Đi tìm một cách nói hợp lý
Xuân Diệu thường nói ông
mang trong mình quê hương thống nhất.Cha đàng ngoài má ở đàng trong, - cái lý của
ông thật cụ thể. Mượn
cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang
trong mình nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX।.
Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có
chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô hình kiểu trung đại chuyển sang một mô hình hiện
đại. Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định, từ sau 1945, cái định hướng rõ nhất là
chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều
thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất.
Trong phạm vi Thơ mới, ông
không có những bài thơ coi là mở đầu như Phan Khôi. Ông không có vai trò người
khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tác phẩm chín như Huy Cận.
Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông. Qua ông, thấy cả sự vận động của
Thơ mới.
Tuy cùng nằm trong khuôn khổ
hiện đại hóa văn học, song những gì diễn ra trong thơ tiền chiến khác hẳn trong
văn xuôi. Với văn xuôi các nhà văn của ta bằng lòng làm người học trò nhỏ của
văn học Pháp. Thơ thì khác. Ban đầu người ta không chịu. Phạm Quỳnh từng kể, có
những ông đồ tự hỏi : Bên tây cũng có thơ à?
Quan niệm như vậy, cho nên
trong thực tế, đồ thị diễn tả vận động của mỗi thể loại cũng khác nhau. Ở văn
xuôi mọi chuyện từ từ, không có đột biến. Thơ cũ, sau một hồi chống chọi, như
là xảy ra tình trạng “vỡ trận”. Kết quả là có Thơ mới náo động một thời.
Có thể tìm thấy bóng dáng cuộc
vận động này trong bước đi của Xuân Diệu. Ông đến trong tư thế ào ạt khẳng định.
Ban đầu Thơ mới làm cho người ta ngỡ ngàng ư? Thì Xuân Diệu làm cho chúng ta ngỡ
ngàng. Rồi cuối cùng chúng ta thấy Thơ mới gần với ta ư? Thì Xuân Diệu đã được
cả một thời say đắm.
Xuân Diệu là tất cả cái hay
cái dở của thơ mới. Là sự cởi mở và tham vọng của con người đương thời. Là hào
hứng đi ra với thế giới. Nhưng cũng là nông nổi, cạn cợt, là nhanh chóng chán
chường và bế tắc.
Nếu cần nói gọn một câu về
vai trò của Xuân Diệu trong Thơ mới thì nên nói gì?
Hoài Thanh là người đầu tiên
cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới“. Ở Sài Gòn năm 1967,
trong tập Bảng lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ của
nền văn học mới),Thanh Lãng cũng viết một câu tương tự. Tôi vừa đọc
lại hồ sơ cuộc hội thảo kỷ niệm 10 năm nhà thơ Xuân Diệu qua đời. Cho đến nay
công thức đó vẫn được nhiều người nhắc lại.
Có lẽ ý kiến đó hình thành một
phần là do từ trước, Hàn Mặc Tử còn ít được đọc và được nghiên cứu. Còn ngày
nay với sự phổ biến của Hàn Mặc Tử, thì theo tôi, vai trò người mới nhất của
Thơ mới phải thuộc về Hàn mới đúng.
Nhưng sao người ta vẫn thích
trích dẫn cái câu của Hoài Thanh ?
Tạm thời có thể diễn giải
như thế này: Nếu từ góc độ khoa học của vấn đề, Hàn đã là người đi xa nhất, và
do đó mới nhất. Còn nếu xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống thì những ấn tượng
Xuân Diệu để lại trong lòng người không ai có thể bì kịp.
Thay cho công thức “gương mặt
tiêu biểu” đã mòn, tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân của Thơ mới. Là nhà
thơ số một không phải với nghĩa hay nhất, giá trị nhất, đứng cao hơn hết
…, mà là, nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì
gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu.
Giữa các phong cách của Thơ
mới, Xuân Diệu là một cái gì vừa phải, hợp lý, ông vốn có cái dễ dàng để đến với
đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời.Thế Lữ hơi cổ. Trong thơ Thế
Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái gì hơi già, hơi cũ, mắt nhìn về cái mới chứ
chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó. Mong muốn kéo nhà thơ này đi tới nhưng
con người ông không theo kịp. Lưu Trọng Lư cũng vậy, mà lại ngả sang mơ mộng xa
xôi. Huy Cận chậm rải khoan thai đậm chất văn hóa, và Huy Cận như già trước tuổi
nữa Về độ chín của thơ, Xuân Diệu không bằng Huy Cận. Song sự trẻ trung làm cho
Xuân Diệu có sự hấp dẫn hơn, phổ biến hơn nhiều.
Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên
ăn nhiều ở sự hướng thượng, suy tư, độc đáo. Các ông có cái gì đó mà người bình
thường khó với tới. Họ nhìn theo các ông mà ngại.
Xét về ảnh hưởng với các thế
hệ sau, vai trò của Xuân Diệu cũng rất lớn. Như ở thế hệ những người sinh khoảng
40 của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật.
Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử thì
trong sự khác nhau rất rõ, họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả, số người nằm cùng một
trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo.
Xuân Diệu như hoa hồng trong
một vườn hoa loại nào cũng đẹp. Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người. Đi đến một
tổng hợp khái quát nhất Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về thơ mới bảo Xuân Diệu
là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại“.
Thêm một ít khía cạnh trong
con người Âu hóa và mỹ cảm hiện đại
Xuân Diệu trước hết đại biểu
cho những con người tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ nhà trường, làm nên
một thứ nhân tố mới hình thành trong xã hội. Nhiều người đã nói về điều này, mấy
ghi nhận dưới đây chỉ là một ít khía cạnh nhỏ.
Ông là con người của ham muốn
say đắm muốn sống hết mình. Chỉ cần đọc một câu thơ Anh nhớ tiếng anh nhớ
hình anh nhớ ảnh - Anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi, càm nghe hết cái sự nồng nàn của
nó …người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển, nó phải thuộc bề một
nhà thơ hiện đại.
Mặc dù có những bài tuyệt
bút, song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗ sượng, chưa chín, chưa đều
tay. Ông là người rất có ý thức mà cũng là rất nhạy cảm khi bênh vực cho cái
dang dở. So sánh ca dao Nam Trung bộ và ca dao miền Bắc, ông nói rằng ca dao miền
Bắc quá chau chuốt quá hoàn chỉnh, trong khi ca dao Nam Trung bộ trần trụi thô
mộc nên dễ gần. Có lần, nhận xét về một bài thơ, Xuân Diệu bảo khi người ta cảm
động quá, người ta có gì đó run rẩy lúng túng. Trong những trường hợp này, Xuân
Diệu đã biện hộ cho mình. Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành
này mà Xuân Diệu gần với con người đương thời.
Nhưng không chỉ có thế.
Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ, mà càng về sau, Xuân Diệu càng tỏ ra sống hết
với cái đã đầy của cuộc sống.Bài Hy mã lạp sơn là một cách ướm thử sự
vượt lên cái thông thường, tự làm khác mình đi và đẩy suy nghĩ của mình tới
cùng, tới cái tuyệt đối. Nhưng một lần tới rồi thì lộ ngay ra là không bao giờ
nên trở lại nữa. Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha, Xuân Diệu là chính
mình hơn trong Lời kỹ nữ.
Sự khác nhau giữa Thơ cũ và
Thơ mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lý con người, của cách xúc động… và điều
này đã được nhiều người như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh diễn tả sâu sắc. Mối quan
hệ giữa lý trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiện đại. Hồi 1961,
nhân tuyển thơ 15 năm sau Cách mạng, Chế Lan Viên nói như một câu buột miệng “Xuân
Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi”. Tôi đọc và tưởng là về
già Xuân Diệu mới vậy. Sau đọc lại, thấy cái cách sống và làm việc theo lý trí
này có từ Xuân Diệu hồi Thơ mới. Xét trên toàn cục, Xuân Diệu đã là một con người
nhất quán, những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét cốn có của ông lúc trẻ. Và
đó chính là dấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ
nhỏ.
Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn gần
đây nói rằng con người ông có cả văn hóa Việt Nam lẫn văn hóa Mỹ. Trong Xuân Diệu
cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp. Cố nhiên là cách kết hợp những yếu tố
khác nhau ở người này không bao giờ giống như ở người khác, nhưng họ đều là hiện
tượng đa văn hóa.
Thơ tám chữ, thơ bảy chữ
Trên phương diện hình thức
nghệ thuật thơ, so với các nhà Thơ mới khác, Xuân Diệu cũng để lại ấn tượng
riêng, về một cái gì vừa miệng với số đông, nghĩa là rất phổ biến.
Sáng tạo của Thơ mới trên
phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể tám chữ lên mức hoàn chỉnh và
thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơ bảy chữ, thơ lục
bát.
Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy
một cái gì cũ cũ, bởi vì ngoài Nhớ rừng, các bài tám chữ khác của ông để lại
ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi còn thô. Ở các bài như Đi
giữa đường thơm, Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quê hương của
Tế Hanh, chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt. Mà cái
đó đến sớm với Xuân Diệu. Những bài như Tương tư chiều,Vội vàng, Hoa đêm của
ông cùng với Lời kỹ nữ Hy mã lạp sơn vừa nói ở trên là những sáng tác
hoàn thiện.
Hoài Thanh bảo thơ tám chữ của
Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù. Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ, một
cái gì thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinh nghịch. Mặt khác là hơi thơ, biểu hiện
ở độ dài. Tính số câu của một bài thơ, trong khi Tiếng địch sông Ô của
Huy Thông làm chúng ta ngợp, thì các bài tám chữ của Xuân Diệu và những bài vừa
nhắc trên của Huy Cận, Tế Hanh…cũng gần gũi hơn hẳn.
Một đóng góp khác của Xuân
Diệu trong thể thơ bảy chữ, những bài gồm ba –bốn khổ, nó là một hơi thơ mạnh
đi như một lát dao sắc.
Tản Đà không có bài thơ nào
sử dụng tứ tuyệt như vậy. Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của thế Lữ,
tôi chỉ thấy có một bài mang tên Yêu là cũng gồm ba khổ như thế này.
Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ.
Còn với Xuân Diệu chúng ta
thấy hàng loạt trường hợp Nguyệt cầm, Nụ cười xuân,Trăng, Huyền Diệu,
Gặp gỡ,Yêu, Tình trai, Đây mùa thu tới, Ý thu, Hẹn hò, Đơn sơ.
Tôi chợt nhớ tới thể sonnet (1)
của Pháp,và muốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên, Xuân Diệu đã làm một
cuộc hôn phối giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Ông Việt hóa sonnet từ nền
văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nó một âm hưởng phương Đông, bằng
cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt. Giờ đây loại thơ gồm ba hay bốn khổ tứ
tuyệt - 12 hoặc 16 câu bẩy chữ - đã là một cấu trúc cổ điển. Thơ tình của Xuân
Diệu sau 1945 thường trở lại với thể này Nguyện, Hoa nở sớm, Tình yêu san
sẻ, Ngược dòng sông Đuống.Và đây, tạm kể một số bài thơ được nhiều người thuộc
của các tác giả về sau:
Buồn, Xuân, Em về nhà, Vạn
lý tình, Gánh xiếc … của Huy Cận
Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn
Mặc Tử
Cô hái mơ của Nguyễn
Bính
Xuân ý của Hồ Dzếnh
Sầu chung, Chiều loạn (Chiều
loạn mây rồi gió đã lên) của Trần Huyền Trân
Với thơ từ sau 1945, tôi muốn
nhắc Hoa cỏ may (Cát vắng sông đầy cây ngẩn ngơ) của Xuân Quỳnh,
cũng như bài Thanh xuân (2) của Nhã Ca, giữa hai bài của hai thi sĩ
có gì như là đồng vọng và cùng âm hưởng.
Cái mới đến từ hội nhập
Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất
hiện, Hoài Thanh thú nhận :
” Bây giờ khó mà nói được
cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng
ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người
có hình thức phương xa ấy.Nhưng rồi ta cũng quen dần vì ta thấy người cùng ta
tình đồng hương vẫn nặng”
Cái tình đồng hương nói ở
đây gồm hai yếu tố :
Một là những yếu tố thuần Việt.
Đã nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ở Xuân Diệu từ ”Đã nghe rét mướt
luồn trong gió –, Đã vắng người sang những chuyến đò “ tới “Hoa bưởi thơm
rồi đêm đã khuya” hoặc “ Con cò trên ruộng cánh phân vân “
Hai là những yếu tố mượn từ
đời sống và văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa. Cái yếu tố Tàu này vốn thấy ở
nhiều nhà văn tiền chiến, từ những ông già thả thơ đánh thơ ở Vang bóng một
thời của Nguyễn Tuân, tới chú khách bán mằn thắn và mấy người khách ở phố Cẩm
Giàng của Thạch Lam …
Bấy lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu
chỉ có Rimbaud với Verlaine, hóa ra ta nhầm.
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc
lại báo Ngày nay 1938 còn dẫn ra cả một đoạn Xuân Diệu ca ngợi mùa
thu “ mặc dầu ở bên tây vẫn có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở
bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xa
nên quá đẹp “
Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi
hương cho gió, cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều dạng.Trong vốn từ
ngữ. Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói ở trên. Và trong thi liệu : Tôi yêu
Bao Tự mặt sầu bi /Tôi mê Ly Cơ hình mơ màng / Tôi tưởng tôi là Đường Minh
Hoàng / Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.Có cả một bài mang tên Mơ xưa,
nhắc lại những Gió liễu chiều còn nhớ kẻ dương quan. Yếu tố Trung hoa cố
điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam. Nước Việt trong thời gian. Nước
Việt với chiều dài lịch sử , với cái vẻ quý tộc tinh thần…Tất cả lại hiện diện.
Xin nói tiếp về Nguyệt
cầm. Trăng ở đây được gọi là nguyệt, đàn gọi là cầm.Nguyệt và trăng, đàn và cầm
cùng tồn tại song song. Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ Linh lung bóng
sáng bỗng rung mình. Nhưng trăng và đàn lại là những motip của thơ cổ phương
Đông. Còn chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới thì không biết có phải lấy
từ bài Ngọc giai oán của Lý Bạch (khước há thủy tinh liêm — linh lung
vọng thu nguyệt), (3) , chỉ biết sau Xuân Diệu, không ai dùng nó nữa, và các từ
điển tiếng Việt mới in nửa sau thế kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không
còn ghi linh lung.
Với bài viết kinh điển Một
thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã sớm cảm thấy cái mới ở Xuân Diệu nói riêng
và Thơ mới nói chung là là đến từ hội nhập.Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng ( bài Thơ
mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm. Ông bảo: ”thơ Pháp thế kỷ XIX đã
thúc đẩy Huy Cận Xuân Diệu tìm ra những ý vị lãng mạn của thơ Đường mà suốt một
thế kỷ trước đó, các vị túc nho đã không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bã niêm
luật “. Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội
nhập hôm qua. Ta được làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng.
Hơn thế nữa, hội nhập không
phải chỉ có một chiều là hướng ngoại, hội nhập còn là quay trở về phát hiện lại
bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh.Nói cách khác, nhờ hội nhập mà
cốt cách của dân tộc được phát hiện.
Xuân Diệu đã làm công việc
này một cách có ý thức. Ồng có riêng một bài viết mang tên Tính cách An Nam
trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939), ở đó ông nói rằng
“Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần những ý những cảm giác mà người
Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của
Âu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu trong lòng
thì sao ta không nói “(4)
Lịch sử không lặp lại
Không phải là thơ Việt Nam
sau 1945 không có những đổi mới về hình thức, song một sự thay đổi có tính chất
bước ngoặt như hồi 1932-41 không còn nữa. Nhu cầu của xã hội lúc này là tận dụng
sự phát triển đã có từ Thơ mới để hướng thơ vào các hoạt động tuyên truyền giáo
dục quần chúng. Ngay ở Sài gòn trước 1975 nơi sự hội nhập với thế giới diễn ra
một cách tự nhiên, thì thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể. Tuy xuất
phát từ những tình thế khác nhau, song giữa sự tìm tòi của Thanh Tâm Tuyền, Nhã
Ca …với tìm tòi của Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Trần Dần, Hữu Loan ở miền Bắc
suy cho cùng có sự tương tự. Nhìn chung là phân tán nhỏ lẻ và không sao tạo được
cao trào hoặc trở thành xu thế bao trùm.
Nổi lên trên bề mặt thơ sau
1945 vẫn là sáng tác của các nhà thơ mới : Huy Cận, Chế Lan Viên Lưu Trọng Lư,
Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành, tất cả mang lại cho
thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai.
Trên hướng phát triển này,
Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của mình. Năng lực của ông không còn hướng
vào việc tìm tòi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đã đủ, vấn đề bây giờ chỉ
là tìm cách khai thác tận dụng cái đã có. Mà về việc này thì từ bản tính “tay
hay làm lụng mắt hay kiếm tìm“ ông có cả, từ sự thành thạo, thói quen siêng
năng, tới sự nhạy cảm biết tìm ra những phương án tối ưu trong lao động.
Thơ Xuân Diệu những năm cuối
đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không còn được tiếp nhựa sống từ toàn thân
mà chỉ tự chín, thời gian chín lại kéo quá dài, nên - nói như dân gian vẫn nói - chín rụ chín rị, tức có cả cái phần đã đầy, nát, vỡ, lữa ra, là cái phần
“suy đồi” xảy ra ở mọi quá trình lão hóa. Nhưng ở chỗ này nữa lại càng thấy
tính chất “đại diện toàn quyền” của Xuân Diệu với Thơ mới.
Người ta không thể đòi hỏi
quá nhiều ở một người. Đặt trên cái nền chung của lịch sử vẫn thấy ông đứng sừng
sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam, như một thách thức và một điểm
đối chiếu.
Vương Trí Nhàn






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét