Giông tố 2
Chương 9
Ông huyện đã gọi tên một lượt.
Ngần ấy người đều lo sợ vì cái lòng thiên lệch của quan đã lộ
ra nét mặt, lời nói và cả ở chỗ không thấy gọi bên bị lên công đường.
Cả bọn đương đứng nghe tim đập mạnh trong ngực mình, trông
cái dáng trầm ngâm hiểm độc của quan... Quan vẫn cứ mải tìm cách uốn lưỡi trong
tập biên bản... Bên ngoài công đường có tiếng xì xào làm cho ông huyện chợt ngửng
đầu lên. Rồi cau mặt, quát lính:
- Chúng bay! Bảo cái người ngoài ấy vào đây xem họ muốn nói
gì.
Một anh lính gọi người kia nào.
- Mày muốn gì?
Thiếu niên đứng tưng hửng ra một lúc, rồi căm hờn đáp:
- Thưa quan lớn, xin lỗi quan lớn, ngài làm quan như vậy là
không biết làm quan. Thưa ngài, ngài có nhớ phủ toàn quyền vừa rồi có một tờ
thông tư cho quan lại rằng không được dùng đến những chữ mày tao với dân sự
chăng.
Ông huyện, thâm gan tím ruột, cũng giật mình nữa, cười nhạt
mà rằng:
- Thế anh muốn gì?
Thiếu niên cũng đổi giọng, khoan thai đáp:
- Bẩm quan, chúng tôi là phóng viên một tờ nhật báo, vào đây
lấy tin.
- Báo nào vậy? Có giấy nhận thực không?
Thiếu niên đưa lên cái “các” nhà báo. Ông huyện trầm ngâm một
lúc rồi cự:
- Anh có muốn vào đấy lấy tin thì anh cũng phải xin phép quan
sở tại đã chứ? Sao anh giám tự tiện vào làm huyên náo cả công đường?
- Bẩm, ngài thử hỏi những người này xem? Chúng tôi phải thì
thầm với nhau ở ngoài hiên thì có gì là huyên náo?
Ông huyện ngừng bắt bẻ một lúc, rồi lại cất cao giọng:
- Anh phải biết rằng dù là anh làm báo thì cũng phải do tôi
có cho phép anh thì anh mới vào đây được.
- Bẩm chính thế.
- Phải. Mà vì lẽ báo chí quốc ngữ, nhất là tờ báo Lưỡng kỳ của
anh, chỉ là những thứ giẻ lau, giẻ rách, nên tôi khinh bỉ bọn làm báo các anh lắm!
- Bẩm quan lớn, đó là một ý kiến của ngài về báo chí quốc ngữ
đó. Nếu câu ấy lên mặt báo, tôi xin ngài đừng có chối nhé? Được lắm, ngài không
cho tôi lấy tin, nhưng mà tôi cũng đã phỏng vấn ngài về báo chí nước nhà rồi.
Xin quan lớn nhớ kỹ cho như thế, và tôi rất cảm ơn!
Phóng viên nói xong thì nghiêng đầu cúi chào một cái rất ranh
mãnh, rồi quay gót định cáo lui. Ông huyện đập cái thước kẻ lên bàn giấy đánh
chát một cái, làm cho thiếu niên lại quay lại. Ông huyện đỏ mặt nói:
- Anh muốn gây sự với quan trường đấy phỏng?
- Thưa không, ấy là ngài muốn gây sự với báo giới.
Ông huyện đứng lên, hầm hầm nét mặt, quát:
- Lính đâu?
Hai ba lính chạy vài. Quan phán:
- Đem giam thằng vô lễ này vào lô-cốt lập tức!
Thiếu niên đứng ngẩn người ra một phút rồi cứng cỏi nói:
- À! À! Vâng! Quan lớn cứ việc bắt giam tôi đi, tôi cam đoan
ngài sẽ phải trả đắt cái cuộc chơi ngông này lắm đấy. Thật đấy, ngài cứ việc bắt
giam tôi đi mà xem!
Mấy anh lính lúc đó chưa dám bắt ngay, là vì họ nghĩ đến những
lúc khi xưa còn quan huyện cũ, lần nào ông nhà báo đến cũng được quan huyện bắt
tay rất ân cần. Vì họ lấy làm lạ, nên trước lệnh của quan họ còn phải ngơ
ngác... Ông huyện lại quát:
- Lôi cổ nó đi!
Lúc ấy, bọn người làng Quỳnh Thôn đã sợ sẵn, lại càng kinh hoảng
hơn. Ông nhà báo đi theo hai người lính ra khỏi huyện đường rồi, quan gọi đến
thị Mịch.
- Mày có nhận của người ta năm cái giấy bạc một đồng có phải
không?
- Bẩm quan lớn vâng.
- Thế lúc mày bị hiếp... thì đầu đuôi câu chuyện ra thế nào?
Cô Mịch thẹn đỏ mặt, cúi nhìn xuống đất, lôi cái vạt áo lên
miệng nhai...
Ông đồ Uẩn giục:
- Con cứ sự thực mà khai với quan lớn.
Ông huyện đập bàn một cái, giận dữ nói:
- Thế nào quan đùa với mày đấy à?
Cô Mịch run sợ, ấp úng kể:
- Bẩm lạy quan lớn... rồi người ấy bảo con đem rạ đến bán cho
người ấy ở chỗ ô tô... rồi người ấy mua rạ thật, rồi người ấy bảo con lên xe, rồi
người ấy...
- Xong rồi người ấy lấy 5 đồng cho mày, có phải không?
- Vâng... à bẩm không.
Lời quát của quan to và gọn như một tiếng sét:
- Thế nào?
- Bẩm... bẩm...
- Trước hay sau? Nói ngay!
- Bẩm trước... vì đó là tiền mua rạ.
- Mày nói láo! Người ta đi xe ô tô đến đấy thì người ta mua rạ
của mày làm gì?
- Bẩm người ta bảo mua rạ để chữa xe.
Quan huyện ngồi dựa vào ghế, ngửa cổ ra cười một hồi dài mà rằng:
- Mua rạ để chữa xe ô tô!... Mày nói có đến trẻ con nó cũng
không tin được! Họ chữa xe bằng rạ của mày thế nào?
- Bẩm con không biết ạ.
- Mày không biết? Mày không biết? Mày không biết!!!
Ông đồ Uẩn thưa lên:
- Bẩm quan lớn, hình như ông ta kêu mua rạ nhồi vào lốp xe.
Quan dồn:
- Lúc ấy ông có đấy không? Ông có mặt chỗ xảy ra vụ... ấy
không?
- Bẩm không.
- Thế nào ông biết tường tận thế?
- Bẩm khi về nhà, con bé cháu nó nói chuyện lại.
- Thôi đi! Nếu nó nói chuyện thế với ông được thì nó đã đáp lời
cho tòa rành mạch được. Lời khai của ông là khai man.
- Bẩm quan lớn, chúng tôi không dám khai man đâu ạ.
- Thôi được người làm chứng thứ nhất Nguyễn Văn Đô!
Ông cụ già 60 tuổi dạ một tiếng rồi ra trước bàn, thì thụp lạy
như trước bàn thờ ông vải. Ông huyện gắt:
- Thôi! Cho đứng lên! Đứng lên khai chứ ai bảo lạy?
Ông cụ già đứng lên rồi kêu:
- Bẩm quan lớn đèn giời soi xét.
- Im! Câm cái mồm nghe tòa hỏi đã!
- Dạ...
- Hôm ấy ông trông thấy những gì?
- Bẩm quan lớn, con ngồi đằng xa cách xe độ 20 thước, thấy cô
Mịch này bước lên xe rồi trong xe tắt đèn... rồi thì...
- Người ta đưa tiền trước hay sau?
- Bẩm con không biết.
- Thế người ta chữa xe thế nào?
- Bẩm con chỉ thấy tài xế đập búa thình thình vào máy.
- Họ có chữa đến bánh xe không?
- Con không biết.
- Hôm ấy có sáng giăng... sao ông lại không biết?
- Bẩm hình như không phải chữa bánh xe.
Ông huyện nhìn ông đồ mà phân bua ngay:
- Ấy đấy, người ta không chữa bánh xe, nghĩa là không có dùng
gì đến nửa gánh rạ của con gái ông đấy nhé! Đến hai người đàn bà.
- Dạ! Dạ!
- Hai mụ thấy những gì? Con mụ nữa đâu?
- Bẩm có bà Lý nữa, nhưng chết hôm nọ rồi ạ.
- Thấy những gì! Nói ngay!
- Bẩm chúng con đã khai với quan huyện cũ.
- Khai lần nữa!
- Bẩm chúng con cũng quên rồi, vì đã lâu rồi. Lạy quan lớn
đèn giời soi sét.
Ông huyện nghĩ một lúc rồi điềm nhiên:
- Chứng cớ không đủ. Thôi được, đến trương tuần Quỳnh Thôn!
Bác Trương tuần dạ một cái thật to y như trên sân khấu phường
chèo, rồi ngoan ngoãn ra đứng trước bàn mặt mày hí hửng lắm.
- Anh thấy gì?
- Bẩm quan lớn, lúc chúng con đi tuần ra đến gần đường quan lộ
thì thấy có tiếng người kêu rên... Rồi ở trong xe có người bị đẩy ra ngã ngồi
phệt dưới đất là thị Mịch này... Thị này kêu khóc rất thảm thiết vào lúc xe bắt
đầu chạy... Biết là có chuyện không hay nên con ra đứng giữa đường giơ hai tay
ra bắt xe đứng lại, sau khi rúc tù và lên. Bẩm không ngờ xe ô tô lại phăng
phăng đâm thẳng vào mặt con... may mà con nhanh chân nhảy một cái sang bên đường
chứ không thì chắc đã mất mạng...
- Sao nữa?
- Xe chạy mất rồi, con nhìn theo số xe rồi quay lại hỏi con
bé này. Con phải khiêng nó về làng, đến nhà nó mới kể chuyện lại và cởi ruột tượng
lấy 5 cái giấy bạc 1 đồng ấy ra trình lý dịch.
- Thế nghĩa là nó đã nhận tiền trước khi bị hiếp?
- Bẩm quan lớn, chắc là thế.
- Thị Mịch!
- Dạ!
Ông trương tuần lại về chỗ đứng cũ, mặt mũi tươi cười như đã
đóng xong một vai tuồng quan hệ mà được khán giả vỗ tay. Thị Mịch ra trước bàn
giấy.
- Sao mày lại lấy tiền? Thế mày có bằng lòng ngủ với người ta
không?
- Bẩm quan lớn, đó là tiền bán rạ.
- Tiền rạ? Tiền rạ? Lý trưởng Quỳnh Thôn đâu!
- Dạ!
- Chánh hội đâu?
- Dạ!
- Ruộng làng chúng mày mỗi năm cấy mấy mùa?
- Bẩm chỉ có một mùa chiêm.
- Mỗi sào được bao nhiêu tiền thóc một mùa?
- Bẩm nhất đẳng điền cũng chỉ được độ 5 đồng một sào thóc.
- Chúng mày khai man!
- Bẩm quan lớn, quả thật như thế.
Quan huyện lại ngồi dựa đầu vào ghế, cười nức nở một hồi rồi
mới nói:
- Thế mà nó bán 5 đồng nửa gánh rạ!
Quan cười một hồi dài nữa làm cho lũ người ấy ngao ngán, chỉ
còn biết đưa mắt nhìn nhau... Thị Mịch run lẩy bẩy, cố lấy can đảm ra cãi:
- Bẩm quan lớn, lúc đưa tiền thì người ấy bảo là thương hại
con...
- Người ấy nói những thế nào?
- Bẩm, người ấy bảo là dân quê bị sâu cắn lúa thế thì nghèo
khổ lắm, mà con như thế là đáng thương lắm, nên mua có nửa gánh rạ mà cũng cứ
trả tiền cho cả 5 đồng.
- Mày có biết người ta thương là thế nào không.
- Dạ!
- Lúc ấy chắc mày bằng lòng người ta thương mày. Hẳn phải thế
thì mày mới nhận tiền chứ?
Bẩm vâng.
- Mày là đứa hư nhé! Một người lại là đàn ông, đã không là
ông mày, không là bố mày, không là chú, bác, anh, em họ hàng, thân thuộc nhà
mày mà đi thương mày, thì chỉ là muốn ngủ với mày mà thôi. Thế mà mày đã nhận
tiền! Mày như thế là hư lắm.
Thị Mịch ứa nước mắt. Ông đồ cũng ứa nước mắt. Rồi thị Mịch
khóc nức nở lên y như ở nhà. Hồi lâu thị nói:
- Bẩm quan lớn, con không ngờ như thế.
- Mày là đứa con gái thì mày phải giữ. Mày dại thì mày chết.
Tình mày ngay, nhưng lý mày gian! Tao làm quan tao cũng muốn cho ngọn đèn công
lý soi thấu những nỗi thống khổ của cùng dân, nhưng mà cái lý của mày lúng túng
như thế, các người làm chứng mơ hồ như thế, thì tao làm thế nào được!
Bên nguyên đơn đứng im phăng phắc.
Quan huyện giở tập giấy mà mất năm phút, xem lại mất năm phút
nữa là mười. Rồi quan hỏi:
- Các người có muốn theo kiện đến kỳ cùng không?
Ông chánh hội nhanh nhẩu thưa:
- Bẩm quan lớn, chúng con chờ lệnh quan lớn.
Ông huyện đáp:
- Bên bị người ta đã có đơn lên quan sứ rồi. Người ta kêu
không hiếp... ai cả, chỉ ngủ với con Mịch, thì chính nó, nó đã bằng lòng, vì nó
đã lấy 5 đồng bạc của người ta. Quan sứ đã có xét việc này rồi. Ngài đã tự về
đây, bảo tao khuyên chúng mày thôi đi là hơn. Nếu chúng mày cứ kiện thì quan sứ
sẽ hòa giải. Nếu chúng mày chống án lên Hà Nội thì càng khó lòng mà được kiện,
vì người ta là người giàu có lắm chúng mày không bán nghiệp đi mà theo kiện được.
Mà rồi còn lôi thôi nữa...
Ông đồ uất ức thưa lên:
- Bẩm quan lớn, xin quan lớn soi xét cho, sự thực mà như thế
thì ức cho gia đình con lắm.
Ông chánh hội cũng thưa:
- Bẩm nếu thế thì cả làng chúng con nhục với hàng tổng.
Quan huyện xung thiên chi nộ, đập bàn mà rằng:
- Con Mịch kia! Trước pháp luật việc mày như thế là một việc
làm đĩ không môn bài, vậy mày có muốn làm nhà thổ suốt đời không? Bọn lý dịch!
Chúng mày đi kiện láo như thế tức là phạm tội vu cáo, vậy chúng mày có muốn ngồi
tù không? Chúng mày để trong làng có truyền đơn, cờ đỏ, tao đây chưa cách cổ
chúng mày đó mà! À ra cái dân này bướng bỉnh nhỉ? Chúng mày muốn rút đơn ra hay
chúng mày muốn ngồi tù nào? Ông đã thương hại, ông bảo thật cho lại còn cứng cổ!
Nào, thế lão đồ kia muốn xin bồi thường mấy trăm bạc thì để ông phê vào đây rồi
ông đệ mẹ nó lên tỉnh cho chúng mày khốn khổ cả đi nào. Vô phúc thì đáo tụng
đình đấy, các con ạ!
Hai ba người nhao nhao lên: - Bẩm quan lớn, chúng con xin rút
đơn kiện vậy. Quan huyện lườm cả lũ.
- Thôi, bước! Bước ngay cả lũ!
Cả bọn đồn quay ra thì quan lại gọi giật lại mà rằng:
- Còn cái thằng làm báo lúc nãy nữa! Nó có tên trong sổ đen đấy.
Nó bị tòa sứ nghi là cách mệnh đấy. Chúng mày cứ chuyện trò giao thiệp với nó
đi, ông bảo chúng mày liệu cái thần hồn.
Rồi quan xếp dọn giấy má và khẽ dặn một anh lính:
- Lát nữa tao về đình đâu đấy rồi thì thả thằng làm báo ra,
nó có muốn sinh sự gì thì cứ đẩy cổ nó đi, không cho nó được lai vãng đến cửa
huyện.
Chương 10
Long đã đi qua những cảnh nguy nga choáng lộn trong ấp Tiểu Vạn
trường thành. Chàng cũng có hồi hộp lo sợ về cái thế lực ghê gớm của kim tiền ấy,
nó khiến cho chàng như thấy hiện ra trước mắt một bọn người nhỏ bằng cái đầu
tăm là gia đình vợ chồng chàng, mà lại đương muốn khiêu khích với một ngọn núi
hùng vĩ cao cả là nghị Hách vậy. Trong cái trận kỳ lạ, mà sức của hai bên chênh
lệch nhau đến vậy. Long thấy trong lòng băn khoăn... Cái sợ sệt, cái nhút nhát.
Với cái nản chí, đã hợp lực nhau đến lũng đoạn sự căm hờn, cái thú bất cộng đái
thiên trong lòng chàng.
Long đã đi qua những dãy hành lang dài như không bao giờ hết,
trèo những cái thang và cũng như trong một tòa khách sạn lớn ở bên Tây phương.
Một tên người nhà đã bảo Long ngồi chờ ở một căn phòng để báo
trước cho ông chủ biết đã.
Giữa lúc ấy, nghị Hách đương ngồi làm việc trong phòng giấy
riêng. Một căn phòng rộng rãi thênh thang có những đồ đạc tối tân, một tủ sách
to tát, y như phòng của một ông tổng trưởng.
Nghị Hách ngồi trên ghế tròn xoay, chân đi giầy da, mặc áo
khoác dài, trên cổ có một cái khăn quàng lông chiên tua tủa. Thị Tín một cô
nàng hầu trẻ nhất và đẹp nhất của lão, thì nằm... trong lòng lão, hai cánh tay
mềm mại vòng vào cổ lão, đôi chân ruỗi thẳng cẳng trên bàn.
Chợt một hồi chuông điện kêu ran lên... Nghị Hách cứ để
nguyên như vậy, khoan thai cầm lấy ống điện thoại.
- Allo! Allo! Phải! Chính ông chủ đây... À, thế nào nữa?...
Được... Sao nữa?... Sở than hòn Gay hạ giá than xuống dưới năm đồng? Được! Thế than
nắm, nó bán bao nhiêu? Allo, được rồi! Phù goòng phải cho làm đêm, được. Thế
cai thầu với hãng tàu biển Năm Sao ra làm sao?... Thế à! Thế thì ông phải cố mà
tranh lấy bốn đồng rưỡi một tấn thôi vậy... phải, cứ hạ hẳn giá xuống. Nếu sợ lỗ
thì hạ lương kíp phu ngày xuống hào hai... Không sợ! Allôallô Thằng nào phản đối
thì đổi nó vào kíp đêm... Không thì loại vợ con chúng nó ra... Ừ! Trên một
nghìn nghỉ việc, được... Được đấy, thằng nào kỳ kèo thì đuổi hẳn... Sao nữa? Ừ,
được rồi!... Bảo là đầu tháng sau ông chủ xuống. Thôi!
Nghị Hách bỏ ống điện thoại xuống, quay về... .............
mỹ nhận......................
Hai mắt lão đỏ ngầu lên, vì lúc ấy con người đã trái mặt đi,
để cho con quỉ dâm dục xuất hiện.
Chợt có ba tiếng gõ nhẹ vào cửa...
Nghị Hách bực mình ngửng lên hỏi:
- Cái gì?
Bên ngoài cánh cửa có tiếng nói vào:
- Bẩm quan lớn, ông Tú Anh có người lên hầu chuyện quan lớn đấy
ạ.
- Đàn ông hay đàn bà?
- Bẩm một cậu con giai.
- Bảo ngồi ở phòng tĩnh tâm mà đợi.
...
Giữa lúc ấy, tên người nhà đưa Long vào một căn phòng rồi
khép cửa lại. Trên tường, không biết bao nhiêu hoành phi, câu đối, màu son, màu
vàng chói lọi. Những cái đĩa cổ rất quý giá, to, nhỏ, đủ thứ, làm cho bốn phía
tường có cái vẻ chi chít những mắt kính như đầu một con sư tử Tàu của những dịp
tết Trung thu. Sừng hươu và sừng bò rừng, điểm vào những dẫy đĩa ấy làm chỗ để
mũ, mắc áo.
Trên cái tủ chè có một dãy ngà voi. Trên sập gụ có một khay
đèn. Hai bên khay đèn là hai cái da hổ mà đầu hổ là gối. Rồi thì... những tủ,
ghế, kỷ con, kỷ lớn, yên gụ.v.v... nghĩa là một trăm thứ đồ đạc kỳ lạ và sang
trọng vô cùng.
Long ngồi chờ độ nửa giờ thì cánh cửa bị đẩy... Nghị Hách bước
vào, có Thị Tín vừa đi vừa xếp lại vành tóc rối loạn trên đầu, theo sau...
- Lạy cụ ạ, chào cụ ạ.
Nghị Hách không đáp lời chào chỉ hỏi:
- Anh là người làm công trường Đại Việt?
- Vâng.
- Anh lên có việc gì?
- Bẩm có nhiều việc, bẩm cụ xem thư đây.
Nghị Hách cầm lá thư, lại hỏi:
- Anh có biết tiêm thuốc phiện đấy chứ?
- Bẩm vâng.
- Thế anh cởi giày ra, lên sập.
Nghị Hách nói xong nhìn Thị Tín một cái mà lắc đầu. Cô ả này
ra khỏi gian phòng khép cửa lại. Mãi lúc ấy nghị Hách mới nhìn xuống phong thư.
Hai người nằm đối diện nhau. Long thì tiêm thuốc mà nghị Hách
thì xem thư... Xem xong một lá, nghị Hách vội hỏi:
- Tại sao thằng Vạn nó lại biết rõ chuyện như thế được?
- Chúng tôi cũng không rõ.
Đến đấy, nghị Hách cau mày nghĩ ngợi, vỗ trán mấy cái rồi
nói:
- À phải! Đây là tại thằng tài Nhì vào tiệm hút kháo chuyện
đây!
Rồi lão lại bóc nốt mấy lá thư sau. Xem xong, lão kéo điếu
thuốc do Long mồi, rồi lại trầm ngâm nghĩ ngợi, Long hỏi:
- Bẩm thế bây giờ cụ định thế nào ạ?
Nghị Hách cười nhạt mà rằng:
- Tao thì tao chẳng bận tâm gì về việc ấy cả. Nghĩa là chủ
mày cứ bắt tao phải lấy con bé ấy, chứ tao có thiết gì đâu!
Long rất lấy làm ức về cách xưng hô ấy, song chỉ tươi cười:
- Chúng tôi tưởng thế nào cũng là tùy ý cụ chứ... Nghị Hách
nói:
- Mày không biết rõ chủ mày. Ông ấy là một người đứng đắn lắm,
tao có thể trông cậy vào ông ấy được nhiều điều lắm. Nếu trái ý ông ấy thì sẽ hại
to nhiều việc về sau. Mà theo ông ấy thì khó lắm, vì bà nghị dưới cảng ghen lắm.
Như mày bảo tao nên làm thế nào?
- Chúng tôi tưởng cụ cứ việc đền tiền cho người ta!
- Nhưng mà chúng nó thua kiện rồi.
- Đã đành vậy. Nhưng mà đó là ông Anh muốn, chứ có phải tòa xử
cho cụ thua kiện mà phải lấy người ta làm vợ đâu!
- Ừ nhỉ! Thế mà tao không nghĩ đến đấy. Kìa mày tiêm to nữa
vào... Mấy điếu thuốc vừa rồi bé quá, không ăn thua gì cả. Thế mày bảo đền thì
đền độ bao nhiêu?
- Cụ cứ cho người ta vài ba trăm bạc.
Nghị Hách ngồi nhổm lên mà rằng:
- Chết! Vài trăm bạc! Mày điên! Mày có biết những nàng hầu của
tao ở đây, đáng giá bao nhiêu mỗi thị không? Cái đứa đẹp nhất, tao cũng chỉ mua
của bố mẹ nó có bảy chục. Còn phần nhiều không mất xu nào. Có bảy chục bạc còn
phải về hầu hạ người ta suốt đời, huống chi... chỉ có một lần mà những vài trăm
bạc!
- Cụ nên biết cho là cô gái quê ấy sắp lấy chồng. Cụ làm cho
người ta mất tiết trước khi lấy chồng thì số tiền tưởng cũng chẳng là bao.
Nghị Hách cười ha hả một hồi, cứ vỗ mãi vào vai Long, cười
như cười một điều gì thú vị lắm. Sau cùng lão mới vừa nấc nấc, vừa nói.
- Mày còn ngu lắm! Mày có biết ở những nơi phồn hoa độ hội
như Hà Nội, Hải Phòng, người ta bán chữ trinh của người ta bao nhiêu không? Đến
đây, lão xòe bàn tay ếch ra. Năm đồng! Vợ một ông trạng, vợ một phán thường
thua bạc, phải kiếm xu thì đi ngủ săm với tao mà cũng chỉ lấy một đồng là cao
nhất rồi.
- Xin lỗi cụ, ông chủ con cho cái việc chơi ngông của cụ là
đáng phải trả đắt lắm. Đấy cụ xem ông chủ con chả cứ buộc mãi cụ lấy người ta
làm vợ đó là gì!
- Ông ấy hủ lậu thì ông ấy mới có những cái cẩn thận vô ích
thế.
Làm như không nghe thấy câu ấy, Long cứ nói tiếp: - Đằng này
cụ đã hưởng cả cái chữ trinh của người ta như thế, thì hai trăm bạc với một lá
thư cũng chẳng là bao. Còn hơn lấy về làm vợ lẽ, một là điều đình với người ta
và với người mà mình là sự rất khó, hai là ngộ sau này có con thì nào con vợ cả,
con vợ lẽ, sẽ có mối đáng lo về phần gia tài. Cụ cứ viết một lá thư cắt nghĩa
rõ như thế rồi tôi xin quay về nói khó với ông chủ tôi.
- Ừ! Mày nói nghe được! Thế hợp ý tao lắm. Hai trăm bạc...
- Với một lá thư...
- Lá thư như thế nào?
Long ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Nguyên ông chủ tôi lại để ý đến chỗ cô gái quê ấy sắp lấy
chồng... Nếu viết cho họ một lá thư nói về việc nài hoa ép liễu, để cho người
ta có chứng cớ với chồng người ta là không phải lỗi người ta hư, thì người ta
không lo bị chồng ghen và hành hạ. Được vậy, vì chị vợ có hai trăm bạc đền thì
anh chồng sẽ vì thấy của tối mắt mà không còn bực mình về chỗ vợ đã mất tân. Mà
có lẽ còn sung sướng nữa.
- Ừ, mày nói nghe được đấy.
Nghị Hách đỡ dọc tẩu kéo điếu thuốc xong, nhắm nghiền mắt lại
khoan khoái. Nhưng bỗng lại mở choàng mắt ra mà rằng:
- Ồ! Không được! Viết thư thế ngộ nó kiện cho thì bỏ mẹ!
- Đời nào bọn ấy còn dám đi kiện.
- Phải, nhưng mà cái gì cũng đề phòng thì hơn.
- Nếu thế thì cụ chỉ còn cách lấy người ta thôi.
- Lấy thì nhiễu lắm, tao không muốn.
- Mà không lấy, không được?
- Ừ. Không lấy thì ông chủ nhà mày lại không bằng lòng!
- Phiền thật!
- Chó lắm!
Long nghe xong ngẫm nghĩ một lúc. Chàng chỉ nằm tiêm thuốc mà
không bàn tính gì thêm. Rồi chàng lôi ở túi áo ra hai số báo Lưỡng kỳ.
- Đây này, việc của cụ làm cho dư luận Bắc Kỳ rất xôn xao. Cụ
đừng tưởng là không hệ trọng và không ai bình phẩm về việc ấy đâu.
Nghị Hách vồ lấy hai tờ nhật trình. Khi xem xong cả hai số
báo rồi, lão ta tái mặt, trên trán thấy toát mồ hôi ra như giữa lúc mùa nực vậy.
lão bấm cái chuông ở đầu giường.
Một lát, cô Kiểm mở cửa bước vào.
- Quan lớn đòi gì?
- Gọi thằng tài Nhì và thằng Xuân lên đây ngay.
Năm phút sau, tài Nhì và Xuân cùng kéo nhau vào Nghị Hách ngồi
lên, bảo:
- Thằng Xuân, mày lấy cái roi cá đuối lên đây.
Tài Nhì bỗng tái xanh cả mặt mũi. Anh ta run run hỏi:
- Bẩm quan lớn, thế con có tội gì ạ?
Nghị Hách lạnh lùng:
- Mày cứ chờ đây thì biết.
Đến lúc thằng Xuân xách cái roi cá đuối lên rồi và đã đứng
khoanh tay chờ lệnh rồi Nghị Hách mới hỏi.
- Tài! Mày có biết rằng khi tao cho mày về làm với tao thì
mày đã thề rằng mày sẽ không nói một chuyện gì của tao, mày không được tiết lộ
một điều bí mật gì ở nhà này cho một người nào nghe, có thế không?
Tài Nhì run rẩy:
- Bẩm đã.
Nghị Hách hỏi Long:
- Thày có biết khi một ông quan để bại lộ việc nước thì nhà
vua phải trị tội ông quan thế nào không?
Long muốn đáp... Nhưng Nghị Hách lại hỏi thằng Xuân ngay:
- Xuân! Mày có còn nhớ là khi xưa, mày đi theo rạp xiếc thì
mày vẫn được quật roi điện vào sống lưng những loài hổ báo, và mày đã vì ăn cắp
mà phải đuổi không? Mày có nhớ là nếu tao không thương mày thì mày phải tù rồi
không?
Thằng Xuân cau đôi lông mày chổi sể, nhăn cái má có sẹo, làm
một câu:
- Có ạ!
Tức thì Nghị Hách đứng lên, cầm lấy cái roi.
- Thằng Tài! Mày đã trót nhỡ nói chuyện tao cho thằng Vạn ở
Hà Nội hôm xưa thì hôm nay mày chịu cái vạ miệng ấy. Muốn khỏi chết thì tức khắc
ra đứng quay mặt vào tường!
Tài Nhì vâng lời ra đứng quay mặt vào tường rồi thì Nghị Hách
giơ cao roi vụt thằng xuân một cái vào ngang lưng. Tiếng roi đập xuống đánh đét
một cái, nghe đến rùng mình. Thằng Xuân co quắp cả người, nhăn mặt chịu đau.
Nghị Hách từ tốn đưa cho nó cái roi cá đuối rồi lên ngồi sập.
Lúc ấy, thằng Xuân cầm roi rồi. Nó mím môi lại, giơ cao tay.
Từ đây trở đi, người ta chỉ thấy tiếng đen đét luôn hồi của cái roi. Người ta
tưởng đương xem một đám đua ngựa.
Tài Nhì, đương cái cơn mưa roi vọt ấy, oằn mình đi như một sợi
tóc bị hơ trên ngọn lửa. Long không dám nhìn phải nhắm mắt lại. Vậy mà những tiếng
đen đét vẫn không thôi giáng xuống lưng Tài Nhì như mưa...
Oai nghiêm trên sập, nghị Hách vẫn chưa có lệnh cho ngừng.
Chương 11
Đôi ống quần thâm ướt quá đầu gối, với một thúng bèo tấm đầy
có ngọn trên đầu, trên con đường chật hẹp hai bên um tùm rào găng, chạy quanh
co từ đình làng về nhà mình, thị Mịch uể oải như đếm từng bước một mà đi.
Người làng đã tấp nập đốn tre để giồng cây nêu buộc những
chùm khánh và cá bằng gạch nung vào ngọn cây tre, và quét vôi trắng xóa cả sân,
vì ngày hôm sau đã là ngày tết ông Táo.
Trước sự tưng bừng của thiên hạ. Mịch nghĩ đến gia cảnh mà
đâm buồn. Cô thấy loài người là ích kỷ, độc ác, không còn một ai là đáng yêu.
Cô chợt nhớ tới những lúc mẹ cô, bà đồ, nhăn nhó kêu với ông đồ là nhà hết gạo,
hết cả mắm muối, rồi ông đồ lấy cái bàn tay ẻo lả bưng trán mà không nói gì cả.
Cô trông thấy bố trên đầu tóc đã bạc đến quá nửa, kể từ khi có cái tai họa xảy
ra. Vậy mà đã đến nửa tháng rồi cô cũng không thấy tăm hơi người chồng sắp cưới
của cô đâu cả.
Lúc ấy bên tai cô thấy vẳng từ xa đưa lại những câu gọi của
người làng, của những người kệch cỡm đứng tận ngoài đầu ngõ tru tréo mời nhau đến
chỗ mổ lợn chia thịt họ, là những phần thịt mỗi tháng mỗi người bỏ ra góp một
hào, để có một ít thịt làm giò chả, nhân bánh, và đỗ nấu vào dịp tất niên. Việc
ấy khiến Mịch nhớ lại những tết trước, lúc ông bố còn dạy học.
Những năm trước, vào quãng 25 tháng chạp thôi, phụ huynh của
những học trò ông đồ, đã phải lo tết cho thày, tấp nập tải đến người thì thúng
gạo nếp, một đôi gà, người thì một cân chè, một cân mứt, người thì cái thủ lợn,
một thúng gạo, một buồng cau.
Vậy mà tết năm nay...
Ông đồ ngồi co ro trong cái áo bông cũ mà nhìn trời mưa, thỉnh
thoảng lại hút một hồi thuốc, ngán ngẩm trông những giọt mái gianh rơi xuống
rãnh nước cho bong bóng phập phồng! Mịch bất giác thở dài vì thấy cả gia đình
nhà mình không còn có tương lai nữa.
Chợt có tiếng nói: - Chị Mịch đi hớt bèo về đấy à?
Ngoảnh lại nhìn, thì đó một bà cụ già đương đứng khom lưng chống
gậy tre ở ngoài ngõ.
Bà già nói tiếp:
- Mau lên về mà xem! Ở nhà đương có cô thầy bói hay lắm.
- Thế ạ? Vâng!
Đáp rồi, Mịch rảo cẳng bước đi. Được độ hai mươi bước, khi
qua một cái tường bằng phên. Mịch phải dừng đà chân vì thoáng thấy có ai nhắc đến
tên mình. Mịch bèn đứng hẳn lại lắng tai nghe, thì thấy một người nói:
- Cái con bé bây giờ hư lắm, không giữ gìn gì nữa. Chắc là từ
hôm nó bị hiếp thì nó lăng nhăng bừa bãi với bọn con giai làng bên.
Một người khác nói:
- Chỉ có thế thôi à?
Người kia lại nói.
- Úi chao! Con gái voi giày đến thế là cùng chứ bà lại còn muốn
thế nào nữa?
Thị Mịch đỏ bừng mặt, đứng lặng người đi, lại cố lắng tai
nghe thêm và trong khi ấy, cũng phải nghe tiếng quả tim đập thình thịch trong
ngực.
Lại thấy nói:
- Thế thì bà chưa biết chuyện gì cả. Bà chỉ mới thấy người ta
đồn con Mịch bờm xờm với tụi con giai làng Thượng thôi, chứ mà tôi thì tôi lại
thấy con bé ấy trương ruột ra rồi:
- Ủa! Cô ả ễnh ruột ra rồi?
- Bẩm phải ạ! Bà cứ để ý đến cái bụng nó mà xem! Nhờ ơn vua mẫu,
bụng nó đã gần bằng cái thúng rồi đấy.
- Thật à? Thật thế à?
- Phải! Mấy tháng nay con bé đã ốm nghén đấy! Lúc nào cũng ăn
được rổ tướng những khế, một rá ụ những chanh! Lúc nào cũng lử dử lừ dừ chả buồn
mó đến việc gì cả! Lúc nào cũng chỉ chúi dưới bếp mà ngủ thôi. Nó ăn rở của
chua nên mới thế, chứ có phải đâu con bé vốn hư thân đốn đời!
- Chẹp! Chẹp!!!... Rõ chém cha cái đời! Cho thế mới mát ruột
con mẹ đồ Uẩn. Không thế thì không được hợm hĩnh những là giấy rách giữ lề, những
là dòng dõi thế gia!
Thế rồi im.
Mịch nghe xong, rùng mình như thấy choáng váng đầu óc, tối
tăm mặt mũi, bủn rủn chân tay, tóc gáy dựng đứng lên, xương đầu gối muốn long
ra, không còn đứng vững được nữa.
Là vì ngoài những câu phê bình độc ác thì câu chuyện ngồi lê
bắt chấy ấy, chẳng phải là không có chút ít sự thực. Mịch hãi hùng mà nhớ lại
là hai tháng nay rồi, Mịch thấy trong mình hình như có sự gì chuyển động, sự gì
thay đổi, kinh nguyệt rất thất thường, lúc nào cũng thèm của chua. Mịch đã nhận
thấy một cách rõ rệt rằng bụng mình quả nhiên cứ mỗi ngày một thêm to ra, cái dải
dút cứ hình như ngắn lại. Mịch vẫn tưởng hay là mình béo ra, hoặc là hay ăn cơm
quá no. Mịch nhận ra rằng xưa kia, cái thắt lưng xanh vẫn dài chấm đầu gối mà
ngày nay tự nhiên lại cũn cỡn lòng thòng ở bên trên hai đầu gối. Và hình như có
lẽ đã một tháng nay, Mịch không thấy “bẩn mình” nữa rồi.
Nghĩ đến đấy, Mịch nhìn xuống bụng, rồi quay đầu nom quanh một
lượt như có kẻ nào đã nom thấy cái cử chỉ ấy vậy. Rồi Mịch thoăn thoắt bước đi
rõ nhanh, như người đi trốn, như sau lưng có một lũ trẻ chạy theo rêu rao mình,
như vừa mới làm một sự gì rất đáng xấu hổ, mà bị có người bắt được quả tang. Mịch
thấy rằng không còn thể ở được chỗ nào có người nữa, dễ phải đến lên rừng, lên
núi, vì nếu sẽ thấy mặt bất cứ một ai, Mịch cũng sẽ xấu hổ vô cùng.
Không phải là lần đầu mà Mịch biết thế nào là ngượng thế nào
là thẹn.
Từ sau cái buổi bị cưỡng bức trên chiếc xe hơi, Mịch cũng đã
hiểu thế nào là sự đời rồi. Từ sau khi ấy, không bao giờ biết cái gì là tự
nhiên, biết cái gì là ngây thơ.
Xưa kia, những lúc xuống ao vớt bèo, Mịch cứ việc xắn cao ống
quần lên đến tận bẹn. Những khi giặt giũ quần áo ở ven sông, hoặc là một mình,
hoặc là cùng với một đám đông đàn bà, không bao giờ Mịch lại thấy ngượng nghịu
và phải đỏ mặt vì cách đấy mươi bước có một lũ đàn ông trần truồng lội, bơi, tắm,
giặt, không bao giờ, thật vậy, không bao giờ Mịch phải e thẹn, vả chưa bao giờ
Mịch lại có hề nghĩ đến chuyện bậy, vì cũng không biết rõ những sự bậy phải như
thế nào. Xưa kia vẫn là người hoàn toàn ngây thơ.
Nhưng từ sau khi bị cưỡng bức thì không bao giờ Mịch còn có
thể ngồi giặt giũ ở bờ sông khi có đàn ông tắm. Ngay đến lội xuống ao vớt bèo
cho lợn Mịch cũng cứ phải để ống quần dài, mặc lòng người làng vẫn mai mỉa là
đài các, là làm bộ, là ngông. Là vì hình như nếu để lộ đùi ra thì lại sẽ có người
thừa cơ hãm hiếp nữa. Ngay cả đến những lúc trông thấy con gà trống nhảy lên
lưng con gà mái, Mịch cũng phải vội quay đi không dám nhìn. Mịch lại thấy đỏ bừng
mặt vào cả những lúc thấy hai con chuồn chuồn theo luật âm dương, cưỡi lên lưng
nhau mà bay.
Ấy, đã giữ gìn thận trọng đến thế, mà còn có người thêu dệt
ra là Mịch đã hóa nên hư thân mất nết! Không biết mai sau người ta còn bịa đặt
ra những gì?
- Chẳng qua là giậu đổ bìm leo?
Còn đương tự nhủ như thế thì đã đến nhà rồi. Mịch đi đến chuồng
lợn đặt thúng bèo xuống, nhìn đến ba con lợn mới to bằng ba con chuột đồng, rồi
lại nhìn xuống bụng. Mịch phân vân lo sợ đứng thừ người ra quên khuấy ngay mất
rằng bố mẹ đương xem bói ở nhà trên. Rồi, lẩn thẩn, Mịch cởi dải dút ra, nhìn
xuống bụng, lấy một tay nắn bụng nữa. Sau cùng thì Mịch lại vội thắt dải rút lại,
đỏ bừng mặt mà nhìn chung quanh mình. May sao lúc ấy không ai trông thấy cả.
Mịch hoảng hốt rảo cẳng lên nhà trên.
Chưa lên đến nơi, đã thấy một giọng đàn bà vừa như nói lại vừa
như hát:
“Quan Phù, Thái Thuế long đong Tháng ngày chờ đợi của
công mỏi mòn!” Rón rén tiến gần vào nhà, nhẹ đưa tay lôi cái mành mành nhìn, Mịch
thấy đó là cô thầy bói. Bà đồ Uẩn nhăn nhó hỏi:
- Thày xem hộ rồi có làm sao không?
Cô thày bói bấm một lát rồi đáp:
- Không! Tuy thế mà trước dữ sau lành đấy. Vì may ở tam
phương tứ chiếu có những sao Thiên quan quí nhân, Thiên phúc quí nhân thì may
ra rồi cũng không việc gì. Tất rồi gặp được ông quan minh và có quí nhân phù trợ.
Ông đồ hỏi một cách chán nản:
- Thày bảo con bé cháu nhà tôi nhất định sang năm thì lấy chồng
à? Mà lại lấy chồng giàu nữa kia à?
Cô thày bói đáp:
- Nhất định, vì sang năm cô ta có Hồng Loan, Thiên Hỷ chiếu.
- Thôi thế thì sai lắm rồi. Không có thể thế được.
Bà đồ bàn góp:
- Hay là sai giờ? Hay là giờ thân chớ không phải giờ dậu?
Ông đồ cau mày.
- Lúc ấy gà mới lên chuồng thì là dậu chứ chưa sang thân.
Hình như không nghe ai nói, cô thày bói lại bình tĩnh tiếp:
- Nhất định thế, số cô này giàu có lắm cơ. Nhưng mà chắc là
phải lấy lẽ vì Nô cung thấy có Tả Phu. Hữu Bật. À à! Lại có điều này nữa kể
cũng hơi lạ đây. Nhưng mà không, tôi chả đoán, sợ lại giận...
Ông đồ nói:
- Cái gì nữa thế ạ? Thày cứ nói! Mười câu về tiền vận thì đã
đúng đến tám rồi. Chỉ còn mấy câu hậu vận của con cháu là tôi không dám tin mà
thôi. Nhưng xin cứ đoán.
Cô thầy bói lại nói như hát:
“Sao Thai mà ngộ Đào Hoa Tiền dâm hậu thú, mới ra vợ chồng!
Bà đồ hấp tấp hỏi dồn:
- Thế là nghĩa thế nào? Thế là làm sao hở thày?
Nhưng ông đồ gạt phăng ngay đi mà rằng:
- Thôi không hỏi nữa! Xem lắm chỉ thêm lo thôi.
Cô thày bói ra vẻ bất bình, cầm tiền xếp dọn đĩa cất vào
tráp, rồi khoác cái tay nải đỏ lên vai. Ông đồ tiễn thầy ra cổng, thì vừa lúc Mịch
đến trước mặt mẹ.
Bà đồ nói một cách giận dỗi:
- Mãi chả về mà nghe! Thày bói đoán được nhiều đúng lắm.
Mịch nhìn theo bố một cách sợ hãi rồi lắp bắp.
- U ơi u! Tôi... giời ơi! Dễ thường tôi...
- Làm sao?
- ...
- Mày làm sao.
- ...
- Ô kìa, con bé lạ nhỉ? Thế mày làm sao? Mịch run rẩy khẽ
nói:
- U ạ, dễ thường tôi... dễ thường tôi chửa...
- Cái gì?
- ...
- Mày chửa làm gì? Mày chửa vớt bèo cho lợn ăn à?
- Không phải. Tôi chửa, tôi có chửa, tôi có mang!
Bà đồ trợn ngược mắt lên, thất thanh hỏi:
- Mày có mang? giời cao đất dày ơi! Mày có mang?
- Hình như thế thì phải.
- Tao xem nào?
Thị Mịch ưỡn ngực ra. Bà đồ để tay vào bụng con gái, ngẩn người
ra rồi lại thì thào hỏi:
- Thế dạo này có tội không?
- Dễ đến hơn tháng nay, không thấy gì cả.
- Mày vẫn thèm ăn chanh, ăn khế?
- Vẫn thèm.
Vừa lúc ấy, ông đồ quay vào. Bà đồ nói bằng cái giọng của bệnh
nhân hấp hối:
- Đây này ông ơi, ông vào mà xem, con Mịch nhà ta có mang!
- Cái gì? Cái gì thế?
- Có mang! Thụ thai! Chửa hoang! Giời ơi là giời!...
Rồi bà đồ ngồi phệt xuống giường, sụt sịt khóc. Ông đồ đứng
ngây người ra như Từ Hải chết đứng. Chân tay run lên như điện giật, ông trợn mắt
hỏi không ra tiếng.
- Mịch, thật đấy à?
Cô Mịch cúi mặt khẽ đáp:
- Thưa thày thật.
Ông đồ lại đờ người ra hồi lâu. Rồi nói:
- Cái thằng khốn nạn!
Cô Mịch vẫn đứng cúi mặt. Bà đồ vẫn sụt sịt khóc.
Ông đồ lại nói:
- Sao mày dại dột thế? Đồ voi giày! Tao tưởng cái thằng ấy
cũng khá.
Mịch cau mày, hỏi:
- Thế nào là khá?
- Tao tưởng mặt mũi nó thế! Mà nó giạm hỏi tử tế! Thảo nào
lâu nay mất mặt!
Mịch hỏi:
- Thày nói anh Long đấy à?
- Thế mày chửa với ai!
Thị Mịch cáu kỉnh gắt:
- Lại còn với ai nữa!
Ông đồ tát con gái đánh bốp một cái, Mịch loạng choạng ngã ngồi
xuống đất. Ông đồ xỉa xói.
- Đồ đĩ dại! Đồ nhà thổ! Đồ chó!
Rồi vớ lấy cái chổi phát trần...
Thị Mịch vội đứng lên kêu:
- Thày hãy khoan! Không phải tôi chửa với anh Long.
- Giời ơi! Thế thì mày lại còn đi ngủ với thằng mõ nào? Giời
ơi, tôi không đốt đình đốt chùa! Với thằng Long còn đỡ chứ với đứa khác thì
càng xấu, càng nhục!...
Thế là ông vụt luôn bốn năm cái nữa.
Mịch tối tăm mặt mũi vừa chạy giật lùi, vừa kêu:
- Lạy thày! Đó là lão chủ ô tô.
- Lại còn thằng nào? Ông đồ ngừng tay, hỏi bằng cái nghiến
răng.
Thị Mịch vừa khóc nức nở vừa nói:
- Cái... thằng hiếp dâm tôi chứ còn đứa nào!
Ông đồ trợn mắt, lại hỏi:
- Thật thế?
- Thày hỏi làm gì nữa, hãy cứ đánh chết tôi đi đã có được
không!
Rồi Thị Mịch lại khóc nữa nở. Ông đồ vứt roi đi, lom khom cúi
xuống, ái ngại lôi tay con gái.
Chương 12
Long để cái va ly xuống ghế rồi ngơ ngác nhìn quanh... Phòng
ông giám đốc Đại Việt học hiệu lúc ấy vắng tanh như một gian nhà bỏ hoang vậy.
Chàng bèn ấn cái chuông ở bàn giấy. Mãi mới thấy anh gác trường chạy lên. Chàng
hỏi:
- Ông chủ đi đâu rồi?
Người gác cổng dụi mắt đáp:
- Ông chủ đi nghe diễn thuyết ở trường Cao đẳng.
Long cự:
- Sao ông vào trong ấy mà lại không khóa cửa trường lại?
- Tôi định vào thì ra ngay đấy mà. Vả lại vừa rồi có cụ nghị
về chơi.
- Thế à? Cụ nghị đã gặp ông chủ chưa?
- Chưa gặp. Vì ông chủ vừa ra đi một lúc thì cụ nghị mới đỗ
xe trước cửa.
- Thế à?
Long thẫn thờ nói thế rồi ngồi xuống ghế. Người gác trường hỏi:
- Thế ông ở trên cụ nghị về đấy à?
- Không, tôi ở Hải Phòng về.
- Ở dưới ấy với cụ nghị bà ấy à?
- Phải.
- Ông đi làm gì thế?
- Có việc riêng của ông chủ.
- Việc gì thế?
Long cau mày, gắt:
- Sao mà ông hỏi kỹ thế? Khi tôi đã nói việc riêng thì ông đừng
hỏi thêm nữa chứ!
Người gác trường khua lộp cộp đôi guốc ra cổng với một cái
xích sắt dài...
Long gọi lại:
- Này! Thôi, đã có tôi ở đây thì ông không cần phải khóa vội.
Cứ mở rộng cửa ra, ngộ nhỡ có khách hay có ai muốn hỏi gì chăng.
Người gác mở rộng cửa, buông rơi một xích sắt, khiến nó va
vào cửa cánh xoảng một cái, rồi lại lộp cộp đôi guốc đi thẳng vào nhà trong.
Long vội gọi lại hỏi:
- Này ông gác!
- Gì nữa thế ạ?
- Cái nhà ông em ông chủ có còn ở trường này không?
- Ông nào?
- Ông này sao chóng quên thế! Ông em ông chủ tức là cái cậu lại
đây ở tháng trước mà ông phải dọn phòng ấy mà! Cái cậu có cô vợ tân thời ấy mà!
- À, cái cậu nghiện ấy chứ gì?
- Phải đấy.
- Dọn lên ở trên phố Mới được tuần lễ rồi.
À ra thế.
- Ông có hỏi gì nữa không thì cho tôi đi ngủ.
- Thôi được, ông cứ vào mà ngủ.
- Thế ông chờ ông chủ giúp tôi nhé! Đây, chìa khóa đây.
- Được ông cứ để ở bàn.
Người gác trường vào nhà trong rồi. Long bèn cởi đôi giày ở
chân ra, đi vào dép, rồi đem cái điếu thuốc lào đến để ở bàn giấy. Chàng hút một
mồi thuốc, ngả người trên ghế, nhìn làn khói xanh tản mạn bay.
Chàng ôn lại cái thời gian đã sống ở dưới cảng để điều đình
cái cuộc trăm năm giữa người yêu của chàng với người thân sinh ra ông chủ Đại
Việt học hiệu.
Khi còn ở trên ấp Tiểu Vạn trường thành, Long đã phải mất bao
nhiêu công suy nghĩ mới đóng được cái vai trò đặc biệt của chàng. Chủ đã phó
thác cho công việc nặng nề là thuyết lý làm sao cho người thân sinh của ông chủ
sẽ vui lòng kết bạn trăm năm với cô gái quê, mà người ấy đã nài hoa ép liễu.
Trong khi ấy, vì còn quá tin ở ngọn đèn trời, tin ở thần Công lý, ở lẽ phải, ở
cái kiện, nên Long đã chẳng ngại ngùng gì cả vội nhận lời với chủ ngay. Đến khi
lên tới ấp Tiểu Vạn trường thành là khi thấy bên gia đình họ hàng vợ chàng đã
thua kiện một cách rõ rệt rồi, thì Long lại phải thay đổi cử động. Đến khi nghị
Hách lại phó thác cho chàng với việc thuyết khách là việc nói làm sao cho người
vợ cả của lão vui lòng để lão cưới vợ bé, thì Long lại phải đeo lên mặt một cái
mặt nạ thứ ba.
Đứng trước một cái tai họa, mà ngay cả đến tạo vật cũng không
thể cứu chữa được nữa, lại thêm ở cái tình thế khó xử là kẻ gây ra tai họa ấy lại
là bố một người mà chàng có bổn phận coi trọng như một vị ân nhân, thì chủ ý của
Long chỉ là hành động ra sao cho người vợ chưa cưới kia được đền lại bằng một số
tiền. Ngoài ra, nếu muốn báo thù kẻ đã làm thương tổn đến hạnh phúc của mình,
thì Long sẽ tự kiếm lấy cách sửa thù khác, chứ chàng cũng chẳng trông cậy gì
vào nơi của công. Cho nên gặp những lúc ấy, Long đã nhận lời của cả hai bên, để
có cơ dò xét tình thế của kẻ thù rồi sẽ tùy cơ ứng biến.
Người thứ nhất chàng phải nghe, đã ân cần nhờ chàng làm cái
việc ông tơ, bà nguyệt. Người thứ nhì lại cho chàng những hai điều kiện hoặc
người ta sẽ cưới thị Mịch làm vợ lẽ, nếu người vợ cả người ta sẽ ưng ý, hoặc
người ta sẽ đền tiền, nếu con giai người ta chịu nghe lời hùng biện của Long.
Thế rồi Long xách va ly xuống Cảng tìm bà nghị.
Long như còn trông thấy rõ cảnh tượng một gia đình giàu có, sống
về tiền cho thuê nhà, do một người đàn bà đồng bóng, ở riêng, đứng chủ trương.
Bà nghị trạc ngoại tứ tuần rồi, song mặt mũi lúc nào cũng
trát bự những phấn với son. Cách trang điểm còn trai lơ như đôi tám. Trong mỗi
tháng, bà chỉ bận độ dăm ngày phải ngồi trên xe nhà, lần lượt đến chỗ có mấy chục
nóc nhà mà bà là chủ cho thuê. Còn thì bà chỉ bận đi đánh tổ tôm, xóc đĩa, hoặc
ngự xe hơi hòm đi hầu bóng các đền, các phủ ở khắp tỉnh. Nếu không đi xa lễ bái
thì bà tổ chức cuộc đồng bóng ở tại nhà. Cái điện thờ quan lớn của bà nghị ở Cảng
đã được tiếng là uy nghi, to tát nhất nước Nam.
Thỉnh thoảng lại có một kỳ suốt ngày, suốt đêm trong nhà vang
rộn tiếng tửng tưng của cái đàn nguyệt, tiếng hò khoan ê a của bọn cung văn, tiếng
chiêng tiếng trống lung tung và những tiếng thét, bé hé hé!!!...
Cũng vì thế nên hai cô con gái rất đẹp, rất tân thời của bà
nghị, được mặc lòng cắp sách đến nhà trường, hoặc tự do đi tìm ái tình một cách
ngây thơ vui vẻ ở mồm những người đàn ông.
Long còn nhớ rõ cái ngày chàng mới đến mà thấy bà nghị, giữa
một đám đông đàn bà đương đứng ưỡn ẹo mặc thử những thứ khăn chầu áo ngự trước
tủ gương... Một người đàn bà ngông nghênh ưu phỉnh giữa một đám đàn bà thuộc
phường buôn giấy bạc giả, thuộc phường cho vay lãi ở các sòng bạc, thuộc phường
buôn người sang Tàu, hoặc thầu cơm tù cũng nên, nhưng cứ gọi nhau là những bà lớn
cả. Sau khi xem lá thư của ông nghị mà Long đưa ra, thì bà nghị chỉ bỏ xỏng một
câu đại khái: “Được rồi, việc này can hệ lắm, cậu hãy theo thằng xe vào gác
trong nhà nghỉ rồi để đấy vài hôm tôi nghĩ xem sao”. Thế rồi ngày một ngày hai,
ăn chực nằm chờ, Long cứ thấy ngày giờ là dài dằng dặc, và cái việc theo lời bà
nghị là “can hệ lắm” thì lại không là can hệ, vì người ta đã vô tâm quên khuấy
ngay đi mất. Lúc nào Long cũng thấy bà nghị có việc bận, hoặc có khách không tiện
nói, hoặc vừa động đến thì bà nghị đã ngăn đón “Tôi biết, hãy để xem”.
Trong thời gian ấy Long tình cờ lại thành ra là thư ký của
hai cô. Long đã phải chép hàng cuốn sách lớn những bài ca cải lương Nam kỳ. Hai
tiểu thư học chữ rất ít, chỉ học đàn, học hát là chăm chỉ lắm. Món thể thao của
hai tiểu thư không là nhảy múa trước thần và thánh. vua và mẫu, nhưng là tập đi
xe đạp, tập cầm lái xe hơi. Nói tóm một câu, trước mắt người cổ hủ, hai tiểu
thư đã được khen là đủ tư cách để “trả nợ đời” cho bố, hay là trước mắt những
người văn minh tân tiến, đó là những bậc nữ lưu gương mẫu đang “đánh dấu cho một
thời đại”.
Ba bốn ngày đầu. Long thấy quang cảnh ấy là khó chịu là chướng
mắt. Long cho vẻ trưởng giả của gia đình ấy là một câu nguyền rủa độc địa và ngạo
mạn hắt vào mặt cái xã hội bình dân trong đó có Long. Nhưng sự trưởng giả tuy vậy
cũng có nhiều thứ hào quang đủ làm lóa mắt người ta lắm. Dần dần, Long quên khuấy
mất tâm sự riêng đi. Chàng thấy người ta để chàng tự do, thân mật như người
nhà.
Những công việc của Long bỗng hóa nên vui, hóa nên nhẹ nhàng
như những trò đùa, khác hẳn công việc trong Đại Việt học hiệu. Và một điều nguy
hiểm hơn hết làm cho người ta quên mất lý trí chóng nhất, là cái tự do của hai
cô. Giữa cái sân rộng mà bốn bề là bốn bức tường kín mít như bưng, hai cô thỉnh
thoảng lại bắt “cậu ký” giữ hộ xe đạp để tập.
Các ngài cứ tưởng tượng ra hộ hai cô con gái còn trẻ, rất đẹp,
răng trắng như ngà, mình mẩy là những các công trình của những đường cong bất hủ,
tự nhiên y như đầm, và hay nói, và hay cười, và ngây thơ một cách lẳng lơ, hoặc
là lẳng lơ một cách ngây thơ, ca cải lương não bậc nhất, mà lại bảo các ngài
như ôm lấy người ta, một tay vòng trước ngực, một tay giữ chỗ dưới sống lưng để
giữ vững hộ những bộ phận của cái... xe đạp, cho người ta vừa tập đi xe và thỉnh
thoảng lại ngã vào lòng mình một cách dễ chịu!
Lần đầu phải ra giữ xe đạp cho cô Tuyết - cô chị - Long đã đỏ
bừng mặt lên. Cái thẹn thò ấy chính là lễ độ của người có giáo dục. Mà cái thẹn
của người có giáo dục nó có một cái vẻ hay hay, lạ lạ, nên chị cô Tuyết lại xui
cô Loan là cô em càng làm già. Qua một vài bận đầu, đến những lần sau, Long mất
hết vẻ thẹn, chỉ còn thấy lòng dục bùng lên như lửa bén vào rơm. Sau cùng Long
thấy việc giữ xe đạp là có thú vị lắm. Cái mầm ham thích nhục dục ấy lại còn
phát sinh ra bởi lòng căm hờn, lòng phục thù, vì chính những lúc giữ xe đạp là
những lúc Long lại tưởng tượng ra cái quang cảnh vợ chưa cưới của chàng bị cưỡng
bức một cách xấu xa. Lòng căm hờn xưa nay vẫn mạnh hơn ái tình. Dục tình cũng lại
mạnh hơn ái tình.
Cho nên những khi cô Tuyết cùng cô Loan ở nhà trường, Long thấy
nhớ lắm. Cái dục tình trước hết chỉ dắt đến ý nghĩ báo thù, nhưng nếu người ta
nghĩ mãi đến cách báo thù bằng nhục dục thì dục tình dắt người ta đến lòng yêu.
Thoạt đầu, Long chỉ mơ màng rằng Tuyết với Loan sẽ là hai cái đồ chơi của mình
cho đến nhị rữa hoa tàn, cho đến liễu chán hoa chê, cho đến mưa gió tơi bời,
thì là thị Mịch sẽ được trả thù một cách đầy đủ. Nhưng dần dần Long lại thấy
hai người ấy không đáng chịu thứ hình phạt ấy, và lại đáng yêu! Vả lại biết bao
nhiêu cuộc ái ân của người đời lại không bắt đầu chỉ vì dục tình? Cho nên những
khi tư tưởng yêu quí Tuyết và Loan đến chiếm quả tim của Long thì Long thoáng
nghĩ rằng vợ chưa cưới của mình chỉ là một vật hôi tanh, một hòn ngọc có vết.
Trước hết, tư tưởng đê hèn của Long chỉ là muốn làm hại Loan
hoặc Tuyết.
Về sau tư tưởng ấy đã đổi ra khác hẳn. Long chỉ còn cân nhắc
trong sức tưởng tượng của Long xem ai là đáng yêu, trong hai người.
Sau cùng, hiện ra trong trí nghĩ của Long cái cảnh tượng một
cặp vợ chồng xum họp nhau dưới một túp lều gianh, chồng đọc sách, vợ ngồi thêu,
mà vợ là Tuyết hoặc Loan, còn chồng là Long, điều ấy không cần phải nói.
Đó là sự đắc thắng của sức cám dỗ, của sự mê muôi của ái
tình.
Trong những lúc ấy, Long đã tự nhủ: “Bố chúng nó tuy đểu, tuy
hại mình, nhưng mà chúng nó thì có tội lỗi gì đâu? Sao mình lại định bắt hai đứa
con phải đền cho tội ác của người bố?”
Sau những ý nghĩ ấy Long lại thấy mình đê hèn rồi lại tự nhủ:
“Không! Mịch tuy vậy cũng đã được ta tha thứ. Nếu ta không yêu Mịch nữa, ta sẽ
là bạc tình?”
Khốn thay, sự trưởng giả vẫn có nhiều thứ hào quang đủ làm
người ta lóa mắt lắm.
Cho nên thỉnh thoảng, dù không muốn cũng không được, những cảnh
ân ái với hoặc Loan hoặc Tuyết lại bất thần đến chiếm chỗ trong sự mơ màng của
Long.
Đến hôm được bà nghị trả lời cho chủ mình là “vui lòng cho
phép con cưới vợ hai cho bố” nghĩa là hôm Long phải xách va ly quay về Hà thành
Long không những đã không nghĩ đến Mịch một cách buồn rầu, mà lạ còn như hớn hở
vì việc mình thành công, hớn hở vì chủ mình sẽ vui vẻ, mặc lòng sự thành công của
Long là nhường vợ chưa cưới cho bố ông chủ!
Rồi Long hấp tấp vừa run vừa thở mà nói khẽ với Tuyết, ở một
góc sân rằng: “Tôi yêu cô”. Long cũng nói với Loan ở một góc sân khác rằng:
“Tôi yêu cô”. Và cả hai đã đỏ mặt lên sung sướng thôi, chứ không thấy nói gì.
Trước kia, Long căm hờn sự giàu có của ông nghị bao nhiêu thì
sau Long lại thấy làm tự kiêu ở sự giàu có ấy bấy nhiêu.
Cả hai đã im lặng một cách sung sướng. Sự im lặng như thế có
cái nghĩa gật đầu. Hôn sự chắc khó thành, nhưng việc rủ nhau đi trốn chắc dễ
thành. “Ta chỉ còn phải chọn hoặc cô chị, hoặc cô em”.
Những ý nghĩ ấy nẩy nở ra trong óc Long không biết bao nhiêu
bận.
Ngồi ở trong phòng giấy của Đại Việt học hiệu rồi, Long vẫn
còn bị sức ám ảnh của cái ảo tưởng kia. Đã bao lần Long muốn xua đuổi mối ảo tưởng
ấy cho nó không bao giờ còn bén mảng được tới trí nghĩ của chàng mà không xong.
Long bất giác lại hồi hộp nhớ đến lúc chàng mới đem lòng yêu Mịch, nghĩ đến lúc
Mịch thắt cổ... Cuộc ái tình thứ nhất của chàng.
Nước mắt Long bỗng đâu cứ ứa ra...
Long vùng đứng dậy ra đứng trước gương nhìn vào bộ mặt phụ bạc
của mình rồi tự nhủ: “Không! Ông Tú Anh là người đáng yêu, đáng nhớ ơn. Ta
không thể ỡm ờ như trước được. Nếu ta muốn báo thù thì ta cũng phải nói thẳng
ra là ta sẽ báo thù thì mới xứng đáng là một kẻ nam nhi. Ta phải nói rõ là
chính ta là chồng chưa cưới của người con gái bị hiếp dâm, và đừng ai mong ở một
vụ cưỡng bức một cuộc nhân duyên ép uổng! Thái độ của ta không được mập mờ. Hoặc
ta sẽ bỏ ơn, nhớ thù, hoặc bỏ thù, nhớ ơn. Ta cần phải nói rõ. Ta sẽ nói!”.
Rồi Long ra đứng đợi chủ ở cửa trường.
Chương 13
Thưa ông.
“Tôi ở Hải Phòng về tối hôm qua, chờ ông mãi đến 12 giờ khuya
không được, nên tôi đã quay về cái gian nhà trọ lạnh lùng của tôi. Giá tôi được
gặp ngay ông hôm qua, thì tôi đã được một lúc sung sướng, vì ông sẽ tỏ lời ngợi
khen tôi cũng như xưa nay ông vẫn bắt tay tôi một cách thân yêu cảm động, mỗi
khi tôi, người làm công cho ông, đã giúp được ông một việc mà ông cho là khó
khăn. Tôi lại cần nói thêm rằng nếu tôi đã được hưởng cái phút sung sướng ấy,
chắc tôi sẽ phải bối rối vì tôi có nhiều chuyện phải nói ngay với ông, và chắc
những chuyện tôi sẽ nói dưới đây không thể khiến ông được vui lòng. Nghĩ thế,
tôi đã không phàn nàn gì, về ngay nhà trọ để viết lá thư này là vì bần cùng.
Xin ông đừng cho là kiểu cách.
“Thưa ông, cái việc ông bảo tôi làm thì đã kết quả như ý ông
muốn. Như vậy là đủ phận sự của một kẻ làm công. Bổn phận đủ rồi, vai trò đóng
xong rồi, nay thì tôi xin rửa sạch những lớp phấn son trên mặt tôi đi để nói
chuyện với ông bằng một người, một người như mọi người thường vậy.
“Hiện nay tôi là một người khốn khổ, trong một tình thế rất
khó xử. Tôi chỉ vụng dại trong một phút, nhỡ tay một cái, là tôi sẽ trở nên một
kẻ vô ơn đối với ông, mặc lòng những ơn kia tôi vẫn canh cánh bên lòng. Muốn tỏ
cái lòng nhớ ơn ấy tôi xin kể ra đây những điều tâm sự của tôi một việc mà
ngoài những người thân yêu nhất đời của tôi ra, chỉ có ông được rõ.
“Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu. Khi hãy còn ở cái tuổi
mà những đứa trẻ khác được bố mẹ chiều chuộng, nâng niu, ẵm bế, riêng tôi là một
đứa bé một mình phải chịu nhiều nỗi gian nan. Bố mẹ tôi qua đời từ trước khi
tôi có đủ trí khôn để nhận thấy rằng không có bố mẹ là điều rất khổ. Đến khi
tôi đã 12 tuổi rồi, tôi hãy còn sống sót vì hội Bảo anh, cái hội từ thiện mà xã
hội lập ra để nuôi nấng những đứa trẻ không bố mẹ, trong số đó có tôi. Như thế,
cả cái tuổi trẻ của tôi đã trôi bên những cái đầu xanh cùng một số phận như
tôi, dưới sự săn sóc của những bà sơ giàu lòng từ thiện thật đấy, nhưng mà chỉ
biết thương hại chúng tôi vì bổn phận, chớ không biết yêu chúng tôi theo lẽ tự
nhiên, một điều rất quý mà một người không cùng máu mủ thì không thể nào cầu được
ở một người không cùng máu mủ.
“Không bao giờ tôi quên được những buổi học êm ả một cách
đáng chán, những bữa ăn kham khổ, những giờ đi ngủ theo tiếng trống, mà cả mấy
trăm đứa chúng tôi lên giường, bắt tay ngang trán, không phải để yên nghỉ,
không phải để ngủ, không phải để được hưởng những giấc mộng của tuổi trẻ, nhưng
mà là để tủi thân để xót phận, để thèm thuồng khao khát cuộc đời của những đứa
trẻ có bố có mẹ, được hiểu rõ nghĩa chữ: gia đình. Không bao giờ tôi quên được
những cuộc vui làm phúc, những ngày tết Trung thu, tết Nguyên đán, mà một bà thống
sư hoặc một bà đốc lý đến với chúng tôi với những đồ chơi rẻ tiền, những hoa quả
bánh trái rẻ tiền, tưởng là làm phúc, mà té ra chỉ bắt cho chúng tôi hiểu rõ một
cách thấm thía cảnh đau khổ chung. Cũng không bao giờ tôi quên những buổi đi
chơi hàng đàn, hàng lũ, đứa nào cũng ăn vận như đứa nào, một cái áo vải thâm,
chân giẫm đất, đi hàng hai một đứa bé nhất đi đầu, đứa to đầu nhất đi cuối
cùng, chúng tôi diễu các phố xá để cho xã hội nhìn chúng tôi như nhìn những con
vật kỳ lạ, hoặc là lấy làm tự hào rằng đã vê tròn được cái quả phúc cứu sống
chúng tôi. Thôi, tôi cũng chẳng nên dài dòng làm chi cho lắm.
“Năm 13 tuổi, tôi xin ra khỏi nhà trường. Tôi thấy rằng dù
còn trẻ người, non dạ, thì tôi cũng đã đủ tư cách kiếm lấy mà ăn. Tôi nên biết
tự trọng mà đừng có trông vào xã hội nữa. Người ta đã làm khó dễ trăm chiều rồi
mới cho tôi thân tự lập thân.
“Thế rồi tôi không lập được thân, không kiếm được việc làm
như sự kiêu ngạo của tôi đã tưởng. Tuy vậy, cũng may cho tôi là trong sự thất bại
kiếm được cái sống tự lập thì cũng kiếm nổi một sự quý hóa khác là lòng yêu của
một ông cụ già. Ông cụ này làm nghề thợ chạm, nghĩa là thuộc hạng bình dân. Nhờ
ông, tôi đã được người đời coi là một thiếu niên có gia đình cẩn thận. Từ khi sống
với người bố hờ ấy, tôi thấy như đã rửa được cái nhục không cha không mẹ trên
trán tôi. Bỗng đâu tôi thấy lòng tôi ấm áp, đầy những nghị lực để chống chọi với
đời, và để có thể yêu được đời, nhất là yêu được đời. Ấy đó, thưa ông chủ rất
kính mến, ông là người thứ nhất ở đời, và có lẽ cũng là người cuối cùng, mà
cùng ai, tôi đã hé mở cho nom thấy rõ lấy một vài trong trăm nghìn phần bí mật
của đời tôi.
“Rồi tôi học nghề thợ chạm. Rồi tôi được sống với ông bố nuôi
vài ba năm. Rồi tôi lại chìm nổi, vất vưởng mãi, cho đến khi cầm lá đơn đến xin
việc trong cái trường tư có ông dạy học. Từ bữa ấy cho đến hôm nay, cuộc đời của
tôi ra sao chắc ông cũng rõ rồi.
“Sự tình cờ làm cho tôi biết được rằng tôi cũng có họ hàng, rồi
gặp một người anh em họ ngoại rất xa. Do người này, tôi biết em gái người ta, một
cô gái quê mà tôi dám khoe với ông rằng đẹp, rằng ngoan, rằng có đủ phép tiên
ban cho một người đàn ông lấy chút ít hạnh phúc ở đời.
“Thời gian ấy là một chặng đường tốt đẹp nhất trong con đường
đời gập gềnh, khuất khúc của tôi. Tôi đã trông thấy người con gái quê mùa ấy
làm lụng rất vất vả, vui lòng mà chịu đựng sự nghèo khổ, buổi sáng dậy từ lúc mặt
trời mới hửng, rét như cắt ruột cũng đã lội xuống ao vớt bèo, hoặc tiếng trống
canh khuya đã đổ hồi, vẫn còn ngồi thức để làm vàng, kiếm mấy đồng xu. Người
gái quê ấy, thưa ông, là người yêu quí nhất đời của tôi, là người tôi coi như một
vị ân nhân vì đã có công to xóa sạch được hết những vết đau khổ nó khảm vào ký ức
tôi từ lúc tôi chưa có cái trán ghi những nét phong trần. Người ân nhân ấy,
thưa ông, tôi còn quí mến hơn ông nhiều vì người ta đã làm cho tôi thấy đời là
đáng sống lắm, vì người ta cho tôi ái tình trong khi ông, ông chỉ cho tôi việc
làm, sự kiến thức, trong khi ông mới chỉ cho tôi thấy rằng trong đời này vẫn có
người tử tế mà thôi. Tôi đã coi ông là một vị ân nhân thì đối với ông, tôi phải
thành thực lắm. Vì người gái quê ấy, tôi đã xây đắp biết bao nhiêu là mộng đẹp
trong đầu.
“Người gái quê ấy, thưa ông, một đêm khuya kia, đã bị người
ta đè cổ xuống, mà lấy sự yêu quí nhất của đàn bà là sự tiết trinh. Tôi tưởng
tôi không cần nói rõ người làm cái việc nài hoa ép liễu kia tên là gì nữa.
Thưa ông chủ, đọc lá thư của tôi đến đây chắc ông lấy làm sửng
sốt lắm. Chắc ông sửng sốt trong năm phút, rồi ông không dám tin ngay. Ông tất
nhiên không thể tin được rằng sự tình cờ lại dun dủi đến cho tôi, đến cho vợ
chưa cưới của tôi, đến cho cụ nghị, đến cho ông, một việc quái lạ đến như thế
được. Nhất là thái độ khó hiểu của tôi. Tất ông lấy làm lạ rằng một việc xảy ra
như thế, cớ sao tôi lại không phàn nàn, không oán giận, không khóc lóc, không
gào thét, mà lại cứ bình tâm coi việc mình như của thiên hạ. Rồi ông lại nghĩ rằng
có lẽ vì tôi làm công việc cho ông nên tôi phải cắn răng... Sự thật thì chỉ tại
cái lòng quân tử của ông mà thôi.
“Khi ấy, tôi đau khổ lắm. Cái khổ của tôi, tôi không thể dùng
lời mà tả được. Nếu ông muốn hiểu cái khổ của tôi là thế nào, thiết tưởng ông cứ
đứng thử vào địa vị tôi. Mà tôi tưởng cái đau khổ của tôi, ông cứ đọc lá thư đến
đây thôi, ông cũng đủ đoán được ra rồi. Cả cái tiểu sử của tôi, ông vừa rõ đấy.
Vậy mà người yêu của tôi bị như thế! Vậy mà cuộc tình ái trong sạch của chúng
tôi bị thương tổn bằng cách ấy! Thế là hết, thật là hết, có thế không, thưa
ông?
“Vậy mà tôi đã im lặng. Mặc dầu chính ông, ông cũng không có dung
thứ gì cái việc càn rỡ của ông cụ nghị, tôi cũng không nhân cơ hội ấy mà kêu
gào rửa hờn, lẽ nhân đạo, sự cứu chữa, công lý, ở nơi ông.
“Hồi ấy, mấy tờ nhật báo đã tranh nhau mà đăng tin. Tôi đọc
các tin sét đánh ấy ở báo rồi, tôi lại còn nhận được tin của gia đình nhà vợ
tôi. Cái lòng căm hờn giận dữ của tôi cũng đã như của kẻ nào vào một trường hợp
đại để như vậy. Nhưng mà tôi vẫn để trí để xét ông, dò ông, rình mò ông từng cử
chỉ một. Tôi đã thường đứng sau tấm bình phong, đứng sau một lỗ khóa để ngắm
nghía ông, hưởng những cái nghiến răng, những cái bứt tóc, những cái thở dài của
ông trước một điều lầm lỗi không do ông gây ra. Và, nếu tôi không nhầm, thì
hình như có một lần tôi thấy ông khóc nữa. Thì ra ông cũng đau đớn như tôi! Ông
là con kẻ đã gây ra họa nhưng ông cũng đã đau khổ như tôi, hoặc vợ tôi, những kẻ
chịu họa. Cũng như máu gọi máu, nước mắt cũng gọi nước mắt. Máu do một kẻ giết
người tưới ra, vẫn gọi sự khát máu của thần công lý, thì nước mắt của người
nghĩa sĩ cũng dễ hợp với nước mắt của kẻ chịu đau thương. Thế là tôi quí trọng
ông, rất cảm xúc vì cử chỉ ấy, và, xin phép ông, tôi lại thương ông nữa.
“Rồi, trước khi tôi kịp mở mồm thì ý muốn tìm phương cứu chữa,
sự săn sóc rất chu đáo của ông làm cho tôi lại phải im đi. Đáng lẽ cứ thản
nhiên lãnh đạm như trăm nghìn người khác, thì ông đã suy nghĩ mãi, bận tâm, bận
chí mãi. Từ một cuộc cưỡng bức, ông muốn việc trở nên một cuộc kết hôn. Từ một
cô gái quê mùa, ông muốn làm ra một người vợ của một bậc phú gia địch quốc. Ai
mà lại còn không phục cái việc sâu xa ấy, cái cách xử sự tài tình, êm thấm ấy?
Cho nên từ kẻ chịu thiệt hại, tôi đã phải giữ địa vị khách quan. Cái cử chỉ của
ông nó quân tử quá, nó tha thiết quá, nó lịch sự quá, nên, dù sao đi nữa, tôi
cũng không dám nghĩ đến cách ngăn trở. Rồi ông lại phái ngay chính tôi đi lo hộ
việc! Thật là oái oăm. Nhưng mà tôi cứ nhận lời. Vì lẽ lúc ấy, có nhận lời cũng
không can hệ, gì, vì tôi còn tin ở nơi cửa ông, và dù sao, thì cũng còn do gia
đình nhà vợ tôi nữa. Nói cho thật thì tôi chỉ muốn nhân cơ hội mà thôi. Thật vậy,
tôi đã có lỗi lớn với ông, cái lỗi lợi dụng địa vị, manh tâm làm hại ông, đem sự
xảo quyệt ra để đáp lại một việc nhân nghĩa.
“Nhưng tôi tưởng là có thế mới lo tròn bổn phận được. Ý ông
đã muốn, tôi không dám trái ý. Ông đương muốn nói, tôi hãy để ông nói nốt đã, rồi
tôi sẽ xin nói sau ông. Bây giờ thì đến tôi vậy.
Hai lá thư kèm đây, một là lá của ông, một lá nữa của cụ. Ông
cứ việc đọc xong rồi thấy những công trạng của tôi. Cuộc cờ như đã kết liễu rồi,
ta xóa ván ấy đi để bày một cuộc cờ khác. Tôi nói đây không phải với tư cách kẻ
dưới quyền ông, nhưng bằng địa vị một kẻ nam nhi.
“Bây giờ thì ông đã rõ hết mọi sự.
“Tôi xin lỗi ông, nếu ông thấy tôi là có lỗi.
“Tôi đã được dịp tai nghe mắt thấy cái thế lực của ông cụ,
cái ấp đồ sộ, những tòa nhà nguy nga, bề thế như những cung điện, với bọn nàng
hầu như trong nhà vua, với hàng nghìn mẫu đồng điền, với hàng nghìn người làm
công. Tôi đã trông thấy rõ những cử chỉ của phái tư bản mà ông cụ nghị làm tiêu
biểu, đã nghe thấy những phút chuông điện thoại gọi, do đó số phận hàng nghìn
người bị định đoạt qua một cơn giận dữ. Những điều ấy, thưa ông, đã khiến tôi
phải coi ông là kẻ thù, vì những kẻ khác mà thù, cũng như những điều nhân nghĩa
của ông bắt tôi phải vì cả những người khác mà nhớ ơn ông.
“Bây giờ, ông đã trông thấy rõ tôi rồi thì phải.
“Vậy thì từ nay mà đi, có lẽ trên đường đời, ông sẽ không cùng
tôi mà bước đi nữa. Tôi lại cảm ơn những điều tử tế ông đã thí cho tôi.
“Người làm công của ông kính thư”
Long
Tú Anh đọc xong lá thư, mồ hôi toát ra đầy cả trán. Chàng bấm
cái chuông ở bàn. Người gác trường chạy vào:
- Bẩm ông bảo gì?
- Bảo tài xế đánh ngay xe ra cửa chờ tôi.
- Bẩm tài xế đương ăn cơm trưa.
- Thì bảo ăn nhanh lên.
Trong khi chờ xe. Anh lại bóc nốt hai lá thư kia. Rồi chàng đứng
lên, hai tay bỏ vào túi quần đi đi, lại lại, cái đầu cúi xuống. Một lúc lâu mới
thấy tiếng động cơ xe hơi kêu lên sình sịch... Chàng đi theo xe ra khỏi trường,
lên xe.
Đến nhà Long, Tú Anh bước vào, lên thẳng gác. Thấy cửa gác
đóng chặt, Tú Anh đập mạnh mấy cái thì Long mở cửa ra.
- Ông làm gì thế?
- Không, tôi không bận gì cả.
- Tôi đã đọc hết cái thư của ông.
- Dạ...
- Tôi thật không ngờ sự tình lại như thế.
- Xưa kia, không bao giờ tôi lại ngờ sự tình như thế.
- Tôi buồn rầu lắm, ông Long ạ.
- Mời ông hãy vào trong này.
Hai người vào phòng, Long kéo ghế mời chủ ngồi, rót ra mấy
chén nước, để hộp thuốc lá và bao diêm lại gần tay Tú Anh. Rồi cùng ngồi xuống
ôm đầu ủ rũ.
Tú Anh nói:
- Tôi thật lấy làm phục cái lòng thẳng của ông.
- Cái nhân phẩm của ông bắt tôi phải đối với ông như vậy.
- Thế bây giờ ông nghĩ thế nào?
Long ngơ ngác hồi lâu, đáp một cách uể oải:
- Tôi... tôi không nghĩ gì cả, vì có muốn nghĩ cũng không nổi.
- Như ông, thế thì đáng thương lắm. Tội nghiệp!
- Xin đa tạ.
- Vậy ông muốn gì?
- Có lẽ tôi không nên muốn gì. Tôi để ông định cho thì hơn.
Vì ở cảnh ngộ như tôi là nguy hiểm lắm.
- Ông yêu cô gái quê ấy lắm?
Long gật đầu.
- Thật thế?
Long lại gật đầu.
- Ông không thể lấy người khác được?
- Không thể được.
- Nếu vậy thì chỉ còn một cách...
Tú Anh nói đến đấy thì thôi, Long ngước lên hỏi.
- Cách gì ạ?
- Lấy người ta làm vợ...
- Cái ấy thì đã hẳn.
- Và quên cái thù kia đi.
- Tôi muốn thế lắm.
Tú Anh đứng lên, lại gần Long, vuốt ve Long, rồi tiếp:
- Phải đó, thù mà làm gì? Đó là những sự nhỏ nhen của đời người,
ta nên cao hơn đời một chút. Ông hứa với tôi đi...
Long lắc đầu, buồn bã:
- Nào chắc đâu giữ được lời hứa?
- Người gái quê ấy...
Tú Anh nói đến đấy rồi lại thôi. Long nhìn lên hỏi thì Anh chỉ
ngập ngừng. Sau cùng Anh tiếp:
- Thật đáng tiếc! Tôi quí ông, muốn coi như người nhà...
- ?
- Thật thế, thấy ông là người ngay thẳng có một, lại nhiều
tính tốt, nên tôi vẫn định bụng...
- Ô? Không!
- Vẫn định mai sau thì ông sẽ là người nhà tôi. Bây giờ cơ sự
thế này, tôi không biết nghĩ ra sao nữa.
Thốt nhiên thấy Long gục mặt xuống tay. Rồi Long cứ dụi mãi
tay áo vào mắt. Đến lúc Long ngửng lên cả tay áo thấy ướt mềm. Long khóc thật.
Rồi Long bỗng đứng phắt lên, trỏ tay ra cửa:
- Ông đi đi! Ông đi ngay đi!
Tú Anh đứng lên ngơ ngác. Long lại gắt, nhưng trong câu gắt vẫn
có giọng nể:
- Tôi đã bảo xin ông đi ngay đi cho mà!
Chương 14
Chuyến xe hỏa cuối cùng, chuyến tàu đi lên những nơi thâm sơn
cùng cốc, bữa ấy, lúc mặt trăng đã lên đến lưng chừng trời, đã nhả một mình
Long xuống thềm ga lạnh lẽo và vắng vẻ. Tàu đỗ lại độ hai phút, chỉ để đủ thời
giờ cho một người của sở xe lửa chạy vội xuống mở khóa hòm thơ, lấy thơ rồi lại
chạy lên. Đứng trên con đường lô nhô những đá, Long vừa kịp nhìn hai dẫy rào
găng lù lù và đen kịt, cái nhà ga bé nhỏ như một cái quán gạch ở cánh đồng, ngọn
đèn dầu leo lét, cái đồng hồ hiện ra lờ mờ giữa cái sáng và cái tối, một mảnh
trăng treo trên cành một cây xoan, ngọn đèn đỏ mà người xếp ga lắc đi, lắc lại,
ở phía đầu tàu - cái phong cảnh khiến chàng thấy mình là cô độc, trơ vơ, trên
con đường đời dài dằng dặc - thì bỗng một tiếng còi vang lên như một tiếng thét
kỳ quái, với những tiếng hơi nước phụt ra phì phì và tiếng bánh xe sình sịch
nghiến trên đường sắt, lại làm cho chàng giật mình và bàng hoàng run sợ như tiếng
thét trên đầu chàng khi có nạn gì sắp xảy ra.
Long đứng ngây người ra nhìn theo chuyến tàu biến thẳng trước
mắt mình, mãi đến lúc nó chỉ còn là một cái chấm đỏ, mãi đến lúc cái chấm đỏ -
cái đèn ở toa cuối cùng - cũng trộn lẫn vào cái tối. Tàu khuất rồi, Long mới
vào ga trả vé. Người coi ga, áo dạ cao cổ, mũ cát két bịt kín hai bên tai, ở
cánh tay lòng thòng một chiếc gậy song, ở miệng lập lòe một mồi thuốc lá, sau
khi nhận được vé, hất hàm hỏi Long:
- Về đâu khuya khoắt còn đi một mình thế?
Long bỏ cái mũ ở đầu ra rồi đáp:
- Thưa ngài, tôi về Quỳnh Thôn, thuộc huyện...
Nói được đến đấy thì Long ngập ngừng, vì quên khuấy mất. Người
coi ga nói:
- Thuộc huyện Cúc Lâm.
- Vâng, chính thế.
Người kia so vai một cái mà rằng:
- Xa lắm. Mà bây giờ chẳng phu xe nào chịu kéo đâu.
- Nhưng mà sáng trăng thế này thì, thưa ông...
- Bẩy tám cây số, xa lắm, mà lại phải qua một lần phà.
- Như vậy thì không thể được ạ, thưa ông?
- Nếu chịu khó đi đò thì nửa đêm cũng đến vì đi đò gần hơn.
- Ông làm ơn bảo giúp bến đò về phía nào thì may quá.
- Ra khỏi ga, thì về phía tay trái độ hai trăm thước, thì xuống
bến.
- Cám ơn ông.
Long theo lời chỉ bảo, đi một lúc đã đến bến đò. Tiếng chó sủa
ran lên đón chàng. Trên một mũi thuyền có một số đông mấy nhà chài lưới ngồi uống
rượu, có lẽ thưởng xuân và thưởng trăng rằm tháng giêng. Sau khi gạn hỏi và ngã
giá đâu đấy rồi, chỉ có một người đàn bà trên một chiếc thuyền nhỏ bằng lòng chở.
Tiếng chèo bì bõm đưa chiếc thuyền nhỏ ra tới giữa khúc sông
rồi, Long mới kịp để ý đến người đàn bà kia. Đứng chon von ở sau thuyền, người
đàn bà hai tay khiến hai mái chèo một cách uyển chuyển mềm mại. Dưới cái khăn
vuông mỏ quạ đen là một cái mặt tròn trĩnh, rồi đến một cái ngực nở nang bên
trong cái yếm trắng. Một cái váy cũn cỡn mà dưới là một đôi ống chân bầu bĩnh
trắng trẻo chấm hết cho cái hình thể gọn gàng ấy. Long ngả lưng vào mạn thuyền,
để đầu nhô ra một khe ở vỉa mui. Chàng tự nghĩ: “Ta mà là nghị Hách thì người
đàn bà này lại chết mất rồi!”. Muốn xua đuổi những tư tưởng bất chính ngẫu
nhiên đến lúc ấy, Long lại ngồi nhổm dậy, nhìn chung quanh, nhìn trời, mây, nước...
Mặt trăng như rung động lấp ló sau một ngọn đa. Những đám mây
nhỏ bay về cả một chiều như một đàn bò bị dồn về ấp lúc đã hoàng hôn, hay là
như một đám tàn quân bại trận. Hai bên bờ, trùng trùng điệp điệp những rặng cây
hoặc cao hoặc thấp, những mẩu đường đê, những ngọn đồi còn xoai xoải vươn mình
như con vật khổng lồ triền miên về giấc ngủ đêm khuya. Thỉnh thoảng một ngọn đê
hay một cây gạo nhô lên trên cái vạch đen sì những cây cối nhỏ, soi bóng xuống
mặt nước. Tiếng mái chèo dịp dàng khoan thai khuấy nước bì bõm hợp với những tiếng
của muôn nghìn thứ côn trùng ri rỉ dưới cỏ lại càng làm tăng sự tĩnh mịch của
đêm trăng. Cảnh vật như trong mộng.
Cảnh ấy kích thích đến tâm hồn Long. Vì Long giàu tình cảm,
tâm hồn chàng là một thứ tâm hồn hay suy nghĩ, hay triết lý của hạng người
phong trần, nên chỉ đáng lẽ âm thầm chịu đau khổ như những kẻ ngu đần bình dị,
thì Long đem từng nỗi khổ một ra phân tích tỉ mỉ. Sức say sưa của mọi điều suy
nghĩ nhắc Long từ địa vị chủ quan sang địa vị khách quan. Những cảm giác tê mê,
những cảm tưởng bi phẫn, đã tháo lui để nhường chỗ cho sự tự kỷ phê bình. Rồi
nhờ cái phong cảnh mơ mộng ở ngoài nó kích thích Long tự thấy mình như một vai
trò quan hệ trong một cuốn tiểu thuyết cho nên sự đau khổ của chàng không phải
là không có thi vị. Cái khổ của chàng thuộc về thứ khổ sướng của những người tự
trọng, những người không bao giờ làm một điều gì lầm lỗi đến nỗi phải hối hận,
những người không bao giờ tự mình phải oán mình, trách mình, giận mình, những
người có lương tâm.
Trong hai đường, một là nhận lời với Tú Anh: thì được trở nên
em rể ông giám đốc Đại Việt học hiệu, quí tế một nhà phú gia địch quốc, chồng của
Tuyết hoặc của Loan... Đường kia là tình nhân của Mịch, chồng một người đã mất
tân tiết, con rể một ông đồ nghèo, kẻ thù của một bậc phú gia địch quốc... Trong
hai mặt trận, Long đã đứng về cái thế kém hơn. Một đường là sự giàu sang, sự thỏa
mãn về vật chất, một đường là sự nghèo khổ, là sự chật vật về tinh thần. Do sự
lựa chọn ấy, Long thấy mình cao thượng, đáng kiêu. Long đã đứng ở cái phương diện
mà lòng tự ái của chàng được nâng niu... “Quân tử đa truân”, phải chăng sự đời
chỉ là thế? Long nghĩ vậy rồi cười nhạt cái cười khoái chí của người hiểu đời
và khinh đời.
“Tuy vậy, ta cũng là người có một tâm hồn vững lắm” Long nghĩ
thế là vì sức liên tưởng đã khiến Long nhớ thế. Cái mặt ngẩn ngơ của Tú Anh, buổi
sáng hôm nay... Khi thấy bị đuổi ra một cách bất ngờ, Tú Anh chỉ từ tốn xuống
thang, không giận dữ, không hề gặng hỏi. Cử chỉ ấy bảo Long rằng chủ mình không
những chỉ là người khoan hòa mà lại còn hiểu rõ đến đáy lòng mình, lại còn đi
guốc trong bụng mình, vì đã đoán được rằng sự nổi nóng, cách cự tuyệt thô lỗ của
mình chỉ là sự sợ hãi, chỉ là một cách từ chối sức cám dỗ của kẻ yếu hồn mà
thôi. Long bất giác lại thở dài vì thấy rằng đã trót có một cái xuẩn động.
Rồi Long thấy trong lòng nao nao sung sướng. Việc cự tuyệt sự
giàu có, không vì những cái bả vật chất mà sa ngã, sự chung tình với Mịch, sự
xông pha 80 cây số trong đêm khuya, trên xe lửa, trên thuyền, một mình liều với
dặm trường, ngần ấy cái chỉ để qui về một mục đích, yêu Mịch - khiến cho Long
thấy phấn khởi, thấy thỏa chí như đã làm được nhiều việc thiện, không còn thấy
nông nổi là đáng ngại ngùng và đường là xa.
Hơi gió bấc lạnh lùng, cái thuyền lướt êm ả trên nước, ánh
sáng le lói của mặt trăng, sự muôn hình vạn trạng của cỏ cây, ngần ấy cái bao bọc
Long trong một giấc mộng dịu dàng...
Long ngủ.
Long ngủ một giấc say sưa, vì cả ngày hôm ấy tinh thần của
Long cũng đã vất vả như xác thịt của Long.
Đến khi thuyền cập bến, người chở đò đánh thức khách dậy.
Long hỏi thăm đường đất cẩn thận thì biết ra rằng chỉ còn độ một cây số đường tắt
qua cánh đồng là đến Quỳnh Thôn, vì đi đường thủy gần hơn đi đường xe hơi Long
đã đi mọi khi.
Vào tháng giêng, cánh đồng cũng tạm gọi được là khô, việc đi
trên những bờ ruộng cũng không vất vả là mấy, vì không phải lội nước. Một tay
giữ cổ áo dạ cho gió khỏi lùa vào ngực, tay kia vén cao hai ống quần cho khỏi lấm,
Long cứ lần theo những bờ ruộng nhỏ, lúc rẽ sang hữu, lúc rẽ sang tả, nhiều khi
lại vòng lộn lại, nhưng vẫn cắm đầu cắm cổ mạnh bạo mà đi.
Những thửa ruộng khoai lang mà hoa lá bò trên những luống đều
đặn như những dòng hoa gấm, những sào ngô đã cao tới ngực, những luống mía um
tùm lướt trên đầu người và giao nhau như những cửa động lần lượt kế tiếp
nhau... Long cứ đi dăm bước lại thấy cào cào, châu chấu, hoặc những sâu bọ có
cánh khác rủ nhau đi trốn, bay trước mặt mình rào rào.
Tâm trạng của Long lúc bấy giờ thật là khó tả. Chàng thấy
mình là khổ lắm, nhưng trong cái khổ không phải là không thấy cái mùi vị sung
sướng sinh ra bởi sự thúc giục của bổn phận, của một người chung tình, cái bổn
phận đáng gọi là thiêng liêng. Những lúc như thế, Long chỉ ao ước sao cho có một
việc mầu nhiệm phi thường gì dun dủi cho Mịch yêu quí của chàng, ra giữa chốn
này trông thấy chàng khổ sở, vất vả như thế, để chứng giám cho tấm lòng thủy
chung của chàng. Chàng rất muốn đem lòng yêu ra để kể công với người yêu. Chàng
tin rằng nếu Mịch lại trông thấy sự chung tình như thế của chàng thì những điều
đau khổ của Mịch sẽ tiêu tán đi vì ái tình, nhất là một cái ái tình đằm thắm, nồng
nàn, một cái ái tình ở trên mọi sự hy sinh, thì là một ông thầy thuốc rất giỏi.
Nhưng có khi nào giữa đêm khuya, giữa cánh đồng, giữa lúc
Long lận đận tận tụy vì lòng yêu mà lại có Mịch được! Nghĩ thế, Long lại tự an ủi
rằng đã có quỷ thần hai vai chứng kiến cho là đủ, và chàng cũng không cần gì phải
kể công. Long sẽ ung dung bước vào túp lều gianh, đến trước mặt người yêu,
không khoe khoang, không kể lể. Chỉ có sự im lặng là cao.
Rồi Long lại nghĩ một cách lẩn thẩn rằng nếu lúc ấy trời đất
nổi lên một cơn giông tố để cho Long phải ướt lướt thướt, phải ngã lăn lộn ra đấy
đã, rồi mới tới Quỳnh Thôn, thì giá trị tấm lòng yêu mới thật là vô cùng.
Nhưng mà trước mặt chàng, đã hiện ra một vết đen sì là những
cây tre làng Quỳnh Thôn. Long không thấy mỏi mệt nữa, mỗi bước chân đi lại thấy
một thêm nhanh nhẹn.
Thốt nhiên, đằng sau Long, thấy có một tiếng gọi thất thanh:
- Anh Long!
Chàng kinh ngạc hết sức, phải đứng hẳn lại. Chàng quay đầu lại,
ngơ ngác nhìn chỉ thấy lù lù một dãy mía bên cạnh một dãy ngô. Hồi lâu vẫn thấy
im... Sự ngạc nhiên của Long đã hóa ra sự sợ hãi, Long thấy rờn rợn người mà chợt
nghĩ đến chuyện ma quỷ, chuyện yêu tinh, hiện lên để trêu cợt những kẻ đi đêm.
Long tưởng như bị ma dẫn lối quỷ đưa đường mà không còn dám tin trước mắt mình
là làng Quỳnh Thôn! Long chính mình đã cũng không tin mình, phải dụi mắt hai ba
lần, rồi mới biết là Long không mê ngủ. Thốt nhiên lại thấy:
- Anh Long đấy à?
Tiếng gọi từ ruộng mía vang ra. Mà nghe như tiếng gọi của Mịch!
Long tuy thấy rợn lắm, song cũng cứng cỏi đáp với bụi mía:
- Phải, tôi là Long đây! Ai gọi tôi đấy? Ai?
Bụi ngô rung động một hồi, rồi một cái hình hiện dần ra:
- Em Mịch đây anh ạ.
Long trố mắt nhìn, vì lúc ấy Long lại cũng hồi hộp, tưởng chừng
như đó là một con yêu thiêng nào hiện lên, làm Mịch chăng. Khi người ấy đến gần
Long, thì Long vội nắm chặt lấy hai tay Mịch, vì đó là Mịch thật. Khi Long thấy
hai bàn tay Mịch nóng hôi hổi, và hơi thở của Mịch hổn hển thì chàng lại càng lấy
làm ngạc nhiên. Về phần Mịch, việc nắm tay ấy, khiến Mịch phải ngợ đó phải
chăng là tại người yêu quá đỗi sỗ sàng. Sau Long hổn hển hỏi:
- Mịch thật?
Mịch cũng run rẩy đáp:
- Vâng, chính em đây, sao anh lại đi đường đồng?
- Sao Mịch lại ở đây?
- Thế anh đi tàu hỏa, rồi đi đò đấy à?
- Phải.
- Nếu anh về sớm mà đi ô tô có hơn không? Hay lại có việc gì
thế?
- Không... anh về là anh về. Tối rồi cũng về, vì anh nóng ruột.
- Chỉ vì thế thôi à, anh?
- Phải, thế Mịch làm cái gì một mình ở đây?
- Anh nói khẽ chứ. Đêm khuya, lại giữa cánh đồng mà nói thế
là nó vang ra xa lắm đấy.
Long khẽ hỏi một lần nữa:
- Ừ, thế em ra đây làm gì? Mà sao lại có một mình?
Mịch cúi mặt lặng im một lúc rồi mới đáp, và chỉ đáp dưới cái
mặt cúi:
- Em đi bới khoai, bẻ ngô.
Long nhìn Mịch trừng trừng, sự nghi ngờ trong lòng bỗng nổi dậy
lên. Chàng buông gọn:
- Vô lý!
- Vâng, em bẻ ngô, bới khoai thật... Nhưng mà...
Long gần như gào thét:
- Nhưng mà? Nhưng mà làm sao?
Mịch nhìn lên một cách hãi hùng rồi ấp úng một cách hổ thẹn:
- Nhưng mà là đi bới trộm, bẻ trộm, đi ăn trộm!
Long hỏi thất thanh:
- Øn trộm? Mịch! Thật à?
- Vâng.
- Mịch ăn trộm?
Mịch nức nở, đáp qua dòng lệ:
- Vâng. Trời ơi! Nào anh có biết đâu những nỗi ở nhà!
Rồi Mịch khóc sụt sịt, thảm thiết.
- Chết chửa! Thế đầu đuôi ra sao?
- Chiều hôm qua u nhịn cơm, em phải nấu cám cho thày ăn. Cả
ngày hôm nay, nhịn đói cả. Thừa khi làng vào đám, tuần tráng xem chèo ở đình,
em mới phải liều ra đây.
- Trời ơi! Làm sao lại đến nỗi thế?
- Nhà có mấy sào ruộng màu thì đem bán hôm mồng bảy tết rồi,
bây giờ còn đâu là của mình mà chả đi ăn trộm?
- Sao lại khổ đến thế được?
- Chứ anh tính! Khốn nạn, nào có gì! Thày u định bán nốt cái
nhà và mấy con lợn rồi ra tỉnh với anh cả em... Ở làng mãi thì chết đói... Nhà
có người gạn tậu rồi, vì cãi vã một trận om sòm, người ta lại thôi. Lợn thì
cũng có người nhận mua rồi, nhưng mà mai người ta mới bắt. Anh tính bây giờ có
ai còn đến học thày nữa đâu! Rồi thì cứ xảy ra cãi nhau luôn, nên u cũng không
ai mượn đi làm đồng nữa. Đã chết dở sống dở lại thêm nỗi cả làng mai mỉa mình,
đay nghiến mình. Khổ lắm, anh ạ.
Long nghe xong cứ đứng đờ người ra. Rồi Long lôi Mịch về
mình, ôm chặt lấy người yêu, in lên miệng Mịch một cái hôn đau thương, rỏ trên
má Mịch mấy giọt lệ rất nóng. Ngây thơ, Mịch còn muốn gỡ ra.
Chợt. Long đẩy Mịch ra, nhìn bụng nàng mãi... Mịch vội vòng
tay trước bụng, hổ thẹn, đứng im.
- Mịch!
- ... - Mịch!
- Dạ! - Mịch! Có sự gì phải không? - Dạ.
Long nghẹn ngào hỏi: - Em ễnh ruột ra đấy à?
Mịch đáp bằng giọng lạnh lùng: - Thưa anh vâng.
Long hỏi lại: - Thưa anh vâng? - Vâng... Thằng... nghị...
Hách
- Thật thế?
Mịch cau mày đáp:
- Sao anh còn phải hỏi thế?
Long lại hỏi:
- Thật chỉ vì thằng nghị Hách?
Mịch nhăn nhó mà rằng:
- Thôi, còn nói gì nữa! Đến cả anh cũng nỡ nghi em cơ mà!
Long đan tay lên để lại bỏ thõng xuống. Chàng nghiến răng lại,
nhắc:
- Nghị Hách! Nghị Hách!
Rồi Long đứng thừ người ra, Mịch bảo:
- Thôi, ta về nhà. Anh đi trước đi, để em nhặt nốt mấy bắp
ngô.
Long giơ tay ngăn mà rằng:
- Thôi! Vứt đấy, anh có nhiều tiền đây rồi.
- Anh về trước đi vậy.
- Sao lại không cùng đi với nhau?
- Người làng họ đàm tiếu. Hay để em về trước cho vậy. Rồi lâu
lâu anh hãy về. Để em quay lại ruộng lấy con dao.
Long ngồi phệt xuống cỏ, cũng chẳng buồn nhìn đến người yêu nữa.
Chàng thấy đầu gối như muốn long ra, không thể đứng lên được nữa.
Giữa lúc ấy, tiếng trống chèo vẳng đưa đến tai Long.
Chương 15
Buổi sáng hôm ấy, một chiếc xe hơi hòm đỗ ngay bên cái quán gạch,
chỗ con đường nhỏ của Quỳnh Thôn nối với đường thuộc địa. Sau khi hỏi thăm một
bà cụ già bán hàng nước ở đấy, ông giám đốc Đại Việt học hiệu quay lại bảo người
tài xế:
- Ông ngồi trông lấy xe, để một mình tôi đi bộ vào làng.
- Bẩm để đánh xe vào làng kẻo trời mưa, thế này, ông đi bộ
thì bẩn hết mất. Cứ để đánh xe vào rồi chúng tôi liệu quay ra cũng xong...
- Không, không phải tôi sợ phiền ông hì hục lúc quay ra,
nhưng mà đi xe vào tận làng thì e dân cư họ bàn tán ầm lên, như vậy thì không
giữ kín được chuyện. Vậy thì ông cứ ở trông xe và chờ cho đến lúc tôi ra.
Đường lầm lội một cách đáng sợ. Đã hai ngày rồi trời cứ lún
phún mưa xuân. Hạt mưa lúc mau lúc thưa, như có bão rớt.
Giữa lúc ấy, ông đồ Uẩn ngồi bó gối trên cái phản ở nhà. Ông
thấy máy mắt dữ dội. Ông bâng khuâng không hiểu đó là điềm lành hay dữ gì sắp xảy
ra. Ngó bên cạnh một cái ấm tích để trong cái ủ đã rách tòi bông ra, với bộ
chén trông có vẻ tang thương như cảnh ông, với cái điếu ống bẩn thỉu, thỉnh thoảng
ông lại phải kéo một mồi thuốc lào. Vợ ông và con gái không biết lúc ấy lúi húi
gì dưới bếp...
Mỗi một mồi thuốc lào tuy không làm cho trí suy xét của ông
được thêm phần sáng suốt nhưng cũng có sức làm cho tư tưởng của ông khỏi rối loạn.
Hiện ông đang ở cái cảnh bứt rứt khó chịu của một người thợ may vội việc ngồi
trước một tuần chỉ rối không biết lần đường nào mà gỡ cho ra. Mỗi khi thấy mình
vung tay đáng lẽ gỡ được mối chỉ thì lại làm cho nó rối thêm lên, thì ông lại
phải cầu cứu đến khói thuốc lào. Vậy mà bên ngoài, những cơn mưa lúc lấm tấm,
lúc rào rào, vẫn không thôi khiêu khích sự bực mình, sự chán nản sự muốn tự tử,
trong lòng ông. Thật là trời sầu đất thảm.
Hai hôm trước, giữa lúc đêm khuya, ông thấy con rể của ông tự
nhiên về một cách thình lình. Ông đã phải nén lòng giơ tay ra cầm lấy của Long
mấy đồng bạc. Sau khi ông đem hết sự tình ra kể lể, nào là con gái mình có mang
với nghị Hách, nào là nỗi nhà điêu đứng không còn kiếm nổi hột gạo mà ăn nào là
sự mỉa mai chèn chế của người làng, nào là sự thờ ơ lãnh đạm của họ Mạc, nào là
những trận cãi nhau, chửi nhau om xòm trong đó có bà đồ Uẩn, thì ông thấy con rể
của ông cũng là người biết điều. Long đã nói: “Thưa thày, dù chẳng may cơ sự đến
thế nào, con cũng không có điều gì thay đổi. Trước kia con quí vợ con có mười
phần thì bây giờ con lại thấy phải quí nó lên một trăm. Thày đừng lo ngại gì,
vì người ta sẽ đền cho con ba trăm bạc, thì con sẽ lo cưới vợ. Rồi còn số tiền
vốn ấy để thu xếp cho nhà ta ra tỉnh ở với anh cả con. Cái làng này bất nhân cả
làng thì ta cũng chẳng còn cần gì mà lại không bỏ làng!” Con rể ông đã nói với
ông như thế. Về phần ông, ông cũng thấy thu xếp như vậy là ổn thoả. Chính ông,
từ nay mà đi, chắc là không đủ tư cách gì nữa, không có thế lực để khu xử một
việc gì nữa, ông phó mặc mọi việc cho thiên địa quỉ thần: cũng như một người mù
lòa đứng bên vệ đường giơ tay ra kêu gọi người dắt làm phúc, người ta dắt, ông
thì đành liều nhắm mắt đưa chân... Còn cái việc người ta sẽ đưa ông đi đâu, ông
chưa cần hỏi đến vội. Ông đã trả lời cho con rể đại khái: “Thày thấy anh nói được
như vậy thì cũng mừng lắm. Thày rất lấy làm cảm kích... Tuy anh chưa là rể hẳn
nhưng mà một lời đã nói thì từ khi anh hỏi mà thầy nhận, con Mịch cũng đã như
là vợ anh. Ngày nay chẳng may xảy ra những nông nỗi thế này mà anh lại còn có
lòng thủy chung như nhất, lại khu xử cho như thế thì cũng là phúc cho thày lắm.
Ở vào cảnh ngộ như thày thì thày đành phải để anh muốn xử trí ra sao cũng tùy
lòng. Nếu cuộc đời là bằng phẳng, không có sự gì xảy ra, mà thày cứ coi anh như
con ngay thì cũng không sao, thì đó mới là sự đáng quí... Còn như đã thất thế
như thày, mà thày lại dám đi coi rằng con Mịch đã là vợ anh rồi, thì e cũng lạm
quyền lắm, không thể lọt tai được. Vậy thì thày để anh nói trước là phải. Bây
giờ anh đã nói rồi, mà anh đã nói những lời trung hậu quí hóa lắm, thì thày
cũng chỉ còn biết nhớ cái ơn ấy mà thôi. Nhà này chẳng may gặp những tai nạn tầy
đình ấy, tưởng cũng là vô phúc thiếu âm đức lắm, nhưng mà nay thấy anh như thế,
thì thày cũng còn có chút hy vọng nhỏ rằng tuy vậy mà cũng chưa đến nỗi nào...”
Thế rồi ông đồ sụt sịt khóc... Trước cảnh ấy, Long lẻn ra, xuống bếp chuyện trò
với Mịch, không biết những gì. Rồi hôm sau, lại thấy Long nói: “Người ta rất sẵn
lòng cưới em nó một cách linh đình long trọng làm vợ lẽ hẳn hoi... Nhưng mà khi
nào con lại để như thế được. Dù nó đã có mang, con cũng cứ lấy. Cái đứa con
trong bụng ấy, rồi sẽ cho nó một số phận, cái đó tùy ở lòng con muốn hay là
không báo thù. Bấy giờ con về Hà Nội thu xếp công việc, vài hôm sẽ lên...”. Thế
rồi Long ra đi. Thế rồi, ông thấy con gái ông cứ rũ rợi người ra như sắp chết.
Bực một nỗi là ông căn vặn làm sao, con gái ông cũng nhất định không nói. Ông
muốn hỏi cho ra, nhưng sau ông lại thấy rằng con gái ông, không có những lời
căn vặn của ông, thì cũng đã khổ tâm lắm, nên ông lại thôi. Vả lại việc tự tử của
Mịch tại nhà thương bữa trước, đã đủ khiến ông không những động tâm thương xót
con gái, mà lại phải e nó sẽ quá liều.
Nhưng mà liệu Long có cam lòng và vui lòng cưới con gái ông về
làm vợ không? Liệu Long có đi chịu được rằng vợ nó lại có sẵn trong bụng một đứa
con, không do huyết mạch của nó không? Nếu nó vẫn lấy như đã nói, nó sẽ để dành
cho cái thai trong bụng kia, đứa con của kẻ tử thù với nó, một cái số phận như
thế nào? Liệu nó có lấy thật không? Hay nó thay lòng đổi dạ? Giá nó không giữ
được lời hứa - đó là quyền của nó - thì nó sẽ khu xử cho con Mịch gì nữa? Hay
nó sẽ không cưới con Mịch về nữa? Có hay không? Ai đã chắc rằng có? Ai dám bảo
rằng không? Thế rồi sự thể sẽ xoay ra như thế nào?
Ngần ấy cái dấu hỏi vẫn không thôi kéo lần lượt nhau đến quấy
rầy ông đồ Uẩn... Chính ông, ông đem những câu hỏi kia ra để tự bắt mình phải
giải quyết, ác nghiệt như một ông quan chấm trường, đương có điều gì bực mình,
nên trút cả sự tức tối trong lòng vào một thí sinh cũng lại là chính ông!
- Mịch ơi!
- ...
- Ơi Mịch!
- Dạ
- Lên đây thầy hỏi.
Mịch tần ngần bước vào, đầu tóc bù rối như mới ngủ dậy, mặt
mũi hốc hác như vừa ốm khỏi, hai mắt đỏ ngầu lên như đau. Nhất là cái bụng! Cái
bụng đã hơi to, trông rõ ai oán, rõ “báo chướng” vô cùng. Ông đồ ngán ngẩm nhìn
con gái rồi từ tốn nói:
- Con ngồi xuống đây, ngồi gần lại đây cho thầy hỏi.
- Thầy bảo gì ạ?
- Anh Long hôm vừa rồi đã nói những gì với con?
- Không ạ.
- Con cứ nói đi, nói hết cho thầy biết. Thầy cần biết lắm.
- Anh ấy không nói gì cả ạ.
- Sao mày lại giấu tao? Nó không nói gì mà mày lại khóc à?
- Không.
- Con bé này mới hay chứ?
- Thật thế đấy ạ.
Nghe đến đấy, ông đồ thở dài một cái, rồi giơ một tay lên
bưng trán. Mịch cũng đủ nhận thấy sự thất vọng của bố mình. Động lòng Mịch vội
nói tiếp:
- Thưa thầy, anh ấy ra ý nghi ngờ con.
- Nó bảo với tao là dù sao nữa nó cũng nhất định cưới mày...
Mịch mỉm cười một cách chua chát mà rằng:
- Chắc gì! Người ấy đã khinh bỉ con nhiều lắm, đã ngờ vực con
nhiều lắm.
- Ô hay! Thế ra nó nói với mày một giọng, nói với tao lại một
giọng khác hay sao?
- Con cũng chả biết. Con chỉ biết là sau khi anh ấy đã nỡ ăn
nói đến như thế, thì chúng con chả còn hi vọng gì sum họp được với nhau.
- Thế anh ấy nói những gì?
- Anh ấy nỡ đi hỏi con rằng có thật là con chửa với lão nghị ấy
không, có thật con bị hãm hiếp không, với những là nếu muốn làm vợ bé lão nghị
thì anh ấy sẽ vui lòng bảo lão ấy đem mười chiếc ô tô về ăn hỏi.
Ông đồ nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
- Nó nói thế cũng phải. Người ta khổ đến như thế thì người ta
phải tức, mà khi người ta nóng nẩy, thì người ta cũng có quyền ăn nói quàng
xiên.
Mịch rầu rĩ mà rằng:
- Vâng, thì nào con có dám oán trách gì người ta đâu!
- Đã biết nói thế thì còn việc gì mà để bụng? Phải chấp
trách?
Mịch vùng vằng phẫn uất mà rằng:
- Ồ! Thưa thầy, đã nỡ ăn nói với nhau đến như thế, thì tưởng
chả bao giờ nên nhìn mặt nhau nữa!
Ông đồ trợn mắt lên kinh hãi. Ông không thể hiểu nổi sự phẫn
uất của con gái ông. Ông không biết rằng khi lòng tự ái đã bị thương, thì nó không
còn cần gì biết đến thế nào là điều hay, lẽ phải nữa. Vì không là Mịch, nên ông
không thể hiểu sự xót xa của Mịch được. Thế là ông trờn trợn, e con gái mình,
trong một phút không biết nghĩ cho chín, lại quyên sinh một lần nữa chăng. Ông
bèn dùng mẹo để dò xét bụng dạ con gái.
Ông nói một cách đau xót:
- Nếu cơ sự đến như thế nữa thì chán lắm con ạ.
Nhưng ông chỉ thấy Mịch thản nhiên đáp có một tiếng:
- Vâng.
Sự thản nhiên của con gái ông lại càng làm cho ông phải lo sợ
thêm. Vào trường hợp ấy, trước sự thử thách ấy, cái tiếng vâng ấy đủ tả rõ một
cái tâm trạng của một người nhút nhát, đã đến lúc muốn liều mạng, của hạng con
giun xéo lắm cũng quằn. Ông bố lại hỏi:
- Thế con định thế nào?
Cô con chỉ cười chua chát và đáp:
- Con chả định thế nào cả, thày ạ. Người ta muốn định liệu
cho con thế nào con cũng xin vâng. Ha, ha, ha!... Vào cảnh ngộ như con mà lại
còn có quyền định liệu việc gì nữa à? Con cũng đành liều nhắm mắt đưa chân
thôi, thày ạ.
Ông bố nhăn nhó, nói bằng giọng kêu van:
- Mịch ơi! Thế ra con lại muốn tự tử như trước nữa đấy à? Giời
ơi, chớ nên liều thân đến như thế con ạ. Con nên để cho thày chết đi đã, rồi
con có muốn liều thân thì hãy liều. Con đừng để cho thày phải trông thấy cái cảnh
đau lòng ấy. Mịch ạ.
Nói đến đấy, nước mắt ông đồ ứa ra. Ông lấy tay áo gạt ngang
một cái. Cử chỉ ấy giống với của một đứa bé lúc ăn vụng, sợ có người lớn biết,
nên vội gạt tay chùi mồm.
Mịch nhìn bố một lúc, rồi đáp một cách thành thực:
- Không, thày đừng sợ, không bao giờ con lại muốn chết nữa.
Người ta đã khinh con như thế, thì con chết mà làm gì? Con còn phải sống, còn cần
sống lắm, con còn sống mãi mãi, sống cho nó đủ dầy dặn, cho nó đủ khổ nhục, sống
để xem cuộc đời xoay xở ra sao... Không, chẳng đời nào con lại muốn chết, nhất
là từ nay mà đi, thì người ta đã không thương yêu con như xưa rồi. Xưa kia thì
con muốn người ta yêu quí con, vì xưa kia con cũng yêu quí người ta. Bây giờ thế
này, con bắt người ta quí mình là vô lý rồi. Nhưng mà con, con tưởng con vẫn có
thể kêu cầu người ta không yêu con, thì ít ra cũng còn thương xót con. Nhưng mà
người ta lại đi khinh bỉ rẻ rúng con! Trời ơi, như thế thì việc gì con lại muốn
chết?
Ông đồ rất ngạc nhiên về cái luận điệu ấy. Ông ngạc nhiên vì
ông tưởng con gái ông không khi nào nói được
như thế, nghĩ được như thế, và nhất là vì ông vẫn chưa hiểu
được tâm trạng của con ông. Ông thấy tư tưởng của con là mâu thuẫn. Trước kia
chưa có sự gì xảy ra, chưa bị khinh bỉ, con ông đã tự tử, đã chết hụt mà bây giờ
con ông lại có những ý nghĩ trái ngược với trước như thế thì chính là con ông sẽ
tự tử một lần nữa, nên lúc này nó phải nói dối ông. Cho hay muốn nói sự oái oăm
thì phải kể đến lòng tự ái. Nhưng lòng tự ái của một người là một thế giới mà
chỉ người ấy hiểu chứ người khác - dù là cha nữa - cũng không thể hiểu nổi. Cho
nên ông đồ vẫn ngờ con mình điêu ngôn. Ông không biết rằng sự bị thương của
lòng tự ái sinh lòng căm hờn. Ông không hiểu rằng chỉ có sự hối hận, sự tự mình
giận mình, mới làm cho người ta phải tự tử. Trước kia Mịch tự tử là vì ái tình.
Bây giờ Mịch không được yêu, thì Mịch chỉ trông thấy sự căm hờn mà thôi. Mà sự
căm hờn chỉ nuôi, chứ không giết.
Ông đồ gặng hỏi một cách ngây thơ, đáng cảm động:
- Con nghĩ thế nào thì con nói thế đấy, có phải không, con?
Mịch đáp:
- Thưa thày, con lừa dối thày mà làm gì? Trước kia, đã không
phải chính con gây ra tai họa cho con, con cũng hối hận lắm, nên con cũng muốn
chết. Bây giờ thì con không hối hận gì cả, thật thế, vì con tưởng đối với một
người mà con yêu quí nhất đời, mà con cũng tưởng là yêu quí con nhất đời, vậy
mà...
Ái tình bị thương đương kể lể.
Giữa lúc ấy, một thằng bé - tên nó là thằng Bôi - chạy xồng xộc
vào giữa nhà vừa thở, vừa nói, như có ý khoe khoang:
- Cụ đồ ạ. Cụ có khách đấy! Một ông tây đi xe tu-bin về tận
làng! Ông ấy đã đến ngõ rồi đấy!
Ông đồ hốt hoảng đứng ngay lên. Mịch cũng vội đứng lên mới kịp
chạy tọt vào gian buồng bên, thì khách đã lộp cộp vào đến giại nứa rồi.
Ông đồ chạy ra thấy một người trẻ tuổi, mặt mũi, dáng điệu tỏ
ra là người lịch sự lắm, thì không hiểu ra làm sao nữa, cứ đứng ngây ra nhìn, ấp
úng muốn hỏi mà lưỡi líu lại. Tú Anh hỏi:
- Kính chào cụ. Xin cụ tha lỗi, có phải chính cụ là cụ đồ Uẩn
không?
- Vâng, chính tôi đây.
Đáp vậy, ông đồ vẫn còn đứng ngây ra, mặt tái đi nữa. Tú Anh
vội nói:
- Thưa cụ, xin cụ đừng sợ. Tôi đây không phải là người nhà nước,
không phải là người mật thám của ông tuần, cũng không phải mật thám của ông huyện,
về dò xét gì cụ, hay làng này đâu... Xin cụ cứ cho tôi vào nhà.
- Mời ngài vào.
- Xin phép cụ.
Không đợi mời, Tú Anh ngồi xuống phản, dang tay mời ông đồ
cùng ngồi, rồi khoan thai nói nữa:
- Thưa cụ, tôi xin nói ngay rằng tôi là chủ ông Long, người sắp
làm rể cụ.
Ông đồ bần thần nói:
- À, vâng.
- Tôi chính là con giai cụ nghị Hách, về đây để...
Nói đến đây, Tú Anh ngừng lại... Ông đồ nhìn khách một cách sợ
hãi, lại nói:
- À, vâng.
Tú Anh tiếp:
- Vâng, chính tôi là con giai người ấy. Nhưng mà tôi không giống
người ấy, tôi không bênh vực người ấy, mặc dầu người ấy là bố tôi. Chứng cớ hiển
nhiên là tôi về tận đây để cứu chữa lại một điều lầm lỗi, do bố tôi đã gây ra.
Bố tôi đã làm hại cụ, con cụ, cả vật chất, lẫn tinh thần. Tôi không muốn nhắc lại
những điều đau khổ của cụ mà đau lòng cụ, đau lòng tôi. Ông Long đã nói với tôi
rằng cô Mịch chửa. Như vậy thì... Tôi chỉ còn nghĩ được một cách... Vâng... Vả
lại ông Long đã cho tôi được toàn quyền trong việc này... Chỉ có hai cách, một
là đền cụ một số tiền lớn, hai là cụ sẽ là nhạc phụ của bố tôi. Vậy xin cụ cho
biết ý cụ thế nào. Còn nếu cụ muốn viện cớ tôi về đây mà lại kiện tụng nữa thì
tôi xin nói trước là không khi nào cụ được kiện. Vậy cụ muốn tôi phải thế nào,
xin cụ cho biết.
Ông đồ lúng túng đáp:
- Tôi cũng không biết tình thế nào cả.
- Thưa cụ, ông Long đã cho tôi toàn quyền. Nếu cụ không quyết
định thì tôi sẽ quyết định, ông Long đã cho phép tôi như thế.
Mịch từ buồng bên mạnh bạo bước sang, và hỏi:
- Thưa ông, quả thật anh Long tôi bảo ông thế? Anh nhìn Mịch
một lúc rồi khoan thai tiếp:
- Vâng, đấy cô xem! Sự thể đã như thế thì chỉ còn một cách.
Tôi sẽ phải gọi cô là dì. Dì chứ không phải chị, cô nhớ cho. Cô muốn rửa nhục
cho cha mẹ, cho mình, rửa nhục với làng nước, thì chỉ còn cách lấy lẽ bố tôi mà
thôi. Ông Long đã cho tôi khu xử, vậy tôi khu xử như thế.
Chương 16
Lúc ấy đã 12 giờ đêm. Long còn đi lang thang ngoài đường như
người không có chỗ trọ. Tiết trời lạnh ngắt, lại thêm lún phún mưa xuân.
Các phố xá đã vắng ngắt.
Thỉnh thoảng lại thấy một người ăn mày, như một cái bóng ủ rũ
ôm một manh chiếu, lờ đờ đi tìm một cái mái hiên rộng.
Bọn phu xe xếp xe hàng dài trước cửa những tiệm khiêu vũ, có
những bóng điện lập lòe chiếu xanh đỏ. Từ bên trong những tiệm ấy đưa ra những
điệu kèn réo rắt, bổng trầm. Bên ngoài, bọn phu xe, anh thì co ro đi lại như có
vẻ trầm tư mặc tưởng, anh thì đập càng xe thình thình xuống đường, để dằn vặt
cái xe, và to tiếng chửi trời, chửi đất, chửi nạn kinh tế, thành ra cũng là một
thứ âm nhạc có lẽ lại còn ai oán hơn, hoặc hùng dũng hơn thứ của những đĩa kèn
hát. Không bao giờ Hà Nội lại phô bày những cảnh tượng trái ngược, những sự
chơi bời cực kỳ xa xỉ, bên cạnh những sự khốn khổ, khốn nạn, như lúc ấy.
Long đi gần đến trước cửa một tiệm khiêu vũ thì có đến ba
mươi cái mồm đều cùng một giọng. “Mời thày lên xe! Thày đi xe!...” Không nghĩ
gì đến những câu vật nài ấy, Long lắc lắc cái đầu. một người phu xe nói sau
lưng chàng một cách ai oán: “Toàn lắc cả thì có chết cha người ta không!” Một
người phu xe khác kêu lên: “Mẹ kiếp! Từ trưa đến giờ, được hai chuyến sáu xu!”
Tự nhiên... Long dừng chân đứng lại.. Cả bọn phu xe bấy giờ lại
nhao nhao lên mời chào. Một ông phu xe già lụ khụ, khẩn khoản nói với Long bằng
một giọng ăn mày: “Thầy đi cho con vài xu, lạy thày, thày làm ơn”. Long lẳng lặng
bước lên ngồi xe. Ông già lật đật cài cái áo tơi cánh gà, đánh cái xe ra, rồi
quay lại ra ý hỏi khách muốn đi về phía nào... Long buông thõng: “Ông muốn kéo
tôi đi đâu thì kéo!”.
Vì rằng lúc ấy Long cũng không có định kiến gì cả. Chỉ biết rằng
Long đã đi lang thang được nhiều đường đất lắm, không còn để ý đến phố nào vào
phố nào, dễ đã có trong hai ống chân đến mười cây số rồi, nên chàng ngồi lên xe
chỉ biết là hãy được khoan khoái khỏi mỏi chân. Chàng đi đâu, để làm gì, những
cái ấy Long không hề nghĩ đến. Lúc ấy là lúc đứng không yên ổn, ngồi không vững
vàng, nên tuy Long đi đã mỏi, cũng đã muốn về nhà, nhưng vì chợt nghĩ rằng có lẽ
về với gian phòng lạnh lẽo trống rỗng, thì lại phải đến ra đi một lần nữa. Long
cứ đi.
Tại sao Mịch lại cầm của nghị Hách cái giấy bạc 5 đồng? Tại
sao Mịch lại để cho lão dụ vào trong xe hơi? Có thật nghị Hách hiếp... không?
Có phải Mịch chửa chỉ vì nghị Hách không? Ấy đó những câu hỏi cứ làm khổ mãi
Long, đã mấy hôm nay vậy.
Xe chạy được vài phố, Long mới bảo người phu: “Ông kéo tôi đến
một tiệm thuốc phiện!” Mười phút sau, chiếc xe đỗ trước một cái nhà Tây hai tầng
ở phố Mã Mây, Long xuống xe, đưa ông phu già một hào bạc. Ông già cảm ơn thành
thực một cách đáng cảm động, làm cho Long phải hỏi:
- Cụ năm nay bao nhiêu tuổi?
- Bẩm, con đúng sáu chục rồi đấy ạ.
- Thế con cái cụ đâu?
- Bẩm, chả có mống nào cả.
Tức thì Long lại thò tay vào túi, khoắng nốt cả chỗ tiền lẻ,
vừa hào vừa xu, không biết là bao nhiêu, cứ vốc cả nắm, giơ ra cho ông phu. Ông
già vội đưa tay ra hứng lấy, rồi, sau khi thấy số tiền ấy là quá đáng, thì ngạc
nhiên hết sức, không nhớ đến cảm ơn nữa, cứng ngây người ra không biết rằng
mình thức hay ngủ mê và khách đi xe là điên hay say rượu.
Long không thèm nhìn lại, vênh vang bước vào nhà, lên thẳng
gác.
Đêm hôm ấy, vì vào cuối tháng nên tiệm đông khách lắm. Hai
mươi cái sập đều kín cả, đến nỗi Long không biết ngồi vào đâu. Người chủ tiệm
phải thu xếp mãi mới được một cái sập cho Long. Chàng tháo giầy, bỏ mũ rồi lên
nằm dài trên khay đèn, không thèm nhìn chung quanh có những ai, y như một người
nghiện đã thực thụ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét