia đình này cũng đã tan vỡ. Ông bố
bà mẹ không đủ sức để từ chối cái đề nghị béo bở của Nghị Hách, bắt tay ngay với
kẻ làm nhục thanh danh gia đình mình. Còn cô con gái, một khi đã ở địa vị “bà
chủ”, thì cũng trơ tráo hưởng thụ và lại đổ đốn rất nhanh.
So với tất cả các tiểu
thuyết hoặc phóng sự khác của Vũ Trọng Phụng, Giông tố bao quát một
khung cảnh xã hội rộng rãi từ nông thôn đến thành thị, do đó cái ám ảnh về tình
trạng lưu manh hóa của con người ở tác giả được bộc lộ khá đầy đủ, chỉ trừ có
Tú Anh, còn hầu hết các nhân vật khác trong cuốn tiểu thuyết đều quay cuồng trước
sự xô đẩy của đồng tiền và quyền thế. Còn nói đến thành công trong việc dựng lại
quá trình một con người bị buộc phải trở thành lưu manh ở Vũ Trọng Phụng thì
trước tiên người ta nghĩ ngay đến Xuân trong Số đỏ. Như một phần tử
rơi tự do, hắn chỉ cần lo thích ứng đến tối đa với hoàn cảnh. Xuân đã nhập vai
thượng lưu một cách tự nhiên. Hắn đóng vai giáo sư quần vợt, vai đốc-tờ, cả vai
nhà thơ nữa mà không cần ai chỉ bảo. Hắn chỉ lấy mình mà suy ra mọi người (Xuân
nói thẳng với đốc-tờ Trực Ngôn khi ông này giảng lý thuyết Freud “Chỗ anh
em mình với nhau, cần gì còn phải giảng giải”). Một điều nên đặc biệt chú
ý là Xuân không ngờ nghệch chút nào hết. Với sự nhạy cảm, sự mau thích ứng, khả
năng hiểu thấu những gì người khác không tiện nói ra… phải nói quá trình phát
triển tinh thần ở Xuân là bình thường (nếu không nói là hoàn hảo). Tố chất
thông minh ở con người ấy nào có kém cỏi. Chắc chắn giá cần thi cử, hắn cũng đỗ
đạt để có bằng cấp như ai. Chỉ có điều những kiến thức rởm ấy không làm thay đổi
được cái quan niệm sống đã cố định trong đầu óc của Xuân. Hắn đã thành tinh
trong cái vai mà hắn “được giao”.
Lời cảnh tỉnh
Trên báo Ngày nay số
ra 21-3-1937 một bạn đọc ký tên là Nhất Chi Mai (?) đã khái quát khá chính xác:
“Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng
lạc quan. Đọc xong ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung
quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn
nạn vô cùng”.
Vũ Trọng Phụng không có gì
phải cãi lại cái nhận xét đó, ông chỉ lưu ý: cái nhìn đen tối của ông bắt nguồn
từ sự đen tối trong xã hội. Công bằng mà nói, phải nhận là trong thâm tâm nhà
văn này cũng có lúc đã muốn cưỡng lại điều mình nghĩ. Đây đó, ông đã để cho một
hai nhân vật chống đối lại cái xu thế ma quỷ lôi cuốn họ xuống vực. Sự đau đớn
của Long trong Giông tố được Vũ Trọng Phụng diễn tả khá cảm động. Thế
nhưng, hỡi ôi, chàng trai trẻ thông minh và tâm huyết nhường ấy rồi cũng không
cách nào tự vệ nổi. Long cũng phản bội chính mình (chấp nhận lấy Tuyết). Trong
sự đau đớn bất lực của Long, có thể nghe ra tiếng kêu thống thiết của Vũ Trọng
Phụng trước sự tha hóa của con người.
Trong văn học Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX, rốt cục, Vũ Trọng Phụng hiện ra như một nhà văn bi quan bậc nhất. Đặt
bên cạnh văn chương của nhiều người khác – những thứ văn đôn hậu, đầm ấm, giống
như một thứ pôlyvitamin uống quá liều một chút cũng chẳng sao, thì văn ông thật
giống như một thứ kháng sinh mạnh, dùng quá liều là gây nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu
nghề y còn cần đến những thứ thuốc mà người ta xếp vào các loại thuốc độc bảng
A, bảng B… độc để cứu người, thì cuộc đời vẫn cần đến Vũ Trọng Phụng. Trong cái
bi quan, văn ông giống như một lời cảnh tỉnh: con người cần có những chuẩn mực.
Sự dẻo dai dễ thích ứng sẽ trở thành tai vạ, khi con người chỉ biết đến những mục
đích trước mắt, chỉ biết đến dối trá và vụ lợi.
Nguyễn Bính
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Bính (1918-1966) nổi tiếng với các tập thơ Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Mây tần (1942); sau Cách mạng có Đêm sao sáng (1962).
Cánh bướm và đóa hướng dương
Một nét tính cách thi sĩ ở con người Nguyễn Bính
Như một mô-típ chủ đạo, lại như
một ám ảnh, hình ảnh con bướm trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Bính có lẽ là đậm
đà hơn bất cứ hình ảnh nào khác. Bướm và hoa có mặt bất cứ nơi nào nhà thơ nói
đến tình ái. Câu chuyện kỷ niệm của đôi bạn học trò trường huyện ngày xưa sẽ mất
đi vẻ hư ảo, nếu như thiếu sự điểm xuyết của cánh bướm. Bướm quấn quýt bên cô
hàng xóm; bướm chập chờn bay trên luống cải để một cô bạn khác sang nhà đuổi bắt.
Bướm ngây thơ, bướm xinh đẹp, bướm phong tình và ham chơi nữa, bướm có quá nhiều
nét giống người đến mức người làm thơ tưởng như nguyên lai mình vốn là kiếp bướm
chỉ nhớ ra mà mới đây thôi, mới trở lại kiếp người!
Chả trách chi, theo Bùi Hạnh
Cẩn cũng như Hoàng Tấn, một trong những dự định đến rất sớm với Nguyễn Bính là
gom góp những bài thơ đã viết của mình, làm thành một tập thơ riêng, tập thơ
mang tên Bướm.
Nhưng
phàm đã có tiếp nhận Nho giáo, có học qua sách vở thánh hiền, người ta đều biết
rằng hình ảnh con bướm vốn không được kẻ sĩ xưa nay xem trọng. Nhà nho thiên về
duy lý, nếu không tự ví mình như chim phượng hoặc cây tùng cây bách, thì cũng tự
xem mình như cây trúc cứng cỏi, cho đến cả chim sẻ, họ cũng coi thường, nói chi
đến cánh bướm.
Vậy tại sao Nguyễn Bính, một
kẻ có theo đòi bút nghiên từ lúc nhỏ, từng có những bài dịch thơ Đường khá hay,
người có thể nghĩ thơ bằng chữ Hán nữa, tại sao Nguyễn Bính đó lại để cho hình ảnh
con bướm lui tới quá nhiều trong thơ mình!?
Mọi chuyện sẽ chỉ trở nên giản
dị nếu chúng ta chấp nhận một cách hiểu tương đối cởi mở về con người nhà thơ:
cũng như phần lớn chúng ta, tác giả Lỡ bước sang ngang là một con người
của tình cảm, của những ý muốn bâng quơ hơn là của lý trí.
ở ông, sự khao khát được tự
do, được sống theo ý mình, đôi khi đi gần sát tới sự buông thả. Ông thèm đi,
thèm biết, thèm có mặt ở mọi nơi, thèm tận hưởng vị ngọt, hơi ấm mọi hương hoa
của đời. Và chắc chắn, ông không phải một tính cách cứng cỏi, người ta không thể
đòi hỏi ở ông một sự nhất trí thường trực.
Với vốn văn hóa sẵn có, ông
thừa biết nói nhiều đến cánh bướm là không được đàng hoàng, là thiếu khí cốt,
là nhảm (nhảm với nghĩa ông dùng trong câu thơ dịch Quân cờ gõ nhảm làm
rơi hoa đèn). Song con người hồn nhiên cứ kéo ông đi, rồi Nguyễn Bính sẵn
sàng cười trừ với mọi người và với chính mình: thì tôi thích thế đấy, kệ tôi sống
thế nào thì sống, cốt tôi nói điều tử tế và có người nghe là được! Trong cái vẻ
bề ngoài quê quê lại lôm loam thô lỗ (chữ của Tô Hoài),
Nguyễn Bính thật ra đã có cốt cách của một nghệ sĩ hiện đại, bắt đầu từ một sự
bất chấp ngang ngược ấy.
Thói quen thường trực
Sự bất định, thực ra không
phải là độc quyền của riêng ai. “Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe” – người đời
vốn vậy, chẳng qua ở đám thi sĩ, cái thói bất định ấy bộc lộ rõ rệt và thường
trực hơn, nên người ta thích xem đây như là một đặc tính nghề nghiệp của họ, rồi
khi cần, mỗi người lại tìm cách giấu giấu diếm diếm và cố chứng minh rằng bản
thân mình và giới mình không phải như vậy. Riêng với Nguyễn Bính thì mọi chuyện
đơn giản hơn mà cũng sòng phẳng hơn. Đọc kỹ thơ ông, có thể hình dung ông cũng
thường muốn hướng đời mình tới một cái đích nào đó, theo một khuôn khổ nào đó,
song không được, rút cục đành tự nhủ rằng quen mất nết đi rồi, cứ thế mà “diễn”.
Như trong chuyện tình yêu.
Có những nhà thơ cả đời chỉ phụng thờ một nàng thơ nào đó. Tác giả Lỡ bước
sang ngang thì không, gặp đâu yêu đấy và lần nào cũng say đắm. Chỉ có điều
thú vị là tất cả việc đó được Nguyễn Bính coi là đương nhiên, ông công khai bộc
lộ thói đa tình của mình và sẵn sàng làm thơ để đánh dấu từng mối tình lẻ mà
mình đã theo đuổi. Những người có quen biết riêng Nguyễn Bính đây đó vẫn kể: Cô
Nhi trong bài Hoa với rượu vốn tên là Diễm. Hai chữ Tú Uyên – nhân vật
được Nguyễn Bính dành cho cả tập thơ Người con gái ở lầu hoa – được tạo
ra từ tên thật của một người con gái tên là Tuyên. Nàng Oanh thì lại không hề
được “ngụy trang”, nghĩa là thi sĩ cứ thế bê nguyên xi tên thật của một cô gái
ngoài đời vào thơ, khiến cho người này mãi về sau còn bực bội. Tóm lại, thơ
tình chính là lĩnh vực Nguyễn Bính bộc lộ ra tất cả sự nhởn nhơ dông dài vốn
có, và việc nhà thơ tìm thấy hình ảnh của mình trong những cánh bướm là có
nguyên cớ sâu xa của nó.
Bên cạnh tình yêu là những quyết định quan trọng liên quan đến cuộc sống, và ở
đây nữa, Nguyễn Bính vẫn cho thấy sự tùy tiện, gặp đâu hay đấy của mình. Cũng
như nhiều đấng nam nhi có học qua mấy chữ thánh hiền, Nguyễn Bính không quên mơ
tới sự nghiệp của cả cuộc đời, và sự thực là con người lý tưởng văn hay chữ tốt
(lên đến tuyệt đỉnh là bảng nhãn, thám hoa thậm chí trạng
nguyên, mà nhất là trạng nguyên), đã thường xuyên xuất hiện
trong thơ như một ám ảnh. Nhưng làm thế nào để đạt tới cái sự nghiệp ấy thì
Nguyễn Bính gần như không biết. Một nhà nghiên cứu đã có lý khi so sánh hình ảnh
của sự ra đi trong thơ ba người bạn là Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính để
rồi kết luận trong thơ Nguyễn Bính, chàng lãng tử “đi để mà đi” và rất sớm mặc
cảm về sự lỡ bước sang ngang của chính mình. Nhân đấy cũng xin nói qua về một vận
động lớn trong tâm trí Nguyễn Bính là trở về với chân quê. Thấy ý nghĩa của việc
này quá lớn, đây đó đã có người đẩy quá lên mà bảo rằng Nguyễn Bính làm việc
này với một “nhận thức sâu sắc”, nhằm công khai chống lại một xu thế đang trở
thành thời thượng trong văn giới lúc bấy giờ là chạy theo Âu hóa. Nhưng theo
chúng tôi ở đây có thể nghĩ khác. Nguyễn Bính không thuộc dạng người hành động
kiên nghị suy tính trong từng bước đi và khi đã suy tính kỹ thì cắn răng đi
theo con đường đã chọn. Không, thiên nhiên ban cho chúng ta một thi sĩ hồn
nhiên và nông nổi hơn nhiều, gặp đâu hay đấy, thế nào cũng được, bởi vậy, thấy
cái gì hay hay ông cũng làm theo, song đến lúc nào đó ông cũng dễ dàng rẽ sang
đường khác, nếu gặp những thứ “hay hay” khác. Khi mới vào nghề, do một trực
giác tinh nhạy nào đó mách bảo, ông đã viết nên một loạt thơ chân quê như các
bài Mưa xuân, Thời trước, Nhớ, Qua nhà… Rồi cái mô-típ chân quê này
còn trở đi trở lại mãi trong thơ Nguyễn Bính nhưng càng ngày sự xuất hiện của
nó càng trở về giống như câu chuyện mà một người vui miệng và thấy có người
nghe thì kể, hơn là một việc làm xuất phát từ “nhận thức sâu sắc”, như cách nói
của chúng ta bây giờ. Nhất là về sau, khi sự dan díu với kinh thành đã mệt mỏi,
đến bản thân những nỗi bất hạnh riêng tư còn vô phương cứu chữa, nhà thơ chỉ mượn
chuyện nhớ đến quê hương cũ để xót xa cho số phận, chứ còn lòng dạ nào mà nghĩ
đến tuyên ngôn này xu thế nọ! Đấy, sự thực cái tâm lý về chân quê ở Nguyễn Bính
đã diễn biến như vậy. Nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, ông
chỉ không quên người nhà quê trong mình, chứ đâu có để công đi tìm người nhà
quê ấy. Tuy nhiên tất cả những việc này không làm giảm ý nghĩa của cái sắc thái
dân tộc mà thơ ông vốn có.
Sự chung thủy duy nhất
Có một sự thực lâu nay nhiều
người còn ngại nói ra mỗi khi nhớ tới Nguyễn Bính, ấy là nhìn suốt cuộc đời 48
năm trôi nổi của ông, phải công nhận ông là một người bất hạnh. Sau khi kể rằng
lúc nào Nguyễn Bính cũng ôm khư khư bên mình một hộp bích quy toàn những thư
tình “tờ trắng, tờ xanh, vết tay mồ hôi về vệt”, Tô Hoài kể “chưa thấy anh một
lần nào lấy được vợ”. Nguyệt Hồ, bạn cố tri một hồi của Nguyễn Bính cũng bảo
chưa bao giờ bạn mình được sống đúng nghĩa một tối tân hôn. ở Hà Nội đã bí, tưởng
làm một chuyến “hành phương nam” là có thể đổi đời, có ngờ đâu, ở trong ấy,
Nguyễn Bính cũng nhiều lúc rơi vào tình cảnh cơ cực mà nghe một số bạn bè ông kể
lại, người ta phải rớt nước mắt. Những bước đoạn trường ấy, do nỗi đa đoan của
cuộc đời xô đẩy cũng có, mà do nhà thơ tự chuốc vào mình cũng có. Dẫu sao, ở
đây không nên xét mọi chuyện dưới góc độ đạo đức thông thường mà cũng không có
chỗ để bàn xem ai khôn, ai dại. Người ta là thế, những cuộc đời thông thường là
thế. Bởi trước tiên, không ai có thể dự liệu mọi bề cho chính đời mình, và lùi
ra xa một chút mà nhìn thì đời chúng ta đi theo những kịch bản thế nào, là những
diễn viên, chúng ta làm sao hay biết?!
Thế nhưng để bù lại, Nguyễn
Bính có thơ bạn bầu. Giống như đóa sen thơm ngát, thơ ông vượt lên trên mọi đa
đoan chìm nổi của chính đời ông, để vĩnh viễn tỏa hương. Đời ông càng khổ thì
thơ ông càng hay. Có lẽ, chính Nguyễn Bính cũng biết như vậy, nên lạ một điều
là trong cuộc đời bất định và dông dài của mình, ông có một sự chung tình đặc
biệt là chung tình với thơ. ở chỗ này, cái câu người con trai tự nói về
mình “Lòng anh như hoa hướng dương. Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời” không
phải là một lời nói ngoa, đến lượt mình sự chung tình ấy, đóa hướng dương ấy lại
làm nên sự trường tồn của tên tuổi ông, và nó sẽ trở thành hình ảnh tượng trưng
cho đời ông, chứ không phải cánh bướm nhởn nhơ mà ông thường nhắc tới.
Thế giới hôm qua
Một huyền thoại về nông thôn
Việt Nam
qua thơ Nguyễn Bính và lý do
dẫn đến sự ra đời của huyền thoại ấy.
Vào thời điểm Nguyễn Bính lớn
lên và bắt đầu làm thơ - tức là những năm 30 của thế kỷ XX - quá trình Âu hóa của
xã hội Việt Nam đã qua được một chặng đường khá dài. Chung quanh bộ máy cai trị
của thực dân đã thấy hình thành nhiều trung tâm hành chính và buôn bán lớn.
Một tầng lớp công chức mới
ra đời mà với họ cách sống tối rượu sâm banh sáng sữa bò trở thành tự
nhiên, tưởng như bao đời vốn vậy. Ngày một quen hơi bén tiếng với văn minh
phương Tây, người ta dễ dàng cảm thấy mình gần với các đô thị tư bản hơn là các
phố chợ phong kiến. Và chính lúc đó, nhiều người bắt đầu nhớ nhung tới cái cội
nguồn nông thôn hôm qua của mình. Không gì khác, giọng thơ Nguyễn Bính được yêu
mến, nhiều bài thơ của ông được người đương thời thuộc lòng, bởi nó đáp ứng được
sự lưu luyến thường trực của những cư dân thành thị với cội rễ hôm qua của họ.
Có thể nói rõ sự ưu ái của dư luận đối với một số bài thơ của Nguyễn Bính
trong Lỡ bước sang ngang, Mây tần, Mười hai bến nước… đã đánh dấu sự
trở về của một thời với những gì mà con người thời đó vừa đánh mất. Và do chỗ
đây chỉ là sự trở về trong tâm tưởng, lại ở lĩnh vực thơ ca, cho nên cái nó hướng
tới không phải là một nông thôn có thực mà là một nông thôn trong hoài niệm, một
nông thôn đã được lý tưởng hóa ít nhiều. Hơn thế nữa, đồng thời với sự trở về
trong không gian còn có sự đi ngược thời gian, để tìm tới tận cái nông thôn
thanh bình thời xưa. Trước mắt chúng ta, xảy ra một quá trình hoài niệm
song đôi, hoài niệm kép, nên tự nhiên là nó nối tiếp miên man, không biết
đến đâu là dứt.
Cuộc sống thanh bình êm ả
Trước tiên, cái cuộc sống
nông thôn mà những vần thơ Nguyễn Bính đưa người ta trở lại là một cuộc sống
hài hòa, êm đẹp. Trời đất thiên nhiên yên lành, thanh sạch, còn con người thì
bình thản mà sống, tự tin mà sống. Công việc, người ta tự nguyện nhận làm. Bổn
phận, người ta sẵn sàng gánh vác. Và ai nấy dường như đều luôn luôn biết tìm ra
trong nhịp sống hàng ngày những niềm vui, những điều tốt đẹp. Và con người lao
động ở đây không có cái vẻ lam lũ nhọc nhằn, ngược lại ở họ luôn luôn toát lên
vẻ đẹp, cùng sự ý nhị, duyên dáng.
Nhà tôi có một vườn dâu
Có giàn đỗ ván có ao cấy cần
Hoa đỗ vẫn nở mùa xuân
Lứa dâu tháng tháng lứa cần
năm năm
Ngoài cuộc sống hàng ngày, ở
con người nông thôn (xin nhắc lại đây là hình ảnh con người nông thôn qua sự lý
tưởng hóa của cả kẻ ở lại làng quê lẫn kẻ xa quê) lại không thiếu những phút
thăng hoa cao đẹp. Đó là tình yêu của họ với làng xóm, những xúc động thuần
phác trong quan hệ của họ với tự nhiên, mà nảy nở đầy đặn nhất là vào những
ngày hội hè, đình đám. Hoặc mở ra giữa những đêm trời cao gió cả, trăng
như ban ngày hoặc khai trương mùa diễn vào những ngày xuân mưa bụi, hội hè
thường khi là những dịp để con người thoát ra khỏi bao lo buồn hằng ngày, mà
yên tâm sống, sống thật hồn nhiên, thật cởi mở với mọi tình cảm có thật trong
mình. Nói chung, trong tâm thức con người nông thôn thì cuộc sống bao giờ cũng
vận động theo vòng quay đều đặn của tự nhiên. Sẽ không có thay đổi gì thật lớn!
Cũng không có những tai họa bất thường đổ sụp xuống đầu người ta!
Sự ưu thắng của những giá trị
tinh thần
Một khía cạnh khác làm nên sắc
thái riêng của cái nông thôn lý tưởng Nguyễn Bính đưa ta trở lại: ấy là nếp sống
đậm chất Nho giáo. Đây không phải thứ đạo Nho trung hiếu tiết nghĩa hà khắc của
người có học, mà là một ít quy định, một ít giả thiết, một ít niềm tin… về một
cuộc sống lý tưởng mà người ta noi theo, nó khiến cho những sinh hoạt hàng ngày
được chiếu rọi một ánh sáng mới, có thêm những nét trau chuốt hơn, tinh tế hơn
mà đôi khi cũng rạng rỡ hơn. Xã hội trong thơ Nguyễn Bính là một xã hội có sự
phân công rõ rệt: nếu người phụ nữ tượng trưng cho cuộc sống cần cù, chăm chỉ,
và cả những khao khát tốt đẹp, thì những người đàn ông chính là kẻ thực hiện những
khao khát đó. Bao nhiêu công phu bỏ ra, những người mẹ, người chị, người vợ
cũng không ngại, miễn sao các anh học trò yên tâm dùi mài kinh sử. Họ – đám học
trò dài lưng tốn vải – sẽ phải học hành trong sự thúc đẩy ngấm ngầm của những
người thân ấy. Và họ sẽ phải đi thi để những mơ ước dai dẳng kia có ngày trở
thành sự thực. Hầu như bất cứ bài thơ nào của Nguyễn Bính mà có chút hơi hướng
liên quan tới sự lập nghiệp trong tương lai, đều có nhắc đến chữ trạng. Anh
lái đò mơ đỗ trạng, cô gái chăn tằm ước ao chồng mình có
ngày thành trạng, cho đến các cô gái tước đay dệt võng thì cũng chỉ
chăm chăm có một điều là đay này dệt võng để các ông trạng vinh
qui. Khoảng cách tưởng là xa vời – từ cái ngày thường hàn vi, đến một ông
trạng hay chữ nhất nước – hóa ra lại rất gần gũi trong tâm khảm mọi người đến mức
tưởng như ai cũng có thể trở thành trạng được, nếu như chăm chỉ, cần cù, và có…
một người vợ hiền thúc đẩy. Lạ một điều là cái sự đỗ trạng ở đây không đi kèm với
tiền bạc, hay quyền bính, hay sự hưởng thụ. Nó chỉ là một thứ tiếng thơm, và cả
người nhận, lẫn chung quanh, đều lấy làm đủ mà không thắc thỏm gì thêm. Từ khía
cạnh này mà xét, phải nhận cái thế giới hôm qua Nguyễn Bính ca tụng là một thế
giới cao thượng. ở đó, cái chiếm vị trí ưu thắng không phải là vật chất, mà là
tinh thần.
Văn chương như một cách thế
vượt lên đau khổ
Không chỉ Nguyễn Bính, thật
ra trong văn học tiền chiến có cả một mạch văn đi vào nuối tiếc và luôn luôn
hoài niệm cái không khí thanh đạm của thời quá khứ. Nguyễn Nhược Pháp
có Ngày xưa, Vũ Đình Liên có Ông đồ, Lưu Trọng Lư gợi lại một
thời đã mất trong Khói lam chiều, trong Chiếc cáng xanh. Đến
cả Xuân Diệu “tây” là thế, mới mẻ là thế, mà cũng sớm quay về sống lại không
khí cổ xưa qua những phác họa đời sống tinh thần lúc ấy:
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm
Hây hây thục nữ mắt như thuyền
Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng
nguyên.
Dẫu sao, phải nhận rằng so với
mọi người thì niềm hoài vọng này ở Nguyễn Bính vừa dai dẳng, lại vừa tự nhiên
hơn.
Tại sao lại như vậy? Chẳng
những nhiều lần dông dài với Nguyễn Bính trong những chuyến giang hồ vặt kiếm
ăn, Tô Hoài còn đã có dịp trở lại với làng quê Nguyễn Bính nữa. Và đây, dưới
con mắt Tô Hoài, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của tác giả Lỡ bước sang
ngang hiện lên với vẻ trần trụi vốn có:
Làng Thiện Vinh thật có giữa
vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình. Đâu đâu cũng xơ xác. Nước trắng
đồng, gió lùa sóng đồng cồn lên, quần lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu
lúa cũng chết đuối. Mỗi năm mất mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương.
Sau khi cực tả như thế, Tô
Hoài đi vào cắt nghĩa: tại sao trên cái thực đến se lòng đó, lại nảy sinh thơ
Nguyễn Bính:
Từ những dằn vặt, những mơ
tưởng nhỏ nhoi đọng lại. Mùa này mất trắng lại mong cho đến mùa sau lại được thấy
mặt hạt thóc. Cái củi rều trôi qua ngoài sông, không vớt được cũng tiếc. Vợ chồng
cãi nhau, người vợ ôm mặt than thở: “Giá như ngày ấy theo cái người dưới Đông
thì chẳng đến nỗi nào, khổ cái thân tôi…”. Hoa xoan và mưa bay giữa hội chèo
làng Đặng đã sinh ra từ những như thế. Người ta than thân trách phận, nhớ tiếc,
ước ao, ở giữa làng mà tưởng ra quê mình tận đâu đâu kia.
Với tư duy sắc sảo của người
viết văn xuôi, Tô Hoài thật đã chạm tới một vấn đề lớn của các sáng tác văn
chương trong quá khứ. Chúng ta đều biết tuy cái tình cảnh vùng đất đồng chiêm
trũng nói ở đây, là riêng của quê hương Nguyễn Bính, song nhìn rộng ra, nó là
nét phổ biến trong xã hội trung đại Việt Nam, và kéo dài cho tới đầu thế kỷ
này. Khắp đồng bằng Bắc bộ, do nơi quan hệ sản xuất không hợp lý, và kỹ thuật
canh tác cổ lỗ, ngay cả những nơi đồng đất mỡ màu, thiên nhiên ưu đãi, đâu đâu
cũng là một đời sống khó khăn, xã hội thì im lìm bất động, sự trì trệ kéo dài đến
mức trở thành một ám ảnh, và người ta không thể nghĩ được điều gì tốt đẹp,
ngoài cái cảm giác chung rằng cuộc đời mãi mãi là thế này, không thể thay đổi.
Và để tự vệ, để tìm thấy niềm vui sống, người ta phải dựng tạo cho mình một cõi
tâm linh riêng, đó là cái thế giới mộng mơ với bao điều tốt đẹp. Bởi lẽ, niềm
mơ ước ấy là của chung mọi người, nên nó dễ dàng lan tỏa, nó được hầu như mọi
người chia sẻ. Như thuật ngữ bây giờ hay nói, rồi từ cái đời sống bế tắc đó, một
huyền thoại được hình thành, huyền thoại về một cuộc sống hài hòa êm đẹp, có chỗ
cho tất cả mọi người. Không ít sáng tác dân gian – một kho tàng nghệ thuật
phong phú ở đồng bằng Bắc bộ – đã nảy sinh trên cơ sở huyền thoại dai dẳng kia.
Nó trở thành một bộ phận của đời sống người ta, vỗ về an ủi người ta. Và nó lưu
truyền qua nhiều thế hệ. Đến lượt mình, các sáng tác của Nguyễn Bính chính là
bước tiếp nối cái mạch của người đi trước và nâng nó đến độ hoàn chỉnh, tức tạo
ra cho nó một vẻ đẹp vốn chỉ có ở các vần thơ dân gian ưu tú nhất.
Chương bảy
Những người lữ hành đơn độc
Hồ Dzếnh
Hàn Mặc Tử
Thâm Tâm và Trần Huyền Trân
Hồ Dzếnh
Vài nét tiểu sử
Hồ Dzếnh, tên thật là Hà Triệu Anh (1916-1991). Tác phẩm chính: Chân trời cũ (1942), Quê ngoại (1943) v.v…
Chênh vênh quê nội quê ngoại
Nét độc đáo làm nên số phận
Hồ Dzếnh
Với tập thơ Quê ngoại,
nhất là với tập truyện ngắn Chân trời cũ, Hồ Dzếnh đã tạo ra được một vị
trí vững vàng trong đời sống văn học trước 1945. Từ góc độ tâm lí sáng tác mà
xét, văn phẩm của ông có vẻ như một minh chứng xác thực cho cái điều thỉnh thoảng
các nhà văn vẫn nói: viết văn, ấy là phương tiện duy nhất để con người ta thoát
khỏi sự đơn độc.
“Những nỗi u kín của ngày
xưa”
Chân trời cũ in ra lần
đầu vào năm 1942. Cho đến trước năm 1945, tập truyện ngắn đó còn được in lại một
vài lần, đại khái cũng bằng số lần mà nó được in lại ở vùng tạm chiếm Hà Nội
trước 1954.
Bẵng đi một thời gian, không
thấy cuốn sách ra mắt bạn đọc, thậm chí nhắc đến nó, người ta cũng ngại.
Nhưng đến cuối những năm 80,
nó lại “tái xuất giang hồ” và từ đây trở đi thì đều đều có mặt trên thị trường,
giống như những bạn cùng trang lứa Số đỏ và Chí Phèo, Tắt
đèn và Những ngày thơ ấu…
Có vẻ như dần dần, người ta
đã xác định được vai trò của Chân trời cũ trên văn đàn: ấy là loại
tác phẩm không gây ra những choáng váng, đột ngột, song luôn luôn có bạn đọc; hết
lớp này đến lớp khác, các thế hệ bạn đọc tìm đến những trang sách, lại thấy
chúng như là vừa viết cho mình. Trong cái thế giới do Hồ Dzếnh phác ra đó, một
thế giới “mang nặng những nỗi u kín của ngày xưa” như ông hằng nói, con người
ta thất bại mà không ngã lòng, mất mát mà không hoảng hốt, bị phản bội mà không
thù hận, thậm chí có khi sa đà, hư hỏng mà vẫn gợi được tình thương của mọi người.
Bằng một giọng kể ngậm ngùi chân chất, các trang sách như luôn thì thầm với những
ai đang đọc nó, rằng cuộc đời thật oái oăm, thật nhiều đớn đau buồn thảm, cuộc
đời là dâu bể, con người chỉ có cách nhẫn nại cam chịu mà sống cho qua ngày.
Nhưng nó vẫn không quên giả thiết rằng, trong sự nhẫn nại và cam chịu ấy, từ mỗi
con người lại ánh lên vẻ đẹp cao quý, đấy chính là lý do làm cho ta đáng sống
và lờ mờ thấy hình như cuộc sống còn có ý nghĩa nào đó.
Riêng về tập Quê ngoại, tập
thơ ông có ngụ ý đề tặng cho Quê mẹ Việt Nam, thì trong bối cảnh của trào lưu
lãng mạn những năm 30 và 40 trong đó thơ văn mở ra việc tự phát hiện cái thế giới
bên trong của tâm hồn người Việt Nam, cùng với một Xuân Diệu “rất tây”, một Huy
Cận “mang mang” chất học sinh thành thị, hay một Nguyễn Bính của “hồn quê”…,
thơ Hồ Dzếnh là tiếng lòng của những tâm hồn học sinh sống ở huyện lỵ, đã tách
khỏi nông thôn rồi mà lúc nào cũng lưu luyến nông thôn, những thiên nhiên, hoa
bướm, những mối tình ngẩn ngơ vụng dại, giống như những trang văn xuôi của Đỗ Tốn
trong tập truyện ngắn Hoa vông vang.
Sự xa lạ rất gần gũi
Để nói tới những ngang ngược
vô lý trong yêu cầu của con người với văn chương, nhà văn Liên Xô I.Ehrenbourg
từng kể lại câu chuyện như sau:
Lần ấy, ông cùng các đồng
nghiệp đang họp để bàn phương hướng sáng tác thì có một số đại biểu công nhân đến
dự. Thôi thì ngành nào cũng ra sức ân cần mời mọc để các nhà văn tới chỗ mình
và viết về ngành mình. Được lời như cởi tấm lòng, dĩ nhiên là nhiều cây bút
sung sướng lắm, đi bằng được, về viết và đòi in ra bằng được. Chỉ ít lâu sau, họ
mới vỡ lẽ: công nhân dệt nhiều khi rất ngại đọc tiểu thuyết viết về ngành dệt,
thợ mỏ thì không phải bao giờ cũng thích đọc những trang sách “ăn tươi nuốt sống”
thực tế vùng mỏ của họ. Mà ở đâu và ngành nào cũng vậy, thợ dệt hay thợ mỏ,
công nhân nghề rừng hay anh em lái xe vận tải… họ đều chỉ thích những tác phẩm
hay, kể cả mấy cuốn sách toàn kể về đời tư của các vị công tước bá tước thời
xưa, chẳng hạn loại Con đầm pích, Chiến tranh và hòa bình, Anna Karênina
v.v…
Trở lại với trường hợp tập
truyện ngắn Chân trời cũ. Trên đất nước này, số người Hoa định cư rải
rác đủ các nơi thật, song so với dân bản địa, không thể gọi là nhiều. Đặc biệt
số phụ nữ gốc Tàu thứ thiệt, loại người Trung Hoa “quý phái” như Hồ Dzếnh gọi,
lớn lên bên chính quốc, sau mới sang làm dâu các gia đình người Hoa bên này, số
đó lại càng ít, có lẽ tính chi li thì phải nói trong hàng triệu người mới có một
hai người. Vậy mà cớ sao một thiên truyện như Người chị dâu tôi cứ
làm chúng ta xúc động, và ta sẵn sàng đọc đi đọc lại nó hơn là đọc hàng trăm
thiên truyện lẩm cẩm viết ngay về những người xung quanh ta và rất giống ta nữa.
Cắt nghĩa rằng Hồ Dzếnh viết
hay mà những người khác viết dở, thì cũng bằng chưa cắt nghĩa gì.
Đúng hơn, có lẽ nên nói
trong bóng dáng người chị dâu “đặc Tàu” ấy, nhiều người chúng ta tìm thấy tâm
tình, số phận của chính mình.
Có thể là từ bé đến giờ, thực
ra thì bạn vẫn khổ, nhưng sao trong một góc tâm tư nào đó, bạn vẫn lướng vướng
để sót lại cái ý nghĩ rằng xưa kia, nếu không thì kiếp trước, bạn sướng lắm, và
cuộc sống hôm nay chưa phải đã xứng đáng với chính bạn. Bởi thế, trong việc một
người phụ nữ Trung Hoa gạt nước mắt để lam làm chịu đựng, cốt sao thích ứng với
hoàn cảnh, với gia đình nhà chồng, trong tình thế người đàn bà ấy từ bỏ mọi hy
vọng, âm thầm tự khác mình đi, đánh mất mình nữa, cốt sao tồn tại, bạn thấy có
nét gì chung của mọi kiếp người, trong đó có bạn. Vả chăng, cuộc biến đổi diễn
ra một cách bình thản, từ tốn, nên sự đầu hàng của người đàn bà ấy, của mỗi
chúng ta – nếu có thể nói như vậy – không có gì là trái tự nhiên cả. ấy có lẽ
là điều Hồ Dzếnh nhắn thêm với ta khi ông, theo lối bỏ nhỏ, đặt vào thiên truyện
cái hình ảnh “người đàn bà buồn khổ sàng từng hạt tấm xuống nong, trong khi trời
chiều sàng từng giọt hoàng hôn xuống tóc”.
Không chỉ riêng người chị
dâu lưu lạc mà bất cứ ai trong gia đình riêng của Hồ Dzếnh, chú Nhì và chị Yên,
em Dìn và người anh xấu số… phàm đã được tác giả để mắt tới rồi kể lại, cũng đều
khiến người đọc bâng khuâng, bởi lẽ trước sau vẫn một bút pháp ấy, bút pháp nói
về những gì tưởng xa lạ mà lại gần gũi với tâm tưởng mỗi người đọc. Sau hết,
cái kỳ lạ của Chân trời cũ nằm ngay ở trong tình thế của tác giả, mối
quan hệ giữa Hồ Dzếnh và nền văn học đương thời. Cha ông vốn gốc Quảng Đông mới
sang đây một đời, chỉ có mẹ ông là người Việt. Rõ ràng, khi nói về xứ sở này,
ông ở vào cái tình thế chông chênh chân trong chân ngoài, quê hương là thực mà
như là hư, là phải mà lại như không phải, gần gũi đấy, mà lại xa vời đấy. Nhưng
có lẽ chính vì thế mà ở ông có cái lui tới trong cách nhìn, cái xót xa trong
tình cảm, cái khao khát vươn tới một mảnh đất tâm linh tưởng không bao giờ vươn
tới nổi… Bấy nhiêu yếu tố hội lại khiến cho các trang văn của ông có được chất
thơ chân chính.
“Đời chỉ đẹp khi hãy còn
dang dở”
Có một bộ phận hợp thành của Chân
trời cũ mà trong một số lần xuất bản gần đây, có khi người ta bỏ qua, có
khi xếp không đúng chỗ, và chỉ ở một số bản in, mới thấy nó được trả lại cái vị
trí vốn có, ấy là lời tựa của Thạch Lam cho tập sách.
Trong một lần nói chuyện với
người viết bài này, Hồ Dzếnh bảo rằng nếu trong mấy chục năm qua, có một thứ gì
ông đã đánh mất, để rồi bây giờ, thấy tiếc hơn cả, thì đó chính là bản viết tay
của lời tựa ấy.
Không phải ngẫu nhiên, trên
tạp chí Thanh nghị số 33 (1943), Phạm Chí Lương (người được Hồ Dzếnh
đề tặng thiên truyện Em Dìn) từng có bài viết xếp Thạch Lam, Thanh Tịnh
và Hồ Dzếnh vào chung một dòng phái ấn tượng chủ nghĩa.
Cũng trên Thanh Nghị năm
ấy, trước đó mấy số, Hồ Dzếnh cho in thiên truyện Sáng trăng suông với
lời đề từ ngắn gọn mà hôm nay đây đọc lên, hẳn nhiều người còn thấy nao
lòng Tặng gió đầu mùa xa xôi.
Thiên truyện được viết sau
khi Thạch Lam mất và chỉ được bổ sung vào Chân trời cũ trong những lần
in lại.
Với Hồ Dzếnh, dường như Thạch
Lam đồng nghĩa với nền văn học đương thời.
Nhà văn ấy đã dang rộng tay
đón Hồ Dzếnh, khi ông mới chập chững trên những trang viết đầu tiên.
Nền văn học ấy còn để lại
trong ông bao kỷ niệm, nào là in sách xong, mang bán rong khắp Đông Dương với
người này, nào những ngày làm báo với người kia, nào một lần gặp mặt nhưng còn
nhớ mãi một người khác nữa.
Gần như đã thành công khai,
đồng nghiệp và bạn đọc nhiều người biết rằng Hồ Dzếnh còn có một bút danh là
Lưu Thị Hạnh. Bút danh ấy ông ký sau mấy cuốn tiểu thuyết Một truyện tình
15 năm về trước, Tiếng kêu trong máu, Những vành khăn trắng. Được hỏi về
việc này, Hồ Dzếnh chỉ mỉm cười, một nụ cười độ lượng. Gặng mãi ông mới trả lời
đại khái rằng, âu cũng là một cách thử làm nghề, thử lăn lộn với việc cầm bút.
Nghĩa là, nếu nhập cuộc, nếu
đi hẳn với nghề viết văn, ông cũng có thể ngang ngửa như bất cứ ai.
Nhưng không, do một sự xui
khiến huyền bí nào đó, ông không chọn con đường vạch sẵn ấy. Luôn luôn Hồ Dzếnh
đứng cách nghề văn một khoảng cách cần thiết. Trước kia thì dạy học, làm thư ký
cho các hãng buôn, cùng lắm thì làm báo, sau này nhiều năm làm thợ đúc thép…
Lúc nào ông cũng có một nghề khác để kiếm sống và chỉ viết văn làm thơ theo sự
bức xúc của nội tâm và sự thích thú của từng lúc. Hẳn điều đó có mang lại cho
ông những thiệt thòi nào đó. Nó không giải phóng hết mọi khả năng vốn có nơi
ông. Nó làm cho ông nhiều khi cứ có cái vẻ ngơ ngác ngây thơ của một người
ngoài cuộc. Nhưng để bù lại, nó giúp cho ông tránh được tình trạng bảo cứng lại,
cằn đi cũng được, bảo úa ra chết mòn cũng được, ấy là cái tình trạng hết nhung
hết tuyết rồi mà vẫn cứ sống ườn ra trong nghề, như người ta thường thấy ở
không ít cây bút công chức khác. Còn nhớ Hồ Dzếnh từng có bài thơ Ngập ngừng trong
đó ông bảo rằng tình yêu đến mức đắm đuối nhất phải là tình yêu không đến với
nhau, vì đến với nhau, rồi sẽ thất vọng. ý tưởng ấy hẳn đã chi phối những suy
nghĩ của ông về nghề văn và đến lượt mình, điều đó lại làm chúng ta thấy ra rằng
với nghề này, lúc nào ông cũng giữ được một tình yêu tươi mới.
Hàn Mặc Tử
Vài nét tiểu sử
Hàn Mặc Tử (1912-1940), người đi qua thơ Việt Nam “như một niềm kinh dị”. Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1942), trong đó có một phần lấy từ các tập thơ chưa in khi tác giả còn sống: Xuân như ý, Thơ điên v.v…
Vẻ đẹp kỳ dị
Hàn Mặc Tử trong những liên
hệ với nghệ thuật hiện đại
Trong bài thơ Thương
ngô trúc chi ca số XIII, Nguyễn Du từng tả cây liễu “Tối điên cuồng xứ
tối phong lưu” (dịch nôm: lúc càng điên càng đẹp, khiến người ta say mê).
Chỗ xứng đáng để đặt câu
mang tinh thần hiện đại ấy có lẽ là một phòng tranh nào đó của các họa sĩ lớn
thế kỷ XX.
Nhưng cũng sẽ rất thích hợp
nếu người ta dùng nó, cái quan niệm mỹ học phóng túng đó, để soi sáng cho một
hiện tượng kỳ lạ của thi ca Việt Nam: những tập thơ Gái quê, Đau thương,
Xuân như ý… của Hàn Mặc Tử.
Không kể thơ cổ điển mà ngay
thơ Việt Nam hiện đại cũng có cái giọng thiên về chừng mực. Với phong trào Thơ
mới, tâm hồn dân tộc đã làm một cuộc bộc bạch khá cởi mở, ở đó, cùng lúc người
ta bắt gặp cái say đắm nồng nàn của Xuân Diệu, những phút giây ngà ngà ngơ ngẩn
ở Lưu Trọng Lư, những phen chuếnh choáng lảo đảo cố ý ở Vũ Hoàng Chương. Nhưng
bằng ấy sự say sưa đều dừng lại khá xa trước ranh giới sự điên dại. Chỉ riêng
có một mình Hàn Mặc Tử – do những may mắn ngẫu nhiên mà cũng là những bất hạnh
trời đầy, như mọi người đều biết, xui khiến – đã phiêu lưu vào khu vực ấy, khu
vực của những kích động tình cảm lên tới cùng cực, khu vực của những mê man quyến
rũ gần như mất trí. Và trước mắt chúng ta là một giọng thơ độc đáo không chia sẻ
âm hưởng với ai hết.
Trung thành với một tập quán
đã thành truyền thống, ở Xuân Diệu, Huy Cận cũng như ở nhiều người khác, thi sĩ
bao giờ cũng hiện ra như một người tinh tế, dịu dàng, chỉ sợ mỗi cử động mạnh của
mình làm kinh động cả đất trời. “Tôi với người yêu qua nhè nhẹ - Im
lìm không dám nói năng chi” (Trăng - X.D) hoặc “Chân bên chân hồn
bên hồn yên lặng” (Đi giữa đường thơm - H.C). Đến Hàn Mặc Tử, thì
cách nói, cách tiếp nhận đời sống khác hẳn, người làm thơ không có thì giờ nghĩ
về mình nên cách bộc lộ có sỗ sàng, sống sượng thậm chí bệnh hoạn cũng không quản
ngại. Người quen tìm thấy ở thơ một sự ru rín vuốt ve, một lời vỗ về thông cảm
hẳn không thể chịu được khi thấy ở đây thơ rặt một giọng “ái tình bắt đầu
căng”, “Ô hay người ngọc biến ra hơi” và cả “Khi hương thơm kề lỗ miệng
– khi tình mới chạm vào nhau”. Trong thơ Hàn Mặc Tử, gió heo may cũng rên
xiết, thu héo nấc thành những tiếng khô, và những cây cối mảnh khảnh cũng run
lên cầm cập. Đi ngược với quan niệm về sự tế nhị, trong thơ Hàn Mặc Tử, những từ
ngữ có liên quan đến động tác của cái miệng luôn luôn được sử dụng, nhà thơ rất
hay nói đến máu huyết.
- Mây bay vào cuống họng
- Hơi nắng dịu… liếm cặp môi
trần
- Tôi cắn lời thơ để máu
trào
Sau khi bảo mình “thường giơ
tay níu ngàn mây – đi lại lang thang trên ngọn cây”, sau khi thú nhận “tôi toan
hớp cả váng trời – tôi toan hớp cả miếng cười trong khe”, nhà thơ tự hiểu:
- Đêm nay ta lại phát cuồng
- Tôi điên tôi nói như người
dại
Thật ra, một người điên
không bao giờ biết mình điên, không bao giờ nói to lên rằng theo sự đánh giá thông
thường, thì mình bị coi là đã hóa dại rồi. Chẳng qua, Hàn Mặc Tử buộc phải “gào
lên, rú lên” như vậy mới nói hết ý mình. Trên đại thể, nhà thơ Việt Nam mất từ
1940 này có thể kí tên sau những phát biểu kì lạ sau đây của một người đương thời
với chúng ta và chỉ mới mất đầu 1989 – họa sĩ Tây Ban Nha vĩ đại Salvador Dali.
- Tôi chỉ khác những người
điên ở chỗ tôi không điên.
- Mọi hành động sáng tạo đều
là hành vi của chứng hoang tưởng tự đại. Nghệ sĩ chẳng khác gì thượng đế. Với động tác của bàn tay
họ, họ sáng tạo ra các thiên thể và bản thân họ cũng trở nên một thiên thể.
Hành động sáng tạo bao giờ cũng là một hành động mạo hiểm.
So với những thi sĩ đương thời,
có một đóng góp của Hàn Mặc Tử mà không ai phủ nhận được là đóng góp vào việc mở
rộng biên giới của thơ. Dù có xôn xao chộn rộn trong những tưởng tượng phong
phú đến đâu thì những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… vẫn còn nặng nợ nhiều với
cuộc sống trần tục. Không ai dám mê man đi trên con đường tới cái hư vô như Hàn
Mặc Tử, đúng hơn không ai buộc phải làm vậy. Về phần mình, vốn nặng cảm giác
tôn giáo lại được sự điên dại hỗ trợ, Hàn Mặc Tử sống với thế giới siêu hình một
cách tự nhiên đến mức ông bảo “hư thực làm sao phân biệt nổi”. Tiếng
thơ trong Đau thương, Xuân như ý đôi khi phải gọi là “lời năn nỉ của
hư vô” mà chỉ Hàn Mặc Tử mới nghe được. Nhưng đây mới là một phía, phía thứ hai
của biên giới cảm xúc cũng được Hàn Mặc Tử mở rộng: nhà thơ lạ hóa ngay chính
mình. Chân tay thân thể da thịt con người, những thứ tưởng ai cũng thấy, những
thứ không ai để ý vì chẳng có vẻ gì nên thơ, trong con mắt Hàn Mặc Tử, bỗng trở
nên thiêng liêng bí mật. Chúng luôn luôn mời mọc kích động, chúng làm nhà thơ
nôn nao cả lên, bỡ ngỡ như gặp được cái gì cả đời mới thấy. Đọc đi đọc lại những “Trăng
đang nằm trên cỏ – Cỏ đưa trăng đến bờ ao – Trăng lại đẫm mình xuống nước –
Trăng nước đều lặng nhìn nhau – Đôi ta bắt chước thì sao?”, những “ống
quần xo xắn lên đầu gối, – Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình”, những “Ô
kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm – Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, người
ta có thể bảo là sống sượng quá. Nhưng thành thực với mình một chút, phải nhận
những câu thơ gợi nhục cảm đó chỉ phóng to lên những rung động mà ta vốn có, chẳng
qua ta gạt ngay đi, thành ra ngỡ như chúng không tồn tại. Chính Hàn Mặc Tử cũng
từng bị giam hãm trong vòng cương tỏa của thói quen, ông cũng là người bị mặc cảm
đè nặng và nhiều câu thơ buột ra như là một sự dứt bỏ, tự giải phóng, nếu không làm sao cái cảm
giác bẽn lẽn ngượng ngập, thèm khát sự trong trắng lại thường xuyên đi về trong
thơ ông đến vậy.
- Mới lớn lên trăng đã thẹn
thò
- Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ cho cái tiết trinh
em
- Quên cả hổ ngươi cả thẹn
thùng
Khi cho mỗi người đọc cảm thấy
rằng sự e lệ ở mình cũng như ở mọi người chẳng qua là một sự e lệ rất tà tâm,
quả thật Hàn Mặc Tử đã tiếp cận với nhiều cách hiểu tinh vi về con người hiện đại.
Không có gì thực hơn, gần gặn
hơn mà lại hư vô hơn với mỗi kiếp người là cái chết. S. Dali từng kể là ông
không ngừng nghĩ đến nó, ông coi nó là bạn đường trung thành nhất của ông, nó ở
ngay trong nội tâm ông. Rồi họa sĩ nói tiếp: “Cái chết vận hành trong tôi,
không ngưng nghỉ, giống như cát chảy trong đồng hồ cát”. Ông hiểu rằng “có một
sự hủy diệt tuần tự xảy ra trong đó” bởi vậy, với ông, cuộc sống “lại tỏ ra đẹp
đẽ hơn bao giờ hết”. Tưởng như những lời thú nhận đó của Dali được viết để cắt
nghĩa những câu thơ viết về cái chết đầy rẫy trong thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ở những
tập ông biết rằng ngày tận thế của mình không xa nữa.
Có điều lạ nữa là cái chết
hiện diện ngay cả trong những câu thơ Hàn Mặc Tử viết về vẻ đẹp. ở vào ranh giới
mỏng manh giữa sự sống và cái chết, vẻ đẹp trong thơ ông là một vẻ đẹp lạnh, ma
quái nhưng lại hết sức quyến rũ, giống như sự bùng nổ mạnh mẽ của những gì sắp
tàn lụi mà người ta biết là không sao cưỡng nổi. Ai đó đã than: “Phải vì tất cả
đều đang đi đến cái chết, nên tất cả mới hiện lên rực rỡ đến thế?!”
Theo Hoài Thanh
trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941 cho biết, ngay từ 1940, Xuân Diệu
đã từ chối thẳng thừng Hàn Mặc Tử và bản thân Hoài Thanh cũng cảm thấy rằng chỉ
nên nói về Hàn Mặc Tử một cách dè dặt. Sự từ chối đó, sự dè dặt đó là rất thành
thực. Đặt trong hoàn cảnh thơ Việt Nam trước 1945, phải thừa nhận thơ Hàn Mặc Tử
là một cái gì độc đáo vượt ra ngoài thói quen cảm nhận thông thường như tranh của
những S.Dali, H. Miro, J. De Chirico… khi mới xuất hiện đã là không bình thường
và ngay ở châu Âu cũng phải rất lâu mới được chấp nhận. Tuy nhiên, khoa nghiên
cứu nghệ thuật hiện đại cũng đã chứng minh rằng những tìm tòi lúc đầu bị coi là
phi lí, trừu tượng đó đã có mầm mống từ lâu trong tư duy của nhân loại. Ngay từ
thời trung thế kỉ, có một họa sĩ Hà Lan là Jerome Bosch (khoảng 1450/
1460-1516) đã vẽ nên những bức tranh rất gần với Dali, Miro. Nói như một nhà
văn Nga, ông V. Tendriakov thì trong Bosch “vẻ dịu dàng ở cạnh phút hấp hối,
nét trinh bạch ôm ấp sự trụy lạc, cảm giác hứng khởi xen lẫn cơn tởm lợm, khiến
người xem tranh của Bosch vừa sảng khoái vừa ớn lạnh”. Khi đã xem tranh của những
Dali, Miro và lần về tới Bosch như thế, người ta không có lí do để nói rằng Hàn
Mặc Tử cô đơn nữa.
Hồn thơ siêu thoát
Hàn Mặc Tử trong sự so sánh
với các thi sĩ đương thời - Xuân
Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Nguyễn Bính
Những năm gần đây, báo chí
đã đăng tải nhiều bài phê bình - nghiên cứu có giá trị về thơ Hàn Mặc Tử. ở đây
chúng tôi chỉ nói thêm về cái độc đáo của nhà thơ này.
Cần nói ngay là theo chúng
tôi, phần tiêu biểu trong Hàn Mặc Tử không phải là những Tình quê, Mùa
xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ; cái đó cũng là Hàn Mặc Tử, lại là thơ rất hay nữa,
nhưng không phải tinh chất của tác giả, như những Bẽn lẽn, Trăng tự tử,
Trăng vàng trăng ngọc, Hồn là ai, Đêm xuân cầu nguyện… nói chung là các
bài trong Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí… Phần thơ tôi nói ở đây
ít được tuyển chọn, không được mang cho học sinh học, không được ngâm véo von
trên ti vi, trên đài, nhưng lại là những gì chỉ Hàn Mặc Tử mới viết nổi, nên
cũng là phần gợi ra suy nghĩ và cần mang ra so sánh.
1. Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu
Theo Hoài Thanh, đương thời
Xuân Diệu là thi sĩ có bộ y phục tối tân hơn cả. Tác giả Thơ thơ được
coi là mới nhất trong các nhà Thơ mới và chỉ những người còn trẻ mới thích đọc
Xuân Diệu.
Đấy là những nhận xét chính
xác với nghĩa: nếu như có một khuôn khổ thì Xuân Diệu đã đi đến hết khuôn khổ
đó. Còn nếu so sánh với Hàn Mặc Tử thì có thể nghĩ khác. Hàn Mặc Tử vượt ra
ngoài cái khuôn khổ thông thường, khiến người ta ngán luôn, không muốn nói tới
nữa. Hàn Mặc Tử tự nhận: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ?
Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật”.
ở Xuân Diệu, không có cái bí mật ấy để mà phản bội. Cùng lắm Xuân Diệu mới đắm
say, chứ chưa mê man đến mất trí như nhà thơ bị trọng bệnh. Cảm giác về trăng
trong Xuân Diệu kể cả khi đó là cái thứ “lung linh bóng sáng bỗng rùng mình” hoặc
“trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết” vẫn là loại cảm giác thông thường. Còn
trăng trong Hàn Mặc Tử thì ma quái, thoắt thế này, thoắt thế khác. Hình như cả
trong thơ phương đông lẫn phương tây, chưa ở đâu trăng lại được mô tả lẫn với
máu huyết và lai láng, nhày nhụa như trong các bài thơ Hàn Mặc Tử làm khi đau ốm.
Lại nữa, trăng ở đây ít nhiều thường có quan hệ với nhục cảm. Trăng khêu gợi
thèm muốn. Giữa trăng và đối tượng để người ta chung chạ ân ái như là có sự hóa
thân, đắp đổi. Trăng đồng lõa, xúi bẩy, trăng lại hứa hẹn là sẽ che chở thậm
chí sẽ ban tặng thêm khoái cảm nếu cơn chung chạ đó xảy ra.
Có một thời, mỗi khi muốn bảo
Xuân Diệu là quá tây, người ta lại dẫn ra bài Vội vàng với câu kết:
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn
vào ngươi!
Giả thử được xếp lẫn vào thơ
Hàn Mặc Tử, câu thơ đó không gợi ra phản ứng gì đặc biệt. Nó còn tế nhị và lành
mạnh quá, trong khi thơ Hàn Mặc Tử còn sống sượng và bệnh tật hơn nhiều.
Xuân Diệu mới cảm thấy cái lạnh
buốt ở chung quanh. Hàn Mặc Tử nhập vào, trở thành chính cái lạnh đó.
Hồn thơ Xuân Diệu như một
con diều bay lên thanh thoát, còn cái dây nối con diều đó với đời sống thơ mỏng
manh nhưng bền chắc. Hãy nhớ lại Buồn trăng. ở trên vừa mới Huy
hoàng trăng rộng nguy nga gió, ở dưới đã Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã
khuya. Với câu kết ấy, ta cảm thấy sau khi ngang dọc khắp vòm trời, con diều
– ở đây là tâm tưởng nhà thơ – lại hạ cánh an toàn xuống mặt đất, điều đó chứng
tỏ Xuân Diệu rất tài, và cái việc ông làm thật đáng kính trọng. Còn tâm linh của
Hàn Mặc Tử thì luôn luôn như một con diều đứt dây khi quay cuồng, lồng lộn, lúc
ủ rũ tìm nơi giải thoát. Xuân Diệu chưa thật bao giờ rõ là mình như khi nhân
danh người kĩ nữ mà nức nở: “Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo”. Xin đừng
có ai chờ đợi một tiếng kêu như thế ở Hàn Mặc Tử, bởi qua thơ người thi sĩ này,
thấy toát lên cái ý: miễn là còn được sống, được tồn tại, giá lạnh không có gì
đáng sợ. Vả lại trong bất cứ nỗi sợ nào, trong bất cứ mất mát nào cũng có niềm
sung sướng kỳ lạ, không ai có thể chia sẻ. Đứng về lịch sử thơ ca mà xét thì
Hàn Mặc Tử, trong những tìm tòi của mình, đã đi khá xa so với Xuân Diệu. Trong
tác giả Thơ thơ, người ta cảm thấy ảnh hưởng của Baudelaire, dấu vết
của de Noailles, và cả Rimbaud lẫn Verlaine (họ đều là những tác giả lớn của văn
học Pháp cuối thế kỷ XIX). Chính Xuân Diệu cũng thú nhận là có ý thức đón nhận
những ảnh hưởng đó. Còn Hàn Mặc Tử – không biết có phải là ngẫu nhiên chăng –
phần nào đã đến gần với A.Breton, P.Eluard, L.Aragon. R.Desnos v.v… những người
cùng đứng trong một phong trào thơ ở Pháp, có tên là siêu thực, và xuất hiện
khoảng trước sau đại chiến thế giới thứ nhất. Tuy nhiên, đấy là một phỏng đoán
mà chưa phải một kết luận khoa học. Vấn đề quá lớn. Chúng tôi không có tham vọng
giải quyết ở đây. Để chứng minh Hàn Mặc Tử là độc đáo xin làm một vài sự so
sánh tiếp.
2. Hàn Mặc Tử và Huy Cận
Qua Lửa thiêng và
qua các tập thơ in sau 1945, Huy Cận thường được coi là có hồn thơ rộng mở ra đến
vũ trụ. Giới thiệu thơ Việt Nam ra nước ngoài, Chế Lan Viên bảo Huy Cận vốn
“thích các thế kỷ, thích các vòm trời”, còn Xuân Diệu thì từ 1940 đã cho là ở
người bạn mình có cái “nghiêng tai kỳ diệu”.
Nhưng xem ra, thơ Huy Cận vẫn
quá lành, con người trong thơ Huy Cận vẫn ở ngoài mà chưa đạt tới sự hòa nhập với
vũ trụ, chưa bao giờ cả gan lang thang đi tìm bí mật của cái vũ trụ hoang tưởng
đó như trong thơ Hàn Mặc Tử.
Huy Cận thường xuyên bắt gặp
ở thiên nhiên một sự thông cảm. Mặc dù là một cái gì bát ngát xa lạ, song vũ trụ
trong thơ Huy Cận khô ráo, trong sáng, thanh sạch, và thật dễ dàng chấp nhận
con người. Đây là mấy câu thơ tiêu biểu:
Trời xanh ran lá biếc.
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang.
Về phần mình, Hàn Mặc Tử
không có điều kiện mà cũng không tính chuyện lấy thơ mình ra đối diện với cả
không gian thời gian cao rộng. Hàn Mặc Tử chỉ lạ hóa ngay cái thiên nhiên sát kề
bên mình. Nhưng đó là cái thiên nhiên ma quái, bí mật, thiên nhiên ướt át nhày
nhụa lại nhiều bóng tối và những khoảng trống kỳ lạ, khiến người sống trong đó
không bao giờ cảm thấy yên ổn. Cảm giác về sự hài hòa rất quen thuộc trong thơ
Huy Cận. Bao trùm ở Lửa thiêng là cái tự bằng lòng, cái thanh thản
thoải mái khi tiếp xúc với vũ trụ. Cảm giác ấy hết sức xa lạ với Hàn Mặc Tử.
Luôn luôn ở Hàn Mặc Tử chỉ là xao xuyến bồn chồn, tưởng là mất mà lại thấy, tưởng
là cầm nắm được mà lại trôi đi bay biến.
Thỉnh thoảng, có nói tới Thượng
đế thì Huy Cận đã biết ngay rằng Thượng đế sẽ an ủi, vỗ về tâm hồn mình.
Hàn Mặc Tử không tính chuyện
kéo Thượng đế về với cuộc sống phàm trần mà chơi vơi đuổi theo Thượng đế và
trong cuộc truy đuổi đó, sẵn sàng thánh hóa.
3. Hàn Mặc Tử và Chế Lan
Viên
Giữa hai nhà thơ này đã có
bao nhiêu duyên nợ. Hơn thế nữa, người ta bảo họ là cùng trường phái với nhau
(đây là nói trong phạm vi thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng). Điều ấy có lý do của
nó: Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên cũng muốn tạo ra một thế giới phi hiện
thực, như Hàn Mặc Tử đã sống nó trong Đau thương, Xuân như ý. Họ chỉ
khác nhau ở con đường đi tới thế giới ấy. Trong khi Hàn Mặc Tử tìm thấy nó
trong mê man mê sảng, thì Chế Lan Viên có được nó bằng cách đẩy lý trí của mình
đến cùng. Nói một cách hình ảnh: một bên Hàn Mặc Tử đi vào cõi hư vô như một
con chiên ngoan đạo, áo quần tơi tả mà đi, chân đất mà đi, vấp ngã lại đứng dậy
bước thấp bước cao đi tiếp; còn bên kia là Chế Lan Viên khôn ngoan tỉnh táo,
tránh từng vũng nước nhỏ, từng quãng dốc trơn, đi theo lớp lang rành mạch, bước
bước nào chắc bước ấy, thậm chí có ngã cũng là biết trước sẽ ngã. Nếu Hàn Mặc Tử
đã đi là không trở lại thì Chế Lan Viên đi có điều kiện, đi tới rồi lại trở về.
Bóng đêm, cuộc sống ban đêm, là một mô típ từng thấy ở nhiều bài thơ của hai
thi sĩ, nhưng với Hàn Mặc Tử, đêm trăng này tiếp đêm trăng khác cả cuộc đời là
những đêm trăng tiếp nối, còn với Chế Lan Viên, sau ban đêm còn có lúc vừng ô tới,
ban ngày hiện ra. Sự kinh dị ở Chế Lan Viên, do đó, chỉ là kinh dị một nửa.
Một câu hỏi rất tiêu biểu
cho Chế Lan Viên trong Điêu tàn:
- Ai bảo giùm ta có có ta
không?
Không bao giờ có thể có ở
Hàn Mặc Tử. Lý do đơn giản là Chế Lan Viên coi việc vòng vèo trong mê lộ của tiềm
thức là để vươn tới trí tuệ. Còn Hàn Mặc Tử thì dừng lại vĩnh viễn ở tiềm thức.
ở Hàn Mặc Tử chỉ có những triết lý ở dạng lơ lửng ngẫu nhiên và thường vẫn giữ
được cái vẻ thơ riêng của nó.
4. Sau hết, xin có một chút
liên hệ giữa thơ Nguyễn Bính và thơ Hàn Mặc Tử.
Sở dĩ chúng tôi không so
sánh vì hai nhà thơ này khác nhau quá.
Nhưng nói thơ họ đều là thơ
hay (cả hai, đến hôm nay, đều được bạn đọc săn tìm), điều đó có lôgích không?
Câu trả lời: không có gì là
không bình thường ở đây cả. Thơ có hai cực, cực phổ cập và cực siêu thoát. Ví dụ
trong thơ Pháp hiện đại, Jacques Prévert như ca dao đồng dao, rất phổ cập, còn
Saint John Perse rất siêu thoát, nghĩa là chỉ dành cho một số độc giả chọn lọc
và cả hai đều là nhà thơ lớn. S.J.Perse còn được Nobel văn chương nữa. Trường hợp
Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử cũng vậy. Lúc nào chúng ta cũng có thể ngâm ngợi vài
câu thơ Nguyễn Bính lên và thấy rất gần gũi. Thơ Hàn Mặc Tử tồn tại kiểu khác:
chỉ thỉnh thoảng ta mới tìm đến ông. Đó là những lúc lòng ta, trí ta, cách nghĩ
về thế giới ta vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường, ta thấy chung quanh quá
nhàm chán và cảm thấy muốn được giải thoát. Những lúc ấy, có thể – tôi nói có
thể chứ không phải tất yếu trong tất cả mọi trường hợp – thơ Hàn Mặc Tử lại là
những giải đáp đích đáng nhất, ông đền bù cho ta, có cảm tưởng ông chỉ ông với
ta là đủ rồi. Cái sung sướng của người đọc thơ lúc này là sung sướng đến rợn
người.
Nói một cách tổng quát: Nguyễn
Bính là nhà thơ rất người, rất hàng ngày. Còn Hàn Mặc Tử là nhà thơ của những
lúc ta xuất thần, lúc ta thánh hóa. Những lúc ấy hiếm khi xảy ra nhưng vẫn là
có.
Nếu không thể lấy thơ Nguyễn
Bính để phủ nhận thơ Hàn Mặc Tử thì cũng tức là không thể nhân danh sự dễ hiểu
để phủ nhận những cái ta còn chưa hiểu và chỉ một lúc nào đó mới hiểu, mới
thích. Bài học rút ra ở đây; với người làm thơ bên cạnh hướng về sự phổ cập
(như Nguyễn Bính) thì hướng về sự siêu thoát (như Hàn Mặc Tử) cũng là cả một hướng
đi tốt đẹp. Nó không hứa hẹn sự thành công tức thời nhưng không phải vì thế mà
nói là nó thiếu khả năng giúp các nhà thơ gia nhập vào thế giới của các giá trị
vĩnh viễn.
Thâm Tâm và Trần Huyền Trân
Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917-1950) làm thơ, viết kịch, viết truyện, nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Tác phẩm: Thơ Thâm Tâm (1988).
Trần Huyền Trân (1913-1989), tác phẩm chính: Rau tần (1987).
Thơ của những kẻ “rừng đời lạc lối”
Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật
có lẽ là một nhu cầu kỳ lạ nhất của con người. Nó có thể chấp nhận mọi “mặt
hàng” hết sức khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Nó cũng đa dạng như chính đời
sống.
Những người mê tranh dân
gian Đông Hồ (từ Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa đến các loại
tranh lợn, tranh gà, Thầy đồ cóc…) có lẽ ít biết rằng thật ra các bức tranh này
đều có tác giả. Chỉ hiềm một nỗi phần lớn những người đã vẽ nên chúng lại sống
rất vụng. Trong cảnh vợ ốm, con đau thúc ép, người nghệ sĩ tài hoa phải cố vẽ lấy
được vài bức tranh rồi mang bán thật nhanh, không còn thì giờ mà nghĩ ngợi xem
tác phẩm ra sao, có xứng đáng với tên tuổi mình hay không. Trong đa số trường hợp,
các ý đồ tốt đẹp đổ vỡ tan tành và chỉ để lại mấy mảnh vụn là những tác phẩm
dang dở. Nhưng cũng đôi khi, trong cảnh thúc ép, ngòi bút trở nên xuất thần và
tác phẩm thu được là một cái gì vượt lên bình thường, chắc chắn là lúc tỉnh táo
bình tĩnh, người ta không làm nổi.
Cố nhiên loại nghệ sĩ tài tử
vừa nói là sản phẩm của nền nếp sinh hoạt trung cổ, khi các thị trường nghệ thuật
chưa hình thành và việc sáng tạo còn lẫn với các hoạt động kiếm sống khác. Có
điều là ngay trong nước Việt Nam thời tiền chiến, không phải đã hết loại người
kì lạ đó. Cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có cuộc đời riêng khá éo le kỳ cục.
Mỗi khi nghĩ tới họ, trong đầu óc những người yêu thơ luôn luôn hiện lên một ám
ảnh: đáng lẽ họ phải viết được nhiều hơn, đáng lẽ thơ của họ phải được xuất hiện
trong những thi phẩm trang trọng và cuộc đời của họ phải sung sướng. Nhưng mọi
chuyện lại cứ luôn luôn oái oăm hơn là ta vẫn tưởng và đôi lúc người yêu thơ chỉ
còn có cách tự an ủi: biết đâu nhờ những long đong lật đật như thế mà họ lại viết
được những vần thơ thật tuyệt.
Nghịch phách, cô đơn, giá buốt
Trong cuộc sống trôi dạt,
khía cạnh đầu tiên thường thấy trong tiểu sử nhà thơ sống vụng về là một sự tản
mạn. Tác phẩm của họ như con rơi, con vãi tản mát khắp nơi, chính họ cũng không
nhớ hết là bản thân đã viết nên những thứ gì nữa. Và việc tập hợp để công bố
thì chính các tác giả lại rất chểnh mảng. Sau mấy lần thất lạc, mãi tới 1987, bản
thảo Rau tần của Trần Huyền Trân mới được in ra, nhưng là ở dạng một
tập sách 48 trang, không có gáy, thơ đóng ghim, và một số bài xếp nối đuôi nhau
khá chật chội. Trường hợp Thâm Tâm cũng bi đát không kém, cho đến nửa thế kỷ
sau khi qua đời, nhiều bài thơ Thâm Tâm vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ (chẳng hạn,
trong số Văn nghệ đặc san tháng 4/1992 người ta lại đưa ra một bài mới).
Tại sao có sự lơ đãng kéo dài đến vậy, lý do có thể tìm ngay ở quan niệm về thơ
của từng tác giả. Với họ, thơ là một cái gì ngẫu nhiên xuất hiện. Lúc bạn bè gặp
gỡ khề khà chén rượu hoặc khi một mình một bóng quẫn bách đau đớn thì vớ lấy
bút để viết. Viết cho vơi những buồn vui chứa chất trong lòng. Thơ làm ra không
cốt công bố, chứ đừng nói mang bán. Được vài người bạn thật tâm đắc hiểu cho đã
cảm thấy được bù đắp hoàn toàn.
Rộng hơn câu chuyện quy
trình sản xuất, thật ra ở đây có chuyện cốt cách con người, nhân tố quy định cả
cách ứng xử của người làm thơ lẫn nội dung thơ và nhất là cái phần nội dung đã
chuyển thành hình thức, là hơi thơ, giọng thơ. Trong khi vẫn khác hẳn nhau, như
những phong cách riêng biệt, cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có một nét
chung: cốt cách thi nhân cổ ở họ quá mạnh. Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ họ,
từ Hán Việt khá nhiều và được dùng khá nhuần nhuyễn. Hơn thế nữa, cái hơi hướng
toát ra từ nhiều bài thơ cứ xui ta nhớ tới phần thơ biên tái trong thơ Đường. Đặt
bên cạnh những Thế Lữ, Xuân Diệu, cái tôi của họ không phải không mạnh bằng, nhưng
định hướng của cái tôi đó thì hoàn toàn khác hẳn. ở một người như Xuân Diệu, đó
là cái tôi ham sống, muốn sống thật đã đầy, và chỉ sợ người ta quên mình trong
bữa tiệc lớn của cuộc đời. Ngược lại, cái tôi ở Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là
cái tôi của kẻ đi ngược gió (tên một bài thơ của Thâm Tâm), không chịu
hùa theo đời.
- Hay gì bà hỏi đến tôi
Khóc thì trái thói mà cười
vô duyên
(Trần Huyền Trân, Thưa
bà)
- Lòng ai bầm tím, ai buồn tối
Cũng tại rừng đời lạc lối ra
(Thâm Tâm, Hoa gạo)
Ngậm lời tráng khí, chim bằng
ốm
Chuyện lúc thương tâm gái điếm
già
Gió thốc hàng hiên lười viễn
mộng
Mưa rào mặt cát gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
(Thâm Tâm, Can trường
hành)
Biết rằng khác đời là rất khổ,
nhưng không tìm được cách để hòa hợp, họ đành bằng lòng với cô đơn giá buốt, và
thỉnh thoảng lắm, tìm thấy chút hơi ấm ở những người cùng cảnh ngộ (Thâm
Tâm, Ngược gió; Trần Huyền Trân, Với Tản Đà, Lưu biệt - tặng
Lê Văn Trương, Sầu chung - tặng Quách Thị Hồ). Sự ngang tàng
trái khoáy ở đây không phải là vay mượn, là bị tố lên, mà hiện ra như một cái
gì kìm giữ không nổi phải buột ra, òa ra vỡ ra, nên lại có vẻ cao sang riêng,
và thường khi cả sự duyên dáng riêng nữa.
Quả trái mùa độc đáo
Cũng như mọi ngành nghề
khác, con đường phát triển của những người làm công việc sáng tạo ở nước ta đầu
thế kỷ này là con đường chuyên nghiệp hóa. Nhưng nghịch lý của nghề văn là ở chỗ
trong khi buộc người ta phải làm hàng đều đều, nó lại vẫn yêu cầu mỗi nhà văn
nhà thơ phải giữ được vẻ tươi nguyên trong xúc cảm, và càng tỏ ra ít làm nghề
càng tốt. Chính ở chỗ này một số ngòi bút gọi là chuyên nghiệp trong đời sống
văn học tiền chiến bộc lộ sự non yếu của mình. Vì mải làm hàng – bảo đảm mặt
hàng, để rồi bảo đảm thu nhập – một số đâm ra nhênh nhang bôi bác, hoặc gò gẫm
cố ý, tự lặp lại trông thấy mà không sao khắc phục nổi. Nhìn vào một “ông lớn”
có thời rất sang trọng như Lê Văn Trương, một thi sĩ bẩm sinh như Lưu Trọng Lư,
thậm chí một người vừa có tâm hồn, vừa chịu học hỏi như Xuân Diệu, người sành điệu
đều mang máng nhận ra có phần như thế. Bấy giờ, nếu được tiếp xúc với những giọng
thơ như Trần Huyền Trân, như Thâm Tâm, như Quang Dũng, người ta sẽ có cảm giác
bắt gặp một cái gì thuần khiết, trong lành – đôi khi, một thứ quả trái mùa lạ lẫm - và hiểu ra rằng cả một đời thơ người này cũng không thay thế nổi một hai bài
hay của người kia. Không ai thua được trong trường hợp này, cái chính là một
nhu cầu đa dạng đã thắng thế.
Chương tám
Những đời văn kéo dài suốt
hai nửa thế kỷ (I)
Nguyễn Tuân
Xuân Diệu
Thanh Tịnh
Nguyễn Tuân
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Tuân (1910-1987), tác phẩm: Vang bóng một thời (1940), Nguyễn (1945), Chùa đàn (1946), Tùy bút kháng chiến(1955), Tùy bút kháng chiến hòa bình (1956), Sông Đà (1960) v.v…
Một định nghĩa về người cầm
bút
Trong cái thế giới hỗn độn
là đời sống văn học trước năm 1945, chung quanh tên tuổi Nguyễn Tuân, người ta
thường thấy chất lên đủ thứ giai thoại kỳ cục. Rằng ông chơi ngông không kém gì
Tản Đà hồi nào; rằng ông cầu kỳ, lẩn mẩn, thích làm dáng, thích khác đời v.v…
và v.v… Những điều đó ít nhiều không phải không có chỗ đúng. Có nhiều lý do xui
khiến Nguyễn Tuân làm thế, trong đó có lý do quan trọng này: ông muốn phủ nhận
xã hội đương thời. Không được biểu hiện qua những hành động tranh đấu nồng nhiệt,
lòng yêu nước trong ông chỉ còn cách thoát ra ở dạng chán chường tất cả và đi
vào phụng thờ những gì đã thuộc về quá khứ. Có tư cách nghĩa là không thuận
theo đời thường - ông sống vậy và viết vậy. Trong lúc một số người chạy theo
“Âu hóa” thì ông quay về với những vẻ đẹp “vang bóng một thời”. Trong lúc một số
người viết văn lai căng, thì ông không quản nghiền ngẫm, tu luyện công phu để tạo
cho văn mình những đường nét cổ kính mặc dù đó là vẻ cổ kính rất hiện đại. Luôn
luôn, trong từng bài viết, thậm chí, trong từng câu văn, ông muốn tạo những hiệu
quả bất ngờ và ít nhiều, đã thực sự làm được điều đó. Bởi con người có thiên
lương và rất phóng túng nơi ông lại là con người giữ được cái cảm giác thiêng
liêng trong hành nghề và hiểu chỉ với trình độ nghề nghiệp cao, thì sự độc đáo
của mình mới có ý nghĩa. Người nghệ sĩ như kẻ đóng một cái khung- ông nói vậy - phải tháo ra đóng lại, đến lúc cảm thấy không ai đóng hơn được mình mới thôi.
Một nhà văn bạn ông nhận xét mỗi khi viết, ông thường có cái dáng cặm cụi rất
đáng trọng.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám
1945 đến nay, cuộc đời Nguyễn Tuân cùng thay đổi trong cái thay đổi chung của cả
đất nước, dân tộc. Cộng với những sự thúc đẩy sâu xa như lòng yêu nước, thiện
chí muốn làm những việc có ích, hình như ở ông còn thấp thoáng cái ý tưởng sau
đây, nó là một sự thách thức thú vị: nhiều người dự đoán một nghệ sĩ phóng túng
như chàng Nguyễn ngày trước sẽ không thể chịu đựng được những yêu cầu
chặt chẽ của đời sống cách mạng? Thì ông sẽ sống được và sống thoải mái cho họ
biết! Và thế là ông sẵn sàng “tự cải tạo”. Nhiều nét cá tính của ông, trong điều
kiện xã hội mới, có một bộ mặt khác hẳn. Ông sống bám sát các sự kiện xảy ra
trong xã hội và luôn tìm cách đóng góp phần mình để thúc đẩy đời sống vận động
đi tới. Ông đi với bộ đội trong nhiều chiến dịch gian khổ hồi chống Pháp. Ông
trở lại Tây Bắc, Điện Biên những năm 1958, 1959. Chuyện đồng bào và bộ đội ở đó
làm đường, dựng nhà, vừa lo sản xuất, vừa lo bảo vệ Tổ quốc được ông kể lại
trong tập Sông Đà nổi tiếng. Rồi ông đi lại nhiều lần ở bờ bắc Bến Hải,
chuẩn bị cho tập Sông tuyến… Đi đến đâu, ông cũng tìm thấy những nét
đẹp, đẹp trong cảnh sắc thiên nhiên, và nhất là đẹp trong hình ảnh con người vượt
qua gian khổ khẳng định ý chí của mình. Viết văn, với ông hôm nay giống như những
dịp trò chuyện với người tri âm, tri kỷ, vẫn đậm đà, duyên dáng như xưa, song
câu chuyện giờ đây lại thường có được cái ý nghĩa thiết thực, lành mạnh mà người
cán bộ Nguyễn Tuân cảm thấy cần phải có mỗi khi nói điều gì đó, với đông đảo bạn
đọc. Trong lúc ngòi bút ông trở nên thân tình với đại chúng hơn, thì qua sự tiếp
xúc, ngày càng nhiều người cảm thấy cần nâng mình lên, để gần gũi hơn với ông.
So với trước năm 1945, độc giả của ông hôm nay đông đảo hơn hẳn.
Trong lao động nghệ thuật,
ngòi bút Nguyễn Tuân vẫn giữ được vẻ nghiêm túc vốn có. Nguyễn Tuân thường bảo
viết văn là một sự khổ hạnh. Khổ hạnh chuẩn bị, để có một tầm hiểu biết rộng
rãi, một vốn liếng văn hóa cơ bản. Lại khổ hạnh, kỹ lưỡng trong từng công việc
cụ thể. Nghĩ rằng lúc nào đó mình sẽ phải viết về những nhịp cầu trên đất nước,
ông thu thập cả một tập hồ sơ về các loại cầu, các kiểu cầu, trong đó có cả những
tấm ảnh để khi viết nhìn vào đó cho được cụ thể. Vậy mà chưa đủ. Khi đến với
cái cầu ông định tả, ông đếm kỹ xem ở đó có bao nhiêu nhịp, tổng cộng bao nhiêu
miếng ván ở bờ bắc, bao nhiêu ván ở bờ nam v.v… Bao giờ Nguyễn Tuân cũng hết
mình trong công việc như vậy. Con mắt nghệ thuật ở ông quy tụ được những phẩm
chất khác nhau: rất cụ thể mà cũng rất thơ mộng; vừa nhạy cảm vừa uyên bác.
Tên tuổi Nguyễn Tuân vốn gắn
với thể tùy bút. Đó là một thể văn xuôi rất mềm mại, ở đó nhà văn không cần
nhân vật, không cần cốt truyện, chỉ đứng ra mà kể, mà tả trước bạn đọc. Bởi vậy,
tùy bút cũng là một thể rất khó, nếu người viết không đủ bản lĩnh, tác phẩm rất
dễ rơi vào nhàm chán. Về phần mình, Nguyễn Tuân đã lui tới trong tùy bút khá
thoải mái. Qua các thiên tùy bút, con người Nguyễn Tuân có dịp hiện ra rõ rệt
và quả thật, đã từng để lại ấn tượng đậm đà trong tâm trí nhiều người chúng ta
cũng như cả một số bạn bè nước ngoài. Đọc Nguyễn Tuân, thấy người Việt Nam hôm
nay đã làm nên những sự nghiệp lớn lao đánh Pháp, đuổi Mỹ và giờ đây đang hàn gắn
vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước. Nhưng đọc Nguyễn Tuân còn thấy con
người Việt Nam – trong đó có mỗi chúng ta – thường vẫn xao xuyến trước vẻ đẹp của
một nhành hoa, vẫn bồi hồi lắng nghe một điệu quan họ hoặc nhìn mãi không chán
một bức tranh làng Hồ, lại biết hết sức trân trọng tiếng nói thiêng liêng của
cha ông và muốn góp sức để tiếng nói đó ngày mỗi thêm trong sáng, thêm giàu có.
Nhưng không phải chỉ có thế. Cùng với Nguyễn Tuân, chúng ta thấy yêu những bông
tuyết đầu mùa Leningrad, nụ hồng kỳ diệu Sophia, yêu Lỗ Tấn và B.Brecht, mê
Dostoievski và Picasso. Không gì tốt đẹp của nhân loại mà lại xa lạ với chúng
ta cả!
Trong hơn ba phần tư thế kỷ
làm người của mình, Nguyễn Tuân có đến gần nửa thế kỷ cầm bút. Đúng là ông đã
khởi nghiệp trong sự gắn bó chặt chẽ với quá khứ (từ những Nguyễn Du, Tú Xương
mà ông sẵn sàng đọc đi đọc lại, đến Tản Đà, Thạch Lam mà ông có quen biết
riêng). Song phần chủ yếu ở ông là thuộc về nền văn học sau 1945. Trong đội ngũ
các nhà văn Việt Nam hôm nay - những người đã làm tất cả để có thể có ích
ngay cho sự nghiệp cách mạng- Nguyễn Tuân là một trong những người đứng ở
hàng đầu.
Thay đổi đến từ những năm
kháng chiến
Cùng với tiếng súng toàn quốc
kháng chiến 19-12-1946, xã hội Việt Nam lật sang một trang lịch sử mới. Trong 9
năm kháng chiến gian lao, dường như mỗi con người đều thay đổi, trong đó có những
người thực sự làm lại đời mình để thích ứng với hoàn cảnh mà cũng là để đóng
góp nhiều nhất vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nguyễn Tuân là một bằng chứng
về sự đổi thay đó. Khi một cá nhân càng có bản sắc, thì những dịp làm lại cuộc
đời của cá nhân đó càng để lại những ấn tượng rõ rệt.
Về phương diện nghề nghiệp
viết văn mà xét, nét đặc sắc thấy rõ nhất ở văn xuôi Nguyễn Tuân xưa nay là
tính chất chủ quan “đặc sệt” của nó. Trong khi các nhà văn khác phải gửi gắm
mình vào nhân vật nọ hay nhân vật kia, thì Nguyễn không cần một cuộc hóa thân
nào cả. Ông lấy ngay chính mình ra để viết. ấn tượng sâu đậm nhất còn lại sau
khi đọc các tùy bút của ông trước cách mạng là con người kỳ cục cực đoan của
chính tác giả. Vấn đề không phải là ông chỉ biết có mình, lấy mình làm trung
tâm vũ trụ, mà quan trọng hơn, cái triết lý cá nhân chủ nghĩa đó được ông đẩy tới
cùng, khai thác thật triệt để, trình bày nó một cách khá chu đáo, thành thực mà
cũng là khá… trâng tráo, không chịu che đậy giấu diếm điều gì cả. Hình như phải
cố ý làm vậy, sống vậy, ông mới thỏa chí! Rồi yêu văn ông, người ta phải chấp
nhận con người đa sự, con người khinh bạc cao đạo, có vẻ chán đời, mà cũng là
con người rất thiết tha với đời nơi ông. Hay dở tùy mỗi người đánh giá. Chỉ biết
ông rất khác đời cái đã!
Chính đặt trên cái nền của
chàng Nguyễn trong quá khứ mới thấy Nguyễn Tuân hiện lên trong các tùy bút
kháng chiến là một con người khác hẳn. Xưa Nguyễn rề rà, chậm chạp, sẵn sàng đứng
giữa đường giữa sá làm phiền mọi người. Nay Nguyễn thanh thoát gọn ghẽ, như một
cán bộ đi công tác, cùng anh đội viên ăn cơm nắm luồn rừng suốt chiến dịch. Con
người ăn uống cảnh vẻ điệu bộ ngày xưa, nay sẵn sàng gặp gì ăn nấy, vừa mở mắt
là ăn ngay cũng được, ăn uống dễ dàng như mọi người. Và đáng lưu ý nhất, nếu
Nguyễn ngày xưa luôn ngán ngẩm dè bỉu chung quanh, hình như cảm thấy cuộc đời
là không xứng với mình thì nay chàng Nguyễn ấy tha thiết với mọi biểu hiện của
cuộc sống, thấy đầm ấm tin yêu được sống giữa mọi người. Đến công tác từ một miền
đất nghèo trở về, Nguyễn bảo rằng một phần tâm hồn của mình đã để lại đó. Nguyễn
tự nguyện xin làm cán bộ dân vận, khi đi theo bộ chỉ huy chiến dịch. Và Nguyễn
rất hay nói tới nghĩa vụ trách nhiệm. Từng ấy tính nết, từng ấy đức hạnh, làm
nên hồn cốt một người cán bộ, mà tất cả những ai đã biết Nguyễn trước kia, lại
thấy Nguyễn bây giờ, không sao tin nổi.
Vẻ nhẹ nhõm
“Cuộc kháng chiến giành tự
do đã làm xiêu đổ nhiều giá trị tư tưởng cũ. Chúng tôi muốn đổi máu, chúng tôi
muốn đoạn tuyệt với cái dĩ vãng nghệ thuật mà giờ nghĩ tới còn thấy thẹn. Sự
chuyển hướng nghệ thuật, chúng tôi cảm thấy khó khăn nặng nề như chuyển một
trái núi”.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân đã viết
như vậy, trong bài Vẫn tranh tuyên truyền và hội họa (1948). Có vẻ
như đó là lời tự thú của cả một thế hệ văn nghệ sĩ tiền chiến về những thay đổi
đã đến với họ trong kháng chiến. Đối chiếu cụ thể hơn với trường hợp Nguyễn
Tuân thì sao?
Đúng là chỉ nhìn bề ngoài đã
thấy ông có thay đổi.
Mà sở dĩ có sự thay đổi
trong cách sống, cách làm việc bởi vì ông có những chuyển biến cả trong ý thức
lẫn trong tình cảm. Trên phương diện ý thức, ông muốn làm một cuộc đoạn tuyệt với
dĩ vãng. Ngay trong tình cảm ông đã dứt khoát. Với những gì hôm qua thấy tự
hào, hôm nay ông thấy xấu hổ.
Tuy nhiên, bảo rằng sự chuyển
biến ấy khó khăn như chuyển một trái núi, thì cũng hơi quá. Có thể là điều ấy
đúng với một số người nào đó, song lại không đúng với một số người khác. Như
Xuân Diệu như Hoài Thanh. Hoặc như Nguyễn Tuân chúng ta đang nói. Mà suy cho
cùng, người dễ, kẻ khó, ai cũng có cái lý của riêng mình. Nếu như chỉ đọc Vang
bóng một thời người ta dễ tưởng tượng Nguyễn Tuân là một tín đồ hết sức
trung thành với chủ nghĩa truyền thống. Song đến các tùy bút, thì ngược lại, ta
bắt gặp ở Nguyễn Tuân một khuôn mặt thật hiện đại và phải nói là ông đã đi tới
cùng của những biểu hiện đáng gọi là hiện đại đương thời. Từ thái cực nọ sang
thái cực kia, Nguyễn bước những bước thật nhẹ nhàng trong khi ở những người
khác nhiều khi nặng như đeo đá. Nói ngay một chuyện cụ thể như sự đi về với ả
phù dung. Ai đã trót sa đà bên ngọn đèn dầu lạc trước kia đều biết, một trăm
người bước vào, đến chín mươi chín người không ra nổi, mà có ra thì cũng thân
tàn ma dại. Nhưng có một người đã ra khỏi một cách lành mạnh, tự nhiên, đó là
ông Nguyễn. Từ những chuyện nhỡn tiền đó mà suy, người ta mới hiểu vẻ nhẹ nhõm
của con người Nguyễn từ sau năm 1945. Hóa ra, đi với cái gì cũng nặng căn là
Nguyễn mà rũ bỏ cái gì cũng dễ dàng lại cũng là Nguyễn. Sự phức tạp mà người ta
thường lưu ý, mỗi khi nói đến ông, suy cho cùng vẫn có vẻ đơn giản riêng của
nó.
Hành động theo sát ý nghĩ
Muốn tìm nguồn gốc mọi sự
thay đổi trên của Nguyễn Tuân không thể không biết đến bài viết mang tên Lột
xác từng được dùng làm lời bạt cho tập Nguyễn. ở thiên tùy bút
ghi lại những suy tưởng trong giai đoạn bàn lề của lịch sử đó, Nguyễn Tuân vừa
tổng kết con người trong quá khứ, vừa làm một cuộc thanh toán với nó. Và ông
nói những điều mà trước kia người ta nghĩ không bao giờ ông nói. Rằng phải thừa
nhận đời sống. Rằng người “nghệ sĩ vốn còn kèm thêm người chiến sĩ nữa”. Rằng
giờ đây trang viết phải đóng góp vào việc hình thành những “con người mới” (câu
chữ trong ngoặc kép là những thứ đã được Nguyễn Tuân dùng trong nguyên bản Lột
xác).
Đối chiếu với những lời
tuyên bố trong Lột xác, với mọi hoạt động của Nguyễn trong kháng chiến,
người ta thấy gì? Thấy con người này đã làm mọi việc với sự suy nghĩ thấu đáo,
chứ không phải chỉ hứng bất tử làm đại đi như thỉnh thoảng ông vẫn tự miêu tả.
Và điều quan trọng hơn, ông có khả năng hành động. Khi đã nghĩ rằng làm thế này
thế kia mới đúng, thì ông có khả năng làm bằng được điều đã dự định.
Vừa thay đổi, vừa nhất quán
Một trong những cái khó thường
gặp khi tìm hiểu về một con người là nhận ra ở người đó sự liên tục, trong khi
vẫn chấp nhận một sự thay đổi hợp lý do tác động của hoàn cảnh.
Với một nhân cách độc đáo
như Nguyễn Tuân, thách thức đó càng không tránh khỏi. Trong những năm ngay sau
hòa bình lập lại 1954 và nhất là trong chống Mỹ, nhiều người có thành kiến cho
Nguyễn Tuân là chỉ biết giữ nguyên con người tiền chiến của mình, “chứng nào tật
ấy” “ngựa quen đường cũ” (kèm theo là thích hưởng thụ”, “ngang bướng”, “cạnh
khóe”). Ngược lại, đối chiếu Nguyễn Tuân trước 1945 và Nguyễn Tuân trong kháng
chiến chống Pháp, người ta lại kêu là ông nông nổi và có phần tùy thời trong những
chuyển biến vội vã. Mỗi ý kiến đó đều có hạt nhân hợp lý riêng để rồi sự thực
có lẽ là nằm ở giữa, sự thực là một tổng hợp biện chứng giữa hai ý kiến cực
đoan đó. Cũng như tất cả chúng ta, Nguyễn Tuân có mối quan hệ hai chiều bởi
hoàn cảnh, bảo ông chẳng thay đổi gì cũng đúng mà bảo ông đã lột xác, đã thành
một người khác cũng đúng – nếu không giải thích làm sao cái chuyện cả trước lẫn
sau 1945, ông luôn luôn là nhân vật hàng đầu của giới văn nghệ.
Huyền thoại một thời
Theo kiểu Hemingway
Cùng với sự phát triển của
các phương tiện thông tin đại chúng, sự tiếp nhận văn chương của con người thời
nay so với người xưa có thêm những phương tiện mới: nếu muốn, họ có thể đồng thời
vừa đọc sách một nhà văn, vừa biết rất rõ về nhà văn ấy. Con người tác giả
không còn là một yếu tố trung tính và càng không được thông tin càng tốt. Ngược
lại, con người tác giả cũng phải tham gia vào quá trình chinh phục bạn đọc. Ví
như Hemingway chẳng hạn. Sinh thời, ông là một cá nhân được gần như cả xã hội để
ý theo dõi. Những cá tính kỳ lạ của ông, khả năng cô độc, khả năng dai dẳng ngồi
xem đấu bò, đi săn, đi câu giữa đại dương v.v… những cái đó được người ta săn
tìm truyền tụng đồn thổi bàn tán, không kém gì tác phẩm của ông. Có người bảo rằng
Hemingway không vô tư trong việc này. Dường như ông cố ý trình ra trước xã hội
một con người nhà văn như ông muốn. Ông hiểu rằng những giai thoại kia giúp cho
ông đến với độc giả thêm nhanh chóng, thuận lợi.
Khỏi phải nói, ai cũng biết
việc tự giới thiệu như thế không phù hợp với thói quen của các nhà văn lẫn bạn
đọc ở Việt Nam. Chúng ta thường bảo nhau rằng phương tiện tốt nhất và gần như
duy nhất để nhà văn đến với bạn đọc là tác phẩm. Trong khi cuốn truyện, bài thơ
làm việc, con người nhà văn càng không dây dưa vào đấy càng tốt. ấy thế
nhưng trong Văn học Việt Nam hiện đại cũng đã có một nhà văn dựng tạo sự nghiệp
của mình theo kiểu Hemingway nói trên. Trong khoảng gần năm chục năm cầm bút
ông đã tạo nên quanh mình cả núi giai thoại, chính những giai thoại nửa thật nửa
bịa đó là một chất dẫn truyền rất tốt để tác phẩm của ông có thêm cái lung linh
mà người đọc phải cố tìm biết.
Nhà văn đó là Nguyễn Tuân.
Thích ứng theo hoàn cảnh
Theo một số đồng nghiệp
đương thời kể lại thì trước Cách mạng, ngay từ khi chưa viết Vang bóng một
thời, Nguyễn Tuân đã nổi tiếng trong giới làm văn làm báo như một người
chơi ngông, tiêu tiền như rác, hết sức khinh bạc nói chung là có những cách ứng
xử vượt lên mọi quy cách thông thường.
Không có gì lạ khi thấy
trong văn xuôi, những khía cạnh đó của con người chàng Nguyễn vẫn được giữ
nguyên, thậm chí được tô đậm lên ít chút. Nhà văn công khai lấy chuyện riêng của
mình ra để viết. Đôi khi ông có đội cho nhân vật một cái tên họ khác đi thì
cũng chỉ là một sự thay hình đổi lốt sơ sài, lộ liễu. Sự tò mò không bớt đi mà
chỉ càng được khơi thêm mạnh mẽ. Đọc ông, trong tâm trí bạn đọc luôn luôn dậy
lên những thắc mắc, không biết giữa ông với những Bạch, Nguyễn, những kẻ xưng
tôi trong các tùy bút, có mối quan hệ như thế nào. Vậy là sự tiếp xúc của ông với
bạn đọc đã hình thành. Nó làm cho người ta cứ phải nấn ná giữa các trang sách để
từ đó, khi đã đọc Nguyễn Tuân một cách kỹ lưỡng, sẽ bắt gặp một con người nữa,
con người tha thiết với đời mà cũng là con người nhân hậu, tự trọng, hết lòng
cùng nghề nghiệp, biết gắn bó với vẻ đẹp trong truyền thống nghệ thuật của ông
cha bằng một óc thẩm mỹ độc đáo. Cái tầng thứ hai này, cố nhiên, sẽ là lý do để
người ta yêu thích ông lâu dài. Nhưng nếu không có cái tầng thứ nhất với cả những
trò chơi trội độc đáo của chàng Nguyễn thì không chắc ngay từ đầu tác phẩm của
ông có được sức cuốn hút như nó đã có. Xét về tác dụng, huyền thoại mà ông góp
phần tạo ra không thừa, mà như nghề y cổ truyền, nó là một thứ thang để “dẫn”
thuốc cho con người.
So với quãng đời trước Cách
mạng, thì từ sau 1945, cuộc sống riêng của tác giả diễn ra theo một phương hướng
khác hẳn. Cũng như tất cả các đồng nghiệp khác, nhà văn Nguyễn Tuân từ đó có
thêm một tư cách mới: tư cách chiến sĩ. Con đường để ông đến với bạn đọc thường
khi là con đường thẳng, không khuất khúc như xưa. Nhưng đó là trên đại thể.
Nhìn kỹ thì thấy, cách tồn tại của Nguyễn Tuân trong văn học vẫn có chút gì
khác thường và trong việc đưa tác phẩm của ông đến với bạn đọc, con người ông vẫn
có một vai trò như không hề thấy ở các nhà văn cùng thời. Hãy chỉ nói tới một
thời điểm rõ nhất: 20 năm cuối đời ông. Lúc này, tên tuổi Nguyễn Tuân vẫn được
nhiều người truyền tụng. Đại khái, người ta hay rỉ tai nhau rằng đấy là một
ngòi bút ngang bướng, sẵn sàng nói ra những câu chướng tai, thích tự do cá
nhân, và giữa thời chiến mà còn khư khư giữ lấy nhiều nếp sinh hoạt cầu kỳ, xa
lạ. Không chỉ những người trong giới văn chương mà cả những người thuộc các tầng
lớp xã hội khác không liên quan lắm với văn chương, cũng biết về ông như vậy.
Và người ta lại tìm đọc ông để vừa thưởng thức văn tài, vừa cảnh giác dò tìm những
chỗ ngang ngạnh của ngòi bút. Thế là một lần nữa, Nguyễn Tuân lại “ghi điểm”.
Xét trên một phương diện nào đó thì sự tò mò mà ông gợi ra (trong đó cái sai
xen lẫn cái đúng) đã giúp rất nhiều vào việc phổ biến những bài ký viết về phi
công Mỹ và nhiều loại đề tài khác mà Nguyễn Tuân cho in những năm cuối đời. Nhờ
vậy, điều ông viết ra (tội ác và sự kém cỏi của địch, thế mạnh, thế tất thắng của
ta) – những cái đó lại đến với người đọc sâu sắc hơn. Nếu không ngại dùng chữ
huyền thoại thì có thể bảo là cho đến lúc nhắm mắt, Nguyễn Tuân luôn luôn tạo
được huyền thoại về mình, huyền thoại ấy lần này giúp ông làm tròn sứ mệnh một
chiến sĩ, một cán bộ viết văn mà ông đã tự nguyện mang tất cả tài năng và tâm
huyết để thực hiện. Từ chỗ là một ngòi bút cô độc (như hai câu thơ cổ ông dùng
làm đề từ cho bài ký Sông Đà: Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc
lưu - mọi con sông đều chảy ra biển đông, chỉ riêng sông Đà chảy ngược lên
phía bắc), ông đã trở thành một nhà văn của mọi người như những câu
được viết trong sổ tang ông ngày ông nằm xuống ba năm về trước.
Vang bóng một thời
Tìm hiểu cuộc đời Nguyễn
Tuân chắc nhiều người không thể quên một chi tiết: ngay từ khi chưa đầy 30 tuổi,
người tài tử ấy đã mấy phen ngồi uống rượu ngang ngửa với thần ngông Tản Đà. Vậy
là sự già dặn đến với ông ngay từ lúc trẻ. Chắc chắn, sự già dặn ấy đã giúp ông
có được cái định hướng độc đáo trong việc tổ chức đời sống của mình mà việc tạo
huyền thoại, sống trong huyền thoại nói trên, là một ví dụ.
Nay thì cùng với Nguyễn, tất
cả đã trở thành quá khứ. Trong khi những đứa con tinh thần thật sự của tác giả,
những Một chuyến đi, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa đàn, Sông Đà, Chuyện nghề
v.v… dần dần trở lại đúng các vị trí mà chúng phải có, thì những huyền thoại
không còn giữ được vẻ thiêng liêng kỳ thú ngày nào. Đến với hiện tượng Nguyễn
Tuân giờ đây, trong lòng không khỏi thoáng qua cảm tưởng thanh vắng y như đến
chùa nhưng ngày hội đã hết, chỉ còn gác chuông, mái ngói và những pho tượng trầm
tư. Ai người mau xúc động thấy thế lại còn muốn ngả sang vẻ ngậm ngùi nữa! Họ
quên mất rằng khi đặt tên cho tác phẩm đầu tay của mình là Vang bóng một
thời,
Nguyễn Tuân đã tự chứng tỏ
ông là người có một quan niệm chắc chắn về thời gian: thời gian làm nên những
giới hạn cho mỗi đời người, song những ai sống hết lòng với cái thời của mình,
người đó coi như đã tìm được cách để đến với vĩnh viễn.
Xuân Diệu
Vài nét tiểu sử
Xuân Diệu, họ Ngô (1916-1985), thời tiền chiến từng là một trong những thành viên của Tự Lực văn đoàn. Tác phẩm chính: Thơ thơ(1938), Phấn thông vàng (1939), Gửi hương cho gió (1945) Riêng chung (1960), Tôi giàu đôi mắt (1970) v.v…
Người biết mài sắt nên kim
Tâm lý con vợ lẽ
Trong một tiểu luận mang
tên Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Xuân Diệu kể: ông là
con một tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn chuyển dần ra thành phố. Một
chi tiết có ý nghĩa quan trọng hơn: ông là con vợ bé. Điều oái oăm ở đây là lúc
này, má ông vẫn ở với bà ngoại, còn Xuân Diệu cũng như người em trai là Tịnh Hà
thì ở với đại gia đình, tức bố (mà ông gọi là thầy) và vợ cả của bố (mà ông gọi
là mẹ). Bên ngoại cách bên nội độ vài cây số; lâu lâu, bà má tội nghiệp mới được
phép đến thăm hai cậu con trai, mà cũng chỉ đứng ngoài cửa, chứ không vào nhà;
rồi lại lâu lâu, hai cậu con trai lại trốn về thăm má, thăm ngoại, cho đỡ nhớ
thương.
Như các nhà tâm lý học từng
quả quyết, tính cách một con người được hình thành chủ yếu lúc ấu thơ, khoảng
trước 5 tuổi, và ở đấy, những dữ kiện trong đời sống gia đình có ý nghĩa bao
trùm. Tình thế “con vợ bé” nói trên đã nhào nặn nên một khuôn mặt tâm lý đặc biệt
ở Xuân Diệu: ông dễ thương người, trong ông thường có những nỗi buồn vô cớ, hậu
quả của một tình thế trớ trêu, lúc nào cũng cảm thấy nhưng không sao thay đổi nổi.
Đấy cũng là một yếu tố tạo nên sự nhạy cảm thấy có ở hầu hết các nghệ sĩ. Nhưng
nét trội nhất trong tâm lý con vợ lẽ ảnh hưởng nhiều đến cách xử thế của Xuân
Diệu là sự nhẫn nhục. “Qua sông nên phải lụy đò – Tối trời nên phải lụy cô bán
dầu”. Vì tôi ở vào tình cảnh như thế, nên tôi phải chịu nước lép, chứ thực ra
trong bụng, tôi thừa biết là tôi chẳng kém gì đời. Chữ lụy ấy, Xuân Diệu rất hiểu.
Hồi ký Tuổi trẻ Xuân Diệu (do Tịnh Hà ghi) và cuốn sách Đi
hoang của Tịnh Hà (cả hai chỉ được xuất bản với một số lượng ít ỏi) cho biết:
trong khi Tịnh Hà uất ức, phẫn nộ, đã phải bỏ cái đại gia đình kia để sống kiếp
lang thang thì Xuân Diệu chọn con đường cắn răng cam chịu, ngoan ngoãn sống với
thầy mẹ, dồn tất cả tâm sức vào học, vì biết rằng chỉ có học giỏi mình mới nên
người, đền đáp xứng đáng công ơn má là người đã rứt ruột đẻ ra mình. Rồi ra sự
nhẫn nhục này sẽ theo ông trên suốt đường đời. ở một xã hội mà quan niệm xướng
ca vô loài còn nặng, trong một đất nước luôn luôn có bao nhiêu việc cần
hơn là “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, tâm lý nhẫn nhục ấy giống như một thứ
xu-páp bảo hiểm, nó rất cần thiết cho những người lấy sáng tác làm nghề nghiệp.
Chả thế mà khoảng 1940, Xuân Diệu đã có gan bỏ thi đàn để đi làm tham tá nhà
đoan ở Mỹ Tho. Dẫu rất yêu sáng tác, con người này vẫn hiểu rằng có một cái còn
quan trọng hơn sáng tác, đó là đời sống, là tồn tại. Ngoài một lần “nhượng bộ lớn”
đó, trong cuộc đời một người cầm bút, Xuân Diệu còn có nhiều phen nhẫn nhịn rất
đáng thông cảm.
Ý chí lập nghiệp
Ta hãy hình dung lại tình
hình đất nước khi Xuân Diệu lớn lên và ra học để thi tú tài ở Hà Nội. Sau những
thể nghiệm trong những năm đầu thế kỷ, nay là lúc xã hội Việt Nam chuyển hẳn sang
mẫu hình hiện đại. Người ta đua nhau mở hiệu buôn, làm đại lý cho các hãng buôn
tận bên Tây, rồi đóng tàu chạy đường biển; rồi khai mỏ, mở nhà in… Tất cả gặp
nhau trong một ý nghĩ: cái gì mà người phương Tây đã làm, đang làm, thì mình
cũng phải làm được và sẽ làm đến nơi đến chốn. Trong lĩnh vực đời sống tinh thần
cũng có tình trạng như vậy. Một lớp người mới bước vào nghề: Nhất Linh, Khái
Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư v.v… So với thế hệ Tản Đà hoặc Phạm Duy
Tốn, họ có chỗ khác: Tây học thấm vào họ từ khi còn ngồi trên ghế tiểu học.
Sách báo phương Tây là cái mẫu hình mà họ thấy không có cách nào khác hơn là phải
noi theo. Với những bài thơ táo bạo in trong Thơ thơ, Xuân Diệu còn
như là muốn chứng tỏ: lối nói, lối xúc cảm của những Rimbaud, Verlaine… không
có gì xa lạ với người mình. Trong phạm vi ngôn ngữ dân tộc cho phép, người làm
thơ vẫn có thể trình bày hết những ý tưởng đã đến trong tâm trí con người Việt
Nam hiện đại.
Nếu sự nhạy cảm và nói chung
là toàn bộ năng khiếu đã đưa Xuân Diệu đến với sáng tác văn học thì ý chí lập
nghiệp sẽ là yếu tố bảo đảm cho ông thành công. Đã mang tiếng ở trong trời
đất - Phải có danh gì với núi sông - Mấy câu thơ ấy của
Nguyễn Công Trứ luôn vang bên tai ông như lời tự nhủ. Trong khi những người
khác coi văn chương là một việc tài tử, vui làm, chán bỏ được chăng hay chớ,
thì Xuân Diệu sẵn sàng đánh vật với công việc bởi ông hiểu rằng đây là cuộc sống
thật sự của mình. Báo Ngày nay và nhóm Tự lực đang nổi lên
như cồn, gần như làm chủ văn đàn ư? Thì ông sẽ tìm được cách để được coi như một
thành viên trong nhóm! Làm thơ không sống nổi, thơ là thứ không thể lấp đầy một
tờ báo, phải biết viết tin, viết truyện ngắn ư? Thì Xuân Diệu sẽ học để làm được
tất cả những cái đó. Văn xuôi của ông trong Phấn thông vàng là một thứ
văn xuôi độc đáo không giống bất cứ ai khác. Tóm lại có thể bảo trong số các
nhà văn tiền chiến, Xuân Diệu là một trong những ngòi bút mang chất nhà nghề rõ
rệt nhất. Chất nhà nghề đó bộc lộ ở thói quen chịu thương chịu khó “nhận tất cả
mọi việc về nghề văn”, nhận đủ các loại com-măng, rồi việc to cũng như việc nhỏ
đều làm hết lòng, làm ở trình độ hiện đại, vừa bám sát yêu cầu của khách hàng,
vừa mang rõ dấu ấn riêng, để có thể đề vào đó mấy chữ “made in Xuân Diệu” mà
không sợ mang tiếng gì hết.
Cốt cách của người lao động
Khi Cách mạng tháng Tám nổ
ra, Xuân Diệu 29 tuổi. ở thời ấy, đấy là cái tuổi đã trưởng thành. Chẳng những
thế, trong xã hội, Xuân Diệu đã có vai trò rất vẻ vang, vai một văn nghệ sĩ nổi
tiếng.
Cách mạng rất hiểu điều đó,
và liên tục dành cho Xuân Diệu sự ưu ái cần thiết.
Về phần mình cái vai ấy cũng
được Xuân Diệu đảm nhận một cách đầy đủ. Vừa có ý thức, vừa tự nhiên khéo léo,
gần như là vô tình, vô ý thức, ông tạo cho mình cái cốt cách mà người nghệ sĩ
lúc này cần có: cốt cách một người lao động. Nhìn lại hơn 40 năm cuối đời của
Xuân Diệu, người ta thấy ông đã lao động không mệt mỏi. Khi làm đài phát thanh,
khi làm báo, khi bình thơ, khi viết tiểu luận, luôn luôn ông tìm thấy việc để
làm và giá có được phân công làm gì thì cũng mang vào đấy cả sự tính toán kỹ
càng vốn có. Thơ giờ đây được ông xem như một ngành sản xuất, với tiến độ, nhịp
độ mức tiêu thụ nguyên liệu và mức ra sản phẩm… rành rọt. Để biện hộ cho các
bài thơ phục vụ kịp thời, ông nêu lý luận về loại thơ thực tế, xem đó là cả một
hướng tìm tòi nghiêm chỉnh. Nhưng chỗ mạnh của mình là thơ tình thì ông vẫn nhớ!
Biết rằng trước sau xã hội sẽ cần loại thơ ấy, ông khai thác những vui buồn
trong cuộc đời riêng một cách triệt để, làm sẵn thơ tình rồi công bố dần. Ông lại
có ý thức tổ chức sao cho các bài thơ đó bổ sung nhau, nối tiếp nhau, tiến tới
làm ra một thứ mà ông ước tính nên gọi là từ điển tình yêu, những cặp
trai gái khi cần sẽ có cái để tra cứu từ A đến Z. Nhưng không ở đâu cái khao
khát “làm mọi thứ cho ra tấm ra món” của Xuân Diệu bộc lộ rõ như khi ông viết
tiểu luận. Sau những thành công trong việc đột phá vào sáng tác của Nguyễn Du
và Hồ Xuân Hương, ông sớm hiểu rằng đây là khu vực làm nên sự nghiệp cuối đời của
mình. Công cuộc khai thác được ông lên kế hoạch đâu vào đấy, ở đó, không có
chuyện thú hay không thú, hợp gu hay không hợp gu, ở đó là sự đào cùng tát cạn,
là xúc từng mảng, từng mảng… Số lượng trang viết trở thành nỗi ám ảnh thường
xuyên trong đầu óc Xuân Diệu. Ông hể hả nhìn lại số đầu sách đã ra, số trang đã
viết, cũng như hể hả ghi vào sổ tay số lượng những cuộc bình thơ, nói chuyện
thơ, số lần được mời làm chủ khảo chấm thơ – cái tâm lý rất trần tục ấy là một
trong những dấu hiệu chứng tỏ cách cảm cách nghĩ của người lao động đã thấm hẳn
vào Xuân Diệu. Như một người đàn bà suốt đời lam lũ lo liệu gây dựng cơ đồ, lúc
về già, ông không thấy phải ý tứ gì nữa. Ông tham lam đòi bằng được những gì mà
ông coi là quyền lợi riêng của mình, là mình phải được – để rồi sau đó, lại
mang đi ban phát cho người khác và cảm thấy thế là sung sướng. Ông thích người
ta phải luôn luôn nhắc đến vai trò, vị trí của ông trong đời sống văn học. Ông
nói khéo với người này, quát mắng người kia, cốt sao được việc, cốt sao trong
những trang văn học sử do những người ấy viết, hình ảnh ông hiện ra sáng sủa nhất,
dễ coi nhất. Trong lời tựa Thơ thơ ngày nào, Thế Lữ từng sớm chỉ ra rằng
Xuân Diệu rất quyến luyến cõi đời, tấm lòng trần gian của ông rất nặng. Nay,
trong cốt cách của người lao động, nhà thơ mới bộc lộ hết mình, tấm lòng trần
gian ấy mới thật hiện ra với cái vẻ trần trụi và thông tục của nó. Dẫu sao,
Xuân Diệu cũng đã đạt được cái điều mà ông mong muốn!
Chưa ai thông cảm hết sự cô
độc của tôi
Thật ra cách tìm xuống âm phủ
để hỏi chuyện “các bậc tài hoa” đã chết như thế này từng được nhà văn Phạm Thị
Hoài đầu têu với việc phỏng vấn Hồ Xuân Hương in ở Lao động chủ nhật số
2 ra ngày 10-12-1989; người viết bài này chỉ học đòi mà phỏng theo. Chỗ khác
nhau giữa chúng tôi là: Phạm Thị Hoài mượn hình thức hỏi chuyện để trình ra một
số ý nghĩ của mình về cuộc cách mạng tình dục; bài phỏng vấn đó thực chất là một
tiểu luận. Còn bài viết của tôi là bài phỏng vấn… thiệt! Rất mong các bạn đọc
xa gần, nhất là những người có quen biết với Xuân Diệu hồi ông còn sống, xác
minh hộ xem người đối thoại với tôi hôm nay có phải là Xuân Diệu thật không,
hay là một hồn ma nào khác.
Với thói bo bo bỏm bỏm chi
li nhặt nhạnh những gì đã viết, hẳn ông vui sướng khi thấy Toàn tập 6
cuốn của mình đã được in?
Nhưng nó cũng chỉ mới in một
lần, mà tôi thì muốn in đi in lại nhiều lần. Một phần tâm huyết là các bản dịch
các bài giới thiệu văn học nước ngoài của tôi còn chưa được sưu tầm và in lại đầy
đủ.
Vả chăng, nay là lúc đến các
nhà văn nhà thơ hạng nhì hạng ba cũng làm tuyển tập…
Ông không muốn lẫn đi giữa họ?
Ai mà chẳng thế, có riêng gì
tôi.
Còn nhớ hồi làm Tuyển tập tập
1, ông cố ý cho in cả những bài thơ dở?
Thơ hay tự bạn đọc biết tìm
cho họ rồi. Nhiệm vụ của nhà thơ lúc làm tuyển tập cuối đời là đưa thêm cho họ
thật nhiều, để họ đãi lại, may ra có được gì thêm.
Chỗ mạnh chính trong con người
ông?
Làm việc cật lực, làm việc
không ngẩng đầu lên được nữa.
Thế còn chỗ yếu?
Cũng là làm việc cật lực,
làm việc đến mức không có thì giờ xem xét lại, đánh giá lại công việc của mình.
Người ta thích nhắc nhau câu của Goethe: Khởi nguyên là hành động. Nhưng nên nhớ
Goethe còn nói: Sự hành động làm tê liệt tư tưởng.
Ông có nghĩ rằng trong giới
văn nghệ sĩ nước ta, không thấy có những trí thức cỡ lớn như R.Rolland,
A.France?
Thì dân tộc cũng chỉ rặn được
ra lũ chúng tôi.
Kinh nghiệm tồn tại của ông
trong văn học?
Lúc làm thơ, phải thật trong
sáng. Nhưng lúc in thơ lại phải thật cơ hội (cười). Cậu xem, trừ Tô Hoài, còn
ai lắm đầu sách như mình nào! Mà quá nửa sách của Tô Hoài là sách viết cho thiếu
nhi.
Phương châm sống của ông?
Vắt kiệt mình cho đời. Viết
hết những điều mà mình muốn viết và có thể viết. Một người như Nguyễn Tuân biết
nhiều mà viết quá ít.
Vì cụ còn muốn sống cho đẹp?
Có lẽ thế. Còn mình mình
nghĩ phần tinh hoa của người nghệ sĩ mà cũng là phần sống đời của họ là ở tác
phẩm. Theo mốt hiện đại, không ai đếm xỉa đến cuộc sống riêng của anh lắm đâu,
mà anh phải quá chăm chút đến mất thì giờ vì nó. Tôi sống chỉ cốt để phục vụ
cái tôi viết.
Nhiều người cũng muốn như
ông, mà không xoay xỏa nổi.
Phải. Vì họ còn vợ đẹp con khôn,
có người còn quyền cao chức trọng đủ thứ. Phần tôi, không có gia đình, tôi chỉ
lấy viết làm vui. Sinh thời, tôi đã tập cho mình thói quen của mấy bà già nông
thôn. Cậu có để ý thấy các bà ấy lúc nào cũng phải có việc gì đó để làm, rời
tay cấy hái là lại lăn vào chuyện nhà cửa bếp núc nếu không thì cũng khâu vá hết
ngày…
Lúc sống, có điều gì mà ông
cảm thấy chưa được thông cảm?
Sự cô độc và những cách thức
của con người để sống chung với sự cô độc, mà cũng là để chiến thắng sự cô độc ấy.
Tại sao những năm cuối đời,
ông không tính chuyện viết hồi ký?
Mình không muốn công nhận là
mình đã già. Mình mải việc… Vả chăng, hồi ấy viết hồi ký có cái phiền của nó.
Ví dụ chuyện mình có mấy bài thơ tặng Nhất Linh, Hoàng Đạo, rồi chuyện mình
chính thức có chân trong nhóm Tự Lực văn đoàn, hồi ấy mình đã phải dẹp mãi, các
sách văn học sử nó mới lờ đi cho. Ai hơi đâu mà lạy ông tôi ở bụi này? Còn như,
giá được sống đến bây giờ trong hoàn cảnh Tự Lực văn đoàn được đánh giá lại,
mình sẽ trình bày chuyện ấy thật đàng hoàng.
Giờ đây, ở dưới suối vàng,
ông nghĩ thế nào về đời mình?
Mãn nguyện. Có thể coi là
mãn nguyện được.
Nếu mai đây, các nhà văn học
sử đánh giá lại về ông thì sao?
Đấy là việc của họ. Nhưng vượt
được bọn mình, đâu có phải chuyện dễ!
Thanh Tịnh
Vài nét tiểu sử
Thanh Tịnh 1911-1988. Trước 1945, đã cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày nay, Tinh hoa. Sau cách mạng, gia nhập quân đội, phụ trách đoàn kịch. Có thời gian làm chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ngậm ngải tìm trầm cũng là tên gọi một truyện ngắn được nhiều người ghi nhớ của tác giả.
Ngậm ngải tìm trầm
Một nét chân dung Thanh Tịnh, tác giả Quê mẹ
Đó là câu chuyện cảm động kể
về những tận tụy hy sinh của một con người trên đường mưu cầu sinh kế được
Thanh Tịnh ghi lại lúc còn trẻ. Song đó cũng là một phác họa đơn sơ về những
gian truân mà tác giả sẽ nếm trải trong những năm tháng về sau…
“Hàng năm cứ vào cuối thu,
khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi
lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”.
Thanh Tịnh thuộc về loại nhà
văn viết không nhiều nhưng trong số những gì ông viết ra có những dòng đã ăn
vào tâm trí nhiều thế hệ bạn đọc. Chẳng hạn như đoạn mở đầu cho truyện ngắn Tôi
đi học dẫn trên đây.
Từ văn mà suy ra người, sau
khi nhập tâm đoạn văn ấy, và những đoạn tương tự, nhiều bạn đọc dễ tưởng tượng
rằng đại khái tác giả của chúng là một người suốt đời sống giữa khung cảnh hòa
hợp êm đềm về mặt tình cảm. Có biết đâu, điều đó chỉ đúng với Thanh Tịnh khi mới
cầm bút còn sau đó hoàn toàn khác hẳn!
Sự đơn độc kéo dài
Từ 1975 về trước, khi nói về
nỗi xót xa đau đớn do đất nước bị chia cắt, một hình ảnh thường hay được nhắc
nhở là hình ảnh những người phụ nữ ở lại miền Nam, trong khi người yêu hay chồng,
đôi khi là chồng chưa cưới, ra tập kết ở miền Bắc, bao nhiêu tháng năm đợi chờ
đằng đẵng, gần như cả tuổi xuân trôi qua trong ngang trái buồn thảm.
Nhưng sau khi đã nói tới những
người phụ nữ ấy, thì cũng không nên quên chính những người thân của họ – các
cán bộ mà vợ con ở lại miền Nam và bản thân ra Bắc – trong số này ngoài đại bộ
phận mới đi tập kết sau 1954, lại có một số ra đi suốt từ khi tiếng súng kháng
chiến toàn quốc bùng nổ. Nghĩa là từ 1946, và ba chục năm sau, mới gặp lại gia
đình (không ít trường hợp vĩnh viễn không gặp lại). Dù là đã tự xác định cho
mình đến mấy, thì những người này vẫn cứ là những ca, những trường hợp không
bình thường, và giữa những bè bạn đồng chí đồng đội, họ thường vẫn hiện lên như
những hòn đảo đơn độc.
Thanh Tịnh chính là một
trong những người suốt cuộc chiến tranh giải phóng “ăn cơm tập thể ngủ giường
cá nhân” như vậy. Hình như giữa hàng ngũ những người chịu ngang trái về mặt
tình cảm trong giới văn nghệ sĩ, trường hợp của ông là kéo dài, là lặng lẽ
nhưng xót xa bậc nhất, đến mức khi soát xét lại cả đời ông, người ta thường cảm
thấy rất nhiều ái ngại, và phải có một cách nhìn khác đi với các sáng tác mà
ông để lại.
Nỗi đau thuở trước
Theo sự ghi nhận của nhiều
tài liệu nghiên cứu văn học, ngay từ 1936, Thanh Tịnh đã có một tập thơ được xuất
bản mang tên Hận chiến trường. Nhưng không chỉ cái tên mà hầu như cả
tập thơ xa lạ với tác giả của nó. Khi chọn ra những bài thơ hay nhất của Thanh
Tịnh cho in vào Thi nhân Việt Nam 1932-41, Hoài Thanh không lấy một
bài nào từ Hận chiến trường, mà lại “chấm” các bài thơ lẻ, mới đăng báo.
Đó là Mòn mỏi đăng ở Tinh hoa và Tơ trời với tơ
lòng đăng ở Phong Hóa.
So với thơ, văn xuôi của
Thanh Tịnh thời tiền chiến có phong phú hơn, truyện dài có, truyện ngắn có, đâu
ba bốn tập gì đấy. Song hơn ai hết, chính Thanh Tịnh cũng biết truyện
dài Xuân và Sinh không thành công. Trong các tập truyện ngắn, chỉ
có Quê mẹ là khả dĩ, bởi vậy, năm 1957, khi lần đầu tiên sau cách mạng
dọn dẹp lại sáng tác của mình để tái bản, ông cũng chỉ lấy Quê mẹ làm
chính, rồi dậm thêm vào một vài truyện lấy ở các tập khác và từ nay, nói tới
Thanh Tịnh, người ta chỉ nói tới Quê mẹ.
Vả chăng cái chính không phải
là số lượng đầu sách, cái chính là nội dung đã viết, mà về phương diện này ai
cũng thấy ngay cái không khí bao trùm Quê mẹ là buồn bã, là hiu quạnh:
ở cái làng Mỹ Lý mà các nhân vật của ông sinh sống, vẻ êm đềm nếu có chỉ là bề
mặt. Kết cục của thiên truyện Tình thư là buồn, chị Sương thất tình
và con sáo của cậu Thanh cũng chết. Cô Duyên trong Bên con đường sắt, chịu
sự đàm tiếu của mọi người mà đâu có tìm thấy hạnh phúc. Cô Hoa trong Con
so về nhà mẹ, cô Thao trong Quê mẹ mỗi người có nỗi khổ tâm
riêng, mà khổ tâm nhất là phải giả vờ hạnh phúc. Nói chi đến những bất hạnh rõ
mồn một của con người, được nói tới trong Con ông hoàng cũng
như Am cu ly xe, Ngậm ngải tìm trầm, cũng như Một làng chết. Chỗ
khác của Thanh Tịnh so với một số tác giả hồi tiền chiến, là khi diễn tả những
nỗi bất hạnh của con người ông không làm cho nó chói lên quá đáng, nhân vật
trong truyện cũng như tác giả không kêu to sau các trang sách, song sự bất hạnh
vì thế lại hiện ra không ai có thể cưỡng lại nổi, nó như không khí bao quanh
người ta, và sống lâu với nó, ta quen đi lúc nào không biết.
Chiến công thầm lặng
Từ sau 1945, nhất là trong
những năm kháng chiến chống Pháp, tên tuổi Thanh Tịnh gắn liền với một thể loại
lai tạo giữa thơ và kịch, là thể độc tấu. Để truyền đạt một nội dung thông tục,
giản dị, nghe là hiểu ngay, độc tấu tận dụng hai biện pháp, một là lời thơ có vần
cho dễ theo dõi, hai là sự nhập vai của người trình diễn. Chỉ như vậy thôi,
nhưng trong hoàn cảnh các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại còn hạn chế,
thể loại này được coi là một công cụ lợi hại (tới mức, trong hội nghị tranh luận
về văn nghệ kháng chiến năm 1949, nhiều văn nghệ sĩ hàng đầu như Tố Hữu, Nguyễn
Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi…đã phải để thời gian trao đổi về nó).
Nhưng cách làm đó không thể
kéo dài mãi. Có một sự thực là nếu từ 1945 về trước, Thanh Tịnh vừa viết văn viết
báo, vừa làm thêm các nghề khác, như dạy học hoặc đo đạc đất đai, ta vẫn gọi là
nghề đạc điền, hoặc hướng dẫn du lịch, thì từ kháng chiến trở đi, ông sống như
một người làm nghề viết văn chuyên nghiệp. ấy vậy mà sau hơn 40 năm liên tục sống
trong nghề, tới khi ông qua đời, thành quả của ông vẫn chỉ có thể gọi là đạm bạc.
Một tập truyện nhỏ, Những giọt nước biển chỉ in ra một lần (1954) và
về sau không được ai nhắc lại. Một ít bài thơ rải rác không đủ in thành tập, đến
mức về sau, khi muốn giúp Thanh Tịnh tổng kết cuộc đời sáng tác của mình, các đồng
nghiệp trẻ phải tìm cách gộp chung chúng cùng với các bài ca dao và diễn ca
khác, làm nên một tập sách chung gọi là Thơ ca (1980). Những buồn bã
trong hoàn cảnh riêng tư đã là một phần nguồn cơn của vẻ hiu quạnh trong sự
sáng tác của ông chăng? Sau những giây phút bùng nổ rực rỡ giữa công chúng, người
nghệ sĩ nơi ông thường phải dồn hết sức lực để đối diện với sự đơn độc của mình
chăng? Nếu đúng như vậy, người ta chỉ có thể nghĩ: đặt bên cạnh những số phận
bình thường đây là một số phận bi đát bậc nhất, cái bi đát không hùng tráng lớn
lao, nhưng lạnh lùng thấm thía, và chỉ riêng việc ông vẫn đứng vững để sống và
làm việc trong đội ngũ văn nghệ từng ấy năm trời thật đã là cả một chiến công.
Chương chín
Những đời văn kéo dài suốt
hai nửa thế kỷ (II)
Nam Cao
Tô Hoài
Nguyên Hồng
Tế Hanh
Nam Cao
Vài nét tiểu sử
Nam Cao (1915-1951). Tác phẩm chính Đôi lứa xứng đôi tức Chí Phèo (1941), Sống mòn (viết 1944, in ra lần đầu 1956). Sau Cách mạng có truyện ngắn Đôi mắt, nhật ký ở rừng (1948)…
Viết ngay về những người
quanh mình
Lâu nay, mỗi khi cần điểm
qua các truyện ngắn Nam Cao đã viết, mà trong đó nhân vật là nhà văn và có những
đoạn luận bàn về nghề văn, người ta vẫn nói đến Trăng sáng và dừng lại
kỹ ở đoạn gần cuối truyện khi nhân vật Điền tự nhủ với mình – thực chất là đoạn
bản thân Nam Cao phát biểu một quan niệm tiến bộ về nghệ thuật “Chao ôi! Chao
ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng
đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng
Điền”.
Tuy nhiên, có lẽ cũng không
nên quên là sau khi tìm được phương hướng đúng, thì nhà văn còn phải lo viết
cho ra tác phẩm. Viết về cái gì bây giờ? Cái điều mà nhà phê bình không để ý,
thì Nam Cao đã để ý. Sau tuyên ngôn hùng hồn nói trên, Nam Cao chỉ hạ một câu
kiểu bỏ nhỏ: “Điền chẳng cần đi đâu cả”. Song đứng về mặt nghề nghiệp mà xét,
đây cũng là một thứ tuyên bố khác, tuyên bố về cái chất liệu sẽ được khai thác,
mỗi khi sáng tác. Rồi chúng ta sẽ bắt gặp trong tác phẩm của ông “tiếng con
khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm”, nghĩa là tất cả
những gì làm nên cái thực tế hàng ngày mà ông vẫn sống.
Câu chuyện “nhà văn viết bằng
cái gì” không chỉ hé ra ở Trăng sáng, mà còn được Nam Cao quay trở lại
trong các thiên truyện khác như: Những truyện không muốn viết, Cái mặt
không chơi được… Nói chung ông đã thực hành đúng theo đúng những điều ông
đề xướng. Thử tưởng tượng, hồi ấy giá có ai chân tình hỏi: “Thưa ông ông lấy
tài liệu ở đâu để viết?”, hẳn tác giả Chí Phèo sẽ giơ cả hai tay lên
trời mà ngạc nhiên: “ồ việc gì phải tìm đâu xa? Một mỏ vàng thật sự ở ngay dưới
chân anh đó, anh chỉ còn có việc bắt tay khai thác!”.
Không, Nam Cao không đùa bỡn
chút nào trong câu trả lời dung dị ấy! Giả sử bây giờ có ai muốn viết lại đời
Nam Cao ư, tài liệu cũng rất sẵn! Chỉ cần đọc lại truyện ngắn và tiểu thuyết của
ông, người ấy sẽ tìm ra đủ chi tiết để dựng lại từ quê hương bản quán, cho đến
họ hàng nội ngoại, rồi hàng xóm láng giềng, các đồng nghiệp, những bạn bè quen
của ông và nhất là gia đình của chính ông nữa. Nhân đây, xin được dẫn lại một
câu chuyện vui vui có liên quan đến Sống mòn. Đây là lời cắt nghĩa
chính thức nhiều người đã được nghe chung quanh cái lý do khiến cho Sống
mòn không thể được in ra từ trước 1945: “Tập tiểu thuyết ấy quăng đi ném lại,
không lọt qua được lưới xuất bản, tuy rằng soi từng chữ không chỗ nào bắt bẻ được”
(Bài viết của Nguyễn Đình Thi, 1952). Nhưng Tô Hoài, người bạn chí cốt của
Nam Cao, thì kể rằng hồi ấy Nam Cao hay nói đùa: “Bao giờ những người trong tiểu
thuyết này chết đi, mình mới đem in được sách. In bây giờ thì không dám nhìn mặt
ai nữa”. Hóa ra, cái ngón nghề hiệu nghiệm mọi khi cũng đôi lúc có thể phản lại
nhà văn. Nhưng đã sống chết với nó rồi, Nam Cao đâu có dễ một sớm một chiều
thay đổi.
Để chứng minh cách làm việc
này về sau vẫn được Nam Cao duy trì, Tô Hoài còn dẫn ra một sự so sánh, lấy từ
quá trình sáng tác của các ông hồi kháng chiến chống Pháp. Nguyên hồi ấy cả hai
ông đều làm phóng viên cho báo Cứu quốc Việt Bắc, song mỗi người một
cách sống cách viết. Một đằng là Tô Hoài mải hướng con mắt đi tận đâu đâu:
“Ngày đêm tôi đi khắp. Để bảo vệ cơ quan, tỉnh đã phân công tôi phụ trách địa
phương như cán bộ xã...Lúc nào tôi cũng gần gũi và làm việc với mọi người”. Còn
đằng kia, cũng như nhà văn Điền hồi nào, Nam Cao cũng “chẳng cần đi đâu cả”. Vẫn
lời Tô Hoài: “Nam Cao ngồi cả ngày ở nhà, giải buồn bằng cách học tiếng Mán và
trò chuyện với ông Kim già…” (Những đoạn trích đều lấy ra từ tập chân dung văn
học của Tô Hoài, mang tên Những gương mặt). Thành thử khi nhìn lại mấy
năm đầu kháng chiến, trong khi Tô Hoài vẫn có sách ra đều đều, những Núi Cứu
Quốc, Ngược sông Thao, Xuống làng… thì Nam Cao chỉ vẻn vẹn có nhật
ký ở rừng và mấy truyện ngắn chưa in vào đâu, trong đó có Đôi mắt. Nhưng
đây là nhận định của Tô Hoài về chất lượng sáng tác của từng người: “Thằng cha ấy
chẳng đi đâu mà viết ở rừng lại được, mình sục sạo lặn lội thế, mà chữ
nghĩa lại lạnh như đá”. Dĩ nhiên, tự nó cách viết chẳng là gì cả, nhưng một khi
chọn được cách viết (bao hàm được cách khai thác tài liệu) phù hợp, thì nhà văn
đã có điều kiện tiên quyết để tạo ra tác phẩm có giá trị.
Nói đi phải có nói lại, đúng
ra trong văn học cổ kim đông tây cũng vậy mà ở Việt Nam cũng vậy, số người lấy
chính đời mình ra làm tài liệu, và viết ngay về những người quanh mình, số đó
đâu có ít. Trước Nam Cao, Khái Hưng đã viết Thanh Đức do kinh nghiệm
có từ cái gia đình lớn mà ông từng sống. Thạch Lam cũng mang những kỷ niệm hồi
nhỏ sống ở Cẩm Giàng hoặc Tân Đệ để viết Hai đứa trẻ và Tình
xưa, cũng như Nguyên Hồng có Những ngày thơ ấu và Hồ Dzếnh
có Chân trời cũ. So với các nhà văn ấy, ở Nam Cao chỉ có một chỗ khác
rõ rệt là ông khai thác mình và cuộc sống quanh mình vừa thường xuyên hơn, vừa
triệt để hơn. Trước sau trong nghề, ông chỉ dùng có duy nhất cái “ngón võ” ấy,
mà không thử xoay sang vận dụng những “chiêu thức” khác. Cho nên bảo tên tuổi
ông gắn với nó, tưởng cũng không phải là quá.
ở một mức độ tương tự, còn một
đặc điểm nữa trong lối hành nghề của Nam Cao nó cũng là một đóng góp của ông
cho nghề văn, đấy là cái cách Nam Cao cho mình xuất hiện trong tác phẩm.
Xin bắt đầu từ một thiên
truyện đã trở thành cổ điển ở Nam Cao, là truyện Lão Hạc. Nhân vật
chính của truyện là một ông lão già nua và tự trọng, tự tìm lấy cái chết để khỏi
ăn vào đồng vốn của con cái. Nhưng tự tử bằng cách nào bây giờ? Lão đi xin một
ít bả chó, và để tránh người ta hỏi han lôi thôi, lão bảo có con chó nào cứ đến
vườn lão, lão định cho nó xơi một bữa, đánh được sẽ làm chầu rượu. Nghe có lý
quá! Nhiều người tin, cả tác giả cũng phải tin. Và con người hoài nghi nơi Nam
Cao nổi dậy, ông tự nhủ hóa ra cuộc đời giờ đây buồn quá rồi, không còn ai đáng
kính đáng trọng nữa. Ông chỉ vỡ nhẽ khi tận mắt chứng kiến lão Hạc vật vã trước
khi chết. Về một phương diện nào đó mà xét, cái chết ấy gỡ cho tác giả tránh khỏi
một cách nghĩ lầm lạc.
Cũng như nhiều truyện ngắn
khác của Nam Cao, Lão Hạc mang những ý tưởng nhân bản sâu sắc khiến
nhiều thế hệ các nhà phê bình còn đến khai thác, mà vẫn chưa hết. ở đây, chúng
ta chỉ nói đến nó trên phương diện nghề nghiệp. Trong sáng tác của mình, nhiều
nhà văn Việt Nam trước đây, từ Khái Hưng đến Vũ Trọng Phụng, từ Nhất Linh đến
Nguyễn Công Hoan đều hiện ra với một đặc điểm chung: bao giờ họ cũng đứng cao
hơn nhân vật mà họ miêu tả. Nhà văn mà lại không hiểu về nhân vật này, dự đoán
sai về nhân vật kia ư? Làm gì có chuyện kỳ cục như vậy. Mà có đoán sai thì người
ta cũng… để bụng, chứ hơi đâu “lạy ông tôi ở bụi này”? Nhưng với Nam Cao thì khác.
Từ những Trăng sáng, Đời thừa cho tới Trẻ con không được ăn thịt
chó, Mua nhà, Bài học quét nhà… rồi ở rừng, rồi Đôi mắt, hình
ảnh nhà văn hiện ra trong tác phẩm không mấy khi cao đẹp, trọn vẹn, nếu không
muốn nói rằng, ông cũng có những phút hèn yếu tầm thường như bất cứ ai. Và truyện
của ông, không ít trường hợp được xây dựng trên cơ sở một sự phản tỉnh, tức là
lúc đầu ông tưởng mọi việc là như thế này, về sau hóa ra thế khác. Một quan niệm
như thế về người viết văn, xem ra là một quan niệm dân chủ và chỉ trong xã hội
hiện đại người ta mới bắt gặp. Khi tự bảo rằng mình không thánh tướng gì hết mà
cũng đang trong quá trình tìm tòi, quá trình tự hoàn thiện như mọi người, thật
ra nhà văn không bị hạ giá như có người lầm tưởng. Mà hình ảnh người cầm bút lúc
ấy lại có chút gì đó gần gũi hơn với người đọc. Những kết luận mà nhà văn đi tới
như có sức thuyết phục hơn. Và trước tiên ngòi bút ấy có một không gian thực sự
rộng rãi để lui tới.
Phỏng vấn tác giả Chí
Phèo
Năm 1941, kiệt tác Chí
Phèo của Nam Cao (dưới cái tên Đôi lứa xứng đôi) được in ra ở Hà
Nội. Từ ấy, cái tên Chí Phèo, sánh ngang với những Hoạn Thư, Sở Khanh trước
kia, những Xuân tóc đỏ, ông Típ-phờ-nờ… đương thời, trở thành một điển hình bất
tử trong lịch sử văn học.
Vào dịp anh Chí đến tuổi
“ngũ thập tri thiên mệnh”, giá Nam Cao còn sống, chắc các nhà báo đến phỏng vấn
ông dài dài.
Nhưng Nam Cao cũng đã mất từ
tháng 11-1951, và cuộc phỏng vấn mà bạn đọc chờ đợi đó, chỉ có thể diễn ra
trong tưởng tượng.
- Căn cứ vào bản lý lịch ông
khai ở Hội Nhà văn, nhiều sách vở nói ông sinh 1917. Nhưng một vài nhà nghiên cứu
đến gặp gia đình lại bảo thật ra ông sinh 1915, tuổi Mão. Ông nghĩ sao về chuyện
này?
Một đồng hương của tôi là
Nguyễn Bính sinh vào ngày nào năm 1919 không ai biết. Cô Xuân Quỳnh mới chết, lý
lịch ghi sinh năm 1942, cũng chưa chắc đã đúng. Khối cây bút đang sống sờ sờ,
tuổi khai bát nháo chi khươn, mà có ai bắt tội? Người Việt ta xưa nay vẫn thế,
đâu phải chỉ nhà văn. Song các cuốn sách có ghi năm xuất bản, nghĩa là các nhân
vật của chúng tôi có lý lịch chính xác, thế là được rồi.
- Hẳn ông cũng biết Chí Phèo
sống, sống dai dẳng hơn bao con người có thật khác?
- Thì người sống các anh chả
hay bảo nhau rằng phải có một tí A.Q, một tí Chí Phèo trong người mới sống được
là gì? Bao đứa con bất trị cũng như bao nhân viên ngang bướng vẫn thường được gọi
là Chí Phèo. Xét kỹ, thật nhiều khi oan cho anh Chí của tôi quá.
- Niềm vui của một nhà văn
là được hậu thế nhắc nhở nhiều…
- Nhưng nỗi buồn cũng là ở đấy.
Người ta còn hay tìm anh để đọc. Tức là người ta thấy cuộc sống vẫn y nguyên
như anh đã miêu tả. Thử hỏi còn hay hớm cái nỗi gì?
- Nét chủ yếu trong tính
cách Chí Phèo?
- Hành động mù quáng mà
lương tâm sáng suốt, lương tâm còn sáng suốt.
- Nghĩa là trong đó có những
đốm sáng, những điểm khả thủ?
- Đúng thế. Điều tôi sợ nhất
ở con người là ngược lại. Lương tâm chết hẳn. Mà tính toán lại chi ly, kỹ lưỡng.
Rồi thông minh, rồi sắc sảo. Tóm lại vẫn phải gọi là sáng suốt, nhưng là sáng
suốt trong việc làm bậy, giành giật của người khác. Để tồn tại, họ bất chấp đạo
lý. Không cần biết thế nào là lẽ phải. Không hối hận mà cũng không xấu hổ bao
giờ.
- Điều ông cầu mong cho con
người tương lai?
- Có những nhà văn nói
rõ thói xấu của họ. Với một cái nhìn thông cảm, cố nhiên.
- Như ông đã nói về người
đương thời, qua Chí Phèo, giáo Thứ và nhiều nhân vật khác?
- Phải, như thế xem ra có
ích hơn là cứ xoa dịu, vuốt ve nhau, rồi mặc cho bọn xấu tha hồ hoành hành
trong bóng tối.
- Điều kỳ quặc trong số phận
của một nhà văn như ông hồi viết Chí Phèo, Sống mòn?
- Chúng tôi phải viết trong
khi cũng túng đói, khổ sở, bất lực như chính các nhân vật của mình vậy.
- Và đây là lý do khiến ông
toàn viết về những người trong gia đình với hàng xóm làng giềng chung quanh?
- Một nhà văn không biết
kỹ về mình, về những người quanh mình thì còn biết được gì khác nữa!
- Kinh nghiệm tồn tại của
ông trong văn học?
- Giữa sự đánh giá của người
đương thời và giá trị thực của nhà văn thường khi có một khoảng cách. Phải dũng
cảm là mình. Phải tập sống đơn độc dù đôi khi, đơn độc nghĩa là thiệt thòi.
- Câu hỏi cuối cùng: điều gì
khiến cho một nhà văn sắc sảo như ông sau khi chết vẫn nhắm mắt chưa yên?
- Nói đùa một chút cho vui:
là bị một nhà phê bình nhạt nhẽo đeo đẳng rồi độc chiếm và biến mình thành ra của
riêng của anh ta. Nhưng trên đời này có ai tự nhận là nhạt nhẽo đâu. Nên nói vậy
chứ nói nữa, họ cũng chẳng động lòng. Thôi, đành tự an ủi, chắc trời bắt tội,
thì mình phải chịu.
- Thế còn nói nghiêm chỉnh?
- ở dưới suối vàng này,
tôi cùng với các bác Ngô Tất Tố, Khái Hưng, Thạch Lam… thường vẫn bàn với nhau:
dạo này trên trần các vị viết ẩu quá, câu cú tùy tiện, chữ nghĩa lung tung hết
cả lên. Có nhà văn thuộc thế hệ tôi còn sống, cậy tài cho là mình có quyền bịa
ra chữ, đặt ra ngữ pháp, viết phứa phựa không còn ra làm sao. Tiếng Việt cứ bị
làm hỏng như thế, thử hỏi chúng tôi nhắm mắt sao yên?!
Tô Hoài
Vài nét tiểu sử
Tô Hoài, sinh 1920, bắt đầu viết từ 1940 đã có hơn 150 đầu sách, trong đó có các tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Truyện Tây Bắc (1955), Cát bụi, chân ai (1991).ài
Vài nét tiểu sử
Tô Hoài, sinh 1920, bắt đầu viết từ 1940 đã có hơn 150 đầu sách, trong đó có các tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Truyện Tây Bắc (1955), Cát bụi, chân ai (1991).ài
Cuộc phiêu lưu giữa trần ai
cát bụi
Với nhiều truyện ngắn đăng ở Hà
Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan hoặc Mê gái đăng ở tờ Chủ nhật của
nhóm Tự Lực văn đoàn, có thể coi Tô Hoài chính thức có mặt trên văn đàn từ
1940. Vừa vào nghề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề – một sự kéo dài đàng hoàng chứ
không phải lê lết trong tẻ nhạt – đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông
miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận.
Năm và năm mươi ít ra 55 năm liên tục làm
nghề của Tô Hoài, người ta có thể nhận ra hai giai đoạn.
Một là 5 năm lập nghiệp đầu
tiên, từ những ngày bơ vơ không biết làm gì cứ viết liều và gửi ào đi các báo rồi
bắt đầu nhận được những đồng nhuận bút đầu tiên… tới những ngày được các ông chủ
hợp đồng đặt hàng, viết đến đâu bán hết đến đấy, nên có đồng ra đồng vào đủ sống
và “giang hồ vặt”, dông dài với những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
Hai là 50 năm gần đây, khi
giữ chân phóng viên ở Nam Trung bộ, khi cùng với Xuân Thủy, Nam Cao, Trần Đình
Thọ lo làm báo Cứu quốc dưới chân núi Phia Boóc (Hoa Sơn), khi được
kéo về phụ trách nhiều mặt công tác khác nhau ở Hội Văn nghệ, rồi Hội Nhà văn
Việt Nam. Nếu chỉ tính 5 năm trước đã bao nhiêu trầm luân chìm nổi thì sang cái
thời gian 5 năm mười lần hơn lên về sau, vui buồn sướng khổ nguồn cơn còn kể đến
đâu là cùng!
Hãy thử nhớ lại những khó
khăn khúc mắc như thế nào đã đến với những kiện tướng của nền văn học cũ như
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ… khi xử lý đề tài mới, nhân vật mới, người
ta mới thấy những thành tựu của những người trẻ hơn Tô Hoài, Chế Lan Viên, Tế
Hanh… là tự nhiên, nhưng cũng thật là đáng quý. Riêng Tô Hoài thì gần như không
bao giờ im lặng quá lâu, mà thời nào cũng có tác phẩm được nhắc nhở. Điều gì đã
xảy ra ở đây? Phải nhận Tô Hoài có sự thích ứng cao, có sự bền bỉ dẻo dai, rất
tự nhiên, mà không phải ai cũng có.
Cuộc sống quanh mình
Nhớ lại những ngày mới tập
viết, Tô Hoài kể: lúc ấy đọc sách Nhất Linh, Khái Hưng viết thì cũng thích lắm,
nhưng tự xét mình không thuộc cuộc sống như họ, nên không thể viết như họ.
Cách nói ý nhị, tưởng như một
lời tự thú khiêm tốn về sự bất lực của mình. Nhưng thật ra ở đó, ngầm chứa một
thứ tuyên ngôn nghệ thuật: ngòi bút này dựa trên sự quan sát thực tế chung
quanh và sống đến đâu, viết đến đó, viết ngay về những gì từng biết từng trải
quanh mình.
Có thể bảo một thứ tuyên
ngôn như thế quá thông thường, không đủ làm ai giật mình, mà lại cũ nữa. Nhưng
nó thích hợp với cá tính Tô Hoài, thói quen ham nghe ham biết, hóm hỉnh hiền
lành của Tô Hoài lúc ấy, cũng như những chăm chỉ dùi mài nghề nghiệp những năm
về sau. Cuộc sống vốn không chỉ có cái phần dồn dập sôi nổi bên trên mà còn có
cái phần chậm chạp từ tốn, đôi khi uể oải ngưng trệ, song thật ra là những chuyển
động chắc chắn, ở tận đáy sâu.
Được khích lệ bởi không khí
thời đại, một số người chọn lối viết “đặt vấn đề” dồn hết tâm lực vào việc nắm
bắt những cuộc đấu tranh tư tưởng, và quả thật có mang lại cho các trang sách một
sinh khí mới. Không phải là Tô Hoài đứng ngoài chuyện đó, ông có biết và đã để
tâm đưa vào sáng tác cái không khí sôi sục của đời sống. Nhưng ông vẫn thấy tạng
của mình là viết về cái mạch ẩn chìm kia hơn và lặng lẽ làm cuộc phiêu lưu đơn
độc. Có một hồi ngòi bút Tô Hoài đã hứng chịu nhiều chê bai, nào là chỉ thích
ngắm nhìn, nào là chỉ giỏi phong tục… Nhưng thời gian lại có sự sàng lọc riêng
của nó, gần đây một số cuốn tiểu thuyết, nhiều truyện ngắn đậm chất phong tục của
tác giả, đã được in lại, âu cũng là bằng chứng về sự công bằng của bạn đọc. Một
người khá thâm trầm là Tế Hanh có lần nhận xét “Đọc tập Truyện Tây Bắc, trong
khi nhiều người chỉ nhớ Vợ chồng A Phủ thì tôi (tức Tế Hanh) lại rất
thích Mường Giơn”. Không rõ liệu có nhiều người cùng chia sẻ nhận xét
trên với Tế Hanh, song nếu có, cũng không có gì là lạ. Trong khi Vợ chồng
A Phủ nói được cái sự thực lớn lao rằng thời đại ta, là thời đại của những
sự quật khởi, những sự đổi đời, thì Mường Giơn lại là câu chuyện mà
hình như thời nào cũng có, bởi thời nào mà cuộc sống chẳng bao gồm đủ cả những
nồng nàn sôi nổi lẫn những cay đắng mất mát, và khi nghĩ lại về nó, nhất là về
một cái gì sẽ tàn phai mà không sao cứu vãn nổi, bao giờ trong con người chẳng
thoáng qua một cảm giác buồn buồn man mác.
Sáng tác không phải tất cả
So với các cây bút đương thời,
Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu viết đến
đấy. Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày. Ông lại có nhiều
kinh nghiệm tổ chức công việc, nhờ thế, mọi khâu vận hành nhịp nhàng mà con người
vẫn thoải mái có chơi có nghỉ như mọi người khác.
Nhưng đừng thấy thế mà bảo với
nhà văn này, sáng tác là tất cả. Một nét đặc biệt cũng thấy rõ trong cuộc đời
viết văn của Tô Hoài là ngoài nghề viết, ở ông luôn luôn có một cuộc sống khác,
cuộc sống của người cán bộ chính trị hoặc nhìn rộng ra, cuộc sống nhà hoạt động
xã hội. Trong 5 năm mới vào nghề, ông vẫn tiếp tục sinh hoạt trong các tổ chức
cách mạng ở quê nhà như thời còn làm anh thợ cửi, đồng thời có chân trong khối Văn
hóa cứu quốc mới được thành lập. Từ sau 1945, ngoài làm báo, làm xuất bản
hoặc làm công tác đối ngoại, ông còn tham gia sinh hoạt tổ dân phố, các hoạt động
của mặt trận, của tổ chức người già… nói chung là trăm thứ bà rằn linh tinh
khác. Phải chăng đó chỉ là một động tác nghề nghiệp, nghĩa là làm thế để hiểu đời
hiểu việc, có thêm tài liệu ngồi viết? Không hẳn! Đằng sau cái sự Tô Hoài việc
gì cũng nhận, đâu cũng có mặt…còn bao hàm một nhận thức sâu xa hơn. Gần nửa thế
kỷ sống trong chiến tranh, mảnh đất này lấy đâu ra chỗ cho những hoạt động văn
chương thuần túy? ở nước nào kia, còn có thể có hạng nghệ sĩ thu mình lại trong tháp
ngà, ở ta, cái bàn viết của nhà văn nằm giữa cuộc đời. Sở dĩ Tô Hoài thành
ra Tô Hoài như ngày nay mọi người nhìn nhận– với tất cả cái hay cái dở của một
ngòi bút năng động– cũng là do một phương hướng sống đúng đắn mà ông theo đuổi,
ngay từ khi còn rất trẻ.
Một cuộc đời dài dặc
Chỉ một ít dịp cùng đi công
tác với Tô Hoài song tôi đã được nghe, được chứng kiến không biết bao lần bạn đọc
nồng nhiệt đón chào ông. Tiếng reo hân hoan cất lên. Cái nhìn sững ra, tưởng
không còn tin ở mắt mình nữa – bao giờ thì những người mê văn chương chả nhìn
tác giả mà mình ngưỡng mộ bằng con mắt ngạc nhiên như vậy! Phần ông, Tô Hoài
đáp lại thịnh tình của mọi người theo một cái cách hầu như đã thành quy tắc:
trân trọng mà bình thản. Cho đến lần ấy, ở cửa sân bay Nội Bài, lại thêm tiếng
reo một cô gái trẻ.
- A, bác Tô Hoài! Bác viết Dế
mèn phiêu lưu ký đây mà! Hồi đi học cháu đã được đọc của bác.
Tưởng cũng như mọi lần khác,
Tô Hoài chỉ mủm mỉm cười đáp lễ rồi cho qua. Không ngờ lần ấy, đi được một
quãng, một ý nghĩ bất thần chợt đến trong đầu, ông ghé vào tai nói nhỏ với bọn
tôi:
- Không phải nó đọc mà là bố
mẹ nó đọc, ông bà nó đọc ấy chứ!
Đến lượt chúng tôi sững sờ,
không tin ở tai mình nữa, nhưng rồi nhanh chóng ai nấy hiểu ra mọi chuyện:
không, cùng đi với chúng tôi không phải là một người bình thường mà là người đồng
hành của hơn nửa thế kỷ văn học vừa qua, người đã mang lại vui buồn cho bao thế
hệ bạn đọc. Tô Hoài, đó là văn chương tiền chiến, Tô Hoài, đó lại là đồng tác
giả một đời sống văn học 50 năm sau cách mạng với hai cuộc chiến tranh và bao
nhiêu thăng trầm thay đổi. Chỉ riêng cái việc người ta tồn tại được, ở giữa cái
dòng đời cuồn cuộn sôi nổi này, đã là một chuyện đáng tự hào lắm!
Muôn mặt nghề văn
Trong hoàn cảnh nghề viết
văn ở ta còn mang nhiều tính cách nghiệp dư, tự phát, Tô Hoài có lẽ là một
trong số ít ỏi các cây bút đã sống với nghề bằng tất cả sự chăm chút, sự tận tụy
của một người làm nghề chuyên nghiệp.
Nhớ ngày nào liễu mới ngâm
Le te bên vũng độ tầm ngang
vai
Chợt đâu bóng cả cành dài
Mấy câu thơ đó, trích
trong Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, do Tô Hoài phát hiện. Trong cuốn Một
số kinh nghiệm viết văn của tôi (1960) khi kể lại kinh nghiệm tìm chữ, học
chữ của mình, ông đã đưa ra để giảng giải về vẻ đẹp và sự giàu có của tiếng Việt.
Tô Hoài là thế: trong số các
nhà văn Việt Nam hiện đại, ít ai như ông, lúc này còn thường nói tới truyện nôm
thế kỷ XVII-XVIII. Vả chăng, câu chuyện không phải chỉ là chữ nghĩa. Trong nhiều
thiên truyện viết hồi tiền chiến, Tô Hoài không giấu giếm một sự thật là trước
khi viết, ông đã nghiền ngẫm rất kỹ những Kiều, Nhị độ mai, Phan Trần… Và
người ta có cảm tưởng việc anh thợ cửi 20 tuổi ở làng Nghĩa Đô này viết văn chẳng
qua cũng chỉ là tiếp tục công việc của bao nhiêu chàng trai thợ cửi tài hoa
khác, như anh chàng Hời trong Quê người thường tập Kiều, lẩy Kiều để
làm duyên với những cô Mơ, cô Hẹn, cô Lụa trong làng. Văn chương nảy nở tự
nhiên như thể nó bắt rễ ngay vào cuộc sống, ở đâu có con người với những vui buồn
ao ước thiết tha chìm nổi của mình, ở đó có văn chương.
Nỗi ham đi, ham biết là một
bản tính bền vững ở Tô Hoài. Trong các tài liệu hướng dẫn công việc các nhà văn
trẻ, tác giả Dế mèn phiêu lưu ký vẫn được nêu gương như một nhà văn
thường xuyên lăn lộn với thực tế.
Nhưng trong bước chuyển từ
cái nền của năng khiếu tự phát sang hoạt động đa dạng của một nhà văn hiện đại,
còn nhiều việc khác phải làm, và thực tế đã được Tô Hoài làm một cách tự nhiên
“ngon lành”. Một loại phiêu lưu đã diễn ra thường xuyên: phiêu lưu trong sách vở.
Đến với Vũ Ngọc Phan để nhờ hướng dẫn cách xin thẻ thư viện, Tô Hoài đã được
làm quen với tủ sách của Vũ gia trang. Nhớ tới Vũ Bằng, là nhớ tới cuốn sách đã
được nhà văn này cho mượn và chuyền tay đọc suốt mấy đêm, cuốnPhố Mèo câu
cá của J. Foldes, nhà văn Hungari. Biết rằng những ngày này ở tuổi bảy
mươi, Tô Hoài còn rất thích Alberto Moravia và thường vẫn được một người bạn ở
Paris gửi tiểu thuyết của nhà văn này về tặng, người ta sẽ không ngạc nhiên với
việc Tô Hoài kể là hồi nào vừa viết Dế mèn… Quê người, vừa kỳ cạch tập
dịch Maupassant từ tiếng Pháp để học thêm, cũng như sách tiếng Việt thượng vàng
hạ cám gì ông cũng đọc và ngán mấy cũng không bỏ dở. Tô Hoài cắt nghĩa: đơn giản,
đó là thói quen của người tự học. Nhưng ở cái nghề kỳ lạ này, có ai không phải
thường xuyên và miệt mài tự học, nếu muốn là người tự trọng?!
Nhà thơ Tế Hanh nói trong buổi
họp mặt mừng Tô Hoài 70 tuổi:
- Có những người như Picasso
sinh ra để vẽ. ở một mức độ nào đó, cũng có thể nói Tô Hoài sinh ra để viết. Cứ
có cái bút và tập giấy trong tay là Tô Hoài phải viết.
Tiếp lời Tế Hanh, có thể nói
tới mấy khía cạnh khác làm nên tính cách chuyên nghiệp của ngòi bút Tô Hoài:
- Viết tiểu thuyết, viết
truyện ngắn, viết báo, viết tin và bình luận văn học, từ A đến Z. Việc gì cũng
làm.
- Tận dụng cái hướng đã mở,
thường có ý thức tạo nên những “khu vực thâm canh” của ngòi bút: viết về ngoại
thành, viết về thiếu nhi, viết về loài vật, viết về miền núi.
- Khi cần, ngòi bút ấy có thể
“guồng” rất nhanh, một tối xong một truyện ngắn. Nói chung đã định viết là viết
được.
- Tuy nhiên cũng hơn ai hết,
đấy là người thấu hiểu cả những đen bạc, những thách thức của nghề, và sẵn sàng
chấp nhận chúng. Mới đây thôi, trong Hội nghị những người viết văn trẻ 4-1994,
có một câu chuyện Tô Hoài kể làm anh em tham dự hội nghị thấy ông, một nhà văn
lão thành, vẫn rất gần gũi với chính mình. Đó là câu chuyện chung quanh một vài
bản thảo của Tô Hoài mới viết gần đây: Truyện ngắn này quăng đi quăng lại trên
bàn biên tập mấy tờ báo mà chưa được đăng; chùm bài điểm sách kia bị trả lại,
thôi thì đành tự nhủ là mình vô duyên với báo; và cuốn tiểu thuyết kia nữa, viết
ra đã mấy năm vẫn xếp xó, nhà xuất bản bảo còn phải chờ, có cơ hội thuận tiện mới
tung ra được…
Những nóng lạnh như vậy,
ai người làm nghề đều có trải qua, và Tô Hoài không phải là một ngoại lệ, con
người ở tuổi thất thập cổ lai hi ấy đôi khi cũng chẳng được ưu tiên
chút gì. Song chính ra điều đó lại làm cho ông càng trở nên khôn ngoan, thành
thạo, và trang viết của ông vẫn gần gũi với cuộc đời này, cái cuộc đời vất vả
nhưng nếu biết sống, nhẩn nha thanh thản mà sống, thì vẫn là đầy hấp dẫn. Nó
không cho ai hơn mà cũng chẳng bớt phần của ai cả!
Trong các tự truyện, Tô Hoài
đã thường nói tới cái cảm giác lớn nhất chi phối ông lúc vào nghề: trước tiên,
đó là công việc để duy trì sự sống. Từ góc độ một thanh niên đang lay lắt kiếm
sống, ông thấy việc viết lách của mình lúc ấy chẳng khác việc đi giữ chân bán
hàng cho hãng Bata, nghĩa là cũng phải nghiêm túc cần mẫn thì mới sống nổi.
Cái nhìn ấy còn theo đuổi
ông mãi trong nhiều năm về sau.
Nhưng nếu văn chương chỉ có
chuyện bán bản thảo và nhận tiền thì còn gì buồn hơn! Đến “ông lớn” một thời
như Lê Văn Trương có lúc còn thấy nó vô nghĩa nữa là bao nhiêu kẻ mặt trắng thư
sinh khác! May thay với Tô Hoài, và qua Tô Hoài, chúng ta thấy: bên cạnh đồng
tiền, nghề văn còn có một cái gì khác, sương khói mông lung mà vẫn là một nguồn
sức mạnh vô hình mang lại cho người ta niềm tin và nghị lực. Cũng giống như chú
Dế mèn rời xa tổ ấm để chu du thiên hạ, con người này đã đến với nghề văn để được
nhìn rộng ra hơn cái làng của mình. Được lang thang chơi bời mà cũng là được thấm
thía bao nhiêu bài học nghề nghiệp trong những chuyến giang hồ vặt. Được thuận
chân miên man đi tận Huế, tận lục tỉnh Sài Gòn, để rồi lại trở về, nằm khàn
nghe những lời tâm sự của ông bạn nghèo Nam Cao. Văn chương chẳng là gì cả,
nhưng nó đủ sức mang lại cho kiếp người tẻ nhạt một chút ý nghĩa và trước sau,
nếu biết để cả tâm hồn mình vào, thì đấy vẫn là một nghề giúp đời, một nghề
lương thiện! Chẳng những thế, ở lớp người như Tô Hoài không chừng văn chương
còn khiến người ta vững lòng trong những khốn khó để chân cứng đá mềm mà sống
tiếp nữa. Thử tưởng tượng mấy năm 1947-1948, một lớp thanh niên– người trẻ nhất
mới 25, 27; người cứng tuổi hơn một chút mới trên ba mươi– như Nguyễn Tuân,
Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi…,theo tiếng gọi của cách
mạng, kéo nhau lên tận Tây Bắc, Việt Bắc để họp hành, thảo luận, làm thơ, viết
báo phục vụ cho cuộc kháng chiến thần thánh. Biết đâu trong những lý do khiến
trí họ sáng lòng họ bền, chả có văn chương? Với thói quen sống, quan sát, ghi
chép đều đặn, Tô Hoài đã vừa công tác vừa tìm hiểu quan sát cuộc sống giản dị của
những bản Dao ở Bắc Cạn, của đồng bào Thái, Mường ở Nghĩa Lộ, ở Văn Yên… Và thế
là lúc nào đó những Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn, Cứu đất cứu mường… lại
được viết ra, vừa mang đến cho mọi người trang sách bổ ích, vừa giúp cho tác giả
những đầm ấm tin yêu. Trong trường hợp như thế, nghề văn đã là cả nguồn sống của
một đời người và đây có lẽ là thứ ân sủng nghề nghiệp mà chỉ những ai hết lòng
với nó mới được tận hưởng.
Một cách sống trong tuổi già
Cho đến những năm ngoài 70
tuổi, Tô Hoài vẫn giữ nhiều trọng trách bên Hội Văn nghệ Hà Nội trong đó có việc
làm báo. Có người thắc mắc, đến tuổi nên về hưu, nhường chỗ cho người khác thì
phải. Nhưng có đến mấy lần, ông đã sắp sửa thôi thì lại có việc phải tạm cáng
đáng. Xưa nay, ông vẫn vừa lo công tác vừa viết đều đều ra thành được chấp thuận
lại làm, ai nói thế nào cũng không để ý.
Nhưng bây giờ thì Tô Hoài về
hưu thật rồi. Hôm qua, còn ở Đoàn Nhữ Hài, đi bộ vài bước là đến cơ quan của Hội
Nhà Văn, hoặc có lên Hội Văn nghệ Hà Nội cũng không xa là bao. Nay ông sinh hoạt
tổ hưu tận trên Nghĩa Tân, đúng là một chỗ khuất nẻo. Thỉnh thoảng gặp lại, nhận
ra nơi ông khuôn mặt của một người già thực sự, da nhiều chỗ mồi, đuôi mắt nhăn
nheo, con mắt lờ đờ hơn xưa, chúng tôi bảo nhau thế là tuổi tác đã thắng, dù
người ta có là Tô Hoài đi nữa, thì cũng phải già, và sở dĩ ông làm cho người ta
chưa quên ngay được chỉ là vì có cách sống riêng trong tuổi già của mình.
Một hai năm gần đây, gặp cô
Sông Thao, tôi thường nghe cô kể:
- Bố em vẫn cứ thích ngồi
vào bàn cả ngày. Chỉ thỉnh thoảng đứng lên, vặn lưng vài cái, rồi lại hí hoáy
viết như thường.
Làm chứng cho nhận xét ấy của
cô con gái, là vô số những bài báo mà Tô Hoài vẫn viết, là những quyển sách được
bày bán đều đều ở các hiệu sách, trong đó không chỉ có những cuốn in lại, mà
còn cả nhiều cuốn mới viết. Và đây, một chuyện vặt: Có lần, nhân đọc một tiểu
thuyết của nhà văn X., Tô Hoài có viết một bài điểm sách ngắn cho báo Người
Hà Nội, độ trên ngàn chữ. Bây giờ thì báo ra nhiều quá, chả ai đọc xuể,
nên X. không biết, đến lúc được Tô Hoài báo là có viết thì đã quá muộn, tìm
không ra số báo cũ, liền gọi điện than thở. Mấy hôm sau X., nhận được một lá
thư. Phong bì là thứ đã dùng, nay lộn trái, dùng một lần nữa. Và bên trong là
bài điểm sách nọ, được Tô Hoài chép lại bằng thứ chữ đều đều vốn có. Nghe chuyện
hẳn đám thanh niên lắc đầu, các bố già lắm thời gian rỗi thật, không
đi photo mà còn ngồi chép lại bài tặng nhau nữa, rõ thật tội! Nhưng
những người có quen riêng tác giả Dế mèn…. đều thừa biết rằng không
phải về già, những sự tỉ mỉ như thế mới đến với Tô Hoài. Mà từ trẻ, ông đã là
người tảo tần làm ăn, thượng vàng hạ cám thấy việc gì cần đều đứng ra làm,
không để chân tay rỗi rãi bao giờ.
Có thể nói, ở phương diện
làm nghề, nhà văn này già từ rất sớm, và bây giờ không thể già hơn được nữa.
Muốn xem xem tuổi già đã
mang lại cho ông cái gì mới, và ông đã chung sống với nó như thế nào, người ta
phải tìm ở chỗ khác.
Năm 1987, Nguyễn Tuân qua đời
thì năm sau, Tô Hoài nói với tôi, lúc đó đang làm xuất bản bên Moskva:
- Mình cũng muốn viết về cụ
Tuân nhưng không phải theo lối kính bút người ta vẫn viết. Mà chỉ muốn
nói về ông, vốn như ông ấy vẫn sống.
Qua năm 1992, cuốn sách về
Nguyễn Tuân (mà cũng là về chính Tô Hoài) ra đời trong sự chào đón của cả người
trong nghề lẫn đông đảo bạn đọc. Từ nay nếu cần kể thật ngắn gọn về nhà văn mà
họ yêu thích, họ sẽ bảo ông không chỉ có Dế mèn phiêu lưu ký mà còn
có Cát bụi, chân ai.
Có thể nói Cát bụi,
chân ai đã phát hiện ra một Tô Hoài mới: Tô Hoài của hồi ký. Thoạt nghe tưởng
đó là một việc dễ ợt, hễ ai sống nhiều mà chịu khó ngồi viết một tí, làm gì chẳng
ra được một cuốn “nhớ lại và suy nghĩ” tàm tạm đọc được. Nhưng có vào cuộc mới
thấy công việc hóc hơn nhiều. Cả Nguyễn Tuân lẫn Xuân Diệu, hai ông kễnh đó
trong giới, những năm cuối đời, người nào cũng để tâm chăm lo tới vị trí của
mình trong lịch sử văn học, nhưng có người nào viết được hồi ký? Lý do thật đơn
giản: Viết hồi ký để tự ca công tụng đức khoe tài, khoe giỏi chẳng nói làm gì.
Chứ viết hồi ký theo đúng nghĩa của nó phiền phức lắm. Nói như Aragon “tôi lật
con bài của tôi”, tôi bộc lộ cái phần lâu nay vẫn ẩn kín trong tôi cho mọi người
xem, phải giàu có mà dũng cảm lắm mới làm nổi! Nói trộm vía, một người về già
còn thích tự ngắm mình như cụ Nguyễn và một người sắp bảy mươi rồi, còn nhuộm
tóc và thích đua với thiên hạ trong việc viết nhiều viết khỏe như tác giả Thơ
thơ, làm sao viết hồi ký được?! Thế cho nên, cái việc tưởng trong tầm tay
của mọi người, lại chỉ có ít người làm đến nơi đến chốn, trong đó có Tô Hoài.
Ông viết hồi ký, không phải chỉ vì có một trí nhớ tốt, mà cái chính là từ lâu,
sẵn có những mảng ký ức chưa khai thác, tưởng như trong ông đã cùng tồn tại những
con người khác nhau, việc viết văn xưa nay mới chỉ động đến một cách nhìn một
cách nghĩ, nay còn những cách nhìn cách nghĩ khác, nên trình ra cho mọi người
cùng biết. Hồi ký như vậy, là một cách bổ sung cho những gì nhà văn đã viết. Chẳng
những Tô Hoài không “kính viết” về Nguyễn Tuân mà với một người như Vũ Bằng,
ông cũng có một thái độ tương tự. Một mặt, ông ân cần ghi ơn dìu dắt của Vũ Bằng.
Mặt khác, ông không quên chỉ ra cho mọi người thấy ở Vũ Bằng một cách sống cách
viết quậy phá, bạt tử, nó đã hủy hoại một phần khả năng và khát vọng của tác giả.
Với Nguyễn Văn Bổng, một người bạn thân, hay với Trọng Hứa, một cây bút mà bóng
dáng chỉ hiện ra thấp thoáng trong đời sống văn nghệ, Tô Hoài đều có sự công bằng
và tình nghĩa, nó khiến cho qua chân dung người được ông nói tới, bạn đọc nhận
ra được cái không khí thực trong sinh hoạt của những người làm nghề một thời.
Bên cạnh những ông già ốm yếu,
yên tâm nghỉ ngơi thì trong giới cầm bút thời nay lại thấy có người dù cao tuổi
song vẫn tỏ ra năng động lăn lộn để viết và mải miết viết, mặc dù nhìn kỹ thì
những điều họ viết chỉ là nối dài của những cái đã in ra từ trước. Tô Hoài khi
về già trẻ theo nghĩa khác. Ông làm lại một phần hình ảnh của mình trong lòng đồng
nghiệp và bạn đọc. Với những người muốn hiểu lại lịch sử văn học, ông như một
thứ từ điển, hỏi đâu biết đấy, và bao giờ cũng có ý kiến riêng.
Bởi vậy, những khi có dịp gặp
ông, tôi thường tỏ ý mong muốn Tô Hoài tiếp tục công việc của mình (trong lúc
trò chuyện, tôi vẫn thường gọi ông già 80 tuổi này bằng anh):
- Còn bao nhiêu người anh đã
gặp gỡ, người nào mà chẳng bao nhiêu kỷ niệm, xem ra anh có thể làm hẳn một bộ
chân dung những người cùng thời.
Tô Hoài chỉ thủng thẳng đáp:
- ấy, có những người cùng
làm việc cả đời, nhưng chả thấy thân thiết, xong việc là quên ngay, đến tên tuổi
mình cũng không muốn nhắc đến nữa thì viết gì?
Hình như Tô Hoài muốn lẩn,
muốn giữ cho mình những bí mật riêng? Mà lại hình như Tô Hoài nói thật? Mặc dù
có cả chục năm cùng làm việc với Tô Hoài, nhưng thú thực, tôi vẫn không dám nói
là mình biết kỹ về ông già này, thậm chí đôi khi tôi còn thoáng có ý nghĩ chính
ông cũng không biết ông là như thế nào, luôn luôn ông có thể thế này và có thể
thế khác. Song có lẽ vì thế mà ông có sức hấp dẫn lạ lùng. Chỉ một điều có thể
cầm chắc, ấy là Tô Hoài còn đang làm việc và luôn biết dành cho đồng nghiệp và
bạn đọc những bất ngờ. Một sức khỏe dẻo dai trời phú, nhất là một cách nghĩ
phóng túng, thích ứng với hoàn cảnh một cách tự nhiên, mà vẫn giữ được cho mình
những phần riêng tư - nhiều khi đó chính là một cách nghĩ tự do không chịu
khuôn hẳn theo nền nếp nào - tất cả những cái đó bảo đảm cho Tô Hoài lung linh ẩn
hiện trong đời sống văn chương và nếu như hôm nay mọi người vẫn thường nhắc đến
ông, thì điều đó trước tiên là một may mắn cho chính chúng ta.
Nguyên Hồng
Vài nét tiểu sử
Nguyên Hồng (1918-1982), tác phẩm chính: Bỉ vỏ(1936), Những ngày thơ ấu (1940), Cửa biển (1961-1976).
Cát bụi và ánh sáng
Cuộc đời Nguyên Hồng thực sự
là món quà tặng của lớp người cần
lao cho văn học Việt Nam hiện đại
Ngay từ 1945 trở về trước,
trong không khí sinh hoạt tinh thần hiu hắt của một xứ sở thuộc địa lắm người
cơ cực, văn chương Việt Nam đã không mấy khi được khai thác theo hướng đi vào
những triết lý cao siêu nhằm thỏa mãn đám người cao sang giàu có. Ai muốn tìm tới
văn hóa thuần túy, xin mời đọc sách báo tiếng Pháp. Những hy vọng người ta
trông chờ ở mấy tờ báo, mấy cuốn tiểu thuyết in bằng quốc ngữ trên giấy đen xỉn
sản xuất bấy giờ giản dị hơn nhiều. Thứ quà không mấy cầu kỳ này được ngầm quy
ước là phương tiện của người nghèo để an ủi người nghèo. Tinh thần dân chủ tự
phát hoạt động ngay trong quy trình sản xuất và thưởng thức văn chương. Một nhà
văn thật dễ được thông cảm nếu như bạn đọc biết rằng anh ta thường quan tâm tới
những cuộc đời như mình, gieo neo, vất vả.
Nơi “dưới đáy” thiêng liêng
Về phương diện ấy mà xét,
văn phẩm của Nguyên Hồng là một đáp ứng gần như trọn vẹn. Xuất hiện có phần hơi
muộn trong một giai đoạn rực rỡ của văn học Việt Nam (mà nay thường được gọi là
văn chương tiền chiến), song Nguyên Hồng thật đã tận dụng được tinh thần dân chủ
theo nghĩa trên đây vừa nói, để mang vào một thứ chất lạ trong văn học – cái chất
chắt ra từ cuộc sống của đám người mà theo cách gọi của Gorky, là dưới đáy của
xã hội. Nguyên Hồng viết gì? Ông viết về tình yêu và cuộc đời truân chuyên của
một đôi vợ chồng lưu manh trùm ăn cắp (Bỉ vỏ). Về trường hợp một gã học
trò bỏ học đi dạy tư không đủ sống, có lần nhịn ăn mấy ngày, sau đói quá, đêm
ngủ ở nhà người quen, phải lục cơm nguội, và sung sướng nhận ra vị ngọt ngào kỳ
lạ của thứ cơm nguội ấy (Ngọn lửa). Về những thèm khát nhớ nhung cuộc
sống bình thường của một con người ở tù (Cuộc sống)… Đọc Nguyên Hồng,
do thế là được sống những niềm vui trần thế ở dạng ban sơ nguyên chất. Là được
yêu gió lành, nước mắt, và ánh nắng chói chang. Là được tha thiết đắm say với
cuộc sống, được khổ vì nó, ứa nước mắt vì nó. Dù trong thâm tâm đã biết chắc rằng
thật ra mình sống chẳng sung sướng gì, song qua những trang sách hay nhất in
trong Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Miếng bánh… người ta vẫn cảm thấy được
an ủi rằng dẫu sao, cuộc sống vẫn còn những điều gì đó thiêng liêng quyến luyến,
mà ta chưa biết. Tinh thần nhẫn nhục cơ đốc giáo – một nhân tố có ảnh hưởng đến
tâm tính Nguyên Hồng ngay từ thời nhỏ – cộng với một nỗi niềm ham sống mang
tính cách dân gian đã đem lại cho nhiều trang viết rối rắm của Nguyên Hồng một
tinh thần lạc quan hồn nhiên về cuộc sống ở ngay trong những bộn bề nhếch nhác.
Trong khi cực tả những đau khổ mà các nhân vật của mình từng phải gánh chịu,
Nguyên Hồng vẫn cho thấy ở họ có một cái gì run rẩy, mà lại mạnh mẽ, rắn chắc.
Luôn luôn, họ dám là mình và chỉ trung thành với chính mình. Sau này, vào những
năm cuối đời, Nguyên Hồng sẽ dồn hết kinh nghiệm sống để viết nên Cửa biển. Cuốn
sách có tới 4 tập, mỗi tập ba bốn trăm trang gộp lại làm nên một bộ tiểu thuyết
thuộc loại dài nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. ở đây có tới hàng trăm con
người lui tới. Song dù quay cuồng trong khung cảnh Sóng gầm, của một Thời
kỳ đen tối, giữa lúc Cơn bão đã đến, các nhân vật ấy vẫn giữ
nguyên những khao khát mãnh liệt được làm người, được sống – nó là cái nhiệt
tình người ta từng chứng kiến ở các nhân vật trong Lò lửa, Địa ngục…
Người khách tự do
Hơn nửa thế kỷ trước, tức
khoảng 1938-1939. Sau khi xuất hiện chói lọi với Bỉ vỏ, Nguyên Hồng lại
cho in dần trên tuần báo Ngày nay - tờ báo văn nghệ sang trọng bậc
nhất lúc ấy – thiên tự truyện Những ngày thơ ấu. Mấy năm sau, khoảng
1942, khi viết bộ Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan kể lại
rằng “đọc tập tự truyện của Nguyên Hồng, tôi đã tưởng có dưới mắt quyển sách của
một nhà văn Anh hay nhà văn Nga”. ý Vũ Ngọc Phan muốn nói tới sự thành thực, mà
cũng là sự dũng cảm của ngòi bút tác giả Những ngày thơ ấu, trong việc
tự thú, tự bạch. Những tưởng cây bút đã viết nên những trang sách “tân kỳ”,
“táo gan” như thế, vượt lên hẳn so với thói quen của người đương thời như thế,
hẳn là một con người rất hiện đại, tiếp thu được cái học vấn sâu sắc của Âu
Tây, đặc sệt chất thượng lưu quý phái.
Nhưng không, Nguyên Hồng tồn
tại trong văn học Việt Nam như một nhà văn có cuộc sống rất gần với các nhân vật
của mình, nghĩa là cũng đủ cay đắng cơ cực, như bất cứ cuộc đời dưới đáy nào
khác.
Trong số các ý thích lặt vặt
mà bạn bè đồng nghiệp bắt gặp ở Nguyên Hồng cho đến lúc già, và thường thích nhắc
lại như một kỷ niệm vui vui, có chuyện nhà văn này rất thích bóng đá, có thể hàng
giờ đồng hồ ngồi bên chõng tre, nghe chiếc máy thu thanh cà khổ tường thuật một
trận bóng đá. Ngẫu nhiên chăng? Có thể. Nhưng nếu nhớ rằng trong Những
ngày thơ ấu,
Nguyên Hồng từng kể lúc nhỏ,
mình mê đáo ra sao, điệu nghệ trong nghề chơi đáo và đã dùng cái nghề ấy làm một
thứ cần câu cơm thế nào, thì người ta có thể nghĩ khác: hình như ông bắt gặp ở
nhiều cầu thủ bóng đá hình ảnh của chính mình. Đó là lối lập nghiệp dựa hẳn vào
năng khiếu, khả năng từ cuộc sống lam lũ, vỉa hè, góc phố… vươn tới những đỉnh
cao vinh quang, được cả xã hội nể trọng. Có điều, giữa Nguyên Hồng với những
người chân đất ấy vẫn có một chỗ khác cơ bản: ông không bao giờ trở nên giàu
có. Trước 1945, nhóm văn nghệ trưởng giả bậc nhất là Tự Lực văn
đoàn đã dang rộng cánh tay để đón nhà văn trẻ này hơn bất cứ ai. Tên tuổi
Nguyên Hồng chỉ thật sự nổi tiếng sau khi Bỉ vỏ được Tự Lực văn
đoàn trao giải thưởng. Một số truyện của ông được đăng lần đầu
trên Ngày nay kèm theo lời khen ngợi của Thạch Lam. Và trong lịch sử
tồn tại của nhà xuất bản Đời nay, số lần in sách của các nhà văn
không thuộc nhóm này chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong đó đã mấy lần dành cho
tác giả Bỉ vỏ. Nhưng chỉ có thế! Trên nét lớn khi hình dung lại đời sống
lớp lang rõ rệt của văn chương tiền chiến, người ta vẫn thấy Nguyên Hồng thuộc
hẳn về cánh Tân Dân, nghĩa là cái khối tạp nhạp gồm nhiều cây bút viết
văn viết báo như làm thuê làm mướn để kiếm sống. Từ sau 1945, hoàn cảnh có
khác, mà với Nguyên Hồng vẫn có chút gì không khác. Lúc trở thành “ông đốc Hồng”,
trông nom trường bồi dưỡng nhà văn trẻ, lúc làm báo, làm xuất bản, lại có chức
danh là chủ tịch Hội văn nghệ Hải Phòng, song tâm trí ông vẫn dành cho sáng
tác, và vẫn sống lam lũ vất vả như cũ. Từ 1957, giống như một thứ “lưu đày” tự
nguyện, ông dẫn gia đình bỏ Hà Nội lui về sống hẳn ở một xóm núi Bắc Giang. Mối
nguy hiểm đã đủ sức tiêu diệt nhiều tài năng chân đất là vinh hoa, tiền bạc…,
Nguyên Hồng hầu như không bao giờ biết tới. Trước sau, ông vẫn là tù nhân của
nghèo khó, hay nói đúng hơn, kẻ sống tự do trong nghèo khó.
Cái chết giống như cuộc sống
Một người chứng kiến cho biết,
đám tang Nguyên Hồng giống như đám tang một người cả đời làm nghề nông hơn là một
cây bút có nhiều cống hiến cho văn hóa. Sơ sài quá, thanh đạm quá! Người ta muốn
kêu lên như vậy, nhưng rồi chợt nghĩ ngay: thật ra, cái chết ấy rất giống cuộc
sống của Nguyên Hồng, nó là của ông, không thể khác.
Lại nhớ con người tác giả Bỉ
vỏ lúc sinh thời. Hình như tất cả những gì được nhắc tới trong văn Nguyên
Hồng đều đã để lại trên con người ông những dấu vết rõ rệt. Dáng người nhỏ thó.
Nét mặt trầm ngâm. Giọng nói thất thanh thỉnh thoảng lại bất chợt thảng thốt cất
lên vài câu ngớ ngẩn, vì thật ra ông thường xuyên chìm đắm trong thế giới nhân
vật của mình. Chỉ hiếm hoi lắm mới thấy trên nét mặt ông thoáng qua một nụ cười,
những lúc ấy cả con người ông chợt rạng rỡ hẳn lên, nó gợi lại cho những ai từng
đọc ông nhớ tới cái ánh nắng mà ông thường say đắm miêu tả. Với một Nguyên Hồng
như thế, đám tang ông là cuộc trở về tự nhiên “thân cát bụi lại trở về cát bụi”,
chẳng có gì phải ăn năn cả.
Tế Hanh
Vài nét tiểu sử
Tế Hanh họ Trần, sinh 1920. Tác phẩm chính Nghẹn ngào, sau đổi là Hoa niên (1945), Tiếng sóng (1960), Theo nhịp tháng ngày (1974) v.v…
Đi suốt bài ca
Sự có mặt thường xuyên của
các thi sĩ tiền chiến trong đời sống tinh thần của thế kỷ XX rõ rệt đến mức đôi
lúc người ta quên rằng họ đã bắt đầu sự nghiệp với phong trào Thơ mới từ những
năm ba mươi và nhiều người trong họ, Thế Lữ và Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Chế
Lan Viên… đã trở thành người thiên cổ. Nhưng cũng chính vì thế mỗi thi sĩ tiền
chiến còn sống là cả một pho sử quý báu.
Phát hiện cuối cùng của Tự Lực
văn đoàn.
Kim tiền của Vi Huyền Đắc
và Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Làm lẽ của Mạnh Phú Tư và Bức tranh
quê của Anh Thơ… trong một ít năm mà giải thưởng Tự Lực văn
đoàn tồn tại (từ 1935 đến 1939), những người thuộc văn đoàn đó là làm một
cuộc sàng lọc khá chính xác, khẳng định được một số tác giả, tác phẩm còn lại với
thời gian. Và một trong những dấu chấm hết của các giải đầy sức thuyết phục nó
là tập Nghẹn ngào của Tế Hanh. Sự đi lại gần gũi giữa nhà thơ quê Quảng
Ngãi này với những người như Xuân Diệu, Huy Cận vào những năm ấy đã phần nào giải
thích việc Nghẹn ngào được tặng thưởng: ông thuộc về cái dòng thơ
mà Tự Lực văn đoàn ủng hộ. Sau khi công bố giải, Nhất Linh còn viết mấy
dòng tiên tri về tác giả Nghẹn ngào như sau:
“Tế Hanh có rất nhiều hứa hẹn
trở nên một thi sĩ có tài, ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động
rất sâu sắc; và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt tìm câu chữ.
Ông chỉ còn chờ thời gian để gặp được nhiều cảnh và viết thêm được nhiều bài
thơ hay”.
Những năm gắn bó với cách mạng và kháng chiến.
Những năm gắn bó với cách mạng và kháng chiến.
Nhưng thi phẩm trình làng của
Tế Hanh – sau đổi là Hoa niên và được nhà Đời nay cho xuất
bản năm 1944 – chưa kịp đến tay tác giả thì những biến chuyển lớn lao đã đến và
Tế Hanh đã kịp nhập vào cơn lốc vĩ đại ấy.
Năm 1946, ông ra Hà Nội họp
Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất.
Trong những năm kháng chiến
chống Pháp, ông có mặt trong Đoàn văn hóa kháng chiến rồi Chi hội văn nghệ Khu
Năm. Thói quen làm thơ thường trực khiến cho Tế Hanh, ngay trong bước rẽ ngoặt
đầy khó khăn của cách mạng, vẫn viết được một tập thơ nhỏ.
Nhưng thời gian đắc ý nhất với
Tế Hanh chỉ bắt đầu khi từ Khu Năm, ông ra tập kết ở Hà Nội. Từ 1954-86, trong
khoảng hơn ba chục năm ấy ông là một trong những cây bút hàng đầu của nền thơ.
Khoảng trung bình dăm ba năm, ông lại có một tập thơ được in ra, về sau tổng cộng
(kể cả thơ viết cho thiếu nhi) đã lên tới con số gần hai chục. Năm 1987, Tuyển
tập chính thức của Tế Hanh ra đời. Tổng cộng 408 trang, cả thảy 250 bài thơ đã
được tuyển chọn.
Ngoài thơ, Tế Hanh cũng viết
tiểu luận, nhưng không được phong phú và khó lòng nói là tạo được bản sắc
riêng. Đóng góp nhiều hơn của ông là dịch thuật. Sự thực ở đây ông chỉ làm một
phần, ngoài ra nhờ người cộng tác. Được cái, Tế Hanh đã dịch ai là dịch rất
thoát. Có khi – như ở trường hợp Puskin – cả tập thơ dịch là của người khác,
nhưng bài thơ hay nhất lại là của Tế Hanh.
Trong nhiều năm, Tế Hanh có
chân trong Ban chấp hành Hội Nhà văn; ông cũng đã qua đủ thứ công việc, khi phụ
trách báo, khi làm xuất bản. Nhưng nói tới ông, người ta thường quên hết mọi chức
vụ để chỉ nhớ rằng đó là một nhà thơ.
Một dòng thơ liên tục và một
giọng điệu riêng.
Với đa số độc giả, Tế Hanh đã
được quen biết từ mấy bài thơ nhỏ mà Hoài Thanh đã chọn ra, khi làm tập Thi
Nhân Việt Nam 1932-41: Quê hương, Lời con đường quê, Vu vơ. Cái
mạch thơ còn hơi hướng học trò, nghĩa là hơi buồn buồn nhưng không đến nỗi ủ rũ
ấy, sẽ được nhà thơ đẩy lên trong những bài thơ viết hồi mới tập kết ra Bắc: Nhớ
con sông quê hương, Vườn xưa, Bài thơ tình ở Hàng Châu. Đây là mấy câu
trong bài Vườn xưa.
“Hai ta như ngày nắng tránh
ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách
trở
Như sao hôm sao mai không
cùng tỏ
Có bao giờ cùng trở lại vườn
xưa
Hai ta như sen mùa hạ, cúc
mùa thu
Như tháng mười hồng, tháng
năm nhãn
Em theo chim em bay về tháng
tám
Anh theo chim cùng với tháng
ba qua”
Không chỉ những cặp tình
nhân tìm thấy ở đấy trường hợp của mình, mà nhiều người đọc khác, bắt gặp trong
câu thơ, những vui buồn hàng ngày đã trải. Nói chung, suốt thời gian 1945 –
1975, qua việc khai thác những oái oăm ngang trái trong tình cảm nẩy sinh từ việc
đất nước bị chia cắt, Tế Hanh đã tạo nên được cả một mạch thơ buồn, nó là một
thành phần tự nhiên của tình cảm con người, tuy rằng bao giờ nó cũng mang bóng
dáng riêng tư của thời đại.
Nhưng Tế Hanh không dừng lại
ở đó. Là một nhà thơ chuyên nghiệp, ông có thơ về tất cả, về một chuyến đi nước
ngoài, gặp lại những hình ảnh xưa chỉ thấy trong văn chương, những bóng liễu,
nhân đó nghĩ về tác dụng của thơ đối với đời sống mỗi người (Chắc gì mắt
em như lá liễu – Đã cắt lòng anh một nét dao); về một việc thời sự: tên lửa
Liên Xô đưa vệ tinh lên Mặt trăng (Đi vào vũ trụ bao la - Liên
Xô anh cả của chúng ta mở đường), về những nông trường xí nghiệp mới mở
mang khai khẩn (Nông trường ta rộng mênh mông - Trăng lên trăng
lặn vẫn không ra ngoài). ấy là không kể bao nhiêu thơ khác, thơ về một tuyến
đường sắt mới khai trương, một mùa bội thu ở một hợp tác xã, về những ngày Hà Nội
sơ tán… Mấy chục năm qua đi, có thể đến nay, người ta sẽ ngạc nhiên tự hỏi: làm
sao mà những chuyện ấy thành thơ được? Nhưng đúng là cái hồi ấy, nhiều người
chúng ta đã xúc động trước những sự kiện kiểu ấy, và nhiều bài thơ tương tự như
thơ Tế Hanh, đã trở nên thức ăn tinh thần cho mọi người. Khác với những Xuân Diệu
hoặc Chế Lan Viên nói cái gì là nói đến cùng, giọng thơ Tế Hanh thường từ tốn
lưng chừng và ông lại có được sự chín riêng trong cái lưng chừng ấy. Không quá
chau chuốt, không gò thắt kỹ lưỡng, thơ Tế Hanh có sức truyền cảm riêng, do cái
vẻ hồn nhiên bột phát của nó.
Tổng kết đời mình là chuyện
nhiều người khi bước vào tuổi già, thường ao ước. Nhưng cái đáng yêu ở Tế Hanh
là ông không giấu diếm những lúng túng, những bất lực khi phải làm việc tổng kết
phiền phức ấy.
Đời tôi thực hay mộng?
Đời tôi buồn hay vui?
Và thế là ông buột ra cái kết
luận ngang ngang, giống như một thách thức
Đời tôi là cuộc sống
Đời tôi là đời tôi
Vâng, dù sướng vui đau khổ
thế nào, thì mỗi chúng ta có một số phận, số phận ấy đơn nhất độc đáo, nó là vậy
như cuộc đời này đã là vậy, và mỗi khi hồi tưởng quá khứ, lòng người ta thường
ngổn ngang trăm mối.
Những ngày buồn nghĩ lại thấy
vui vui
Những ngày vui sao bỗng thấy
bùi ngùi
Tế Hanh sống được trong lòng
một số độc giả là ở những câu thơ diễn tả tình cảm nước đôi tế nhị ấy.
Chương mười
Cuộc tìm tòi thầm lặng
Trần Dần
Trần Dần
Vài nét tiểu sử
Trần Dần sinh ngày 23-8-1926. Lớn lên ở thành phố Nam Định. Là bộ đội trong kháng chiến chống Pháp. Mất ở Hà Nội ngày 17-1-1997.
Đã cho in: Người người lớp lớp (tiểu thuyết - 1955), Nhất định thắng (Trường ca - 1956), Cổng tỉnh (Thơ – tiểu thuyết 1994).
Khi cách mạng là nhu cầu nội
tại của một thi sĩ
Dù có những sắc thái giống
nhau, song số phận của mỗi tác giả văn học đương thời, suy cho cùng, đều là một
biểu hiện độc đáo của mối quan hệ giữa tác giả đó với những thay đổi lớn lao
trong hoàn cảnh xã hội hơn nửa thế kỷ qua. Trường hợp Trần Dần cũng không ra
ngoài quy luật đó.
Đón nhận Cách mạng tháng Tám
ở tuổi 19, Trần Dần cũng như một số cây bút cùng lứa sớm nhận ra rằng mình sẽ lớn
lên cùng những biến đổi của đất nước sau mùa thu ấy. Cách mạng – như cách nói của
Maiakovsky – là của họ. Họ muốn làm tất cả cho cuộc cách mạng ấy, theo đúng
cung cách của cuộc cách mạng ấy. Bởi đó là điều từ lâu họ đã mong đợi.
Thế nhưng, làm gì bây giờ?
Thoạt đầu cách hiểu của những người thanh niên này còn có phần lý thuyết thuần
túy. Chẳng hạn, có thể dự đoán trong những năm 45-50, ý nghĩ chi phối Trần Dần
và bạn bè qui gọn lại một điểm: Tương ứng với cuộc cách mạng trong xã hội phải
có một cuộc cách mạng trong văn chương. Cách mạng chẳng nhẽ lại cho phép người
ta viết như cũ? Từ cách bố trí một dòng thơ trở đi, cũng phải thay đổi. Thứ văn
chương vuốt ve mơn trớn, thứ văn chương của những chàng nàng lại càng phải thay
đổi. Nghệ thuật phải được làm lại!
Điều đáng nói ở đây là không
chỉ thời gian 45-46 – cái năm đầu tiên hồ hởi – mà mấy năm sau, khi kháng chiến
đã bước sang những ngày gian lao nhất, giữa núi rừng Việt Bắc, những thể nghiệm
nghệ thuật vẫn là cái đích lớn để Trần Dần theo đuổi. ở tờ báo của trung đoàn
Sơn La nơi ông công tác, nhà thơ khi ấy còn trẻ đã cho in những bài thơ như khẩu
hiệu, và thơ được trình bày theo lối hình vẽ– một tìm tòi có lẽ được gợi ý từ
các trường phái hình thức chủ nghĩa bên Pháp.
Châu Mường La
đốt đuốc
TRONG
bao nhiêu hồi trống
Đêm
muôn tiếng hô
đó là đêm
Mường La khởi nghĩa
Không có đêm nào như đêm nay
12 giờ
Chúng ta
đánh Mường La.
Điều thú vị là tất cả những
thể nghiệm này “trình làng” ngay trên những tờ báo in bằng thứ giấy thủ công
thô nhám và giở mạnh tay là rách! Có sao đâu? Cách mạng cơ mà! Tinh thần Cách mạng
– đây là cách mạng trong nghệ thuật – đâu có chờ đợi những dịp thuận lợi mới bộc
lộ?
Nhưng cuộc cách mạng xã hội
đang diễn ra trên đất nước – cuộc cách mạng mà mỗi lần nói tới, Trần Dần như
còn run rẩy – cuộc cách mạng ấy chưa cần tới những thể nghiệm Trần Dần đang
tìm.
Những việc đáng được coi là
cấp bách nhất lúc này, giản dị hơn nhiều: động viên quần chúng tham gia kháng
chiến. Người ta không rõ những biến chuyển nào đã đến trong óc một nghệ sĩ đồng
thời là một cán bộ chính trị như Trần Dần vào những năm ấy. Chỉ biết là những
yêu cầu này được ông sớm chấp nhận, và ở đây nữa, ông lại vừa lo phục vụ cách mạng
một cách tận tụy, vừa loay hoay tìm ra ngôn ngữ nghệ thuật của riêng mình. Hãy
nhớ lại các tác phẩm được viết ra khi ông chưa đầy ba mươi tuổi và mỗi khi nói
lại, giờ đây, Trần Dần vẫn thấy tự hào, là Người người lớp lớp. Thiên tiểu
thuyết được “hoài thai” trên đường hành quân tới Điện Biên Phủ ấy, khác với nhiều
tiểu thuyết khác, ngay ở cái điểm xuất phát; nhân vật của nó là những con người
mà người ta phải nghĩ tới, mỗi khi nói đến cách mạng. Chỉ lạ một điều là theo lời
Trần Dần kể (bài in trong cuốn Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học
1945-1954, H, 1995) dù đó là Tô Vĩnh Diện, là anh Lục, anh Sâm… thì họ đều
là “các nhân vật vô hình”, “hiện thân của một tình cảm vô thức”, có nhân vật mượn
tên người nọ người kia ngoài đời mà hoàn toàn “do trí tưởng tượng” của tác giả
sáng tạo. Hóa ra trước sau Trần Dần vẫn là mình.
Ông không thể đi theo những
đường mòn. Ông sẵn sàng làm cái việc mà đứng ngoài nhìn, người ta có thể bảo là
điều hòa những cái tưởng không thể điều hòa nổi – miễn việc này theo ông là có
ý nghĩa cách mạng thực sự.
Dù biết rằng Trần Dần đã rất
tha thiết với những tìm tòi nói trên trong Người người lớp lớp, người
ta cũng phải dè dặt khi đánh giá tác động của nó tới đời sống nghệ thuật đương
thời. Nhiều tín hiệu tác giả phát ra, chưa có ai đón nhận. Suy rộng ra, còn có thể
bảo, giữa nhận thức của một con người mà cách mạng là một nhu cầu nội tại – người
cách mạng gốc, như bên Thiên chúa giáo, người ta bảo những người đạo gốc – với
thực tế cách mạng hình như còn có sự so le?! Nhưng đó là lối xem xét của một
người ngoài cuộc. Với Trần Dần, không có chuyện vừa đi vừa tính toán xem mình
có thuận mắt chung quanh hay không, được hoan nghênh hay bị chê bai. Thậm chí,
ông còn không buồn điều chỉnh bản thân ngay cả trong những hoàn cảnh gay cấn
hơn nhiều. Để sang một bên câu chuyện của nhóm Nhân văn và Trần Dần trong mấy
năm ấy, chỉ biết rằng, từ 1957 trở đi, dường như ông bị gạt ra khỏi sinh hoạt
bình thường của văn học cách mạng. Mặc! trong hoàn cảnh đó, ông vẫn trung thành
với chính mình, nhất là không xa rời cái ý tưởng mà mình theo đuổi từ khi còn
trẻ. Nói cách khác, cách mạng vẫn là tâm thế chính của con người khí phách ấy.
Và ông vẫn viết, viết như “đổ
bớt” được chính mình đi cho đỡ nặng. Viết như đền ơn trả nghĩa những người đã
giải phóng cho tuổi trẻ của mình. Viết như rung lại hồi chuông cách mạng thi ca
đã khởi sự từ thuở 19-20. Tập thơ Cổng tỉnh (1994) thật đã đúng là một
hiện tượng đá đẻ “Đục như đi thuyền – luồng luồng sóng thạch”. Nói về cái đau đớn
của con người biết suy nghĩ trong đêm trường mất nước nhiều câu thơ đúc lại
trong một nỗi xót xa máu ứa.
Tôi cô đơn trời xanh cô đơn
trời tím
Cô đơn nắng đào cô đơn mưa
tái nhợt đầu ô.…
Vỡ tuổi ấu thơ! vỡ tất cả
Tôi biết hợp về đâu? Tan tác
hết,
Để bây giờ tôi phải kháng cự
với mông mênh
Tôi phải đứng li lì ba ngả
gió
Bằng tất cả những phương tiện
ngôn ngữ sẵn có tác giả ném ra tới tấp hàng loạt hình ảnh, cốt để nói cho hết,
nói bằng được cái bi đát, cái vô vọng của con người muốn được thay đổi
Khúc phố đổ đè ngang khúc phố
quê
Phố hoắc phố hơ thành trì ọp
ẹp
Thều thào trống mọt buông
canh
Im lặng. Im lặng bóp cổ hàng
đèn treo
Xa xa một chiếc lá kêu. Kêu
vàng đại lộ…
Lá đỏ cháy ròng ròng qua các
phố lụi hoàng hôn.
Cách mạng bùng lên là để hóa
giải bao nhiêu vô lý nó làm sứt mẻ què quặt những hồn người, những phố xá, cách
mạng tới là để chấm dứt cái mênh mông của đêm tối hoang dã như thế, hỏi làm sao
một thi sĩ như Trần Dần thờ ơ cho được? Nói bao nhiêu, với ông, cũng là chưa thỏa.
Trong khi sử dụng những vật liệu có vẻ không thi vị chút nào, thực tế là ông lại
biết mang lại một chất thơ riêng cho công cuộc cách mạng mà ông dành hết tâm
huyết để ca ngợi. Trước mắt người đọc thấy hiện lên rõ nét một nhà thơ sứ
đồ, mà cũng là một nhà cách mạng bẩm sinh, con người của dằn vặt trăn trở, con
người quyết liệt, đi gần tới thô tục, cục cằn, con người căm thù xã hội cũ và tất
cả những gì trì trệ, mòn mỏi, đến mức sẵn sàng chửi thề, đập phá, song lại cũng
là con người có trái tim run rẩy, cặp mắt rưng rưng trước cái mới đang sinh
thành. Đặt bên cạnh những kẻ ăn theo, những giọng vào hùa, những nhà thơ công
chức, Trần Dần là một thế giới hoàn toàn ngược lại. Miễn là cái tư tưởng mà ông
theo đuổi được nói ra, và ông được bộc lộ mọi si mê, mọi đắm đuối vì nó, thế là
được rồi, còn có hề gì là những đau khổ riêng ông phải chịu! Người ta chỉ cắt
nghĩa được sự xuất hiện của nhiều dòng thơ trĩu nặng tâm tình trong Cổng tỉnh khi
biết rằng nó được viết ra một tâm thế như vậy. Chân vục trong bùn, song người
thi sĩ này mắt vẫn hướng về ánh sáng và giữa nhiều hình ảnh của con người cách
mạng trong thế kỷ, cuối cùng ông vẫn là một trong những hình ảnh gợi ra sự cảm
phục cùng những ấn tượng thắm thiết.
Chương mười một
Tự khẳng định cùng Cách mạng
Nguyễn Khải
Nguyễn Thành Long
Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Khải
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Khải sinh năm 1930. Tác phẩm chính Xung đột (1957), Mùa lạc (1960), Hãy đi xa hơn nữa (1963), Gặp gỡ cuối năm (1986), Một thời gió bụi (1993), Thượng đế thì cười (2004).
Một cách tồn tại trong văn học
ở Hà Nội, Nguyễn Khải có một
căn phòng mười bốn mét vuông ở bãi Phúc Xá; khu nhà tập thể này ở ngay vệ sông,
cứ đến mùa lũ, nước sông Hồng dâng lên là phải lo chạy vào trong phố ít ngày.
Nhưng ở đấy liền hai mươi mốt năm, Nguyễn Khải hoàn toàn thoải mái, lại còn đi
đâu cũng khoe: “Ngoài bãi mát, yên lặng, ngồi viết thích lắm”.
Hình như con người này rất
có duyên với những xóm nghèo ven nội. Vào Sài Gòn, ông lại ở ngay Khánh Hội.
Nhà cửa còn tuềnh toàng, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vẫn có cái để khoe: “Dẫu sao
cũng rộng hơn nhiều, so với Hà Nội” – Nguyễn Khải bảo vậy. Vẫn như xưa nay, ông
hồ hởi cười nói khi gặp bạn bè, và tôi cảm thấy một niềm vui cố hữu nơi ông: niềm
vui được sống, được viết. Chỉ thế thôi cũng đã quý lắm!
Trong đời sống hàng ngày, có
thể bảo đây là một người hay la cà. Ngay cả những lúc bận viết nhất, Nguyễn Khải
vẫn dành thời giờ lên phố, ghé lại một tòa soạn hay một nhà xuất bản nào đó,
trò chuyện với anh em, thậm chí sẵn sàng ngồi ở một hàng nước vỉa hè, bắt chuyện
với một người bên cạnh không hề quen biết.
Nhưng kéo được Nguyễn Khải
vào một đám lai rai thâu đêm thì khó lắm! Đó là con người biết tự chủ, không sa
đà vào đâu quá lâu, làm gì thì làm nhưng trước tiên là nghĩ đến chuyện viết, lấy
sự viết làm lẽ sống của mình. Mới đầu, là một cách tự răn mình. Sau, thành một
thói quen không thể thay đổi. Khoảng 1966-1967, thấy Đỗ Chu đang viết lên tay với
tập Phù sa và đang chuẩn bị viết Ráng đỏ, Nguyễn Khải thường
bảo: “Lúc ngòi bút đang đà thế này, có việc gì không quan trọng hãy gạt sang một
bên mà lo viết cái đã” – Đấy là lời khuyên không chút màu mè Nguyễn Khải thường
dành cho những anh em trẻ hơn mỗi khi cảm thấy giữa mình với người bạn trẻ ấy
có một sự tin cậy.
Tập trung tất cả cho sáng
tác như vậy, nhưng một phía khác của tài năng Nguyễn Khải lại là rất tỉnh,
không bao giờ chịu là tù nhân của những ảo tưởng mê muội. Ngay từ khoảng 1963,
ông đã nói rõ trong một tham luận tại Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt
Nam: Tự lượng sức mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi người viết. Và
Nguyễn Khải biết tự lượng thật. Khi gọi là ký sự, khi mang danh tiểu thuyết,
nhưng các tập văn xuôi của ông mỗi tập thường chỉ 150-200 trang. Lúc đùa bỡn,
ông bảo: “Viết thế để người ta có thể đọc ù một cái, một hai buổi trưa là
xong”. Những lúc nghiêm chỉnh hơn, ông tâm sự:
- Sức mình chỉ đến thế,
không nên kéo ra dài hơn. Điều quan trọng là thức tỉnh người đọc cùng nghĩ, chứ
ai có sức mà nghĩ thay họ được.
- Từ quãng đời viết văn đã
qua của mình, ông có rút ra kinh nghiệm gì đặc biệt? – Có lần đâu khoảng
1969-1970, tôi mạnh dạn “phỏng vấn” nhà văn như vậy.
- Thứ nhất, lúc nào cũng phải
cố lên một tí, chứ viết là dễ ngại lắm. Như tôi vẫn nói, làm sao viết hết sức
mình để giá kể có phải đi trở lại, mình vẫn chỉ đi có con đường ấy. Thứ hai, phải
luôn tỉnh táo để chỉ làm đúng những điều mình có thể làm. Xem người khác viết để
học, nghe người khác khen chê để rút kinh nghiệm là cần. Nhưng hoang mang, hay
thay đổi, rồi học đòi bắt chước, ai bảo thế nào cũng làm theo, là mất hết cốt
cách, và với nhà văn, thế là tự sát!
Ban đầu cách viết của Nguyễn
Khải bị kêu rất nhiều: nào là hay bình luận hay lý sự, nào lạnh, thiếu say mê,
nhân vật không rõ mày mặt, không nổi trên phương diện tạo hình; bố cục thường lỏng
lẻo, người viết không phải là một thứ tạo hóa cao tay v.v… Nguyễn Khải chịu đựng
những lời chê đó với một một sự bình thản. Lâu dần, một cách viết hình thành,
người ta đâm quen với ngòi bút ông. Một hai năm, Nguyễn Khải lại có một cuốn
sách in ra, và gần như cuốn nào cũng được dư luận chú ý.
Có một dạo, Nguyễn Khải nổi
lên như một người chuyên viết về nông nghiệp. Những mẫu cán bộ huyện, xã, bí
thư, chủ tịch, một phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề, rồi một bà già tham lam,
một thanh niên mới lớn nhiều mơ mộng… tất cả rất quen với ông. Mùa màng, thời vụ,
các loại giống lúa, các loại cây đay, cách đạp chè của các bà, các chị ở Thái
Ninh (Phú Thọ), lối chuyên thở cá bột trên tàu hỏa ra sao… hình như việc gì ở
nông thôn, ông cũng thành thạo.
Nhưng khoảng 1957-1959, đọc Xung
đột, và về sau, đọc Cha và con và…, không ít người quả quyết Nguyễn
Khải sinh ra để viết về công giáo. Cách nói, cách nghĩ của người theo đạo nhuyễn
vào ngòi bút của ông, và nếu trò chuyện với tác giả khi ông đang viết, thấy nó
nhuyễn cả vào lời nói hằng ngày của ông nữa.
Từ sinh hoạt của những chiến
sĩ công binh miền Tây, các du kích đội thuyền Vĩnh Linh tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ
những năm chống Mỹ, tới những phòng khách sang trọng của thành phố Hồ Chí Minh,
dù là đã sau giải phóng, khoảng cách thật là xa xôi. Xa trong không gian, thời
gian, những chi tiết cụ thể và xa cả trong cách nghĩ của con người! Vậy mà viết
về đâu, Nguyễn Khải cũng rành rẽ như chuyện của chính mình. Đây trước tiên là
thái độ tỉ mỉ, là tinh thần trách nhiệm trước những gì mình miêu tả (tôi nhớ những
lần Nguyễn Khải kiểm tra đi kiểm tra lại vài chi tiết thuộc về kỹ thuật có liên
quan đến một hai nhân vật nào đó). Nhưng quan trọng hơn là sự thông cảm, là yêu
cầu hóa thân vào cuộc sống đích thực của nhân vật. Khả năng tự quên mình đi để
sống cho thoải mái đã biến thành khả năng chấp nhận cuộc sống của những người
khác, coi đó là điều hoàn toàn tự nhiên mà một nhà văn phải biết đón lấy và làm
nổi lên, như một sự thật sinh động.
Người ta hay nói: nhà văn giỏi
là người biết gọi cho ra các nhân vật. ở những trang viết thành công của Nguyễn
Khải, công thức đó được triển khai thành hai vế: a) Nhà văn phải diễn tả sao
cho mỗi nhân vật của tác phẩm trở thành một con người độc đáo, không lẫn với
chung quanh – chỗ giống nhau chủ yếu của mỗi chúng ta là không ai giống ai; b)
Nhưng từ sự diễn tả đó, nhà văn phải vươn tới một cái gì cao hơn, phải phát biểu
được những điều chính mình suy nghĩ và cảm thấy một cách sâu sắc, nó cũng là yếu
tố chính tạo nên nét mặt riêng, cốt cách riêng của một ngòi bút, như người ta vẫn
nói. Nếu ở phương diện thứ nhất, chúng ta thấy tài năng của Nguyễn Khải, thì ở
phương diện thứ hai này, ông hiện ra như một ngòi bút có tầm vóc. Nguyễn Khải
thường biết nâng những hiện tượng bình thường thành vấn đề khái quát, để rồi đề
nghị chúng ta cùng ông suy nghĩ về mọi chuyện. Theo cách trình bày của ông, đời
sống hàm chứa bao điều phức tạp, không dễ gì một lúc lần ra rường mối của
nó (Xung đột); cuộc sống là nơi đào tạo nhưng cũng là nơi thử thách mọi
mặt nhân cách con người (Ra đảo); có trăm nghìn nẻo sống khác nhau, nhưng
hiểu được đời sống, và sống cho có ý nghĩa mới thật khó (Cách mạng, Gặp gỡ
cuối năm); và, vượt lên trên từng kiếp người riêng tư, có cuộc sống của xã hội,
đất nước, cộng đồng, mà còn lâu, chúng ta mới nhận thức được đầy đủ (Thời
gian của người) v.v… và v.v…
Nên cắt nghĩa như thế nào về
những đoạn bình luận lý sự khá đậm đặc trong những trang văn xuôi của Nguyễn Khải?
Theo tôi, đây không phải là hiện tượng đơn nhất, ngẫu nhiên mà có nguồn gốc hợp
lý của nó. Trong định hướng tinh thần của xã hội ta từ 1945 tới nay, nếu có
khía cạnh nào nổi lên đặc biệt rõ rệt thì đó là sự xâm nhập của chính trị vào đời
sống bình thường mỗi người, khiến cách suy nghĩ của bất cứ ai cũng trở nên sắc
bén hơn hẳn. Các vấn đề xã hội chính trị là đầu đề để chúng ta bàn bạc, sự lợi
hại về chính trị là tiêu chuẩn chính để xem xét mối quan hệ giữa người với người.
Gần như ai cũng hoạt động chính trị và có từng trải về chính trị. Mặt khác, trải
qua mấy chục năm cách mạng, cuộc sống trên đất nước ta, dù là một làng xóm heo
hút giữa đồng bằng sông Hồng, hay một đồn điền cao su cũ, Biên Hòa, Lộc Ninh… đều
có bao nhiêu thay đổi, bao nhiêu điều đáng bàn và cần bàn cho thấu đáo. Nói
phong cách Nguyễn Khải chẳng qua là sản phẩm của đời sống hôm nay là vì lẽ đó.
Nếu không có Nguyễn Khải chắc cũng phải có những ngòi bút khác, viết theo cách
Nguyễn Khải đang viết. Có thể so sánh một chút, để thấy cách bàn luận lý lẽ của
Nguyễn Khải và nhân vật Nguyễn Khải mang đậm dấu ấn thời đại, chẳng hạn so với
Nam Cao. Trước đây mấy chục năm, trong sự tẻ nhạt đều đều của một xã hội thuộc
địa, một ngòi bút như Nam Cao có triết lý, thì cũng là nhân những chuyện cụ thể
trong mối quan hệ giữa người với người mà khái quát lên. Nam Cao hay nói sự no
đói ảnh hưởng đến tâm lý con người ra sao, cái nghèo có thể làm nhân cách con
người thay đổi đến đâu. Mỗi mệnh đề triết lý của Nam Cao thường ngắn gọn, đôi
khi như là những điều nghiền ngẫm quá lâu, im đi không đành nên phải buột ra, sự
suy nghĩ mang dáng dấp một lời tự nhủ hoặc một lời chì chiết, đay nghiến. Nay ở
Nguyễn Khải, không riêng tác giả mà các nhân vật cũng hay nói, thích nói, người
nọ đối diện với người kia, đồng tình, phản bác nhau; xét nét, “gí điện” nhau.
Lý sự trở thành câu chuyện hằng ngày, nhất là lý sự về những khía cạnh xã hội
chính trị của đời sống: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa lợi ích riêng
và lợi ích chung; khả năng dễ sai lầm của con người và vai trò của lý trí; xu
hướng đơn giản chủ quan trong tư duy của mỗi người và những biến hóa vô tận của
đời sống v.v… và v.v…
Nhiều vấn đề tương tự được đề cập tới trong tác phẩm của Nguyễn Khải một cách khá hào hứng. Như tất cả chúng ta, có lúc nhân vật của Nguyễn Khải và bản thân Nguyễn Khải nữa nhận xét đánh giá mọi việc còn hàm hồ, tùy tiện. Nhưng sự chân thành suy nghĩ ở họ là điều đáng ghi nhận. Nhiều lần Nguyễn Khải nói với tôi, đại ý: kết luận rút ra đâu phải đã là chân lý cuối cùng nhưng cứ nói được những điều mình nghĩ và xới lên để người khác cùng nghĩ với mình, đã thấy rất sung sướng.
Nhiều vấn đề tương tự được đề cập tới trong tác phẩm của Nguyễn Khải một cách khá hào hứng. Như tất cả chúng ta, có lúc nhân vật của Nguyễn Khải và bản thân Nguyễn Khải nữa nhận xét đánh giá mọi việc còn hàm hồ, tùy tiện. Nhưng sự chân thành suy nghĩ ở họ là điều đáng ghi nhận. Nhiều lần Nguyễn Khải nói với tôi, đại ý: kết luận rút ra đâu phải đã là chân lý cuối cùng nhưng cứ nói được những điều mình nghĩ và xới lên để người khác cùng nghĩ với mình, đã thấy rất sung sướng.
Đã rõ triết luận là một đặc
điểm nhất quán trong tư duy văn học của Nguyễn Khải nó làm cho ngòi bút ông khi
bốc lên sôi nổi, lúc đằm xuống, trầm tư suy ngẫm và không thiếu vẻ tinh tế. Tuy
nhiên, lại cũng phải thấy nhất quán như vậy nhưng cùng với thời gian, màu sắc
triết luận ở Nguyễn Khải mỗi năm một khác.
Từ chỗ cuồng nhiệt (đôi khi
là lối áp đặt một chiều) nay cách nghĩ đó đã phần nào có được cái lui tới, cái
chừng mực cần thiết. Nếu hôm qua, Nguyễn Khải đã rất thành công trong việc diễn
tả những gay gắt quyết liệt của đời sống thì hôm nay nhà văn có phần thấm thía
sự đời hơn, cái nhìn ra chiều độ lượng và thông cảm hơn. Từ Xung đột qua Cha
và con và.., từ Họ sống và chiến đấu, Hòa Vang qua Thời
gian của người, cách đặt vấn đề giọng điệu tác giả đều có đổi khác. Như tất
cả chúng ta, Nguyễn Khải cũng ở trong một quá trình vận động liên tục.
Nhưng dù vận động ra sao,
thì trước sau Nguyễn Khải vẫn là một người làm nghề cần mẫn. Người ta chỉ hay
nói tới tác giả Xung đột, Gặp gỡ cuối năm… như một người thích cao
đàm khoát luận, nhưng mấy ai biết, con người này đã có những lúc ngồi như cắm mặt
xuống bàn, chữa đi chữa lại từng trang sách; những khi vắt vẻo trên chiếc xe đạp,
đạp từ đầu thành phố tới cuối thành phố, xem lại morat một bài báo sắp
in, hoặc những khi mê mải trước những cuốn sách tiếng Pháp mong tìm thấy ở đấy
một ít điều gợi ý cho những trang viết sắp tới của mình. Văn xuôi Nguyễn Khải
hôm nay, bề ngoài có cái dễ dàng tự nhiên như lời nói hằng ngày, song nhìn cho
kỹ, thấy chữ nghĩa rất chỉnh, câu cú tính toán kỹ càng, tiếng nói nhân vật và
tiếng nói tác giả cài chen lẫn nhau tạo nên một thế giới đa thanh mà chỉ văn
xuôi hiện đại mới có.
Sẽ là bốc đồng, nếu bảo một
ngòi bút sinh năm 1930 đến nay vẫn còn đang sung sức, nhưng quả là Nguyễn Khải
đang viết, kiên trì, bền bỉ, như ngày nào mới 25-30 tuổi. Đối với một số đồng
nghiệp, cuộc đời Nguyễn Khải không chỉ là tổng số những gì ông đã viết ra, mà
còn là một bằng chứng về sự tồn tại của những người làm công tác văn học trong
những năm tháng này. Trong cuộc đời đó, có đủ niềm vui và nỗi buồn, những phút
vinh quang được không biết bao nhiêu bạn đọc khác nhau tìm đọc, tranh cãi, và
những phút đơn độc, một mình một bóng trước đèn, trước trang giấy trắng; trong
cuộc đời đó rất nhiều khoảng sáng chói lên rực rỡ nhưng cũng không thiếu những
khi trống rỗng tẻ nhạt, kể cả những thoáng xót xa vô lý. Nhưng biết làm thế
nào, nghề gì chẳng vậy, nữa là nghề văn; còn sống, còn viết là còn vất vả! Dẫu
sao, so với nhiều đồng nghiệp, cuộc đời viết văn của Nguyễn Khải, hơn bù kém, vẫn
là nhiều thành đạt. Những người trẻ hơn có thể nhìn vào đấy để thấy nghề văn vẫn
là một nghề tốt đẹp, nếu có năng khiếu, người ta thật đáng bỏ cả cuộc đời vì
nó.
Cái trẻ của tuổi già
Sự tự phát hiện lại của Nguyễn
Khải trong Một thời gió bụi
Cùng với sự chuyển biến của
thời cuộc, một trong những cây bút hàng đầu của văn học ta đang chứng tỏ sức sống
bằng cách thay đổi. Ngậm ngùi, đau xót ư? Đúng. Nhưng cần thiết – chính tác giả
cũng hiểu rằng không còn con đường nào khác!
Đâu là nơi bộc lộ tài năng của
người viết văn xuôi? Trong khi không ít người bảo là ở sự tả, thì Nguyễn Khải
cho là ở sự kể. Mỗi lần nhà văn trổ tài kể chuyện là một dịp ông đưa ra một câu
chuyện sinh động, y như chuyện này là chuyện riêng của gia đình hoặc bạn bè
ông, nhân vật là những người quen biết rất lâu của ông. Ông đã sống kỹ với họ,
và hiểu rằng chỉ kể về họ thì mới nói lên được một ít lẽ đời.
Đã có một thời, trong giới
viết văn, người ta thầm thì với nhau rằng những ai thích đánh đu với Nguyễn Khải
thế nào cũng có lúc được ông ấy đưa vào truyện! Câu nói đùa suồng sã chẳng qua
chỉ muốn lưu ý là ở Nguyễn Khải, khoảng cách giữa đời thực và trang viết không
xa lắm, ngòi bút ông đủ sức tiêu hóa được mọi kinh nghiệm sống hằng ngày.
Về giọng điệu, Nguyễn Khải vốn
nổi tiếng với một lối văn nhanh, linh hoạt, nó là bằng chứng của một cách nhìn
đời sành sỏi, cái nháy mắt láu lỉnh ẩn hiện sau các trang viết. Từ hồi chuyển qua Gặp
gỡ cuối năm, Thời gian của người, ông lại có xu thế sử dụng một lối văn rất
gần khẩu ngữ, song lời kể của tác giả và tiếng nói của các nhân vật đan xen,
các dòng ý thức – ở dạng sơ khởi – xâm nhập vào nhau, đối thoại với nhau. Niềm
khao khát từng ám ảnh Nguyễn Khải– khao khát diễn tả cho được cái ngổn ngang bề
bộn của cuộc sống hôm nay – tìm thấy ở lối văn vừa dân gian vừa hiện đại này một
trợ thủ đắc lực.
Bấy nhiêu đặc điểm làm nên
bút pháp Nguyễn Khải còn thấy rõ trong Một thời gió bụi. Những truyện
được viết vào những năm tác giả trên dưới 60 và được in ra vào năm ông 63 tuổi
này lại có những sắc thái mới mà người ta chưa bắt gặp bao giờ. Trước mắt chúng
ta là một sự thích ứng vừa tự nhiên, vừa khó khăn, đồng thời là một sự phát hiện
lại mình, nếu có thể nói như vậy.
Những mặt người khác lạ
Từ những năm 70 về trước, nhắc
tới Nguyễn Khải là người ta nhớ tới cả loạt truyện, ở đó, ngự trị một loại nhân
vật đặc biệt, những con người vừa khôn ngoan vừa khỏe mạnh, việc đời làm dễ như
chẻ tre, lại tỉnh táo biết điều, lý sự thẳng băng, cười giễu ai cũng được, quát
thét mắng mỏ ai cũng phải chịu.
Tới đầu những năm 80, cũng
là từ cái mốc Gặp gỡ cuối năm – lần đầu tiên loại nhân vật nói trên ở
Nguyễn Khải tỏ ra có chút mệt mỏi. Họ thường ngồi một chỗ, nhìn rộng ra chung
quanh, suy xét, nghiền ngẫm. Lúc cảm thấy hết nỗi đời lắm vẻ cũng là lúc ở họ
bao trùm một cảm giác sảng khoái, tự lấy làm đắc ý, hóa ra, trong sự diễn biến
của lịch sử, mình đã chọn được chỗ đứng thích hợp, đã có những cống hiến không
ai có thể xem thường, còn thôi từ nay về sau, việc đời là của các thế hệ kế tiếp
(Lối nghĩ đó còn thấy thấp thoáng trong hình ảnh ông Ba Quốc Hội, nhân vật
chính của Hai ông già ở Đồng Tháp Mười, thiên truyện viết từ 1982,
song tác giả vẫn gạn lấy rồi xếp vào giữa cuốn sách Một thời gió bụi).
Nhắc lại những chuyện trên để
thấy đến Một thời gió bụi, ngòi bút Nguyễn Khải đã có những bước thay
đổi không ai tin nổi. Xưa kia loại người vụng dại, thất thế, do không may mà lệch
bước, tự biết có lỗi lầm mà không sao nhúc nhích thay đổi được chính mình, loại
nhân vật ấy thường chỉ được tác giả mang ra đùa cợt, và khá lắm thì đóng vai
trò phụ trợ, chứ làm sao mà ngồi ngay chiếu giữa trong sách của Nguyễn Khải.
Nay thì ngay thiên truyện mở đầu của Một thời gió bụi đã mang
tên Anh hùng bĩ vận, và trong hàng loạt truyện tiếp theo, cái chất bĩ
ấy còn được khai thác đến cùng: ở truyện này, một ông già tử tế, nhân hậu bị những
người thân đành hanh, hãnh tiến ruồng bỏ (Chuyện tình của mỗi người); ở
truyện kia, người chủ gia đình vốn quen lối sống phải chăng mang màu sắc công
chức bị vợ con “vật ra” mà nhiếc móc ngay giữa bữa cơm khách (Đổi đời). Vả
chăng, vấn đề không phải chỉ là mối quan hệ với hoàn cảnh chung quanh, vấn đề
cuối cùng ở đây là nhiều nhân vật của Nguyễn Khải mất hết lòng tự tin cuồng nhiệt
vốn có, bỗng dưng cảm thấy mình lạc lõng ngay giữa môi trường quen thuộc, “như
người vừa ở tù ra” (trang 185). Đụng vào việc gì cũng hỏng, nói ra điều gì cũng
thấy ngớ ngẩn không hợp, họ biết ngay là mình đã hết thời. Với họ, giờ đây, sống
tức là nhẫn nhục cam chịu, dù có “chết ngay từ lúc đang sống” (tr 200) thì cũng
không được buồn nản!
Nói rằng như vậy, diện nhân
vật của Nguyễn Khải được mở rộng, e quá ư đơn giản. Trong việc kể lại cuộc đời
những người già yếu, cũ kĩ, bị hoàn cảnh gạt sang một bên, rõ ràng ngòi bút chỉ
biết sát sao riết róng của Nguyễn Khải hôm qua đã trở nên khá chừng mực, thuần
hậu, cận nhân tình. Và cận nhân tình hơn cả là những truyện ở đó tác giả kể về
những người vì tốt quá, biết điều và tự trọng quá, nên khổ (Cặp vợ chồng ở
chân động Từ Thức, Năm tháng đã qua đi). Những kiếp sống như cây cỏ lam lũ
qua ngày mà vẫn không làm sao thoát khỏi đủ thứ tai vạ rình rập (Đời khổ).
ở chỗ này, ngòi bút Nguyễn Khải thường khi gợi ta liên tưởng đến những bậc thầy
truyện ngắn trong quá khứ. Ta dễ dàng nhớ tới Hồ Dzếnh với việc lặng lẽ chiêm
nghiệm lẽ đời ngay từ cuộc sống những người thân chung quanh. Nhất là nhớ tới
Thạch Lam, và phần nào đó, G. de Maupassant, với lối kể chuyện cô gọn, có vẻ
như dửng dưng – cốt để làm nổi tính chất định mệnh – song nhiều khi chỉ qua một
hai câu bâng quơ đã đủ thấm thía một nỗi xót xa thông cảm với những con người
“thấp cổ bé họng” (giữa nhân vật chị Vách và mẹ Lê của Thạch Lam không khỏi có
nhiều nét gần gũi). Cuộc sống bao giờ cũng đủ thứ sắc thái khác nhau và văn học
có quyền khai thác bất kỳ loại tính cách nào cũng được. Song, những tác phẩm
nghiêng hẳn sang phía thông cảm với những bất lực yếu đuối của con người, thường
vẫn dễ ở lại trong tâm trí ta hơn, ta cảm thấy nó đang đi về hướng nhân bản.
Một thế giới khác
Theo cách diễn giải của Nguyễn
Khải, sở dĩ một nhân vật như Tú (trong Đổi đời) và nói chung nhiều
nhân vật khác của ông lúng túng, lạc lõng, lý do là vì đã bị “mất phương hướng
trước những biến đổi tự phát của thời cuộc” (tr33).
Có lẽ đã được viết ra theo lối
bột phát song nhận xét ấy lại bộc lộ cho thấy, trong thâm tâm Nguyễn Khải, chừng
mực nào đó, cả ý niệm về hiện thực cũng đã thay đổi.
Công bằng mà nói, so với các
tác giả khác, thì ở một số tác phẩm trước đây, thế giới trong Nguyễn Khải đã lắm
vẻ phức tạp. Nhưng suy xét kĩ thấy đấy là một sự phức tạp rất… đơn giản. Nói thế
giới lúc ấy vẫn có cả bóng đêm và ánh sáng chẳng qua là một cách nói ước lệ,
nói cho sang, thực ra bấy giờ lúc nào nó cũng chan hòa ánh sáng, mọi việc rành
rẽ dứt khoát, thiện ác, tốt xấu phân tuyến rõ ràng, còn con người thì phần lớn
như những vị thánh, chỉ chăm lo có mỗi một việc là biến cải thế giới chung
quanh theo niềm tin của mình. Nay, với các nhân vật, và với chính Nguyễn Khải nữa,
đất dưới chân lay chuyển. Đồng tiền ngự trị. Thói vụ lợi tha hồ hoành hành. Mọi
con người như tự khác mình đi “người ngợm, nghề nghiệp lẫn lộn lung tung cả”
(tr208). Nhưng điều đáng sợ nhất chưa phải ở đấy! Đáng sợ nhất là thế giới ấy
chập chờn ẩn hiện, ta rất dễ nghĩ sai về nó. Một dự đoán vừa rất có lý – như
linh tính của tác giả về nhân vật Khôi trong Người của làng pháo
– vài ba ngày sau đã hóa ra một nhận xét nông cạn lỗi thời. Một niềm tin
sâu xa từng theo sát người ta trong cả cuộc đời – như niềm tin của nhân vật chính
trong truyện ngắn Một thời gió bụi, và vẻ êm đềm thơ mộng của quê
hương, và khả năng bao dung che chở của một nông thôn ngàn năm náu mình trong
im lặng – phút chốc biến thành ngớ ngẩn giả dối. Vùng nông thôn ấy, cũng như cả
thế giới trong Nguyễn Khải vùn vụt biến cải, chỉ có điều khác: xưa nó vận động
theo cái hướng người ta đã định trước cho nó; còn nay nó diễn biến thế nào thì
lại nằm ngoài lối suy nghĩ thông thường, cũng tức là nằm ngoài sự kiểm soát vốn
được tiếng là khôn ngoan của lớp cán bộ như tác giả.
Cái trẻ của tuổi già
Một điều tự nhiên ai cũng biết
là các nhà văn, cũng như người thường, không dễ từ giã chính mình. Qua Một
thời gió bụi, ta thấy Nguyễn Khải cũng vậy. Trong những nhận xét sắc sảo
thật ra vẫn chưa hết hẳn cái lanh chanh khoe khôn cũng như trong giọng kể,
không khỏi có những thoáng hờn dỗi, mình khôn ngoan như thế này, biết điều như
thế này, cúc cung tận tụy như thế này, mà khổ, mà lạc lõng, thì ra chung quanh
nhầm rồi, đời không có mắt rồi, thật tội nghiệp quá!
May thay, những âm hưởng đó,
chỉ là âm hưởng phụ. Cảm hứng chủ đạo chi phối Một thời gió bụi vẫn
là cảm hứng rằng dẫu sao cũng phải nhìn thẳng vào sự thực, đúng như lời tác giả
tự dặn ở cuối cái truyện ngắn tự thú mang tên Anh hùng bĩ vận “Hãy cười
lên để tiễn biệt một thời vừa tới, cho dầu cái thời đang tới ấy không phải là
thời của mình” (tr 22).
Từ góc độ bản thân tác giả
mà xét như vậy là ông chấp nhận sự bất lực, sự lạc lõng, tóm lại là ông đã già?
Cái đó có. Nhưng hãy trở lại với cái cuộc đời mà ông luôn luôn miêu tả với tình
cảm nước đôi vừa cười cợt vừa bực bội. Liệu có phải là nó đang hư hỏng đi
không? Không! Chính là tác giả cũng nói: không. Tuy khó chịu với nó, nhiều lúc
công khai lên án vẻ tàn bạo của nó, song, với tư cách nhà văn, ông vẫn phải
công nhận là nó có gì đó thiết thực hơn, hợp lý hơn cái mô hình mà xưa nay ông
theo đuổi. Và điều quan trọng nhất tương lai thuộc về nó – tác giả chua chát thừa
nhận, một sự thừa nhận tố cáo thế yếu của một con người song lại phát lộ chỗ mạnh
thực sự của một ngòi bút. Rút cục lại, nhìn kĩ vào thế giới hiện diện trong văn
Nguyễn Khải hôm nay cùng con mắt nhìn đời mà tác giả cho là phải có, thì lại có
thể nói ngòi bút Nguyễn Khải, trong Một thời gió bụi, vẫn có cái phía
nào đó khá chắc khỏe, do đó cũng là trẻ nữa. Bởi lẽ, đây là cái trẻ của một người
dù đã bước sang tuổi già vẫn gắng sức cưỡng lại cái quán tính bảo thủ nằm sẵn
trong chính mình, tỉnh táo nhìn ra hướng phát triển của hiện thực, một cái trẻ
trong nhận thức - chứ không phải trong cảm tính, lại càng không phải trong cơ bắp
thuần túy - nên vẫn có thể bảo đó là một vẻ trẻ trung thực thụ, mà người ta, dù
ở lứa tuổi nào, cũng cảm thấy gần gũi.
Nguyễn Thành Long
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Thành Long (1925-1991). Tác phẩm chính Bát cơm cụ Hồ (1955). Giữa trong xanh (1972), Sáng mai nào xế chiều nào (1984).
Một trong nhiều cuộc đời
dang dở
Theo như chính Nguyễn Thành
Long từng kể, thì trước 1945 tức hồi còn học tú tài ở Hà Nội, ông đã có bài viết
in trên Thanh Nghị là một tờ báo tập hợp được nhiều trí thức có uy
tín thời ấy. Con đường đi của một người trí thức trong lòng xã hội thuộc địa từng
là vấn đề day dứt lòng ông, và trở thành chủ đề của một vài cuốn sách của ông bấy
giờ. Vấn đề trí thức cũng sẽ ám ảnh Nguyễn Thành Long trong suốt cuộc kháng chiến:
một mặt cố không bỏ qua các “chuyến đi thực tế”; mặt khác, luôn luôn sục sạo
săn tìm sách vở để xem người khác đã làm văn nghệ như thế nào, và bản thân mình
nên làm theo cách nào. Trong hoàn cảnh của Khu Năm xa xôi, ông vẫn tìm đọc từ Người
mẹ, Suối thép, Người Xô-viết chúng tôi cho tới cả Sự hồi sinh của nền
văn học Pháp của Garaudy. Và về sau, khi làm báo Văn học, Nguyễn
Thành Long còn viết nhiều bài về văn học nước ngoài, ký tên Phan Minh Thảo,
cũng như nhặt ra kinh nghiệm viết văn của nhiều người in rải rác, rồi sau tập hợp
thành cuốn sách nhỏ, mang tên Sổ tay viết văn, ký tên Lưu Quỳnh.
Có lẽ những chi tiết này
càng cắt nghĩa rõ thêm về sự hấp dẫn của Nguyễn Thành Long đối với một số anh
em viết trẻ những năm đầu chống Mỹ. Ngoài những mảnh văn thời sự trong nước quốc
tế cùng những “chuyện làng chuyện xóm” lặt vặt vớ vẩn xảy ra hàng ngày trong giới
cầm bút, tôi thấy đặc biệt ở nhóm bạn của Nguyễn Thành Long có một loại chuyện
khác. Những cuốn sách tiếng Pháp (thường là loại sách bỏ túi) mà Hội Nhà văn được
biếu, các số Lettres Francaises, Europe, Lettres Sovietiques, Revue
Roumanie… về đều được các ông truyền tay, kèm theo những nhận xét của người
trong cuộc.
- Thế mới biết đảng Pháp họ
quý một nhà văn ngoài đảng như thế nào. Elsa Triolet chết
mà L’humanite viền đen cả mấy số liền.
- Bản dịch Con người
năm tháng cuộc đời của Ehrenburg vừa được nhà Galimard cho in.
Khối chuyện được xới ra, bây giờ mọi người thấy có lý. Về già mà Ehrenburg còn
bợm thật. Người ta bảo đọc xong cuốn hồi ký này, tự nhiên không ai muốn giở lại
tiểu thuyết của ông ta nữa.
- Cái tay Kataev cũng lạ. Hồi
ký gì mà như đánh đố, vừa thật vừa giả. Nhưng mà một cuộc đời như thế thì phong
phú thật. Hình như Elsa Triolet có nói ở đâu đó rằng vì Kataev mà Maiakovski tự
tử đấy.
- Chỉ là giọt nước cuối cùng
thôi.
- Nói xuôi nói ngược gì cũng
cần sự thật. Chính tôi thích hơn cả lại là cách viết trần trụi của
Malaparté. La Peau mới thật là khinh bạc cay đắng mà lại quý phái chứ.
Thời gian qua đi, cũng không
nhớ thật rõ tất cả những chuyện lặt vặt nói trên, tôi nghe từ miệng ai nói ra
và nội dung có đúng là thế không. Nhưng cái này, thì xin bảo đảm chắc chắn:
không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long, là một không khí trí thức. Các ông vừa
sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hóa khác, mà các ông yêu mến
và sống hết lòng. Từ câu chuyện nghe lỏm được qua miệng những Chính Yên, Trần
Đĩnh, Huy Phương, Nguyễn Thành Long…, tôi bỗng cảm thấy cái đời sống văn học mà
mình đang có phần can dự như được kéo dài ra, nối mãi vào cả cái khu vực bao la
huyền diệu là toàn bộ đời sống văn học thế giới hiện đại.
Cũng phải nói thêm rằng, bên
cạnh Nguyễn Thành Long viết truyện ngắn, Nguyễn Thành Long làm báo và làm xuất
bản, trong tôi còn một Nguyễn Thành Long dịch giả, đúng hơn là một Nguyễn Thành
Long tiếp cận những tìm tòi mới trong văn xuôi hiện đại. ý tôi muốn nói tới cuốn Roméo
Juliet và bóng tối của nhà văn Tiệp Khắc Jan Otchenasek do ông dịch ra tiếng
Việt. Đấy là một thể nghiệm nhằm sử dụng những tìm tòi của các bậc thầy văn
xuôi hiện đại như M.Proust, James Joyce vào việc biểu hiện những nội dung hiện
thực và cách mạng. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là điều băn khoăn thường
xuyên của Nguyễn Thành Long. Nhiều anh em trong nghề biết rằng một vài thủ pháp
kỹ thuật mới của văn xuôi đã được ông áp dụng dè dặt trong các truyện ngắn loại
như Con trai con gái cụ Hồ (in lại ở Giữa trong xanh).
Tai họa như trẻ con trên mặt
đất
Người ta rồi ai cũng có thôi
Anh nói điều ấy thật thản
nhiên
Mắt đăm đăm nhìn chiều xuống
Mấy câu thơ ấy là do Bằng Việt
dịch của Eluard. Không hiểu sao chúng cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, mỗi
khi nghĩ đến những người căn bản là lành, căn bản là tốt, mà thỉnh thoảng lại cứ
gặp phải những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ, như Nguyễn Thành Long. Hình như nghề
này quá khó và những người vụng về thì quá nhiều, cho nên đành tự an ủi là “rồi
ai cũng có thôi”, vật vã thắc mắc phân tích rạch ròi làm chi cho mệt!
Khoảng 1956-57, sau khi cho
in những bút ký có được tiếng vang nào đó hồi ấy, như Hướng Điền, như Gió
bấc gió nồm, tự nhiên Nguyễn Thành Long lại mắc vào vụ Một trò chơi
nguy hiểm. Những năm đầu chống Mỹ bên cạnh Tờ hoa, Tình rừng của
Nguyễn Tuân, Cái gốc của ông cũng trở thành một đối tượng để phê
phán. Khi những vụ việc này xảy ra, tôi còn quá nhỏ (vụ trước) hoặc quá non nớt
trong nghề (vụ sau), nên không thật rõ mọi chuyện ra sao. Tuy nhiên những năm
có dịp gần Nguyễn Thành Long về sau tôi cứ có cảm tưởng những chuyện tưởng như
đã qua ấy vẫn còn vương vất trong ông. Ông trở nên thận trọng giữ gìn hơn trong
suy nghĩ, khéo léo hơn trong quan hệ với mọi người. Thậm chí tôi cảm thấy ở
Nguyễn Thành Long còn nảy sinh sự nghi ngờ chính mình. Đã có một con người khác
xuất hiện để theo dõi và kiểm tra con người hàng ngày của ông, khiến ông trở
nên có chút gì như là nghiệt ngã nữa. Có điều, dù phức tạp đến đâu, thì tất cả
những chuyện ấy chỉ là chuyện nổi lên trên bề mặt. ở phần sâu sắc của tâm hồn,
có thể nhận ra một Nguyễn Thành Long giản dị hơn. Ông hơi ngơ ngác, không hiểu
sao mọi việc lại diễn ra như thế! Nhất là ông cảm thấy đơn độc vô hạn. Từ nhà
riêng bên phố Dã Tượng, sang cơ quan của Hội bên đường Nguyễn Du, Nguyễn Thành
Long thường đi bộ qua một quãng vắng đường Trần Bình Trọng, phía cạnh Cung văn
hóa Việt Xô. Mùa hè một áo sơ mi cộc tay, mùa đông một cái áo bông tàu cũ kĩ –
sau là một cái áo vỏ ngoài bằng ni-lông màu tím than – Nguyễn Thành Long gần
như một mình trên đường, đầu cúi xuống, bước thật chậm như chìm đắm vào những
suy tưởng riêng tư. Hóa ra, trước mắt tôi, vẫn là một nhà văn do tâm huyết mà
thành đau khổ. Lại nhớ một câu của Ehrenburg khi nói về mình (đại ý) “Bề ngoài,
tôi trông u ám, nhưng bên trong, thật ra là một người nông nổi, nhẹ dạ”. Trong
số những người rất khớp với mẫu hình kiểu ấy, ắt hẳn có Nguyễn Thành Long!
Thông thường, tôi không thuộc
diện Nguyễn Thành Long tặng sách khi có sách mới in. Nhưng đến cuối năm 1985,
cùng lúc ông cho tôi hai cuốn Giữa trong xanh và Sớm mai nào xế
chiều nào. Cuốn thứ hai tôi không để ý lắm vì là sách mới viết. Nhưng cuốn
thứ nhất thì khác: đấy là một tập hợp những thành quả tự Nguyễn Thành Long coi
là đắc ý nhất trong đời viết của mình, một thứ tuyển tập “bốn mươi năm”, như
ông lưu ý trong lời đề tặng tôi.
ít lâu sau, tôi mang tới
Nguyễn Thành Long một bài viết, ở đó bên cạnh những lời ca ngợi tài năng nghị lực
của ông trong việc thực hiện những yêu cầu cách mạng đặt ra đối với văn học,
không quên nhận xét nhiều khi ngòi bút Nguyễn Thành Long gò gẫm thiếu tự nhiên.
Thậm chí ở một đoạn tôi còn viết “mặc dù mở rộng lòng đón lấy mọi diễn biến của
đời sống, song rút cục tác giả vẫn không tránh khỏi trở đi trở lại với những ý
tưởng đã thành khuôn khổ, và sự chăm chú đều đều tới công việc lại dẫn tới một
tình trạng đơn điệu”. Tháng 8-1986 khi bài báo được in ra trên một số
báo Văn nghệ, đọc lại cả bài, tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi không
biết với một cuốn sách mang tính cách tuyển tập, mình viết vậy, có làm anh Long
buồn không. Nhưng tôi vẫn nhớ là lúc cầm bản viết tay của tôi, tác giả Giữa
trong xanh có một thái độ khá bình thản. Ông chỉ bảo sau cái ý “trở đi trở
lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ”, nên thêm vào một ý nhỏ, “dù là khuôn
khổ của ông”. Chỉ có thế! Chúng tôi chia tay nhau, mỗi người không khỏi có chút
tiếc xót rằng đáng lẽ có thể làm cho người kia vui hơn, mà không làm được.
Vốn đã âm thầm lặng lẽ, cuộc
đời riêng của Nguyễn Thành Long từ sau 1986, nghĩa là từ sau khi ông về hưu, lại
càng quạnh hiu, trống trải! Nhà văn ý Moravia từng đặt cho một tập truyện ngắn
của mình cái tựa Một cuộc đời khác, ý muốn nói là thường mỗi chúng ta
đều luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ, lẽ ra, chúng ta phải sống khác mà sao
không thể sống nổi! Tôi nhớ là khi nghe tôi nói điều ấy,
Nguyễn Thành Long có một
thoáng như hơi sững ra! Đang cầm chén nước, cánh tay gày guộc với lớp da rất
nhiều nét mồi của ông chợt run run thêm, cặp mắt sáng lên phút chốc, nhưng rồi
lại cụp xuống, tăm tối. Một niềm thất vọng nào đó đang dâng lên trong ông? Hay
một sự nuối tiếc? Hay một nỗi xót xa, xót cho mình là không làm được hết những
điều muốn làm, nói chung là bây giờ đã muộn rồi, không thể có một cuộc đời
khác? Bởi vậy, ít lâu sau trên báo Lao động tôi mạnh dạn nói rõ thêm:
“Trong cuộc đời này thiếu chi người mong thành nhà văn mà không thành. May mắn
hơn họ – hay là rủi ro hơn họ, nói thế cho công bằng – có một số người ăn chịu
với nghề, sống là nhà văn, mà chết cũng với tư cách nhà văn. Nhưng có bao giờ một
ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình? Ngoài những trang đã viết ra,
cái di chúc lớn khác mà một nhà văn chân chính để lại thường là nỗi khắc khoải
vì biết rằng còn bao công việc đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết
khác kia mà tự khác đi làm sao nổi. Nguyễn Thành Long là một nhà văn chân chính
với nghĩa ấy”. Ấy là những dòng tôi viết, để
vĩnh biệt ông.
Nguyễn Minh Châu
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Minh Châu (1930-1989). Ngoài một số cuốn sách đã nêu trong bài, ông còn là tác giả Mảnh đất tình yêu (1987), Cỏ lau(1989).
Phấn đấu hết mình vì một lý
tưởng nghề nghiệp cao quý
Bên cạnh những Nguyễn Tuân,
Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân v.v… trong hàng ngũ những
nhà văn Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, có một lớp trẻ hơn, trưởng thành từ
cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu viết khỏe và nổi tiếng ngay từ sau 1954. Đó
là Hữu Mai và Hồ Phương, Nguyễn Quang Sáng và Anh Đức, Phan Tứ và Nguyễn Kiên
v.v… phần lớn họ sinh trưởng trước sau 1930 một vài năm. So với những tác giả ấy,
Nguyễn Minh Châu tuy cũng sinh 1930, nhưng bắt đầu viết muộn hơn. Khoảng
1955-1956, khi Nguyên Ngọc đã được tặng giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam với
tiểu thuyết Đất nước đứng lên, thì Nguyễn Minh Châu còn đang công tác
ở một đơn vị chiến đấu. Và một lần, vui chuyện với bạn bè, ông mới rụt rè bảo
“sau này tôi sẽ viết văn!” thì mọi người đều nghĩ rằng ông nói đùa, trong bụng
thật không ai tin. Những năm 1958-60, Anh Đức (khi ấy còn ký Bùi Đức ái) đã rất
nổi tiếng với Một chuyện chép ở bệnh viện, Nguyễn Khải đã
có Xung đột lại có Mùa lạc, Phan Tứ (Lê Khâm) có Bên
kia biên giới, Trước giờ nổ súng… Nguyễn Minh Châu còn đang là cộng tác
viên của tạp chí Văn nghệ quân đội, truyện ngắn gửi về, cái được, cái
hỏng. Mãi tới 1967, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Minh Châu mang
tên Cửa sông mới được in ra. Có điều, tiếp theo Cửa
sông, qua năm 1972, Nguyễn Minh Châu lại rất thành công với Dấu chân
người lính, một tác phẩm xét về cả khối lượng lẫn chất lượng đều thuộc loại
đầy đặn bậc nhất của văn học trong những năm chống Mỹ. Từ đấy, nhiều truyện ngắn,
truyện vừa khác tiếp tục ra đời và thật khó hình dung văn học Việt Nam hiện đại,
nếu thiếu đi những trang văn xuôi của Nguyễn Minh Châu. Hóa ra, sự xuất hiện muộn
mằn ở đây lại là một điều có lợi. Nhà văn được chuẩn bị kĩ lưỡng để dẻo dai, bền
bỉ trong công việc.
Những ảnh hưởng quan trọng
Tìm hiểu những số
báo Văn nghệ đặc biệt dành riêng để nói về các nhà văn, nhà thơ Việt
Nam từ sau 1945, người ta nhận ra hai vùng đất đã từng sản sinh ra nhiều người
viết là Nghệ Tĩnh và Hà Nam Ninh. Đó cũng là hai mảnh đất quê hương của nhiều
nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học.
Điều may mắn với Nguyễn Minh
Châu là tác giả có điều kiện tiếp thụ được truyền thống văn hóa của cả hai vùng
đất đó. Quê hương Nghệ Tĩnh, nhưng những năm chống Pháp, người lính này lại chiến
đấu ở Sư đoàn chủ lực 320 nên có dịp gắn bó với các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Có lẽ vì thế, trong con người cũng như trong văn của ông, người ta dễ “đọc” ra
cả hai ảnh hưởng quan trọng đó. Mới gặp, dễ nghĩ đây là một con người chắc thiệt
giản dị, vẻ không dây dưa gì với văn chương. ở lâu hơn một chút, lại thấy đó là
một người đôn hậu, sống có tình với mọi người, ai có chuyện gì vui buồn cũng muốn
chia sẻ. Chỉ khi đọc văn Nguyễn Minh Châu, người ta mới nhận ra đấy là một con
người tài hoa, thường nhìn đời bằng con mắt nghệ sĩ và có được một cảm quan
tinh tế về ngôn ngữ văn học, nên biết thực hiện được những nhiệm vụ chính trị của
một người viết văn một cách sáng tạo, như một hành động văn hóa.
Tác phẩm hôm qua và hôm nay
Như tên gọi của nó đã chỉ
rõ, Cửa sông miêu tả một vùng đất đồng bằng Bắc bộ khoảng những năm
1965-1966, khi sức người, sức của vừa hồi sinh sau cuộc kháng chiến chống Pháp,
lại được huy động ráo riết phục vụ cuộc chiến đấu mới.
Được viết nhân chuyến tác giả
đi công tác dài ngày vào mặt trận Khe Sanh (1967-1968), Dấu chân người
lính có phần đi sâu hơn vào đời sống tinh thần của lớp thanh niên những
năm chống Mỹ. Dưới nhan đề Hành quân, phần một của cuốn sách dựng lên
cả bức bích họa rộng lớn về hình ảnh đoàn quân ra trận, qua đó, bút lực của tác
giả được công nhận là khá già dặn.
Từ sau 1975, cảm tình của
Nguyễn Minh Châu với những con người đã dạn dầy trong chiến đấu chẳng những vượt
lên mà còn đi vào bề sâu.
Trong nhiều truyện ngắn, nhà
văn có dịp dừng lại ở nhiều trạng thái tâm lý tế nhị. Bức tranh: sự hối
hận của một con người sao nhãng lời hứa của mình trong chiến tranh. Mẹ con
chị Hằng: mối quan hệ nhiều vẻ giữa các thế hệ khác nhau trong một gia
đình cán bộ. Khách ở quê ra: Một nét tâm lý nông dân, những người
gánh chịu cuộc chiến tranh ghê gớm vừa qua, những người sống bám vào đất đai vườn
ruộng để mà tồn tại và nay đang đứng trước ngưỡng cửa của những đổi mới chưa từng
có… Khoảng hai chục đoản thiên ông viết hồi ấy sau được tập hợp lại
trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến
quê (1985). Một số truyện của Nguyễn Minh Châu còn sượng, dụng ý đạo đức
phô bày lộ liễu. Một số truyện khác, tác giả còn ấp úng, chưa thật nhuyễn, chưa
hoàn toàn làm chủ được điều mình định nói với bạn đọc. Song, phải công nhận
Nguyễn Minh Châu là một ngòi bút mang nhiều tâm huyết với đời sống, ông luôn
luôn muốn chứng tỏ mình sống giữa mọi người, cùng vui buồn lo lắng với từng bạn
đọc bình thường. Sau những câu chuyện dung dị, đôi khi ẩn giấu một nụ cười ý nhị,
dường như tác giả muốn nói với chúng ta: cuộc sống vốn muôn màu muôn vẻ. Với
người này, lúc này, nó hiện ra sôi nổi hào hùng, với người khác, vào một lúc
khác, nó có thể nhếch nhác, buồn tẻ… Nhưng dù thế nào, nhìn kĩ, nó vẫn có cái vẻ
đáng yêu, đáng để chúng ta sống.
Phấn đấu hết mình vì một lý
tưởng nghề nghiệp cao quý
Nguyễn Minh Châu là một nhà
văn rất nghiêm túc trong vấn đề nghề nghiệp và thường băn khoăn tìm tòi để nâng
cao chất lượng sáng tác. Ông hiểu trang viết của bản thân và nhiều đồng nghiệp
không khỏi còn nhiều chỗ yếu, trong đó, một chỗ yếu đáng kể là bản lĩnh văn hóa
của chính những người cầm bút. Cuộc sống của nhân dân, đất nước trong những năm
này, không thiếu cái để viết, nhưng điều quan trọng là chúng ta biết làm toát ra
từ đấy một tinh thần nhân bản cao quý. Có được cái ánh sáng đó, trang viết của
nhà văn sẽ không sợ phôi pha theo thời gian. Những trang viết đó không chỉ được
sự thông cảm của những người đọc chân chính, mà còn giúp cho các nhà văn tiến tới
để một lúc nào đó, có thể xây dựng được những tác phẩm sánh ngang với mọi thành
quả của các thế hệ viết văn tài năng trước đây.
Sự dũng cảm rất điềm đạm
Trong trí nhớ của những người
có mặt ở Hà Nội những năm ngay sau hòa bình lập lại 1954, những anh bộ đội từ
Việt Bắc trở về tiếp quản thủ đô hiện ra với một vẻ thiêng liêng đến mức gần
như thần thánh. Lớn lên giữa một nông thôn Việt Nam ngưng đọng trước 1945, những
anh bộ đội ấy thường có cái vẻ chân chất hiền lành mà chỉ thời gian đó mới có.
Nếu như lại được những trường tiểu học trung học cũ bồi đắp thêm cho kiến thức
văn hóa thì những nét mặt chất phác đó sẽ rõ ràng một thứ ánh sáng tinh thần thực
thụ. Trong bộ quần áo vải thô, cái áo trấn thủ “36 đường gian khổ”, và cái mũ
tre đơn sơ, ở họ toát lên sự ổn định tính cách và mỗi chiến sĩ đều trở thành những
con người rất đáng tin cậy.
Từ những lần gặp đầu tiên,
Nguyễn Minh Châu đã gợi nhớ trong tôi hình ảnh lớp bộ đội chất phác và có văn
hóa đó. Về sau đôi khi có thấy ông xúng xính trong bộ quần áo com-lê tham gia một
đoàn nhà văn Việt Nam đi nước ngoài, hoặc diện vào người chiếc áo sơ mi trắng
tinh tươm, chiều hè đạp xe thong thả trên đường Thanh niên bên Hồ Tây… nhưng
cái hình ảnh đậm nét nhất mà Nguyễn Minh Châu để lại trong tôi vẫn là một anh bộ
đội. Anh bộ đội ấy có đằng sau lưng mình những năm chiến tranh. Anh bộ đội ấy
có vô vàn đồng đội dũng cảm. Có điều, ở anh bộ đội ấy lại có những nét cao quý,
nó là dấu ấn của một thời gian, khi con người sống hòa hợp với hoàn cảnh của
mình và biết tìm cho mình một lẽ sống đẹp. Người chiến sĩ mà Nguyễn Minh Châu đại
diện là người chiến sĩ có văn hóa; và, trên mặt trận văn hóa, người chiến sĩ đó
đã bộc lộ cái bản lĩnh vững vàng cái cốt cách đàng hoàng tinh tế của mình. Người
chiến sĩ ấy đồng thời là một tay thợ tài hoa nữa.
Mở đầu một bài viết sau này
được công bố như một thứ di bút cuối cùng, Nguyễn Minh Châu kể rằng trời phú
cho ông một bản tính nhút nhát, trời buộc ông cứ phải lúng túng ngần ngại trước
đông người, mặc dù khi ngồi giữa một đám bạn bè, ông cũng mau mồm mau miệng, và
tài đấu hót, của ông xem ra chả kém ai.
Bây giờ thì cái lối tự mình
châm biếm mình đã phổ biến lắm, Nguyễn Minh Châu lại cũng đã đủ nổi tiếng để
không cần dùng lối tự châm biếm cốt làm cho mình nổi tiếng hơn, song sự thật là
cả hai nét tính cách đó đều có thật ở ông. Hơn thế nữa, nhìn cả đời văn tác giả
mà xét, phải thấy một cái gì rộng hơn: sự mau mắn của Nguyễn Minh Châu không phải
chỉ trong đối đáp mà nằm ngay trong suy nghĩ; đằng sau sự nhút nhát không thể
khắc phục nổi đó là một sự dũng cảm gần như bẩm sinh, sự dũng cảm mà một nhà
văn nhất thiết phải có, và do chỗ vẫn cùng tồn tại với sự nhút nhát kia, nên nó
lại là một sự dũng cảm rất điềm đạm.
ý tôi muốn nói đến cách hiểu
về sứ mệnh nhà văn của Nguyễn Minh Châu, một cách hiểu đầy trách nhiệm và gần với
sự thật.
Từ lâu lắm rồi, mỗi khi có dịp
trình bày những suy nghĩ của mình về nghề nghiệp, các nhà văn ở ta thường có
thói quen trưng ra cái hạnh phúc, cái may mắn mà họ có: Rằng được viết văn thời
này thật là sung sướng. Rằng ở họ có bao nhiêu thuận lợi…
Nghe nói đi nói lại mãi như
vậy, rồi bạn đọc có lẽ cũng quen đi và tin là thật. Mấy ai biết tới những đau
xót trong nghề, những khi – mượn cách nói của Nguyễn Minh Châu – nước mắt ứa ra
trên mắt người viết, giọt nuốt vào lòng, giọt rơi lã chã trên trang giấy? Mấy
ai biết tới những nguy hiểm trong nghề? Có những cây bút, kể cả những cây bút
có tài, đã đầu hàng trước những thách thức này, tự đánh mất mình, trở thành những
kẻ cầu an, những ông phán cách mạng, nhạt nhẽo, khó chịu.
Thế còn con đường của Nguyễn
Minh Châu ra sao?
Đọc những truyện ngắn truyện
dài ông viết khi mới vào nghề, thấy chỗ xuất phát của Nguyễn Minh Châu cũng giống
như mọi người. Không phải ngẫu nhiên trong Dấu chân người lính, tác
giả để cho nhân vật mà ông hết sức yêu mến là Lữ buột ra một lời tâm huyết: “Tất
cả chúng ta có thể sẵn sàng đổi mọi thứ khả năng khác nhau riêng của mình để lấy
một thứ khả năng quân sự… Lúc này không có một thứ tài năng nào quý bằng tài
năng đánh giặc”. Khi viết những dòng ấy, dường như Nguyễn Minh Châu đang tự nhủ
với chính mình: trong chiến tranh mỗi người phải sẵn sàng làm tất cả, miễn trở
thành một ngòi bút phục vụ tốt cho cuộc chiến đấu.
Nhưng, như Nguyễn Minh Châu
từng nói, quá trình viết vừa là quá trình xả điện, vừa là nạp điện, trong khi
viết ra những cuốn sách, các nhà văn lại nghiền ngẫm để làm nên số phận văn học
của mình. Lăn lộn trên các ngả đường khu Bốn và đồng bằng Bắc bộ những năm chống
Pháp, những ngả đường Vĩnh Linh, Cam Lộ, Khe Sanh, Cửa Việt… những năm chống Mỹ,
Nguyễn Minh Châu nhận ra rằng chiến tranh không chỉ là những chiến công, chiến
tranh còn là muôn vàn vận động thay đổi liên quan đến cuộc đời từng con người cụ
thể, và nếu như trong chiến tranh, việc sử dụng trang viết như một sự cổ vũ là
cần thiết, thì, đến lúc nào đó, nhất là sau chiến tranh, lương tâm và trách nhiệm
lại buộc người cầm bút phải có cách tiếp cận với đề tài chiến tranh một cách cụ
thể, xác thực mà cũng là đa dạng và cận nhân tình hơn.
Từ cuối những năm 60, tức là
trong quá trình chuẩn bị viết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu
đã có lần ghi vào nhật ký: “Trong cuộc chiến đấu để giành lại đất nước với kẻ
thù bên ngoài hai mươi năm nay, ta rèn cho dân tộc ta bao nhiêu đức tính tốt đẹp
như lòng dũng cảm, sự xả thân vì sự nghiệp của Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó, hai
mươi năm nay không có thì giờ để nhìn ta một cách thật kỹ lưỡng. Phải chăng bên
cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội, nịnh nọt, tham lam, ích kỷ, phản
trắc, vụ lợi còn được ẩn kín và đã có lúc ngấm ngầm phát triển đến mức gần như
lộ liễu? Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc. Sau này, ta
phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người, làm sao cho con người ngày một
tốt đẹp. Chính cuộc chiến đấu ấy mới lâu dài”.
Để đến được nhận thức như vậy,
Nguyễn Minh Châu đã trải bao day dứt, vật vã nhưng lương tâm là điều một người
như ông không thể từ chối. Lương tâm buộc ông phải trở thành một ngòi bút dũng
cảm. Và thế là tiếp sau Cửa sông, Dấu chân người lính, những năm sau
chiến tranh, Nguyễn Minh Châu cho ra đời liên tiếp những Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa…, những trang viết cho
ta thấy một khuôn mặt mới của Nguyễn Minh Châu.
Đọc những tác phẩm viết
trong hơn mười năm cuối đời của ông, tôi lại nhớ tới những anh bộ đội của những
năm kháng chiến chống Pháp, anh bộ đội với chiếc áo trấn thủ “36 đường gian khổ”
và những chiếc mũ tre đơn sơ, đôi khi được căng một mảnh dù nhỏ ở ngoài. Điều
thú vị ở đây là con đường của một ngòi bút dũng cảm không dẫn tác giả đi đâu xa
mà trở về với cội nguồn của lẽ sống mới, tức cũng là trở về với những lý tưởng
tốt đẹp đã thúc đẩy hàng triệu người làm nên Cách mạng và Kháng chiến.
Một bản di chúc
Không có mặt trong cả Bến
quê lẫn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Chợ
tết lẻ loi lọt đi giữa một số báo đến mức nhiều người không biết có nó. Ai
ngờ thiên truyện ngắn ngủi lại chứa đựng nỗi niềm tâm sự sâu sắc nhất Nguyễn
Minh Châu muốn gửi tới bạn đọc.
Có một năm, khoảng đầu
1973-1974 gì đấy, đang giữa tháng chạp âm lịch, Nguyễn Minh Châu bị bệnh, phải
đi viện và khi ông ra viện, thì đã xong tết. Mọi người ai cũng tỏ vẻ tiếc cho
ông là mất một dịp vui, nhưng tôi nhớ là khi nghe vậy, Nguyễn Minh Châu chỉ cười,
cái cười hiền lành tự tin vốn có. Rồi ông bảo:
- Thôi cũng tránh được ít
ngày phải sống giữa một cơn điên!
Thoạt nghe câu nói có vẻ
khinh bạc, nhưng những ai có biết Nguyễn Minh Châu hẳn còn nhớ thường ông sống
hơi khó khăn trước những đám đông, cái việc ông ngại tết là có thật, và mỗi lần
tết đến thường ông cứ vừa hoan hỉ vừa lúng túng thế nào đó, khiến mọi người có
lúc buồn cười song lại nhiều phen thương cảm.
Lại đã có những lần, đúng
vào dịp gần tết, Nguyễn Minh Châu về quê. Cái làng chài nơi ông đã lớn lên là
thuộc huyện Quỳnh Lưu, cách Hà Nội hơn hai trăm cây số. Hồi ấy, bà cụ sinh ra
ông còn sống và càng thương mẹ, ông lại càng thương quê, thương cái làng mà có
lần ông nói với tôi một cách khái quát rằng, nó còn “thiên nhiên thiên bẩm”,
nghĩa là còn hoang dã lắm. Từ quê trở ra, hầu như bao giờ Nguyễn Minh Châu cũng
buồn. Những ngày thường cái buồn đã nặng trĩu tâm hồn ông, huống chi những ngày
giáp tết. Biết ông vừa đi xa về, nhưng bọn tôi cũng chỉ nói quấy quá ít chuyện
vui vẻ mà không dám hỏi sâu thêm. Song, càng thấy Nguyễn Minh Châu xúc động,
người ta càng tin món nợ viết về làng quê vẫn nung nấu trong ông và chờ ngày có
dịp chứng kiến ông viết trực tiếp về quê hương.
Chợ tết là một dịp để
Nguyễn Minh Châu trả món nợ đó. Thiên truyện in ra lần đầu trên tạp
chí Văn nghệ quân đội số 2-1988. Gần một năm sau, Nguyễn Minh Châu qua
đời, ngày 27-1-1989. Một cách ngẫu nhiên, Chợ tết có cái may mắn nằm
trong số báo xuân cuối cùng mà Nguyễn Minh Châu tỉnh táo còn được nhìn thấy. Và
sự trùng hợp đó càng cho phép tôi tin rằng đây là một thiên truyện được Nguyễn
Minh Châu để tâm săn sóc kỹ lưỡng, nó giống như bản di chúc Nguyễn Minh Châu
rút ra từ đời văn và đời làm người của mình.
Một trong những sáng tác nổi
tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu trong những năm cuối đời là Khách ở quê
ra. Để tránh những sự công kích vô lối, có lần nhà văn hay lo xa đã phải
tìm cách mang lại cho tác phẩm một nội dung thời sự bằng cách chua thêm vào bên
cạnh đầu đề dòng chữ “Vài nét cốt cách của một người sản xuất nhỏ cổ sơ còn lại
ở nông thôn phản ứng trước tập quán công nghiệp và đô thị”. Tuy nhiên, ai cũng
biết cảm hứng chi phối Khách ở quê ra là cái phần bóng tối còn nặng nề,
cái phần lạc hậu một thời gian dài còn bao trùm lên con người và cuộc sống nông
thôn. Lớn lên trên mảnh đất đã quá cằn cỗi, con người ta phải như cây rau dền
gai thô tháp, chen cạnh, bám chặt vào cuộc sống thì mới sống nổi.
Một ấn tượng tương tự về
nông thôn cũng có thể tìm thấy trong Chợ tết. Nhếch nhác, bẩn thỉu,
cái làng biển được nói tới ở đây lúc nào cũng tanh mùi cá, và con người thì quẩn
quanh tù túng, lúc nào cũng bận bịu với cuộc mưu sinh, không sao ngẩng mặt lên
được. Đến một chiếc cầu qua chiếc lạch hẹp, “khéo lắm chỉ dài gấp đôi thân con
bò” (lời Nguyễn Minh Châu trong nguyên văn) người ta cũng không bắc nổi, và muốn
lên chợ, người ở xã bên cạnh chỉ có cách chen chúc trên một chiếc đò cũ nát, cọc
cạch, để sang xã bên này. Lạ một cái là chỗ nào cũng đầy người, mảnh đất lầy lội
vào những ngày phiên chợ càng chật những người là người, đám đông vữa ra như một
con sứa bầy nhầy nhũn nhẽo khiến cho lão Đất (một thứ cai chợ) muốn lập lại trật
tự chỉ có cách dùng đến roi vọt. Chính ở điểm này, chúng ta thấy sự hợp thời của
lão Đất cũng như trong Khách ở quê ra, đã thấy sự hợp thời của lão
Khúng: nghĩa là càng cổ lỗ, đơn giản, dung tục, thì càng được việc. ở đây không
có chỗ cho sự tinh tế.
Như Nguyễn Minh Châu có lần
đã kể, sau khi viết Khách ở quê ra, ông còn chí thú định viết một
truyện nữa, có thể tạm gọi là Khách ở tỉnh về. Khi những mảnh sống
tương phản được đặt cạnh nhau – Nguyễn Minh Châu giải thích – chúng làm tôn
nhau lên và cho ta thấy rõ điều hàng ngày ta còn chưa thấy.
Tuy không được dày dặn
như Khách ở quê ra, song Chợ tết chính là một thứ Khách
ở tỉnh về mà Nguyễn Minh Châu đã dự định.
Cái làng biển được tả ở đây,
là dưới con mắt Định, một người đang sống ở Hà Nội và có bà con họ hàng với lão
Đất nói ở trên. Mang cốt cách một viên chức, một “cán bộ thoát ly”, đời sống
tinh thần của Định khá phong phú. Và cái chính là Định đã biết nhìn làng quê của
mình bằng tầm mắt của người đi xa, biết rộng. Bởi vậy, nét nổi bật của cái làng
chài được miêu tả trong Chợ tết lại là vẻ trì trệ cũ kỹ của nó. Phong
cảnh hiện ra như từ muôn đời vẫn vậy, khiến Định luôn luôn ngạc nhiên: “mặc dù
mặt đất bị xáo trộn, nhưng cuộc sống con người lại ngưng đọng, như một sự lặp lại”.
Thế còn con người trong làng? Một thiếu nữ mới nhớn, giống y như mẹ cô
ta, ba mươi năm về trước. Một người kéo đò hơn năm mươi tuổi, cũng giống y như
người kéo đò năm xưa, khiến Định ngạc nhiên, tưởng như ông ta không già không
chết, sau hỏi ra mới biết đấy là con nối nghiệp bố. Cho đến cả câu đối tết nữa,
Định cũng chả buồn đọc, bởi tin chắc “câu đối tết năm nào chẳng viết những câu
như mọi năm trước”. Có thể là trong những ngày thường sự tù túng tẻ nhạt đã ngự
trị, song đến những ngày tết, sự ngưng trệ này mới hiện lên như một ám ảnh. Tâm
trạng Định được phác họa như một trạng thái nước đôi, liên tục biến chuyển. “Một
cái gì bao quanh Định, một không khí luôn luôn bao bọc Định, đấy là sự quen thuộc,
một nếp sống quen thuộc đã có từ lâu đời và chả có gì bị phá vỡ đang phô diễn
trong phiên chợ tết, ban đầu khiến Định say mê và rưng rưng cảm động, song sau
đó, hình như chính nó lại làm Định đến phải phát mệt và sợ. Định tưởng mình
cùng với cả một đám đông đang sôi sục đến chóng mặt trong một cái guồng quay đầy
luẩn quẩn”.
Nhà văn hiện đại nổi tiếng Lỗ
Tấn là một tài năng kiệt xuất với cái kích thước rộng lớn mà nước Trung Hoa hiện
đại mang lại cho ông.
Tôi không có ý muốn đặt tài
năng Nguyễn Minh Châu bên cạnh Lỗ Tấn, để làm một cuộc so sánh.
Tuy nhiên, đọc Chợ tết tôi
cứ thầm nhớ lại Cố hương của nhà văn Trung Hoa mà sinh thời Nguyễn
Minh Châu trong những câu chuyện với chúng tôi, thường tỏ ý khâm phục.
Cũng như trong Cố
hương, đọc Chợ tết, ta có dịp sống lại những ý nghĩ của người
con đi xa, về thăm quê cũ. Cũng vui buồn lẫn lộn xen lẫn bên nhau, và niềm vui
gặp lại dù rộn ràng bao nhiêu cũng không đủ xóa hết ấn tượng về sự nghèo nàn tù
túng đang vây bủa quê hương. Sau hết, sự gần gũi giữa Chợ tết và Cố
hương là ở cái chất trữ tình như một làn sương mỏng thấp thoáng ẩn hiện
sau những dòng chữ. Nhân vật Nhuận Thổ trong Cố hương sau mấy chục
năm gặp lại, cũng già đi, xấu xí tầm thường đi, như người đàn bà tên là Tề, mà
Định gặp trong phiên chợ tết. Nhưng người con của Nhuận Thổ là Thủy Sinh cũng
tươi tắn sinh động, như cô gái tên Kim, con gái mẹ Tề, coi sạp hàng sách quốc
doanh hôm nay. Kết truyện, trong khi Lỗ Tấn thiết tha tự nhủ “Chúng nó cần phải
sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống”, thì Nguyễn
Minh Châu, qua nhân vật Định, sau một hồi thảng thốt trước một thực tế luẩn quẩn,
cũng gần như kêu lên: “Kim, Kim, Kim, đời cháu mai ngày sẽ ra sao, nếu gắn chặt
với những làng xóm quê nhà yêu dấu?”.
Người ta thường nói nhà văn
nên kín đáo giấu mình sau tác phẩm. Nhưng trong thực tế sáng tác, trước những
khung cảnh xúc động, các nhà văn thường không ngại “xé rào” bước ra trò chuyện
trực tiếp với người đọc. Lỗ Tấn đã làm như thế, rồi đến lượt Nguyễn Minh Châu,
không hẹn mà nên, cũng làm như thế. Và điều nhân vật Định tự nhủ trong đầu cũng
là điều chính Nguyễn Minh Châu muốn nhắn nhủ với chúng ta qua Chợ tết.
Chương mười hai
Nối tiếp và thay đổi
Lưu Quang Vũ
Xuân Quỳnh
Nguyễn Duy
Lý Lan
Lưu Quang Vũ
Vài nét tiểu sử
Lưu Quang Vũ (1948-1988), nhà thơ, tác giả các tập thơ Hương cây (in chung với Bếp lửa - 1967), Bầy ong trong đêm sâu (in sau khi tác giả qua đời - 1993), và nhiều kịch bản nổi tiếng, trong đó có Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1984).
Sống mãi tuổi 40
Năm ấy (1979) nhà
hát Tuổi trẻ mới được thành lập đang cần có một vở diễn vừa bám sát đề
tài giáo dục thanh niên, lại vừa hấp dẫn. Đã có một kịch bản gửi tới, viết về
nhân vật lịch sử Lý Tự Trọng. Chỉ có điều kịch bản chưa được hay lắm, nếu không
gia công sang sửa e chưa dùng ngay được. Nhờ ai bây giờ? Đạo diễn Phạm Thị
Thành nhớ tới một cây bút lúc đó công tác ở tạp chí Sân khấu, ngoài
sáng tác thơ văn thường chỉ viết phê bình và trình bày báo, nhưng đã tỏ ra là một
cây bút tài hoa, nhạy cảm lắm. Con mắt tinh đời của Phạm Thị Thành quả không nhầm.
Vở diễn đứng được. Và người góp phần hoàn chỉnh Sống mãi tuổi
17, cũng trở thành cây bút đứng được trong nghề mới, sống hẳn với việc
sáng tác kịch bản, tung hoành trong giới sân khấu một thời; tuy vĩnh viễn chia
tay với đời ở tuổi 40, nhưng người ấy đã làm được một khối lượng công việc lớn
lao, người ta tính rằng từ thuở Nguyễn Đình Nghị làm “chèo văn minh” đến giờ,
nay mới lại thấy một người trong sân khấu để lại dấu ấn đậm đà như thế!
Nhà viết kịch ấy là Lưu Quang
Vũ.
Tưởng như Lưu Quang Vũ đã đến
với sân khấu một cách ngẫu nhiên, song không hẳn như vậy. Từ lâu gia đình Vũ và
bản thân cuộc đời Vũ đã chuẩn bị cho bước đi quyết định ấy, trên đủ mọi phương
diện.
Con nhà nòi. Tài năng đa dạng
Cũng như Cao Xuân Hạo và Nguyễn
Đình Nghi, Nguyễn Huệ Chi và Phan Hồng Giang, Đỗ Hồng Quân và Nguyễn Đình
Chính… Lưu Quang Vũ là một thứ con nhà nòi trong nghệ thuật. Ông Lưu Quang Thuận,
thân sinh ra Vũ, cũng là một nhà thơ, một kịch tác gia có quan hệ rộng trong cả
giới. Hoàn cảnh con nhà nòi đó khiến Vũ từ nhỏ đã có may mắn sống giữa những
người làm nghề sáng tạo. Nhiều nhà văn, nhà thơ hoặc các họa sĩ, nhạc sĩ quen
biết, nếu không phải hàng xóm với gia đình Vũ từ hồi ở Hạ Hòa – Phú Thọ, hoặc
96 phố Huế (Hà Nội) thì cũng là bạn bè hoặc cùng cơ quan với bố mẹ cậu, từng có
lần đến thăm gia đình cậu. Trong số những câu chuyện mà Vũ sớm được nghe bên
mâm cơm mỗi ngày có đủ chuyện liên quan đến văn nghệ, từ một cuộc triển lãm mới
mở cửa, một tập thơ vừa ra đời đã làm xôn xao dư luận trong giới, cho đến những
câu chuyện hậu trường, một diễn viên phải bỏ nghề, hoặc một mối tình mãi mãi
chìm trong bóng tối. Đối với Vũ, như vậy nghệ thuật là một thứ không khí quen
hít thở. Cậu sống trong đó tự nhiên thoải mái, không bao giờ bị mặc cảm xa lạ của
một kẻ đứng ngoài hành hạ. Trong khi nhìn nghệ thuật không quá xa vời, Vũ vẫn
giữ được ở đó một tình yêu và cả những say mê, để rồi khi cần sẵn sàng lui tới
trong đó như một nghề kiếm sống thích hợp.
Cũng do là một thứ con nhà
nòi, Lưu Quang Vũ sớm được tiếp xúc và từng bắt tay làm thử nhiều công việc
khác nhau trong nghệ thuật. Ngoài sáng tác thơ, kịch, lúc nhỏ, Vũ còn cắp giá vẽ
theo học các họa sĩ Phạm Viết Song, Nguyễn Đức Nùng. Sở dĩ sau này đi bộ đội,
Vũ có thể có lúc vừa viết chèo vừa làm diễn viên chèo trong đội văn nghệ trung
đoàn, rồi khi thất cơ lỡ vận, có thể đi vẽ từng tấm phông quảng cáo để kiếm sống
qua ngày, thì cũng là vì tất cả những việc ấy anh đã từng làm qua lúc còn niên
thiếu. Có thể nói phần nào trong Lưu Quang Vũ đã hội đủ những đặc điểm của người
nghệ sĩ Việt Nam, ít nhất là ở phương diện tự đào tạo: nhiều người trong họ gì
cũng biết, mầy mò làm dần mà biết; một sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong những trường
chuyên môn gần như không có, chỉ vừa học vừa làm, học đến đâu làm đến đấy.
Từ mây xanh đến đất đen, và
“sự trở về của đứa con hư hỏng”
1964-1968 là thời điểm đánh
dấu sự xuất hiện của hàng loạt nhà văn, nhà thơ mới vào nghề, mà về sau, sẽ được
mệnh danh là thế hệ chống Mỹ. Trong số những cây bút đến nay còn được gọi là trẻ
đó, Lưu Quang Vũ trẻ nhất, song cũng sớm được ưu ái nhất. Ngay từ lúc một số
bài thơ của anh như Lá bưởi lá chanh, Đêm hành quân, Qua
sông Thương… mới được đăng báo, nhà phê bình hàng đầu trong văn đàn lúc ấy
là Hoài Thanh đã có bài viết khen ngợi. Tiếp đó, sau khi xuất hiện tập
thơ Hương cây (in chung với Bếp lửa) đi đâu cũng thấy nói đến
thơ Lưu Quang Vũ. Người ta sẵn sàng làm mọi việc để tỏ lòng ưu ái với một tài
năng trẻ.
Trước một khoảng không quá tự
do được mở ra trước mặt một người vừa bước vào tuổi 20 như Lưu Quang Vũ khó
lòng tránh khỏi những bước loạng choạng. Sự ngây thơ đẩy Vũ tới chỗ tưởng mình
muốn làm gì cũng được, không ai có quyền động tới mình. Và thế là, tiếp theo nụ
cười vui mừng, giờ đến lúc thái độ nghiêm nét mặt đe nẹt ngự trị… Và cái việc gây
ra đớn đau kinh sợ với một người sáng tác đã xảy ra, đó là không được in bất cứ
cái gì viết ra nữa. Trong cuộc đời Lưu Quang Vũ, tiếp theo thời gian bay lên
mây xanh hôm qua là những ngày rơi xuống đất đen: không có việc làm, không có
tiền tiêu, không người tin yêu trò chuyện. Giận dữ hờn tủi đã nảy nở lên thành
những hoài nghi khinh bạc lấp đầy tâm hồn anh. Đã có những bạn bè tưởng rằng
Lưu Quang Vũ cứ triền miên mãi trong cái bãi lầy ấy để rồi về sau, lại càng mừng
cho anh, thậm chí bái phục Lưu Quang Vũ, khi thấy anh vượt qua khủng hoảng, trở
nên thăng bằng hơn trong suy nghĩ, cứng cáp và có nghị lực hơn trong cách sống.
Việc trở lại làm ở tạp chí Sân khấu, những công việc chung quanh tập chân
dung các diễn viên và đạo diễn như Song Kim, Thế Lữ, Trúc Quỳnh, Trần Tiến… sau
hết là việc góp sức sang sửa hoàn chỉnh Sống mãi tuổi 17 đã đánh dấu
một sự tái sinh của Lưu Quang Vũ, mở đầu một quãng đời huy hoàng ở anh, nó cũng
làm nên hình ảnh chính về Lưu Quang Vũ trong lòng dư luận cả nước. Phép thần kỳ
nào đã xảy ra? Đấy là cả một câu chuyện dài dòng. Nếu được nói ngay thì chỉ xin
tiết lộ một bí mật nhỏ là trong mỗi quãng đời trên, Lưu Quang Vũ đều tìm được
ít ra một người đàn bà tài năng làm bạn đồng hành. Trong nhà thơ, nhà viết kịch
này đồng thời có một người đàn ông duyên dáng, hấp dẫn, biết tìm ở phụ nữ lời
an ủi trong những ngày cơ cực, lại cũng biết tựa vào đấy để lấy thêm nghị lực sống
và viết. Giá như ở một nước Tây Âu nào đó, người ta đã có thể viết một cuốn
sách đại khái như là Những người đàn bà trong đời Lưu Quang Vũ.
Nhưng thôi, hãy trở lại với
con người nhà nghệ sĩ này những ngày mà anh biết sống hòa hợp với sự nổi tiếng,
tức cũng là khôn ngoan chín chắn hơn trong quan hệ với dư luận và biết khai
thác mình một cách hiệu quả nhất.
Cây bút hành nghề vững chãi
Trong các loại hình nghệ thuật,
sân khấu vốn là khu vực mang tính tổng hợp rõ nét. Với Lưu Quang Vũ, sự tổng hợp
này được nhuần thấm và biểu hiện ra ở nhiều vẻ. Anh viết được đủ loại: kịch
nói, chèo, cải lương, các loại kịch dân ca. Anh đặc biệt nhạy cảm khi làm việc
với đạo diễn, diễn viên cũng như những người làm các công việc phụ trợ cho sân
khấu. Đề tài sáng tác của anh lại trải ra rất rộng. Người xem tìm đến kịch của
anh không chỉ để nghe cười, nghe giễu, để xì ra một chút những phẫn nộ nho nhỏ
tích tụ hàng ngày, mà còn để ao ước, mơ mộng, để sống lại những kỷ niệm xa xưa
hoặc phiêu bạt sang những miền đất lạ không kém phần thi vị. Là đứa con của
thành thị, Lưu Quang Vũ cảm nghe rất rõ cái chất ngổn ngang dang dở của đời sống,
lại càng hiểu rằng đến lượt nó, sân khấu cũng phải như vậy; trước tiên trên sàn
diễn phải có tích có trò, có cái cho người ta xem, sau đó mới tính đến những điều
cao xa khác. Nguồn gốc của sự phổ biến rộng rãi các kịch bản của Lưu Quang Vũ
có lẽ bắt đầu là ở chỗ ấy?
Ngay từ hồi mải làm thơ, Vũ
đã nổi tiếng là một cây bút dễ dàng trong sự sáng tạo, ngồi đâu cũng viết được,
nhiều khi như con gà đẻ bờ đẻ bụi, không sao nhớ nổi; đến nay nhiều bài thơ hay
của Vũ vẫn đang thất lạc, người ta chỉ truyền cho nhau trong sổ tay mà không hề
đăng báo, chính Vũ cũng không giữ được nguyên bản. Lúc chuyển qua viết kịch, Vũ
vẫn giữ được sức sáng tạo dồi dào và một chút nhẹ nhõm trong cái nhìn đối với
công việc như vậy. Từ chỗ mon men đứng ở bên rìa, Lưu Quang Vũ đã vào ngay giữa
sàn diễn, trong mấy năm cuối đời, anh như người có phép lạ, có mặt ở khắp mọi
nơi, đến đâu cũng thu hút hồn vía của đám người mê sân khấu tạo nên một thứ như
là hiện tượng Lưu Quang Vũ, hội chứng Lưu Quang Vũ để rồi với những bạn
bè quen biết từ thuở hàn vi, Vũ vẫn dành riêng cái “nháy mắt” thân tình và lời
tâm sự tha thiết:
- Không, làm sân khấu là tôi
làm chơi thôi. Thơ mới là chốn tâm huyết của tôi! Sự nghiệp của tôi phải tính ở
đấy!
Tác phẩm để đời. Dấu hiệu của
một cuộc sống đã hoàn thành.
Nói cho đúng, cái “nháy mắt”
của Lưu Quang Vũ không hẳn là một sự cao ngạo hay chuyện đãi bôi. Chưa bàn xem
thơ của Vũ ra sao, song có điều chắc là một số kịch bản của anh đã là một thứ
hàng chợ, vừa miệng nhiều người, mà chẳng để lại được mấy dư vị. Những dấu hiệu
chân tài đã hiện ra thấp thoáng, song lại tản mát, nhạt nhòa. Chỉ trừ có một
trường hợp. ấy là kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Có thể nói
đây là tác phẩm đạt đến đỉnh điểm trong sự sáng tạo của một nghệ sĩ, và Vũ đã đặt
vào đó tất cả: sự sống và cái chết, chuyện trước mắt và chuyện muôn đời, thiên
đình và hạ giới, ông già và trẻ con, tình yêu và thù hận, lời thúc giục người
ta hãy sống thật hăm hở, quyết liệt và nụ cười độ lượng hàm rõ cái ngụ ý rằng
rút cục mọi chuyện vẫn thế, bảo cuộc sống luôn luôn thay đổi cũng đúng mà bảo
nó mãi mãi như cũ cũng đúng. Là một tác phẩm viết cho sân khấu, nhưng Hồn
Trương Ba, da hàng thịt lại có ý vị của thơ và bàng bạc một triết lý giàu
chất nhân bản.
Với Hồn Trương Ba, da
hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã trở nên già dặn hơn bao giờ hết. Và chính với
tác phẩm để đời ấy, cuộc đời sáng tạo của anh có thể đã hoàn thành, ở cuộc đời ấy,
có không ít chuyện tầm phào để người đương thời đồn thổi, song cũng có đủ gắng
gỏi, kiên tâm, tự gạn lọc và tự vượt lên so với chính mình, ấy cũng là những điều
để cho người ta nhớ mãi.
Vài nét tiểu sử
Xuân Quỳnh (1942-1988), tác phẩm chính: Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1973), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (in sau khi tác giả qua đời - 1989).
Những buồn vui của kiếp hoa dại
Đến tận cùng đau đớn, đến
tình yêu
X.Q - Thơ tình cho bạn
trẻ
Khi nghe ca sĩ Thúy Mị hát
bài Đợi, có lẽ bạn nghe đài cũng như bạn đọc nói chung nhiều người không
để ý rằng trong việc phổ thơ Vũ Quần Phương, nhạc sĩ Huy Thục đã làm một việc đảo
lộn nho nhỏ. Nguyên văn câu thơ đầu tiên trong bài của Vũ Quần Phương Anh
đứng trên cầu đợi em. Bài thơ nói cái cảnh người đàn ông đợi người đàn bà.
Còn bản nhạc Đợi của Huy Thục thì diễn tả một tình thế ngược lại: Người
phụ nữ tới trước và đợi người yêu của mình. Cả bài ca là tiếng lòng tha thiết của
chị khi chủ động làm công việc chờ đợi đó.
Người viết bài này chưa có dịp
gặp Huy Thục để hỏi nhạc sĩ tại sao đổi vậy. Nhưng khách quan mà xét, thì việc
đảo lộn ấy là rất hợp quy luật.
Không hẹn mà nên, trong ca
dao dân ca, trong chèo, trong truyện cổ tích, khi cần diễn tả tình yêu, các tác
giả vô danh và khuyết danh Việt Nam có thói quen để cho phụ nữ đóng vai trò chủ
động. Họ thường yêu sâu sắc hơn nam giới. Họ không ngại mang tiếng là yêu trước
và sau đó lại chung thủy đến cùng, kể cả vì thế mà bị lừa lọc phản bội, rồi
thân tàn ma dại và suốt đời mang tiếng là khờ khạo, nhẹ dạ. Xúy Vân trong vở
chèo cùng tên đã đứng cao hơn Trần Phương, như Kiều có chút gì đó hết mình hơn,
người hơn, mà lại trong sạch hơn, bên cạnh Kim Trọng. Sang thời hiện đại, một Tố
Tâm “bít khăn tua đen”, “đầu ngôi rẽ giữa”, “tóc vuốt sáp”, cũng là nhiều lần
cao đẹp hơn trong tình yêu, so với nhân vật xưng tôi trong thiên truyện của
Hoàng Ngọc Phách: Tố Tâm vừa say đắm hơn, vừa rộng lượng hơn bên người học trò
Đạm Thủy một mực tuân thủ lễ giáo, lúc nào cũng ra vẻ long trọng, song thực ra
lại nhút nhát. Chẳng trách mà ngày nào Hồ Xuân Hương đã tai quái ném ra cái
hình ảnh Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng. Đằng sau cái tư thế cụ thể tức
cười, câu thơ phác ra một điều khái quát, nó là một sự thật càng sống càng thấy
đúng: đó là vẻ cao quý của một người phụ nữ Việt Nam, cao quý ngay trong sự chủ
động Đợi mà Huy Thục hôm nay chạm tới.
Không biết có nên gọi là
truyền thống không, nhưng đấy thật là nét lạ của phụ nữ Việt Nam và hôm nay nó
cũng đang được các thế hệ phụ nữ ta chứng minh. Một trong những trường hợp đó
là nhà thơ Xuân Quỳnh.
Niềm khao khát khôn nguôi
Cũng như các diễn viên ca,
múa và những chị em làm nghệ thuật khác, một phụ nữ làm thơ viết truyện ở nước
ta dễ chuốc lấy nhiều thành kiến không đâu. Ngoài việc có hai đời chồng, ở Xuân
Quỳnh lại còn kèm thêm những vụ tai tiếng trong tình yêu mà trong giới gần như
không ai không biết. Nên chi có thể nhiều người bỡ ngỡ không tin khi nghe nói
Xuân Quỳnh là một con người hết sức tha thiết với hạnh phúc gia đình. Nhưng sự
thật là vậy. Lớn lên trong cảnh mồ côi mẹ (Em đánh chắt chơi chuyền từ nhỏ
– Hái rau dền rau rệu nấu canh – Tập vá may tết tóc một mình – Rồi úp mặt lên
bàn tay khóc mẹ), suốt đời người con gái này khao khát một nơi nương tựa,
tức một gia đình hạnh phúc. Không bao giờ chị yêu một cách đùa cợt. Yêu ai là
tính chuyện sống hẳn với người đó. Với bàn tay thô vụng, bàn tay “mó tới đâu là
đổ vỡ”, bàn tay “khi nói chuyện với ai,… thấy tay thừa không biết giấu vào
đâu”, chị chăm chỉ lo mọi việc nhà và không thể làm gì, kể cả đọc sách làm thơ,
nếu chưa lo được cho chồng con bữa ăn ngon, bộ quần áo sạch. Vốn có nhiều kinh
nghiệm về quyền lực của nhan sắc nhưng nhân nói về thơ, có lần chị vẫn cả quyết:
“Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình. Cái để cho
người ta làm quen với nhau là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại
là đức hạnh”.
Cùng với tuổi tác, mỗi ngày
Xuân Quỳnh mỗi thấy cái đức hạnh ấy là lẽ sống của mình. Tiếp nối những bài thơ
khao khát tình yêu lúc trẻ, những bài thơ chị làm mấy năm cuối đời thường đầm ấm
một tình yêu gia đình, yêu chồng yêu con, nhiều bài thơ thiết tha như lời tự nhủ
rằng có lẽ trong hoàn cảnh nước mình, được như thế này đã có thể gọi là hạnh
phúc. Tuy mỗi thời cái hạnh phúc ấy có một khuôn mặt riêng, song bao giờ chị
cũng run rẩy khi được biết mình đang có nó, đang được sống với nó. Và càng mong
manh dễ vỡ, với chị, nó lại càng đáng quý.
Lầm lẫn nhưng không man trá
Có một
mô-típ thơ thường hay trở đi trở lại trong thơ Xuân Quỳnh là cỏ dại, hoa dại, với
tất cả những cay đắng thua thiệt mà loài hoa này phải chịu.
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi
nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà
thôi
Không phải hoa được ở cùng
người
Được chăm sóc trong mảnh vườn
sạch cỏ
Được khoe đến muôn màu sắc lạ
Và được đời chiêm ngưỡng mùi
hương
Không phải hoa được cắm trên
bàn
Trong ngày hội của những niềm
vui mới
Những hoa này lại nở cho triền
núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng
chung
Nên ít ai để ý sắc từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng
nhớ
Có thể chỉ là trong tiềm thức,
nhưng hình như nhà thơ thầm cảm thấy hoa dại, cỏ dại là ứng với mình. Tại sao?
Không phải cứ khao khát là người ta đã có được hạnh phúc. Cũng như phần lớn
chúng ta, trên đường truy tìm hạnh phúc, không biết bao lần trong cuộc đời, con
người thông minh và cực kỳ nhạy cảm này đã lầm lẫn, đã là nạn nhân của những ảo
tưởng về mình và về người. Cái khỏe của Xuân Quỳnh là đã vượt qua được những
đau khổ để tiếp tục sống. Nhưng dầu sao, tận đáy lòng chị vẫn thấy có chút gì
xót xa tội nghiệp cho mình: giá có ai bảo mình, giá mình biết sống hơn… Trong
hình ảnh hoa dại, nhà thơ không chỉ tìm thấy niềm an ủi, ở đó còn bao hàm cả lời
thú nhận về sự bất lực của bản thân, cả nỗi hờn tủi, oán trách.
Có một điều cũng phải nói
ngay là mặc dù qua nhiều lầm lẫn, nhưng Xuân Quỳnh thường có cách ứng xử khác hẳn
những kẻ tầm thường: chị không man trá. Khi nhận ra lầm lẫn, chị sẵn sàng làm lại
tất cả. Chị ghê sợ những gì giả tạo. ở đây không chỉ có sự thành thực mà còn có
một chút gì như sự sòng phẳng, mà trước khi cần cho mọi người, đã là cần cho
chính chị. Trong khi làm khổ Xuân Quỳnh không biết bao nhiêu mà kể, sự thành thực
này tựu trung chỉ cứu chị, giúp ích chị trong một việc: làm thơ. Càng đau khổ,
càng muốn tìm đến thơ để tự giải thoát. Tự trong thâm tâm chị hiểu rằng nếu cuộc
sống là cái gì quan trọng nhất với mình thì thơ lại là cách duy nhất để mang lại
cho cuộc sống đó một hình thức bất tử.
Bị tình yêu hành hạ
Sinh thời, khi trò chuyện với
bạn bè, Xuân Quỳnh thích nhắc lại một câu nói của Tolstoi, đại ý cho rằng người
ta sẽ có sức mạnh vô cùng vô tận nếu có tình yêu; tình yêu làm nên tất cả. Nếu
có một thứ tôn giáo tình yêu thì chị chính là một trong những tín đồ ngoan đạo
nhất. Tình yêu quả thật đã giải phóng ở chị những sức lực không ngờ trong cuộc
sống, làm việc và gây dựng gia đình. Và chị tưởng rằng với tình yêu, mình có thể
làm được tất cả, biến kẻ xấu thành người tốt, gã đàn ông ích kỷ thành người chồng
hết lòng với vợ con; thậm chí tình yêu vượt luôn được cả những cách xa về thời
gian tuổi tác để đưa bất kỳ lứa đôi nào trở thành những cặp vợ chồng mẫu mực.
Chỉ cần có một chút kinh
nghiệm thôi, người ta sẽ nhận ra ngay rằng niềm tin ấy của Xuân Quỳnh là ảo tưởng.
Là yếu tố thiết yếu để tạo nên hạnh phúc nhưng tự nó, tình yêu chưa phải là hạnh
phúc. Vả chăng, nói gì thì nói, sức mạnh của tình yêu cũng chỉ có giới hạn, nhất
là khi nó chưa phải là sự hòa hợp của hai tâm hồn mà mới là tình yêu một phía của
người đàn bà với người đàn ông. Giá có dịp đứng ngoài mà nhìn, Xuân Quỳnh sẽ
công bằng mà nhận rằng trong khi chỉ mang lại một ít niềm vui thì ảo tưởng kia
đã là nguồn gốc gây nên mọi bất hạnh nơi chị. Đồng thời với việc bòn rút tâm lực,
nó còn làm biến dạng cả chính chị nữa. Con người rất sợ những gì dối trá giả tạo
có lúc đã phải đóng vai hạnh phúc. Chót kiêu căng quá tin vào sức mạnh của
chính mình, chị không còn dám chia sẻ về nỗi đau khổ với bất cứ ai. Cái giá phải
trả quả thật quá lớn!
Nhưng nếu được cãi lại, thì
Xuân Quỳnh không ngần ngại mà nói rằng “Với tôi, niềm tin ấy chính là số phận”.
Khi đã thành lời nguyền, dù nặng nề biết bao nhiêu, chị vẫn tự nguyện mang nó.
Và như sau này ta thấy, chị đã mang nó cho tới lúc chết. Hình ảnh cả đời Xuân
Quỳnh rút lại là hình ảnh một con người sống bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình
yêu, sung sướng vô cùng trong tình yêu và cũng bị tình yêu hành hạ đến cùng cực.
- Tôi có một tình yêu rất
sâu
Rất dữ dội nhưng không bao
giờ yêu được hết
ở các cô, các cô âm thầm chịu
đựng
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt
đi
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng
nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày
càng lớn
Luôn xáo động tôi không sao
ngủ được
Không làm sao có thể ngồi
nguyên….
Ôi con trai thật là kỳ lạ
Tôi yêu tất cả mọi người mà
chẳng yêu được riêng ai
Không sĩ diện đâu, nếu tôi
yêu được một người
Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta
yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay
đắng
Những câu thơ ấy là lời thú
nhận của Xuân Quỳnh nhưng cũng là lời thú nhận của bao thế hệ phụ nữ từ Xúy
Vân, Kiều, Tố Tâm đến cô gái trong bài hát Đợi, cô gái trong bài
hát Sợi nhớ sợi thương (“Nghiêng sườn đông mà che cho anh -… Mà em nghiêng
hết về phương anh”). Chỉ những người phụ nữ say đắm, tự tin, những người hồn
nhiên nhận lấy sự ràng buộc của số phận mới có cách cư xử cao thượng như vậy.
Trong khi thông cảm với những đau đớn đến xé ruột xé lòng họ từng phải gánh chịu,
đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng trước tiên họ đáng kính trọng.
Nguyễn Duy
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Duy, sinh 1948. Tác phẩm chính Cát trắng (1973), ánh trăng (1984), Về (1994), Bụi (1997).
Một bản sắc đã đến lúc định hình
Có những tài năng “tinh hoa
phát tiết” từ những tác phẩm đầu tay và cuộc đời tiếp sau của con người đó
trong nghệ thuật là một chuỗi ngày mỏi mòn tẻ nhạt. Lại có những cây bút phải
qua thời gian mới tìm thấy lại mình, sự trưởng thành muộn màng nhưng chắc chắn.
Nguyễn Duy là một trường hợp như thế: ở ngưỡng cửa của tuổi 50, anh mới cho in
một tập thơ có lẽ là đều tay hơn cả, chín hơn cả trong đời thơ của mình.
Người làm thơ ấy đã được biết
tới rộng rãi trong những năm từ 1975 về trước, với mấy bài thơ quen thuộc
như Tre, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, thường có mặt trong các tuyển
tập và đã đưa vào sách giáo khoa học sinh phổ thông. Nhưng đúng như người bạn
vong niên của tác giả là nhà văn Nguyễn Quang Sáng (trong bài viết in ở cuối tập Mẹ
và em) đã nhận xét, thơ Nguyễn Duy hồi ấy còn non nớt, mà tác giả thì còn
trong cơn trăn trở tìm tòi. Cuộc tìm tòi này kéo dài liên tục qua các tập ánh
trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1990). Giờ
đây, với tập Về từ chỗ pha giọng, chập chững, mày mò, nhà thơ đã đi tới
một giọng thơ có nhiều phẩm chất thuần nhất. Dân dã mà hiện đại, từng trải dạn
dày song lại run rẩy tinh tế, cay đắng ngậm ngùi ngay trong khi cười cợt đắm
say, lam lũ dông dài mà vẫn có những nét cao sang riêng, thơ Nguyễn Duy những
năm 90 gợi ra cảm tưởng một bản sắc đã chín, đã định hình ở đó có tất cả những
phóng túng nồng nàn, lẫn những ngang trái khó chịu mà đã yêu thơ anh người ta
phải chấp nhận.
Bao dung nên giàu có
ở những tập thơ trước, Nguyễn
Duy đã tự giới thiệu như một người hay đi. Một cách hình tượng, bạn bè bảo Duy
thời ấy “như một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài, thì
ở trong tàu, lúc nào cũng nghe cái tiếng gõ lộp cộp của nó, nó đòi đi”. Đến những
năm gần đây, lẽ tự nhiên là Nguyễn Duy vẫn hay đi lắm, giang hồ phiêu bạt đủ chốn,
song cái ấn tượng toát lên từ thơ không phải là sự đi nhiều mà là sự từng trải.
Dù viết về chuyện gì – cát trắng Quảng Trị, mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu
Long hay chỉ phác ra mấy nét sinh hoạt phố xá Sài Gòn, các bài thơ đều thống nhất
ở cái tâm trạng riêng của tác giả. Trước chuyện khiêu vũ chẳng hạn: với tư cách
là một cựu chiến binh, một người “chân đất”, những tưởng anh sẽ nhìn lại cái cảnh
“khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng” này bằng cặp mắt xa lạ, chối
bỏ. Hoặc cũng có thể – như thái độ quay ngoắt 180 độ thấy ở nhiều người – lại
ngả sang mốt tân thời, hết lời ca ngợi, cho như thế mới là văn minh lịch sự!
Nguyễn Duy của những năm này đã vượt qua cả hai thái cực nông nổi như vậy. Với
tầm nhìn rộng rãi hơn, anh hiểu ngay rằng, thật ra, cả thế gian là một cuộc
khiêu vũ, và chính nhà thơ trong anh cũng thường phải làm một cuộc nhảy nhót đầy
nhọc nhằn. “Vũ trường giấy trắng cô đơn anh khiêu vũ giấc mơ – Không bắt đầu
từ đâu, không kết thúc nơi nào”. Một cách tương tự, tâm trạng quán xuyến
trong anh khi ngồi xem cuộc thi “hoa hậu vườn nhà ta” là “mắt vui vui khúc
ruột buồn buồn”. Bài thơ đọng lại ở mấy câu “Hậu hoa hậu còn gập ghềnh
lắm – Được cũng thương mà thua cũng thương”. Nhờ cái nhìn bao dung như vậy,
bản thân Nguyễn Duy đã giàu lên khá nhiều. Giờ đây đến với anh, người ta không
chỉ gặp những cơm bụi, cát, rau muống, rau tập tàng, cánh cò phiêu bạt… – tức
những mảnh đời buồn buồn tủi tủi, mà còn có dịp cùng anh lắng nghe chuông chiều
Dresden, nhận ra một Mặt Danube đỏ nhừ như say khướt bên cạnh một Danube
xanh muôn thuở của Budapest. Rồi ảo giác, rồi áo trắng má hồng,
rồi pháo tết… bao nhiêu là vẻ đời – có khi sặc sỡ, có khi thơ mộng, lại
nhiều khi đẹp đẽ đấy mà thê thảm đấy – hiện lên như trong ống kính vạn hoa.
Song dù quay cuồng hỗn loạn đến đâu thì với Nguyễn Duy, thế giới này vẫn có cái
gì đó cận nhân tình, và có cái vẻ đáng yêu riêng của nó. Ngay việc vận dụng
hình thức – tức việc chọn chữ, đặt câu, hình thành nhịp điệu trong thơ anh,
cũng đều xuất phát từ một cách nhìn đời, một mỹ cảm nhất quán như thế cho nên
cái cảm hứng chính mà tác giả muốn làm lây truyền thêm thấm thía, khi đến với bạn
đọc.
Chữ lạ, người lạ
Sự tìm tòi không phải là nhu
cầu của riêng ai. Đọc nhiều tập thơ xuất bản dăm bảy năm gần đây, người ta nhận
thấy một ý hướng chi phối người làm thơ là họ đều muốn cục cựa, thay đổi, mỗi
người mò mẫm một cách, những mong có được cách diễn đạt thích đáng về một thế
giới mà họ đều cảm thấy là đang thay đổi. Hiềm một nỗi là đọc một số tập thơ loại
đó, thấy người viết cứ miên man tìm kiếm, mỗi lúc một kiểu, mỗi bài một hướng,
không tạm dừng lại ở hẳn một chỗ nào, làm rõ một giọng nào, kết quả là cả tập
thơ vừa bề bộn vừa tẻ nhạt, đơn điệu ngay trong những tìm tòi hỗn loạn thường
trực.
ở tập thơ này, Nguyễn Duy có
cách tìm khác. Sau khi dò ra mạch, anh dừng lại khai thác đến cùng. Nhờ thế Về có
được sự nhất trí mà ở những tập thơ của nhiều người khác, người ta thấy thiếu.
Trước tiên là ở khu vực chữ
nghĩa. “Thơ là sự do dự giữa chữ và nghĩa”, “chữ bầu lên nhà thơ”, “sự say mê
sáng tạo ngôn từ phải là sự say mê đầu tiên của một nhà thơ” – những tuyên bố lớn
lao, không phải là mục đích Nguyễn Duy theo đuổi, song có thể anh cũng không ngại
gì sự thách thức của những khái quát kiểu ấy, đơn giản là vì nếu không có điều
kiện để quan tâm tới mọi khía cạnh của vấn đề hình thức thì cũng có một số
phương diện của nó được anh chăm sóc tỉ mỉ, và gắng tìm tòi một cách xử lý
riêng. Nói cụ thể hơn, trong nhiều sự đắm đuối đôi khi đến mức đồng bóng mà con
người này nhận lấy và cho phép nó thả cửa hành mình, có sự đắm đuối đi tìm những
chữ lạ, những chữ méo mó, oái oăm, song lại diễn tả được hết cái trạng thái kỳ
cục của sự vật. ở đây đại khái có thể thấy hai loại. Một là có những
chữ mọi người đã dùng nát ra rồi, nay được Nguyễn Duy sử dụng lại, song nhờ sử
dụng một cách thích đáng lại tạo hiệu quả kỳ thú. Hai là có những chữ
đọc lên ngờ ngợ, không rõ tác giả bịa ra hay nhặt ở đâu không ai biết, song lại
được dùng đắc địa, người ta không ai cãi nổi. Tổng hợp cả hai loại này là cả một
bản hợp xướng của những chữ lạ: “ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma”, “đàn kêu tang tảng
tàng tang”, “ỡm ờ dở dói dồn ghe dạt bèo”, “Phang anh xất bất xang bang sao
đành” v.v… Có nhiều bài thơ như các bài Nợ nhuận bút, Trở gió, Em đi,
Gió gần như câu nào cũng có một chữ lạ đặc kiểu Nguyễn Duy như vậy. Đã bao
nhiêu người tả gió, nhưng đến Nguyễn Duy, người ta mới bắt gặp một thứ “hội hóa
trang” của gió, hết gió cong queo lại gió tuây huây, gió loang
toang, gió vùng vằng, rồi đến gió rờn rợn và cả gió tâm thần nữa.
Ngày của anh là ngày ngun ngủn, trăng là trăng rỗng tuếch (trong
một câu thơ đẹp một vẻ đẹp cổ điển Đêm suông rỗng tuếch trăng
tà), mây là thứ mây tướp, thời gian thì trôi thườn thượt và
con người nếu không là rơm rạ, không hóa đá, thì
cũng lẫn với ma, cùng là các loại người đi như xác chết trôi giữa
đường. Đến đây, lại càng thấy rõ trong một nền thơ, cuộc khiêu vũ ngôn từ
trải ra trên cả một vũ trường hết sức rộng rãi, có người chỉ nhảy theo nhịp cổ
điển, có người thích lao vào những thể nghiệm hoàn toàn mới. Về phần mình, Nguyễn
Duy ở vào giữa hai đám chúng sinh đó. Tìm đến đâu anh vận dụng ngay đến đó. Sở
dĩ đôi khi anh đưa ra những chữ lạ, không phải vì anh bị chúng quyến rũ, hoặc
ham chơi quá, sẵn sàng “thể nghiệm để thể nghiệm”, mà đơn giản chỉ vì phải những
chữ ấy mới diễn tả hết cái vẻ riêng của thế giới anh quen hình dung. Chữ vẫn
trong tay anh sai khiến.
Những người có quen Nguyễn
Duy thường tỏ vẻ thú vị, khi đối chiếu con người anh với thơ anh. Bề ngoài đó
là con người lùn mập, mặt vuông, bàn chân bè, bàn tay chai sạn, mái tóc ổ rơm.
Hình như đó là một thứ ngoại hình không thơ chút nào. Giải thích tình trạng ẩn
tướng thú vị này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bình luận một cách thân ái “Hình hài
Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên
đám đất hoang đó”.
Nói thơ Nguyễn Duy là thứ
cây quý, điều ấy nhiều người có thể chia sẻ. Song “chữ quý kia cũng có ba bảy
đường” – tôi tưởng nên nói rõ ở đây không có sự tương phản nào hết. Ngược lại
cái quý và cái lạ của thơ Nguyễn Duy là nó mang được hình hài của đám đất hoang
đã nuôi dưỡng nó. Đó là một vẻ cao quý riêng, không lẫn với sự cao quý thông
thường chúng ta vẫn gặp.
Có lần, nhân tả một đám học
trò, Nguyễn Duy bột phát đưa ra một “tuyên ngôn” về cái đẹp: “đẹp như là
không đâu vào đâu”. Quả thực, đọc thơ Nguyễn Duy rất hay bắt gặp những gì
bâng quơ bất chợt, những gì hồn nhiên mà đẹp như vậy. Mà trước tiên là giọng
thơ. Nhịp thơ trong Về không có cái cân xứng cổ điển. Luôn luôn nó có
cái vẻ “Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh” thế nào đó. ở đây người ta không bắt
gặp cái ngân vang tuyệt vời trong thơ Đường mà về sau còn thấy vang vọng kín
đáo trong Thơ mới. ở đây, thường khi người ta bắt gặp những trái khoáy ngang
phè, những nghịch phách tương phản, mà chỉ trong âm nhạc hiện đại mới thấy, để
rồi được đẩy lên, gợi một cảm giác vừa khó chịu, vừa thú vị.
Bên cạnh thơ tự do, ai cũng
biết Nguyễn Duy khá “ăn chịu” với thơ truyền thống, thơ lục bát. Song có thứ lục
bát của ca dao Bắc bộ nuột nà óng ả, lại có thứ lục bát của câu đố, của xẩm,
dông dài, tàng tễu, ở đó con người thường thích cười cợt và chỉ thỉnh thoảng mới
thoáng qua một chút rưng rưng để rồi lại tự giấu đi rất nhanh sau tiếng cười.
Thơ Nguyễn Duy chính là ngả sang loại lục bát thứ hai này, nó hợp với cốt cách
bình dân, bụi bặm của thơ anh, mặt khác, lại tạo được cái vẻ đẹp kỳ dị mà chỉ
thơ hiện đại mới chấp nhận.
Cuộc trở về không ảo tưởng
Từ nhiều tập trước, trong
thơ Nguyễn Duy đã láy đi láy lại mô-típ trở về. Sau khi chìm nổi cùng đám đông,
những phút cô đơn là những phút con người này trở lại với những giá trị cội nguồn.
Dù ở đâu, thì với thi sĩ, làng quê xưa cũng là một cõi nhớ. Nó là đối trọng của
thành thị. Nó có chút gì đó trong sáng thanh sạch mà càng từng trải người ta
càng khao khát. Chỉ có điều cần nói là nếu ở một số người (và ở chính Nguyễn
Duy trong các tập trước), trở về hàm nghĩa một sự lý tưởng hóa cảnh điền viên thì
giờ đây, trong cuộc trở về này, nhà thơ vẫn giữ được vẻ tỉnh táo cần thiết.
Làng quê nói riêng, quá khứ nói chung, chỉ là một bộ phận hợp thành của cái thế
giới kỳ cục, như quả sầu riêng “vừa thủm vừa thơm”, mà tất cả chúng ta đang phải
sống. Song bởi lẽ nó là cuộc đời của mình, những kỷ niệm của mình, nên người ta
vẫn có thể yêu nó bằng một tình yêu hồn nhiên nhất. Sớm mai đánh bệt trước
thềm – Đứ đừ phun khói thuốc lên tận trời – bài thơ Thuốc
lào phác ra một tư thế hiền triết, song là cái hiền triết dân dã, đi gần tới
một thứ lão thực giản dị đáng yêu.
Có thể thấy rõ tâm thế trở về
của Nguyễn Duy bộc lộ rõ hơn cả trong mấy bài thơ ở cuối tập như Vợ ơi, Nợ
nhuận bút, Mời vợ uống rượu, Rơi và nhặt. ở đây chúng ta bắt gặp một Nguyễn
Duy tình nghĩa, có trước có sau, có lúc mê muội đắm đuối, song cuối cùng, vẫn
biết trở lại với cái gì thật là của mình. Có đến hai lần, nhà thơ nói đến mái
tóc ngả bạc trên vai người vợ. Có cảm tưởng ấy là những lúc con người này đang
trải nghiệm tất cả: thời gian đang trôi, cuộc đời mỗi người đang ngắn lại, những
ngày qua có đủ vui buồn, mà những ngày sắp tới đây như chén rượu kia cũng sẽ có
đủ ngọt ngào cay đắng. Song được sống đã là một điều thiêng liêng rồi và anh tự
nhủ mà cũng là nói với chúng ta: hãy biết trân trọng niềm thiêng liêng ấy.
Lý
Lan
Vài nét tiểu sử
Lý Lan, sinh năm 1957 - Đã cho in một số tập truyện như Chiêm bao thấy núi (1991), Dị mộng (1999), Quá chén (2000) v.v… hoặc ký: Sài Gòn - Chợ Lớn rong chơi (1996), Dặm đường lang thang (1999).
Mạch sống tự nhiên
Mạch sống tự nhiên
Về văn xuôi Lý Lan
Các tác giả văn xuôi Nam Bộ,
từ Hồ Biểu Chánh qua Lý Văn Sâm, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Trang Thế Hy v.v… thường
có một nét đặc trưng chung trong bút pháp: lối kể chuyện của họ mộc mạc; cái thực
trong văn họ tự nhiên mà không bao giờ mang tiếng trau chuốt, đẽo gọt, tức
không gợi cảm giác khéo, nuột nà, càng không phải là kết quả một sự dụng công cố
ý đi gần đến tiểu xảo. Đây không hẳn là câu chuyện phong cách bề ngoài; đây là
một quan niệm về văn chương, về cuộc đời ít nhiều có dính dáng đến môi trường
hoàn cảnh. Trên mảnh đất mới mẻ mà trù phú này, người ta thích sống một cách tự
do, như chim trời cá nước, thích nói và viết sao như mình đang nghĩ, không sợ bị
cái gì (kể cả quá khứ) ràng buộc.
Có thể Lý Lan không hoàn
toàn cố ý, nhưng văn xuôi của chị chính là nằm trong cái mạch đó của văn xuôi
Nam Bộ. Cây bút nữ này đã tiếp nhận một cách hồn nhiên kinh nghiệm của người đi
trước, để rồi, trong hoàn cảnh của mình, thêm vào đó những sắc thái mới, làm
nên một giọng điệu mới. Qua những trang sách của chị, người ta thấy hiện lên một
phần hình ảnh xã hội sau chiến tranh với những xáo trộn nghiệt ngã, và những đổi
thay mà trước đây không ai ngờ tới. Song cái chính là qua những trang sách ấy,
người ta cảm thấy như được gặp gỡ với một tâm hồn nhạy cảm, biết nhìn đời một
cách nhân hậu để tìm ra những vẻ đẹp và bất chấp mọi sự oái oăm rắc rối, vẫn có
được một thái độ phải chăng, hợp lý, giữ lấy niềm tin cho riêng mình. Trong cái
vẻ như là gặp đâu viết đấy, nhân có thời gian thì nói với nhau vài câu chuyện,
văn Lý Lan gợi một cảm giác trẻ trung song nó là cái trẻ trung chắc chắn, chững
chạc không có cái vẻ giả bộ ngây thơ hoặc uốn éo làm đỏm như đang thấy ở một
vài người viết khác.
Vẻ đẹp giữa đời thường
Có lần, trong một câu chuyện
văn chương, Lý Lan nói tới một loại người “biết lắng nghe trong náo nhiệt đời
thường một tiếng thở dài kín đáo, biết nhìn thấy trong khói bụi ôtô sắc biếc
xanh của cỏ ven đường”.
Theo Lý Lan, đây là những phẩm
chất tạo nên khả năng cảm nhận văn chương ở những độc giả chân chính.
Nhưng tôi tưởng đó cũng là
những đức tính cần có ở những người viết văn. Đồng thời với việc bộc lộ nội
tâm, mỗi kẻ cầm bút là một kẻ chăm chú quan sát đời sống bên ngoài, nhìn đâu
cũng thấy những điều người khác bỏ qua, nên phải kêu để mọi người cùng biết. Và
Lý Lan là một ngòi bút như thế. Hãy bắt đầu bằng Thả diều. Trong truyện
này, Lý Lan kể chuyện một chú bé lang thang trên các mái nhà ọp ẹp của một xóm
nghèo, vừa náo nức với con diều đang chao liệng trên trời, vừa nghe được đủ
chuyện mọi người đang bàn tán dưới các mái nhà. Dường như nhà văn đã hoàn toàn
hóa thân vào thằng bé, nhìn đời bằng con mắt của nó, cùng reo vui và náo nức sống
với nó. Khi những cuộc hóa thân tương tự như thế liên tục xảy ra, lẽ tự nhiên
là tác giả cảm nhận được cuộc sống với nhiều sắc thái. Có khi đó là những vẻ đẹp
thiêng liêng cao cả như cuộc sống gian lao của đất nước (Cỏ hát), sự hy
sinh tận tụy của một thầy giáo bình thường (Nguyệt quý). Có khi, gần gũi
hơn, là vẻ đẹp giản dị của đám dân xóm nghèo, lam làm vất vả, mà sống nghĩa
tình, và hết lòng với những mơ ước đơn sơ của mình (Chị ấy lấy chồng chưa,
Thằng nhỏ cu-ly, Mùa lá chín).
Trong bài viết mang
tên Bé Sáo vào đại học, Lý Lan kể chuyện một bạn gái từ sau 1975 chia
tay Sài Gòn, “từ thành phố lên rừng rú mưu sinh, có lúc đào củ mài ăn qua bữa”,
nhưng không bao giờ tự cho phép mình “đánh mất văn hóa và bản sắc”. Nay con nên
người, chị trở lại thành phố xưa, đưa con vào đại học, trong lòng không khỏi dậy
lên một niềm kiêu hãnh kín đáo.
Trong Trăm con hạc trắng, vì
cuộc mưu sinh, một “họa sĩ vườn” phải bán đi bức tranh mà cả mình và con cái
trong nhà đều yêu quý, loại tranh “cả đời người mới vẽ được một lần”. Nhưng đứa
trẻ ngẩn ngơ vì tiếc bức tranh lại cũng là đứa trẻ đưa ra lời an ủi thông minh:
“Ba đừng buồn! Hạc trắng bay về Bồng Lai rồi!”
Đại khái là thế. Con người
trong tác phẩm của nhà văn luôn luôn phải trải qua những khó khăn mà mọi kiếp
làm người vẫn trải, và dù điều gì xảy ra, thì rồi người ta cũng sống qua được cả,
nhẫn nại, cam chịu, giữ lấy niềm tin của mình. Về phần mình, Lý Lan thường dành
cho những dòng đẹp nhất để ca ngợi những ai có nghị lực và giữ được bản sắc.
Tuổi trẻ và thời đại
Ngoài những ông già tốt bụng,
những em nhỏ dễ thương v.v… có một loại nhân vật thường trở đi trở lại trong
văn xuôi Lý Lan, đó là những cô gái trẻ. Khi mang tên Hương, khi Trâm, khi Yên,
khi Hạnh… các nhân vật này thường có một nét giống nhau là có cách suy nghĩ
riêng về đời sống, biết chấp nhận những người khác, nhưng lại vẫn giữ được tính
độc lập. Sự tiến triển của văn xuôi Lý Lan hơn hai chục năm qua (từ cuối những
năm bảy mươi đến cuối những năm chín mươi) phụ thuộc vào sự chín chắn của loại
nhân vật này trong nhận thức cũng như tình cảm.
Một cô gái ra trường được
phân công đi dạy ở một vùng xa. Ngay trên chuyến xe hàng dẫn đến miền quê kia,
cô đã gặp bao cảnh nghịch mắt, khiến lòng cô se lại. Và câu cuối cùng trong
thiên truyện mang tên Cần Giuộc này là cái câu tác giả đứng ra kín
đáo mà ân cần an ủi cô:
Sự ân cần ở đây là cần thiết
vì trong những bước đường đời tiếp theo, lớp người trẻ tuổi sẽ còn gặp những
chuyện éo le gấp nhiều lần. Đời đủ chuyện tốt xấu. Cái nhếch nhác nằm kề ngay
cái đẹp. Một đứa trẻ ăn xin coi thật đáng thương, song để ý kỹ, hóa ra nó nói dối
để kiếm sống – khổ vậy! Vấn đề không phải là những Trâm, Hương, Yên, Hạnh… kia
ngại gian khó không dám hy sinh thân mình, hoặc ham chơi, hư hỏng gì. Mà điều
quan trọng là đời sống trước mắt họ diễn biến không sao lường được và họ không
biết sống thế nào, nghĩ về mọi người thế nào cho phải. Chiêm bao thấy
núi kể những xúc động của một cô gái trước cái chết của một người bạn và
điều làm cho nhân vật trong truyện hoảng hốt chính là sự dửng dưng của bản
thân, của chung quanh trước cái chết ấy. Đến Chuyện kinh dị thì không
khí lại còn thoáng một chút Liêu trai: Thiên truyện dữ dội bậc nhất
này của văn xuôi Lý Lan mang trong mình có nhiều ý nghĩa khác nhau, trong đó,
theo ý tôi, có một ý cũng khá rõ, là những khao khát được nhập vào đời, được sống,
được hưởng thụ của tuổi trẻ, nó khiến cho gã thanh niên thì ngủ với ma, còn cô
gái đã chết còn quay trở lại dương gian chòng ghẹo mọi người. Trước sau cái phần
nhân bản trong các nhân vật trẻ này của Lý Lan vẫn được giữ vững. Họ nhẫn nại
chịu đựng. Họ giữ được bình tĩnh để lắng nghe và phân tích đời sống. Nhưng phải
nhận là càng về sau, các nhân vật này càng kín đáo và trầm tĩnh hơn, họ không
còn cái hồn nhiên như trong Cỏ hát hoặc Vườn cổ tích. Ngược
lại, nay là lúc họ trở nên chai lì như trong Tai nạn, họ gặp đâu hay
đấy tùy tiện như trong Tiếng gõ cửa đêm. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều
thiên truyện viết về sau này của Lý Lan được viết như là lời độc thoại nội tâm
của nhân vật chính. Lấy chuyện Chơi Hạ Long làm ví dụ. Toàn truyện là
lời nói thầm của cô gái hướng về một chàng trai cùng đi trong một chuyến du lịch. Tôi
đang nói với anh đây. Nhưng tôi biết là anh chẳng để ý gì nên tôi chỉ đành một
mình nói và một mình nghe. Cách kết thúc của Chơi Hạ Long lửng
lơ, như cả cuộc đời này vốn lửng lơ, chẳng ai biết được hồi kết của nó. Gặp một
sự việc gì mới, con người trong văn xuôi Lý Lan gần đây thường bình tĩnh chào
đón với ý nghĩ “không chắc là dở, không chắc là hay”. Đấy là nhận xét nhà văn
dùng làm câu kết cho bài Tiệm nước, song nó cũng là tinh thần toát
lên từ nhiều trang sách khác của chị, kể cả những truyện viết về lớp người trẻ
tuổi, vì như chị nói “thời đại là vậy”.
Một cách tồn tại trong văn
chương
Theo con số ghi ở bìa bốn cuốn Dị
mộng thì tới năm 2000, Lý Lan đã là tác giả của khoảng trên dưới hai chục
đầu sách. Đã có thể nói tới một kiểu làm sách riêng của nhà văn này: Hình như
là cốt để bán rẻ và có nhiều người đọc mà đó thường là những cuốn mỏng, mỗi cuốn
chưa đầy 200 trang. Cầm những văn phẩm nhỏ gọn xinh xắn ấy, người ta không cảm
thấy ngại, hơn nữa, có thể đút túi và mang theo người rồi đọc bất cứ ở đâu.
Từ cách làm sách này, có thể
liên hệ rộng sang đến cái giọng riêng trong văn Lý Lan. Đó là một tiếng nói điềm
đạm, không làm điệu làm ồn, tự tin ở sự tồn tại của mình, do đó là một tiếng
nói dễ gần dễ thông cảm. Và bởi lẽ chị đã viết được đều đều, viết nhanh viết khỏe,
có thể tin là trước mắt chúng ta một phong cách đã hình thành, một mạch văn đã
khơi nguồn và đang chảy xiết, chứ không phải một sự “viết cho vui” hoặc ghé qua
nghề nghiệp chốc lát rồi lại bỏ.
ở trên, tôi đã lưu ý một
trong những yếu tố tôi tin có ảnh hưởng đến sáng tác của Lý Lan, đó là cái dòng
văn xuôi Nam Bộ chân chất, mộc mạc, khởi đi từ Hồ Biểu Chánh, và còn tồn tại đến
ngày nay với những Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Trang Thế Hy… Nhưng còn một yếu tố
nữa, không thể xem thường: Trước khi viết văn và có một hồi đồng thời với việc
viết văn, Lý Lan dạy tiếng Anh. Chị cắt nghĩa: tiếng Anh là ngôn ngữ thời đại,
người thích học tiếng Anh ít nhiều đều có đầu óc khoáng đạt, nói chung là những
người “giữ được nhịp tim mình đập tương đối cùng nhịp với phần sôi động nhất của
cuộc sống hiện nay” (xem bài Cô giáo viết văn, in trong Khi nhà
văn khóc). Tuy tác giả kín kẽ rào đón rằng “không dám nói đến truyện thông mạch
với văn chương thế giới” nhưng sự thực là trên một số phương diện văn xuôi Lý
Lan đã có được dáng vẻ hiện đại. Chất hiện đại này trước tiên bắt nguồn ở một cảm
giác tự do và sự âm thầm tìm kiếm không chịu bó mình trong khuôn khổ có sẵn.
Khi chuyển thành hình thức, chất hiện đại này bộc lộ rõ nhất qua lối tự sự đứt
nối, lộn xộn, bột phát, mà người ta thấy trong một số thiên truyện như Dị
mộng, Những viên sỏi cầm chơi, Biển trong mưa. Đến một trường hợp
như Công tử vườn thì sự thể nghiệm còn đi xa hơn. Toàn truyện gồm 6 mẩu
nhỏ, mẩu nào cũng do một người xưng tôi đứng ra đối thoại, nhưng thật ra đó là
hai cái tôi riêng biệt. Đối với những ai quen thưởng thức văn chương cổ điển
thì cách viết này hơi lạ. Song nó có ý nghĩa của nó. Hai nhân vật này chỉ gặp
nhau trong ý nghĩ mà không gặp nhau trong đời thực. Bởi lẽ họ rất giống nhau nên
họ lại trở nên những lực đẩy nhau. Và mỗi người vẫn cô đơn hoàn toàn!
Cố nhiên, ở Lý Lan, những
tìm tòi như trên chỉ xuất hiện trong một số ít truyện ngắn. Còn nói chung, ở phần
lớn truyện còn lại, nhất là trong các bài ký, văn xuôi Lý Lan đôn hậu, tự nhiên,
dễ đọc. Trong bài Ăn cháo Tiều có đoạn Lý Lan dừng lại tả món cháo
riêng của những người Hoa gốc Triều Châu, Phúc Kiến, loại cháo “nấu vừa chín, hột
gạo còn nguyên, chỉ hơi mềm hơn cơm một chút” ăn với các loại “củ cải muối, đậu
muối, hột vịt muối”. Và chị kết luận “Tôi đã mất hơn ba mươi năm mới thấm thía
hết cái ngon của một chén cháo ăn với củ cải muối vào buổi sáng tinh mơ…”. Về
phần người đọc tôi có cảm tưởng là trong nhiều trường hợp văn Lý Lan cũng có được
cái vẻ chín tới, đậm đà, thanh khiết, như món cháo chị đã tả.
Bóng dáng người xưa
Thời tiền chiến ở ta có một
nhà văn gốc Hoa là Hồ Dzếnh (1916-1991). Giữa Hồ Dzếnh với Lý Lan có sự cách xa
nhau đến gần nửa thế kỷ, song sự xuất hiện của người đi sau vẫn nhắc nhở tới sự
tồn tại của người đi trước với nhiều nghĩa. Một mặt cả hai cây bút đều có những
trang lời lẽ đơn sơ, mộc mạc mà hết sức xúc động viết về quê mẹ. Mặt khác, họ vẫn
không quên dòng máu Trung Hoa chảy trong huyết quản. Hồ Dzếnh có truyện Ngày
gặp gỡ, hình dung lại ngày song thân mình lần đầu làm quen với nhau bên bến
Phà Ghép (Thanh Hóa) ra sao, thì Lý Lan có Đất khách dựng lại một phần
quá trình đám dân Triều Châu trong đó có ba chị đến lập nghiệp ở Sài Gòn lục tỉnh
như thế nào. Thấp thoáng trên nhiều trang Chân trời cũ là hình ảnh nước
Tàu ngày xưa mà Hồ Dzếnh nghe người cha kể lại. Còn Lý Lan, tuy chỉ nhắc tới nền
văn hóa Trung Hoa hơn là những kỷ niệm cụ thể, song câu chữ của chị thường đúc
lại như thơ “Xa xăm trong mắt nhìn của ba có khóm trúc xanh mà cậu bé nào ngàn
năm trước đã bẻ làm con ngựa cưỡi quanh giường đùa với cô bạn gái của tuổi thơ.
Lối mòn nào Lỗ Tấn đã đi qua thành đường. Và vầng trăng nào Lý Bạch đã ngẩng đầu
nhìn rồi cúi đầu nhớ cố hương”.
Có thể dự đoán ở cả hai nhà
văn, cái cảm giác về một “thân phận kép” đã trở thành ám ảnh, và sở dĩ họ cầm
bút viết văn một phần là vì luôn luôn họ phải nghĩ về trường hợp của bản thân
cùng những tình cảm sâu nặng trong lòng, như xưa nay, cách tốt nhất để hiểu những
điều không cắt nghĩa nổi là giãi bày chúng trên mặt giấy.
Riêng với Lý Lan, do hoàn cảnh
riêng là lớn lên ở một miền đất mà người Hoa sống tập trung, chị lại có dịp nói
kỹ về sinh hoạt cộng đồng này, từ Chuyện làm ăn, Một tiệm chạp phô, Tiệm
nước, tới việc viết chữ ghi lại Bút tích ngày vui của họ. Nhưng
với mọi tầng lớp bạn đọc những cảnh sinh hoạt của người Hoa và trước tiên là
cái hẻm nhỏ nơi chị lớn lên vẫn có chút gì đó rất thân mật. Trong trí tưởng tượng
của một số người, cái Chinatown này thường được vẽ lên như một quái vật
khổng lồ, từng có thời gian khống chế đời sống kinh tế một vùng, kèm theo là
nhiều âm mưu và tội lỗi. Song với Lý Lan, Chợ Lớn lại hiện ra như một mảnh đất
hiền lành, ở đó, con người ta bảo ban nhau làm ăn, không khí chung chẳng có
chút gì đáng sợ, mà chỉ thấy vẻ mờ mờ xám xám thân mật như nhiều mảnh đất khác.
Cho đến khi miêu tả những người Hoa họ hàng quen biết vừa gặp lại trên đất Mỹ
thì Lý Lan cũng chỉ nói tới những con người nghèo nghèo, tội tội, đang vật lộn
kiếm sống và tìm cách thích nghi với mảnh đất mới: hình ảnh cuộc sống hôm qua ở
Việt Nam đã mãi mãi hằn lên trong cách sống của họ.
Cũng như nhiều người, trước
đây tôi hay nghĩ tình yêu khi mang san sẻ, sẽ vơi đi mỏng đi, nhưng Lý Lan đã
khiến cho tôi phải nghĩ lại. Trước sau chị vẫn giữ được cùng một tình cảm cùng
một giọng điệu cả khi kể chuyện “một góc phố Tàu” lẫn khi miêu tả vẻ gan góc
nghị lực của nhiều người dân Sài Gòn, hoặc khi phác họa dáng vẻ rầu rầu đáng
thương của mấy em bé miền Trung những ngày lụt lội. Những đoạn văn ấy có chung
một tinh thần nhân bản và do thế chúng thân thiết với chúng ta như mọi trang
văn hay ta vẫn đọc.
Chương mười ba
Những biến tấu mới
Nguyễn Huy Thiệp
Bùi Chí Vinh
Đồng Đức Bốn
Phan Thị Vàng Anh
Nguyễn Huy Thiệp
Vài nét tiểu sử
Nguyễn Huy Thiệp, sinh 1950. Tác phẩm chính Tướng về hưu (1989), Con gái thủy thần (1992), Như những ngọn gió (1995).
Khuôn mặt nhàu nát
Tưởng tượng về Nguyễn Huy
Thiệp
Nếu có một thứ “quả bóng
vàng” (hay là “cây bút vàng”) dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm,
thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong
văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về
hưu gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối
của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ Một
thoáng Xuân Hương lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc hà; nhớ Con
gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện. Với mỗi một truyện
ngắn, Nguyễn Huy Thiệp như đang làm một cuộc phiêu lưu cho ngòi bút mà cũng là
tự phác ra chân dung mình. Cuộc phiêu lưu đó đang tiếp tục nhưng do chỗ mỗi
truyện ngắn đã là một nét vẽ hằn lên rõ ràng, nên người đọc vẫn có thể vượt qua
những khoảng trống để phác ra hình ảnh Nguyễn Huy Thiệp. Khi một ngòi bút có được
cá tính mạnh mẽ thì sự định hình dẫu có đến sớm cũng là một điều dễ hiểu.
Sự độc đáo kỳ lạ là một yêu
cầu nhất thiết với văn học, thế nhưng một phong cách như Nguyễn Huy Thiệp lại
hai lần kỳ lạ, vì nó mang tới cái chất mà lâu nay trong văn học Việt Nam hơi
thiếu: chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng. Bằng một lối kể thâm trầm của một
kẻ vừa trải đời, vừa chán đời và không còn những hy vọng dễ dãi vào đời,
trong Tướng về hưu, tác giả vẽ ra một khung cảnh ở đó, nếp sống thực
dụng lan tràn, trở thành một thói quen; con người lì lợm lâu ngày đến mức mất hết
cảm giác về sự lì lợm của chính mình; cái tốt bé nhỏ như một cái gì trớ trêu
rơi rớt lại không được việc gì; lương tri vẫn còn trong mỗi người nhưng nó chỉ
đủ sức làm cho người ta nghẹn ngào khi phải đối mặt với những cảnh tha hóa, bần
cùng. Vả chăng, như là sản phẩm của tất yếu, tất cả giản dị, hồn nhiên, nhiều
hành động bột phát lại như đã tính toán sẵn từ trước, một câu nói buột miệng lại
sắc cạnh như một châm ngôn. Con người không phải muốn làm gì thì làm, và càng
giãy giụa, nó càng chứng tỏ mình đã bị hoàn cảnh khống chế chặt chẽ.
Trong một nét vẽ thoáng qua,
có lần Nguyễn Huy Thiệp tả một nhân vật “mặt nhàu nát vì đau khổ”. Vẻ nhàu nát ấy
phải nói cũng là nét chính trên khuôn mặt văn học của Nguyễn Huy Thiệp mà ta thấy
hiện lên qua các sáng tác – nhàu nát, tê dại, để rồi trở nên hung hãn, táo tợn.
Chỉ người xa lạ với tác phong đám học trò nhạy cảm học đòi làm văn mới dám viết
– tức là “chường mặt mình ra” – như vậy, viết bất chấp mọi lề thói trong nghề,
chỉ tuân theo một luật chơi duy nhất là nói những điều đào sâu chôn chặt trong
lòng. Những sinh thể kỳ dị vốn có sức sống lạ lùng, câu chuyện về lão Tôn (Tôn
Ngộ Không) nứt ra từ đá đã nói rất hay về điều đó. Về phần mình, mượn cách nói
mà chính tác giả đã dùng, văn chương Nguyễn Huy Thiệp có phần giống “con gái
thuỷ thần”, hoặc một thứ con hoang, kết quả của những cuộc lang chạ đầy đau khổ.
Chỉ có điều là phong cách con hoang dị dạng đó lại biết nói về những nét đặc
trưng của cuộc sống hôm nay đích đáng, mà ta không thể tìm thấy trong bất cứ
phong cách nào khác. Có phải đã đến lúc lối sống, lối nghĩ tự mệnh danh là tinh
tế ý nhị đã trở thành vô nghĩa; mọi điều phải trái xưa nay lấp lửng phải được
nói toẹt cho rõ ràng; mọi sự ngộ nhận phải được đính chính? Và như vậy thì lối
viết lạnh lùng, suồng sã, không cái gì là quan trọng, cái gì cũng muốn nói tuột
ra – lối viết ấy có cái lý của nó.
Trừ một vài cây bút “chuyên
đề”, còn đối với phần lớn các nhà văn ta hiện nay, thực tại lịch sử thường là một
cái gì xa lạ. Con người tác giả, con người bạn đọc thường lo sống sát với nhu cầu
hàng ngày. Ai dám tự nhận biết rõ khuôn mặt lịch sử mà dây vào cho phiền?
ở chỗ mọi người ngại ngùng,
Nguyễn Huy Thiệp lại sẵn sàng “lĩnh đủ”. Sự định hướng trong cách hiểu đời sống
trước mắt mạnh mẽ đến nỗi nó chi phối luôn cách khai thác lịch sử và khơi mào
cho những hư cấu, có thể là bịa đặt mà không dễ gì nghi ngờ. Và thế là trong những
thiên truyện như Kiếm sắc, Vàng lửa, chất dã sử và chất hiện đại có dịp
thâm nhập vào nhau, tạo ra những món ăn lạ miệng cho trí tuệ. Sở dĩ một thiên
truyện như Tướng về hưu như khắc vào đầu óc ta, một phần vì ở đó, tác
giả biết trình bày hiện tại như một cái gì đó đã thuộc về lịch sử, còn
trong Vàng lửa, Kiếm sắc, người viết lại nhìn lịch sử bằng con mắt
ngày hôm nay. Biết nhìn hiện tại như lịch sử thì có thể tránh được những yêu
ghét cá nhân vớ vẩn, những run rẩy vô lối mà đám nghệ sĩ kiêu căng và yếu lòng
thường có. Còn biết nhìn lịch sử như hiện tại thì tuy có thể mang tiếng suồng
sã nhưng sẽ tránh được những cái chắp tay vái dài trước người xưa và biết sử dụng
lịch sử như một phương tiện để hiểu hiện đại (Người sành văn học phương Đông có
thể bảo ở chỗ này, Nguyễn Huy Thiệp muốn học theo bút pháp lạnh lùng hằn học của
nhà viết sử Tư Mã Thiên, nhưng phải hiểu điều đó như một liên tưởng hô ứng chứ
không phải một sự cóp nhặt cụ thể!).
ở cuối truyện Kiếm sắc, Nguyễn
Huy Thiệp kể Đặng Phú Lân nghe xong giọng hát cô Cầm “thở dài, trào máu ra từ
ngũ khiếu”. Hôm sau “Lân bỏ đi, không chào chủ quán cũng không hỏi người khách
trẻ tuổi với cô Cầm chủ quán”. Tại sao? Người ta đoán rằng sau những im lặng và
cái hành động giật cục của nhân vật võ biền là mối xúc cảm lớn lao không nói
lên lời.
Cách bày tỏ tình cảm kiểu
này của nhân vật Kiếm sắc là một gợi ý tốt giúp chúng ta hiểu mạch trữ
tình kín đáo nơi văn Nguyễn Huy Thiệp. Chắc hẳn trên khuôn mặt nhàu nát kia còn
những nét trữ tình ẩn giấu không dễ mấy ai nhận ra. Chẳng thế mà thỉnh thoảng vẫn
bắt gặp những thoáng rưng rưng của tác giả khi nói về những con người yếu đuối
trước trận cuồng phong của lịch sử, hoặc về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ. Trong
phạm vi của một cái gì manh nha hé mở, chúng ta cảm thấy tác giả muốn đưa hình ảnh
cô Cầm ra như là biểu hiện của cái đẹp và sự yếu đuối, những thứ mãi mãi còn lại
trên cõi đời này và càng hiếm lại càng đáng quý. Giữa cuộc sống nghiệt ngã, phải
chăng đây vẫn là một phần lý do để mỗi chúng ta sống, hy vọng vào cuộc sống?
Chính thế! Mà trước hết, sự sáng tạo văn chương phải được hiểu theo nghĩa
đó. Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện để đẩy lùi nó. Mỗi lần
nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng.
Với thói bi phẫn thường trực,
ở cuối Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp viết rằng công việc viết văn phức tạp,
nhọc nhằn, lại buồn tẻ nữa. Nhưng tôi ngờ có lúc Nguyễn Huy Thiệp sẽ thấy mình
nhầm! Cái việc oan nghiệt ấy cũng rất thú vị, dù chỉ là một thứ thú vị kiểu
Xi-díp (Sisiphe). Nếu tác giả không cảm thấy trước, thì làm sao tác phẩm của
anh có được cái hấp dẫn ma quái với bạn đọc như nó đang có?
Bùi Chí Vinh
Vài nét tiểu sử
Bùi Chí Vinh, sinh 1954. Tác phẩm đã in: Thơ tình Bùi Chí Vinh (1992), ngoài ra là nhiều tiểu thuyết viết cho thiếu nhi.
Xanh vỏ đỏ lòng
Bây giờ thì Bùi Chí Vinh còn
viết tiểu thuyết, viết kịch bản phim. Có điều, với nhiều tầng lớp độc giả, trước
tiên anh vẫn là một nhà thơ, một nhà thơ độc đáo khiến người này yêu mến hết
lòng, người khác thẳng tay cự tuyệt…
Mặc dù trong đời sống hàng
ngày, không thiếu gì những chàng trai nhờ dẻo mồm tán, khéo nói đùa mà lắm người
mê và… lấy được vợ, song, theo “những quy định không được ghi vào văn bản” thì
thơ tình ở ta vẫn là khu vực xa lạ với mọi thứ đùa cợt. ở đây người ta có thể
mơ màng, tha thiết, có thể đắng cay bồn chồn, rồi hờn dỗi đớn đau, rên xiết
chán chường đủ thứ, song bao giờ cũng phải nghiêm chỉnh, ít ra là… giả vờ
nghiêm chỉnh. Mọi sự bông lơn bị kiêng dè. Số phận thơ tình Bùi Chí Vinh gần
đây là một ví dụ: trong vòng ba năm sau khi được in, nó đã lãnh đủ những sự
“săn sóc” cần thiết. Song, nếu có dịp đọc lại, người ta có thể có ý nghĩ khác:
trong một cố gắng liên tục, hình như người viết những bài thơ này đã có công
làm cho một thứ thơ vốn đạo mạo trở nên xô bồ, tự nhiên, mà cũng là mềm mại, dễ
gần hơn. ở dạng tự phát, qua những thể nghiệm nhiều khi ngất ngư, ngang trái,
hoặc lỗ đỗ, lểnh loảng, cuối cùng tác giả cũng đã hình thành nên một giọng thơ
lấy đùa cợt làm ngón nghề, coi bông lơn là luật lệ. Cái hướng được mở ra, quả
thật đầy vẻ thách thức!
Tôi đùa cợt, vậy tôi tồn tại
Tự thân nó, sự nghiêm chỉnh
không có lỗi. Sở dĩ giờ đây nó gây khó chịu, vì đã bị lạm dụng quá đáng, và chỉ
trở đi trở lại với một bộ mặt nhàm chán. Mượn cách nói của nghề y, có thể bảo
đang có tình trạng nhờn thuốc – ở đây là nhờn thơ – của bạn đọc. Cầm bài thơ
lên, đọc qua đầu đề, hoặc vài ba câu đầu, người ta dễ dàng đoán ra điều sẽ viết
ở các câu sau. Sự vận hành của ý thơ, rút cuộc, đã có thể quy lại thành chương
trình, tức nằm gọn trong những sơ đồ có sẵn, mà cái trục là một lối tiếp cận
“chân thành” “nghiêm chỉnh” “rưng rưng cảm động” “không lời nào nói hết” của
người làm thơ. Một thứ ước lệ. Một thứ sáo mới, không gì khác!
Không phải là Bùi Chí Vinh
không có khả năng viết những câu thơ cảm động kiểu ấy. Để diễn tả cái trống trải
và sự “bất tương thông” trong tình yêu, bài Ngã tư thị trấn có những
câu khá hàm súc “Chỉ riêng ta đứng đó – Thay một nhánh cây gầy – Cái bóng
cây vừa đổ – xuống em mà chưa hay”. Đây là hai câu khác, khá tiêu tao,
trong Hoa muội: “Khi em bước vào mùa thu thiếu phụ – Là lá vàng đã rơi ngập
vườn tôi”. Gì thì gì, chứ thứ hàng tầm tầm, làm theo quy phạm cũ, chắc là
làm được! Song, ở chỗ người khác dừng lại, nhà thơ này muốn đi xa hơn một chút.
Với một tư duy thoải mái – đúng hơn là một tâm thế “tự bộc lộ” thoải mái – cộng
với sự hỗ trợ của hoàn cảnh xã hội và những truyền thống của một xứ sở dễ dàng,
cởi mở… anh không chỉ muốn làm ra những bài thơ không giống ai, mà còn muốn như
là tạo ra một sắc thái thẩm mỹ độc đáo không bị ràng buộc trong các nền nếp cũ.
“Trên đường đi tìm thơ hay, trước tiên là thơ phải khác” – có thể là khi bắt đầu
cầm bút, Bùi Chí Vinh không có bài bản gì đàng hoàng; song biết đâu, trong cõi
tiềm thức, người làm thơ này chả ủ sẵn một lời nguyền như vậy?!
Những chuyện bỡn cợt hàng
ngày mà một chàng trai như anh vẫn nói cùng các cô gái, được đưa vào thơ, chỉ
qua vài nét sửa sang đạm bạc. Các lớp từ thông tục xâm nhập vào cái thế giới vốn
chỉ diễn tả bằng ngôn ngữ trữ tình, tạo nên một sự trớ trêu ngộ nghĩnh. ở bài
thơ này, anh bảo một cô gái đưa ngón tay út anh coi và âu yếm dặn “đừng
đưa lộn ngón nghe em – Lỡ ai đeo nhẫn, anh tìm sao ra”? ở bài thơ kia, anh
kể với một cô gái đang vào cuộc yêu với anh rằng không ai khác, chính ông già của
cô mới là kẻ đáng sợ hơn cả. Rồi thơ tán về chiếc ghế mây cô gái vừa ngồi; thơ
khoe một lần chở người yêu bằng xe đạp; thơ làm nũng với một cô đào vì cô đã tặng
anh đôi dép quốc doanh đi phồng cả ngón chân… Bài thơ nào cũng được viết bằng
cái giọng tưng tửng đùa cợt, như giọng các đôi trai gái vẫn dấm dẳn trêu chọc
nhau, lời lẽ nhiều khi vòng vo luẩn quẩn mà người nghe đủ mát lòng mát dạ. Bất
cứ ai đã từng yêu, bằng những tình yêu hồn nhiên, hẳn dễ nhận ra tấm tình “xanh
vỏ đỏ lòng” của Bùi Chí Vinh. Song đến khi đứng ở phương diện của sự sáng tạo
mà xem xét thơ, thì nhiều đồng nghiệp lại bắt đầu nhăn mũi, xua tay, chê thơ
anh là thô tục, là nhảm nhí. Những người này thường bắt bẻ tác giả theo cái
nghĩa sờ sờ thấy trên mặt giấy của từng câu thơ, mà quên rằng, trong thi pháp
đùa cợt, quy ước đầu tiên ai cũng biết là tất cả như được làm méo. Như được cấu
tạo lại theo những tỷ lệ riêng. Hoặc như được đặt vào một gam màu duy nhất, chứ
không còn là thứ ánh sáng thông thường mà mọi người quen thấy. Bảo những câu
thơ đùa bỡn về Gái Huế, Gái Nam, Gái Bắc của Bùi Chí Vinh là bậy, là
hỏng, thì có khác chi người thấy hai em bé cách nhau 3-4 tuổi chơi trò mẹ con với
nhau, liền lắc đầu chê là chúng phá bỏ hết tôn ti trật tự! Rộng hơn mà xét –
trong những trường hợp các bài như Cao và thấp, Đọc truyện Liêu Trai nửa
đêm, Em là ai và em ở đâu v.v… – hành động thi ca của Bùi Chí Vinh phải được
xem như một trò chơi với cái nghĩa mà các nhà tâm lý học vẫn nói “chơi là tuyệt
đối vô thưởng vô phạt. Nó là một ốc đảo hạnh phúc trong cái sa mạc cuộc sống, gọi
là nghiêm túc”, “Chơi là cách tốt nhất, giúp ta xem xét lại những quan niệm và
ý kiến đã thành nếp”.
Quý trọng nhau bằng cách… nhại
nhau
Bản chất của con người hiện
đại là xu thế dấn thân. Ai đó đã từng bảo “Mỗi người, dọc theo đời mình, chỉ vật
vã và khốn khổ với chuyện đưa mình vào thế giới”. Có vẻ như Bùi Chí Vinh cũng
không ra khỏi thông lệ đó! Trước khi tính chuyện qua mặt các vị tiền bối, thật
ra người làm thơ này đã hết lòng bái phục họ, vùng vẫy thoải mái trong cái thế
giới mà họ tạo ra “Xuống phi trường Paris - Mua giùm anh chiếc
nón – Để ngày đưa tháng đón - Chia nhau đội trên đầu - Ta đội
tình vùng dại… Để bài thơ yêu em – Trú mưa mà không dột – Để lúc ghé
Paris - Mắt em chưa hề ướt”. Hình như mấy câu thơ đầy chất ngẫu
hứng, ý tứ khi gọi nhau, khi dồn dập đuổi bắt nhau trong bài Em và
Paris ấy đã giúp người ta hình dung ra sự thanh thoát lui tới của Bùi Chí
Vinh trong mạch thơ đương thời. Đã đành nay là lúc học đòi và mô phỏng đều không
đủ nữa, cách tốt nhất để tỏ lòng kính trọng các bậc tiền bối là làm nốt những
việc họ chưa kịp làm, và nói chung là làm hơn họ. Có điều trong khi nhà thơ trẻ
phiêu lưu trên con đường riêng, những mảnh vụn văn hóa từng găm vào da thịt anh
vẫn luôn luôn có mặt. Chúng cũng quyết liệt đòi được xuất hiện, như ao ước đổi
khác mà anh nung nấu.
Được nhắc nhở nhiều nhất
trong thơ tình Bùi Chí Vinh phải kể là Kinh Thánh. Tiếp đó, không gian văn hóa
của anh mở rộng, để ôm trùm cho hết, từ nàng Mona Lisa đến điệu Lambada hiện đại,
từ Đơn Hùng Tín, Trình Giảo Kim đến Hoa muội cùng không khí Mùa thu lá
bay của Quỳnh Dao, từ ca dao, Cung oán ngâm, thơ Vũ Hoàng
Chương, thơ Nguyễn Bính đến nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Nguyên Sa và Cung Trầm Tưởng.
Sở dĩ chúng, các dữ kiện văn hóa đó, có mặt, vì chúng đã trở thành dữ kiện của
đời sống. Trung thành với khuynh hướng kế thừa và tổng hợp lại trong văn học,
nhà thơ thường xuyên nhắc tới chúng, nhưng nhắc theo cách riêng của mình. Và
trong một số trường hợp là nhại theo chúng, dù nhại hết sức thân ái.
Từ một tâm thế mà ai người
quen lễ nghĩa, cung kính dễ bảo là láo lếu, phạm thượng, song thực tế là thấm
nhuần tinh thần dân chủ, ngẩng cao đầu đối thoại với các đỉnh cao trong nghề,
Bùi Chí Vinh đã cấu tứ nên hàng loạt bài thơ độc đáo. Nhắc đến con đường, là nhớ
Lỗ Tấn. Kể chuyện giang hồ, không thể bỏ qua thần tượng lang thang du đãng A.
Rimbaud. Chạm vào một cái gì êm đềm như Đà Lạt, lập tức cảm thấy “tội nghiệp
cho chàng Hàn Mặc Tử” và bên tai nghe vẳng lên câu thơ bâng quơ mà không hiểu
sao, nhớ mãi: Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Đây nữa, không có
phấn thông vàng, để gửi hương cho gió, làm sao lại không nhắc đến hoàng tử
Xuân Diệu, nhại Xuân Diệu chơi khi vẩn vơ đứng ngó trời?! Cũng như chỉ cần nhắc
đến tiếng ru thôi là phải liên tưởng đến Nắng chia nửa bãi… của Huy Cận (Nào
ai biết trăm con chim mộng - Vây kín đầu giường anh hát rong). Đến
như sự nhại Thâm Tâm mới thật sảng khoái… Có lẽ vì quá yêu mến nhà thơ này, nên
Bùi Chí Vinh đã nhại ông một cách thật chu đáo, từ nhại tên bài (Phản Tống
biệt hành) đến nhại câu (ừ thôi về biển, ta về biển) rồi nhại cả
đoạn (Đưa người ta cứ đưa sang sông – không sợ tiếng sóng ở trong lòng –
Thâm Tâm lên núi mà tống biệt – ta về biển mặn hóa dòng sông). Đọc Bùi Chí
Vinh trong những trường hợp này, dễ nhớ đến loại nhân vật hề nhại trong xiếc:
thấy người này leo dây, anh ta cũng leo, thấy người kia nhào lộn, anh cũng nhào
lộn; mọi việc được anh làm một cách vụng về, khờ khạo, khiến người xem nhiều
phen như thót cả tim. Song rút cục, mọi chuyện cũng trót lọt. Và sau khi thở
phào nhẹ nhõm, ta mới chợt nghĩ: hình như lý do tồn tại của anh ta là thế! Chắc
chẳng ai nỡ bảo rằng việc trình diễn theo kiểu nhại, với các tiết mục tưởng như
vụng dại này, là dễ dàng cả.
Theo dõi sự phát triển của
các nền văn học, người ta thấy rằng trong nhiều trường hợp, cùng với sự phát
triển của các thể nhại, đời sống sáng tác bắt đầu bước sang những giai đoạn mới.
Tiếng gọi đàn tha thiết
Nguyễn Du từng bảo: Nghề
chơi cũng lắm công phu. Dịch ra ngôn ngữ hiện đại, thì câu Kiều đó có
nghĩa mọi việc trên đời đều cần được làm một cách kỹ lưỡng, thuần thục, với tất
cả kiến thức và kinh nghiệm mà mỗi cá nhân có thể huy động. Trong sự nghiêm túc
của nó, rồi ra đùa cợt cũng phải được nâng lên thành một thứ văn hóa tạm gọi
là văn hóa đùa, như văn hóa ăn, văn hóa viết, văn hóa tranh luận mà
người ta vẫn nói. Và bởi lẽ sự đùa ấy trong thơ đang mới mẻ, nên lại khó hơn mọi
việc khác. Chắc chẳng phải là quá, khi người ta vẫn bảo rằng đôi khi phải dùng
đến công phu dời non lấp biển thì mới đủ sức biến mấy câu pha trò tầm thường
thành một tác phẩm thơ ca thực thụ.
Có vẻ như đến mức ấy, thì
Bùi Chí Vinh chưa kịp nghĩ tới hoặc chưa muốn nghĩ tới. Anh còn đang bị quyến
theo cái say sưa của một người được đi vào khu vực thênh thang, và quá lạ lẫm nữa
– mà chưa có dịp lắng lại với công việc. Nhiều bài thơ in trong Thơ
tình và rải rác đăng ở các bài báo một hai năm gần đây, có được cái tứ khá
hay, song còn ở dạng nửa thành phẩm, thừa ngẫu hứng tự nhiên, song lại vẫn thiếu
một cái gì như là sự dụng công, sự điên cuồng tìm tòi, hoặc niềm khao khát hoàn
thiện. Không nên và không thể đòi hỏi thơ Bùi Chí Vinh phải giống mọi người.
Nhưng sẽ là có lý, khi muốn tác giả vượt lên chính mình. Làm thế nào bây giờ?
Hình như trong việc này, nhà thơ đơn độc đang cần đến sự hỗ trợ của các đồng
nghiệp. Nhạc Trần Tiến, tranh Nguyễn Quân, thơ Nguyễn Duy, những tìm tòi bột
phát của nhiều người khác, khi được khi mất, đều đã là những đồng minh tự
nhiên, nhưng chưa đủ. Nếu như từ những thể nghiệm mà Bùi Chí Vinh gợi ra, có thêm
nhiều nhà thơ khác cùng vào cuộc phiêu lưu, tận dụng một số kinh nghiệm thành bại
của anh, rượt đuổi anh, thách thức anh… thì một ngòi bút vốn năng động như Bùi
Chí Vinh sẽ có thêm sức để vượt lên chăng? Dù vẫn do một hai người khởi xướng,
song cuối cùng thế nào cũng cần có những đợt sóng, tức có sự tham gia của nhiều
người, thì rồi các nỗ lực văn hóa mới có cơ trở nên những thành tựu chắc chắn.
Đồng Đức Bốn
Vài nét tiểu sử
Đồng Đức Bốn (1948-2006), chuyên về thơ lục bát, hiện thân của văn học dân gian trong xã hội hiện đại. Tác phẩm chính Chăn trâu đốt lửa (1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000) v.v… Tuyển thơ Đồng Đức Bốn đã in đi in lại nhiều lần.
Chất hoang dại trong thơ
Để hiểu nhà thơ này, trước
tiên tôi muốn đặt anh bên cạnh Nguyễn Bính. Trong cuộc phiêu lưu kiếm sống giữa
thị thành, tác giả Tâm hồn tôi, Mười hai bến nước, Mây Tần… luôn luôn
cho người ta thấy rằng thực ra ngày xưa gia đình ông sống nền nếp và phong lưu
lắm, bản thân ra dáng con nhà lắm, chẳng qua bây giờ thất cơ lỡ vận nên mới khổ
thế. Đồng Đức Bốn thì khác. Quá khứ không phải chỉ là hồi ức thường xuyên trở lại,
mà nó là một phần của hiện tại quanh anh. Nhất là nó chẳng có gì là rực rỡ là
bóng lọng, là cao sang quý phái, tức chẳng có gì là nên thơ. Trăng trong thơ Bốn
là trăng gày trăng cong, sào là sào gẫy, diều là diều đứt
dây, con người xưng tôi trong thơ có lúc tự nhủ mình là một kẻ không
quê. Dường như anh sẵn sàng nói rằng mình chẳng có gì để khoe với mọi người
cả. Tinh thần của đời sống toát ra từ nhiều bài thơ: Cổ sơ. Cũ kỹ. Quê mùa.
Hoang dại.
Trong nhiều trường hợp,
hoang dại ở đây xem như đồng nghĩa với lang thang, mất gốc, không vào khuôn khổ
nào, một tình trạng trì trệ không nảy nòi lên được về chất lượng nên đành bò ra
ăn lan ra về số lượng. Nó, cái sự hoang dại trọn vẹn ấy, có mặt trong thơ khắp
mọi chỗ và làm nên một miền khí hậu riêng có phần không giống ai, dù chẳng ở ai
không có.
Chỉ một lần nhà thơ kể chuyện
mình Nói chuyện với cỏ dại. Song cả những khi không dùng đến cái từ cụ thể
ấy, thì cảm giác hoang hủy bơ vơ của cỏ dại vẫn trở lại. Nó ở những câu thơ
nghe hơi rờn rợn Chân đạp đất đầu đội trời – ở đâu không có con người thì
đi, nó lại ở cả những câu thơ tự nhiên nhi nhiên kiểu như củ khoai nướng
để cả chiều thành tro hoặc mẹ ra bới gió chân cầu. Một lần tả cảnh
lũ lụt, Đồng Đức Bốn viết “ối mẹ ơi đê vỡ rồi - Mộ cha liệu có
lên trời được không”. Đằng sau lối nói lu loa, là lời thú nhận về sự bất lực
vô phương cứu chữa.
Không hiểu sao tôi đọc những
câu tác giả viết như đùa: Ngậm ngùi thịt chó bánh đa – Chiều nay lại thấy
bà già xin ăn, hoặc Chợ làng mở dưới gốc đa – Nhà quê đem mấy con gà bán chơi
mà cứ thấy bùi ngùi.
Xa vắng hiu hắt ngang trái
bơ vơ, cái không khí ấy bàng bạc trong thơ, bất kể nông thôn hay thành phố.
Trong nghệ thuật hội họa thế
kỷ XX, có hẳn những trường phái khai thác vào cái hoang dại nguyên sơ của thế
giới, lấy nó đối lập với những tìm tòi duy lý, người ta mệnh danh những trường
phái này là hoang dã, ngây thơ…
Tuy không phổ biến song ở ta
một số người đã có ý đi vào cái hoang dại đó. Chỉ có điều nhà văn Việt Nam vốn
không mạnh về bề dày văn hóa, nên đi vào hoang dại trước tiên không do tìm tòi
lâu dài, mà như là ngẫu nhiên bắt gặp: Không thể đến với sách vở hàn lâm thì trở
về với nó. Chợt nhận ra từ lâu nó đã thuộc về mình mà không hay biết, nhưng nay
nó là cả một xu thế hiện đại thì tội gì không theo. Nếu khôn ra gán thêm cho nó
một ít màu sắc lý luận thì càng oai.
Về phần mình, Bốn đến với
hoang dại như là không có con đường nào khác. Tung tẩy phá phách làm tình làm tội
người khác thế nào không biết, nhưng đó là chuyện ngoài đời, còn vào đến thơ,
cái tôi của Bốn là một cái tôi hậm hụi bất lực. Dường như không sao tìm được sự
cân bằng trong tâm lý. Cũng như chẳng biết cư xử ra thế nào cho phải. Thấy
chung quanh tầm thường vớ vẩn, mà mình thì cũng chẳng hơn gì, lại có lỗi ở chỗ
không biết làm sao tác động tới đời, khiến cho nó trở nên tốt hơn vừa ý mình
hơn. Giữa vô vàn những lo toan – lo nghèo lo đói lo khổ lo không được hiện đại,
– lại còn thêm cái lo nữa, lo lạc lõng, không ai nghe mình. Mấy chữ mồ côi thường
xuất hiện. Trăng mồ côi. Bão mồ côi. Cây mồ côi. Mà con người đến chết vẫn có
thể tiếp tục mồ côi (Trở về với mẹ ta thôi – Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ).
Tâm lý mồ côi đó là gì nếu không phải là tình trạng người ta mất đi những chỗ dựa
chắc chắn về tinh thần, không có cái để tin yêu và kính trọng?!
Dễ dàng nhận xét là nhiều
bài thơ Đồng Đức Bốn không có được cái sự liền mạch, mà hình như do từng mảng
ghép lại, mỗi mảng là một đôi sáu tám hoặc hai đôi liền. Viết cái gì thì cũng vậy
mà làm thơ càng dễ vậy, kỵ nhất là cái lối câu nọ gọi câu kia, đưa đẩy chuyển
tiếp kết quả thành một thứ thuận miệng giống như người quen chân đi mãi, nhiều
khi vẫn đi đấy mà không biết mình đi đâu. Trong một thể như lục bát điều đó
càng dễ xảy ra. Không có kết cấu, nó quá tự do, nhưng cũng chứa đầy cạm bẫy
trong cái tự do đó. Do một sự may mắn nào đó, Đồng Đức Bốn có duyên sớm ngộ thấy
cái sự mòn mỏi của nó, nên cố tìm cách tránh. Lục bát ở đây không nhịp nhàng nối
tiếp mà cứ giật cục như cái gì ngắc lại nghèn nghẹn nơi cổ. Thứ lục bát đó tôn
thêm cảm giác quê mùa hoang dại chung của thơ mà đoạn trên đã nói. Phải liều mạng
lắm người ta mới dám viết những câu ngang phè, đại loại:
Rét lòng khát ngọn lửa nhen
Mà áo đỏ áo đỏ em
đâu rồi (V.T.N nhấn mạnh)
Thế nhưng đó chính là những
câu thơ làm cho người đọc không đọc lục bát theo kiểu trôi tuồn tuột, mà phải dừng
lại ngẫm nghĩ, cũng tức là nhà thơ đạt được cái hiệu quả mà người cầm bút nào
cũng mong muốn.
Thử nhớ lại hai bài thơ
không rạ rơm chút nào của Bốn, bài Chiều mưa trên phố Huế và
bài Xích lô đường Bà Triệu. Trong con mắt người làm thơ, cảnh phố Huế nào
có khác chi chợ quê, cũng hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau, xe
cúp dàn hàng ngang mà đi đấy, nhưng vẻ hiện đại không che nổi áo
rách. Giữa đường Bà Triệu ồn ào, nhà thơ nhạy cảm vẫn thấy toát lên một
chút gì đó tịch mịch xa vắng. Bởi vậy, cái chuyện cô đơn ngay giữa đám đông là
không tránh khỏi và cảm tưởng cuối cùng được cô kết lại bằng cái câu rất
sái: Xong rồi chả biết đi đâu - Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương
Dương.
Thế nghĩa là gì? Dù đã chuyển
sang thời hiện đại, song cảnh tượng ở đây chỉ là một biến thể của những chăn
trâu đốt lửa với lại bắt gió chân cầu đã nói ở trên. Chua xót. Bế
tắc. Cầm bằng đến đâu thì đến. Mà hoang dại vẫn hoàn hoang dại.
Rút lại thì tôi muốn bảo Đồng
Đức Bốn là một giọng thơ dân gian hiện đại.
Dân gian là một khái niệm rất
rộng. Là một cảm giác dang dở về đời sống. Là sự lạc quan tất yếu thành ra một
thứ bản năng. Lại cũng là một nỗi buồn xa vắng khôn nguôi. Là sự hòa quyện giữa
hy vọng và thất vọng. Là lòng ham sống là ý chí vươn lên đấu tranh cho đời sống
ngày một tốt đẹp. Mà lại cũng là một sự hư vô buông xuôi gần như đồng nghĩa với
tự cho phép muốn làm gì thì làm -, con người thì bao giờ cũng thế thôi, quá bận
tâm đến họ làm gì cho mệt. Bởi vậy dân gian là trong sáng vô tư, nhưng cũng là
hư hỏng đàng điếm tùy tiện “chí phèo”… Đấy đại khái dân gian có lắm sắc thái
như vậy, và chúng ta còn đang nỗ lực để hiểu thêm về nó.
Riêng
về Đồng Đức Bốn, tôi cảm thấy trong cái vẻ đều đều gióng một của mình, anh vẫn
là một tính cách pha trộn. Trong giọng thơ này, cái già cỗi mệt mỏi tồn tại
ngay bên cạnh cái trẻ trung, cái ham muốn bồng bột nẩy nở đấy mà cũng tàn lụi
ngay đấy, để rút lại nhường chỗ cho cái ngu ngơ bất lực bao trùm. Vừa chấp nhận
đầu hàng, bỏ qua tất cả, mà lại vừa tham lam càm quắp, cò kè tính toán, vơ véo
nhặt nhạnh, níu kéo lấy một cái gì lúc nào cũng có thể mất.
Hình như sự chấp nhận nửa vời
như thế đang là cái cách mà nhiều người đương thời, trước một đời sống đầy bất
trắc, tự phát tìm đến để tự vệ?!
Làm đất đất phải nở
hoa - Làm tôi, buồn cái người ta vẫn buồn - với câu thơ bâng quơ
nghe như một tiếng thở dài đó, dường như Đồng Đức Bốn đã thú nhận: chẳng qua
anh cũng chỉ như mọi người. Mà làm sao khác được cơ chứ! Luật đời đã định!
Trong khi khai phá và trình
bày nỗi niềm hoang dại nơi mình, người thi sĩ đã giúp chúng ta tìm thấy một phần
cái ta sẵn có mà lâu nay chót quên lãng và mặc dầu vẫn sống đủ với nó, song hầu
như lại chưa bao giờ nghiêm túc suy nghĩ về nó. Cuộc đời thì ngắn mà mỗi chúng
ta thì bơ vơ lắm.
Phan Thị Vàng Anh
Vài nét tiểu sử
Phan Thị Vàng Anh, sinh 1968. Tác phẩm chính: Khi người ta trẻ (truyện ngắn, 1993), Hội chợ (1995), Trường hợp chị thỏ bông (tạp văn, ký bút danh Thảo Hảo, 2003).
Nỗi buồn đến sớm
Khuôn mặt đăm chiêu của tuổi
trẻ hôm nay, qua các sáng tác của Phan Thị
Vàng Anh
Xuyên là một cô gái đầy mâu
thuẫn, “ngông nghênh mà lại sợ dư luận; ăn nói ác độc kiêu căng mà lại rất tự
ti”. Điều khốn khổ là con người “thích đấy rồi lại chán đấy” ấy bỗng nhiên lại
đi yêu! Yêu cho vui thôi, ai cũng nghĩ thế và chắc cô cũng nghĩ thế. Nhưng đến
một lúc nào đó, thì hóa ra, với cô, sống cũng chỉ là sống cho vui. Một liều thuốc
ngủ chắc chắn trong một phòng khách sạn cửa khóa chắc chắn đã là mhững nét vẽ
cuối cùng hoàn chỉnh cái chân dung của một con người trẻ tuổi nơi cô, cái lứa
tuổi mà theo Phan Thị Vàng Anh, ít ai biết rằng “người ta điên đến mức nào, cần
có bạn bè để an ủi bao nhiêu, người ta lại thích trả thù nữa chứ” (Khi người
ta trẻ, bản in 1995, tr.57).
Bằng một cách có lẽ là không
tình cờ chút nào, Phan Thị Vàng Anh đã chọn cho thiên truyện chúng tôi vừa tóm
tắt cái tên Khi người ta trẻ. Và sự thách thức của tác giả được đẩy
lên một mức nữa, khi nó được chọn làm tên chung của cả tập. Từ nay trở đi, nó
không chỉ liên quan đến sự lựa chọn nhân vật, mà còn cho thấy một cách hiểu về
nghệ thuật. Nói cho to tát một chút, thì nó giống như một tuyên ngôn: muốn chứng
minh sự có mặt của mình trong văn chương, mỗi người phải có cách hình dung của
mình về đời sống. Mỗi nhà văn phải là một điểm nhìn, một cách quan sát, một chỗ
đứng mà chỉ riêng người đó có.
Cuộc
sống tẻ nhạt
Nhìn dưới góc độ ấy, sắc
thái thấy rõ nhất của cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm của Phan Thị Vàng
Anh là sự tẻ nhạt. Cuộc đời nói chung giống như một thứ “trò ấm ớ” (Khi người
ta trẻ, tr.45). Nó vốn nhàm chán, như một buổi lễ cúng đình nham nhở, lại càng
nhàm chán khó tiêu hơn, bởi ngay những người già, hay đi lễ, cũng không biết ăn
vận, cư xử thế nào là sai thế nào là đúng (Hội chợ, các trang 46,
49). Không sao có nổi những biến động lớn, cuộc sống ở đây dề dà, vơ vẩn và nhiều
khi ngả sang kỳ quặc, dị hợm. Như những bữa cơm tẻ ngắt (Hội chợ, tr.20). Như
cái hòn non bộ tạp nham, cọc cạch (Hội chợ, tr.82). Như một chuyến
pích-ních ngớ ngẩn không đâu vào đâu (Cuộc ngoạn du ngắn ngủi). Như
cái miền đất “mới đến mà đã thấy buồn” (Đất đỏ, in trong Khi người ta
trẻ, tr.100) nhất là nó giống như những mối tình ba vạ, hoặc trai gái lệch
tuổi và chẳng hiểu gì nhau, vừa yêu vừa tự hỏi “chuyện này sẽ kéo dài đến khi
nào” (Hội chợ, tr. 92) hoặc những cô con gái yêu những gã con trai đã có vợ rồi,
yêu trong khi chưa biết làm gì, yêu để mà càng tuyệt vọng trong cuộc tìm kiếm
tình yêu chân chính (truyện Sau những hẹn hò in trong Hội chợ).
Cả đến thiên nhiên trong Phan Thị Vàng Anh cũng không bình thường, mưa là “mưa
trái mùa”, còn trăng là “trăng trước rằm lạnh lẽo và cô độc giữa trời cao không
mây” (Hội chợ, các tr. 95 và 64). Một điều có thể gọi là nét độc đáo quán xuyến
trong hai tập sách đầu của Phan Thị Vàng Anh, là truyện thường ngắn gọn. Mỗi
truyện chỉ thu gọn trong dăm ba trang, truyện dài nhất có đủ cả những bể dâu
thay đổi, cũng chỉ kéo đến hơn chục trang. Tại sao? Có lẽ là bởi tác giả không
sao tìm được hào hứng để kể mọi chuyện cho mùi mẫn sôi nổi hơn. Hình như với những
“trò ấm ớ” này, thì chỉ cần cái hình thức cũng lụn vụn ấm ớ như thế, đã đủ rồi
chăng? Người ta phân vân tự hỏi. Chỉ có điều chắc, do biết quá nhiều, nên mặc
dù chỉ xem tất cả như những trò đùa nhạt nhẽo, song tác giả soi vào đâu cũng ra
cái để viết, nhìn đâu cũng thấy truyện, và luôn luôn hứa hẹn cung đốn cho
chúng ta những cuộc vui nho nhỏ.
Tuổi trẻ bất hạnh
Trở lại với nhân vật Xuyên
trong thiên truyện mang tên Khi người ta trẻ. Thật ra, loại nhân vật
dám có phản ứng dứt khoát như thế trong Phan Thị Vàng Anh là một cái gì ngoại lệ.
Phổ biến hơn, đám người trẻ tuổi trong Phan Thị Vàng Anh là loại sống nặng nề,
cam chịu. Làm, họ thẫn thờ buông xuôi. Nói, họ nhát gừng, vớ vẩn, vậy mà sau mỗi
lần buộc phải mở miệng, họ thường xuyên nhận ra mình nói dối như mọi người, rồi
lại buồn bã nghĩ rằng lẽ ra, mình không nên nói, bởi, nhìn xem, có ai hiểu đúng
mình đâu! Lần về tới tận bản chất con người, thật ra đâu có phải họ thuộc loại
vô cảm, như chính họ tự nhận. Hãy xem như ở thiên truyện Mưa rơi. Đây
là cảm tưởng cô gái, khi đèo người mẹ ở buổi họp tổ hưu trở về: “Tôi chở mẹ qua
những ruộng rau muống ếch nhái đã bắt đầu kêu ì uỗm, đi qua những hàng tre bị
mưa quật ngã, thấy sao lạ thế này, sao như chở một em bé từ vườn trẻ về thế này
cũng mong manh và cần thông cảm” (Hội chợ, tr. 102). ấy thế nhưng giữa bà
mẹ và con gái vẫn là cả một trời vô lý cách biệt. Bà mẹ không sao diễn tả nổi
những gì mà mình đã trải trong chiến tranh. Còn người con gái thì vẫn cái nhìn
xoáy sâu vào mọi chuyện (khiến bà mẹ phải kêu lên là cô ác độc), và những ám ảnh
về hạnh phúc không sao giải tỏa nổi. Tóm lại trước mắt chúng ta là những con
người có cuộc sống tinh thần đa dạng, tầng nọ lớp kia chồng chéo, mà không phải
chỉ có cái sắc thái nhờ nhờ xam xám, cái nét mặt cau cau như bên ngoài ai cũng
thấy. Chính loại nhân vật này đã tạo nên cái giọng điệu riêng của văn xuôi Phan
Thị Vàng Anh - đó là cái giọng tự kiềm chế, nói nửa câu lấp lửng mà đôi lúc như
là bi đát, nghẹn ngào.
Hai sự khác biệt
Đã nhiều lần các thế hệ trước
than phiền một cách chính đáng về lớp trẻ lớn lên sau chiến tranh. Họ thực dụng.
Họ ích kỷ. So với cha anh, họ có cảm giác sâu sắc hơn về tự do. Chết một nỗi,
cái cảm giác tự do đó, thiếu một cơ sở văn hóa làm nền tảng, nên trong đời sống
hàng ngày, nhiều khi họ đi tới nhẫn tâm (dù đôi khi không cố ý) và sẵn sàng
tranh cướp chỗ của người khác để sống.
Từ những trang viết của Phan
Thị Vàng Anh, người ta bắt gặp một lớp trẻ có diện mạo khác, mà nét căn bản là
một đời sống tinh thần sâu sắc, tinh tế, được ánh sáng của văn hóa hướng dẫn. Họ
là hình ảnh đảo ngược của lớp trẻ thực dụng trên kia vừa nói. Song đây cũng
không phải là lớp trẻ bồng bột, non nớt, như người ta quen nghĩ vì thế mà nhiều
người cứ thấy lo lo về họ. Có điều, nếu có dịp nhìn rộng ra một chút thôi, người
ta sẽ thấy ở nhiều nước trên thế giới, thanh niên thời nay đều chung một tình cảnh
như vậy. Không giống cha anh, nhưng các nhân vật của Phan Thị Vàng Anh, lại giống
cái thời đại mà họ đang sống, và đây là lý do chính mà người ta phải thông cảm
và bàn bạc với họ, hơn là xét đoán và chê trách họ.
Đọc Phan Thị Vàng Anh, nhà
phê bình Huỳnh Như Phương đã sớm nhật xét rằng cái thế giới được miêu tả
trong Khi người ta trẻ có phần giống với một cái sân chơi, ở đó, các
nhân vật chơi đủ thứ, từ những trò “ấm ớ” “vớ va vớ vẩn” cho đến những trò
“điên rồ”, “ngông cuồng” nhất. Sự liên tưởng có cái lý của nó. Sau những mệt mỏi
trước việc đời, điều duy nhất làm cho các nhân vật của Phan Thị Vàng Anh có một
chút nghị lực tiếp tục sống là trở về với ý niệm rằng mình đang tham gia một cuộc
chơi. Trong một thiên truyện buồn bã như Sau những hẹn hò, nhân vật
cô gái xưng “tôi” nghĩ về người yêu hờ của mình “nhờ có vợ, anh mới trở thành một
trò chơi lạ đối với tôi, không ràng buộc, không ai được hy vọng”. Có điều “chữ
chơi kia cũng có dăm bảy đường”. Trong Hoài cổ, cũng như trong Kịch
câm, cảm giác trò chơi đồng nghĩa với nhận thức về một kiếp sống cay đắng,
khốn khổ mà người ta buộc phải sống. Nếu ở những Xe đêm, Quà kỷ niệm, Hội
chợ người ta gặp những cuộc chơi gượng gạo, buồn tẻ, thì tới Đất đỏ, trước
mắt ta lại là cuộc chơi tàn bạo của tạo hóa, trong đó, những gì sinh động tài
hoa thì mất, những gì ngơ ngẩn vô hồn thì còn. Bấy nhiêu những trường hợp lẻ tẻ
kết cả lại, gợi nên nét thần thái riêng trong các trò chơi mà Phan Thị Vàng Anh
miêu tả.
Tuy nhiên có một điều kiện để
trò chơi thành công, đó là một chút ngớ ngẩn, khả năng dễ bị lừa và trước tiên
như là biết đánh lừa mình, khả năng sống khá lâu với các ảo ảnh để rồi tìm ra sức
sống, nghị lực, săn đuổi các ảo ảnh, và từ đấy mang lại ý nghĩa cho cuộc đời…
thì các nhân vật của Phan Thị Vàng Anh lại thiếu. Không chỉ tác giả (như Huỳnh
Như Phương nhận xét) mà hầu như tất cả các nhân vật của Phan Thị Vàng Anh đều
quá tỉnh. Luôn luôn, họ biết mình đang chơi, nên không sao có được sự hết mình
vì cuộc chơi. Nét mặt họ cau có đăm chiêu, tâm lý họ khi ngổn ngang khổ sở, khi
trống trải bơ vơ, bởi luôn luôn bị ám ảnh là hình như mọi chuyện hỏng hết rồi,
không sao cứu vãn nổi! Không, tình thế không bi đát đến như vậy – mặc dù biết mỗi
cây bút đều có cái tạng riêng, mỗi nhà văn phải đi đến cùng trên con đường đã
chọn, song người ta vẫn không thể đồng ý với Phan Thị Vàng Anh hoàn toàn và muốn
ngòi bút ấy tìm lại vẻ hồn nhiên tươi tắn như nó có. Chính tác giả đã hai lần tạo
ra ngoại lệ trong truyện của mình. Vốn ghét cay ghét đắng sự già nua, song
trong đoạn kết Hội chợ, nhà văn này đã ngả sang cái giọng rất bình thản,
rất biết điều, thậm chí như là hơi cổ điển nữa, khi để cho nhân vật Thảo nghĩ lại
về mối tình bơ vơ của mình. “Và Thảo mở những cái thư cũ ra xem, vẫn thấy ngọt
ngào, vẫn thấy vui, chỉ thấy rằng hóa ra mình đang hồn nhiên thực hiện cái
thiên chức của phụ nữ là chờ đợi” (Hội chợ, tr.11). Và hào hứng hơn cả là truyện Thương, ở
đó, một người con gái tự nhiên nhẹ nhõm đi qua cuộc sống bình thường của một
gia đình mà khiến cho cả mấy thế hệ trong gia đình cùng xao động. Tuy già hơn
nhiều nhân vật choai choai khác thường xuất hiện trong truyện của Phan Thị Vàng
Anh, song Thương lại có cái trẻ trung riêng, một thứ trẻ trung tự nhiên,
khiến cho người ta không khỏi ước ao giá bên cạnh loại nhân vật thất thường, đỏng
đảnh mà thực ra già nẫu ra, như Xuyên, loại nhân vật như Thương này đi về
thường xuyên hơn, thì biết đâu, dưới ngòi bút Phan Thị Vàng Anh, người ta chả đọc
ra những thiên truyện có sắc thái cận nhân tình hơn, mà cũng là gần với đời sống
hơn nữa.
Mục lục
Chương sáu: Sản phẩm của
một xu thế dân chủ
Vũ Trọng Phụng
Tuổi 24 rực rỡ
Say mê và tâm huyết
Cái nhìn bi quan mang ý
nghĩa cảnh tỉnh
Nguyễn Bính
Cánh bướm và đóa hướng
dương
Thế giới hôm qua
Chương bảy: Những người
lữ hành đơn độc
Hồ Dzếnh
Chênh vênh quê nội quê ngoại
Hàn Mặc Tử
Vẻ đẹp kỳ dị
Hồn thơ siêu thoát
Thâm Tâm và Trần Huyền Trân
Thơ của những kẻ “rừng đời lạc
lối”
Chương tám: Những đời
văn kéo dài suốt hai nửa thế kỷ
(I)
Nguyễn Tuân
Một định nghĩa về người cầm
bút
Thay đổi đến từ những năm
kháng chiến
Huyền thoại một thời
Xuân Diệu
Người biết mài sắt nên
kim
Chưa ai thông cảm hết
sự cô độc của tôi
Thanh Tịnh
Ngậm ngải tìm trầm
Chương chín: Những đời
văn kéo dài suốt hai nửa thế kỷ
(II)
Nam Cao
Viết ngay về những người
quanh mình
Phỏng vấn tác giả Chí
Phèo
Tô Hoài
Cuộc phiêu lưu giữa trần ai
cát bụi
Muôn mặt nghề văn
Một cách sống trong tuổi
già
Nguyên Hồng
Cát bụi và ánh sáng
Tế Hanh
Đi suốt bài ca
Chương mười: Cuộc tìm
tòi thầm lặng
Trần Dần
Khi cách mạng là nhu cầu
nội tại của một thi sĩ
Chương mười một: Tự khẳng
định cùng Cách mạng
Nguyễn Khải
Một cách tồn tại trong văn học
Cái trẻ của tuổi già
Nguyễn Thành Long
Một trong nhiều cuộc đời
dang dở
Nguyễn Minh Châu
Phấn đấu hết mình vì một lý
tưởng nghề nghiệp cao quý
Sự dũng cảm rất điềm đạm
Một bản di chúc
Chương mười hai: Nối tiếp
và thay đổi
Lưu Quang Vũ
Sống mãi tuổi 40
Xuân Quỳnh
Những buồn vui của kiếp hoa
dại
Nguyễn Duy
Một bản sắc đã đến lúc định
hình
Lý Lan
Mạch sống tự nhiên
Chương mười ba: Những
biến tấu mới
Nguyễn Huy Thiệp
Khuôn mặt nhàu nát
Bùi Chí Vinh
Xanh vỏ đỏ lòng
Đồng Đức Bốn
Chất hoang dại trong
thơ
Phan Thị Vàng Anh

















































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét