Mỹ thuật thời chúa Nguyễn:
Thời chúa Nguyễn là giai đoạn
ít được đề cập đến trong lịch sử nghiên cứu mỹ thuật, bởi sự thiếu vắng các dấu
tích đương thời do tính chất của độ bền vật liệu, do những di hoạ của lịch sử.
Những vạc đồng còn lại
Tuy nhiên, có lẽ thực sự có
một giai đoạn mỹ thuật thời chúa Nguyễn như dấu gạch nối giữa mỹ thuật Nguyễn với
cái gốc thời Lê bằng sự lý giải motif cúc nút và liên đằng. Đồng thời khó lòng
tồn tại một mảng mỹ thuật thời Tây Sơn trong dòng chảy mỹ thuật dân tộc, bởi thời
gian tồn tại quá ngắn ngủi, chưa đủ thời gian để lưu dấu trong mỹ thuật tạo
hình..(1) (Nguyễn Hữu Thông, 1992; Nguyễn Hữu Thông, 2001...).
1. Hiện có thể đếm trên đầu ngón tay những hiện vật thời các chúa Nguyễn còn tồn tại rãi rác ở khu vực Bình -Trị -Thiên, tuy nhiên, bởi những điều kiện đặc thù, Huế là nơi mật tập nhất. Chúng tôi muốn đề cập đến hệ thống motif trang trí trên những hiện vật bằng đồng trong cùng giai đoạn, phân loại và bóc tách chúng... với tham vọng tìm kiếm những nét kế thừa từ mỹ thuật Đàng Ngoài, mỹ thuật bản địa cùng những yếu tố giao thoa văn hoá phương Tây và khu vực; hay nói cách khác là tìm kiếm những nét riêng của nó trong đối sánh với mỹ thuật Lê và Nguyễn về sau.
1. Hiện có thể đếm trên đầu ngón tay những hiện vật thời các chúa Nguyễn còn tồn tại rãi rác ở khu vực Bình -Trị -Thiên, tuy nhiên, bởi những điều kiện đặc thù, Huế là nơi mật tập nhất. Chúng tôi muốn đề cập đến hệ thống motif trang trí trên những hiện vật bằng đồng trong cùng giai đoạn, phân loại và bóc tách chúng... với tham vọng tìm kiếm những nét kế thừa từ mỹ thuật Đàng Ngoài, mỹ thuật bản địa cùng những yếu tố giao thoa văn hoá phương Tây và khu vực; hay nói cách khác là tìm kiếm những nét riêng của nó trong đối sánh với mỹ thuật Lê và Nguyễn về sau.
Tất nhiên, những biểu hiện của
một mảng mỹ thuật bao giờ cũng tồn tại dưới nhiều chất liệu khác nhau: sành sứ,
gỗ, vải, đồng, đá..., trong điều kiện chưa thể tiến hành nghiên cứu ở những địa
phương khác và trên những dạng vật liệu khác, chúng tôi tiến hành khảo sát, thực
hiện thác bản, phân loại theo chủ đề... từ tháng 3/2004- 10/2004, trên những vạc
đồng, súng, khánh, chuông đồng và gương đồng thời chúa Nguyễn.
2. Đồ đồng thời chúa
Nguyễn: Nguồn gốc..
Lần tìm trong sử liệu, chúng
ta chỉ có thể bắt gặp những ghi chép ít ỏi trong Tiền biên, đề cập đến việc
biên chế dân binh trong việc đúc súng với vật liệu sắt (2). Việc đúc súng,
chuông và vạc đồng, tuy không mấy được nhắc đến trong những bộ chính sử triêu
Nguyễn, nhưng niên đại được khắc rõ ràng là dưới thời chúa Nguyễn và nguyên uỷ,
cũng không nằm ngoài những nhận định thường tình. Có lẽ do sự mù mờ về sử liệu
và cũng để giải thích cho sự hiện diện của những hiện vật bằng đồng ở Huế hiện
nay, nhiều ý kiến cho rằng: những chiếc chuông ra đời là minh chứng của việc
các chúa Nguyễn xiển dương Phật giáo, đúc nhân dịp xây mới hoặc trùng tu chùa
chiền.
Bên cạnh đó, việc đúc vạc đồng
cũng không ngoài ý nghĩa để ghi nhận chiến thắng sau những cuộc giao tranh và
thể hiện ước vọng trường tồn của quốc gia, dòng họ.
3. ...Đôi nét nhận diện
Như đã từng đề cập, sự tồn tại của một thể chế, một triều đại trong một thời kỳ dài, tất yếu sẽ tạo nên những dấu ấn văn hoá- mỹ thuật..., thể hiện trên nhiều lĩnh vực hay chất liệu khác nhau. Hiện vật đồng thời chúa Nguyễn, chúng ta có thể định vị và gọi tên một cách chính xác bởi số lượng quá ít ỏi và hiện chúng đang được lưu giữ như bảo vật quốc gia: 10 vạc đồng,05 súng, 01 khánh và 03 chuông (3).Căn cứ vào công dụng, tính chất của hiện vật, chúng tôi tạm phân chia thành các nhóm:
Như đã từng đề cập, sự tồn tại của một thể chế, một triều đại trong một thời kỳ dài, tất yếu sẽ tạo nên những dấu ấn văn hoá- mỹ thuật..., thể hiện trên nhiều lĩnh vực hay chất liệu khác nhau. Hiện vật đồng thời chúa Nguyễn, chúng ta có thể định vị và gọi tên một cách chính xác bởi số lượng quá ít ỏi và hiện chúng đang được lưu giữ như bảo vật quốc gia: 10 vạc đồng,05 súng, 01 khánh và 03 chuông (3).Căn cứ vào công dụng, tính chất của hiện vật, chúng tôi tạm phân chia thành các nhóm:
3.1. Nhóm Tự viện
3.1.1. Chuông đồng
Đại hồng chung Thiên Mụ được
xem là lớn nhất trong số chuông chùa ở nước ta hiện nay:
"<...> chuông cao
247cm, miệng rộng 140cm, có tỷ lệ chiều cao so với chiều rộng 1,76 còn gần với
chuông thời Mạc, trong đó quai chuông đã cao tới 57cm làm thành đôi rồng ngậm
ngọc đấu lưng lại với nhau có dáng đứng thành, miệng loe. Trên thân chuông
ngoài 4 gờ băng dọc có nhiều bảng gờ ngang tạo thành những dãi trang trí vòng
quanh chuông. Miệng chuông chạm sóng bạc đầu với một số hạt ngọc, trên đó là
các băng chạm bát bửu (sáo, đàn nguyệt, bút lông, bầu rượu, phách, quạt vơ,
thanh kiếm), chạm các chữ thuộc 8 quẻ trong bát quái (càn, khôn, cấn, chấn,tốn,
ly, khôn, đoái (đoài?), chạm 8 chữ phạm (phạn to dưới mây cụm, chạm những cặp
rồng và cặp phượng chầu nhau, chạm dây tay mướp leo. Có 4 núm đánh làm thành
hình mặt trăng trên những cụm mây. Ở những ô lớn có khắc bài văn và bài minh,
câu chúc" (Chu Quang Trứ, 1998: 504-505)
Về nguồn gốc, bài minh văn
trên thân chuông cho biết chuông được đúc vào thá
ng 4 năm Canh Dần năm Vĩnh Thịnh
VI (đời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng 5 năm 1710) (4)
Bên cạnh chuông chùa Thiên Mụ,
người Huế thường truyền tụng còn một chuôn đồng khác cũng được đúc dưới thời
chúa Nguyễn, hiện còn lưu giữ tại chùa làng Vân Thê (xã Thuỷ Thanh- huyện Hương
Thuỷ- Thừa Thiên Huế).
Chiếc chuông này có thân cao
79cm, quai cao 23cm, đường kính thân 132cm-134cm, đường kính miệng 168cm. Thân
chuông chia làm 4 múi theo chiều dọc và bảy dãi hoa văn theo chiều ngang. Nhìn
từ trên xuống, quai chuông mang hình con bồ lao(5)lưng uốn cong đỡ lấy thân
chuông. Dải hoa văn thứ nhất có hình hoa và dây lá, dải thứ hai được chắn bởi
những đường sổ dọc thành bốn ô hộc, mỗi ô hộc đúc nổi đúc nổi bảng gồm hai chữ
Hán, phía trên có dãi hoa văn vân kiên- hình ảnh gợi sự liên tưởng đến đầu ngói
mũi hài thường gặp trên một số công trình kiến trúc cổ, phía dưới mũi nhọn của
mỗi vân kiên có ba chấm tròn nhỏ xếp theo hàng dọc; hai góc bên dưới được chắn
bằng dạng hoa văn vân kiên cách điệu. Dải hoa văn thứ ba có dạng hồi văn chữ vạn.
Dải hoa văn thứ tư mang dạng ô hộc như dải thứ hai, bốn góc được chắn bởi dạng
hoa văn như ở dưới góc ô hộc của dải thứ hai, ở giữa là những bài minh. Dải hoa
văn thứ năm có bốn núm tròn, hai bên mở ra các tia lữa- dạng mặt trời/ trăng
cách điệu, chen lẫn dưới bốn núm này là tám quẻ trong bát quái. Dải hoa văn thứ
sáu cũng được chắn thành những ô hộc nhưng có kích thước hẹp, ở giữa đúc hoa
văn lá. Dải hoa văn cuối cùng có hình dây lá hoa cúc làm thành miệng chuông.
Nhìn chung, khá nhiều hoa
văn trên chiếc chuông có hình dáng tương tự trên những chiếc vạc đồng thời chúa
Nguyễn, đặc biệt là dải hoa văn vân kiên. Tuy không ghi rõ năm chú tạo, nhưng
cũng có thể chiếc chuông này được tạo tác dưới thời các chúa, bởi Vân Thê là một
trong những ngôi chùa được xây dựng khá sớm ở xứ Đàng Trong.
Ngoài chuông Thiên Mụ và
chuông Vân Thê, hiện nay trên địa bàn Thừa Thiên Huế mà chúng tôi khảo sát được
còn có chuông Hà Trung. Hiện nay chuông được treo ở chùa Hà Trung, xã Vinh Hà,
huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế.
"Chiếc hồng chung của
chùa vốn là chuông chùa Phổ Thành của làng Ngâm Điền huyện Gia Định, phủ Thuận
An, xứ Kinh Bắc, đúc năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), không rõ do duyên cơ nào đã
trở thành pháp khí của chùa trên trăm năm qua. Phải chăng từ duyên cơ đó, mà
thay vì vẫn giữ tên chùa Hà Trung như cũ, người sau, khi trùng tu, đã căn cứ
theo tên chuông mà khắc lại tên chùa là Phổ Thành tự, trước bạ một tên mới trên
ngôi chùa cũ". (Trần Đại Vinh-Nguyễn Hữu Thông-Lê Văn Sách, 1993:209).
3.1.2. Khánh đồng
Chiếc khánh đồng này hiện được
cất giữ tại chùa Thiên Mụ, tương truyền do Tham tri chánh đoán sự Đông Triều hầu
Trần Đình Ân cho đúc để cung tiến khi lập chùa Bình Trung (6). Trãi qua nhiều biến
cố, loạn lạc và cho đến nay chiếc khánh được cất giữ ở Thiên Mục tự. Có lẽ đây
là chiếc khánh được đúc bằng đồng duy nhất dưới thời các chúa Nguyễn còn tồn tại
đến ngày nay.
Chiếc khánh này có hình dạng
đơn giản(7), nhưng motif trang trí trên nó lại rất cầu kỳ, tinh xảo. Khác với
những chiếc khánh thường thấy trong những cổ tự hiện nay, khánh đồng chùa Thiên
Mụ được trang trí cả hai mặt, kiểu thức chủ đạo là nhị thập bát tú (Nguyễn Hữu
Thông, 2001: 58-60). Tuy nhiên, so với mặt trước, kiểu thức trang trí ở mặt sau
có đôi chổ khác biệt và có phần đơn giản hơn. Chính giữa khánh nổi rõ hình ảnh
quen thuộc của mặt trời và tia lửa, nhưng cầu kỳ hơn, phía trên, dưới đối xứng
qua tâm vòng tròn, hai mẫu trang trí hoa văn vân kiên cách điệu được thực hiện
nhằm tạo thế cân đối. Phía trên hình ảnh này là hai hàng chữ Hán đóng khung, đối
xứng nhau. Hai dòng chữ ở mặt trước, dòng phía tả ghi "Thập phương công đức",
dòng phía hữu đã bị đục bỏ. Hai dòng ở mặt sau, dòng phía tả ghi "Vĩnh Trị
nhị niên tuế thứ Đinh Tỵ trọng thu tạo", dòng phía hữu ghi "Bình
Trung...". Viền quanh là dải hoa văn hình sin cách điệu dây lá, một đôi chổ
tạo nên những điểm gút hoa văn tuỳ thuộc vào các điểm nhấn trong tạo hình chiếc
khánh.
3.2. Nhóm Vương phủ
Trong nhóm này, chúng tôi tạm
phân chia thành hai tiểu nhóm nội và ngoại, có nghĩa là những hiện vật có nguồn
gốc trong nước và những hiện vật có nguồn gốc từ nước ngoài.
3.2.1. Vạc đồng
Như đã thống kê, trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện còn 11 chiếc vạc đồng đúc dưới thời chúa Nguyễn,
trong đó hiện còn 07 chiếc hiện đặt trong Đại Nội (A), 03 chiếc đặt trước sân Bảo
Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế(BTMTCĐH) (B) và 01 chiếc ở lăng Đồng Khánh (C).
3.2.1.1.Nhóm A
Hầu hết được đúc vào thế kỷ
XVII, trong đó, căn cứ vào hình dáng, chúng tôi tạm phân chia chúng thành hai
nhóm nhỏ:
3.2.1.1.1. Gồm 03 chiếc
được đúc trong khoảng thời gian chiến tranh Trịnh-Nguyễn, gồm:
+ 01 chiếc đặt trước nền điện
Kiến Trung, đúc năm Thịnh Đức VII (1659).
+ 01 chiếc đặt trước nhà Tả
Vu (phía sau điện Thái Hoà), đúc năm Thịnh Đức VIII (1660).
+ 01 chiếc đặt trước nhà Hữu
Vu (phía sau điện Thái Hoà), đúc năm Thịnh Đức X (1662)
Những chiếc vạc thuộc nhóm
này có 04 quai đúc kiểu dây thừng đối xứng nhau thành hai cặp, miệng hơi loe,
đáy lồi, trên thân có nhiều dải hoa văn nằm ngang: hai dải phía trên miệng và
đáy có kích thước hẹp, trang trí hoa văn dây lá; những dải còn lại được chắn bởi
các đường sổ dọc, làm thành những ô hộc trang trí.
3.2.1.1.2. Gồm 04 chiếc,
được đúc vào khoảng thời gian cuối hoặc sau chiến tranh Trịnh-Nguyễn, trong đó
có 03 chiếc niên đại Cảnh Trị và một có niên đại Chính Hoà.
+ 01 chiếc niên đại Cảnh Trị
hiện đặt phía bên trái Duyệt Thị Đường (b1), đúc năm 1670; 01 chiếc hiện đặt
phía bên trái điện Thái Hoà (b2), đúc năm 1672; 01 chiếc đặt phía bên phải nền
điện Càn Thanh, đúc năm 1671 (b3)
+ 01 chiếc niên đại Chính
Hoà hiện đặt phía bên trái nền điện Càn Thành, đúc năm 1684 (b4).
Cả bốn chiếc vạc này đều có
8 quai nhỏ, làm thành bốn cặp đối xứng nhau qua miệng vạc, đáy bằng, thân hơi
loe hình phễu. Mỗi chiếc quai mang hình rồng cách điệu (8) được đúc ở vị trí thấp
hơn miệng vạc, vuông góc với thân vạc. Chen lấn giữa những cặp quai là những dải
hoa văn dây lá, hoa lá, hình sin, một số vị trí khác còn đặt tả hình ảnh của một
vài loài động vật: con sóc,cáo, phụng, trĩ, khổng tước...Khoảng cách giữa hai
quai trong cùng một cặp được trang trí một dải hoa văn khác với những mảng hoa
văn còn lại (9).
3.2.1.2. Nhóm B
+ 01 chiếc phía bên trái,
đúc năm 1667, có hình dáng tương tự như chiếc hiện đặt trước nền điện Kiến
Trung: quai dạng dây thừng, các dải đồ án được phân thành ô hộc, chen lẫn giữa
những dải hoa văn hình sin vòng quanh thân.
+ 01 chiếc phía bên phải,
đúc năm 1631. Đây là chiếc vạc có hình dáng khác biệt nhất: miệng loe, cổ thắt,
thân phình to, đáy lồi-có thể xem chiếc vạc này là hình ảnh phóng lớn của chiếc
nồi đồng vốn được sử dụng rộng rãi trong dân gian mà hiện nay nó vẫn còn sử dụng
ở các làng quê. Nối giữa thân và miệng là hai cặp quai đơn giản, không chạm trổ
hoa văn làm thành hai cặp quai đối xứng.
+ 01 chiếc vạc phía bên phải,
đúc năm 1659, có hình dáng tương tự như chiếc vạc đặt phía bên trái, cũng quai
văn thừng với các dải đồ án chia ô, hộc xen kẽ nhau bọc quanh thân vạc.
Nhìn chung, những chiếc vạc
này được đúc từ năm 1659-1684, thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687),
giai đoạn chiến tranh Trịnh-Nguyễn cam go.
3.2.1.3. Nhóm C
Ngoài ra, 01 vạc khác hiện đặt
ở lăng Đồng Khánh có hình dáng tương tự nhóm A, đúc năm 1673.
3.2.2. Gương đồng
Hiện có ba chiếc gương đồng
đang được trưng bày tại BTMTCĐH, được đúc dưới thời chúa Nguyễn, niên đại thế kỷ
XVII-XVIII. Cả ba đều là loại gương tay mặt tròn, dẹt; tay cầm hình chữ nhật hoặc
hình chiếc hốt, được hàn liền vào mặt gương; trong đó, một còn nguyên tay cầm,
một tay cầm gãy một đoạn và một đã không còn tay cầm..
3.2.3. Súng đồng
Trong gần nữa thế kỷ chiến
tranh, mặc dù họ Nguyễn gần như yếu hơn bốn lần so với họ Trịnh ở Đàng Ngoài về
hầu như mọi mặt, vậy mà không chỉ tồn tại được và đẩy lùi bảy lần tấn công của
họ Trịnh mà còn có thể mở rộng biên giới của mình sâu xuống phía Nam (Li Tana,
1999: 15-16). Những thành tựu này, theo một số nhà nghiên cứu, có sự đóng góp
không nhỏ của hoả lực-cụ thể là của trọng pháo, mà về sau thường được gọi là thần
công, súng quá sơn hay đơn giản hơn là đại bác, súng đồng:
"Nhà vua có một
ngàn hai trăm khẩu đại bác, tất cả đều bằng đồng, trong số này người ta
thấy có nhiều khẩu có kích thước khác nhau, mang huy hiệu của Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha, nhưng đặc biệt, có bốn khẩu đại bác nặng, dài khoảng 6 mét, mang huy
hiệu Đàng Trong, trông thật đẹp. Niên đại các khẩu đại bác này được đúc là từ
1650 đến 1660" (Description of Cochinchina. Dẫn lại: Li Tana, 1999:
62-63).
Sự xuất hiện của nhiều loại
vũ khí trong binh chế thời các chúa, có lẽ phải nhắc đến tên tuổi và vai trò của
hai cha con Jean De la Croix (Joao Da Cruz) và Clémen De la Croix.
"<...> từ phương
xa muôn dặm, những người Tây dương, nhất là người xứ Bồ, ngoài việc đem bán
súng điểu thương, súng đại bác, vật liệu chế thuốc súng, còn mang tới cho chúa
kỹ thuật chế tạo vũ khí <...>. Để tăng cường phương tiện chiến đấu, ngoài
lò đúc súng của Jao Da Cruz, một người Bồ lai tới Đàng Trong trước năm 1615,
thiết lập tại Phường Đúc (một địa danh ở Huế hiện nay ), một lò thứ hai do lịch
chúa, được tổ chức và bắt đầu hoạt động năm Tân-vị (1631) cùng với trường
bắn, mã xưởng và tập tượng trường..." (Phan Du, 1971: 34)
Tuy vậy, hiện nay ở Huế chỉ
còn 05 khẩu súng đồng do người Hoà Lan đúc (Hoàng Thị Hương-Nguyễn Thị Hồng
Dung, 2003: 98), đang được trưng bày ở BTMTCĐH. Sự biến mất của đa phần súng đồng
thời các Chúa, ngoài những nguyên nhân như từng đề cập, còn có việc nhà Tây Sơn
trưng thu tất cả hiện vật bằng đồng cho việc đúc tiền.
05 khẩu súng đồng có thể
chia làm hai nhóm: nhóm 1 gồm 03 súng có kích thước lớn, nhóm 2 gồm 02 súng nhỏ,
tất cả đều đúc nổi ký hiệu V.O.C (Vereenigde Oost Indische et Compagnie) của
Công ty Đông Ấn Hà mua của người Hà Lan; chiến lợi phẩm của chúa Nguyễn Phúc Tần
trong trận giao chiến với hạm đội Hà Lan ở cửa Thuận An năm 1644; là sản phẩm của
Jean De la Croix...
+ Nhóm 1: gồm 03 súng có
kích thước lớn được đúc vào khoảng những năm 1640-1661, thân trang trí khá cầu
kỳ bằng những vòng dải hoa lá, hình ảnh chiến thuyền, và một số motif trang trí
khá lạ mắt.
+ Nhóm 2: gồm 02 súng nhỏ
đúc vào năm 1769 tại Amsterdam (Hà Lan), trên thân không có hoa văn trang trí,
chỉ đúc nổi những đường gờ vòng quanh tạo thành đai thân súng (Hoàng Thị
Hương-Nguyễn Thị Hồng Dung, 2003: 98).
3.3. Hệ thống motif
trang trí trên chất liệu đồng
Hệ thống motif trang trí
trên các hiện vật đồng thời chúa Nguyễn khá đa dạng trong thủ pháp thể hiện và
phong phú về thể loại, do vậy, để dể dàng hệ thống, chúng tôi tạm phân loại các
motif trang trí trên theo chủ đề. Bên cạnh đó, với một số motif giống nhau trên
đại thể như cùng thể loại và có khác biệt đôi chút trong thủ pháp thể hiện,
chúng tôi tạm thời không nhắc đến. Bởi khi đề cập, thật khó có thể định danh một
cách chính xác và điều này cũng đã phản ánh thật rõ nét tính phóng khoáng, cởi
mở trong phong cách tạo hình thời chúa Nguyễn, điều mà chúng tôi muốn nhắc đến
như lời kết của tham luận này.
3.3.1. Những motif trên
hiện vật thuộc nhóm Tự viện:
3.3.1.1. Hệ đề tài động
vật
Con rồng: Xuất hiện rất rõ
nét trên chuông chùa Thiên Mụ. Chuông được bố cục trang trí theo từng dải ngang
vòng quanh thân, tính từ trên xuống, có tám băng được ngăn cách bởi những đường
chỉ nổi vuốt tròn. Thân chuông chia làm bốn phần theo chiều dọc tạo thành những
ô, hộc trong một số băng ngang. Ở đây, hình ảnh con rồng được đúc nổi trong dải
thứ nhất, không bị bó hẹp trong những ô, hộc mà trải dài theo từng cặp chầu
nhau, tất cả như chuyển động dọc quanh thân chuông, trông rất tự do, phóng
khoáng. Quai chuông cao 57cm, có hình Bồ lao miệng ngậm thân châu, đầu quay về
hai phía, bốn chân bấu chặt, níu giữ thân chuông. Những motif này được tạo rất
tinh xảo, con bồ lao mang dáng vẻ uy nghi, thanh thoát, tạo nên bố cục hài hoà
với thân chuông.
Con phụng: Cũng như con rồng,
trong nhóm này, phụng chỉ xuất hiện trên chuông chùa Thiên Mụ với từng cặp châu
đầu vào nhau nằm ở băng thứ nhất từ trên xuống, được đúc nổi các chi tiết, phô
bày hết vẻ đẹp "nữ tính", quý phái, đồng thời tạo sự hoà quyện rất
sinh động giữa rồng và phượng trên thân chuông. Đó là hình ảnh con phụng với
đuôi dài, hai cách dang rộng, mỏ cong, mào dài với tư thế đang bay lượn trên
không trung mà ở đó chúng ta không nhận thấy vẻ đẹp dân dã, bình dị của những
hình tượng trang trí phổ biến thời các chúa Nguyễn.
3.3.1.2. Hệ đề tài thực
vật:
Trong mỹ thuật trang trí
truyền thống dân tộc, chủ đề cỏ, cây trái, hoa lá...luôn có mặt trên nhiều chất
liệu, loại hình và đôi lúc đóng vai trò chủ đạo trong bố cục thể hiện.
Chủ đề hoa lá, hoa dây xuất
hiện không nhiều trên các hiện vật thuộc nhóm Tự viện, nhưng đôi khi nó lại là
mảng trang trí chủ đạo, khá bắt mắt. Hai dải hoa dây cúc uốn lượn nhịp nhàng
hình "sin" khắp hai diềm ngoài của chiếc khánh đồng chùa Thiên Mụ.
Bên cạnh đó, hình ảnh hoa dây trang trí khá nhiều trên chuông chùa Vân Thê,
nhưng lại được bố trí trong những ô, hộc chữ nhật khá dài, tạo thành những mảng
tách biệt nhau trông rất cân đối chỉn chu. Nổi bật nhất là những dải hoa lá sen
đúc nổi quanh miệng chuông với những kiểu thức biến điệu của chiếc lá sen trải
dài. Kiểu thức trang trí này rất giống với motiftreen miệng chuông thời Trần và
Mạc: thường chạm cánh sen.
Hoa sen: Sen xuất hiện khá
nhiều trên miệng chuông Vân Thê với hình ảnh lá và hoa sen được thể hiện ở dạng
trải dài, bó hẹp trong ô hình chữ nhật quanh miệng chuông, và đôi khi nó thoáng
ẩn hiện trên diềm khánh Thiên Mụ, nơi những dải dây lá biến điệu, uốn khúc vồng
lên cao tách khỏi chu kỳ lặp lại của dãy dây lá hình sin.
3.3.1.3. Hệ đề tài đồ vật
Bát bửu: Trong nghệ thuật
trang trí, hệ đề tài đồ vật xuất hiện khá nhiều trên các loại hình chất liệu. Với
đồ đồng, motif này thường chỉ xuất hiện trên chuông. Ở chuông Thiên Mụ, đề tài
bát bửu gồm các món đồ biểu trưng cho cả Nho, Đạo, Phật gồm: cái bầu rượu,
thanh gươm, cặp bút lông, đàn nguyệt, quạt ba tiêu, ống sáo, phách, tất cả nằm
gọn trong một dải băng hẹp chạy vòng quanh thân chuông. Trong đó, mỗi món đều
được quấn quanh mình một dải lụa (10) tạo nên sự mềm mại uyển chuyển như đang vận
động của các bảo vật. Trong trang trí, hệ đề tài bát bửu thường đi theo từng cặp,
thể hiện ý nghĩa biểu trưng của nó, ở đây, chúng được dàn trải theo trục ngang
với sự sắp xếp, bố trí một cách ngẫu nhiên trên thân chuông.
Hệ đề tài hiện tượng thiên
nhiên luôn đóng vai trò quan trọng trong các mảng trang trí của nghệ thuật
phương Đông. Trên các hiện vật đồng thời chúa Nguyễn, chủ đề này chỉ thấy xuất
hiện trên chuông và khánh ở chùa Thiên Mụ.
Thuỷ ba: Kiểu thức này chỉ
xuất hiện trên miệng chuông chùa Thiên Mụ, gồm những đường lượn hình sin
chồng lên, nối tiếp nhau thành dải-hình ảnh tái hiện ngọn sóng của biển cả. Dải
trang trí thuỷ ba trên miệng gợi hình ảnh quả chuông luôn được nâng đỡ bởi những
sức mạnh siêu nhiên: bên dưới là sóng gợn ba đào, bên trên được níu giữ bởi con
thú linh thiêng. Thuỷ ba trong tạo hình thời chúa Nguyễn có hình dáng tương tự
thời vua Nguyễn, nhưng khá khác lạ so với thuỷ ba của thời hậu Lê: hình ảnh của
những con sóng dựng đứng, tích hợp bởi ba nửa hình tròn chồng lên nhau và nhô
cao.
Lôi vân: Mây tượng trưng cho
dấu hiệu tốt lành, hạnh phúc nên trong trang trí, nó thường có vị trí thiêng
liêng và trang trọng. Mây được thể hiện phổ biến ở vị trí bao bọc xung quanh
các núm tròn ở 1/3 thân chuông và khánh. Những dải mây dài ngắn khác nhau bao bọc
lấy vú chuông và hướng ra hai bên giống như kiểu thức mặt trời được bao bọc bởi
những tia lửa. Bên cạnh đó, mây còn được bố cục trang trí diềm nền phía trên
cho những ô, hộc chứa các đại tự ở trên thân chuông, tạo nên sự mềm mại, hài
hoà cho bố cục khép kín.
Vân kiên: vân kiên có thể là
tên gọi phiếm xưng của hình hài chiếc đầu Gậy như ý trong bộ bát bửu của Lão
giáo, cũng như hình ảnh chiếc lá đề cách điệu, vốn khá phổ biến trên những vạc
đồng có tám quai đúc đồng dưới thời chúa Nguyễn như vạc ở Duỵêt Thị Đường, điện
Kiến Trung, trước điện Càn Thành...
Hình ảnh của những chiếc lá
đề dốc ngược, liền kề và xếp chồng lên nhau tạo thành dải trang trí vòng quanh
thân vạc rất ấn tượng. Bên dưới mũi nhọn của motif vân kiên thường xuất hiện 5
chấm tròn nổi, xếp theo hàng dọc gơij sự liên tưởng đến hình ảnh của những giọt
nước rơi từ mái ngói mũi hài-dạng vật liệu kiến trúc khá phổ biến ở xứ Thuận
Hoá buổi đầu.
Cùng là kiểu thức vân kiên,
nhưng trên những chiếc vạc đồng khác nhau, tồn tại những cách thức thể hiện
khác nhau: sự xếp chồng của hai chiếc lá đề đơn giản với nhiều giọt nước chảy
thành hàng thẳng đứng; sự xuất hiện của những mũi nhọn xếp chồng có kích thước
nhỏ hơn tạo thành trục đối xứng, rải rác sự chen lẫn của motif lôi vân... Chính
sự thể hiện một cách trùng lặp lẫn nhau trên dải trang trí vân kiên đã gợi
sự suy nghĩ đến việc tồn tại của dạng hồi văn khác biệt: hồi văn mang dáng vẻ mềm
mại-hồi văn vân kiên.
Nhị thập bát tú: Sự hiểu biết
về mối quan hệ của con người với các vì tinh tú trên trời đã có từ lâu trong
quan niệm của người phương Đông. Hình tượng chòm sao Bắc đẩu nằm trong hệ biểu
tượng gần như phổ biến khắp thế giới. Trên hai mặt chiếc khánh đồng ở chùa
Thiên Mụ, nổi bật lên đề tài trang trí các chòm sao trên bầu trời. 28 chòm sao
được thể hiện bởi những chấm tròn có các đường chỉ nổi kết nối lại theo từng
chòm xuyên suốt cả hai bề mặt lòng chiếc khánh.
Mặt trời/trăng: motif này xuất
hiện trên quả chuông Thiên Mụ, vừa là kiểu thức trang trí khi được đính kèm với
những cụm mây bao bọc xung quanh hay là những đao lửa kéo dài sang hai bên,
nhưng đồng thời cũng là núm đánh trên thân chuông.
"Mặt trăng được quan niệm
liên quan đến phụ nữ và mang tính thuần âm <...> và mặt trăng cũng chính
là nơi chứa đựng những nguồn sống bất tử" (Nguyễn Hữu Thông, 2001: 57)
Trên những hiện vật thời
chúa Nguyễn, motif này thường xuất hiện đơn độc, thấp thoáng ẩn hiện trong những
đám may hay tia lửa..., và không tồn tại kiểu thức kết hợp, mang tính quy chuẩn:
lưỡng long triều nhật/triều nguyệt như ở trong các mảng trang trí của thời kỳ
vua Nguyễn về sau.
Các quẻ trong bát quái: Kiểu
trang trí này mang đậm chất Đông phương, tám trong bát quái là một biến hình của
thái cực, lưỡng ghi, tứ tượng theo nguyên tắc cơ bản của Dịch học. Bát quái được
biểu thị thành motif trang trí bởi những đường thẳng nằm ngang, song song và đứt
gãy khác nhau, tương ứng với các quẻ.
Trong hiện vật đồng thời các
Chúa, bát quái hầu như chỉ xuất hiện trên chuông, chúng liên kết với nhau theo
thứ tự, làm thành dải hoa văn đơn giản, nhưng cũng khá bắt mắt.
3.3.1.5. Hệ đề tài tự dạng-hồi
văn
Tự dạng: Dưới thời phong kiến,
văn tự sử dụng chủ yếu là chữ Hán. Chính vì vậy, trên tất cả những hiện vật còn
lại từ thời các chúa Nguyễn đều có dấu ấn của Hán tự được đúc nổi hoặc khắc
chìm.
Các tự dạng có mặt trên các
hiện vật đồng thời các chúa trên địa bàn Thừa Thiên Huế thường được biểu thị ở
dạng chữ triện, chữ phạn (chữ bùa)...với kích thước lớn, làm thành đồ án trang
trí trong ô, hộc; hoặc khắc chìm theo lối chữ chân với mục đích: ghi chú tên gọi,
trọng lượng, năm tạo tác(1)...
Một dạng trang trí đặc thù
khác thường xuất hiện trên thân chuông là những bài minh khắc chìm với nội dung
ghi tạc công đức, hành trạng người tạo lập hay danh sách cúng dường. Ngoài ý
nghĩa văn tự, bản thân bài minh cũng là motif trang trí, điểm xuyết thêm cho những
motif khác xung quanh. Trên chuông chùa Thiên Mụ, hệ đề tài trang trí này được
sử dụng phổ biến và chính nó cũng phát huy tối đa nét đẹp với hình dạng của tám
chữ phạn lớn đúc nổi nằm dưới kiểu thức lôi vân, được khuôn trong bốn ô hộc phần
trên thân chuông. Ở những ô lớn phía dưới khắc bài văn, bài minh và câu chúc.
Một số văn tự chữ Hán cũng
xuất hiện trên hai mặt của chiếc khánh đồng chùa Thiên Mụ, làm thành bốn hàng
chữ dọc, khuôn trong những ô hình chữ nhật. Các chữ Hán được khắc nét sâu trên
bề mặt, tạo nên kiểu trang trí trông rất hài hoà, bên cạnh hình ảnh của nhị thập
bát tú khá là rối rắm.
Hồi văn: dạng motif này la sự
sắp xếp có trật tự của những đường nét gãy góc và lặp lại chính nó trong một
biên độ ngắn, tất cả thường tạo thành dải liên hoàn, không có khởi đầu và cũng
không kết thúc(1).
Dạng hồi văn khá phổ biến
trên chuông đồng thời chúa Nguyễn.
- Hồi văn chữ Vạn: chữ vạn:
"Bao gồm hai chữ kết hợp
Siváta: có nghĩa là vạn hay công đức viên mãn; Laksana: có nghĩa là chữ. Người
Trung Quốc gọi chữ vạn là tướng cát tường hải vân (tướng tốt lành, biểu trưng
công đức sâu rộng như biển và quần tụ như mây) (Nguyễn Hữu Thông, 2001: 143)
Trong các hiện vật đồng thời
các chúa Nguyễn, dạng hồi văn chữ vạn chỉ thấy xuất hiện ở thân chuông chùa Vân
Thê, trên dải hồi văn hẹp thứ ba từ trên xuống kéo dài vòng quanh thân chuông.
Motif chữ vạn ở Việt Nam nói riên và phương Đông nói chung, được xem là hình ảnh
đặc trưng của Phật giáo.
-Hồi văn chữ T: dạng hồi văn
này bao gồm nhiều chữ T nối nhau, xếp xuôi, ngược có kích thước lớn nhỏ khác
nhau, được thực hiện với thủ pháp đúc nổi thành dải trên thân chuông;
trong một số trường hợp, đôi lúc còn được gọi là hồi văn chìa khoá.Và có thể là
từ nhiều tên gọi, nhiều dạng biến thể cũng được người thợ thực hiện, điều này,
thể hiện rõ trên thân chuông chùa Thiên Mụ làm thành dải hồi văn ở vị trí thứ
ba (tính từ trên xuống).
Hầu hết những dải hồi văn đều
mang lại cảm giác vững chải nhưng cũng bị khuôn cứng, bởi sự lặp lại một cách cứng
nhắc chính bản thân chúng trên một biên độ hẹp. Thế nhưng, trên chuông đồng thời
chúa Nguyễn, những dải trang trí này không hề mang lại cảm nhận ấy, bởi trên mối
tương quan toạ độ, vị trí, bổ sung cho nó là những tự dạng được tạo tác khá mềm
mại...,tất cả tạo thành một tổng thể hài hoà,sinh động.
3.3.2. Những motif trên
hiện vật thuộc nhóm Vương phủ:
3.3.2.1. Nội
3.3.2.1.1. Hệ đề tài động
vật
Con phụng: Hình ảnh Phụng xuất
hiện khá nhiều trên thân vạc, đặc biệt là ở hai chiếc hiện đặt trước nhà Tả, Hữu
Vu.
Kiểu thức phụng ở đây được
thể hiện trong những ô hộc khép kín, nhưng không vì thế mà tỏ ra đơn điệu nhờ
được tạo tác dưới nhiều tư thế, kiểu dáng khác nhau: có khi cúi đầu, có nơi ngẩng
cao, ngậm cành lá, khi đạp lên cành cây thô vụng, đứng cùng khóm mẫu đơn tinh tế...
Tuy thế, trong hầu hết những motif này, mặc dù có những đôi chân dài, nhưng
chim phụng lại không phô bày chiếc đuôi rực rỡ, hình ảnh của chúng toát lên vẻ
ngô nghê, dân dã, gần gũi với những mảng điêu khắc thô vụng của những người thợ
chưa mấy vươn đến tầm cao cung đình. Dáng vẻ này khiến đôi lúc có người lầm tưởng
đấy là hình ảnh con cò lăn lội bờ ao, hay con gà bới thóc.
Con lợn (heo): là hình ảnh
ngô nghê nhất và cũng là hình ảnh dân dã nhất mà chúng ta thường bắt gặp
khi chiêm ngưỡng những motif trang trí trên hai chiếc vạc đồng lớn nhất, hiện đặt
trước Tả, Hữu Vu.
Trên chiếc vạc phía trước Tả
Vu, con heo mang vẻ hoang dã và dữ tợn với bộ lông tua tủa, mắt to, mõm dài với
hàm răng sắc nhọn, đuôi dài và thẳng, cứng, được đúc nổi trong những ô khép
trên thân vạc. Hình ảnh này hoàn toàn khác khi hai năm sau đó, một chú heo nữa
xuất hiện trên chiếc vạc hiện đặt trước nhà Hữu Vu với bộ dạng hiền từ hơn,
thân hình mập mạp, mõm ngắn, đuôi to và ngắn hơn, đứng chúi mõm xuống như đang
ăn đám dây lá trước mặt: hình ảnh của một chú heo đã được thuần dưỡng, một thân
hình béo tốt với sống lưng được tỉa rất kỹ, đôi mắt hau háu cùng mõm hé mở,
đôi tai vểnh ra phía trước...một hình ảnh rất sống động.
Tuy rằng có sự thay đổi
trong thủ pháp thể hiện, nhưng motif trang trí này vẫn toát lên vẻ ngô nghê,
thô mộc...Và để chú heo trên những chiếc vạc đồng thời chúa Nguyễn bước lên, trở
thành chú heo trên chiếc đỉnh đồng thời vua Nguyễn phải là quá trình dài
"thuần dưỡng" và "đưa chúng vào khuôn phép".
Con cá: được tạo hình đơn giản,
nhưng vẫn đầy đủ vây đuôi, đứng cùng với chim công trên chiếc vạc hiện đặt
phía sau, bên trái điện Thái Hoà.
Con cáo: (con sóc ?): Motif
trang trí này hiện diện trên chiếc vạc đúc năm 1670, hiện đặt trước Duyệt Thị
Đường và chiếc vạc đúc năm 1684-phía hữu điện Càn Thành.
Cũng giống như chim phụng,
trên chiếc vạc đúc năm 1670, con cáo được đặt chen lẫn vào giữa những đoạn uốn
cong hình sin của dây hoa. Trong hệ thống motif trang trí này, những con cáo đều
mang dáng vẻ giống nhau, tất cả như lao mình về phái trước với chiếc đuôi duỗi
ra mềm mại; và để tránh sự đơn điệu, dải dây mảnh được thêm vào giữa những chiếc
chân của nó.
Khác với kiểu thức trang trí
trên, con cáo trên chiếc vạc đúc năm 1684 dường như đứng thẳng, đối xứng qua nó
là cặp lá uốn cong mềm mại ra hai bên; ở vị trí khác, cùng một motif, nhưng con
cáo lại ngoái đầu nhìn lại phía đuôi; nơi khác nó lại đạp lên chiếc lá, miệng
ngậm cành sen... Ở đây, chúng ta thấy được hình ảnh motif trang trí
"nho-sóc", tuy nhiên nó còn thấp thoáng ẩn hiện chứ chưa quy cách, chỉn
chu như kiểu thức này ở trong nghệ thuật trang trí nguyễn, được khuôn trong những
ô, hộc rât quy phạm. Và đặc biệt nhất , ở một vòng cung của hình sin, con cáo
không còn đứng riêng lẻ mà căp đôi, đối đầu trong tư thế vờn nhau cùng
chim trĩ, chen vào giữa chúng là cụm hoa lá vươn ra từ dải hoa văn hình sin.
Con công: motif được thể hiện
trên chiếc vạc tám quai, đặt phía sau, bên trái điện Thái Hoà.
Trên dải trang trí vòng
quanh miệng vạc, chen lẫn giữa những cánh cung của dải hoa dây, lá hình sin,
chim công được thể hiện dưới nhiều tư thế khác nhau: dang cánh, ngoái đầu nhìn
bộ đuôi xoè ra đầy màu sắc; đứng yên, bay lượn..., nhưng cũng trên dải trang
trí này, có khi chim công lại biến thành cò hay hạc, khi người thể hiện "cố
tình" gắn thêm con cá bơi trước mặt và "đưa chúng vào tư thế săn mồi".
Ở một nơi khác, chim công lại thu mình, co chân, dang rộng đôi cánh cố bay về
đoá mẫu đơn khá lớn trong "bầu trời hình cánh cung".
Khổng tước: motif này có lẽ
chỉ xuất hiện duy nhất trên chiếc vạc đồng hiện đặt phía hữu nền điện Càn
Thành, trên dải hoa văn hình sin. Hình ảnh khổng tước được thể hiện được thể hiện
trong tư thế đứng, đầu cúi xuống như kiếm tìm thức ăn, chân như đang bới đất,
đuôi dài và duỗi thẳng. Trên dải trang trí liền kề miệng vạc, motif con sóc gần
như thống lĩnh và đối xứng với cụm hoa lá qua sợi dây hình sin, đột nhiên trên
một vị trí, khổng tước xuất hiện đơn độc, điều này có thể cho thấy sự phóng
khoáng, cởi mở trong việc sắp xếp các kiểu thức trang trí.
Con nai: motif xuất hiện khá
nhiêù trên hai chiếc vạc hiện ở trước nhà Tả, Hữu Vu và luôn được đặt trong những
ô hộc trang trí với hình dáng đa dạng: quỳ, quay đầu nằm giữa bụi cây, đầu hướng
về phía trước trong tư thế nhảy qua cành cây nhỏ..., nhưng tất cả đều có điểm
chung là đuôi, mõm lớn, tai và bộ lông rất dài.
3.3.2.1.2. Hệ đề tài thực
vật
Dây lá, hoa dây: có thể xem
là motif phổ biến nhất trên các hiện vật đồng thời chúa Nguyễn, có mặt trên hầu
hết các vạc, súng, khánh và chuông. Tuy được thể hiện dưới nhiều hình dạng khác
nhau, nhưng tất cả các tiểu tiết đều xuất phát từ cái gốc liên hoàn, bền vững:
sợi dây thân uốn lượn hình sin. Và tất cả chúng đều tạo thành vòng tròn khép
kín, không bị chắn bởi ô hộc, đặc điểm hầu như không thể bắt gặp trong mỹ thuật
thời Nguyễn về sau. Hơn nữa, hình dạng hoa dây ở đây, đặc biệt là vạc đồng, rất
mãnh mai, phóng khoáng, lại ít hoa lá rườm rà so với những dải dây lá trang trí
trên cửu vị thần công thời vua Nguyễn với thân dày, rối rắm trong chi tiết, thể
hiện sự khác biệt hẳn trong phong cách.
Trên thân của một số vạc đồng,
hiện diện dải dây lá hẹp tạo thành vòng đai ôm lấy phần miệng và đáy-giới hạn đầu
tiên và cũng là cuối cùng cho những dãi ô hộc; một số khác lại xuất hiện thêm dải
dây ở giữa với biên độ rộng, tạo thế đối xứng cho hai dải ô hộc hai bên. Trong
cánh cung của những dải dây này, những khóm lá được tạo tác, tôn thêm vẻ mềm mại,
nhưng có lúc, một vài đoá hoa xuất hiện làm tăng thêm vẻ thi vị, những bông hoa
hình ngôi sao đua nở làm rạng rỡ vòm trời hình cánh cung..., và cũng có lúc, những
cành cây thẳng đứng, thô kệch, có đầu vuốt nhọn xuất hiện, hai bên thân lại mọc
ra những tiểu cành uốn lượn... Hình ảnh đó làm ta liên tưởng đến chiếc giá nến
trong vòng cung-mái nhà thờ Thiên Chúa, và cũng có khi là hình hài của cây vũ
trụ trong những thần thoại phương Tây.
Hoa sen: Hình ảnh sen và hoa
sen cách điệu xuất hiện khá nhiều trong những dây lá quấn quanh thân vạc.
Trên chiếc vạc đồng tám quai
đặt trước Duyệt Thị Đường, motif hoa sen xuất hiện khá nhiều trong những cung
tròn của dải dây hình sin, được thực hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau: nở
tung bốn cánh mềm mại và đối xứng qua nhị hoa, hai cánh bên trên được cách điệu,
kéo dài thêm hai lá nhọn vút cong , vươn ra hai bên.
Hoa cúc: cùng xuất hiện trên
một vạc và ở vị trí tương tự như hoa sen, hoa cúc nằm chen lẫn vào hình cánh
cung và đối xứng với hoa sen qua biên độ cong của dải dây hình sin.
Mẫu đơn: cây mẫu đơn xuất hiện
trong những ô hộc trên hai chiếc vạc đồng đặt trước nhà Tả, Hữu Vu, và giống
nhau về hình dạng. Trên một số ô hộc khác, mẫu đơn được ghép chung, làm chổ tựa
cho hình hài chim phụng. Bên cạnh đó, hoa mẫu đơn cũng được tạo tác trên dải
hoa văn của chiếc vạc đồng hiện đặt phía trước Duyệt Thị Đường, làm tăng thêm vẻ
đẹp cho sợi dây hình sin.
Có thể nói, hình ảnh lạ và
chiếm số lượng khá lớn trong bố cục trang trí trên những chiếc vạc đồng thời
các chúa Nguyễn là chiếc "lá sòi", được bố trí khá nhiều ở vị trí
trung tâm của những ô, hộc khép kín trê n thân vạc, sung quanh bốn góc được
trang trí những đường viền cong uốn khúc, tạo nên một bố cục rất hài hoà. Có điều,
chúng tương đối khác biệt với những motif hoa lá trong trang trí phương Đông;
ngược lại, lại rất giống với những loại hoa lá trên những khẩu súng Hoà Lan.
3.3.2.1.3. Hệ đề tài đồ
vật
Nhủ đinh (cúc nút): ngoài những
chủ đề đồ vật quen thuộc như bát bửu, trên vạc đồng thời các chúa, còn có sự xuất
hiện mật tập của một motif trang trí tương đối đặc thù mà các nhà nghiên cứu
thường gọi là "cúc nút", bao gồm những chấm tròn nổi xoay thành cụm đồng
tâm nằm trong những khung khép trọn vẹn ở các dải băng ngang quấn quanh thân vạc.
Có thể nguyên thuỷ của kiểu trang trí này bắt nguồn từ những vì sao mà con người
nhìn thấy, dần dần, họ nối kết chúng lại theo chủ định của mình với tính đăng đối
trong những nền mỹ thuật sơ khởi luôn chi phối. Dạng trang trí này trông rất
quen thuộc bởi đó là bố cục trên eo của những chiếc nồi đồng dân gian. Trên
thân vạc, điểm cúc nút được thể hiện ở chính giữa từng ô, hộc khép kín,và có
cùng hình dạng, nhưng số lượng điểm nút lại thường không thống nhất khiến chúng
ta rất khó nhận biết được ý nghĩa biểu tượng của nó. dạng motif này dần biến mất
trong nghệ thuật trang trí thời vua Nguyễn.
3.3.2.1.4. Hệ đề tài tự
dạng-hồi văn:
- Chữ Vạn: motif đúc nôir
hình chữ Vạn cách điệu được thể hiện trên phần miệng loe của chiếc vạc đồng đúc
từ khá sớm (1631), hiện đặt phía bên trái BTMTCĐH. Trên chiếc vạc này, chữ Vạn
được đặt trong vòng tròn lớn, tạo thành điểm nhấn cần thiết trong cách thức
trang trí.
- Chữ Thọ: Đi cùng với chữ Vạn
và cũng ở chiếc vạc trên, motif hình chữ Thọ cách điệu trong vòng tròn nằm đối
xứng với chữ Vạn qua quai vạc. Chữ Vạn và Thọ là motif khá phổ biến trên nhiều
chất liệu lẫn thủ pháp thể hiện dưới thời các vua Nguyễn về sau.
3.3.2.2.Ngoại-Súng đồng
Trong những hiện vật bằng đồng
thời các chúa, ngoài những motif trang trí nằm trong sự chi phối, ảnh hưởng của
các yếu tố dân gian, hay đặc biệt hơn là sự ảnh hưởng của tư tưởng tôn giáo
phương Đông như Nho, Lão, Phật, Đạo..., chúng ta còn thấy sự xuất hiện của những
motif trang trí khá lạ mắt trên những khẩu súng đồng Hà Lan: cành ô liu, chiến
thuyền, gia huy, những motif hoa lá lạ mắt hay những ký tự V.O.C,...Trên hai khẩu
súng nhỏ được đúc năm 1769 tại Amsterdam, trên thân khắc ký hiệu V.O.C lồng vào
chữ A chìm. Ba khẩu súng lớn, trên thân trang trí khá cầu kỳ bằng các dải hoa
lá, chiến thuyền, vòng nguyệt quế bao quanh mặt trời, toà sen, và cũng có ký hiệu
V.O.C, hình ảnh đầy đủ vẻ mặt của một con người, hay đó là vị thần mặt trời
trong thần thoại Hy Lạp.
Sau này, trên những khẩu khẩu
thần công thời Nguyễn, chúng ta thấy rất nhiều hoa văn trang trí lạ mắt mang đậm
dấu ấn của nghệ thuật Tây phương. Phải chăng từ chổ ngưỡng mộ kỹ thuật đúc,
cùng công dụng tuyệt vời của nó đương thời, nên những motif trang trí vốn có
trên nó đã được lấy làm mẫu mực cho những sản phẩm tiếp theo, bởi nếu là súng,
nhưng không có dạng hoa văn này, chủ nhân lại không mấy yên tâm về chúng.
4.1. Chúng tôi không quá chú
trọng đến việc giải mã ý nghĩa biểu tượng của những motif trang trí trên những
hiện vật đồng thời chúa Nguyễn, bởi đó là cả một ngành học và cũng là lĩnh vực
cần sự đầu tư nghiên cứu chuyên sâu. Ở đây chỉ đề cập đến sự biến điệu trong
hình hài lẫn thủ pháp thể hiện trên từng motif và chủ đề cụ thể. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng bước đầu khảo sát những motif trang trí giai đoạn này trong sự đối
sánh với phong cách của thời sau để thấy được sự tương đồng và dị biệt trong
phong cách nghệ thuật tạo hình giai đoạn này.
Từ những đề cập, chúng ta thấy
rằng, ngoài motif trang trí có tính chính thống với chủ đề linh vật, trên những
vạc đồng thời chúa Nguyễn còn phổ biến các kiểu thức muông thú khác mang dáng vẻ
ngô nghê nhưng rất sinh động, gần gũi với cuộc sống đời thường, chúng được thể
hiện ở nhiều thần thái, tư thế khác nhau cho thấy sự thoải mái, phóng khoáng,
ít bị gò bó bửi khuôn phép trong vấn đề tạo tác. Hệ thống motif trang trí này:
"Là chủ đề quen thuộc, vừa mang tính giản dị, thuần hậu của dân gian, gần
gũi với những motif chúng ta thường gặp ở mỹ thuật điêu khắc của những triều đại
trước, vừa biểu hiện nét vỡ vạc một cái gì đó trên điêu khắc đồng, bởi nó chưa
thật thuần phục trong đường nét, chưa có một sự kết thúc thật trọn vẹn trong kỹ
thuật (Nguyễn Hữu Thông: 1992).
Tuy nhiên, đối với hình ảnh
hai linh vật, long và phụng, thường xuất hiện trên những chiếc chuông chùa
nhưng với dáng vẻ rất chỉn chu chứ không mơ hồ, bởi nó là yếu tố vương quyền được
gắn với thần quyền-Phật giáo. Và phải chăng hình ảnh con chim phụng xuất hiện rất
nhiều trên thân chuông, và đặc biệt trên vạc, là do chủ ý của những người cầm
quyền chi phối, bởi lúc này, Đàng Trong đã tách khỏi Đàng Ngoài và sự xuất hiện
của con phụng là bước đầu cho quá trình định hình vương quyền trên cả tư tưởng
và hệ biểu tượng.
4.2. Motif dải dây lá xuất
hiện trên những chiếc vạc, khánh hay súng đồng...thời các chúa cũng không mấy
khác biệt so với những mảng hoa văn dây lá xem ra có vẻ mảnh mai, phóng khoáng
mang đậm chất dân gian hơn so với các mảng trang trí trên diềm một số bia lăng,
mộ thời Lê rất trau chuốt, khuôn thước bởi sự chi phối của tư tưởng phong kiến
đã đạt đến cực thịnh. Đặc biệt, hoa văn dải dây lá trên những vạc đồng được nghệ
nhân thể hiện một cách rất ngẫu hứng, phóng khoáng vói những đường nét mảnh mai
như thể được trổ từ trước lên thân khuôn.
Bên cạch đó, trong một số đồ
án khác, chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh thân quen, bình dị của các con vật như:
heo, nai..., hay hình ảnh của một dây khoai lang mảnh mai, uốn khúc nhịp nhàng.
Những kiểu thức trang trí này, tất nhiên vẫn được kế thừa dưới thời vua Nguyễn,
nhưng phải được phát huy với tầm cao hơn, chúng xuất hiện với dáng vẻ cầu kỳ,
chỉn chu hơn... và bao giờ cũng được khuôn khổ vào ô hộc, mặc dù "hiện tượng
chia ô hộc gần như là một thuộc tính của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XIX"
(Nguyễn Hữu Thông: 1992: 106). Có thể chúng ta bắt gặp dạng trang trí ô hộc ở
đâu đó trên kiến trúc thời Lý, Trần, Lê hay trên những vạc đồng thời các chúa
Nguyễn, nhưng sự hiện diện này hoàn toàn không mang tính chất điển hình cao như
trong mỹ thuật thời vua Nguyễn.
4.3. Đứng trước những chiếc
vạc đồng thời chúa, chúng ta không khỏi bỡ ngỡ trước những motif dãi ô, hộc
khép kín dày đặc, khiến dễ liên tưởng đến những khung khép nghiêm khắc ở các mảng
trang trí trong những ngôi nhà rường, cung điện thời vua Nguyễn. Hiện tượng ô,
hộc trong trang trí thời các chúa đã hình thành, nhưng tính logic của nó lại lỏng
trong bố cục, chỉ mang tính chất chia tác phẩm thành những tiểu phẩm cho hài
hoà với bố cục tổng thể của đồ vật trang trí. Tiêu biểu như những ô, hộc xuất
hiện trên một số vạc đồng với các tiểu phẩm trang trí bên trong không đi theo từng
bộ quy chuẩn nhất định mà là sự đan xen giữa các chủ đề động vật (nai, heo,
chim), thực vật (lá sòi, hoa mẫu đơn, cúc...) với những điểm cúc nút tạo nên sự
đa dạng, phong phú trong bố cục trang trí. Ngược lại, kiểu thức ô, hộc trong
trang trí thời vua Nguyễn lại được quy chuẩn hoá vô cùng chặt chẽ, các tiểu tiết
trang trí bên trong phải đi theo từng bộ đã định, đặc biệt là những mảng
ô, hộc trong trang trí ngôi nhà rường, cung điện. Tất nhiên, dạng ô hộc trang
trí trên những chiếc vạc đồng thời chúa đã không chiếm lĩnh toàn bộ bố cục, bởi
bên cạnh nó, còn xuất hiện những dải không đóng khung, những đồ án dây lá dàn
trải đến vô cùng mà không bị chắn bởi những đường sổ dọc.
"Chính sự dừng lại của
những đường sổ dọc đã làm nhẹ hẳn đi cảm giác nghiêm khắc của một nguyên tắc vô
hình. Đây chính là một giai đoạn chuyển tiếp trước khi điêu khắc, trang trí
Nguyễn hoàn toàn chịu sự chi phối của đồ án đóng khung một cách nghiêm khắc"
(Nguyễn Hữu Thông: 1992: 108)
4.4. Không nằm ngoài dòng chảy
lịch sử dân tộc, theo chân các thế hệ chúa Nguyễn đầu tiên đến khai hoang mở đất
phương Nam, có không ít những tay danh của đất Bắc, về sau, được biên chế
ngạch binh cùng với quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý thời các chúa. Dù muốn
hay không, tâm thức vọng cố hương của những người con xa xứ đã thổi vào mảng mỹ
thuật Đàng Trong nét truyền thống của cả dân tộc. Cùng lúc, bởi sự chi phối của
những điều kiện đặc thù trong chiến lược phát triển và cố định nhân tâm, mỹ thuật
Phật giáo đã tạo nên những ảnh hưỏng sâu đậm. Bên cạnh đó, cùng với ước vọng
xây dựng một vương triều phồn thịnh, quá trình giao lưu buôn bán với phương Tây
cũng được đẩy mạnh, chúng ta không loại trừ việc người thợ Đàng Trong tiếp thu
những kỹ thuật cũng nhưvăn hoá phương Tây vào những tác phẩm của mình.
4.5. Qua những đối sánh về đặc
trưng với những motif trang trí của mỹ thuật thời vua Nguyễn, chúng tôi cho rằng
xứ Huế từng tồn tại một phong cách tạo hình thời các chúa Nguyễn-tiền Nguyễn, với
nét chủ đạo là tính chất phóng khoáng trong cách thức thể hiện với những motif
trang trí. Chúng không khuôn cứng, bó buộc vào những ô hộc khép kín mà trải dài
một cách tự do. Chủ đề thể hiện cũng mang vẻ ngô nghê và ít nhiều cho thấy chất
thô vụng, nhưng tất cả đã góp phần phản ánh thế giới trực quan của đội ngũ người
thợ đương thời trên vùng đất mới, cũng như làm hé lộ chân dung của một vương
triều trong buổi đầu xác lập.
4.6. Trong tiến trình lịch sử
nghệ thuật, một giai đoạn chuyển tiếp bao giờ cũng mang dấu ấn, đặc điểm hay
phong cách của nghệ thuật giai đoạn trước và sau nó; hay nói cách khác là sự đa
dạng hoá những đặc điểm thẩm mỹ trong nghệ thuật trang trí, tạo hình của giai
đoạn trước và đó là tiền đề cho sự phát triển về phong cách, trường phái của thời
kỳ sau. Mỹ thuật thời chúa Nguyễn, có lẽ, không nằm ngoài quy luật phát triển
chung đó.
Chú thích
(1) Trong giai đoạn lịch
sử thời các chúa Nguyễn đã xảy ra nhiều sự kiện như việc quân Trịnh đánh chiếm
Phú Xuân, sự quật khởi của phong trào Tây Sơn... nhưng thời gian tồn tại của những
"chủ nhân mới" này trên vùng đất Đàng Trong quá ngắn, chưa đủ để định
hình một phong cách TRỊNH hay TÂY SƠN trong mỹ thuật tạo hình. Dù rằng, có thể
quân Trịnh đã mang vào Thuận Hoá một số hiện vật được tạo tác bởi người thợ đất
Bắc, nhưng hiện không thấy có sử liệu đề cập. Nhiều công trình nghiên cứu ghi
nhận nhà Tây Sơn đã định hình một dấu ấn riêng trong kho tàng dân tộc, nhưng điều
đó không có nghĩa tương tự ở cả mãng mỹ thuật tạo hình, bởi chúng tôi cho rằng,
mảng văn học được làm nên bởi những trí thức - bộ phận người nắm giữ tư tưởng- ủng
hộ Tây Sơn, trong khi đó, mỹ thuật tạo hình cần khoảng thời gian khá dài để định
hình phong cách.
(2) Đại Nam thực lục tiền
biên chép rằng:
" Đặt ty Nội pháo tượng
(thợ đúc súng ở trong nội ) và hai đội tả hữu pháo tượng. Lấy dân hai xã Phan
Xá, Hoàng Giang (thuộc huyện Phong Lộc) lành nghề đúc súng sung bổ vào (ty Nội
pháo tượng 1 thủ hợp, 1 ty quan, 38 người thợ; hai đội Tả Hữu pháo tượng thì 12
ty quan, 48 người thợ. Việc đúc đại bác, mỗi khẩu dùng 12 khối sắt, 10 cân
gang, tiền than 3 quan 5 tiền. Đúc súng tay thì cứ 10 cây dùng 30 khối sắt, 30
cân gang, 10 quan tiền than" (QSQ Triều Nguyễn, 2001: 48).
(3) Ngoài hai chiếc chuông
chúng tôi tiến hành khảo sát, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện còn hai thời
Tây Sơn: chuông La Chử (1791), Hạ Lang (1799). Tuy nhiên, với nhận định, những
phong cách mỹ thuật thường có sự chuyển giao hay gối đầu qua nhiều thời đại,
khoảng thời gian tồn tại của nhà Tây Sơn chưa đủ dài để định hình một phong
cách. Và chúng tôi cũng không loại trừ trường hợp tác giả của những chuông này
vốn là lính thợ, hay ít ra là nghệ nhân đúc đồng thời các Chúa, chính vì thế,
phong cách mỹ thuật thời chúa Nguyễn, vô hình chung, đã được tiếp nối dưới thời
Tây Sơn. Trong khi chưa đủ tư liệu khảo sát, chúng tôi không đề cập đến hai chiếc
chuông này và chỉ đưa ra những nhận định bước đầu.
(4) Trong bài miêu tả chùa
Thiên Mẫu, học giả người Pháp A.Bonhomme đã dịch đoạn minh văn này như sau:
"Chúa của vương quốc
Nguyễn Phước Châu và pháp danh Hưng Long thừa kế trực tiếp và đến thế hệ 30 vị
hoà thượng đã cho đúc chiếc chuông này nặng đến 3.285 cân và tặng chùa Thiên Mụ
để thờ vĩnh viễn Tam Bảo" (A.Bonhomme,1915: 235)
5) Ngoài hình ảnh con bồ
lao, một số ý kiến khác cho đó là đôi rồng ngậm đấu lưng nhau.
Bồ lao là một trong chín chi
của họ rồng, thường được đúc trên đỉnh của những chiếc chuông Đại đồng chung
chùa Huế. Đặc điểm của nó là hay la lối khi bị tấn công, tiếng của nó lan rộng
và vang xa, kẻ thù lớn nhất của nó là co cá voi (Nguyễn Hữu Thông, 2001: 104).
(6) Khoảng niên hiệu Vĩnh Trị
II đời Lê Hy Tông (tức năm Đinh Tỵ <1677> dời chúa Nguyễn Phúc Tần ở Phú
Xuân), Trần Đình Ân làm Hội chủ nhằm quy tụ tín đồ Phật giáo trong vùng huyện
Minh Linh, phổ khuyến sự cúng dường để dựng chùa Bình Trung. Khi khánh thành
chùa, ông có đúc một chiếc khánh đồng. Với danh nghĩa là Hội chủ, ông và toàn
thể người Mnh Linh đã đứng tên để cúng vào chùa (QSQ Triều Nguyễn, 1994. Dẫn lại:
Hà Xuân Liêm, 1999: 72-73).
"<...> có hình dạng
cổ điển của một thứ dụng cụ hình giống như chiếc bánh mỳ hình cong. Khánh có
chiều dài 1,60 và rộng 0,80 rất dễ nhận dạng. Nó có nhiều trang trí khác nhau bằng
chạm trổ hình mặt trời, trăng và các vì sao khác có các câu chữ như sau:
"Đúc vào năm Vĩnh Trị
thứ 2 năm Đinh Tỵ (1674) giữa thu; tặng vật chủ tịch hội Trần Đình Ân, pháp
danh Tịnh Tín"
"Khánh đề Bình Trung
báu vật của vùng" (A.Bonhonme, 1915: 246).
(8) Có nhiều ý kiến về hình
dạng của những chiếc quai này, có ý kiến cho đó là một nữa hình rồng cách điệu,
có người nhìn thấy đó là hình ảnh của con cá heo bởi phần hoa văn nối tiếp trên
thân vạc có hình đuôi cá, hay cũng là hình con lung đơn giản...Tuy không đưa ra
nhận định, nhưng chúng tôi nhìn thấy ở đây có sự tương đồng, thậm chí là hoàn
toàn giống nhau giữa những chiếc quai vạc của nhóm này với tai của 05 khẩu súng
đồng Hòa Lan.
(9) Khi khảo sát nhóm 04 chiếc
vạc này, GS. Chu Quang Trứ đã nhận định:
"Nhóm bốn chiếc vạc này
về kích thước có xê dịch đi một chút, về kiểu dáng thì hoàn toàn thống nhất
thành đứng thẳng hơi choãi ra một chút, miệng vạc hơi loe ngang gần vuông góc với
thành vạc, đáy bằng, bốn quai gắn dọc gần vuông góc với thành vạc" (Chu Quang
Trứ, 2000: 116).
(1) Trên vạc đồng, các văn tự
chữ Hán được khắc ở một vài vị trí trên miệng vạc, nét khắc chìm không sâu, chủ
yếu là những thông tin về năm đúc và trọng lượng như: "Thạnh Đức thất niên
tại đỉnh. Đồng nhị thiên nhất bách ngũ thập tứ cân" hay "Cảnh Trị thập
niên chính nguyệt cát nhật tạo. Đồng nhất thiên tam bách cửu thập cân"...
(1) Hồi đi rồi trở lại về. Hồi
văn tức là những nét nhỏ quay trở lui trên chính nó. Gấp xếp lại, kéodài, thon
mình lại, tuỳ theo cảm hứng của nghệ nhân" (L Art à Húe. Dẫn lại: Nguyễn Hữu
Thông, 2001: 167).
Tài liệu tham khảo
1. Bonhome (1997),
"Chùa Thiên Mẫu", B.A.V.H (năm 1915), Huế: Nxb. Thuận Hóa.
2. Chu Quang Trứ (1998), Mỹ
thuật Phật giáo, mỹ thuật Lý Trần, Huế: Nxb. Thuận Hoá.
3. Chu Quang Trứ (2000), Văn
hoá mỹ thuật Huế, Huế: Nxb. Thuận Hóa.
4. Hà Xuân Liêm (1999),
"Trần Đình Ân và Bình Trung cổ tự", Tạp chí Huế xưa và Nay, số 34.
5. Hoàng Thị Hương-Nguyễn Thị
Hồng Dung (2003), "Bộ sưu tập súng đồng ở BTMTCĐ Huế", trong BTMTCĐ
Huế, Huế: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế xuất bản.
6. Li Tana (1999), Xứ Đàng
Trong, lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, TP HCM:
Nxb Trẻ, bản dịch Nguyễn Nghị.
7. Nguyễn Hữu Thông Cb
(1992), Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế, TP HCM: Nxb Hội nhà
văn.
8. Nguyễn Hữu Thông (2001),
mỹ thuật Huế-nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, Huế: Nxb Thuận Hoá
và Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật Thành Phố Huế.
9. Phan Du (1971), Mộng kinh
sư, Sài Gòn: Cảo Thơm xuất bản.
10 QSQ triều Nguyễn
(2002), Đại Nam Thực Lục (tập 1), Hà Nội: Nxb.KHXH.
11. Thích Đại Sán (1963), Hải
ngoại kỷ sự. Huế: Viện Đại Học Huế xuất bản.
12. Trần Đại Vinh-Nguyễn
Hữu Thông- Lê Văn Sách (1993), Danh lam xứ Huế, TP. HCM: Nxb Hội
nhà văn.
Nguyễn Phước Bảo Đàn
- Nguyễn Thăng Long













Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét