Cạm bẫy người 1
I. Ông thân tôi là "mòng"
Nụ cười vẫn thường lộ trên cặp môi đỏ tựa thoa son, anh Vân bỗng
ủ dột, muốn như cỏ vẻ chán đời.
Do lẽ gì, cái thái độ trái ngược như vậy? Vì ông thân anh, một cụ phán thượng hạng đã về hưu, hưu bổng hàng tháng rất to, với bà mẫu anh, một người mẹ đảm, đã một tay tậu nổi mấy tòa nhà lộng lẫy mà không để cho anh được tự do tiêu, phá chăng? Vì ý trung nhân của anh, một cô gái tân thời óc chửa đầy những tình cảm đã phụ anh chăng? Hay vì mảnh bằng tốt nghiệp của trường cao đẳng thương mại chưa cho phép anh được chiếm một ghế ngồi trong một.công sở? Lạ! Con một nhà giàu, lại sẽ, là chồng một mĩ nhân, địa vị như thế, tại sao anh Vân lại chán đời? Cái buồn của anh chàng này chắc có chứa sự bỉ mật gì đây...
Chiều hôm ấy, anh Vân ghé vào tai tôi:
- Tôi đã đỡ được nỗi chán đời vì đã tìm ra được cách mở két của
ông cụ. Tôi mới có được một mẻng rất đáng yêu cả tinh thần lẫn xác thịt
nhưng phải cái hơi đáng giận là có cái đức lớn trong sự tiêu tiền.
Tôi rất lấy làm phàn nàn về điều đỏ, nhưng biết làm thế nào?
Phụ nữ bây giờ hầu hết thế cả! Tình thế này ép tôi phải tính... Đáng lẽ tôi
cũng không dùng đến kế này, vì nó bất lịch sự quá, nhưng anh tính: ông cụ đưa
tiền cho mình tiêu thì tỏ ý xót xa mà đến khi ngồi vào đám bạc, hết trăm này đến
chục khác chẳng lấy làm tiếc, anh bảo thế thì còn gì ức cho mình hơn? Nói tới
đó, anh ngắt câu chuyện, đưa ra cho tôi một lá thư còn ngỏ.
Ngoài bì đề:
Monsieur Ấm B...
N... Ruelle de poissions Hanhoi 1
Còn trong thư:
Bắc Ninh, le 26 février 1933 2
Thưa ngài,
Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần, tôi vẫn để ý mãi, nay thật
đến lúc phải phiền ngài rồi đây. Mong ngài xếp cho một người có vẻ ông tham,
ông phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng. Chính ông thân tôi là mòng.
chắc chắn lắm! Còn nhiều két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam đoan vội, vì chưa
xếp xong. Chỉ cần người chơi tổ tôm, tài bàn giỏi thôi, không dùng đến bát, đã
gì ca. Đáng lẽ tôi phai "thân hành" sang cầu cứu song bận thu xếp, phải
dùng chữ thay người, có điều đường đột, ngài cũng xá đi cho. Và xin báo trước bằng
thơ, nói rõ hình dạng người mà ngài phái sang, đễ chúng tôi ra ga đón cho tiện.
Xin nhớ, chúng tôi ở phố Tiền An, số nhà...
Kính thư
Vân
Xem xong, bốn mắt gặp nhau, tôi cố nhịn cười :
- Anh gọi bịp về bắt ông cụ đấy à? Gớm! Có hiếu nhỉ!
Anh Vân chỉ mỉm cười một cách khoái chí rồi lấy hồ dán kín
phong thư.
° ° °
Hai hôm sau. Trên con đường chạy ra ga Bắc Ninh với hai dãy
cây um tùm đứng giàn hai bên, một chiếc ô tô hàng đứng chờ, mấy cái xe cao su
lượn nghênh ngang, lùng khách. Anh Vân rảo bước đi bên tôi, cầm một lá thư lẩm
nhẩm: "Đúng 6 giờ chiều, ở ga xuống, người nào mặc ta, cầm máy ảnh, mặc cả
xe đến phố Tiền An là đích đấy..."
Đúng 6 giờ. Một hồi còi... Mười toa tàu lù lù hến đến sân ga,
nhả ra độ mười hành khách. Có người gọi vợ, gọi con, mặc cả xe om sòm, có người
bị phu xe túm bâu lấy mà chỉ biết kêu rối rít: "Không, không !..." Bỗng
có một giọng dõng dạc, to hơn hết, nổi lên trong đám khách ồn ào:
- Chủng mày, thằng nào biết, mau kéo tao đến phố Tiền Anh nhà
cụ...
- Đây rồi !
- Phải, đích người này rồi. áo gấm trong, áo sa tanh ngoài,
giày ban 3, tay có cầm máy ảnh. Răng vàng hé lộ mỗi khi cười
lệch miệng, kính đồi mồi nằm trên sống mũi dọc dừa nghiêm trang. Mặt láu lỉnh
ra phết ăn người.
Ba chúng tôi bắt tay nhau. Anh Vân pha trò mà giới thiệu:
- Đây là chú nó... còn ngài này... "ân nhân" của
tôi !
Ông ân nhân của tôi ấy là ông đến giết bố
nó để cứu con, mấy phút sau, được anh Vân rước về nhà kêu rầm lên:
"Thưa thầy, thưa đẻ, có bác tham 4 Ngọc vốn là bạn cũ sang chơi với con"
thì được cả nhà đón chào mừng rỡ. Nhất là lại được ông cụ già đạo mạo tiếp đãi
ân cần, tự đem thân ra đóng cái vai con chim mòng đậu vừa đúng tầm
súng cho kẻ đi săn.
Cuộc gặp gỡ của chủ với khách bắt đầu gắn bó bằng một bữa cơm
bề bộn những thịnh soạn. Trong bữa tiệc kéo luôn hai tiếng đồng hồ, người ta
nói đến những chuyện giời nắng, giời mưa, nạn khủng hoảng 5, cuộc chiến tranh Trung - Nhật, việc nhà nước
thi hành chính sách tiết kiệm rút lương, thải bớt người làm. Ông "tham Ngọc"
của anh Vân ăn nói ôn tồn, đóng cái vai kịch của mình một cách thạo lắm. Ông hết
bàn luận về đạo nghị định ngày 6 Octobre 1931 6 lại làm ra mặt học rộng, đả động đến cả bộ
"mặt trái" của hội Quốc Liên 7. Có khi ông tự giới thiệu: chỉ ham đọc sách và
gặp dịp nhàn thì chỉ du ngoạn những phong cảnh đẹp chớ ít khi để ý đến sự chơi
bời. Thấy con người giỏi mà nết na như vậy, cụ phán khâm phục ông ra mặt, ngợi
khen mãi ông là người hữu ích, chẳng lêu lổng như em Vân. Rồi cụ cười khà khà:
- Dù bác không chơi bời gì thì tổ tôm, tài bàn cũng phải biết
chứ?
Nụ cười vẫn giữ trên môi, ông "tham Ngọc" thong thả
đáp lại:
- Bẩm vâng! Ngoài sự đọc sách với chơi ảnh ra, con cũng chẳng
còn cách gì giải trí nữa. Đi hát ả đào hay rượu chè, hút xách thì tai hoạ, mà
giai gái thì bẩm... chúng con đã quá tuổi rồi! Vả lại tổ tôm, tài bàn là cái
chơi thanh nhã, khác nào như cuộc đấu trí. Con cho đó là một cách giải trí lịch
sự mà người thượng lưu cần phải biết.
Thiết tưởng một phạm nhân can tội giết người mà được trạng
sư 8 cãi cho trắng án cũng vị tất đã có lòng
kính phục, ngưỡng mộ, nhớ ơn ông thầy cãi của mình như cụ phán của tôi kính phục,
ngưỡng mộ, nhớ ơn ông "trạng sư của tài bàn, tổ tôm" lúc ấy. Đánh
trúng vào chỗ yếu của ông cụ rồi, tay bịp già đã thèm nhận những lời ân cần mời
mọc vào cuộc tài bàn ngay cho đâu!
- Bẩm con định sang hầu cụ với thăm anh Vân con rồi nhân tiện
đi chụp ít ảnh vì cảnh những đồi Lim đẹp đã có tiếng... chứ không nghĩ đến sự
sang đây lại được cụ ép đánh tài bàn !
Cụ phán cố phân trần cho ra lẽ:
- Nhưng còn cả ngày mai thì bác ngại gì? Tôi chỉ sợ bác chả
đem nổi vài vạn tấm lánh sáng mà chụp cho xuể thôi.
Thế là thành cuộc. Bốn vai trò: ông "tham Ngọc" người
đi săn, anh Vân người hướng đạo, ông thân sinh ra anh, chim mòng, với
tôi, một người tò mò, đi xem. Tôi rất lấy làm lạ vì cứ thấy vai con chim mòng
thắng trận, ù tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần hai mươi viên đạn.
Chính anh Vân cũng hơi tái mặt, chỉ sợ người mình lôi về chưa hẳn là thiện xạ,
có bao nhiêu lại đến chui hết cả vào két của ông cụ thì...
Làm ra bộ thua cay, nóng tiết, đang đánh một, hai, ba đồng,
ông "tham Ngọc" rủ đánh gấp đôi.
- Thưa cụ, đánh nhỏ con lại hay thua, có đánh to mới cao được.
Gặp hồi đỏ, ông cụ hăng hái như đang say rượu nhận lời liền!
Thể là từ lúc đánh hai, bốn, sáu đồng, ông cụ năm thì mười hoạ mới được một ván
ù suông. Ù tài bàn, sửu bàn 9 chỉ riêng về ông "tham Ngọc".
Thấy số giấy bạc trước mặt, trong tủi mình cứ lần lượt chui
ra rồi bay đi với gió, moi ví mãi nóng tiết, ông già thỉnh thoảng lại làm ván
ké một "rồng xanh" 10. Nhưng bao nhiêu cũng đều "giá vũ đằng
vân" đi đâu mất cả!
Cái ví lép kẹp của ông già giục cả làng tan chầu, đứng
lên:
- Thôi, mời bác lên gác đi nghỉ với em. Bác đỏ và đánh cao
quá, thật số bác hôm nay phát tài. Tôi thua dễ đến hơn sáu chục !...
Ông cụ "tuy không ăn ớt mà cay " nhưng vẫn vui vẻ
như thường, vẫn thản nhiên, lộ cái vẻ yêu con người đã lịch thiệp lại có biệt
tài, đánh tài bàn cao.
Còn tôi, tuy tò mò ngồi để ý mất cả buổi tôi, cũng không sao
khám phá nổi những ngón bịp ! Vậy "mặt mũi" những ngón bịp thế nào?
° ° °
Trên gác riêng của anh Vân, giữa lúc chia tiền.
- Vốn tôi đem sang: mười lăm đồng, vốn bác: năm đồng, mà đây
tám mươi ba tất cả, thế là cụ bị mất đút 63 đồng. Đáng lẽ ta chia ba, ông ấm
B... ở Hà Nội với tôi hai, còn bác một. Nghĩa là cả ba đạo binh cùng
hưởng: đoàn hướng đạo, đoàn quân thắng trận với bộ tham mưu. Nhưng mòng là
cụ nhà bác thì bác cứ cầm bốn mươi của. Anh em chúng tôi chỉ dùng 23 hòn
đạn là đủ rồi.
Trước cái thái độ nhã nhặn và biết điều này, anh Vân đáp bằng
cái gật đầu, chìa tay ra nhận và nói:
- Để lần sau bác sang, tôi gọi cho mấy via 11 nữa đến, rồi ta lại sẽ có dịp được chia
hương hoả với nhau. Nhưng tôi muốn bác cho xem qua các ngón để sau
này mà tránh...
Nhà đi săn cười. Một cuộc phấn đẩu chốc lát trong óc anh
chàng: bí mật nhà nghề, cỏ nên? Hay không?
Sau một lúc lưỡng lự, "ông tham" có ý lấy chúng tôi
làm chỗ đồng chí, cũng chẳng phải ngại gì. Chúng tôi ngồi nghe như hai cậu học
trò trước một giáo sư dạy khoa quỷ thuật.
- Có ba lối tài bàn. Thứ nhất: lối đánh kiệu hay
là nhị cập nhất, hai người thông lưng nhau hại một người bằng những luật
nhất định như để tay vào đùi, vào gối, ống chân, bàn chân tuỳ theo quân chờ về
hàng văn, hàng sách, hàng vạn... Muốn ăn quân gì hoặc chờ quân
gì, cứ việc ra hiệu để bên kia để ý đánh cho mà ăn hoặc hạ ù. Nhưng đó chỉ là
phương pháp của các bịp non, dễ lộ tẩy, nếu người ta nghi hoặc, khám bài thấy
rõ sự đánh tầm bậy, gian lận thì nguy. Lối ấy không xứng đáng, tôi không thèm
dùng.
Thứ nhì: hụt nọc. Lối chơi này cần mĩ thuật lắm, người
đánh phải có cả tài lẫn gan. Bắt cái xong, mình phải cầm lấy
bài nọc vờ chang đi mấy lớp. Thế là vài ba quân đã theo
cái chang chui lọt, nằm gọn trong tay áo mình rồi Đến lúc lên bài, phải xoay đi
cho phu nào vào phu ấy, lưng nào vào lưng ấy,
Thừa quân thì dễ ù lắm. Nếu ù... hạ bài xong cử để mặc làng khám cho kĩ. Xong
đâu đấy, gạt cả ra một góc chiếu cho người chia bài... là mấy quân bài trốn thẻ"
trong tay áo đã thừa cơ chui tọt ra, theo cái lúc "hỗn quân hỗn
quan", hợp với bọn lính thắng trận về cổng khải hoàn. Muốn đề phòng sự
làng nghi ngờ, thấy mình ù nhiều mà điểm lại bài nọc, bài rìa, thì có hai
cách cản. Một là thấy mình hạ xong ông "bạn đồng chí" cầm ngay lấy
phần nọc vờ tìm quân ông ta đang chờ, phàn nàn rầm lên, "gọi chó" rầm
lên, ồ ạt xoá đi cho người kia không kịp điểm nữa. Hai là rút ở nọc lên mà ù.
Quần bài chờ ấy lẽ tất nhiên là quân mình thụt được ở nọc từ trước đã giấu sẵn
trong tay. Lúc xoa tay xuống nọc vờ rút nó lên thì trong lòng bàn tay phải có sẵn
cả những quân mình đã hụt, trả vào nọc, chỉ "xách cổ" lên một
quân chờ ù. Đến thế thì ván nào mình ù, làng có điểm bài cũng không ngại gì nữa.
Lắm khi chơi với bọn thạo, không hụt nổi ở nọc thì mình phải
dùng đến chước thứ ba, nghĩa là hụt vào phần bài của ông "bạn đồng
chí" với mình. Bắt cái xong, cầm phần bài mình trong tay rồi,
mình lại phải vớ lấy "phần bài tòng phạm" liệng trả ông bạn. Trong
cái liệng rất ý tứ mà ít ai để ý ấy, ngón tay cái với ngón tay trỏ của mình đã
"họp đảng" với nhau giữ lại vài quân, trập phắt vào phần mình. Thế là
ông bạn cầm phần bài thiếu phải đánh bậy bạ cho qua cuộc, cốt sao "che mắt
thế gian".
Ấy, chỉ có thế thôi, bịp tài bàn cũng vậy hay tổ tôm cũng vậy..Cốt
nhất phải có bộ mặt tài tử đóng kịch, nghiễm nhiên, bệ vệ, cũng cốt nhất là ngồi
vào một chỗ không ai ám nổi, tránh cho xa những bác chầu rìa. Trong cuộc
giảng bài này, ông "tham" cho chúng tôi rõ cả phần thực hành lẫn phần
lí thuyết. Nhanh như chớp, ông giở ngón có bảo trước cho biết mà chúng tôi chịu,
không sao vớ được cái "thiên biến vạn hoá" của nhà quỷ thuật đại tài.
Bữa tiệc nào cũng phải có đồ nước nên nhà bạc bịp thuật thêm
một câu chuyện ngắn nữa để làm món đét-xe.
Một lần, ngồi vào cuộc với hai ông khách lạ mà tôi tưởng
là quých, tôi vờ chang bài nọc, hụt xong, để xuống đĩa thì bỗng
phải giật mình lo sợ vì chỉ cuỗm có bốn quân mà sao phần nọc có lẽ thiếu nhiều?
Đang mải ngẫm nghĩ thì một ông khách lạ nắm chặt lấy tay tôi. Cuống quá, đã tái
cả mặt nhưng nhanh trí khôn, tôi cũng vội liều nắm chặt cổ tay ông ta làm cái
"trả miếng". Rồi chúng tôi cùng buông nhau ra để cười sằng sặc, gập
đôi người lại mà cười. Tôi hụt bốn quân bài thì ông khách ấy cũng hụt ba quân cộng
với một quân. Ông ta chia thừa cho phần bài của ông mà tôi thì hụt nọc! Chúng
tôi gọi buổi ấy là ngày "anh hùng tương ngộ", cũng là "bịp
lũa" cả mà bên nọ còn tưởng bên kia là mòng.
Trước mặt anh chàng dắt khách lấy hồ hòng chuyện nọ kia, mặt
tiu nghỉu như chó bị thiến, chúng tôi vỗ vai nhau, bắt tay nhau một cách ân cần,
gọi nhau là "tri kỉ".
--------------------------------
|
Ông Ấm B. sổ...phố Hàng Cá. Hà Nội. |
|
|
Bắc Ninh. ngày 26 tháng 2 năm 1933. |
|
|
Giày da mềm dùng những khi nhảy đầm. |
|
|
Tham tán là nhân viên hành chính trung cấp của các cơ quan
của Pháp. |
|
|
Kinh tế khủng hoảng, nói tắt. |
|
|
Mồng 6 tháng 10 năm 1931. |
|
|
Hội các nước trên thế giới năm 1920, đến 1946 đổi thành tên
Liên Hiệp Quốc. |
|
|
Luật sư. |
|
|
Ù tài bàn là ăn một ván bài to nhất, sửu bàn là to thử hai. |
|
|
Giấy bạc hai mươi đồng. |
|
|
Nói theo tiếng Pháp: vieux nghĩa là ông già. |
II
Ông quân sư của bạc bịp
- Ông nên biết rằng: quá nửa đởi người, tôi đã sổng bằng nghề
cờ bạc. Muốn sống về nghề cờ bạc, phải cỏ cách trừ khử những cái đáng nơm nớp
lo ngại là cái đỏ cái đen... Hiện nay anh em tôn tôi là... trùm
đảng bạc bịp. Trước khi lên được địa vị này, tôi cũng đã lắm phen phải đóng những
vai trò mòng với quých cho một lũ bạc bịp tiền bối họ móc
xé ruột gan đấy, ông ạ. Những lúc thất cơ lỡ vận trước là vốn buôn
cho tôi được hưởng cái lãi là cái địa vị... bây giờ.
Người đang kể tiểu sử của mình ra cho tôi với anh Vân nghe
chính là ông ấm B... ở ngõ Hàng Cá. Trong gian phòng gác mà cách bày biện đủ tỏ
rằng chủ nhân cũng là hạng người thiệp đời, lịch sự, chúng tôi đã được ông trùm
tiếp một cách nhã nhặn mà lại được cả dịp đón nhặt tài liệu cho cuộc phỏng vấn
ngẫu nhiên đây.
Những người chỉ nghe danh mà không biết mặt ắt phải tưởng tượng
rằng đến hạng người đáo để này thì từ nét mặt, giọng nói, dáng đi cho đến tà
áo, gấu quần, tất nhiên cái gì cũng phải có vẻ bịp cả! Trái lại, ông ta là người
trông đẫy đà, bệ vệ như một ông hậu bổ hoặc một viên tri châu 1 nào.
Hai con mắt rất sắc sảo, có đủ vẻ đối địch với đởi, tiểu nhân cũng được mà quân
tử cũng được. Miệng nói có duyên một cách lạ, thường hay mỉm cười để "giá
trị" cho câu chuyện: nhất là những lúc gọi đến thằng nhỏ thì tiếng đồng
sang sảng, thật là có giọng quan!
Chúng tôi họp mặt nhau mới độ một giờ mà trong câu chuyện đã
thấy ngay cái không khí nồng nàn, tri kỉ. Được dễ thân như thế là vì có anh
Vân, người cùng đi với tôi để thăm ông ấm, trước nay đã làm "chim mồi"
cho ông đê săn các bạn già cụ phán bên tỉnh Bắc cùng những tín đồ của "đổ
bác giáo" bao nhiêu lần rồi.
Vì vậy, ông ấm mới chẳng ngại kể lể tâm sự và nói rõ cả những
bí mật nhà nghề đáng giấu kín cho chúng tôi nghe. Nhưng trước khi cho biết những
cái "vành ngoài vành trong", ông hãy làm trạng sư cho ông, cho địa vị
xã hội của ông, và cho cái nghề không có môn bài của ông đã.
- Tại sao tôi, dòng dõi gia thế, lại làm đến cái nghề... bất
nhã này? Thưa ông, nếu tôi có thật không ra gì thì cái đó cũng chẳng phải lỗi tự
tôi, tôi đã bị hại về hoàn cảnh xấu của xã hội. Nhưng tôi chỉ tự trách mình và
vẫn nên tự trách xã hội. Sống ở cái xã hội cờ bạc, tôi chỉ biết rằng tôi đã là
kẻ rong chơi bài bạc tự lúc thiểu thời. Tôi đã thua vì đỏ đen, tôi lại còn thua
vì bịp nữa! Tôi đã phải xa gia đình vì phá tan cơ nghiệp, tôi đã khốn khổ, ê trệ
- ê trệ nhiều phen lắm, hai ông ạ - cho nên chính ngày nay là ngày tôi đang trả
thù cái bọn đã làm tôi hư hỏng, đã ngăn rào mọi đường công danh tiến thủ của
tôi. Đỏ có là công lí không? Tôi tưởng: làm việc thiện dể đền ơn việc thiện, lấy
việc ác để trả nghĩa việc ác, thế mới là biết sống ở đời... Nói cho cùng, tôi
cũng vui vì đã làm, đang làm, sau này nữa cũng vẫn cứ làm cái nghề bất lương,
cái nghề tôi cho là phải. Tôi chỉ buồn có một nỗi: không theo đuổi nổi sự nghiệp
của ông cụ nhà tôi...
Đến đây, ông ấm ngừng lại, có vẻ buồn rầu. Ông có ý chờ một
câu phê phán. Tôi vội phải lộ sự tôi hiểu ý một cách kín đáo là đưa mắt nhìn
cái ảnh lớn trong một khung vàng chói một ông cụ đi hia, mặc áo rồng, đội mũ
cánh chuồn từ một chỗ trịnh trọng giữa bàn thờ nhìn một cách nghiêm khắc xuống
lũ chúng tôi. Cử chỉ ấy có lẽ khiến ông ấm được một vài phút tự kiêu, nên lại
vui lòng:
- Vậy các ông coi cờ bạc là hạng thế nào? Tâm lí họ ra sao? Họ
khôn hay họ dại đấy... Hai chủ khôn với dại trong sự bài bạc không có nghĩa nhất
định. Nếu ông thua để vợ con phải nheo nhóc, thiên hạ sẽ đua nhau chê ông là dại
thật dấy, nhưng nếu ông được tiền nghìn bạc vạn để tậu nhà tậu ruộng, thiên hạ
họ lại xô nhau vỗ tay, ca tụng ông là khôn! Những anh cờ bạc toàn là những anh
- xin lỗi các ông - những anh... "khôn sặc máu mồm" ra cả dấy, chứ
các ông bảo họ dại cái nỗi gì? Tôi đây, tôi đã là một thằng dại mãi rồi mà tôi
lại cứ muốn cầu cái khôn trong cái dại, nên mới phải tìm một cách "bảo hiểm"
cho sự khôn!
ông ấm cả cười. Chúng tôi cũng cười. Sau ông tiếp nốt (từ đây
trở đi, tài hùng biện của ông mỗi lúc một tăng):
- Thế các ông coi cái nghề của tôi bằng con mắt thản nhiên
hay bằng con mắt khinh bỉ? Các ông nên biết : tuy là bịp, tôi vẫn không làm một
việc nhỏ mọn gì là bất nghĩa cả. Trong đám bạc, người đời đã chỉ những muốn ăn
thịt lẫn nhau cả, thì dù có bất nghĩa, tôi cũng chỉ bất nghĩa với một bọn bất
nghĩa, chứ những người hiền lành không tham lam, không muốn ăn thịt ai cả, có
khi nào đến nỗi bị chúng tôi hại đâu?
Xem ý anh Vân lại được hài lòng, vui sướng hơn cả ông ấm B...
vì "bài cãi" ấy. Rồi anh nối lời thuyết mãi, thuyết mãi... về cái
nghĩa chính danh của sự bất nghĩa ở thời buổi vật chất, kim tiền này.
Buổi nói chuyện kéo đến lượt hò đun nước thứ ba. Chúng tôi phải
đứng lên, xin cáo từ. Lởi nói cuối cùng của ông ấm B... là một câu phàn nàn về
nạn kinh tế, về nỗi mòng, két mỗi ngày một hiếm, không được mùa
săn. Ông ta dặn chủng tôi nên rất để ý vào sự từn đất để làm tiền.
Lời dặn ấy làm cho tôi phải nghĩ ngợi mãi? Vì sao? Vì nếu đối
với ông ta, tôi không có mòng, sẽ bị coi là đồ vô tích sự, và sẽ mất dịp đi lại
với ông về sau. Thành thử ở vào trường hợp ấy, tôi rất thèm thuồng ham muốn địa
vị của anh Vân. Anh Vân tuy chưa cỏ gan dắt bịp đến bắt các anh em bạn thân,
song anh ta cũng còn may vì có được một ông thân sinh ham mê hên bạc. Và mấy
ông tóc bạc, bạn của ông cụ ấy nữa. Chỗ để đào tiền đã có sẵn, anh ta lại sẵn cả
chỗ để ném tiền đi: những mẻng! Còn tôi, tuy cỏ nhiều bạn thân ham mê bài bạc
thật, nhưng không nỡ dắt bịp đến bắt, lại không có nôi lấy một ông bố có máu mê
ấy nên không biết liệu phải đối phó với ông ấm B... bằng cách nào...
Tưởng chỉ còn cái kế cuối cùng là sự hẹn lần vậy. Có khi mình
hẹn lần vì bất đắc dĩ mà người ta lại nhầm mình là hạng người cẩn thận, kín
đáo, chắc chắn cũng không biết chừng. Vả lại, trước khi nhúng tay vào một việc
có thể phạm tới danh dự của mình chút ít, dễ thường cứ bắt người ta nhắm mắt mà
làm liều, không cho có ngày được rõ diện mạo, tímh tình nhân cách và mọi cử chỉ
của từng viên chức trong "bộ tham mưu" ư?
Cái ngày mà tôi được rõ mọi việc cũng không xa. May quá, nó đến
trước khi tôi phải hẹn lần.
° ° °
Cái lịch trên tường phô ra hai con số: 30. Gian phòng gác ở
phố Hàng Cá vào những ngày cuối tháng như ngày này, có cái vẻ nhộn nhịp của một
toà tham mưu giữa lúc hai bên quân đương giao chiến với nhau thật kịch liệt. Vừa
phần vì lẽ "năng tới coi thường", vừa phần hai bên đã coi nhau là
thân mật, ông ấm để mặc chúng tôi mỗi anh ngồi chầu một chén nước nóng còn mình
thì một tay đỡ lấy trán, tay kia bấm đốt, tỉnh lẩm bẩm như một thầy bói lấy số
tử vi: "... Hai đám xì một đám bất, một đám xóc đã và một đám tổ tôm. Đám
xì ở Hàng Kèn đã có Ba Mỹ Ký với Bập đánh giác... đám xì đường Cột Cờ đã
có tay Bỉnh, tay Sính đánh đòn Vân Nam... Còn đám bất phố Hàng Bông đã cỏ
lão Cường hoặc đánh lớp, hoặc đánh mẫu tử. Xong đứt ba đám... Còn đám
tổ tôm không biết nên tính thế nào? Chỗ chơi là chỗ đài các phong lưu mà phái Cửu
Sần đi thì sợ lộ !... Ác quá, có cụ Ngọc là người trông có mẽ một chút thì lại
mắc xuống Nam. Cẩu thật!... Còn mấy.anh lái nâu động mả, giữa lúc giời đất này
cũng về khua xóc đĩa nữa, đã nằm chờ sẵn như lợn cả kia thì biết cắt ai đi chọc
tiết bây giờ?... Chỉ có mình, mình là tay khả dĩ đối thủ được với chúng thôi,
thì mình lại phải cái tội đã loã lồ quá.
Mấy tiếng gót giày khẽ nện vào bậc thang gác báo trước cho một
người còn trẻ tuổi, ăn mặc ra một tay trong phái bồi, bếp, rón rén bước lên. Thấy
chúng tôi lạ mặt, người ấy có vẻ ngần ngại, chỉ đưa mắt hỏi ông ấm chứ không
nói gì. Ông này làm ngay một câu:
- Thế nào?... Được, cứ tự nhiên, chỗ anh em cả.
Người trẻ tuổi kia lộ ngay cái vẻ sung sướng ra như đang có một
gánh nặng trên vai mà đến lúc vừa hạ được nó xuống đất. Nhưng đôi lông mày vẫn
cau:
- Hỏng mất cụ ạ!...
- Thế nào mà đến nỗi hỏng? Thu xếp thế mà lại hỏng thì hỏng
thế nào?
- Tôi đã dò lão ta rất kĩ lưỡng. Thằng cha ấy nó biết rõ lối
đánh giác từ bao giờ ấy mất rồi. Tôi gợi chuyện thì nó đã nói toạc
móng heo ra, những là nó biết hết tất cả các lối giác mùi hay giác
bóng cũng vậy, và chỉ có những đồ mù thì mới không biết cách khám thấy dấu, chứ
cứ để nghiêng quân bài dưới ánh sáng đèn một tí thì anh nào đến thong manh dở
cũng phải biết ngay! Lại còn nỗi khó khăn này: muốn bắt lão ta, phải đến tận
nhà thằng cháu lão ta, chứ lão nhất định không đi chơi chỗ nào lạ. Tôi phải tìm
cách "bỏ nhỏ" với thằng cháu lão và việc ấy cũng ổn rồi. Vậy thì cụ xếp
cho một người cản nữa để tôi đánh Vân Nam vậy.
Ông ấm ngần ngại:
- Khốn nỗi anh mà đánh đòn Vân Nam thì tôi không lấy
gì làm chắc lắm. Có được anh Ba Mỹ Ký thì lại trót hẹn mất với đám ở Hàng Kèn rồi.
Hay là tối hôm nay, ta hãy đánh siệng, làng xoàng độ năm hào một cho qua
buổi để mơn lão ấy đến trưa mai hoặc tối mai, tôi cho gọi Ba Mỹ Ký đi với anh đến
thì thật là cứ "nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền..." !
- Không được ! Lão ấy nó đang cao hứng, nếu để đến tận trưa
mai hoặc tối mai thì từ buổi sáng sớm nó đã có thể dậy để đi cân sâm cho con nó
rồi, mình còn hòng bắt nó lấy cái gì nữa?
- Thế đích xác là nó có độ bao nhiêu?
- Độ chừng sáu công 2 tất
cả. Cụ phải tỉnh ngay cho chứ mà...
- Thôi được, cứ về đi rồi độ sáu giờ chiều lại đây lấy nốt
người cản. Để tôi có thời giờ, nghĩ thật kĩ xem sao.
Người trẻ tuổi ấy trước khi quay gót bước xuống thang còn liếc
mắt nhìn trộm chủng tôi lần cuối cùng, dáng dấp vẫn lộ vẻ ngượng. Đến bây giờ,
ông ấm mới giới thiệu:
- Đấy, một đàn em của tôi đẩy. Trước làm thầy kí cho hiệu
buôn lớn, chữ nghĩa kể cũng khá, sau vì kinh tế nên bị loại, nay phải tạm sinh
nhai về nghề này. Vì phải giao thiệp với hạng trếch để săn mòng,
két trong đám bồi, bếp nên tôi bắt anh ta ăn mặc đúng lối trếch. Nếu
hắn diện Âu phục vào thì các ông phải biết... Nói tiếng Tây nhanh làu làu. Chỉ
trông mặt mà bắt hình dong thì nhầm to.
Anh Vân khen:
- Phải... gớm mưu trí của ngài kể cũng đáng sợ thật. Mà thế
thì ra đàn em của ông toàn là những tay đáo để, ra phết cả, "chơi được"
cả...
- Thì đã hẳn !... Vào nghề này mà hiền lành thì làm ăn ra
sao? Hai ông nên biết rằng không kể một số khá đông người, nửa là đồng nghiệp,
nửa là đàn em của tôi, tôi còn dưới quyền sai phái độ mươi tay nữa, vào hạng
nào cũng có, một người ít ra cũng sở trường về một vài ngón bịp và anh nào cũng
có đặc sắc riêng. Nhất là về những cách thay hình, đổi dạng của chúng tôi...
tôi cam đoan rằng chúng tôi không thua những nhân viên của sở Liêm phóng 3.
Thí dụ: ông là quých chẳng hạn. Ông là một nhà buôn, ông sẽ gặp một
người trông thật là chủ hiệu ngồi hầu bài. Ông là một công tử nhà giàu, tôi sẽ
để ông ngồi với một chàng trông thật ra lối con nhà phá của.... và chưa chắc đã
không có một vài cô gái mới ngồi cản đâu? Còn nếu ông là một viên
chánh tổng, lí trưởng nào, tôi sẽ dắt cho một thầy ngăm ngăm da trâu, trông rõ
"Đình Dù đặc". Hoặc nếu ông là một chú trếch sộp, tất nhiên
phải có một bác tài răng vàng, đội cái cát-két hay một ông còn nguyên
búi tóc lại mặc áo cánh cổ cứng ngồi hầu ông chứ... biết làm thế nào?
Ba chúng tôi vừa bật cười ầm lên, bỗng phải hãm ngay luồng điện
khoái lạc ấy lập tức. Lại một hồi gót giày nện rõ mạnh vào thang. Chỉ nghe tiếng
động mạnh gớm mạnh ghê như thế, ai cũng phải đoán: người sắp lên ấy sẽ là một
người Pháp. Nhưng không phải, chỉ là một người Nhật, vì người đang tiến đến
chúng tôi để giơ hai tay ra bắt rất ân cần ấy đã có cả cái thân thể một ông khổng
lồ lẫn bộ quần áo Tây phương, lại đèo thêm bộ mặt một dân Nhật Bản. Giá ông ta
thay cái mũ cát-két da hổ ấy đi để chụp vào đầu một cái mũ lưỡi trai
có cái vòng lon kim tuyến chẳng hạn thì, sẵn có cái áo tơi bằng da màu cánh
gián đã ngắn cộc lại thêm đai nịt rõ chặt chẽ ấy, đi nghênh ngang ngoài đường,
ông ta có thể bắt nhiều người nhầm mình là một phi hành gia. Nước da còn hồng
hào với một ít râu để lối Hoa Kỳ 4 của
ông tỏ ra rằng ông chưa quá 40 tuổi.
Sau khi chủ, khách đã phân vị đâu đấy cả, ông ấm B... quay lại
nói ngay:
- Xin giới thiệu để hai ông được biết: ông này quý danh là
ông Cả Ủn, người giữ cái két lớn nhất cho làng b... chúng ta.
Ông Ủn cả cười và thêm:
- Nhưng phải cái két thủng đáy, hai ông ạ.
Lời giới thiệu sỗ sàng của ông ấm B... đã đánh tan mọi sự giữ
gìn của những người mới gặp nhau lần thứ nhất.
Cho nên mới có những câu hỏi, đáp tự do sau đây:
- Ngọc đi bao giờ mới về?
- Chưa biết đích xác được.
- Cỏ phải chính bác sai hắn đến lấy thiếc đằng tôi
không?
- Phải... nhưng tôi chỉ mới bảo hắn đến lần này là lần đầu.
- Thế mà hắn đến lần này làlần thứ hai!
- Lần thứ hai?
- Phải !... Hay lần trước là hắn bịa chuyện ra chứ không do
bác bảo?
- Thế lấy bao nhiêu?
- Bốn chục.
- Trả chưa?
- Rồi.
- Thế là hẳn lấy để đi "ăn mảnh" đấy chứ không phải
do tôi bảo đâu. Thế hôm vừa rồi đưa hắn bao nhiêu, bác thử hỏi xem có đúng sổ
tiền mà tôi bảo hắn đến chạy đằng bác không nào...
- Hình như nhà tôi đưa hắn 50 của thì phải. Lần sau
trở đi, chính bác nên thân hành lại mà lấy hoặc không tiện đến, bác cho mấy chữ
lại vậy... chứ tôi không tin các "ông tướng" ấy đâu. Thế có phải đúng
bác bảo hắn lấy 50 của để đi Nam không?
- Phải rồi... Được, lần sau có chữ tôi gửi lại, bác hãy đưa
tiền. Và dặn cả bác gái như thế hộ tôi một thể.
--------------------------------
|
Hậu bổ: chức quan sắp được bổ làm tri huyện. Tri châu: quan
cai trị một châu ở miền núi, tương đương một huyện ở miền xuôi. |
|
|
Tờ bạc năm đồng in hình một con công. |
|
|
Thường gọi là Sở mật thám. |
|
|
Tức là hàng ria con kiến. |
III
Đố anh nào bịt mắt được tôi
Trên tường bên kia, cái bàn thờ Thổ công có một chiếc cốc pha
lê đã rạn thay bằng bát nhang với hai cái đài mà nước sơn đã lở làm bưng mảnh
ván choèn choèn kê lên hai cái xích đông gỗ tạp. Dưới bàn thờ là một
bức tranh về xứ Pháp, phô hình một viên tướng cười ngựa bạch trên một chỏm núi,
cầm viễn kính chiếu xuống đồng bằng, một cảnh đồng bằng có hàng bao nhiêu binh
mã, như một đàn kiến lửa chen chúc nhau trong những lúc tranh nhau đi tha mồi.
Bức tranh lồng trong một cái khung sơn kim nhũ trông đã hơi cổ và đã có chỗ bị
sứt, để lộ cả thớ gỗ. Giáp ngay với bàn thờ, có một bó chừng sáu xóc tôm khô
treo ngay bên cạnh một bộ quần áo bi-da-ma kiểu cuối cùng của hãng
Lafayette 1.
Lại cách bức tranh và bàn thờ, có thể lấy tay với ngay được, lù lù một tấm ghế
ngựa mà dưới gầm có một đôi giày da láng mũi liền, kiểu Richelieu 2,
rộng như hai chiếc thuyền thúng bỏ quăng bên cạnh một chiếc chổi xể cùn !
Gian phòng tuy chật hẹp mà ních đầy đồ đạc, cái sang cái hèn
lẫn lộn một cách chướng mắt vô cùng này là gian phòng của một người trong
làng trếch.
- Xin mời ông xơi tạm chén nước.
- Vâng, xin phép ông.
Người trân trọng lấy hai tay bưng chén nước mời tôi uổng, bác
bồi An, chủ nhân gian phòng có cái bài trí kì lạ kể trên, thân thể tuy trông đẫy
đà nhưng không đến nỗi thô cho lắm vì được ẩn trong bộ quần áo bảnh bao. Đôi
lông mày rậm rạp nằm trên cặp mắt như hai chiếc đòn khiêng. Hai hàm răng trắng
nõn như ngà. Bác đã cung kính trao cho tôi cái chén Nhật Bản to bằng cái bát ăn
cơm, đầy nước chè Tàu mà tôi chỉ cầm lên, đặt xuống. Cái chén ấy hầu như chưa
được ông chủ tắm cho lần nào, dễ đến mấy tháng nay...
- Kìa, mời ông xơi nước kẻo nguội.
Câu mời thứ hai này chẳng đủ phá nổi cái im lặng rất khó chịu,
vì ngoài sự chào hỏi ra, chúng tôi chẳng còn biết nói với nhau chuyện gì. Rõ ngộ!
Tôi sở dĩ gặp chuyện này là vì đã nể lời ông ấm B... khi ông
nhờ tôi đi hộ vệ đòn Vân Nam cho đàn em của ông, tại phố Hàng Giò.
Độc giả chắc còn nhớ đến người trẻ tuổi ăn mặc ra phái bồi bếp
đến toà nhà ở phố Hàng Cá xin "quân sư" phái cho một người cản,
mới trưa hôm nay người ấy định bắt mòng trong một canh xì bằng lối đánh giác,
nhưng vì mòng của anh ta chưa đến nỗi quých lắm, đã biết cả lối giác
mùi lẫn giác bóng nên anh ta mới phải cầu cứu đến cái đòn
Vân Nam là kế cuối cùng.
Dưới quyền ông ấm B... không còn một tay sai nào nghỉ việc
vào ngày 30 tháng ấy. Anh Ba Mỹ Ký đã được phái đi đánh ở phố Hàng kèn, ông
quân sư mới phải cho phép đàn em hãy còn "non tay" của ông giở đến
ngón đòn hiểm độc hơn cả. Thiểu người ngồi cản nhưng may lại vớ được chúng tôi
sẵn đấy, sau khi ông Cả Ủn đi rồi, ông ấm bèn tiện việc, ngỏ ỷ tức khắc muốn nhờ
một người, hoặc tôi hoặc anh Vân. Anh Vân vì có buổi hẹn với mẻng của
anh đúng 6 giờ chiều hôm ẩy, đã từ chối, tôi mới phải nhận lởi. Vì một sự tình
cờ, bắt đầu từ ngày hôm nay, tôi đã thành một tay thợ tập sự trong một xưởng
máy của nền "kĩ nghệ bạc bịp" !
Xin thuật lại những câu hỏi, đáp, dặn bảo nó đã ngẫu nhiên
khiến ông ấm B... vô tình giảng ngay cho tôi bài học thứ nhất, quên hẳn nền nếp
của pho "Bịp Kinh", chưa kịp: Dạy rằng con lạy mẹ đây mà đã vội
Này con thuộc lấy làm lòng...
- Thế có thật là ông biết đánh xì không?
- Nếu không thì đời nào nhận lời giúp cụ.
- Thế thì may lắm, ông đi hộ vệ hắn giúp tôi là tôi được vững
tâm rồi. Trông ông có vẻ thực thà và sang trọng thế này, không còn ai dám ngờ vực
gì nữa. Ông sẽ đi với nhà cậu đến xin người cản lúc nãy, tên hắn là Vũ, để hắn
đánh đòn Vân Nam. Nguyên con mòng kia đã biết cái lối giác mất
rồi thì ta phải đánh đến cái "miếng ngoại quốc" cho nó mất đỡ...
Đánh giác có nghĩa là đánh tráo bài có dấu. Còn đánh đòn Vân Nam là
đánh tráo bài. Nói thế ông đừng tưởng là lại tráo một cỗ bài có dấu sẵn khác
vào bàn đâu. Vũ hắn sẽ có một vài cỗ bài đã xếp sẵn cho thành nước để
trong túi, không có một tí ti dấu vết gì cả. Ngồi vào cuộc, ông nên nghe hắn
đưa mắt bảo nên ngồi đâu để cản trở cho dễ, cái đó còn tuỳ... Mới vào đầu hãy cử đánh
siệng, nghĩa là đánh thật thà đã. Ông rất nên để ý vào lúc hắn khịt mũi hoặc uống
ngụm nước súc miệng là lúc sắp đánh tráo bài. Hắn tuy vẫn ngồi xếp bằng tròn,
nhưng bàn chân gấp vào dưới đầu gối vẫn có mẩy ngón cặp lấy cỗ bài đã chuồn ở
trong túi ra từ lúc nào không biết, phục sẵn... chờ khi khịt mũi xong, tay cầm
cỗ bài ở đĩa lên chang đi chang lại thật kĩ rồi, hắn uốn mình chống cái tay có
cỗ bài ra đằng sau đùi để khạc, nhổ một cái rồi ngồi quay ngay lại để chia cho
làng, là ông phải tìm cách vơ ngay cỗ bài dưới đầu gối hắn cho nhanh để giấu
vào địa phận của ông vì... hắn đã đánh tráo rồi đấy! Nhưng khi hắn chưa kịp
tráo, nghĩa là giữa lúc hắn quay lại đằng sau định nhổ, khạc thì muốn cho cả
làng không ai để ý, không ai trông thấy, ông phải bò nhoài ra trước mặt hắn để
với lấy hoặc bao diêm, hoặc cái điếu ở bên kia đi, phía trước mặt ông. Thế là hắn
đã đánh xong cái đòn Vân Nam mà ông cũng trọn bổn phận tên lính cản.
Đây này, tôi ra hiệu cho ông thấy rõ... thế này đã hiểu chưa?
- Vâng, hiểu lắm rồi.
- Phải, có gì mà chả hiểu !... Đây, ông cầm lấy thiếc, ấy
chết, khỉ quá! Tôi cử nhầm ông là "bịp lũa" rồi.
- Thế "thiếc", là cái gì?
Ông ấm móc ví đưa cho tôi ba cái giấy bạc năm đồng, cười mà rằng:
- Thiếc là cái này!
- Sao gọi là thiếc?
- Vì nó là cái "mô tách ních" 3 của làng
b... Thể tôi thử hỏi ông: người thợ có sẵn lò, sẵn mỏ hàn, sẵn axit đấy nhưng
không có nổi mẩu thiếc thì còn hàn nổi đồ đạc gì cho ai?
"Thiếc", chữ ấy ngoài những nghĩa đã có của nó, còn
là tiền lưng vốn của bọn cờ bạc bịp, - tôi xin các nhà học giả nước ta để ý đến
chữ ấy để chua thêm nghĩa cho nó, trong bộ Việt Nam tự điển sẽ xuất bản đủ bộ
sau nay.
- Xin mời ngài xơi thuốc.
Tôi đã ngồi cùng xe với bác kí Vũ - hay là bác bồi Vũ - đến
toà nhà Tây ở phố Hàng Giò, rón rén bước qua cái sân rộng rồi lẻn vào ngồi
trong căn phòng của người bồi ông chủ toà nhà ấy.
Bác kí Vũ đã giới thiệu tôi là quan tham với bác bồi An, chủ
cái phòng này, trước mặt một ông đã đứng tuổi, nửa tỉnh nửa quê, chú họ bác bồi
An, rồi bác lôi ngay con mòng ấy đi xe lên tận Hàng Ngang mua một cỗ
xì mới.
Lúc tôi để chân vào căn phòng này, cái đồng hồ trên bàn phô
ra đôi kim kéo một vạch thẳng từ trên trời xuống đất. Đến lúc bác bồi An mời
tôi xơi thuốc, trước sau đã được nửa giờ. Trong nửa giờ, ngoài sự mời nước, mời
thuốc, chúng tôi chỉ mong vào tiếng tí tách của cái đồng hồ phá hộ cái không
khí im lặng, khó chịu, nặng nề mà không thấy ăn thua.
Vả lại ích gì mà chuyện Đã "biết rõ" nhau như chúng
tôi rồi, tưởng chẳng cần nói gì là hơn. Tôi đến đây, ngoài việc đánh bạc còn có
việc gì, bác bồi An đã thừa biết. Mà sao tính của bác đối với ông chú họ bác nó
ra sao, nhờ kí Vũ, tôi cũng đã rõ cả rồi. "Tri kỉ" gặp nhau, không cần
nói, cũng đủ hiểu nhau...
Kim đồng hồ cứ việc chạy với thời gian.
Sau cùng, đó là bác An phải tự phá cái vẻ ngượng kín đáo, im
lặng giữa hai chủng tôi:
- Gớm! Từ đây lên phổ Hàng Ngang mà các ông ấy đi lâu thế!
Thưa ông, thế chốc nữa ngồi vào cuộc, hai ông sẽ làm ăn như thế nào?
- Thế ông Vũ chưa dặn ông ư?
- Mới dặn qua loa thôi! Dặn rằng tôi cử việc ngồi đánh như
thường, đừng có tò mò để ý đến bác ta quá mà ông cụ biết thì lộ. Với lại, xem ý
lúc nào bác Vũ khai chiến nặng dùi với ông cụ thì tôi nên bỏ dở, mặc
cho hai người họ tố với nhau.
- Thế là đủ rồi
- Tôi không cần... thi thố gì nữa?
- Cái thi thố, ông cứ để mặc về phần chúng tôi. Nhưng ông cụ ấy
đã là tay thạo trong làng chơi chưa thì ông cho tôi biết rõ.
- Cái thạo thì chắc cũng có thạo vì ông cụ ấy đã... bán mất
ngót chục mẫu ruộng vì đánh bạc rồi. Ông cụ ấy là một ông chú họ tôi, trước kia
được nhờ vả thầy tôi nhiều lắm, từ khi khá giả lại vô ơn, đã không cưu mang lại
còn rỉa cả đến cháu thì... ông ấy đã muốn chết cho ông ấy chết chứ... tôi cần
gì.
- Thế ông cụ có sộp không?
- Trong lưng giắt đến ba, bốn chục bạc từ Phủ Lý ra đây định
cân sâm cho con giai đang ốm thập tử nhất sinh đấy... Đi cân thuốc cho con mà
thế đấy! Nằm chờ ăn chực đã ba hôm ở đây để đợi đánh xì ! Ông bảo thế không thịt
thì có dại không? Mình không xơi thì cũng đến lượt chán vạn những thằng
khác chúng nỏ cũng xơi !...
Chỉ nghe cái giọng ấy, tôi đủ lượng nổi lòng bác An căm tức
ông chú họ đến thế nào rồi.
Nếu những lởi bác An vừa nói mà đúng sự thực thì lòng căm hờn
kia cũng chính đáng lắm. Chúng tôi gặp được bác An ở gian phòng này cũng như là
những đạo binh của Nhật hoàng sang Mãn Châu mà gặp được phế đế Phổ Nghi 4.
Có "nội công", hẳn là chúng tôi dễ thành việc.
° ° °
- Đây là cỗ bài mới do chủng tôi vừa mới đi mua ở phố Hàng
Ngang về. Bài mới nguyên, các ngài không sợ dấu vết gì nữa!
Người nói câu ấy không là con chim mồi Vũ, nhưng lại chính là
con mòng, ông chú họ bác An.
Ông ta nói xong liền xé lần giấy bóng bọc cỗ bài, để cỗ bài
vào đĩa. Ông cầm đĩa giơ vào giữa mặt mọi người phân bua một lần nữa, rồi, chẳng
nén nổi những sự thâu lượm được trong khi lăn lóc ở trường đổ bác, ông lại còn
dạy chúng tôi, "làm phúc" cho chúng tôi biết được những lối đánh xì
gian lận giác bóng và giác mùi.
- Đây này, các ông trông những đường hoa xanh thẫm in trên
lưng quân bài màu xanh nhợt. Những tay cờ bạc bịp, muốn đánh dấu bài, họ sẽ
dùng một cái bút chì xanh tô cho nhữg đường hoa đạm nét thêm một ít, tuỳ theo
những quân: tây, đầm, trếch, hoặc sập, cẩu, bạt, thất, xì... Mỗi hàng có dấu
riêng, hoặc vào góc quân bài, hoặc vào giữa, hoặc xế xế vào một bên, hoặc một vết
dài dọc, hoặc một vết ngắn ngang, hoặc đám rêu vuông, hoặc đám rêu hình mặt trăng
lưỡi liềm! Tô chì xong, họ lại lấy phấn trắng mà xoa lên trên quân bài cho dấu
nhạt đi để khỏi có người nhận thấy. Họ làm như thế có nghĩa là giác mùi.
Còn lối giác bóng nữa, lối này mới thật nguy hiểm hơn. Đáng lẽ dùng
bút chì, họ lại dùng lòng trắng trứng gà pha với phèn chua kia! Họ lấy bút ta mới,
chấm vào thứ nước hoá học ấy rồi tô vào lưng quân bài. Dưới ánh sáng đèn, lưng
quân bài sẽ để ta hơi thấy những chấm sáng bóng. Ác nhất là khi tay bịp rút thì
chỉ tay bịp mới thấy bóng, chứ xoay đĩa đi thì làng đố người nào mà nhận được
ra! Muốn khám phá cho ra, thì phải để nghiêng quân bài, chứ để thẳng vào mắt
mình thì vạn kiếp mình cũng không biết được. Nhưng đối với tôi thì đừng ông nào
giở ngón này nọ... Tôi đã thạo quá đi mất rồi ! Đố anh nào bịt mắt được
tôi!
Ông nửa quê nửa tỉnh nói đến đấy, vênh vênh cái mặt, ra vẻ
khinh đời. Kí Vũ, bồi An và tôi, cả ba đã phải đóng những vai kịch dớ dẩn.
Rồi chúng tôi ngồi vào cuộc, nào láng, nào tố,
nào cằn tố, đánh với cái vẻ "ngậm miệng ăn tiền" của bồi An, đánh
với cái "thực thà ngạt mũi" của kí Vũ, đánh với cái "thực thà
sang trọng" của tôi, đanh với cái "thạo ra phết '; của con mòng.
Trong một giờ đồng hồ thua thua được được bất phân thắng bại. Tôi mong mãi đến
lúc kí Vũ uống nước, chống tay quay ra sau lưng súc miệng, nhổ xuống thềm. Tôi
thong thả bò nhoài ra:
- Bác An, đưa giùm tôi cái... điếu.
Rồi tôi vơ lấy cỗ bài đã thấy ở sau đùi kí Vũ, tay cầm sẵn
gói thuốc, làm như bỏ nó vào túi, khoan thai quệt diêm kéo điếu thuốc lào. Cỗ
bài đã chang thật kĩ trước khi mình nhổ nước rồi, quay lại, kí Vũ chỉ việc chia
tự nhiên. Lớp đầu, tôi được quân trếch, bồi An quân đầm, kí Vũ quân tây với ông
"thạo" quân xì Dện quân sau lớp tây, tôi với bác An bỏ dở, mặc cho
hai bên cắn tố với nhau.
Trống ngực tôi thấy rung lên thình thình.
Mòng có bao nhiêu tiền đã quăng ra tố hết! Lát đến quân tây,
ông kia được ba xì, nhưng kí Vũ được những bốn tây! Kí Vũ ung dung vơ đống bạc
giấy tới ngót bốn mươi đồng.
Lần này thì đến lượt bác bồi An ngẫu nhiên bò nhoài ra:
- "Ông tham", ném giùm tôi cái điếu.
° ° °
Buổi sáng hôm sau, qua phố Hàng Lọng, tôi gặp bác An tiễn
chân ông chú của bác ra tàu. Ông chú bác An rũ rượi người ra như con chim bị đạn.
Tôi đi bên này đường nên không ai trông thấy, chờ đến khi bác ta từ ga trở xuống,
tôi mới lại gần...
- Kìa, ông tham !
- Vâng, tôi đang tìm ông, đưa ông chỗ này cho phải đạo.
Tôi đưa ra chục bạc. Bác An mừng cuống quít, vồ lẩy tập giấy
bạc mà rằng:
- Rõ khổ! Sáng hôm nay tôi chạy long cả tóc gáy mới vay nổi đồng
bạc cho ông lão về tàu. Xin cảm ơn ông.
- Ông lão sau có nói gì không?
- Chả nói gì cả. Ông ấy gặp cảnh cay như thế là sự rất thường
!
- Thế còn con giai ông ta?
- "Ốm no thì bò dậy" vậy... Thôi, chẳng qua là số
nó chết, nó có vô phúc thì mới sinh vào làm con lão ta !...
Một hồi còi tàu rúc lên vang giời, xen lẫn với nhừng tiếng
ánh xe nghiến trên đường sắt tưởng như lay chuyển cả phố Hàng Cỏ.
Tôi bắt tay bác An rồi gọi xe quay đi.
Nhân dịp này, tôi tình cờ được chục bạc "bổng".
Nhưng khi nghĩ đến người con giai ốm kia phải có con sâm mới
mong qua khỏi, khi nghĩ đến ông bố vô lương tâm đang ngồi ở một toa trong chuyến
tàu vừa mở máy ấy, tôi không khỏi thấy trong mình khó chịu, hình như cũng bốc
hoả lên vậy, dù chẳng giống với tao xe phun khói lúc rời sân ga...
--------------------------------
|
Hãng bán quần áo nổi tiếng ở Paris. |
|
|
Giày gót thấp, có dây buộc. |
|
|
Tiếng Pháp, mot technique nghĩa là từ chuyên môn, ngày nay
gọi là thuật ngữ. |
|
|
Hoàng đế cuối cùng của nhà Mãn Thanh, bị Cách mạng Tân Hợi
(1911) đánh đỗ về sau được Nhật dùng làm vua bù nhìn Mãn Châu quốc do Nhật dựng
lên ở đông bắc Trung Quốc. |
IV
Ba nhân vật
Tôi đang nằm nghĩ vớ vẩn về sự dùng mười đồng bạc vừa hưởng
được trong khi làm cái phận sự ngồi cản ở phố Hàng Giò. Chưa biết rằng
nên để số tiền ấy tiêu vào việc gì! Để thù tạc mấy anh em trong làng b...
cho sự giao thiệp được rộng thêm hay là nhờ một người bạn thân của mình lấy số
tiền này làm vốn để đóng thêm một vài mòng cho mình khỏi mang tiếng với
ông ấm B... là đồ vô tích sự? Giữa lúc ấy, bác Vũ đẩy cửa bước vào. Tối hôm
nay, bác đã cất kĩ cái áo tây vàng và đóng một bộ quần áo chú rể: khăn nhiễu,
áo đoạn 1,
giày ban. Cách trang sức ấy đã chuộc được cho bác ta cái vẻ một dân thầy và gây
cho tôi cái cảm tưởng như không phải mình gặp gỡ một tay bịp nữa. Ngồi chửa được
hai phút, bác đã ân cần mời tôi đến chơi nhà bác ta. Tôi nhận lời, cùng bác ra
đi, lên xe.
Lần này, tôi đã khỏi bận tâm trong khi lại ngồi chung xe với
bác Vũ, không còn lo đến sự bất thình lình gặp phải một vài người quen, họ sẽ gật
đầu đáp cái chào của mình rồi nhìn theo mình bằng con mắt soi mói như lần thứ
nhất đến phố Hàng Giò. Lần ấy, tôi không hiểu rằng mấy người kia đã làm lạ là
vì tại họ thấy tôi, một người không hề tạp giao mà lại đi ngồi chung với một
cánh trếch, hay là tại bác Vũ một tay bịp lũa đến nỗi đã nhiều
người rõ mặt, thuộc tên.
- Anh ngồi lùi về đằng sau cho họ kéo được dễ.
Mới hôm qua, lúc ông ấm B... ghép chúng tôi làm "đồng
chí", thoạt đầu nói với tôi, kí Vũ còn ra vẻ kính cẩn, thỉnh thoảng lại
"thưa ông... " với "bẩm ngài... " Sau lúc đã xúm vào cùng
nhau "làm gỏi" ông lão chú họ bồi An trở đi, kí Vũ đã gọi tôi:
"Này bác !... " Đến hôm nay bác ta hạ ngay tôi xuống bực nữa là anh rồi!
Tôi đã ngoạm phải chục bạc rồi, còn ai cần giữ gìn với tôi?
Kể ra, gọi thế cũng tiện, sự xưng hô đó chẳng những không làm
tôi phật ý mà còn cho tôi được dịp biết thêm rằng : những người đã cùng nhau
tham mưu chung một việc gì thì dễ thân nhau lắm. Nhất là khi nào mưu tính những
việc có tính cách... phi pháp như chúng tôi đây, bọn đồng nghiệp lại càng được
thể dễ suồng sã với nhau.
° ° °
- Ông nào đến chơi thế con?
Sau lời chào kỉnh cẩn của tôi, bà cụ đầu tóc rũ rượi nằm cạnh
một bát thuốc ở trong màn với tay vén màn ra, gượng cười mà chào lại tôi rồi
quay sang hỏi anh Vũ thế. Anh ta vội ra hiệu cho tôi đừng nói gì cả, rồi đáp lại
mẹ rằng:
- Thưa đẻ, đây là ông kí làm cùng buồng giấy với con. Chính
ông đã cho con vay tiền để mua cao cho đẻ đấy.
Trước sự bất ngờ đến bậc này, tôi chỉ biết đứng im như tượng
gỗ, không còn biết nói năng sao. Bà cụ giở một cái gối để ngay đầu giường, lẩy
bánh cao ra ngắm nghía, rồi vừa thở vừa nói rằng:
- Xin cảm ơn ông lắm! Rõ quý hoá bụng ông quá, em nó thật tốt
số lắm mới gặp được ông. Thôi thì ông nên hết sức trông nom che chở cho em nó hộ
tôi để chúng tôi chịu ơn ông một thể...
Tôi đành phải lựa lời nói dối bà cụ:
- Được ạ, bác ấy đã vào làm với con thì cụ cứ yên lòng.
- Mời bác ra ngồi chơi với em... Đặt ấm nước đi con !
Chúng tôi kéo nhau ra ngồi tận đầu phòng đằng kia để bà cụ được
tĩnh. Anh Vũ đăm đăm đôi mắt nhìn tôi một cách cảm động rồi kể lể cái đoạn đời
"chẳng ra gì" của anh.
Đó là một người trong số nghìn vạn người bị kinh tế làm thành
ra thất nghiệp.
Có một khối óc minh mẫn, có hai cánh tay ưa hoạt động, anh ta
nay lâm phải cảnh mà ở trong đó, anh mới tỉnh ngộ ra rằng những câu luân lí:
"Sinh ra làm người, ai cũng cỏ bổn phận làm việc", đối với cuộc đời
đã thành ra rất vô nghĩa lí, đến nỗi không có lấy một chút giá trị tương đương.
Giữa lúc "ưu nhàn bất đắc dĩ", giữa lúc phải lo tiền thuốc cho mẹ
ngoài các việc phải chạy gạo từng bữa nữa, anh ta may gặp được ông ấm B... truyền
ngón cho để mưu sự sống tạm. Nay, gần thuộc nghề, đã có thể chạy được cả tiền
mua cao cho mẹ, anh ta chỉ còn phải lo sao cho mẹ được vững dạ rằng con
"đã có việc làm".
Cái lòng hiếu của anh ta đã làm cho anh ta hoá ra mạo hiểm?
Đây, anh nói:
- Tôi còn mẹ già mà anh thấy đó. Mẹ tôi chỉ có một mình tôi,
goá chồng từ khi tôi còn bú, mà ở vậy được nuôi tôi, không phải là ít công ít của!
Nhưng tôi chưa làm nổi một việc gì để báo đáp... Tôi đã nghĩ thiên phương bách
kế mà không tính được nước gì nên cùng đồ, phải muối mặt theo nghề này... Tuy vậy,
tôi cũng còn may chỉ phải cờ gian bạc lận thôi, chứ giá phải trộm, cướp, giết
người mới có cách nuôi sống mẹ tôi, có lẽ tôi cũng đến phải làm cả! Anh tưởng hễ
là con bạc bịp thì không ai có mẹ nữa à?
Đến đây anh Vũ mới chuyển cái giọng căm khổ sang một giọng
khác:
- Hôm nay tôi đã khoan khoái một chút. Sự ứng đối có ý thức của
anh lúc nãy đã có thể... cứu sống được mẹ tôi. Còn việc tôi đã làm cho anh phải
ép lòng đóng kịch trong giây lát, xin anh tha lỗi vậy...
Rồi anh cười vui.
Nghĩ cái đởi anh rõ đáng phàn nàn và cũng đáng thương!
Những phương tiện của anh Vũ trong nghề cờ gian bạc lận tôi
đã nói rõ, tôi chỉ còn muốn biết quan niệm của anh ta về Cả Ủn với ấm B... Tôi
phiền anh ta cho biết tường tận cuộc đời kì lạ với những thủ đoạn của hai người
này...
Nghĩ một lúc, anh Vũ nói:
- Ta hãy tưởng tượng đến cái thời mà bọn Ba Sống, Hai Tôm...
° ° °
Vào thời ấy Ba Sống, Hai Tôm là hai nhân vật quan trọng của
xã hội. Ngoài việc làm cho "đồng tiền được lưu thông trong xứ", họ
còn làm cho bọn tổng lí "đánh mất" tiền thuế bị cách, đám viên chức
thụt két bị tù... Ấy là chưa kể rằng những việc của những người trên này còn đẻ
sinh đôi, sinh ba ra bao nhiêu công việc cho nhiều người khác nữa.
Một ông trùm trong hai ông trên này cũng đã có dưới quyền sai
phái đến non trăm tên tạ với hai bác tài. Bác tài nghĩa là... bác
tài. Còn tạ là những anh đầu trâu, mặt ngựa, chuyên môn đi đón khách
cho sòng, hạng người hai, ba lá mặt, đang mời chào ân cần đấy mà có thể giở giọng
thô bỉ ngay đấy, vừa đóng những vai đầy tớ dễ bảo lại vừa là du côn. Chúng vẫn
cúi đầu mở cửa xe hơi cho bọn khách cờ bạc mà chủ chúng đã đi lôi kéo ở các tỉnh
xa về Hà Thành hoặc vẫn vây quanh lấy những xe tay đón mọi người vào trong
"lưới nhện" của chúng.
Có đứa chỉ dắt khách để cho khách gỡ lấy cái chết rồi bằng
vào số tiền của khách thua mà ăn phần; cũng có đứa ăn lương ngày, lương tháng nữa.
Chúng đã giúp hai ông trùm để làm cho xã hội "có việc" nghĩa là giúp
trùm ngày ngày phá đổ một toà nhà này để xây dựng toà nhà kia.
Trong bọn tạ của Ba Sống, Hai Tôm có một chú Tàu
lai trông người rất phúc hậu. Vì lấy vợ An Nam và không bao giờ nói nửa câu tiếng
Tàu, đồng bào ta tưởng chú cũng là đồng bào. Có một mụ hàng cơm ở xế cửa nhà cũ
vẫn gọi tâng chú là ông phán. "Ông phán" này cả ngày chỉ ngồi đếm ô
mai cho vợ trong một cửa hiệu bán đồ vặt rộng không hơn cái lỗ mũi ở phố Cầu Gỗ
chứ không từng sớm vác ô đi, tối vác về bao giờ. Nếu mụ hàng cơm thấy trong đám
khách nhà mình có kẻ nào có máu mặt một tí là mụ đem ngay mồi đỏ đen ra dử, bảo
khách: "Các ông tiêu khiển một lúc cho qua thì giờ" và bảo thằng nhỏ:
" Mày sang trước cửa mời "ông phán" sang chơi". Từ cuộc cò
con đến cuộc đi gỡ sòng, đối với hạng khéo mơn, không có gì là khó
Hai người chỉ có việc thế mà tháng tháng nhận được hàng cọc
tiền lớn của Ba Sống và Hai Tôm.
Hai năm sau, chú Tàu lai có một nóc nhà. Năm sau nữa, chú có
hai nóc nhà. Bây giờ, con trai chú vẫn cưỡi xe đạp luých sơn màu cánh
gián đi học "lít-xê". Vợ chú thì đậm đà ra, trông như một bà lớn mà
chú cũng thành một ông phú hộ Việt Nam.
Chú tên là Cả Ủn.
Lúc "người giữ cái két lớn nhất của làng b..." còn
là một anh tạ, có một cậu ấm sống sót bằng sự đã tìm nổi cách trừ khử những
"cái đáng nơm nớp lo ngại là cái đỏ, cái đen trong sự bạc bài". Cậu ấm
vẫn tìm một con đường tự lập mà mãi không xong vì chẳng mấy khi có thiếc.
Vì thế, cậu phải chạy đến nhà Cả Ủn vay lãi hoặc đem mòng đến đó bắt
cho tiện. Nhưng cậu tuy mất công xông pha trên trận tiền mà thường chỉ được nhận
có một phần tư số tiền của bọn quých thua. Vì Cả Ủn ngồi vào cản đỡ mất
một phần, rồi lại con hắn đứng hầu quanh đám bạc, rót nước, chia lại bài cũng
hưởng một phần thứ ba nữa. Công lao của cậu ấm kia thực là công cốc!
Cậu ấm tuy có cái tật tiêu tiền như phá nhưng cũng có đức
khác: thấy trong bọn anh em có ai túng bấn là lôi ngay vào bàn làm tạ để
có một cớ giúp anh em. Trong sự đánh bạc, vì mải để người khác hưởng, cậu chẳng
ăn thua gì, dù vẫn nổi danh là tay "thanh". Nổi danh là gì thì đáng mừng
chứ nổi danh là cờ bạc bịp thì chỉ có chết, cậu ấm đến lúc lê cái địa vị có người
gọi là ông hoặc là cụ, thành thử phải ngồi bó tay một chỗ, đành giữ cái chức cố
vấn nhường cho bọn đồ đệ chiến trường. Sau nửa đời người hết cách xoay, đến
nay, vẫn chỉ xơ như nhộng.
Cậu ấm đó bây giờ là ông ấm B...
Cả Ủn với ấm B... hai người "cầm cân nảy mực" cho đảng
bạc bịp ở Hà Thành, đối với người ngoại cuộc tuy được coi như hai cánh tay cùng
một thân thể thật nhưng một kẻ trở nên giàu, một anh vẫn kiết xác, thì chỉ một
lẽ xưa kia hai bên đã cùng nhau chia bùi sẻ ngọt, lăn lóc trong một nghề, chẳng
đủ lấp nổi cái hố giữa hai bên.
Chung quy, hai ngọn núi cao vẫn cách bức nhau bằng một vực thẳm.
° ° °
- Con ơi, con cắt thêm cho đẻ mấy miếng cao !
Lời bà cụ truyền ra, anh Vũ cũng vừa xong câu chuyện. Anh đã
thuật chuyện người khác, thế đối với tôi đã là đủ, anh chẳng cần phải nói thêm về
chuyện anh.
Hôm nay, tôi được biết ba người. Ba người có thể tiêu biểu
cho cái tinh thần của làng bịp.
Tôi rất vui lòng khi thấy anh Vũ cầm một đĩa cao đầy dâng mẹ,
nhưng cũng không khỏi ngẫm nghĩ đến nỗi không có thuốc của người con giai lão
già thua bạc ở nhà bồi An. Muốn dò hỏi đến tận đáy lòng một người tri kỉ mai
sau của tôi, tôi đánh bạo hỏi Vũ câu này:
- Anh có hối hận vì chúng mình đã cướp tiền thuốc của con
giai người, đem về tiêu xa xỉ và săn sóc cho người nhà mình không?
Thì ra anh Vũ đã hiểu được tôi rồi. Vì anh không tỏ ý giận
chút nào, chỉ thản nhiên vặn lại tôi:
- Thế ngộ chúng mình đã thua nó?
--------------------------------
|
Một thứ hàng tơ mặc óng ánh khá đẹp. |
V
Bốn đồng ngửa sấp
Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ.
Cái két lù lù như cái tủ áo của ông, lúc thu tiền bán gỗ, ních chặt những giấy
bạc, thường khi vì đem tiền gỉn nhà băng mà vơi hẳn. Không những là tay buôn lớn
ông lại còn là người nổi danh trong làng chơi. Xuống xóm chị em, chỉ một chầu
xoàng, ông thường quăng ra được trăm bạc 1.
Đánh bạc, thua năm, bảy trăm, một nghìn, ông nói: "Thế có thấm gì! Cờ bạc
cò con!"
Hôm nay, uể oải nằm trên chiếc ghế chao, ông có vẻ nghĩ ngợi.
Đêm hôm qua, trong lúc cao hứng, ông đã thua một canh xóc đĩa
tới đúng một nghìn. Một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền "nước bọt" nữa.
Tiền "nước bọt", ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh
quen biết, để đặt một cái chẵn cuối cùng rồi rũ áo đứng lên.
Ông được quen ông nghị vì anh em giới thiệu: người ấy là một
người vừa xin được một cái "péc mi đờ cúp" 2.
Kết giao với người như thế, ông cầm chắc sẽ có lợi cho sự buôn bán sau này...
Một nghìn với ba trăm, một số tiền ông vẫn cho là "cò
con", lẽ nào khiến ông đến phải... nghĩ ngợi? Không ! Ông chẳng nghĩ ngợi
gì vì số tiền ấy ông nghĩ là nghĩ đến lời quả quyết của một người bạn thân nói
với ông, sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
Người bạn ấy lại cam đoan rằng bịp chính là cái anh chàng tự xưng là "ông
nghị". Chỉ một câu này cũng đủ khiến ông dựng đứng tóc gáy lên, như đang lần
bước trong khoảng tối tăm mà giẫm ngay phải một con chuột chết vậy.
- Ông nghị ấy là bịp ! Có lẽ nào ?
Thế là ông đâm ra nửa ngờ nửa tin.
- Người ông mới được quen có thật là viên hàng tỉnh trên thượng
du hay không chẳng biết, nhưng cứ cái dáng người bệ vệ, đứng đắn phong lưu ấy cứ
sự cùng thua với ông hơn bốn trăm bạc, mà lại bảo là bịp thì có lẽ nào!
- Thời buổi này, người ta có hàng trăm, hàng nghìn chiếc mặt
nạ để đeo vào rồi tha hồ mà "kinh tế", sự cùng thua bạc với mình kia
chỉ là một khoé rất khôn ngoan phụ thuộc vào việc xếp cảnh, biết đâu!...
Chưa biết quyết nên ngờ hay tin, ông còn hoài nghi, nghĩ ngợi...
Đến đây, người vú ẵm cậu con út của ông bước vào. Cậu bé, hai
má bánh đúc lại lúm đồng tiền, tuổi chưa đầy lên hai, cứ nhoài người ra, tay
mũm mĩm giơ đến phía ông, miệng ấp úng gọi: "Âu! Ậu!..." Chẳng như mọi
lần khác, thấy con theo mình thì ông xốc ngay vào lòng để hôn con cho đến phát
khóc, phát thét, lần này ông quắc mắt quát người vú: "Ẵm nó ra ngoài
kia!" Rồi ông lại tự gặt với mình: thì nghĩ ngợi làm cóc gì? Chốc nữa người
ta đến đây đòi tiền, mình sẽ lựa lời đưa đẩy dò xét ý tứ xem sao rồi... nếu quả
như lời... thì... cho một vố" Phải, nghìn ba trăm bạc tuy không là bao
nhưng là của bị mất, không vì đỏ đen mà lại vì bịp, còn chi đáng tức cho bằng?
Cho một vố, tuy định như thế rồi nhưng nói cho cùng, chính ông, ông cũng chưa
hiểu rõ rằng "vố" là cái sự gì ông định thi thố đây !...
Thôi đi, ông Mầu ơi, ông không phải doạ! Đúng như lời hẹn,
cái người ông đang nóng lòng chờ đợi để mong lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ
đen, rõ trắng, đã đứng ngoài phòng giấy ông đây kia.
- Bẩm lạy quan lớn...
- Không dám ạ... Lạy quan lớn, rước quan lớn ngồi.
Ông Mầu vội vàng đứng dậy, bỏ chiếc ghế chao, quay vào phía
trong:
- Anh Ba đâu?. Đặt nước chè !
Ấy đấy trước mặt người khách trông rất bệ vệ, sự hấp tấp giữ
nghi lễ của ông tỏ răng chưa chi ông đã sắp bại trận. Phân ngôi chu khách đâu đấy
rồi, ông Mầu nhìn chòng chọc khách một cách có ý tứ, như muốn nói: "Ông rõ
mày rồi. Ông sắp giật cái mặt nạ ở mặt mày xuồng đây.". Còn khách thì vẫn
thản nhiên như không để ỷ đến cử chi của ông chút nào.
Lúc này, giũa hai người có luồng không khí im lặng rất khó chịu...
Vì cả hai bên có lẽ cùng đoán được rằng sẽ có sự không hay xảy ra.
- Quan lởn đến lấy số tiền hôm qua tôi vay?
- Bẩm vâng ạ.
Ông nghị đáp thế rồi đưa mắt nhìn khắp gian phòng. Thế là cả
hai lại ngồi im một lúc lâu, người tìm câu nhập đề, kẻ tìm câu ưng đối. Cuộc
"chiến tranh tĩnh toạ" nảy nếu không được đứa đầy tớ bưng ra khay nước
chè thì chưa biết bao giờ mới có hồi trống thu quân. Sau cùng ông Mầu đánh bạo
:
- Canh bạc hôm qua, có người đã nói rõ cái lẽ tại sao tôi
thua rồi; ngài dạy hộ: bây giờ tôi nên xừ trí với ngài ra sao?
Cái vẽ ngạc nhiên ngây thơ của ông nghị nó hiện ra sau câu
nói đường đột lạ tai kia, hầu như muốn gọi quỷ thần hai vai soi xét.
- Thưa ngài, ngài nói gì, tôi không hiểu, ngài nói lại cho
nghe?
Trước cái thái độ rất bình tĩnh ấy, ông Mầu cũng hơi chột dạ,
đã tưởng mình lầm. Nhưng ông cũng liều một phen mà quả quyết:
- Thôi đi, ngài đừng giả ngây, giả dại nữa. Chính tôi đã bị
ngài bịp, tôi rõ mọi khoé của ngài rồi.
- Tôi... bịp ngài à??? Lấy gì lảm bằng cớ?
- Tiếc rằng lúc ngài hành động tôi lại không có sẵn cái máy
quay phim!
Lời doạ của ông Mầu thế mà có công hiệu. Ông nghị chẳng còn
đóng nổi cái vai kịch ngạc nhiên nữa, mà vẻ bẽn lẽn hiện ngay trên mặt. Thấy thế
công của mình có phần thắng, ông Mầu phóng thêm một mũi thương nữa:
- Chỗ người lớn với nhau, ông cứ nhận đi là phải. Ông làm nghề
bạc bịp thì cũng như tôi làm nghề buôn gỗ chứ có khác gì. Ông có gan nhận, tôi
xin phục là người quân tử, nếu ông chối thì chối cũng chẳng được nào mà lại tỏ
mình là tiểu nhân.
Biết rằng việc mình !ám đã bị người tố giác, lại muốn làm
"quân tử" nữa, ông nghị trơ trẽn mả rằng :
- Vâng. quả có thế...
Nghe câu này. ông Mâu sung sướng như một vị quan toà đã khám
phá nổi một cái nghi án, cười mà hỏi đùa ông"nghị bịp" :
- Việc đã vỡ rồi, thế thì bây giờ ông đến đòi tiền tôi hay để
tôi đòi tiền ông?
- Tôi đã coi ngài là người quân tử mà nhận việc tôi làm một
cách quân tử như thế, tưởng ngài chăng nỡ nào dùng cách... tiểu nhân đối phó với
tôi. Nêu tôi cứ nhất mực chối cãi, không có bằng cớ, thì ngài làm gì? Ngài vừa
bảo rằng cái bịp cua tôi cũng là một nghề cũng như đi buôn, được ăn, thua chịu
chứ.
- Thôi. ngài có gan nhận, thế là quân tử, đã đành. Mà tôi van
giữ thái độ quân tử, nghĩa là không đòi lại số tiền đã thua. Thôi, xí xoá !...
Người đời ai đã làm việc bậy, sau khi bị lột mặt nạ, thường
có thói lại làm già cho được đỡ trơ bằng cách thuyết đến nhưng lí luận cao xa,
viển vông hay là bỏ đạo đức bằng cách nguỵ biện. Ông nghị này cũng có thói ấy.
Bị người đánh mình trúng phải chỗ yếu, ông nghị cũng tìm cách trả miếng vào giữa
chỗ yếu kẻ đã quật đổ mình.
- Tôi vẫn chưa chịu... Được rồi. ngài trả nữa tôi cũng ơn mà
không tôi cũng phải chịu thật nhưng đó là đối với người khác tôi mới thế, chứ đối
với ngài quyệt không!
- Làm sao?
- Tôi đã có cách... Nhược điểm kia, tôi đã nắm được rồi. Ngài
tuy là người có máu chơi bời nhưng là người con chí hiếu. Ngài nên biết: tôi sẽ
mách cụ bá nhà...
- ???
- Thật đấy!
- Thì ngài được lợi gì?
- Chẳng lợi gì cả. Nhưng để cụ biết rằng ngài là người con
hư. thế thôi.
Ôi cái tâm lí người đời sao mà nó kì lạ!
Ông Mầu đem mồi quân tử ra khiến ông nghị phải nhận
mình là bịp thì ông nghị lại lấy mồi chí hiếu bắt ông Mầu đã quých lại
quých thêm. Hai con cáo già xoay nhau cùng băng luân thường, đạo lí cả. Thì ra
dù là bịp hay là lương thiện, ta vẫn bị cái luân thường. cái đạo lí nó thuốc ta.
hoặc ta bịp ta! Ta giống mọi người, mọi người cũng giống ông Mầu, lại
đến lượt ông Mầu giống ta, chung quy nhất loạt đều để cho cái luân lí, cái đạo
đức nó vẫn bịp mình mà không biết!
Cho nên sau khi nghĩ ngợi hồi lâu, ông Mầu đứng lên ra... mở
két ! Sự không ngờ là ông Mầu lạI trao thêm tiền cho người đã bịp mình một cách
cảm động nữa, và thêm:
- Ba trăm bạc là qụý nhưng gặp một người... tri kỉ cỏn quý
hơn. Tôi chẳng chịu mang tiếng tiểu nhân với ngài.
Ông nghị cầm lấy tiền:
- Dù sao tôi cũng biết phân biệt những ai tiểu nhân, những ai
quân tử ở đời. Chúng ta còn nhiều phen gặp gỡ.
Rồi ông đẩy ghế, đứng lên.
Nhưng ông Mầu giữ lấy vạt áo ông nghị, cười mà rằng:
- Khoan đã!.. Đệ đã được rõ cái tài của huynh đâu!
Ông nghị cũng bật cười, lại ngồi xuống. Hôm nay, ông Mầu mới
được dịp đặc biệt rõ rằng bốn đồng tiên giấy tuy là những vật vô tri vô giác thật,
nhưng ai để công luyện tập công có thể sai khiến nó cứ lộn tung trong cái bát
cái đĩa, rồi úp sấp hay lật ngửa theo như ý muốn của mình...
° ° °
Khối óc của người ta còn có nhiều phen nghĩ cách chống lại được
cả tạo vật biến đổi được cả cơ giới, lẽ tất nhiên chẳng khi nào người ta chịu để
yên cho bốn đồng tiền giấy kia được tự do úp sấp, lật ngửa. Cái công dụng cua sự
sấp, ngửa kia lại còn to tát đến nỗi tuỳ nó, người ta phải bán nhà, cầm ruộng,
hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ
theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
Vào khoảng trước năm 1900, có một tên tạ của trùm Ba Sống
sáng kiến được lối đánh xóc đĩa đòn kim. Anh này dùng một cái đĩa lồi lòng
với một cái bát trông tưởng là sâu nhưng chính ra lại rất nông, vì nó dày gấp
đôi thứ bát khác. Cuốn "Sự đổ bác" nếu chép đến đây tất phải dùng đến
bốn tiếng "thời đại bát thửa" vì các lò bát hồi ấy thỉnh thoảng lại
được tiếp một người đi giày Tàu, vận quần áo lụa, đến thửa một chục bát đong
chè lòng rất đầy bằng một giá khá cao. Đòn kim là thứ đòn rất dễ ăn vì
nó bắt canh bạc cứ rền tràn. Đợi lúc mọi người đã nóng mặt, canh bạc
đã có vẻ xô xát, lúc ấy bọn tạ mới dàn quân cản trở, một anh sà
vào đắt một tiếng chẵn hay lẻ bằng một cuộn giấy bạc tướng, hung hăng mở bát,
ném hẳn cái bát ra tận cuối... thế giới đằng kia! Người ta không ai còn thì giờ
để ỷ nữa, vì tôi thua thì tôi cỏn ngẩn người ra tiếc của. Ông được thì ông cũng
chỉ biết chúi mũi xuống chiếu, hò hét giam tiền. Lúc hổn loạn ấy là lúc họ tráo
cái bát thửa vào và đã giấu biến hẳn cái bát cũ kia đi.
Địa vị cái bát thửa chỉ được người ta coi trọng trong một vài
năm, sau vì thấy lợi, thiên hạ ùa nhau vào trọng dụng nó quá, làm nó dậy tiếng
quá nên nó phải chịu cái số phận chết yểu.
Một anh tạ khác, dưới quyền Hai Tôm lại sáng kiến
được ngay lối đánh xóc đĩa đòn ve, thay vào đòn kim. Người ta lấy
năm, sáu viên bi ở trong bánh xe ô tô bỏ vào trong cái túi khâu kĩ lưỡng, buộc
giậu ở cổ tay. Lúc xóc, người cái nghiêng đĩa cho bốn đồng tiền giấy bị cặp chịt
vào miệng bát cho không "cựa cậy" được nữa. Ai cũng tưởng tiền vẫn dậy
đó những tiếng kêu tanh tách mà mọi người tưởng tiếng bốn đồng tiền trong bát
đĩa, chính lại là tiếng kêu của những hòn bi trong cổ tay người xóc. Cho nên ta
phải ngạc nhiên khi thấy rằng ông này đánh xóc đĩa cao quá, bán hàng chục bát
không thua bát nào cả, hoặc canh bạc ấy rất quái lạ, đúng 20 tiếng chẵn rền!
Có cái thuật này rồi, bọn bịp cứ tự nhiên vơ tiền bỏ túi sau khi phán: lẻ
về, bán chẵn, bán lẻ, thừa chẵn, thừa lẻ.
Tinh ma hơn nữa, còn có người có "hoa tay" đến nỗi
vừa xóc vừa dòm trộm vào trong bát, đánh mười tiếng cũng trúng cả mười: dủ đã
nghi mà rình mò, mà tuần thật kĩ, cũng đố ai khám phá được ra.
Ông nghị đã thịt ông Mầu bằng ngón đòn thứ ba này vậy. Nhưng
ông nghị đã bày trò cho một tay sai của ông giở đến đòn trinh thám kia,
còn mình trong lúc ấy, lại vào hùa với ông Mầu, củng đánh với ông. Cho nên đánh
bạc đã già đời đến như ông Mầu mà còn bị cho vào xiếc.
Ông nghị kể trên nào phải ai xa lạ. chính là ông ấm B.. Còn
người cho tôi được rõ thủ đoạn "tàng hình" với "chính
khách" của ông ấm... là kí Vũ.
° ° °
Vào hồi Tự Đức, tỉnh Hải Dương với Bắc Ninh có giặc Cai Vàng.
Đồng thời với giặc Cai Vàng, nước ta còn bị bọn giặc Tam Đường là bọn giặc Tàu
tràn sang quấy nhiễu. Bọn Tam Đường lại có thể là lính được, nếu triều đình nước
nhà biết cách dùng họ. Dân gian đều có ý ấy và dần dần ý ấy thấu đến tai vua.
Tại Hưng Yên có mọt vi quan huyện muốn hấng lấy cái trọng
trách mộ bọn khách Tam Đường. Tiền trong công khố chẳng đủ, quan huyện tìm
cách... kinh doanh.
Quan nghĩ ngợi trong ba hôm, đến hôm thứ tư, sai lính trải
chiếu la liệt khắp sân huyện đường cho dân tự do mớ bát. Canh bạc ấy có thể
bảo là không tiền tuyệt hậu ở đất Nam. Hồ lì là một thầy đề, xóc
cái chính là quan huyện. Con bạc gồm đủ ta lẫn khách, đánh phần nhiều bằng
bạc nén. Thoạt đầu, quan chỉ bán chứ không mở. Canh bạc đã thấy xô xát, quan mới
đứng dậy, để cái chức xóc cho một người dân. Quan lảng vảng ở ngoài,
có ỷ dò thế trận. Hốt nhiên quan vào mở một tiếng, thua to! Mặt quan tái như gà
cắt tiết. Rồi quan bảo thằng người nhà trông hộ bát, đi phóng uế một lát rồi
vào. Lúc vào quan hò cả làng đặt tiền ra xong, cầm ngay bát chực mở.. Cả làng
xúm vào kêu quan chưa xóc nhưng quan nhất định là đã xóc rồi. Lần mở trước,
quan kêu là chẵn đã phải giam. Thấy quan lẫn, cả làng lại
xô nhau vào đánh chẵn. Mấy chú khách thương hại quan đã quá thua nên lẫn,
quả quyết là quan chưa xóc. Nhưng quan vẫn nhất mực là đã xóc, họ bực mình, ra
điều "đã muốn chết thì cho chết", ồ ạt cá nhau đặt tiền và chiếu chẵn.
Quan cầm bát vừa mở vừa kêu: lẻ về! Rồi quan vơ hết cả những đồng nén
bạc vì... lẻ thật, thế có lạ không?
Cả làng ai cũng lấy làm kinh ngạc. Không ai đoán được
rằng lần mở trước, chính là lẻ nhưng quan đã xướng lên là chẵn rồi úp bát ngay,
giam tiền. Quan đã đánh vào chỗ yếu mọi người là cái lòng tham. Đòn này ta nên
gọi là đòn hiệp sĩ mới phải.
Hôm sau, quan có đủ số bạc nén để mộ bọn giặc khách vào làm
lính, phái đi đánh giặc Cai Vàng!
Đòn hiệp sĩ này, nhiều người ngày nay còn chép cũ. Những người
ấy tuy không dùng đòn để xoay tiền dùng vào những việc hiệp, nhưng hầu hết là bọn
người gọi là thượng lưu.
--------------------------------
|
Thời ấy bằng giá gần bốn lạng vàng. |
|
|
Theo tiếng Pháp permis de coupe nghĩa là giấy phép được đẵn
gỗ trong rừng. |
VI
Ruột quân xúc xắc
Nếu có ông thánh số học tính được từ độ số ngôi sao mà khi trả
tiền xe lúng túng mãi không xong cái tính cộng, nếu có nhà sử học đại tài mà tường
thuật đám ẩu đả sai, thì cũng có ông thạo làu làu ngón bịp mà chung thân vẫn mắc
đủ ngón đòn. ông ấy là một ông chú họ.
Đã giới thiệu cùng độc giả ông chúa nghề bịp, tôi lại muốn độc
giả làm quen với một ông chung thân là "con bò vắt sữa" cho tụi ông ấm
B...
Cái máu đánh bạc của ông chú tôi không hiểu nó pha chất đỏ,
đen thế nào mà mỗi khi đá động đến ông, ai cũng phải lắc đầu mà phê một
câu... "bút khôn xiết tả!". Làm cho nhà nước lương tháng đã tới hơn
hai trăm đồng ông thường bắt vợ, mới vào ngày mồng 10 đầu tháng trở đi đã phải
chép miệng: "Túng quá! Nhà không còn lấy một xu"'; Bình phẩm ông, những
người quen thuộc đã ban cho ông cái đức lớn: lột áo người sống, bán áo người
chết. Vì đã có lần vào lúc ông mải "gỡ" một ông bạn thân (thân lắm!)
đến chơi với ông đã bị ông mượn cái áo mồi đem lên Vân Bảo 1,
để bạn cứ phải nằm dài đến nửa tháng chờ áo ở nhà mình, lại có lần nữa, bên
láng giềng có người chết, tang gia giữa lúc bối rối đem tiền sang nhờ ông đi hộ
cỗ ván, ông cũng có gan đem ngay sô tiền "cắt cổ" ấy đi nướng đến
tong hết!
Ông chỉ biết hễ hôm nay có tiền là phải đi đánh bạc cho thua
nhẵn nhụi ngay, chớ ngày mai có còn gạo hay không là ông không cần biết. Ngày
nào vợ ông cũng nói ông như xẻo từng miếng thịt một mà ông cũng vẫn sống được
bình tĩnh như mọi người.
Hôm nay, tôi tìm đến ông, có ý muốn làm một điều hữu ích cho
ông muốn nói rõ cho ông ráng bây giờ, người ta đánh bạc không đỏ đen nữa,
muốn...
Tôi bị một chuyến tẽn! Ông chú tôi, nửa đời người lăn lóc
trong trường đời đổ bác, đã thạo lắm, không để cho một ai thịt nữa rồi! Nghe giọng
ông, tôi phải tin rằng ít ra ông cũng có sự đụng chạm thân mật với ông ấm B...
Ông cắt nghĩa cho tôi hiểu những sự tôi đã thừa hiếu rằng:
- "Ấm B... tên tục là Tư Quân, trong khi giao tiếp với bọn
bồi bếp còn có tên là ông Cửu và trong khi giao tiếp với hạng thượng lưu lại là
ông nghị. Ngồi với các ông thâu, ông huyện, ấm B... thừa tư cách nói chuyện:
tên này chạy chánh tổng như thế, tên kia chạy li trưởng như thế... Ngôi trong
đám trếch, ấm B... cũng đủ cái thạo đời nói những câu: món nui 2 này
phải làm thế này mới khéo, hầm một con ngỗng phải có ngần ấy típ 3 mới
thật ngon...
"Ấm B... còn một bọn đồ đệ thuộc đủ hạng người: Cá Sinh,
chủ ả đào; Đại Thiềng, chủ hiệu giày; Khương Sinh Từ, trùm du côn; Mỹ Bối, chủ
hiệu vàng bạc, vân vân... Ngần này hạng người đủ trong các giới chỉ quanh năm
ngày tháng làm cái việc bắt móng cho ông. Có thể nói rằng những cuộc
rối loạn xảy ra trên khắp mặt địa cầu phần nhiều do cái bàn tay bí mật của Mạc
Tư Khoa gây nên thì những cuộc liểng xiểng của bọn thờ "chủ nghĩa đổ
bác" ở khắp Bắc Kỳ ta cũng đều do cái bàn tay bí mật của ông ấm B...
dính vào vậy. Hơn hẳn Staline về một phương diện, ấm B... đã đặt cho toà nhà
mình ở phố Hàng Cá là "kinh đô của đảng bạc bịp" trong khi Staline
chưa được lúc gọi: Moscou, capital du monde 4.
Ấm B... ngã vào đâu cũng có thể "giựt" nổi trăm bạc 5.
Những người giữ việc tài chính cho ông ta, vì nghề như Cả Ủn cũng có, vì lòng
nghĩa hiệp cũng chẳng phải là không. Thí dụ: ông Nguyễn Dình Mầu!Ngoài ra, lại
còn bao nhiêu: me tây, cô đầu hàng xáo nữa...
Ô hay! Thì ra ông chú tôi cũng đã rõ gần khắp mặt! Thế mà còn
có người bảo ông vẫn quých, vẫn bị cho vào xiếc thì có lạ tai
không?
Tôi hỏi trong sự cờ bạc, cái ngón sở thích của ông vào bậc nhất
là chơi gì. Ông kể lể rằng:
- Trạc xếch! Tài bàn, tổ tôm, xóc đĩa, bất, lì xì, cái gì họ
cũng bịp được tuốt ! Chỉ có món trạc xếch là không anh nào giở nổi lối bịp mà
thôi.
Tôi gạn xem ông có dám quả quyết như thế không, ông đáp rằng
rất có thể quả quyết được. Nghe ông kể cũng co lí. Trạc xếch là món chơi mà người
ta xâu xé nhau bằng ba quân xúc xắc cầm trên tay rơi xuống một cái bàn để cho
nó dậy bằng tứ, ngũ, lục hay là nhất, nhị, tam. Sự được, thua của lối chơi này
cũng như sự may: sấp, ngửa, chẵn, lẻ của xóc đĩa vậy. Có điều lối chơi này nhiều
người đã phải nhận rằng nó "chính đại quang minh" hơn cả vì khác hẳn
với xóc đĩa còn có bát úp, lối chơi này, ba quân bài cầm trong lòng bàn tay
gieo xuống bát, cả làng nhìn chòng chọc, thì có hoạ thánh hay thần mới bịp được
mặt người ta.
Tôi lại hỏi xem người vẫn cùng ông húc với nhau là
ai thì ông kêu: một ông tham làm ở sở Canh nông tên là Ngọc.
Tôi đứng dậy cáo thoái, bụng nghĩ: "Thôi chết rồi...
"
Đoạn tôi ra đường, gọi xe, lên bảo phu kéo đến phố Hàng Cá.
Trong khi ngồi trên xe, tôi lẩn thẩn nghĩ ngợi mãi: Quái! Chú tôi đã rõ hết
nhân vật quan trọng cửa làng bịp như thế mà lại còn thua là tại làm sao! Có lẽ
vì tại nghe nhiều hơn mắt thấy nên vẫn bị cái nạn ông tham Ngọc cho vào tròng.
Có người biết đến rõ mười mươi rồi cỏn bị bịp, huống hồ chỉ mới
nghe hơi!
Vừa bước chân lên sân gác toà nhà ông ấm, tôi bị ngay ông ấm...
vồ! Chưa lần nào ông lại tiếp tôi một cách vồ vập đến thế. Ông kêu cuống quít:
- Rõ may một cách lạ! Đang mong ông đang muốn đi tìm ông! Lần
này có một trận "cho" chơi nhau hàng trăm viên đạn một. Mà
lại chính tôi ra trận, ông có thích được mục kích cái tài cầm quân của tôi
không?
Tôi hói:
- Đi đâu? Đánh gì?
Ông ta:
- Trạc xếch.
Trạc xếch! Cái món mà tôi đang ước ao rõ nhưng ngón bịp! Rõ
khéo gãi vào chỗ tôi đang ngứa!
° ° °
Hồi tháng giêng, hai năm nay, cái đoàn thể làm đồ trang sức ở
phô Hàng Bạc được cái nạn kinh tế cho phép sống một cách ưu nhàn.
Đồng tiền xứ này không hiểu có cánh và đã bay mất đi đâu chẳng
rõ, làm các cô thiếu nữ tân thời phải vì cảnh bó buộc chán những đồ tư trang bằng
vàng thật và ưa chuộng nhưng đồ của Pháp tải sang. Một đoá hoa tai "kim
cương", một vài đôi vòng "ngọc" hay vòng huyền giá tổng cộng
đáng non 10 đồng đã có thể thay những xuyến, hoa, chuổi hạt vàng đắt hàng trăm
bạc. Muốn làm gái mới không phải trá đắt. Thành thử giữa lúc hầu hết mọi người
trong xã hội nguyền rủa cái nạn kinh tế thì riêng các cô gái mới lại dường như
muốn thắp hương lên chúc tụng nó, mong cho nó cứ ở xứ này mãi để cho chị em chẳng
cần phải đeo vàng như đắp mới là sang! Cả bộ mẽ trưởng giả - hoặc trưởng giả giả
- nó cũng phải uốn theo luật đời kinh tế mà trợt bớt những nước sơn vô ích...
Nhưng những kẻ sống vì nước sơn trưởng giả ấy, các ông thợ bạc
chẳng được hài lỏng. Không có việc, mấy ông trong đoàn thể phái chịu bó tay, sống
nhàn. Nhưng cái dạ dày của con người ta, khốn nỗi, nó lại không chịu ưu nhàn
như hai bàn tay nên mấy ông phải kiếm cách cho nó "có việc". Nhàn cư
vi bất thiện, cái nhàn của bản tay, khôi óc đã có thể làm cho người ta bất thiện
thì cái nhàn của cái dạ dày còn nguy hiểm hơn. Mấy ông bèn đem môi đỏ đen ra lảm
sinh kế.
Giữa lúc này, có hai vợ chồng chú khách bán lê, táo ở phố
Hàng Buồm, sau vụ tết Nguyên Đán rất phát tài - có lẽ thấy trong hòm nhiều bạc
quá mà phát ngột - cũng ngứa ngáy tìm cách chơi xuân.
Vì thuộc hạng trung lưu, không đủ tư cách vào những sòng phán
thần sát phạt với những đồng bang của mình, vợ chồng chú đành phải chơi
"cò con" với bọn dân Ố Nàm 6 ta
vậy. Không tiện rút bất, đánh tổ tôm, tài bàn, cũng không tiện mở bát, Việt Nam
với Trung Quốc dùng trạc xếch giao chiến với nhau.
Người Tàu rất có tài buôn bán cả thế giới đã phải nhận như vậy.
Nêu đánh bạc cũng được gọi là buôn bán thì về sự "buôn bán" người Tàu
cũng dễ phát hiện hơn ta. Lẽ này, vào lúc mấy ông thợ bạc đánh trạc xếch với vợ
chồng chú khách buôn lê, lại càng rõ rệt lắm.
Những tay rích 7 mới
có dăm canh đã bị lột trần. Mọi người rất căm giận Thần đò đen không sao được
cho nên vào hồi ấy, nếu ta đi qua phố Hàng Bạc vào lúc tôi, ta thường thấy mấy
ông thợ bơ phờ, lảng vảng, lượn quanh với nhau. Người này hỏi:
- Thế nào
Người kia:
- Hiện quyên hình rồi! Chó quá, lại trần như nhộng!
Lại một người khác:
- Cái thằng Cắm ấy nó có Thần phù hộ à? Khi nào mình chịu
thua mãi như thế? Tất cả... xoay!
Đánh bạc chỉ cốt thịt người ta mà càng húc bao nhiêu lại càng
tổ cho người ta thịt lại, cái lẽ phải xoay là lẽ tất nhiên. Lúc đâu, mấy ông thợ
bạc cũng xoay đấy, nhưng trong cái ngón xoay còn thấy sặc lên những mùi mê tín
về quỷ thần, thiên địa nên chỉ không công hiệu mấy là phải. Thấy vợ chồng chú
khách canh nào cũng được, lại sẵn cái quan niệm rằng dân Tàu có thờ thần tài
quyền linh thiêng vô hạn, mấy ông thợ bạc không cho lẽ thua được là do đỏ đen nữa,
quyết đoán là vợ chồng chú được Thần phù hộ cho. Họ cho rằng cần phải làm Thần
mất thiêng thì mới mong "mở mặt" lên được.
Vợ chồng chú Cắm lại ở chung nhà với một người thợ cũng là
tín đồ thành kính của "đạo Đỏ Đen". Trước khi hai vợ chồng lôi nhau
đi dậy hoá thường vẫn thắp hương lên khấn vái trước bàn thờ thần tài
một cách giấu giếm. Không biết ai truyền cho ngón tinh ma, một hôm người thợ ở
chung nhà với chú thừa lúc nhà vắng, đem cắm ngay một cái đỉnh to vào bát hương
cho mất thiêng thần. Ngẫu nhiên buổi tối hôm ấy, vợ chồng chú nọ thua to. Sự bại
trận ngẫu nhiên kia chỉ có chốc lát thôi nên chi phái thợ bạc mới được có một tối
cười thì tối hôm sau lại khóc. Anh nào cũng nhẵn nhụi, cả bọn họp nhau lại ở hiệu
phở Trưởng Ca, bàn...
- Tao cắm đinh vào bát nhang nhà nó là vì có một lão thầy bói
bảo như thế đấy, tối hôm ấy nó chả thua hai chục bạc là gì?
- Vẫn thế rồi nhưng chính sách ấy có bền đâu? Hay là mấy hôm
nay mày đã quên cắm đinh vào bát?
- Mày hay quên sao không cứ việc để cái đinh ở đấy?
- Ngu lắm! Thế ngộ vợ chồng nó biết, nó đề phòng thì dùng
cách gì về sau? Nhưng quả thật tao không quên mà! Dễ thần nhà nó thiêng lắm thật...
- Thôi đi, các anh là đồ ăn hại!
Cả bọn im phăng phắc quay lại nhìn một người. Người này chính
là lão Mỹ Bối, thân thể to lớn khổng lồ, một tay nhiều thủ đoạn nhất, vì khối
óc là một pho sách lớn chứa những ý nghĩ tinh ma...
Lão nhồm nhoàm nhai ngấu nghiến bốn, năm miếng thịt bò tái, sụp
soạt húp ba, bốn thìa nước phở, nuốt chửng đánh ực một cái, chờ cho cử toạ thật
chú ý vào lão hết sức, đoạn mới ban rằng:
- Chỉ có cắm một chiếc đinh vào bát nhang thì làm thế nào cho
thần tài nhà nó mất thiêng được mà cũng tin một cách ngu ngốc như thế? Đây này,
tao có một lối đạc biệt do một thầy phù thuỷ tiểu chú 8,
hễ làm đến là thằng Cắm bỏ mẹ thăng Cắm ngay...
Cả bọn nhao nhao:
- Thế nào? Thế nào?
Lão Mỹ Bối điềm nhiên:
- Phải pha mùi ô uế vào mới được... Chẳng việc gì phải gây sự
với thần tài nhà nó, anh em cứ việc chờ lúc vợ chồng nó đang đỏ, ta... vặt một
cái, bó lên đầu nó thì... ôi thôi... ôi thôi 9 !!!
Cả bọn cười ầm lên, thích chí:
- Ừ, phải đấy! Ha ha ha ha! Nhưng thế thì... chó thật!
Một "quan hàn" 10 -
hàn nhẫn, hàn vòng, hàn hoa tai - lúc bấy giờ gập đôi người lại, áp cả bụng lẫn
ngực xuống bàn phở, không dậy được nữa, trán, má với mũi nổi lên đặc những vết
nhăn... Phải gió chăng? Ngộ độc chăng? Không! Đó là "quan hàn" cười!
Hôm sau, quả nhiên ngón đòn vặt nó có tính cách về
siêu hình học, thần linh học, tinh thần học hay cai gì học không biết, đã cho
phái thợ bạc được một bữa bở: vợ chồng chú Cắm lại thua!
Lão Mỹ Bối cũng được một phen cười ha ha.
Nhưng cuộc đắc thắng ấy cũng không bền, vài hôm sau nữa, các
ngài thợ bạc lại thua. Kẽ nhiều tiền nhất đã hàng trăm, người ít tiền cũng đã
thua hàng chục. Trong một cuộc họp bàn để kiếm một cách chắc chắn hòng gỡ, lão
Mỹ Bối đã nghĩ đến ông ấm B...
Lão ta tuyên ngôn:
- Các anh em cứ yên tâm mà. Ta dùng cách mê tín không xong
thì ta đã có cách cầu cứu đến... khoa học !
° ° °
- Không! Sây ửng lục pa toòng!.
- Tỉu nà ma nị
- Tỉu nà ma nị ấy có được không.
Cả bọn cười ồ vì thím khách đã trộn thành một món "hẩu lốn"
cả tiếng Tàu lẫn tiếng Việt Nam.
Ở nhà lão Mỹ Bối, trên hai chiếc chiếu, một chục con Tiên
cháu Rồng quây tròn nhau thịt vợ chồng chú Cắm. Ông ấm B... mái tóc hoa râm, cặp
kính trắng đạo mạo, mỗi lần gieo ba quân xúc xắc xong lại hói:
- Tứ ngũ lục hay nhất nhị nam đây?
Rồi ông ngồi thừ người ra, nhìn vợ chồng chú khách. Ông ấm đen một
cách lạ! ông đã vào bè với vợ chồng chú Cắm, đánh chung lưng với vợ chồng chú,
lúc đặt ba đồng, lúc năm đồng, lần nào cũng thua!
Trong lòng một cái bát "chân tượng" để vào một cái
nắp tráp đầy những gạo, ba quân xúc xắc cứ việc mặc sức nhảy múa cho phái thợ bạc
vơ tiền.
Ông ấm lắc ba quân trong lòng bàn tay bảo vợ chồng chú Cắm:
- Tôi góp hai đồng, chú đặt thêm bao nhiêu?
Chú:
- Pa toáng.
Thím:
- Hai đồng thôi!
Ông ấm "phẩy nhẹ" một câu:
- Ấy đấy! Cờ bạc mà cứ gàn nhau thế thì thua chết đấy!
- Im cái mồm ni đi nhé... Tỉu nà ma.
- Pảo khôông nghe cho chết!
Ông ấm lại giục:
- Nảo thế nhất nhị nam hay tứ ngũ lục.
- Sây ửng lục!
Chú Cắm quát xong gườm gườm nhìn vợ, không cho vợ nói nữa.
Ông ấm gieo. Quân bài nhảy múa trong bát, chú Cắm miệng khấn lẩm nhẩm như gọi hồn
người chết: "Sây ửng lục, sây ửng lục... lục, lục, lục! Đã hai quân phô mặt
nhất ở bát rồi. Còn một quân vẫn cứ quay tít như con thò lò vậy. Tiếng hô lục,
lục của chú Cắm vùa dứt thì quân xúc xắc phô lên mặt: tam!
Chú ngồi thừ người ra, có lẽ nghĩ ngợi rằng: "Thần tài của
mình đi đâu mất rồi nhỉ? Đánh hơn hai chục tiếng chẳng được một tiếng
nào!" Thím Cắm rít lên:
- Thôi đi về ! Thua sáu chục rồi...
Quên cả mình là dân con trời 11,
thím nói vanh vách tiếng Việt Nam. Cả phái "quan hàn" rầm rộ lên:
- Đánh lúc nữa đã!
Ông ấm đứng lên:
- Thôi, đến mai vậy, hôm nay đen lắm. Tôi cũng thua ngót ba
chục bạc.
Thế là tan.
Hai chú thím Cắm với ông ấm ra về, bọn thợ bạc ngồi lại. Ông
Mỹ Bối đã được lúc hỏi anh em một cách rất đắc chí:
- Các anh đã biết cái lợi của "khoa học" chưa?
Mọi người xô nhau vào, tranh nhau cầm lấy cỗ xúc xắc đế ngắm
nghía. Có hai quân lạ nhất, gieo thế nào nó cũng chỉ dậy nhị với tam thôi. Thật
chẳng khác một con "bất đảo nhi" (poussa)(12) nhựa có đổ chì ở chân
mà bọn trẻ con mua đế ném chơi khắp nhà cho nó đảo đồng đảo địa lên một hồi lâu
rồi lại ngồi nhỏm dậy vậy.
Ông ấm ra đi chưa được mười phút đã lại quay vào. Cả bọn kính
cẩn đứng lên như đối vơi một vị anh hùng cứu quốc. Ông nói đùa:
- Ta thắng trận này là lần thứ nhất trong cái chiên kỉ
"Hoa Việt chiến tranh".
Rồi cá bọn xúm nhau lại chia tiền. Ông Mỹ Bối phàn nàn hỏi
ông ấm:
- Sao nó đang muôn húc ông lại đứng lên?
- Thôi đừng làm già tay quá mà dễ lộ. Cứ để nó đấy, lúc nào
mình muốn nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền thì cứ việc... chứ có gì khó
đâu !
Một người khác thêm:
- Hôm nay có lẽ vợ chồng nó sẽ đập vỡ bát hương cúng thần tài
!
° ° °
Khác hẳn lối đánh đòn cắm đinh là cái ngón huyền hoặc
với cái đòn vặt lông nó có tính cách đểu cáng vô cùng. Ông ấm đã dùng
phương pháp khoa học Thái Tây.
Sách vật lí học dạy ta rằng: bất cứ vật gì, cái trọng lực
trung tâm đem kéo nó xuống dưới thì không bao giờ đổ được. Thuỷ ngân là vật vừa
nặng vừa lỏng, dùng được vào việc này. Quân xúc xắc kia, nếu ta để no quay cuồng
tự ý, có thể nó làm ta mất nghiệp được. Ta phải bắt nó lật tuỳ theo ý muốn của
ta. Thì ta đổ thuỷ ngân vào ruột nó chứ có khó gì?
Ông ấm B... đã nghĩ thế và đã làm thế. Cái chỗ khoa học ấy
không có gì là lạ cho lắm, chỉ có cách ra, cách vào của ông ấm mới đáng phục về
phương diện "mĩ thuật" thôi. Gặp cỗ bài to nhỏ thế nào, ông có thể bắt
nó dậy nhất nhị nam hay tứ ngũ lụcđúng như ý muốn của mình.
Ngoài cách dùng bài ruột thuỷ ngân, ông còn có quân lưỡng
diện nữa. Nghĩa là thứ xúc xắc sáu mặt chỉ có toàn là tứ ngũ lục hoặc nhất
nhị nam thôi. Thỉnh thỏang mới ra một "phát" rồi lại vào ngay,
ông không cho ai kịp để ý nghi ngờ. Cái bàn tay của ông thật là cái máy rất tài
tình khéo léo. Hôm qua, tôi đã được mục kích chính ông quân sư của đảng bạc bịp
trổ tài. Tự nghĩ thầm: đồ đệ của ông cũng đã nguy hiểm, huống hồ lại chính tay
ông...
Muốn làm thoả mãn cái tò mò của tôi, ông đã giở ngón cho tôi
xem và lại hứa thêm rằng:
- Ngày mai, tôi sẽ dắt ông đi thăm "xưởng chế tạo khỉ giới".
--------------------------------
|
Hiệu cầm đồ ở Hà Nội ngày trước. |
|
|
Tiếng Pháp, nouille là mì. |
|
|
Tripe là ruột súc vật. |
|
|
Tiếg Pháp là Moskva, thủ đô thế giới. |
|
|
Thời ấy có thể mua được hơn lạng vàng. |
|
|
Giọng người Hoa kiều ngày trước gọi người Việt. |
|
|
Nói theo tiếg Pháp, riche là giàu có. |
|
|
Tiểu chú là lời ghi nhớ trong sách, đây nói là được ai dặn
nhỏ cho. |
|
|
Kẽ chép chuyện này vội có lời tạ lỗi cùng độc giả. Nhìn đám
bùn nhơ, thế nào cũng bẩn mắt (V.T.P) (nguyên chú của tác giả). |
|
|
Quan hàm là các người được phong hàm hàn lâm, các trật từ cửu
phẩm lên đến ngũ phẩm; người có tiền cũng có thể chạy hàm hàn lâm. Đây gọi
đùa là dân thợ vàng bạc. |
|
|
Người Trung Quốc vẫn tự xưng là con trời. |
VII
Xưởng chế tạo khí giới
Ông ấm khẽ gõ ba cái vào cửa, dõng dạc hỏi:
- Ba Mỹ Ký 1 có
nhà đấy không?
Tôi đứng sau ông ấm, chờ. Nhà này là một căn nhà tồi tàn, nhỏ
hẹp ở trong ngõ Trung Yên, Hà Nội. Mấy tiếng guốc lộp cộp trong đêm khuya vang
lên, cánh cửa hé mở, một cái mặt người ốm ló ra...
- Á ông Nghị ! Rước ông vào nhà...
Người ấy nói đoạn, mở rộng cánh cửa. Bấy giờ tôi mới nhận ra
là bác Ba Mỹ Ký, một người trong vòng ba mươi tuổi, thân thể gầy rạc như xác
ve, hai vai so lên gần đến mang tai, vừa đứng vừa run trong một tấm chăn bông vải
nâu màu đã xám xịt như cái khăn lau trường. Chúng tôi bước vào, bác ta đứng lại
đóng cửa kĩ lưỡng, rồi quay vào trải một cái chiếu mới lên bộ giường mộc.
Người Tây Phương, khi đang vận robe de chambre 2 mà
phải tiếp khách lạ là vội lấy quần áo tử tế để thay ngay. Có khách lạ, cũng biết
giữ lễ, bác Ba Mỹ Ký cũng thay cái chăn bông nâu đó là robe chambre của bác,
xong lấy một chiếc pardessus 3 kiểu
tối... cổ thay vào. Đoạn bác hỏi ông ấm:
- Có việc gì mà... rồng lại đến nhà tôm thế này? Đem ấm nước
với cái điếu ra đây, em !
Em đây là một cậu ngồi cắm cổ xuống một cái bàn kê tận phía
trong kia, đang lúi húi làm gì, tôi cũng không để ý. Thấy anh gọi, cậu này đứng
lên, cầm bộ đồ nước, cái điếu đem ra hỏi anh rằng:
- Thế anh đã tô xong chưa mà để vung vãi ra thế này?
Bác Ba Mỹ Ký đáp:
- Chưa, cứ để nguyên cả cỗ đấy, chốc nữa tao làm.
Từ lúc vào chưa nói câu nào, bây giờ ông ấm mới hỏi:
- Thế nào? Đám xì ở Hàng Kèn vừa rồi có ăn thua gì không?
Bác Ba Mỹ Ký cười:
- Kể cũng ăn thua khá đấy, nhưng vì một nỗi là tạ đông quá,
chia năm xẻ bảy đi mất, tôi còn được có bảy đồng.
- Thôi, kinh tế này, thế đã là may...
- Chỉ đủ tiền trả ngót hai chục thang thuốc.
- Thế vẫn chưa khỏi à?
Đến đây, bác Ba nhăn mặt, lắc đầu:
- Chưa! ông lang bảo là ho kinh niên!
Rồi bác sù sụ như một ông lão tám mươi sặc thuốc lào vậy.
Ba Mỹ Ký, cái tên này tôi nghe thấy như là hơi quen, dễ là vì
ông ấm đã có nhắc đến, lần đầu mà tôi lại cái nhà ở ngõ hàng Cá với anh Vân,
khi ông ta lẩm bẩm nói tới việc phái binh đi phố Hàng Kèn. Bác Ba ta có bộ tóc
để dễ đến mấy tháng nay chưa xén, dù ai quých đến đây tất cũng phải biết ngay
là một tay bạc bịp đã lũa. Nếu cứ phô cái hình thù ấy mà bịt được mắt mọi người
thì thật bác phải là có "thánh cho ăn lộc" mới được, vì người không
còn một vẻ gì là sang. Tôi đã lấy làm ngạc nhiên, lại sốt ruột nữa. Vì ông ấm
đã nói: "Nào, ta đi thăm xưởng chế tạo khí giới" mà đến đây, tôi vẫn
chưa hiểu câu nói ấy có ngụ ý gì...
Bác Ba Mỹ Ký lại hỏi:
- Có phải tiên sinh đến lấy đồ đấy không?
Ông ấm:
- Chính thế, với lại đến thăm bác nhân thể.
- Xin đa tạ...
Bác Ba Mỹ Ký nói đến đấy, thấy lộ vẻ bứt rứt ngẫm nghĩ trù trừ
mãi, rồi hỏi ông ấm:
- Thế quan anh cho đệ được biết: ông này là... thế nào?
Cái ông ấm vô ý tứ này bây giờ mới vội:
- Quên đi mất... Rõ nỡm!... ông này là một ông rất có cảm
tình với làng b... ta. Đất rất nhiều, rất sộp !
Tôi nghe mà ngượng. Không phải ngượng vì được liệt ngang hàng
với hạng người như Ba Mỹ Ký nhưng vì, nói cho cùng, chính mình đã được nhiều dịp
chia tiền với ông ấm, mà chưa từng có đất nào để mách ông hoặc đồ đệ ông đi
"chinh phục" cả!
Ông ấm nói thế vội đứng dậy, ra hiệu cho tôi đi theo ông đến
phía cái bàn. Ba Mỹ Ký cũng vội xốc lại cổ áo, theo chúng tôi.
Cậu bé lúc nãy mang ấm, điếu ra để anh tiếp khách, lúc này
đang ngồi cần cù cầm ngọn bút lông mèo mới, chấm vào một cái đĩa đựng ít sơn đỏ
rồi tô lên mặt một quân xúc xắc.
Ông ấm hỏi:
- Bài siêng đấy chứ?
Ba Mỹ Ký đón lời:
- Không, lưỡng diện đấy chứ có phải siêng đâu! à, cụ ạ, tôi mới
có một cỗ thuỷ ngân đẹp một cách lạ !... Để tôi lấy cụ xem nhé...
Rồi bác lôi cái ô kéo, lấy ra một cái hộp sắt tây to tướng và
bảo:
- Có lẽ ta ra giường tiện hơn.
Thế là chúng tôi lại quay ra chỗ cũ. Cúi xuống gầm giường lấy
một cái nắp thạp đầy những gạo bên trên có một cái bát "chân tượng"
lên, dọn dẹp điếu, ấm vào một góc, bác Ba mở hộp. Mới đầu tôi tưởng đó là hộp
thuốc của một ông lang chữa bệnh lậu nào thì phải, vì trong đó có một số không
đếm được những gói giấy nhỏ, trắng, đỏ với xanh.
Bác Ba lấy một gói đỏ, mở ra. Ba quân xúc xắc màu xương còn
trắng nõn, vết mực đỏ, đen ở sáu mặt rất tươi đẹp, ló ra một cách choáng lộn,
kiêu hãnh nữa, khiến cho nhìn đến, ta có cái cảm giác là tưởng tượng đến những
mĩ nhân còn tuyết trong giá sạch phô cái "thân ngọc" cho những ông
phu tướng giữa lúc hoa chúc động phòng. Bác Ba nhìn đến cái công trình mĩ thuật
của mình bằng cặp mắt say sưa như một nhà tài tử, rồi hỏi:
- Thế nào? Các ông trông có đẹp không?
Ông ấm lấy kính đeo, cầm từng quân lên tay, chỉ ngắm nghía những
góc. Ông khoe:
- Được lắm, tay chân đã khá lắm đấy.
Rồi ông gieo vào bát, thử. Một sự lạ: ba quân này quay lộn thế
nào cũng không thành được nhất nhị tam vì có hai quân nếu không dậy mặt tứ
ngũ thì cũng lại chỉ lên ngũ lục.
Bác Ba nói câu này để tự khen thêm một lần nữa:
- Có khí giới này thì gặp anh nào hắc búa đến đâu, mình cũng
cứ việc nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền!
Ông ấm khích một câu:
- Thôi đi đừng nói giỏi nữa! Nào thử ra, vào xem
trông có đẹp hơn độ trước không?
Ba Mỹ Ký mỉm cười:
- Thưa thầy, ngón của thầy truyền cho mười phần thì con cũng
đã nhập tâm được bảy, tám.
Rồi bác lấy ở hộp ra một gói giấy đỏ khác, mở gói lôi ra một
cỗ trạc xếch khác, gieo xuống bát, phân vua rằng:
- Đấy nhé đã đích là bài siệng chưa?
Xong bác đứng lên, bỏ pardessus ra, lấy một cái áo
the kép mặc vào.
Tôi tự hỏi rằng: "Làm gì mà phải khăn áo chỉnh tề thế
kia?" Ông ấm cũng gieo và kêu: "Ư, bài siệng thật".
Bài siệng đây là bài mà người ta chưa đục ruột nó. Người ta
chưa đục ruột nó với đổ thuỷ ngân vào trong thì nó dậy nhất nhị tam hoặc tứ
ngũ lục phải do ở sự tình cờ.
Bây giờ thì bác Ba ngồi xuống, xếp nếp áo the ở lòng cho nó
"ý tứ" riêng của bác rồi chọn hai quân xúc xắc không siệng cầm vào
tay.
Bác gieo quân xuống bát và mỗi khi gieo xong, lại để bàn tay
vào lòng, một tay chống nẹ, một tay gieo xong lại rút để vào lòng mình, trông
cái cử chỉ ấy thật tự nhiên. Tôi nhận ra rằng kiểu ngồi này thật chép đúng của
ông ấm B... khi ông đốc thúc quân binh trong cái "Việt Hoa chiến
kỉ" vậy.
"Ngón của thầy truyền cho mười phần thì con cũng đã nhập
tâm được bảy, tám" lời này của bác Ba kể cũng đúng sự thật đấy, vì trước
khi gieo, nếu bác ta đã kêu trước là nhất, nhị, tam thì không bao giờ
cỗ bài lại dậy: tứ, ngũ, lục hoặc đã bảo tứ, ngũ, lục thì
không khi nào cỗ bài lại dậy: nhất, nhị, tam.
Còn hai phần mười kia, không bao giờ bác học nốt được. Chẳng
có cái dáng điệu phong lưu bệ vệ của ông ấm, hình thù bác trông cỏ như vậy và -
theo bộ từ điển của làng bạc bịp - trông lộ tẩy như vậy thì không khi
nào bác phát tài được vì ông ấm xưa nay chỉ phái bác đi với những đám trếch chứ
chẳng bao giờ dám cho bác đụng chạm vào đám sang trọng, thượng lưu. Cái
"nước sơn" của con người mà can hệ đến thế đó.
Sau cuộc thử tài đệ tử, ấm B... tôn sư có vẻ hài lòng lắm và
nói đùa:
- Được tôi cũng đã có cơ vững dạ mỗi khi phái bác... hạ sơn!
Chúng tôi cùng cười. Bác Ba Mỹ Ký hỏi:
- Nhưng cụ bảo đánh đòn thuỷ ngân hơn hay đòn
lưỡng diện hơn?
Ông ấm mắng như mắng một học trò:
- Hỏi dốt thế? Phải tuỳ cơ ứng biến chứ lại... Anh hỏi thế có
khác gì một người biết võ mà mỗi khi có cuộc chiến đấu, hỏi thầy rằng:
"Con nên đánh môn Thiếu Lâm hay môn Mai Hoa?" Không! Nếu cứ như câu hỏi
của anh thì người đời ai cũng là b... được cả!... Đây này, còn có cả trường hợp
nguy hiểm này nữa: thí dụ đang gieo mà vỡ xúc xắc, thủy ngân đổ ra bát... thì
anh định giở ngón thế nào?
Ba Mỹ Ký ngẩn ra không biết nói câu gì, chỉ giương đôi con
ngươi trắng dã hỏi lại. Ông ấm trừng trừng nhìn học trò của ông hồi lâu rồi cầm
lấy cỗ xúc xắc bảo:
- Trông đây này!
Ông gieo và tiếp:
- Thí dụ quân đã vỡ nhé...
Rồi ông làm bộ ngơ ngác nhìn chung quanh gian phòng, chỉ vào
một góc tường mà hỏi: "Ông kia tinh nghịch chơi lối gì thế? Có phải ông
ném gì vào bát đấy không?" Trong lúc này, ông đã cầm ba quân xúc xắc lên,
quờ lòng bát khoắng một cái. Rồi ông nói tiếp: "Nếu không là ông thì tất
là một người khác !" Rồi ông ném một quân ra xa, bỏ cái bát ra ngoài tráp
gạo, cúi xuống bới lấy một quân khác lên, tiếp: "Thôi không ai nhận cũng
được! Xin mời các ngài... còn quân nữa đây!" Ông lại gieo một hồi rồi nhìn
chúng tôi ra ý hỏi: hiểu rồi hay chưa hiểu?
Tôi với bác Ba Mỹ Ký thú thật là chưa hiểu kĩ, lúc ấy ông ấm
mới cắt nghĩa rằng:
- Lúc quân nhỡ mà vỡ, điều cốt yếu là mình phải làm cho làng không
kịp biết là có thuỷ ngân. Muốn thế, ta phải đổ vấy có một người trong đám, bất
cứ người nào. Khi ta chỉ tay lên và nói: "Ông kia, ông tinh nghịch gì thế?"
là cả làng phải nhìn một cách căm tức đến mặt người vô phúc bị ta vu
oan cho vậy. Thừa lúc không ai để ý, cái tay ta khoăng vào lòng bát đã hắt hết
thuỷ ngân đi. Giọt thuỷ ngân hắt ra sẽ tan thành bụi! Phải biết, lúc ấy đang hỗn
độn; người này buộc tội, người kia cãi lại, không ai để ý đến mình. Mình ra một
quân ở tay, vờ là bới nó dưới bát gạo lên. Quân vỡ kia ném đi rồi, giữa lúc người
đang đỏ muốn được thêm, người đang đen chỉ muốn gỡ, vừa phần sợ sẽ làm rầm rầm
lên thì sẽ có chuyện với những tay sai của cụ Arnaud 4 có
lẽ đang tuần bằng xe đạp ngoài phố, ai nấy sau cùng mới nghĩ ra rằng yên lặng
là hơn. Đã có quân thay, cả làng lại nối cuộc.
Nghe ông cắt nghĩa, tôi phải phục là ông biết tâm lí người đời
lắm mới có thể ứng biến một cách táo bạo như thế được; ông thật đáng là vị quân
sư của làng b...
Ông ấm kết bằng câu này:
- Nhưng ít khi vỡ quân lắm.
Ba Mỹ Ký vẫn ngồi ngẫm nghĩ đến chuyện đó, sau cùng mới nói:
- Xin bái lĩnh cái ngón ấy của thầy !
Ông ấm lấy ba cái giấy bạc một đồng ra:
- Cho tôi một cỗ trạc xếch lưỡng diện với một cỗ bất mẫu
tử.
Ba Mỹ Ký cầm tiền rồi trao lại ông ấm hai gói giấy xanh.
Chúng tôi ra về.
Ba Mỹ Ký vốn là một người thợ mạ đồ vàng giả cho một cửa hiệu.
Có lẽ không muốn lục đến tên tục, người ta lấy ngay tên cửa hiệu do bác làm
công, gán cho bác.
Lúc cửa hiệu được kì thịnh vượng, bác làm ăn rất phát tài. Sẵn
tiền trong tay, bác phải tìm cách giải trí. Giải mãi trí vào cái khoé kiếm tiền
một cách rất dễ, trí bác dần dần chán nản mọi việc nặng nhọc của tay chân. Đâm
ra biếng lười, bác ta bị ông chủ mời về vườn để tha hồ mà giải trí.
Sau khi tìm được vài ngón bịp tài bàn, tổ tôm, bác vẫn sống
ung dung bằng cách thịt những dân lao động, sau cùng bác phải xin vào
làm môn đồ của ông ấm B...
Xem ý ra, trong đám "học trò", chỉ có bác này là được
ông ấm có lòng thương hơn cả. Bệnh ho sù sụ của bác mà bác tưởng là sẽ thành
kinh niên ấy, bác phải giữ nó trong phổi, trong cuống họng là vì một trận đòn
gây nên.
Hồi ấy, nạn khủng hoảng chưa đến tác hoạ tại xứ này.
Ngày đầu tháng, tòa nhà gác ở ngõ Hàng Cá với cái vẻ rộn rịp
của một bộ tham mưu giữa lúc chiến tranh, đã khiến cho quân sư ấm B... vì nhiều
việc quá phải nhận ngay "đồ đệ trông lộ tẩy" của mình vào một nơi
hang hùm nọc rắn.
Kể đòn của bác Ba Mỹ Ký trông cũng khá đẹp nhưng bác sa hố là
vì người bác không có lấy một "nước sơn". Bọn quyền quý kia chỉ quých ở
sự đánh bài và không quých ở sự "thượng cẳng tay, hạ cẳng
chân" nên đã cho bác một bài học khá cay nghiệt.
Bác vì thế, mắc chứng ho.
Nghĩ thương hại một kẻ lâm nạn vì cái vô ý của mình, ông ấm
phải đem bao nhiêu lối "chế tạo khí giới" của ông ra truyền cho bác
Ba để bác làm sinh kế. Cũng đôi khi, bác được phái đi đánh chác, nhưng vẫn
không kiếm đủ tiền chữa bệnh ho.
Ông ấm đã phải thu xếp cho bác cái việc nhàn hạ là ngồi một
chỗ làm hàng. Ông lại bảo anh em làng b... nên đến mua cho bác.
Bài mẫu tử, bài giác mùi, giác bóng, xúc xắc thuỷ
ngân, xúc xắc lưỡng diện, tiền nhựa, những thứ ấy bác bán đắt gấp đôi, ba những
bài thường.
Thành thử búa, giũa, ve của bác xưa kia dùng để chế tạo mọi đồ
nữ trang nay bác chỉ dùng vào việc đúc xúc xắc. Thằng em họ bác mà người nhà
bác gửi bác cho nó học nghề mạ, bác chỉ cho "chế tạo khí giới" rồi
nói dối với cả họ là vẫn cho em học làm thợ ngà!
Ông ấm thuật chuyện rồi bùi ngùi nói một cách cảm động:
- Rõ thương hại nó quá. Dễ thường nó ho lao !...
Sống về nghề thì chết về nghề, sự này không lạ. Có điều lạ là
ông ấm, một con mọt của xã hội, hạng người nguy hiểm đáng cho đời đổ lỗi tất cả
các tính xấu của Trái đất, té ra lại là một người có đủ thuỷ chung...
Một sự chẳng ngờ.
Chú thích:
1 |
Thời ấy ở Hà Nội có hiệu chuyên làm đồ nữ trang bằng vàng giả bán rẻ tiền tên là Mỹ Ký. Bác Ba này được gọi là Mỹ Ký vì cũng đã làm công ở hiệu ấy. |
2 |
Tiếng Pháp, nghĩa là áo ngủ. |
3 |
Tiếng Pháp nghĩa là áo ấm mặc ngoài, ta thường phiên ra là ba-đơ-suy. |
4 |
Chánh sở mật thám đương thời. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét