Giông tố 3
Chương 17
Anh bồi tiêm đã bị mời đi chỗ khác một cách lễ phép.
Tú Anh tháo giầy, cởi bỏ cái khăn quàng cổ, cái áo dạ ngoài,
rồi nằm dài xuống sập, cầm lấy tiêm...
Thoạt đầu Long cũng ngạc nhiên về chỗ chủ mình sao lại thạo sự
chơi bời như thế. Nhưng sau thấy Tú Anh cứ để rỏ thuốc xuống đèn, hoặc là để
thuốc dính be bét trên mặt tẩu, tiêm đã lóng ca lóng cóng mà lại cứ muốn ra vẻ
thạo đời, thì Long vừa buồn cười vừa cảm động, cho rằng chính chỉ vì cái tâm sự
riêng của mình, mà chủ mình mới có thái độ và những cử động thân mật kia.
Sau một lúc lâu mà cả hai bên đều im lặng, cả tiệm hút lúc ấy
lại ồn ào lên vì những câu chuyện kỳ lạ thú vị đặc biệt khác. Vì lẽ ai cũng chỉ
nghĩ đến chuyện làm rầm rĩ lên, ai cũng tranh lấy nói mà không ai để tai nghe,
thành thử giữa cái đống huyên náo, lang chạ ấy mà Long và Tú Anh lại thấy mình
cũng như ở giữa một chỗ vắng vẻ, kín đáo, cứ nói cho khẽ thì chuyện can hệ đến
đâu cũng không có một người thứ ba để ý đến.
Hồi lâu, Anh hỏi:
- Tại sao mấy bữa nay, ông không đến trường làm việc thế?
Long thú tội một cách thành thực:
- Thưa ông, chính là vì tôi muốn ông đuổi tôi ra.
- Ồ! Sao ông lại nghĩ ngộ nghĩnh như thế?
- Thưa ông, hiện nay tôi có một điều khổ tâm không thể tả được.
Tôi khổ lắm, tôi giận thân, giận đời lắm, tôi muốn liều lĩnh làm một điều gì xằng
bậy, một điều gì càn dỡ, chỉ cốt được hả giận mà thôi. Tôi muốn đập vỡ một cái
gì, đánh đập một kẻ nào, giết một người nào, nếu không thì không thể chịu được,
vì lẽ tôi không thể làm được những việc ấy, để hại người khác, nếu tôi bần cùng
mà tôi muốn làm hại tôi. Tôi nghĩ để cho ông phải đuổi tôi ra, thì tôi sẽ được
điêu đứng, được khổ sở một thể.
- Tư tưởng phá hoại lạ!
- Vâng, chính thế. Tôi chỉ muốn được khổ sở cho nó bõ một thể.
- Ông Long, ông điên mất rồi.
- Thưa ông chẳng phải tôi không biết như thế là điên đâu.
Nhưng không hiểu vì sao tôi muốn điên lắm, không thì không chịu được nữa. Trời
ơi, nếu ông có là tôi, thì ông mới hiểu được những nỗi đau đớn của tôi.
Tú Anh bùi ngùi mà rằng:
- Tôi biết lắm, tôi biết lắm, ông Long ạ. Nếu không, tôi lặn
lội đi tìm ông ở một chỗ mà nếu tôi có đến thì có hại cho danh dự của tôi như
thế này làm gì? Tôi dám tự phụ rằng ở trên đời nay, tôi hiểu rõ ông hơn hết thảy
mọi người khác, và ông cũng nên lấy làm tự kiêu rằng có tôi là người tri kỷ nhất
đời của ông, nếu ông cho thế là đáng tự kiêu.
- Xin cảm tạ...
- Ở đời này, cứ tìm lấy được một người tri kỷ cũng đã là khó
lắm, ông Long ạ.
- Vâng, tôi vẫn nghĩ thế.
- Chẳng phải nói nịnh gì ông, xưa nay tôi vẫn có bụng mến ông
lắm. Tôi thấy ông, tuy nghèo, nhưng mà có chí, biết tự trọng, nhân cách vào bậc
thượng lưu, lại có tư tưởng nữa, nên trong bụng vẫn có muốn rằng từ cái địa vị
người chủ với người làm công. Từ cái chỗ cần dùng nhau để làm việc đời, tôi muốn
chúng ta sẽ trở nên thân nhau hơn nữa, cũng chỉ để làm việc đời! Ấy bản thân
tôi vẫn như thế thì chẳng may lại có những sự không ra gì nó xảy ra... Ta giận
thân làm gì mà oán đời làm gì? Sự đời là như thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó
xảy ra, để cho chúng ta đương sướng phải hóa ra khổ, hoặc khổ rồi thì lại phải
khổ hơn trước nữa... Ai cũng chịu đựng số phận như thế, chứ chẳng cứ gì một ta
đâu, nên tôi muốn khuyên ông can đảm mà chống chọi với đời. Biết lục tìm những
điều khổ sở lấy một chút hạnh phúc, ấy là cái đạo của người khôn ngoan, biết hy
sinh đi, biết tha thứ cho hết thảy những kẻ có tội với mình, dù trong sự hy
sinh có bị nhiều mùi vị chua cay, cũng phải cứ dằn lòng mà hy sinh đi, đừng bao
giờ oán giận ai nữa, đừng nên coi sự đời là to, nếu nó thiệt hại cho mình phải
coi trọng sự đời, nếu nó thiệt hại đến kẻ khác, bao giờ cũng bình tĩnh, nên
luôn luôn giữ sự im lặng, vì chỉ có sự im lặng mới tỏ ra được cái khinh bỉ sự vật,
vì chỉ có sự im lặng là thanh cao mà thôi, ấy mọi hành vi mà theo được một trật
tự như thế thì đó là cái đạo của người quân tử...
Tú Anh đương nói một cách sốt sắng, một cách có văn vẻ, nói
như một diễn giả trước một đám đông người, nói như theo thói quen, nghĩa là như
một giáo sư giảng bài cho học trò - cái nghề của chàng - thì Long nhăn mặt lại,
ngắt đoạn:
- Không phải tôi không hiểu được những điều nghĩa lý ấy.
Không phải tôi không biết như thế là phải, là hay, khốn nhưng, thưa ông, hiện
nay tôi đương là một người khổ sở trăm chiều! Tôi không muốn làm người quân tử!
Tôi sợ ông càng nói thì chỉ càng phí mất những lời quí hóa ấy mà thôi. Ông vẫn
nhầm tôi chứ chính tôi là một kẻ tiểu nhân lắm, tôi xin thú thật với ông như thế
mà không hổ thẹn. Tôi không thể nào có lòng hy sinh và trở nên một người quân tử
theo ý ông được. Vả lại... hiện nay, tôi đương là người cực kỳ chán đời, cực kỳ
khinh đời. Đã thế, tôi còn cần gì nữa?
Tú Anh cười nhạt mà rằng:
- Ông tưởng thế đấy, chứ ông không chán đời và khinh đời một
chút nào đâu! Ông nhầm to! Người ta, khi đã biết sự đời là đáng khinh, thì
không thể còn can đảm nào mà lại sốt sắng tỏ sự phẫn uất ra cho ông, vì một người
đã khinh đời là một người thản nhiên lắm, không còn có một mối cảm giác gì nữa.
Vậy mà ông kêu gào đến như thế được thì ông còn yêu đời lắm. Tôi xin can ông!
Sao ông lại coi sự đời to như thế? Sự đời có đáng yêu đến thế đâu? Đáng thương
hại cho ông thật.
Long ngẩn người ra vì không hiểu, rồi nhăn nhó lại nói:
- Vì chung... tôi... tôi khổ quá.
- Ở đời này, ai mà không đau khổ? Ông tưởng dễ tôi đây, tôi
sung sướng hơn ông đấy à?
- Ồ! Không! Ta không nên nhảy vào phạm vi triết học.
Tú Anh ngồi dậy, bất bình mà rằng:
- Tôi chỉ nói một cách thiết thực về những sự thực hiển hiện
ra trước mắt ông đó mà thôi! Ông không có gia đình thì thôi, chứ nếu ông cũng
có một gia đình như tôi, thì tôi xin nói thẳng rằng những cái dây liên lạc
thiêng liêng nhất đời, đại khái như tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ chẳng
hạn, cũng lắm khi chỉ đáng để xuống đất mà dí dưới gót chân! Là vì trong suốt một
đời người, thể nào rồi bố mình cũng phải có điều không tốt với mình, mẹ mình
thì cũng phải có điều gì ăn ở không ra sao với mình, anh chị em mình thể nào
cũng phải có điều gì khốn nạn đểu cáng với mình. Tôi xin nói thẳng cho ông biết
rằng, đến những điều thiêng liêng như vậy, mà rồi cũng có khi chỉ là những chuyện
khôi hài, thì ở đời này không còn có cái cóc gì là đáng quí nữa, mà sự đời thật
là không có nghĩa gì cả!
Im lặng một cách sợ sệt, Long nghe những lời phẫn uất ấy. Sợ
nhân đó là Tú Anh trạnh nghĩ thấm thía đến gia đình, Long vội tìm một đầu để lảng
chuyện ra. Rồi Long nói:
- Vâng, vì tôi không có gia đình nên tôi mới cầu cứu hạnh
phúc ở ái tình, và cầu một cách khẩn khoản hơn ai... Tôi đương muốn tin cậy ở
ái tình, vây mà rồi tôi phải bán tin, bán nghi, không còn biết nghĩ sao nữa.
Tú Anh dịu mặt, lại nằm xuống cạnh khay đèn. Hồi lâu Anh nói:
- Ái tình cũng không thể cho ta hạnh phúc được!
- Ô nếu như vậy thì loài người này hết đường trông cậy hay
sao? Nếu được thì người ta chết cả, chứ còn ai sống được!
- Vậy mà chẳng ai chết cả! Họ đau khổ, họ không biết! Hoặc họ
có biết, mà họ cứ sống. Ái tình chỉ làm khổ người ta mà thôi! Ông tưởng ái tình
ban được cho ông hạnh phúc, ấy là vì ông không hiểu đời.
- Ông bi quan quá nhỉ? Sao lại thế được?
- Không, hoặc là có. Người ta đã trải cuộc đời thì phải hoài
nghi, mà đã hoài nghi thì phải bi quan. Sở dĩ ông còn tin được ở ái tình, một
là vì ông hãy còn trẻ tuổi, hai là vì bọn văn sĩ mê hoặc ông. Ông văn sĩ chỉ đi
mô tả những cuộc thảm tình, những cuộc tơ duyên lỡ dở, những câu chuyện khổ sở
điêu đứng, hình như nếu họ mà lấy được nhau thì họ sung sướng bồng lai! Nếu bọn
văn sĩ bây giờ chịu viết những chuyện tình rồi cho họ lấy nhau đi, rồi cho họ
ghen nhau, giận nhau đi, thì mới chứng thực rằng ái tình chỉ làm cho con người
ta khổ sở. Mà nào chỉ có thế! Lại còn cãi nhau, đánh nhau, phụ nhau, rồi giết
nhau, chồng ăn chả, vợ ăn nem, hoặc là sống chung với nhau để khinh bỉ thù hằn
lẫn nhau. Nào có ông văn sĩ nào là tả đúng sự đời và bảo được cho mọi người rằng
ái tình là một điều không bõ để ý!
- Nếu mải nghe ông, thôi thì không còn ai thiết gì đến sự đời
nữa.
- Thì trước sau, tôi chỉ muốn cho ông không thiết gì đến sự đời!
Mà tôi mong rằng ông đừng tin đàn bà! Hoặc là ông ngồi trong văn phòng, hoặc là
ông ra ngoài phố, mắt ông, tai ông lúc nào ông cũng chỉ thấy sự dâm đãng đội lốt
Văn chương mỹ thuật mà thôi. Văn chương sách vở khiêu dâm, phim ảnh khiêu dâm,
nhà hát khiêu dâm, tranh ảnh khiêu dâm, phòng khiêu vũ, nhà săm, những quân phu
xe bảo ông đi lấy sự trinh tiết của mọi hạng phụ nữ bằng năm đồng, ba đồng, âm
nhạc cũng khiêu dâm, những mốt y phục lại càng ngày càng khiêu dâm, nói tóm lại
thì bao nhiêu cái xô đẩy người ta vào vòng thương luân bại lý! Ông có thấy rằng
chúng ta đang đắm đuối ngập lụt đến cổ vì vũng bùn lầy dâm đãng đó không? Ông vẫn
còn tin được đàn bà và ái tình đó à?
Long trầm ngâm nghĩ ngợi, càng thấy những lý luận ấy là đúng
sự thật. Nhưng chàng cũng nói:
- Trường hợp của tôi không dính dáng gì đến những điều ông vừa
buộc tội.
- Đó là ông chưa nghĩ kỹ. Tình là dây oan, cổ nhân không nói
sai đâu. Trong khi yêu, người ta chỉ nghĩ đến chữ chung tình. Vậy mà tôi, tôi
có thể cam đoan với ông rằng, không một người đàn bà nào lại chung tình với một
người đàn ông nào cả. Ông thử xét ngay chính ông mà xem! Khi có một người yêu rồi,
sau khi đã tâm tâm niệm niệm, quyết chung tình với ý chung nhân rồi, cũng đôi
khi ông bị sức cao hứng của tâm hồn nó lôi cuốn đi, khiến ông quên bẵng người
yêu mà mơ màng đến một người khác, tôi dám chắc như thế!
- ...
- Có thế không thì công nhận đi!
- Vâng, cũng có thế thật.
- Ấy đấy, chính ông, chưa chi ông đã không chung tình rồi!
Như vậy, ông cầu sao được lòng chung tình ở một người đàn bà? Người ta cũng giống
ông, vì ở dưới này bọn phàm trần chúng ta, giống nhau tất. Tôi không nói rõ tên
tuổi và chỗ ở một cặp giai gái kia, yêu nhau tưởng chết mà rồi người đàn bà bỏ
người chồng, đi theo một kẻ tồi hơn chồng. Tôi cũng không vạch mặt chỉ tên một
mỹ nhân tuyệt đẹp chung tình có một chồng chết thì khóc chồng năm năm trời tưởng
chừng không sống được nữa, thế mà một buổi sáng kia, tươi cười hớn hở bước lên
xe hòm cưới của một người chồng thứ hai... Tôi không đếm xỉa đến những hạng lẳng
lơ dâm đãng có chồng con đi ngủ với giai, hoặc là bọn gái tân thời có cái quan
niệm mới lạ rằng yêu ai thì chỉ bắt nhân tình cho có vẻ sang trọng thôi còn lấy
hẳn ai thì là vì muốn trả thù người ấy... Tôi không muốn nói đến những hạng ấy,
e rằng mang tiếng cố ý dọa nạt ông. Nhưng mà tôi có thể lấy riêng ra một người
đàn bà có học thức, có nhan sắc, có đức hạnh, một người đàn bà đáng làm gương mẫu
cho đời, một buổi chiều thu kia, ngồi trên bao lơn đan áo rét cho chồng, trông
ra cánh đồng và con đường um tùm vắng vẻ, tâm trạng nao nao lên, bao nhiêu thì
tình, thì tứ, trong lòng như sóng cuốn, rồi chợt ở dưới đường có một chàng diện
mạo thanh tao, y phục lịch sự, vừa đi vừa quay cổ nhìn lên, rồi người đàn bà
cúi mặt xuống, để cho khách qua đường phải quay lại nhìn lần thứ hai, và bắt được
quả tang là mỹ nhân trên bao lơn cũng có nhìn theo mình, rồi khách qua đường phải
giữ vẻ con nhà giáo dục mà lững thững bước đi không dám nhìn lại nữa, và, do thế,
người đàn bà, trong một phút xúc động, đã thấy kẻ qua đường là hơn chồng mình,
rồi chợt nghĩ đễn những điều nhỏ nhen của chồng trong cuộc đời sống chung với
chồng, rồi mơ màng, so sánh, oán giận, rồi lim dim cặp mắt lại, trong một phút
đã tưởng tượng một cảnh gia đình khác mà mình được người khách lạ nâng niu chiều
chuộng hơn chồng, phải, dù chỉ là trong một phút mơ mộng nữa, dù là trong cả một
đời chỉ có một phút như thế kia, thì ấy là người vợ hiền ấy cũng đã phụ chồng rồi,
là cuộc nhân duyên ấy cũng là bị vết ô tỳ làm hoen bẩn rồi, mà sự chung tình
không còn có nữa! Ấy đó, bộ mặt thật của ái tình mà tôi đã hé mở cho ông xem...
Tú Anh nói xong thì thở dài một cái ra vẻ chán chường, mặt lộ
ra sự đau đớn, sự buồn rầu, sự chán nản, sự khổ não, y như một người chồng bị vợ
lừa, hay là người đã đau khổ vì tình vậy.
Những ngôn ngữ, cử chỉ ấy, Long hiểu một cách rất thấm thía.
Chàng thấy không nên ghen Mịch, nghi Mịch nữa. Chàng bắt đầu cảm thấy đàn bà là
khó tin. Rồi thì chàng thấy cuộc đời trống trải. Đương đau khổ mà được thôi,
không phải đau khổ nữa, như thế Long cũng chẳng thấy sung sướng gì. Long bất
giác lại lấy làm tiếc, giá Tú Anh đứng nói thế, cứ mặc chàng ngu dốt để mà có
thể đau khổ thì hơn... Long thấy không thể yêu được Mịch nữa, và nếu có phải lấy
Mịch thì chỉ vì bổn phận, “Ta không nên cần đến ái tình vì ta đã phải ngờ vực
ái tình. Ấy là ta sẽ lấy vợ cũng như trăm nghìn người khác vậy”. Nghĩ thế, Long
muốn về, vì lẽ gì Tú Anh đi tìm mình ở đây. Long hỏi:
- Bây giờ đã mấy giờ đêm rồi, thưa ông?
- Cũng khuya lắm rồi. Để tôi nói xong mọi điều dự định của
tôi, chúng ta về nghỉ. Đây này, tôi xin nói thẳng ngay rằng xưa nay tôi vẫn muốn
gả em tôi cho ông. Vì lẽ ấy, tôi đã để ông về ấp và xuống cảng, để ông biết rõ
gia thế nhà tôi, ông nên biết như thế. Vậy tôi có hai con em đấy, tùy ông ưng,
đứa nào cũng được. Tôi thấy ông nghèo, chưa có tiền, nhưng nếu có, chắc là sẽ
biết dùng tiền. Người ta đã có tiền, lại có bụng tốt, thì dễ trở nên hay... Rồi
trong cuộc đời, thể nào chúng ta cũng còn bắt tay vào việc gì khác thường với
nhau... Tôi xin nói trước là chưa chắc em tôi đã cho ông hưởng hạnh phúc đâu,
vì tôi đã khuyên ông chớ nên hi vọng ở đàn bà. Ông chỉ biết rằng, ông lấy em
tôi, thì ông có vợ, cũng như người khác có vợ, thế thôi. Còn việc cô Mịch, ông
chớ nghĩ đến nữa...
Long nghe đến đấy bỗng thấy vui vẻ, mừng rỡ trong lòng. Nhưng
chợt nghĩ đến Mịch, Long lại tự trách mình hèn hạ quá. Nhưng Long không đủ thời
giờ vấn tâm, vì Tú Anh đã lại tiếp:
- Tôi đã về Quỳnh Thôn thu xếp xong chuyện rồi!
Long hãi hùng hỏi:
- Ông? Ông đã về...?
- Phải! Tôi đã trông thấy sự sa sút nhà cụ đồ, sự đau khổ của
cô Mịch, sự cả cái nhà ấy bị cả làng khinh miệt, lục tội, phỉ báng! Tôi căm giận
hộ ông đồ lắm! Cô Mịch cần phải lấy chồng giầu để mà rửa hờn! Người ta lấy ông,
thì bị ông làm khổ, làm nhục mà thôi! Mà đứa bé trong bụng ấy, em tôi. Vậy thì
số phận cô Mịch như thế, không vì lẽ gì đứa bé lại là con ông được!
Long rền rĩ.
- Trời ơi, không ngờ cơ sự lại xoay ra đến.
Thật bất ngờ.
Long nói rồi cúi mặt xuống. Tú Anh nhìn trộm Long, lại nói:
- Ông tiếc cái gì? Người ta yêu quí gì ông?
Long trợn mắt, thở hồng hộc mà hỏi:
- Sao? Ông nói gì? Họ không có tình với tôi nữa hay sao?
Anh gật đầu một cách vụng dại, làm cho Long nôn nao lên:
- Không! Không phải thế! Giời ơi! Tôi van ông! Không phải thế,
có phải thế không? Ồ! Không! Ông nói dối! Tôi van ông, xin ông nói thật cho!
Tôi van ông. Ồ, có đời nào! Đời nào con Mịch lại ăn ở như thế với tôi được!
Nhưng Tú Anh bình tĩnh đáp:
- Tôi xin đem danh dự tôi ra mà thề.
Chương 18
Buổi chiều hôm ấy, Mịch ngồi ủ rũ vá lại cái áo cánh rách ở
giữa sân. Lúc ấy, ông đồ đương họp việc làng ở đình. Bà đồ cũng bận rộn về việc
hầu hạ các cụ ngoài ấy.
Cái áo cánh rách càng khiến cho Mịch thấm thía nghĩ đến cảnh
nghèo. Mịch bồi hồi nghĩ lại bữa ấy, đêm rằm tháng giêng, giữa lúc đi bới khoai
trộm mà gặp Long. Mịch rất hối hận giận mình sao đã quá thật thà đến nỗi thú thật
với Long là đi ăn trộm để cho bị Long khinh. Mịch yên trí rằng từ đó trở đi,
Long hết lòng khinh rẻ Mịch, và có lẽ cả gia đình nhà Mịch nữa.
Nếu không thế, sao Long lại hỏi: “Tại sao lại cầm của nó cái
giấy bạc năm đồng? Một bó rạ mà lại bán những năm đồng à?”
Ngay lúc ấy, không hiểu sao Mịch lại ắng cổ ra, không nói gì
được nữa. Giá có nói rõ những lời lẽ thương xót dân nghèo của nghị Hách bữa ấy,
nó khiến cho Mịch tin và lập tức nhận tiền, thì Long ắt cũng chẳng chịu cho là
lọt tai.
Mịch giật mình hoảng sợ khi thấy Long cũng vặn mình y như
quan huyện. Mịch hối hận vô cùng, đau khổ vô cùng về cái tội dại dột, cái dại dột
tưởng không can chi, mà thực ra, đã làm hại cả một đời Mịch, và hơn nữa, đã làm
cho Mịch trong cảnh ngộ tình ngay lý gian, nói toàn những lời rất phạm đến lòng
tự ái của Mịch. Thói thường, sau khi người ta chủ tâm phải tự mình giận mình
nhiều quá, không còn biết sao nữa, thì người ta phải vô tâm mà giận đến kẻ
khác, cho nó khuây khỏa sự hối hận đi. Do lẽ ấy, sức liên tưởng đưa Mịch lại
cái thời gian mà Long đã có những hành vi, cử động khiếm nhã. Mịch thấy Long
không hiểu cho mình, vô lý, tàn nhẫn, đáng giận! Vậy mà xưa kia, Mịch vẫn nhầm
mãi Long! Thì ra chỉ vì Mịch nghèo nên mới tham tiền, nên mới mắc bẫy, nên mới
bị hà hiếp nên mới bị thua kiện, nên mới chịu oan. Chỉ vì nghèo! Nỗi oan thống
khổ, không nói được với ai cả, vậy mà người chồng là người tri kỷ độc nhất vô
nhị trong đời mình, không những đã không hiểu cho mình, lại còn đi khinh rẻ
mình nữa!
Nghĩ như vậy, Mịch thấy đối với Long chỉ còn có căm hờn.
Rồi Mịch nghĩ đến ông chủ của Long... Một người lịch sự, tử tế,
đứng đắn, ăn ở đâu ra đấy, có vẻ thận trọng sự đời lắm, có vẻ hiền nhân quân tử
lắm, mặc dầu là con giai một lão già đểu giả, dâm đãng. Vậy mà người ấy đã tự
liệt vào hàng con cái của Mịch, sẽ gọi Mịch là dì! Cái thai trong bụng Mịch,
sau này sẽ là em ruột người ấy, sẽ hưởng mọi điều sang trọng, lịch sự, sẽ hấp
thụ sự giáo dục của người ấy, thì hẳn là hơn phải làm một đứa con của Long.
Không phải cùng máu mủ... lại còn như cái gai trước mắt một người bố không phải
là bố mình, lại luôn luôn khêu gợi cái cuộc hiếp dâm kinh tởm kia hẳn rồi đứa
hài nhi sẽ suốt đời bị Long đày đọa trong những cơn ngứa ghẻ hờn ghen.
Sau khi thấy nói rằng Long đã cho người ta toàn quyền khu xử
mọi việc, ông đồ đáp đại khái: “Vâng, nếu chính cậu Long cậu ấy đã chán con bé
cháu thì hẳn là nó phải lấy người khác. Mà tất nhiên khi phải trong cảnh bó buộc
lấy người khác, thì còn gì cho bằng con bé cháu nó về với cụ Nghị nhà! Nếu ông
khu xử cho như thế, thì tôi cũng xin vâng. Con bé cháu như thế cũng là an phận,
thôi thì tôi cũng cho rằng mọi việc trên đời này đều có tiền định cả, nhất là
khi con bé cháu lại... lại... do thế mà có mang”. Mịch cho bố mình đáp như vậy
là rất phải. Khi người ta đã chán mình, khinh mình, mà lại không phải lỗi ở
mình, thì việc gì mình phải cần đến người ta nữa? Nghĩ thế xong, Mịch lại nhớ đến
những lời cô thày bói toán cho Mịch về đường phu tử, những là lấy chồng giàu,
những là tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng, vân vân... Từ đấy mà đi, tự trong
thâm tâm của Mịch, Mịch tin rằng người ta có số mệnh, và cái số kiếp của Mịch
đã như thế thì Mịch không thể cưỡng lại với trời được nữa.
Chỉ có bà đồ là hơi đáng trách. Sau khi nhận được tin ấy,
không kịp suy nghĩ trước sau gì cả, bà đồ đã tấp tểnh mừng thầm. Sự vui mừng của
bà hiện ra nét mặt, lời nói, dáng đi... Bà sung sướng vì tưởng Mịch đã bị hại một
đời, mà hóa ra sung sướng một đời. Cái con người quyền thế và giàu có nhất tỉnh,
mà ai cũng phải sợ, mà ai cũng không kiện nổi, nay mai sẽ đem vài chục cái xe
tu-bin về giạm hỏi con bà hẳn hoi. Rồi thì cả làng sẽ ngậm miệng hến. Rồi thì sẽ
vô phúc cho những đứa đã bảo bà là vô phúc, đến nỗi con gái bà bị hiếp dâm. Rồi
thì khổ cho những đứa chê bai, khinh bỉ, cho những đứa đã làm nhục bà. Tuy bà
không biết biên sổ nhưng bà cũng biên sổ ngay vào trong bụng: nào là con mẹ đám
Nhen nói kháy bà ra sao, nào là con mẹ đĩ Tốp nói xấu bà ra sao, vân vân... Con
gái bà lấy chồng giàu! Những đứa ấy rồi thì nhục nhã với bà, rồi thì điêu đứng
với bà. Nếu chúng có khốn khổ khốn nạn, mà đến vay bà thì bà cho vay ngay, để
mà khinh bỉ lại chúng, bắt chúng phải luồn lụy, lạy lục, cho bõ... Nên dù khi ông
đồ Uẩn mới kịp nói: “này cái lão nghị ấy muốn cưới con Mịch làm lẽ đấy...” thì
bà đồ hí hửng hỏi ngay: “Làm lẽ thứ mấy?” Rồi bà chỉ nói: “Thế thì may lắm rồi
còn gì! Thế mới biết thày bói toán đúng quá nhỉ!”. Tuyệt nhiên bà không còn nhớ
gì đến Long. Mịch rất lấy làm bất mãn về chỗ ấy, Mịch thấy mẹ mình như là hèn hạ
quá, nhẫn tâm quá.
Nhưng đàn bà thường nhỏ nhen như vậy, phải đâu có học thức
gì, mà đáng trách!
Chỉ có ông đồ là chín chắn. Ông đã nói: “Chỉ hơi phiền một nỗi
là người ta giàu có mà thôi. Chứ giá nếu họ nghèo khó hơn anh Long, thì việc
tao nhận lời thật là hoàn hảo, và không sợ gì miệng tiếng”. Mịch thấy rằng bố
mình chỉ thận trọng nhất đến sự trinh tiết của mình. Vả lại chính Mịch, Mịch
cũng thấy rằng đời người đàn bà chỉ cốt có ở sự nhỏ mọn ấy.
Trong một phút, Mịch thấy rằng... không nên vì một lẽ gì mà
buồn bã vẩn vơ.
Khốn nỗi cái lương tâm của con người ta không để người ta triết
lý một cách ích kỷ như thế. Người ta không phải hễ nghĩ ra được những lý luận
an ủi mình là đã quả nhiên tìm được sự an ủi trong lòng người ta, đã nghĩ ngợi
thì phải có nghĩ đi và nghĩ lại. Mịch vẫn thấy đối với Long như thế là không
nên... Không phải cô gái quê thấy mình, hay gia đình nhà mình đã xử tệ với
Long. Không phải là cô gái quê không biết Long đã khinh rẻ mình vô cùng. Nhưng
mà cô gái quê còn nghĩ được ra rằng tất phải có nguyên cớ gì, người ta mới dám
rẻ rúng mình, miệt thị mình đến như thế được. Nên dẫu thấy rằng việc nhận lời của
bố là có lý lắm, là phải lắm, mà Mịch vẫn coi như là việc ấy hình như không tốt,
nó thế nào ấy, nó làm sao ấy, khó nói lắm, trăm nghìn ý nghĩ rối loạn, phấn khởi
và phẫn uất, dịu dàng và tê tái, an ủi và liều lĩnh, thay lượt nhau mà giày vò
cô gái quê. Mịch thấy rờn rợn như đêm khuya bị lạc đường ở một nơi có ma, có
yêu, hay là đứng trên một cành cây cao chót vót, nhìn xuống mà thấy chóng mặt vậy.
Mịch không dám nghĩ ngợi gì nữa.
Vá xong cái áo, Mịch ngồi thừ người ra. Tự nhiên Mịch nhìn xuống
bụng. Sự trông thấy cái kết quả ấy, khiến Mịch nhớ lại nguyên nhân. Mịch thấy
hiện ra rõ ràng trong óc cái hình ảnh một lão nghị Hách phũ phàng nhưng mà nay
mai lấy Mịch chắc phải ăn ở khác hẳn. Mịch chợt nhớ đến lúc từ con gái mà trở
nên đàn bà, trên chiếc xe hơi. Cái lúc ấy thật là gớm ghiếc, thật là bẩn thỉu
thật là đau đớn, nhưng trong cơn đau đớn không phải là không có một thứ khoái lạc
trong xác thịt nó làm cho đỡ thấy đau... Xưa kia, cũng đôi khi chợt Mịch hơi nhớ
lúc ấy, song sự hổ thẹn xua đuổi ý nghĩ ấy đi ngay. Nhưng mà từ nay trở đi người
kia sẽ là chồng của Mịch, thì Mịch hẳn là có quyền nhớ lại những phút có cái cảm
giác mới lạ nhất đời mà không là phạm tội lỗi gì cả. Trong lúc này, con vật đã
nổi dậy trong lòng cô gái quê mập mạp, trẻ trung, đương thì... Mịch nhớ lại lúc
ấy một cách say sưa như người háu đói vậy.
Thốt nhiên sau lưng Mịch thấy có tiếng gót giầy. Mịch giật
mình, nhìn lại thì đó là Long! Hai má của Mịch bỗng đâu đỏ bừng lên như những
lúc thổi lửa, Mịch xấu hổ vô cùng. Long nhìn Mịch một cách đăm đăm, làm cho Mịch
nghĩ rằng Long đoán nổi ý nghĩ bẩn thỉu của Mịch vậy. Thật là... quả tang! Mịch
bưng mặt chạy tọt xuống bếp.
Long thấy cử chỉ ấy thật quái lạ. Chưa bao giờ trước mặt
Long, Mịch có dáng điệu co quắp lúng túng như thế. Nhất là Long vốn là người đa
nghi, nên càng thấy Mịch thật là quái lạ, thật là bất chính, thật là đốn mạt,
thật là gở cho gia đình.
Long về là vì không tin hẳn lời cam đoan của Tú Anh. Long nhất
quyết không thể chịu ngay rằng người ta lại thay lòng đổi dạ đến thế được. Muốn
khỏi phải bán tin, bán nghi, thì chàng về, mong phán đoán cho đúng mọi sự, sau
khi được tai nghe mắt thấy... Long hy vọng rằng Mịch sẽ khóc lóc với chàng thì
chàng sẽ lại yêu thương Mịch như xưa...
Thì Long đã thấy như thế!
Mịch lui xuống bếp để Long đứng tưng hửng giữa sân. Thật là
quái lạ! Trong óc Long, một nghìn mối nghi ngờ, căm hờn và ghen giận nổi sôi
lên... Long thấy lộn ruột, lộn ruột lắm. Mà lúc ấy, nhà vắng vẻ chứ bảo Mịch phải
sợ ai, nên thẹn thùng gì!
Điên ruột lên, Long lấy giọng quyền hành gọi:
- Mịch!
Không thấy đáp, Long chạy sộc xuống bếp, thì Mịch bước giật
lùi, chạy vòng đằng sau chuồng lợn. Long muốn chạy rấn mấy bước nữa, để kéo Mịch
lại, để tát cho Mịch mấy cái, nhưng chợt trông thấy một nồi nước tiểu nên Long
lại thôi. Chàng đứng thừ ra, chóng mặt lắm, chỉ muốn ngã... Chàng thấy lời Tú
Anh thuật lại là đáng tin cả trăm phần trăm rồi. Trước kia chàng vẫn không tin,
song, bây giờ làm thế nào mà lại vẫn không tin lời nói của Tú Anh cho được?
- Con khốn nạn! Mày có lên ngay đây không?
Đứng sau một cây chuối, Mịch ngẩn người ra cũng ngạc nhiên về
giọng sỗ sàng ấy hết sức.
Trong lúc tâm thần bất định, Mịch nói mà không nghĩ:
- Anh... anh muốn hỏi gì, thì thày còn ở ngoài đình.
Tức khắc Long quay ra, cắm đầu cắm cổ!... Long như người hóa
điên. Chàng vấp phải một đứa bé. Đứa bé ngã, Long cũng không nâng nó dậy.
Một con chó xồ ra trước một cái cổng... tức thì phốc một cái,
mũi giầy tây của Long trúng mồm con vật làm con vật lặng đi. Long vấp luôn phải
một bà già, cũng không xin lỗi. Một vài cành tre khô chìa ra ngõ cho chàng vướng
má phải. Long không lau chỗ máu ở má, vì cũng không thấy đau. Trông thấy đình,
Long lượn đi lối cổng sau, vì trước cửa đình bọn trẻ con xem chèo và đánh thò
lò đông quá. Đến bên một cái cột lớn ở gian nhà hậu, Long rón rén nhìn vào...
Long có ý muốn xem ông đồ ngồi ở đâu, rồi sẽ nhờ người khẽ mời hộ ông đồ ra.
Trong đình lúc ấy vang ầm lên những lời bàn tán và cãi nhau. Giọng người nào
cũng lè nhè những hơi rượu.
- Anh nào còn nói nữa thì ông đánh dập cổ xuống đấy!
- Thằng nào cấm ông, thì ông chẻ xác ra!
- Chỗ này là chỗ việc làng, chúng mày không được đem chuyện
riêng nhà người ta ra mà bới móc!
- Thế thằng nào đả động đến trước?
- Chó khơi mào ra trước đây thì có!
Long lắng tai nghe chỉ thấy ồn ào lên. Chợt có một người nói
to hơn cả:
- Ừ! Người ta có con thì người ta gả cho ai thì người ta gả,
miễn là có đủ tiền cheo thì thôi! Ừ! thì người ta gả cho ông nghị đấy, gả cho
người mà cả làng này kiện không nổi đấy! Ừ, thì lão nghị Hách sẽ là rể làng này
đấy thì làm sao? Các anh chõ mõm vào làm gì? Ông truyền đời cho chúng mày biết
rằng nó chỉ làm rể làng độ ba hôm thì sẽ khối thằng lại không vác rá đến vay gạo
nó, ông chớ kể! Đừng có kháy nhau mà mai sau hôi mồm!
Đến giọng ông đồ Uẩn, một thứ giọng sợ sệt, khổ não:
- Thôi ông chánh tôi van ông! Ấy tôi là trước sau tôi không
có dám nói gì cả đấy! Xin ông cũng đừng bênh vực tôi, rồi lỡ ra lại thêm điều đẻ
chuyện ra, thì phiền lắm.
- Ờ! ờ! thế ông đã nhận lời của nghị Hách chưa?
- Bẩm tôi đã nhận ngay rồi.
- Vậy thì đừng có ai nói gì vào việc ấy nữa!
- Vâng, xin đừng ai nói gì vào việc ấy nữa.
Long nghe ba câu nói của ông đồ xong, ngán ngẩm quay đi. Thật
là chính mắt Long đã trông thấy, chính tai Long đã nghe thấy.
Chàng tự trách mình sao còn quá thật thà mà lại bò về Quỳnh
Thôn. Nhưng chàng lại tự an ủi ngay, cho rằng có về một chuyến cuối cùng như thế
thì mới khỏi áy náy, sau này có sự gì thì cũng không phải hối hận.
Long cắm cổ ra khỏi làng.
Chàng vừa đi vừa lẩm bẩm “Đồ khốn nạn! Bố khốn nạn, con khốn
nạn”. Rồi Long tự chế giễu mình cho mình là khôi hài khi chưa dám tin lời Tú
Anh, chàng rắp tâm về kể lể mọi điều uất giận với Mịch và xin Mịch tha cho những
điều càn giỡ khi xưa, Long thấy mình ngu ngốc lạ lùng. Cái sự tham vàng phụ
ngãi của cha con thị Mịch như vậy là hiển nhiên lắm rồi! Từ rày mà đi là Long
không còn phải đau khổ gì nữa, không còn phải ân hận gì nữa, không còn phải nhớ
nhung thương tiếc gì nữa. Long cũng có chút ít ngạc nhiên về sự thay lòng đổi dạ
quá đỗi đột ngột của con người ta. Long bàng hoàng thấy rằng những sự bất ngờ,
những điều không ai tưởng tượng là sẽ xảy ra được, thì vẫn cứ xảy ra luôn luôn,
trái hẳn với ý nghĩ của thiên hạ.
Long cảm thấy Tú Anh là thâm trầm, là hiểu đời vô cùng. Chàng
thấy đời là đáng chán lắm không còn tin ai được nữa.
Một chiếc xe ô tô ca phăng phăng trên đường nhựa... Như cái
máy, Long ra hiệu cho cái máy ấy dừng lại. Lúc bước chân lên xe rồi, bụng chàng
vẫn còn lẩn quẩn những ý nghĩ khinh bỉ lão đồ Quỳnh Thôn.
Cho nên hành khách trên xe hơi, khi thấy người thiếu niên vừa
bước lên xe xong là lầm bầm: “Đồ khốn nạn! Một lũ khốn nạn!” rồi lại ngồi trầm
ngâm khoanh tay: thì ai cũng ngẩn người ra như người ta phải lạ lùng, khi thấy
một người điên rồ như thế.
Chương 19
Mịch bàng hoàng, ngơ ngác nhìn quanh như vừa tỉnh một giấc mộng.
Trong cuộc đời gái quê thanh bần của Mịch, quả nhiên một sự phi thường đã xảy
ra. Mịch chưa dám chắc đó là hạnh phúc hay chông gai, song cứ kể về phi thường
thì quả thật những điều như thế đã phi thường lắm.
Mịch đã ù tai về tiếng máy xe hơi, tiếng pháo nổ ran, tiếng
giầy nện vào thang gác lúc rạp hát hạ lớp màn cuối cùng, tiếng cốc tách chạm
nhau, tiếng cười nói bông lơn chưa hề nghe thấy. Mịch đã choáng mắt lên vì ánh
sáng phản chiếu từ những miếng kền, miếng kính của hơn mười chiếc xe hơi, màu
hoa đào của những gối chăn, màu xanh, đỏ, tím, vàng, lòe loẹt của những người
đi đón dâu đẹp như tiên nga, màu hớn hở nghìn tía muôn hồng của những dây hoa xếp
quanh cái xe hòm, mà Mịch đã bước lên, ngồi từ Quỳnh Thôn về đến Hà Nội. Khứu
quan của Mịch đã bị kích động dữ dội về những mùi thơm ngào ngạt ở quần áo hai
người đàn bà nhan sắc choáng lộn, quần áo kỳ lạ, ngồi kèm hai bên Mịch, tuy vẫn
cười đùa với Mịch đấy nhưng mà Mịch vẫn sợ hãi, kính trọng một cách băn khoăn.
Thật là một giấc mộng.
Bây giờ, tâm hồn đã thư thái, Mịch mới kịp nhìn kỹ gian
phòng. Cái giường Mịch ngồi là một thứ giường lạ mắt lùn tìn tịt, ngồi vào y
như là ngồi xuống đất, có chăn gối mới, có nệm rất êm. Sau lưng Mịch, một cái
gương to bằng cả một cái giường, khiến cho thoạt đầu lúc mới nhìn vào, Mịch phải
tưởng là bên kia cũng có một gian phòng bày tiện như thế. Một đôi ngà voi chổng
ngược, trấn ngay bộ bàn ghế, cũng lùn tịt ngay ở cửa phòng vào. Trên một cái
dàn, một con trĩ đuôi dài, trông như thật, không biết thật hay là giả, do ai
làm khéo đến như thế, cứ nhìn Mịch trừng trừng không thôi. Bốn bức tường thì
nào là đĩa cổ nào là sừng hươu, nào là con dao, cái kiếm... Lại có mấy bức về
đàn bà trần truồng trông đến lạ, không biết ai lại đi treo như thế, không biết
treo như thế để làm gì.
Nhìn lại sau lưng, Mịch thấy một người đàn bà mặc áo vải rồng,
quần lĩnh, đứng lễ phép như chờ Mịch sai bảo, trông giàu có chẳng kém gì cô con
gái ông chánh hội làng Quỳnh Thôn!
Mịch chợt giật mình, nhưng sau khi thấy ngay rằng áo cánh của
mình, cũng may bằng lụa, cái khăn chít trên đầu cũng bằng đoạn Vân Nam, cái áo
dài lại bằng nhung đen, đôi giầy lại có thêm phượng múa, lại thêm tay có vòng,
tai có hoa, cổ nặng trĩu những hạt vàng nên Mịch yên tâm ngay.
Giữa hoàn cảnh ấy, trong sự trang sức ấy, Mịch không hiểu bỗng
đâu nao nao lên sung sướng, hình như Mịch có một thế lực gì với đời rồi vậy.
Rồi Mịch chợt nghĩ đến những nghi lễ của cuộc hôn nhân.
Năm hôn trước đây, người ta đã về Quỳnh Thôn với ba chiếc xe
hơi, với mấy nghìn cau, mấy trăm bánh và ba trăm bạc.
Ngày hôm ấy cả làng đã nhao lên rồi.
Hai hôm sau nữa thì trước sân nhà ông đồ đã có một bọn giai
làng ngồi chống rạp. Rồi sáu con lợn theo nhau mà chết để giữ mấy vạn con ruồi
của làng Quỳnh Thôn. Dư luận của làng bỗng xoay đổi hẳn.
Những người đã chửi xỏ bà đồ Uẩn một cách hèn mạt nhất, thì lại
là những người làm giúp một cách hăng hái nhất. Tuy nhiên cũng có vài gia đình
mà sự căm hờn đã ngăn không cho đến để nốc rượu và thi hơi. Khốn thay, tuy
không đến lấy lệ vậy thôi, chứ thực ra, họ đứng bên ngoài cái rào găng, mà chuyền
tay nhau phỗng hàng rá thịt một.
Mịch nghĩ như vậy mà sung sướng, muốn kiêu căng vô cùng...
Nhưng mà... hôm đón dâu chính chàng rể không về, cái bàn thờ tổ tiên chỉ được
có Mịch cúi đầu lễ mấy cái. Đám cưới thì long trọng lạ lùng, danh giá lạ lùng,
duy có chỗ không thấy chàng rể là đáng bực mình một chút mà thôi. Hình như ông
đồ buồn vì điều ấy lắm. Hình như cả làng bàn tán về chỗ ấy dữ dội lắm... Chả biết
có thật không? Trong lúc bối rối cuống quít, Mịch không hiểu gì cả. Để nay mai
sẽ hỏi xem sự xảy ra là thế nào... Như vậy thì ra cũng chưa nên kiêu căng vội.
Đương phân vân nghĩ như thế, Mịch chợt thấy có tiếng gót giầy
nện vào bậc thang. Đó là người con người vợ trước, tức là cậu cả con bà cả vậy.
Tú Anh tươi cười đến bên cạnh giường mà rằng:
- Thưa dì, tôi xin kính chào dì.
Mịch đáp rất lễ phép:
- Không dám, lạy ông.
- Ấy chết, tôi đây chỉ là con bà cả, dì đừng gọi thế.
- Vâng.
Mịch đáp thế rồi không biết nên nói năng sao nữa.
Tú Anh lại nói:
- Cái nhà này, từ nay trở đi, là nhà riêng của dì.
- Vâng.
- Phố này là phố Quán Thánh ở Hà Nội.
- Dạ, vâng.
- Dì đừng lấy làm lạ nhé, ấy nhà tôi là như thế. Chồng một
nơi, vợ một nơi, bố một nơi, con một nơi nhưng mà đã có xe hơi thì xa mà cũng
là gần.
- Vâng.
- Chờ khi dì mãn nguyệt khai hoa xong, có muốn về trại với
thày tôi ở tỉnh trên, thì tùy ý.
- Vâng.
- Rồi ít lâu nữa, tôi sẽ mời ông cụ đồ, bà cụ đồ ra đây ở
chơi với dì vài tháng cho vui.
- Vâng.
- Dì cứ nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt.
- Vâng, được ạ.
Tú Anh đến đây, ngồi xuống một cái ghế, bảo người hầu:
- Con sen!
- Dạ!
- Sao mày không rót nước bà xơi?
- Vâng ạ.
- Mày hầu hạ bà phải cho ngoan ngoãn lễ phép.
- Vâng.
Tú Anh quay lại nói với Mịch:
- Nó sẽ làm cơm và hầu hạ dì. Còn tôi, thỉnh thoảng tôi cũng
xin đến thăm dì luôn.
- Vâng.
- Tôi cũng xin nói trước cho dì biết tính nết thày tôi, để dì
liệu mà chiều chồng. Thày tôi là người nóng nảy lắm, mà hay có tính lỗ mãng một
chút.
- Vâng.
- Tuy vậy, thày tôi cũng là người tốt lắm.
- Vâng.
- Còn đối với mẹ tôi, cũng không khó khăn gì, vì mẹ tôi không
ở đây, mà ở Hải Phòng, có khi còn gặp nhau thì dì cứ giữ trọn vẹn cái đạo làm
đàn em, cũng đã đủ lắm. Thày tôi ở trên tỉnh đã về đây hôm qua, chắc cũng sắp đến
rồi đấy. Hiện giờ có lẽ còn ở hội khai trí tiến đức vì bận việc.
- Vâng.
- Dì đừng buồn rầu về phận lẽ mọn dì nhé! Nếu có sự gì thì đã
có tôi. Tôi xin hết lòng săn sóc...
Vừa nói có đến đấy đã thấy một hồi gót giày khua rộn lên....
Tú Anh ngừng lại, Mịch nhìn ra... Cái ông đã hiếp mình khi xưa, bữa nay trông
hình như lại to béo hơn xưa nữa. Mà lại ăn mặc tây! Như thế thì lễ tơ hồng thế
nào?
Tú Anh đứng lên, bắt tay nghị Hách, chia tay về phía Mịch ra
ý giới thiệu, đoạn khoanh tay sau lưng đứng dựa tường mà mỉm cười. Nghị Hách ra
vẻ bực mình, gắt con giai bằng mấy câu tiếng tây. Tú Anh cũng đáp lại bằng tiếng
tây khiến Mịch phải khó chịu vì không hiểu. Sau cùng Tú Anh bước xuống thang,
sau khi bảo con sen cũng xuống theo.
Nghị Hách đứng nhìn Mịch, như một đứa trẻ con lần đầu đứng
trước cái chuồng hổ. Lão gật gật cái đầu rồi đến ngồi cạnh Mịch...
Trên tường cái đồng hồ điểm 5 tiếng thánh thót, ngân nga...
Lão nghị đứng lên ra chỗ tường. Tự nhiên thấy tách một cái rồi sáng lóe lên. Mịch
vừa lạ vừa lóa mắt, lấy tay bưng lên mặt.
- Thẹn à? Vẽ!
Rồi lão lôi tay Mịch xuống. Một lát lại nói:
- Em ạ, thế là mày đã là vợ lẽ tao rồi!
Lão cười, rồi tiếp:
- Trò đời cũng hay thật đấy!
Không thấy vợ lẽ nói gì, nghị Hách lại ngắm nghía đến trố mắt.
Rồi lão đứng lên mà rằng:
- Ồ lạ thật!
Mãi đến bây giờ Mịch mới nói:
- Bẩm làm sao?
Nghị Hách rằng:
- Trông mày hôm nay xấu lắm!
- ?... - Thật thế, cái tối hôm ấy, mày mặc cái váy nâu, chân
mày đầy bùn, thế mà mày lại đẹp. Bây giờ mày diện đặc tiểu thư thế này, mà lại
không bằng khi xưa? À, thôi phải rồi! Tại bữa ấy mày có khăn mỏ quạ!
Mịch nghe thế thì như thấy điên người lên. Cái lối xưng hô ấy
làm cô không chịu được. Lần đầu Mịch cảm thấy đủ mọi sự chua chát về phận lẽ mọn,
nhất là lại lấy lẽ nhà giàu.
Nghị Hách lại nói:
- Mày thế mà tốt số đấy, em ạ. Xưa nay tao có định lấy vợ lẽ
bao giờ đâu! Cũng may cho mày là con giai tao cứ muốn như thế. Em nên nhớ ơn cậu
cả mới được.
- Vâng!
Mịch vâng bằng giọng gắt, để tỏ sự căm hờn... Nhưng chưa đủ
thì giờ để Mịch căm hờn thì nghị Hách đã lại nói:
- Em cứ chịu khó ngoan ngoãn, đừng hỗn láo với bà cả, đừng có
ngoại tình, phải, nhất là đừng có ngoại tình, thì rồi ta cũng quí hóa, thì rồi
cũng sướng thân. Lấy tao làm lẽ thứ mười cũng còn hơn làm chính thất người
khác.
Đoạn lão tần mần lột những cúc áo của Mịch ra. Tự lão, lão cởi
cho Mịch cái áo nhung dài, và bỏ vòng hoa, xuyến, hột. Lão ôm xổ lấy Mịch một
cái, lại hôn đánh choét một cái. Mịch hãi hùng đẩy mặt lão ra mà rằng:
- Ấy chết! Thế không tế tơ hồng hay sao?
Lão nghị trố mắt, hỏi:
- Cái gì?
- Bẩm, tế tơ hồng.
- Tế tơ hồng ấy à?
- Chứ gì!
Lão cười sằng sặc một hồi dài mà rằng:
- Tơ hồng! Tơ hồng... ha ha ha ha! Lại còn tế tơ hồng!
Vì quê mùa, cũng hơi kệch cỡm. Mịch lại nói:
- Phải thế cũng như mọi người chứ!
- Ôi chà! Vẽ! Cô dâu về nhà chồng bụng đã to bằng cái thúng,
lại còn vẽ tế với lễ! Mày cũng lắm chuyện lắm.
Nói thế xong, lão mân mê vợ lẽ, làm đủ những trò của một người
mới cưới vợ, vào buổi tối tân hôn.
Mịch giữ lấy tay lão mà rằng:
- Ấy chết, tôi đã có chửa đấy!
Lão nghị vênh mặt lên mà rằng:
- Biết! biết! Không có thì ông cưới làm thèm vào!
Mịch cũng đã đến lúc nhờn, gắt.
- Ăn nói đến hay thôi!
- Chứ lại gì! Ấy may mà mày lại có mang đấy. Thế là có phúc lắm
đấy.
- Thôi đi! Nỡm lắm nữa!
Nghị Hách cười một cách đa dâm mà rằng:
- Ông... Ông lại... hiếp cho chuyến nữa bây giờ.
Rồi đứng lên, vươn vai và, sau khi ngáp dài một cái:
- Lạ thật! Hôm hiếp nó thì thế, mà bây giờ nó lấy mình thì thế!
Lão ra ngồi bàn, nhìn mình trong gương một lúc lâu. Sau cùng,
lại đến ngồi giường ôm lấy Mịch mà hôn hít một hồi vào khắp mọi chỗ, hai tay
cũng thám hiểm khắp mọi chỗ. Trong lúc ấy Mịch nhắm nghiền mắt lại tưởng tượng
nghị Hách là Long...
Nhưng chợt lão ta vỗ vào bụng vợ bốp một cái, kêu to lên:
- Thế này thì còn nước mẹ gì nữa!
Thế là nghị Hách, không ân cần được nửa lời, lại tất tả xuống
thang. Vài phút sau, tiếng máy xe hơi nổ lên sình sình.
Đêm hôm ấy Mịch nằm một mình, nghĩ đến Long hối hận.
Chương 20
Hầu sáng bưng vào một cái liễn sắt đầy những măng tây, khói
lên nghi ngút, mùi thơm đưa ra ngào ngạt... Tuyết õng ẹo hắt đống vỏ hạt dưa ở
bàn cho rơi xuống sàn gác lách tách, và đài các phán cho hầu sáng:
- Cái Nị vặn quạt chạy nhanh lên một tí nữa nghe không!
Rồi âu yếm giục Long bằng một cái tát yêu:
- Øn đi chứ, hở mình?
Long chờ cho hầu sáng ra hẳn và cửa quầy đã khép hẳn lại, mới
ngồi ngay ngắn lên và mắng Tuyết:
- Tôi không bằng lòng cho Tuyết vô ý như thế! Khi có mặt một
người thứ ba nữa thì Tuyết phải giữ gìn một chút mới được!
Tuyết cười khanh khách mà rằng:
- Anh ngượng với thằng hầu sáng đấy à? Anh gàn lắm. Những thằng
ấy nó có để ý đến khách hàng làm trò gì với nhau bao giờ! Chúng nó cứ tính nhẩm
những món ăn đem ra quầy nào, đáng là bao nhiêu, như thế cũng đủ nhọc.
Câu trả lời tự nhiên ấy gieo một mối ngờ vực vào lòng Long.
Chàng tự hỏi: “Thế thì con yêu tinh này đã lả lơi với ta là với người đàn ông
thứ mấy rồi, để mà kinh nghiệm như thế được?” Rồi Long làm bộ thản nhiên hỏi
Tuyết:
- Sao Tuyết dám tin chắc rằng họ không thể để ý đến mình?
Không để ý đến câu hỏi vặn sâu sắc ấy, Tuyết lại nhí nhảnh
đáp:
- Suy ra thì biết chứ! Hơi đâu ai để ý đến kẻ khác làm gì, vì
người nào có công việc người ấy. Cũng như tôi chẳng hạn, trong khi tôi chỉ biết
công việc tôi là âu yếm mình thì tôi có để ý đến cái thằng hầu sáng là thằng
nào đâu!
Long gật gù nhưng vẫn nghi hoặc. Mặt chàng thờ thẫn ra...
Trên từng gác thứ ba của hiệu cao lâu Thiều Châu, bữa ấy đông khách quá: tiếng
đàn sáo ở phòng âm nhạc, tiếng hò hét của hầu sáng, tiếng bài mạt chược chạm
nhau loảng xoảng loạn xạ lên. Tuy ngồi với người yêu trong một cái quầy kín đáo
rồi, mà Long vẫn phải bứt rứt khó chịu như chung quanh chàng có tiếng kêu cháy,
kêu cướp gì vậy!
Nhưng Long không được khó chịu nữa, vì Tuyết đã ngoan ngoãn
múc đầy măng vào bát của chàng, rồi lại đưa một thìa lên miệng chàng một cách
đáng yêu.
Môi dưới của Tuyết giẩu ra, mắt Tuyết đằm thắm nhìn Long, hai
ngón tay ở bàn tay trái của Tuyết cũng nhẹ nhàng đỡ lấy cằm của Long - nghĩa là
Tuyết có những cử chỉ của một vú nuôi cho em bé ăn vậy. Long cứ thản nhiên hưởng
sự nâng niu ấy, trong bụng không khỏi thấy là buồn cười...
Tuyết xúc hai ba lần cho người yêu như thế rồi ngừng tay, cau
mặt mà rằng:
- Ồ! Khỉ quá! Cái bàn này rộng quá! Mình sang đây đi, sang
đây ngồi cạnh tôi cho chúng ta được gần gũi nhau một chút nữa!
Long nghe theo, đến ngồi cái ghết bên cạnh Tuyết thì Tuyết
quàng cổ chàng, rất sung sướng, lại nói:
- Ừ! như thế này có phải hơn không?
Anh hầu sáng khách tự nhiên mở cửa quầy dẫn xác vào, tay bưng
một đĩa con bột hạt cải trộn với tương ớt. Không chút e lệ, Tuyết vẫn giữ
nguyên dáng điệu cũ, hỏi Long.
- Thế mình thích những món gì thì bảo ngay đi cho kịp.
Long uể oải đáp:
- Tuỳ đấy.
- Sao lại tùy!
- Tôi không thấy đói mấy. - Vẫn biết thế! Vẫn biết chúng ta
vào đây cốt nhất là chuyện trò với nhau mà thôi, chứ tôi, tôi cũng không đói.
Nhưng mà ít ra cũng phải ăn uống cái gì cho nó xứng đáng, lúc đi ra cũng phải
trả vài ba đồng bạc thì mới trông được.
- Mình gọi món gì thì gọi. - Tôi gọi sợ không hợp ý mình
chăng?
- Tuyết cứ việc gọi, vì món nào đã do Tuyết gọi, thì ắt là
tôi ăn phải thấy ngon.
Tuyết phán mấy món cho hầu sáng. Cửa quầy sập lại rồi. Tuyết
vội chùi mồm vào giấy bản và thưởng Long bằng một cái hôn rất kêu vào má. Rồi
nói
- Chao ôi! Mình nói có một câu mà làm tôi sướng quá đi mất!
Long nghiêm mặt nói, như người cực kỳ chán đời:
- Ái tình là như thế đó! Một cử chỉ rất nhỏ mọn, một cử chỉ
nghĩa lý, cũng đủ gây nên ái tình. Những khi người ta yêu là vì người ta mù
lòa, là vì người ta không tự hỏi vì lẽ gì mà yêu. Bởi thế cho nên một cử chỉ vô
nghĩa lý lại cũng có thể phá tan được ái tình. Do thế mà ái tình là điều mỏng mảnh,
chóng hỏng, dễ vỡ.
- Sao mình lại nói những câu chán đời như thế? - Tôi nói thế
là tôi nghĩ thế.
Long đáp vậy qua một cái chép miệng rồi không nói gì thêm.
Chàng tự hỏi một cách chán nản: “Ô hay! Sao ta lại khổ đến thế này? Sao ta lại
không còn đủ một chút tàn lực để yêu như xưa? Hay là ta đã yêu Mịch quá? Hay là
lòng người nó dễ hiểu như những bậc triết nhân đã nói: ”Khi người ta đã yêu một
bận rồi thì đến lần thứ nhì, người ta không thể yêu như trước được". Long
nghĩ thế thì nhớ ngay đến Mịch. Sự thật thì đã mấy tháng nay rồi, chàng không
còn tơ vương gì đến Mịch nữa, không lúc nào chàng buồn nghĩ đến Mịch nữa, quả
thật như vậy! Thế mà lúc này Long vẫn buồn rầu thì tại làm sao?
Chàng quay lại ngắm nghía Tuyết, lúc ấy, ngồi khoanh tay thẫn
thờ, chỉ vì một câu nói chán nản của Long mà cũng không buồn ăn uống gì nữa. Cái
khuôn mặt trái xoan tuyệt phẩm ấy, cặp mắt viền lông mi rất dài mà lòng trắng
thì xanh như da trời, mà lòng đen như gỗ mun ấy, cái miệng xinh đẹp, rất tươi,
mà môi trên như cánh vòng cung, mà môi dưới thuôn thuôn như một nét vẽ ấy, khiến
cho Long ngạc nhiên như mới ngắm nghía Tuyết lần đầu! Chàng rất lạ lùng rằng
sao bây giờ mới ngắm kỹ Tuyết, mãi đến bây giờ sao cái đẹp của Tuyết mới hiện
ra một cách hoàn toàn, đầy đủ, choáng lộn như thế. Với mớ tóc trần vấn một cách
khéo léo, với bộ y phục tân thời mà những đường khâu, đường viền tỏ ra vẻ kín
đáo, sự sang trọng, với cái thân thể mảnh dẻ một cách khỏe mạnh.
Tuyết hiện ra trước mặt chàng một trang tuyệt thế giai
nhân... Người yêu của một trang tuyệt thế giai nhân! Sự nhũn nhặn của Long bắt
chàng bình sinh không dám mơ màng đến thế. Ngày nay sự ấy đã thực hiện, cái cuộc
tình ái ấy có thể khiến cho bao nhiêu thiếu niên khác phải thèm rỏ rãi, vậy mà
Long cũng không do đó mà sung sướng được, là nghĩa thế nào? Long thở dài một
cái, chợt nghĩ đến một tư tưởng của Anatole France.(1) Hạnh phúc là một điều gì
đó mà chúng ta không biết được.
Rồi Long ái ngại ngồi xuống cạnh Tuyết, khẽ để một cái hôn
trên trán Tuyết mà rằng:
- Tôi yêu Tuyết lắm, lắm lắm! Tuyết ơi! Tuyết biết rõ sao được
cái lòng tôi yêu Tuyết nó đến bực nào?
Hoài nghi, Tuyết đáp:
- Không biết tôi có nên tin lời nói ấy không?
- Ấy tôi cứ nói thế còn tin hay không cái đó tùy...
Long ngoài miệng tuy cứng cỏi như vậy song trong lòng cũng lấy
làm hổ thẹn, vì những lời ân ái ấy chẳng phải tự đáy lòng thốt ra. Long đã nói
vì muốn lấy lòng Tuyết, vì muốn Tuyết khỏi buồn, vì muốn bữa tiệc cứ vui vẻ.
Chàng cho mình là khốn nạn, khi có Mịch thì lại màng tưởng đến Tuyết, mà khi đã
mất Mịch và đã được Tuyết rồi, thì lại thờ ơ... Long lo lắng phân vân nghĩ
không khéo dễ mà chàng chính là người tạo hóa sinh ra đời để mà suốt đời bạc
tình, để mà đóng một vai hề ngốc dại, lúc lớp màn đầu mở lên thì thả mồi bắt
bóng và lớp màn cuối cùng hạ xuống thì không tìm được hạnh phúc, hay là không
tìm được cái nghĩa lý cho cuộc sống còn nữa. Nghĩ như vậy, sợ mình đã trái,
Long bất giác lại muốn yêu Tuyết vô cùng. Nhưng ngay lúc ấy, chẳng may Tuyết lại
đi kể lể:
- Thôi, chẳng qua là tôi yêu anh quá, nên anh coi thường tôi,
rẻ rúng tôi. Anh nên biết rằng nếu tôi muốn sung sướng vì một người chồng thì
không phải tôi không lấy được chồng, hoặc là nếu tôi muốn sung sướng vì tình
thì tôi cũng chẳng thiếu người yêu. Cứ như gia thế nhà tôi sao tôi không lấy được
người chồng làm đốc tờ, đỗ cử nhân, làm giáo sư, làm thày kiện? Thế mà tôi đi
tôi yêu anh! Tại làm sao? Vì anh bảo là anh yêu tôi! Thế rồi tôi không giữ gìn
gì nữa! Nhất là anh lại bảo anh cả tôi, cũng muốn cho anh làm anh rể anh ấy!
Bây giờ, anh nói vài câu tôi cũng đã rõ cái bụng dạ của anh đối với tôi ra sao
rồi! Anh kêu chưa yêu ai cả, là nói dối. Chắc anh đã thất vọng vì tình rồi, thì
mới nói như thế. Thì ra tôi bị mắc lừa!
Long tuy cũng lộn ruột về sự suy bì gia thế, cũng cố nén giận,
vỗ vào lưng Tuyết mấy cái rồi nói:
- Tuyết ơi, việc đời và lòng người không giản dị như em đoán
đâu, Tuyết ạ. Nhưng thôi, nghĩ ngợi làm gì cho phiền! Ta nên nhắm mắt lại mà
yêu nhau.
- Tôi hiểu rồi, vì chính tôi, tôi đi tìm anh nhiều quá, cho
nên anh nghi tôi, có phải thế không?
- Có lẽ...
- Em xin thú thật với anh rằng tuy em tự do thật đấy, nhưng
em chưa yêu ai bao giờ cả. Anh là người thứ nhất...
Long cười nhạt: - Đây này, nếu việc trăm năm của chúng ta mà
không thành, mai sau em có người yêu nào khác, thì em lại có thể nói với người
ta như bây giờ em nói với anh! Người ấy sẽ cũng vẫn còn là người yêu thứ nhất của
em! Không hơn không kém...
- Trừ khi đã trải đời lắm rồi, thì mới đa nghi như anh. - Có
lẽ...
- Sự thật thế nào tôi nói thế, còn tin hay không là quyền
anh.
- Tôi phải tin chứ! Nếu tôi không tin mình thì tôi khổ lắm. Sự
hoài nghi chỉ làm cho ta khốn khổ chứ có đẻ ra hạnh phúc bao giờ! Tôi yêu Tuyết
lắm, tôi tin Tuyết lắm. Thế mình bằng lòng chưa?
- Thôi đi, ăn đi!
Long đứng lên, đi đi lại lại, cầm tăm xỉa răng, và đứng dừng
trước gương. Chàng ngắm bộ âu phục chải chuốt của mình mà thấy mình khôi hài vô
cùng. Cả một đoạn đời niên thiếu của Long lại hiện ra trong trí nhớ: nhà hội Bảo
anh, những cuộc đi chơi hàng lũ, một ông bố hờ, cô Mịch, ông nghị Hách, những
cuộc ghen giận, những nỗi đau thương...
Bốn tháng qua...
Bây giờ đã là mùa hè, mùa hè với hoa xoan tây đỏ ửng, với tiếng
tu hú kêu gay gắt, với giọng ve sầu dịp dàng nhặt khoan... Thị Mịch làm vợ nghị
Hách, Tuyết làm hôn thê của chàng!
Sự đời y như một giấc mộng.
Đã thế thì, âu là chàng sẽ liều nhắm mắt đưa chân.. Chàng sẽ
can đảm chịu những tai họa, vui vẻ, hưởng những cuộc hảo biến, không nghĩ ngợi
gì nữa mặc cho con Tạo xoay vần...
Long quay về hôn hít ôm ấp Tuyết.
- Chiều nay Tuyết về Cảng?
- Chiều hay sáng mai cũng được.
- Thôi, về ngay chiều nay đi.
- Sao thế?
- Tôi chỉ sợ quyến luyến nhau quá, anh cả biết thì tôi mang
tiếng.
- Mình nói phải đấy!
- Anh ấy biết thì em sẽ bị mắng mà tôi sẽ bị khinh.
- Thế nay mai, thế nào mình cũng xuống nhá!
- Ừ.
- Mình chậm xuống, thì ắt tôi phải đâm bổ lên tìm mình.
- Sao thế?
- Nhớ lắm...
Ngay lúc ấy có ba tiếng gõ vào cửa quầy. Long cũng giật mình,
vội bước ra. Người gõ cửa là một ông già độ ngoài năm chục tuổi, vận âu phục,
quần áo bằng vải vàng, đầu đội mũ dạ, chân đi giầy đen, trông có vẻ giang hồ
khí phách, đáng trọng và cũng đáng đề phòng lắm. Râu ria không dài, không ngắn,
hãy còn đen. Hai con mắt rất tinh tường, lưỡng quyền cao, địa các nở, một đường
gân xanh chạy dọc qua trán, tinh thần hãy còn quắc thước, miệng cười tươi.
Long hỏi:
- Cụ muốn gì?
Ông già thủng thẳng đáp:
- Tôi muốn gặp cậu.
- Xin lỗi cụ, tôi không được biết cụ...
- Nhưng mà tôi biết cậu. Cậu là cậu Long, có phải không?
- Bẩm vâng, rước cụ vào trong này.
Long kéo ghế cho ông lão ngồi rồi đưa mắt cho Tuyết. Tuyết đứng
lên chào lễ phép lắm. Ông già lại hỏi.
- Cô là em gái ông Tú Anh có phải không?
Long và Tuyết nhìn nhau, rất sợ hãi. Hầu sáng lúc ấy lễ mễ
mang mấy bát thức ăn vào, Long mời ông già:
- Bẩm xin cụ góp với cháu vài chén rượu.
- Cảm ơn cậu, tôi không ăn... Tôi cần nói với cậu ba câu
thôi, rồi tôi đi.
- Bẩm cụ, cháu trót quên mất, vậy cụ quí tính là gì?
- Cậu không thể biết tôi là ai được, vì lần này là lần đầu cậu
gặp tôi...
Long ngạc nhiên hết sức, không biết ông già này là người thế
nào, định giở những trò gì, hay lại là quân lừa đảo gì chăng... Chàng chưa kịp
hoài nghi, ông già lại nói:
- Tôi biết bố mẹ cậu hiện giờ còn sống hay đã chết, cậu là
con cái nhà ai nữa.
- Dạ...
- Trong ba tháng nữa thì cậu sẽ gặp mặt bố mẹ của cậu.
- Thật vậy? Giời ơi, thế ra bố mẹ tôi còn sống!
- Phải, còn sống, mà lại giầu có nữa!
- Giời ơi, thế thì sung sướng biết bao! Tuyết ơi!
- Tuy vậy, chưa chắc cậu đã sung sướng.
- Thưa cụ thế cụ có làm thế nào cho tôi được gặp ngay không?
Cụ sẽ làm cho bố mẹ tôi được gặp tôi?
- Phải, mà tôi sẽ giảng cho cậu những điều bí mật của cuộc đời
cậu nữa. Nhưng mà cậu phải hứa với tôi hai điều...
- Xin cụ cứ dạy. - Một là cậu sẽ trái lời cậu Tú Anh. Cậu Tú
Anh có nhờ cậu làm một việc gì thì cậu đã rõ, vậy cậu phải chối từ đi. Đó là một.
Còn điều nữa là: từ nay trở đi, dù gặp tôi ở đâu, cậu cũng không được hỏi gì
tôi cả, cậu không được nói gì đến việc tôi làm cả, mãi cho đến lúc bố mẹ cậu gặp
mặt cậu. Thôi, tôi đi đây. Chào cậu, chào cô.
Nói xong ông cụ ra. Long chạy theo:
- Cụ ơi cụ!
Ông già nghiêm mặt giơ ngón tay trỏ trước mũi Long mà rằng:
- Ngay từ bây giờ không được nói gì cả! Không được hỏi gì cả!
Chương 21
Sáng hôm ấy, một ngày hè mây trời quang đãng, trong sân Tiểu
Vạn trường thành, có tám chiếc xe hơi... Mỗi năm hai kỳ, ấp phải đón tiếp sự tấp
nập, là vì mỗi năm hai kỳ, việc doanh thương của ông dân biểu Tạ Đình Hách được
đem ra tính sổ.
Trong phòng khách đợi, lúc ấy có ngót hai chục người chờ được
tiếp, bọn người mà bề ngoài đủ tỏ ra vẻ doanh nghiệp, vẻ sắc sảo, vẻ gian hùng,
ở những cái mũ cát két, ở những đôi dày ống, ở những cái kính cặp, ở những cái
răng vàng, ở cái máy chữ sách được, ở cái cặp da to kếch sù, ở cái ống đựng nước
giữ được nóng lạnh trong 24 giờ,.v.v... Bọn này thuộc vào lớp người mà do ai,
xã hội được hoạt động, trông vào đâu, cũng thấy danh lợi, sống lên trên những
cuộc tai họa hoặc những sự may mắn của người đời. Trước mắt bậc triết nhân hiền
giả, họ là bọn sài lang, mà đối với gia đình của họ, thì họ là những bậc can
trường lỗi lạc.
Trong bọn ấy, có anh coi đời như canh bạc lớn, làm việc thiện
là để quảng cáo cho mình, làm điều ác mà bắt mọi người phải nhớ ơn, đọc đủ cả
các báo chí mà không biết gì về văn chương mỹ thuật, tủ sách đầy những tập kỷ yếu
các hội ái hữu, nhưng kỳ chung thật không có ai là bạn trên đời, cầm đến tờ nhật
trình chỉ xem tin thương trường, tin gọi thầu, các đạo nghị định, tin xuất cảng,
nhập cảng, đã từng chủ tọa những cuộc bàn giải văn chương, mà chưa hề đọc hết một
cuốn tiểu thuyết. Lại có anh vừa cổ động kịch liệt cho hội phật giáo, lại vừa
xây hàng dãy nhà săm, thấy tin ở đâu bị lụt là lập tức hô hào mở cuộc lạc
quyên, để đi cân gạo, thấy tin ông tổng trưởng thuộc địa qua chơi, là viết ngay
một bài báo than phiền về nạn hiếu danh và lên kể công doanh thương với quan đầu
tỉnh, coi đời là một sự vô nghĩa lý, nhưng đày tớ đánh vỡ một cái bát cũng bắt
đền năm xu, giữa đám đông người thì cả mồm chửi những người tàn ác buôn đồng loại,
nhưng ngồi một mình thì lại ca tụng mình đã làm được một việc tàn ác một cách
có mỹ thuật. Có anh nữa, đã bị cáo trước vành móng ngựa hàng chục lần, mà vẫn
chưa biết ông biện lý ngồi ở chỗ nào, vào đâu cũng khoe mình giỏi pháp luật,
khai ở sở liêm phóng là vô nghệ nghiệp nhưng, thực ra, không còn nghề gì là
không làm, ban đêm đi tiêm thuốc phiện cho người quý quốc, ban ngày đi đòi tiền
hộ các sở nặc nô, làm chủ đã ba bốn tiệm khiêu vũ, mà đánh con gái đến hộc máu
về tội ăn mặc tân thời, cho vay lãi mười lăm phân thì xót xa, vì đã quá hy sinh
cho đời, mà đem vi thành quan trên bạc nghìn, vì đã được cái cửu phẩm còn sợ
mình là bội bạc. Lại có anh vừa là chủ hiệu xe đám ma, vừa là chủ được phòng,
bán tem cho hội bài trừ bệnh lao, lại bán cả thuốc lào mốc, chiếm kỷ lục về sự
vô học nhưng lại gọi ông Quỳnh, ông Vĩnh là thằng, ấy vậy mà khéo làm tiền, thì
lại cứ hơn những kẻ có bằng thương mại chuyên môn... Nói tóm lại một câu, bọn
người này là những mẫu hàng đặc biệt của công giới và thương giới.
Bọn ấy đều hoặc là bạn hàng, hoặc là vây cánh hoặc là tay sai
của Nghị Hách cả. Người thì lên xin thầu một dãy nhà, kẻ mong điều đình xong một
tờ giao kèo, anh thì muốn bán lại một cái mỏ, anh thì đến yêu cầu một sở đại lý
độc quyền, anh thì đến bán một ít cổ phần của một công ty đương tổ chức lại, hoặc
sắp tan...
Trong phòng giấy, nghiệp chủ Tạ Đình Hách, bảo người thư ký
riêng:
- Anh ta xin lấy một lượt danh thiếp đã.
Rồi lại hỏi người loong toong:
- Chưa thấy ai ở Quảng Yên về à?
Người loong toong đáp.
- Bẩm chỉ mới có hai ông ở Hải Phòng và ở Hà Nội về trình sổ
sách.
- Còn thì toàn là lạ mặt cả? - Bẩm chỉ có một người có tuổi
là lạ mặt, còn thì phần đông là đều đã có lên đây một vài lần.
- Một người có tuổi? - Vâng.
- Ai thế nhỉ?
- Bẩm, con không biết, vì chưa lên đây lần nào cả? - Đi chiếc
xe mác gì?
- Bẩm, không có xe hơi.
- Quần áo thế nào? - Quần áo tây vải vàng. - Muốn hỏi gì?
- Bẩm muốn hỏi quan lớn.
Người thư ký mang vào một cái khay đầy những danh thiếp và
nói:
- Bẩm lại vừa có một ông Tây vừa lên bằng xe hơi, kêu muốn được
tiếp trước cả.
Nghị Hách mân mê cái danh thiếp trong tay, nghĩ một lúc rồi bảo
người loong toong:
- Anh ta thưa với các ông rằng đường sá xa xôi, ông chủ tôi
có lưu các ông lại xơi bữa cơm trưa, xin các ông thuận cho.
Rồi quay lại người thư ký:
- Trong khi ấy, thì anh ra mời người Tây này vào trước.
Mấy phút sau, người Tây được dẫn vào. Người này, đã cao tuổi,
nói tiếng Việt Nam rất thông, xem chừng đã ở thuộc địa này ít ra vài ba mươi
năm.
- Tôi muốn ông nghị nói cho tôi hiểu rằng khóa này ông có ra
tranh cử nữa không...
Nghị Hách nghĩ mãi mới đáp.
- Điều ấy tôi cũng chưa quyết định.
- Nếu ngài ra tranh cử, thì nên quyết định ngay đi vì chỉ còn
có hai tháng.
- Vâng, nhưng vì công việc doanh nghiệp của tôi dạo này bận rộn
lắm, có lẽ khóa này tôi thôi.
Người Tây trợn tròn hai mắt:
- Ngài thôi? Ngài nói?
- Phải, có lẽ tôi thôi.
- Ngài thôi vì công việc ngài đương tiến bộ?
- Vâng.
Người Tây cười nhạt một hồi rồi khẽ nói:
- Ngài nên nói vì ngài đầy túi rồi thì hơn.
Nghị Hách đứng lên nghiêm trang mà rằng:
- Tôi xin thề với ông rằng, tuy chính phủ có cho tôi hai trăm
mẫu đồn điền thật, nhưng tôi mất theo vào cái ấy có đến sáu vạn bạc, mà vẫn
chưa thu về một xu nào cả!
- Không phải vì thế mà ngài không thay mặt dân nữa.
- Vả lại, tôi cũng không giúp ích được dân điều gì.
Người Tây lại cười gằn một hồi lâu, rồi ghé vào tai nghị
Hách:
- Khi mình làm nghị viên thì người ta hãy nghĩ đến cách giúp
ích cho mình trước đã.
Nghị Hách cũng cười trừ và chia tay ra bắt tay người Tây, sau
khi nháy mắt mấy cái một cách ranh mãnh. Rồi tiếp:
- Tôi hỏi thật ông rằng: nếu tôi ra tranh cử nữa, thì có lợi
hại gì cho ông không?
- Tôi cũng xin nói thật ngay rằng nếu ông tranh cử nữa, thì cả
đôi ta sẽ cùng có lợi.
- Xin ông cắt nghĩa kỹ...
- Trước hết, tôi hãy nói cho ông biết rằng cách đây vài năm,
tôi còn là một ông quan cai trị...
- Vâng.
- Tôi có cả Bắc đẩu bội tinh (người ấy nói xong trỏ lên ve
áo).
- Vâng, tôi đã rõ lắm...
- Thế nghĩa là tôi quen thuộc nhiều người quyền thế lắm.
Trong khi tôi còn làm quan cai trị thì tôi đã để ý đến việc doanh thương rồi.
Hiện giờ, tôi làm đại biểu cho một hội lý tài mới lập bên Pháp, vốn liếng có
hai mươi triệu phật-lăng, được hội cử đi tìm một việc gì có lợi. Tôi đã tìm ra
được một cái độc quyền, là cái độc quyền nước mắm. Muốn đạt tới mục đích thì phải
có vây cánh cho nên tôi muốn tìm ông.
- Vâng.
- Ông thử nghĩ xem? Một cái độc quyền nước mắm ở Bắc Kỳ và ở
Trung Kỳ thì phải là một việc lợi lắm chứ?
- Phải, phải.
Vậy thì năm trăm cổ phần để dành cho ông đó nếu ông giúp tôi
được việc.
- Tôi sẽ phải hành động thế nào?
- Ông sẽ ra tranh cử dân biểu, ông sẽ phải trúng cử cả ghế
nghị trưởng nữa, để mà lên Đại hội nghị kinh tế.
Có tiếng gõ cửa, nghị Hách quát:
- Không vào được!
Rồi ngồi thừ ra ngẫm nghĩ. Hồi lâu mới nói:
- Chỉ sợ không đủ tài hùng biện... - Đã có người khác hùng biện.
- Thế thì tôi phải làm gì? - Ông sẽ bỏ phiếu tín nhiệm một ủy
ban vệ sinh cử đi xét nước mắm. Và ông sẽ ngồi im không nói gì cả, không cãi gì
cả, khi nào có một hội viên Pháp đem vấn đề nước mắm ra chất vấn chính phủ tại
hội nghị.
- Chỉ có thế?
- Phải, mà có thế cũng là nhiều lắm.
- Tôi hỏi thẳng thế này nhé: thế trong cuộc tranh cử ghế nghị
trưởng thì liệu hội ông có thể giúp đỡ gì được tôi không?
- Chúng tôi sẽ giúp đỡ ông về phương diện tinh thần.
- Còn tiền tranh cử thì tôi phải bỏ ra?
- Phải, ta nên giao hẹn nhau đích xác như thế.
Nghị Hách ngồi thừ ra một lúc lâu mới tiếp:
- Như vậy thì khó khăn lắm,
Nhưng người Tây đứng lên, nghiêm trang mà rằng:
- Việc đời không bao giờ dễ cả. Tôi xin nói thẳng ngay rằng mỗi
một cổ phần giá là hai nghìn phật lăng. Vậy thì năm trăm cổ phần về tay ông là
bao nhiêu! Mà cái số lãi đồng miên sẽ là bao nhiêu? Ông nghĩ kỹ mà xem! Lãi nước
mắm, cả Trung Kỳ lẫn Bắc Kỳ!
- Ông nói có lý lắm.
Người Tây vỗ vai nghị Hách, nói khẽ:
- Vả lại, cái ghế nghị trưởng cũng đắt đến cái mề đay Bắc đẩu...
- Tôi chỉ sợ không tranh nổi cái ghế nghị trưởng, sẽ có năm bảy
tờ báo chửi tôi là vô học...
Người Tây có vẻ cáu kỉnh mà rằng:
- Những đứa nào chê ông là vô học thì ông sẽ lấy giấy bạc dán
vào mồm nó, cho nó câm đi! Còn báo chí thì sợ gì? Ông chỉ việc ký vài cái ngân
phiếu cho mấy thằng chủ báo! Tôi sẽ đi điều đình với ông! Ngoài ra, tôi cũng có
mấy cơ quan ngôn luận bằng Pháp văn, sẵn sàng chửi cái anh nghị trưởng cũ là phản
quốc, là tư bản, là bán đồng loại, rồi kia mà!
- Những cơ quan ấy sẽ ca tụng tôi?
Người Tây cả cười:
- Ông thật thà quá! Những cơ quan của tôi mua được vào dịp
tranh cử sẽ không ca tụng ông, mà lại còn công kích ông kịch liệt! Tôi sẽ thảo
cho ông một chương trình cải cách vĩ đại về xã hội. Ông sẽ đòi quyền cho hạng
lao động, cho nông dân... Những tờ báo kia sẽ chửi ông là cách mệnh... là cộng
sản... Rồi thì mấy tờ nhật báo đăng tin chó chết, sẽ trích đăng những bài mà mấy
tờ báo Tây chửi ông! Với cái lối hành động như thế thì chức nghị trưởng, ông lấy
dễ như bỡn vậy.
- Nếu đúng được thế thì hay lắm.
- Vậy ông có bằng lòng ra tranh cử nữa không?
- Đã thế, thì tôi phải ra nữa.
- Với cái chức nghị trưởng, ông còn làm được nhiều việc lợi
khác.
- Có lẽ lắm.
- Vậy hứa đi. Ta nên lấy danh dự mà thề với nhau đi...
- Tôi xin thề.
- Thôi, thế tôi tạm biệt ông. Ta sẽ gặp nhau luôn. Tôi phải về
hội quán Hà Nội, chiêu tập một kỳ hội đồng bất thường để bàn cách làm việc.
- Vâng.
- Ông cũng nên nghĩ ngay mọi cách làm việc. Kính chào ông.
- Chào ông!
Người Tây ra, nghị Hách cũng ra theo, tiễn chân đến cửa ấp.
Chiếc xe hơi chạy rồi nghị Hách quay lại phòng khách đợi, tươi cười tay bắt mặt
mừng, chào hỏi cả một lượt. Khi bắt tay đến một ông già là người được hỏi đến
sau cùng, thì nghị Hách có vẻ ngạc nhiên đứng ngẩn người ra ngẫm nghĩ rất lâu.
- Quái lạ! Trông ông này giống ai mà tôi không nhớ nữa!
Ông già cười ha hả nói:
- Vâng, đã hai mươi nhăm năm nay rồi!
- Ông là ai nhỉ?
- Một người bạn cũ của quan lớn... đã quên đi mất.
Nghe đến đấy, nghị Hách chợt giật mình, cũng muốn cáu kỉnh lắm,
vội phải lén môi dưới vào hai hàm răng mà cắn chặt để nén sự bực tức. Một người
bạn cũ mà đến với mình, khi mình đã giàu có, thì không khí nào lại là một điềm
tốt, nên nghị Hách hỏi một cách cũng hơi xẵng:
- Thế thì ông là ai?
- Bẩm tôi là bạn với ngài, từ lúc ngài còn hàn vi... Nói ra vị
tất ngài đã nhớ được, mà nói thì phải dài dòng lắm.
Thấy ông “bạn cũ” thản nhiên như thế, nghị Hách cũng vội dịu
giọng:
- Tôi vẫn chưa nhớ ra được bác là ai đấy!
- Vâng, hơn hai mươi năm nay rồi còn gì!
- Thế bác lên thăm tôi hay có công việc gì không?
- Vừa thăm, và vừa có việc nữa.
- Bác có vội không?
- Tôi không vội chút nào.
- Bác có thể ở đây lâu được?
- Có thể ở vài ba tháng cũng được.
Nghị Hách tuy ngạc nhiên, nhưng cũng gật gù:
- Thế thì may lắm.
- Vâng.
- Bác cho phép tôi hãy tiếp những ông này đã, vì phần nhiều
là có việc vội cả.
- Được ạ.
- Thế phiền bác đợi tôi ít lâu nhé?
- Trong lúc ấy, tôi muốn bác cho một người nhà đưa tôi đi xem
cái sinh phần. Tôi lên đây đã hai hôm. Cả buổi chiều hôm qua, tôi đã lên ngọn đồi
bên kia ngắm nghía và xem mạch đất... Tôi thấy rằng cái ông thày địa lý nào, đã
tìm cho bác chỗ đất ấy, thì hoặc là muốn phản bác, hoặc là không hiểu một tý gì
về địa lý cả.
Nghị Hách bảo người loong toong:
- Anh tìm thằng Xuân, bảo nó đưa cụ đi xem sinh phần.
Rồi đứng nhìn người bạn cũ để cố nhớ ra xem xưa kia đã quen
thuộc ở đâu... Cái mắt quắc thước hai con mắt tinh thần vô cùng, lưỡng quyền
cao, địa các nở, một đường gân xanh to như cái đũa chạy dọc qua trán, lại thêm
ba chòm râu... Một bộ quần áo vải vàng, dáng người thật khó đoán lạ, khó nhớ lạ!
Nghị Hách thở dài nói:
- Tôi vẫn chưa nhận ra được bác là ai đấy!
Ông già mỉm cười:
- Tôi giúp việc cho bác xong, rồi mới nói lại chuyện cũ, thì
cũng không muộn.
Thằng Xuân chạy đến thì nghị Hách bảo:
- Mày dẫn cụ đi xem vườn.
Rồi quay lại tiếp những người khác.
Chương 22
Mịch oán giận mẹ, căm tức bố, khinh bỉ anh, và nhớ Long.
Trong khi khâu vá, vì không để hết được trí vào việc nên Mịch
đã để lỗi kim, lỗi chỉ, nhầm lẫn đủ thứ đến nỗi có hai cái yếm rãi cũng phải
khâu mất bốn ngày. Bây giờ đến cái áo thì Mịch lại viền lộn và cạp trái!...
Bực mình, ném cái vạch xuống sàn gác, vứt cả thúng khâu đấy,
Mịch đứng lên, thừ người ra, Mịch ra bao lan nhìn xuống phố cho khuây khỏa.
Sáng hôm ấy, một buổi sáng chủ nhật lại mát trời. Phố xá đầy
người và xe tấp nập... Những cặp vợ chồng, những cặp giai gái diện những bộ áo
lòe loẹt nhan nhản trong xe điện, trên xe cao su, trên vỉa hè, người nào cũng
có bộ mặt hớn hở công nhận rằng đời là tốt đẹp, là đáng sống, là đầy những ánh
sáng và hi vọng... Trông người, chạnh nghĩ đến niềm riêng. Mịch xót xa thấy rằng
đối với mình, cuộc đời đến như thế là hết, thật là hết. Không bao giờ Mịch còn
hi vọng có được lấy một ngày vui. Long, thời gian sắp sửa lấy Long, những câu
ân ái buổi xưa, những điều mơ màng bình dị với Long, những sự ấy, ngày nay chỉ
còn là những vết tích đã phôi pha của một giấc ác mộng... Tuy vẫn không quên là
mình chưa hai mươi tuổi. Mịch cũng thấy như mình đã già. Những sự yêu đương
nhau của hạng vợ chồng trẻ là không khi nào Mịch còn được hưởng vì rằng chồng của
Mịch là một ông chồng già, vậy mà cũng chưa hề có quay lại lần thứ nhì, kể từ
sau tối tân hôn. Mịch ngạc nhiên ở chỗ chính mình, mình cũng có thể vô tình đến
nỗi coi chồng như chết mất rồi: coi mình như một quả phụ được hưởng cơ nghiệp của
chồng để lại, và coi đứa con trong bụng là một đứa trẻ xấu số, đến nỗi mồ côi bố
ngay từ lúc chỉ mới là một cái bào thai! Lắm khi đã bồn chồn tự hỏi: Ta cứ sống
mãi như thế này à? Lắm khi phải cố nhớ được Long, thương được Long, và căm giận
được lại những phút đau thương ân ái đã sống chung với Long để mà có thể nhớ
Long, rồi khóc một mình, ướt lã chã cả gối. Những khi thấy Long, là không thể
yêu được nữa - dù là cái yêu âm thầm, dù là mối tình u ẩn tuyệt vọng trong đáy
lòng - thì Mịch lại mơ mộng đến những người lạ mặt, những người qua đường, những
người một bữa chủ nhật, hay một buổi mát trời, đã dun dủi cho lai vãng qua nhà
Mịch để ngước cặp mắt lên bao lan nhìn Mịch trong hai phút và đã làm cho Mịch
cũng phải nhìn xuống, quay đi, và nhìn trộm theo... Những hình ảnh thoáng qua ấy,
có đủ sức huyễn hoặc kỳ khôi, làm cho Mịch phải tưởng đến, ôn lại, cố lục tìm
trong trí nhớ, để chạy theo một cái ảo tưởng mà luân lý ngăn cấm, để ngoại tình
bằng tinh thần, làm một việc khoái lạc, mà người ngoài không biết được.
Cái phương châm rất thông thường ấy, đã đến với Mịch cũng như
đã đến với trăm nghìn người khác, những người cam bề lẽ mọn ngoài mặt, mà đầy
những tư tưởng thương thân tủi phận trong đáy lòng, những người khát yêu. Mịch
đã cho mình là phải, là cao thượng, là làm những việc chính đáng, những khi có
tư tưởng bất chính. Cho nên một buổi chiều, chỉ cần có một người khách qua đường
nhìn thấy Mịch, là đủ cho đêm ấy, Mịch được cái sung sướng, bài trí trong óc một
cảnh hạnh phúc gia đình với khách qua đường ấy, một cảnh trong đó có đủ: những
sự ôm ẵm, mơn trớn... nâng niu... Từ khi lấy chồng đến nay, đã ba bốn tháng,
thì là đã luôn trong ba bốn tháng, Mịch đã ngoại tình bằng tinh thần, đã lừa chồng
với hàng trăm nghìn người, những người qua đường. Sự phản phúc trong ấy thật đã
là hoàn toàn, thật đã là đầy đủ, đủ cho một sự tình cờ nhỏ mọn cũng có thể gây
ra một cuộc lừa dối rành rọt bằng xác thịt nữa. Mịch sẽ lừa dối chồng cả phần hồn
lẫn phần xác... Và như vậy thì là một sự rửa thù oanh liệt cho Mịch và cho
Long!
Những cảm giác đê mê ở cuộc hãm hiếp, còn để sót lại trong
trí Mịch những phút hồi ức băn khoăn của một dục vọng chưa được thỏa mãn. Mịch
đã phải tưởng tượng ra những cảnh cám dục ghê gớm, hưởng với mọi kẻ qua đường.
Trong những sự mơ màng càn rỡ ấy, mỗi một cái mặt đã nhìn thấy là một cái sức
ám ảnh riêng, là một thế giới riêng, có những sự khiêu động không bao giờ giống
nhau cả. Và lòng khao khát đến một điều thỏa mãn bằng cách tưởng tượng ấy,
không những chẳng làm cho Mịch mãn nguyện, nhưng trái lại, còn khiến Mịch càng
như điên cuồng.
Sau những phút ghê tởm đáng kinh hoàng ấy, sau khi ma quỉ đã
phải chạy xa, để cho thiên thần đến thắng trận trong lòng người như thế, Mịch
không phải là không hối hận. Song lẽ đó không phải là Mịch hối hận với chồng! Mịch
chỉ hối hận với Long mà thôi. Dù sao thì, ngoài Long ra, trên đời chưa có ai
yêu Mịch cả. Mịch tự kết án là có tội với Long, chỉ với Long.
Ấy thế là hình ảnh Long lại bị lôi kéo vào dục vọng của Mịch.
Hình ảnh những kẻ qua đường có vẻ phải lòng Mịch, những khi ấy, phai nhạt hẳn
đi, Mịch đã thường ôm gối chăn, nghĩ đến Long, bàng hoàng soi bói trên thớ vải
trắng muốt của gối chăn, ngõ hầu nhìn thấy cái miệng cười gằn, cặp lông mày hay
nhíu lại của Long, hoặc là đã lặng im, nhịn thở, để tai nghe qua những cái tích
tắc của chiếc đồng hồ, ước mong được nghe lại một lời buông xõng, một câu gắt gỏng,
một cái thở dài chán chường của Long, của người đã khinh Mịch, đã rẻ rúng Mịch,
đã hứa là tha thứ cho Mịch mà đã nuốt phăng lời hứa, đã phụ Mịch để lấy một thiếu
nữ khác, đẹp hơn Mịch, có bố giàu hơn bố mẹ Mịch, nghĩa là một người đã làm khổ
Mịch nhưng mà Mịch vẫn cứ vì người ấy mà xót xa, vì Mịch không thể nào quên được
người ấy, không thể nào không yêu được người ấy!
Những khi đêm khuya chợt thức giấc, nhìn chung quanh mình chỉ
thấy sự hiu quạnh và ánh sáng lãnh đạm của một bóng điện trong dua xanh. Mịch,
trong thâm tâm, đã cảm thấy đủ hết mọi nỗi chán chường của người bị cảnh ngộ ép
duyên, của một người bị để lạnh lùng, và đã ước ao một sự phi thường gì dun dủi
cho Long có can đảm đương lúc đêm hôm, cũng trèo tường vượt rào, mà đến gõ cửa
phòng của Mịch, rồi chạy vào ôm choàng lấy Mịch áp mặt vào má Mịch, để rỏ xuống
vài giọt lệ đau khổ thương xót rồi hai người sẽ ôm nhau mà khóc lướt mướt, mà
cùng hối hận, mà cùng ganh nhau để xin tha thứ cho nhau, tranh nhau thỏ thẻ những
lời ái ân nũng nịu, rồi vào cuộc chung chăn chung gối, tha hồ mà nõn nường âu yếm
cho đến mê đến mệt, đến mất lý trí đến bay linh hồn, đến chán chê, đến lăn lóc,
cho đến trơ ra như gỗ, như đá... Rồi thì chết! Chết cả đôi, ôm nhau mà chết,
đem mối hận nghìn thu xuống suối vàng cho nó tiêu tan đi, sẽ yêu nhau dưới âm
cung, nhưng lúc chết thì phải trên một giường... để cho nghị Hách trông thấy cảnh
tượng rùng rợn ấy, để cho lão biết rõ ràng không phải hễ cứ lắm bạc, nhiều tiền
là mua được cả linh hồn của người ta!
Mịch đã dám có những ý nghĩ bất thường, gan góc đến như thế.
Những lúc ấy, Mịch muốn có Long để khoe khoang rằng mình đã nghĩ thế, để tỏ dạ
trung thành với người yêu. Vì không làm sao được, Mịch đã phải kêu gọi đến quỷ
thần hai vai chứng giám! Rồi thì, sau đấy, Mịch cũng phải ngạc nhiên rằng mình
thay đổi chóng quá, rằng mình không còn một tí gì là cô thôn nữ thuở trước nữa,
vì mảnh hồn ngây thơ trong sạch đã bị cảnh ngộ giết chết mất rồi! Bây giờ, Mịch
đã thuộc vào hạng người mà nền luân lý mù lòa, mà những dư luận bất cập và ấu
trĩ sẽ kết án gay gắt... Đời người đầy dẫy những sự bất bình, những nỗi đau
thương, song le không có một thứ ánh sáng nào soi thấu được đến những điều uẩn
khúc ấy, thì Mịch cũng bất chấp lời khen tiếng che của đời... Mịch có thể tự liệt
vào phái người tha thiết bênh vực những đàn bà lừa chồng, những cặp gian phu
dâm phụ, vì những người ấy mà có chính là vì trong đời có những người khổ như Mịch
và Long, chỉ có thế thôi!
Mịch không nhớ tiếc tuổi ngây thơ xưa kia nữa. Do những ý
nghĩ ấy, Mịch cũng không dám giận mẹ nữa, không căm tức bố mẹ, không khinh bỉ
anh ruột nữa. Người ta thay đổi là vì hoàn cảnh. Nếu ông đồ và bà đồ có đâm ra
đê tiện, mất lòng tự trọng mà khúm núm trước Tú Anh, mà chịu ơn của Tú Anh, khi
không đáng chịu ơn, mà đâm ra mặt bòn rút, thì âu cũng là sự thường. Nếu anh Mịch
mà cứ hết nay đến mai đến xin tiền Mịch để cờ bạc thì âu cũng là sự thường.
Tư tưởng tha thứ ấy lại đem đến sự thư thái cho lòng Mịch. Vô
cớ, Mịch thấy như có điều gì vui vui, Mịch quay vào thư thản khâu nốt cái áo. Rồi
Mịch sẽ có con. Rồi Mịch có thể hy vọng được ở đứa con nó làm khuây khỏa những
nỗi đau khổ đi. Có khi Mịch sẽ giữ được trinh tiết với cái thằng chồng khốn nạn
ấy cũng chưa biết chừng! Sự đời, ai mà biết trước sự đời...?
Mịch lôi kim ở vành khăn xuống. Mịch giơ kim lên chỗ sáng xâu
chỉ. Một hồi chuông kêu ran lên.
Chắc là Tú Anh đến chơi... Lại có một vài món quà gì đó...
Con sen ra mở. .. Ô hay chuông lại kêu ran lên... Vậy thì con sen đâu?
Mịch buông kim chạy ra bao lan nhìn xuống cổng... Giời ơi,
Long! Long đến!
Mịch đứng trù trừ một lúc lâu. Trong khi chưa quyết nên tiếp
hay không. Mịch chợt nhớ ra: đã sai con sen về Hà Đông mua một con mèo. Âu cũng
là có trời trong cơ hội này đây, việc gì Mịch lại còn e sợ?
Nghĩ thế, Mịch thoăn thoắt xuống, mở cổng cho Long, bằng sự hấp
tấp của một con dâm phụ, và mời hẳn Long lên buồng riêng.
Lên đến phòng rồi, Long cũng cứ đứng lỳ ra, đầu hơi cúi xuống
ngực, hai bàn tay nắm lại, nhìn trừng trừng xuống thúng yếm dãi và áo trẻ con để
ở ghế. Sau khi khép cửa phòng, Mịch quay vào, thấy thế cũng đâm sợ, vì Long có
cái tinh thần một người phẫn uất cực điểm, một người lăm le muốn gây ra vụ án mạng,
một người điên. Hãi hùng Mịch khẽ mời:
- Mời... anh ngồi chơi.
Như không nghe thấy gì cả, Long không nhúc nhích. Mịch lấy
tách ra, rót một chén nước, để ở bàn Long vẫn đứng nguyên như thế, Mịch phải cố
giấu sự sợ hãi, gượng cười mời một lần nữa:
- Kìa, mời anh ngồi xuống chứ, sao lại cứ đứng thế!
Long thẫn thờ ngồi xuống ghế. Mịch hỏi qua những cái cười
dòn:
- Đương ngồi một mình buồn quá, hay sao anh lại đến chơi...
Nghe đến đấy, Long mới đưa mắt lên nhìn Mịch. Chàng rất ngạc
nhiên vì Mịch thay đổi chóng quá, không còn một vẻ gì là cô gái quê khi xưa nữa.
Trước mặt chàng, đó không phải là Mịch nữa mà là một thiếu phụ đẹp đẽ, dáng người
đài các phong lưu, với cái bụng to nó tô điểm cho người thêm vẻ bệ vệ. Hai cái
má đỏ ửng vì cái thai lại càng tăng vẻ đa tình... Mịch hỏi:
- Anh Long ơi, tại sao anh lại còn đến đây? Cơ sự đã đến thế
này, thì anh còn đến làm gì thế nhỉ?
Long căm tức đáp:
- Tôi muốn đến để hỏi rằng trong đời này, ai là người gây ra
cái đau khổ của tôi!
Mịch đứng lặng người ra hồi lâu rồi mới thất thanh nói:
- Anh Long!... Anh Long!... anh phụ tôi đến như thế, mà anh
còn dám vác mặt anh lại đây... hỏi tôi thế nữa à?
- Tôi? Tôi phụ cô?
Mịch cứng cỏi hỏi lại:
- Thế thì ai?
Long làm một thôi một hồi:
- Tôi? Tôi phụ cô? Tôi phụ cô mà tôi lại dằn lòng tha thứ cho
cô, từ khi cô còn nằm nhà thương? Tôi phụ cô, mà tôi đã từ hôn một nơi giàu có,
đương đêm khuya vượt mấy tỉnh về tìm cô? Tôi phụ cô, mà tôi lại khổ thế này? Mà
cô lại sung sướng như thế ấy? Tôi, tôi phụ cô? Thật thế đấy à, hở giời?
Long vừa nói vừa nghiến răng, vừa đứng lên xông lại... Mịch
giơ tay che mặt giật lùi.
Long nắm lấy tay Mịch, hai con mắt trợn ngược lên, mũi cứ như
muốn bổ vào mặt Mịch, giọng nói thì gay gắt, dằn từng tiếng một, mỗi một câu
nói sắc như một lưỡi dao:
- Thằng này phụ cô! Thằng này phụ tình mà thằng này đã mất ăn
mất ngủ, lúc nào cũng bị dao đâm vào ruột, mà cô thì lại bình yên như thế này,
mỗi ngày một béo, một đẹp ra thế này? Ai phụ ai? Hở! Con khốn nạn! Đồ đĩ đạc!...
Tao làm gì? Mịch, tao đã làm gì mày để mày phụ tao? Nói! Nói mau! Nói!
Hai bàn tay Long bóp cổ Mịch mà lắc, lắc như người ta sóc ống
thẻ, xin thẻ trước điện thờ thánh, Mịch lả oằn người đi, như không còn xương sống,
ngã ngồi xuống, làm Long cũng ngã theo, và do cái ấy, mới buông tay ra. Nước mắt
ràn rụa, Mịch nức nở nói:
- Anh vẫn yêu tôi như thế này ư? Anh vẫn giận tôi đến thế này
ư? Anh giết tôi đi? Tôi mà chết được vì anh thì hồn cũng mát đấy! Long ơi, quân
giả dối, quân khốn nạn! Đừng mong đeo mặt nạ mà lừa tôi đâu!
Trước luận điệu bất ngờ ấy, Long đứng ngẩn mặt ra. Bây giờ đến
lượt Mịch được cất cao giọng:
- Yêu người ta, thương người ta mà lại để Tú Anh về hỏi người
ta! Mà lại cho nó toàn quyền khu xử mọi việc! Sao thế, hở đồ vô nhân bạc ngãi
kia?
Long ngơ ngác hỏi:
- Bao giờ? Bao giờ? Ai cho Tú Anh toàn quyền? Ai xui...
- Lại còn bao giờ!
Chừng như thoáng nghĩ ra, chợt nhớ ra điều gì mà nói ra thì hợp
thời lắm, Long nghiến răng hỏi vặn:
- Thế còn cô? Thế tại sao lúc nó về hỏi thì cô vui mừng như bắt
được của rồi nhận lời ngay tức khắc? Sao thế? Sao thế, hở đồ chó! Đứa nào tham
của, thấy vàng phụ ngãi...?
- Bao giờ? Ô hay? Ai nhận lời ngay với Tú Anh bao giờ? Mà ai
khấp khởi mừng như được của? Tú Anh còn sống đây kia, nào thử gọi ba mặt một lời
xem!
Thấy giọng cứng cỏi thành thực, Long lại đứng ngây ra. Chàng
đưa một tay lên bóp trán, Mịch hằn học nói:
- Hay là chính anh tham vàng phụ ngãi? Hay tại cô Tuyết đẹp
hơn con bé quê mùa này? Anh phụ tôi hay tôi phụ anh? Ai biết? Thật khó mà biết
được ai phụ ai nhỉ.
Mịch ngửa cổ ra cười qua hàng lệ, cười một cách ghê gớm, như
một người cười mà tự tử... Long ôm choàng lấy Mịch, lôi Mịch ngồi xuống giường.
Chàng khóc lóc rền rĩ:
- Giời ơi, chả nhẽ chúng ta đều mắc lừa Tú Anh cả rồi hay
sao?
- Mình ơi, có lẽ mình nói đúng.
- Giời ơi, thế thì sao ta lại không tin ta mà ta lại tin người
khác như thế?
Mịch khóc nức nở lên. Long cũng nói nghẹn ngào.
- Tú Anh!... Giời ơi, một người như Tú Anh... Từ đấy trở đi,
hai người mới kể lể hết với nhau, mới rõ sự thực, mới khám phá ra mối hiểu lầm,
mới tranh nhau mà hối hận, mà xin nhau tha thứ cho nhau...
Sáng chủ nhật hôm ấy, không lo ngại gì cả, cũng chẳng nghĩ đến
cái thai trong bụng nữa, y như một con dâm phụ, Mịch đã cho Long ái tình.
Chương 23
Chưa khuất hẳn sau dãy núi Tản Viên, mặt trời nhuộm cho những
đám mây lơ lửng trên không gian có màu cá vàng. Ngọn đồi ở ấp Tiểu Vạn trường
thành lúc ấy, sáng lấp lánh vì ánh nắng chiều còn tụ lại trên những ngọn lá cà
phê. Hoa cà phê trắng xóa, từng nhành một, chen lẫn vào những vòm lá xanh thẫm
như tuyết phủ... Chung quanh, trời đất mở ra một vùng phong cảnh ngoạn mục, nào
đồi, nào làng mạc, nào ruộng nương, trùng trùng điệp điệp, kế tiếp nhau.
Thung dung tay chắp sau lưng, nghị Hách đi cạnh bạn cũ. Cả
hai dạo quanh cái sinh phần. Người bạn già có ý ngắm nghía phong cảnh, tìm kiếm
mạch đất, còn nghị Hách thì chỉ im lặng nghe ngón một cách chăm chú thôi.
Sinh phần trên mẩu đồi là một công trình kiến trúc bằng cẩm
thạch rất lạ mắt, mới trông từ xa thì như bao diêm đặt lên trên cái mu bàn tay,
nhưng khi đến gần, ta mới hiểu rõ rằng cái công trình vuông vắn ấy tuy đơn sơ
là đơn sơ về đai thể, còn những bộ phận tỉ mỉ tô điểm cho sinh phần thì phải do
những tay thợ đá lành nghề mới có thể chạm trổ, xếp đặt một cách công phu và
tài tình đến như thế. Những đá đủ các vân, đủ các màu, không biết tìm được ở
đâu ra... Có thứ trông như gỗ lát hoa, lại có thứ thoạt nhìn, ai cũng phải tưởng
là gỗ lúp bên Ai Lao vậy. Bốn mặt tường sát nóc sinh phần, có những ô tròn và
vuông. Hai đầu là hai cổng rất to, hình quả trám. Chung quanh sinh phần chi
chít những cây thông, xoan, ngô đồng, phi lao, mọc hỗn loạn như ở một cái rừng
con. Tuy vậy, sinh phần vẫn nhoi lên trên đám lá xanh rậm rạp ấy, nổi bật hẳn
ra như một khối kim cương có trăm nghìn thứ ánh sáng, thật là đồ sộ, thật là
cao cả, thật là vĩ đại.
Người bạn thở dài:
- Thì ra cái sinh phần này không phải chỉ là sinh phần.
Nghị Hách nhăn nhó kể lại:
- Phải còn là mộ nữa, vì trong này cũng đã có cốt, nhưng vì
khiêm tốn nên không gọi là lăng, và vì còn muốn chôn cất nữa. Kiểu này là kiểu
Xiêm La đấy, quan anh ạ. Riêng tiền đá cũng có bảy tám nghìn bạc rồi, ấy là
chưa kể mấy tháng lương của hơn chục thợ, gọi từ bên Tàu sang, do ông Bang trưởng
Hải Phòng kiếm hộ cho.
- Thế cái anh thày địa lý Tàu ấy được bác hậu tạ bao nhiêu?
- Đúng một nghìn!
- Một nghìn?
- Vâng. Làm sao?
- Thế thì chả trách! Nó để sai huyệt thế này cũng là phải.
- Chết nỗi, quan anh bảo sao? Như vậy thì một nghìn là ít ỏi
quá chăng? Có lẽ nào...
- Chính thế, nếu nó để đúng huyệt cho thì quan bác đã phất đến
có thể đem của riêng ra cũng tậu được cả xứ Lào rồi! Nhưng mà thôi, cũng chẳng
nên phàn nàn, vì quân Tàu vốn khoảnh độc, bao nhiêu mạch đất phát vương hầu xưa
nay, hễ thấy là đều yểm đi cả, vậy mà anh thầy này còn để cho quan bác như thế
này, thế đã tử tế lắm rồi đấy. Đây tôi cắt nghĩa qua cho bác nhé...! À, nhưng
mà dễ phải trèo lên nóc sinh phần thì bác trông bác mới hiểu ra được... làm thế
nào?
Nghị Hách quay nhìn hỏi bâng quơ như quát, sau một cái giẫm
chân:
- Bay đâu? Có thằng nào đấy không?
Tức thì thằng Xuân, không biết từ bụi nào, thình lình nhô ra:
- Có tôi đây!
Nghị Hách phán:
- Kiếm ta cái thang dài đây! Mà cho mau!
- Dạ!
Thằng Xuân hấp tấp chạy. Ông già bảo Nghị Hách:
- Nên biết không mấy khi người ta tìm đất trên đồi, vì trên đồi
mạch đất khô táo không đủ thủy, nếu có phát thì chỉ hoạnh phát, mà đã hoạnh
phát, thì lại hoạnh tán, cái lẽ tạo hóa thừa trừ là như thế.
- Nếu bị hoạnh tán thì cũng được độ mấy đời? - Hoạnh tán thì
có khi không trọn vẹn được một đời.
Nghị Hách thở dài ngán ngẩm. Lúc ấy thằng Xuân đã khiêng
thang đến. Nghị Hách bảo nó bắc vào sinh phần, rồi hai người lổm ngổm bò lên...
Lên đến nóc rồi, ông bạn già để tay làm mái hiên trước mắt, quay nhìn bốn phía,
rồi trỏ tay bảo nghị Hách:
- Đây kia kìa, quan bác nhìn xem. Cái chỗ có một túm phi lao,
cạnh cái cây ngô đồng cao ngất ngưởng kia kìa! Bác cố nhận kỹ xem, cả cánh đồng
cỏ lau chạy xoai xoải ấy, có một miếng đất nhô cao lên trên, mà chạy vươn ra
không?
- À phải... Thế sao à?
- Đấy là con hỏa, hình lưỡi kiếm hẳn hoi nhé!
- Vâng, vâng. - Ấy đó, theo sách địa lý thì là ở chỗ nga my
tác án, sự ấy đã rõ rệt lắm. Trước mắt có ngay còn Hỏa tinh lưỡi kiếm như thế
thì sẽ phát nghịnh, tử tôn thế nào cũng bất đắc kỳ tử, nghĩa là sẽ phải chết
chém, hoặc chết vì tai nạn mất. Tuy cũng có phát phú thật, nhưng mà bõ bèn gì?
Chợt nghĩ ngay đến Tú Anh, nghị Hách phải lấy khăn tay ra lau
cái trán lấm tấm mồ hôi. Lão kêu lên:
- Giời ơi! Thì ra họ phản tôi hay sao?
- Không phải họ phản hẳn, có phát thì có sát, đừng nói thế mà
phải tội. Nghĩa là họ chưa hết lòng... Vả lại quan bác trông mà xem... Mạch đất
thìn tuất long thế kia là còn thô lắm, chưa được nhuyễn.
Nghị Hách cứ thỉnh thoảng lại giậm chân, kêu lên một cách hèn
hạ lạ lùng:
- Giời ơi! Giời ơi là giời ơi...
Ông bạn già:
- Đặt sinh phần ngay chỗ này thì ra vượng tay long, mà lại mất
tay hổ, con giai thì ăn thua mà con gái thì truỵ lạc, hoặc chết non. Chỗ này đẹp
lắm, thiếu gì mạch tốt hơn, sao lão thày Tàu nó lại ngu đến thế không biết!
- Thưa quan bác, thế quanh đây, chỗ nào mới là chính huyết?
- Bác ra đây với tôi!
Người bạn cũ kéo Nghị Hách ra phía kia sinh phần rồi trỏ tay
ra xa, chỗ lương khoai, cạnh một cái lạch..
- Bác ngắm cho kỹ nhé! Cái thửa ruộng khoai sọ ấy, chỗ lạch
nước đấy... Bác nhìn đấy, rồi lần ra phía đông nam của thửa ruộng ấy có một sào
ngô... Đất sào ngô ấy nhoi cao bật hẳn lên, có phải thế không? Đó là chúng giê
như ngã độc cao...
- Bẩm vâng. Tôi đã nhận ra rồi. - Ấy đó là một. Lại ngay trước
mặt đấy có con thổ nữa tức là cái bãi cỏ vuông, bác nhận ra chưa?
- Vâng vâng.. - Đất ấy mạch theo kiền hợi, thủy tụ nhiều, có
bút ở phương tốn, lại có thổ tác án, nó theo sách là hợp cách thủy loan bão kể
đã là đất tốt lắm, vì lẽ phát đại thần.
- Thế à?
- Như quan bác là phú gia địch quốc rồi, tiền vứt xuống sông không
hết, vậy thì chỉ còn phải cầu cái chữ quý.
- Vậy chỗ đất ấy phát có bền chăng?
- Được độ ba đời.
- Tay long tay hổ không chênh lệch nhau lắm?
- Đều đặn. - Ba đời thì cũng chả là bền mấy.
- Còn hơn chỗ cũ.
- Còn chỗ đất nào hơn nữa chăng?
- Thế bác quá bộ ra đây.
Nghị Hách lại đi theo bạn ra phía kia nóc sinh phần. Ông bạn
già ngắm nghía một lúc, đoạn trỏ tay bảo:
- Các chân đồi này chừng tám trăm thước, đây kia, chỗ có những
thửa ruộng hình mỏng như cánh ve xếp lớp vào nhau, từ dưới lên trên có một chỗ
huyệt nhằm cách thiền dực xa phát cả phú, lẫn quý, lẫn thọ mà lại bền hàng chục
đời! Hạng biết lo xa như Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng chẳng hạn, thì chỉ thích thứ
đất ấy, mà thôi. Còn chọn như quan bác chọn cái sinh phần này thì chỉ có hạng
thích cái đắc thế một thời, nghĩa là hạng Mạc Đăng Dung mà thôi! Như vậy là xuẩn.
Nghị Hách ngắm ra xa, gật gù một hồi. Rồi hai người xuống
thang, lại thung dung quay về Nghin phong dình là chỗ nhà hóng gió ở giữa ấp.
Trên bàn đã có sẵn mấy chai nước suối Vi-ten. Hai người giải
khát hồi lâu, nghị Hách cau có, nói:
- Khổ thật!
Ông bạn già giơ tay ngăn:
- Quan bác chớ lo. Sự thật thì cũng chưa đến nỗi nào...
- Vậy tiên sinh định liệu cho đệ ra sao?
- Cải táng cải mả cụ cố ra chỗ khác, thì mới mong tránh cái nạn
bất đắc kỳ tử cho con cháu được. Cứ ngắm nghía những ngọn cỏ trên nấm mộ, thì
ít ra đã táng được bảy năm. Vậy nội trong năm nay phải bốc đi kẻo tôi ngờ cái nạn
nga my lắc oán sẽ xảy ra đến nơi rồi đấy.
Nghị Hách lại thở dài mà rằng:
- Không biết làm thế nào mà dọn cả cái sinh phần ra chỗ khác
được. Lại phá vụn ra, lại xây nó lại một lần nữa, thì bao nhiêu là tiền!
- Việc gì phải thế?
- Thế không khiêng sinh phần ra đất mới hay sao?
Ông bạn già cười khanh khách một hồi như người điên, không sự
nghị Hách phải ngượng đến đỏ mặt. Đoạn mới khẽ nói:
- Cứ để nguyên đấy, không việc gì phải động chạm đến sinh phần
cả. Quan bác tuy vậy mà còn thật thà quá! Quan bác nên hiểu cho rằng, những bậc
vua chúa, những kẻ tai to mặt lớn, mà xây sinh phần, thì là để chôn mồ mả vào
những chỗ không ở trong sinh phần, quan bác hiểu ra chưa?
Nghe đến đấy, nghị Hách tươi tỉnh ngay lên. Rồi cười khà khà,
bắt tay ông bạn cũ một cái sau khi nói:
- Ồ, thế mà bây giờ đệ mới biết thế đấy!
- Cho nên tôi vẫn bảo trước là không ngại mà!
Nghị Hách đứng lên, chân thành nói:
- Tiên sinh ơi, đệ rất lấy làm mừng rỡ được gặp ông bạn cũ
như tiên sinh, một người đặc biệt, một bậc kỳ tài, thượng thông thiên văn, hạ
trí địa lý, trung tri nhận sự! Đệ phải thù tạc tiên sinh vào bậc thượng khách
thì mới khỏi phụ tấm ơn tri ngộ của tiên sinh. Nhưng mà đệ còn băn khoăn ở một
chỗ là chưa nhớ ra được tiên sinh là người nào, xưa kia ta quen thuộc nhau bao
giờ, đã ăn ở với nhau ra sao... Xin tiên sinh xá cho đệ chỗ khiếm khuyết ấy, và
nói rõ phương danh để đệ xưng hô cho tiện.
- Quan bác ạ, tôi ở đây với quan bác còn lâu... Để tôi lo
xong việc cho quan bác đã. Hôm nào tôi được một số tiền hậu tạ và xách khăn gói
lên đường, rồi sẽ nói quê quán tên tuổi, sẽ kể chuyện cũ, như thế tưởng cũng
không muộn gì. Vả lại tôi đã thay tên đổi họ, xóa sạch trong trí nhớ cái cuộc đời
vô nghĩa lý là cuộc đời cũ, để mà sống một cuộc sống giang hồ, phiêu lưu... là
cuộc đời mới.
- Thật xưng hô khó quá.
- Tên tôi hiện giờ là Hải Vân, quan bác hãy biết thế thôi tưởng
cũng gọn lắm rồi.
- Vâng! Thế tiên sinh sống cuộc đời như thế thì có thú vị gì
chăng?
- Mỗi người một thích... Tôi có năm bảy mươi nghề, nên không
bao giờ chết đói, đâu cũng là nhà, gặp ai cũng là thân yêu. Tôi không thu chặt
lòng yêu vào gia đình, chỉ biết có gia đình, nhưng mà là để muốn biết cả nhân
loại, muốn biết cả xã hội. Trong cuộc phiêu du, chí bình sinh là đem tiền kiếm
được của bậc phú quí ra san sẻ cho kẻ bần hàn, thế mà thôi. Tôi đã rắc khắp nơi
sự yêu, sự nhớ cũng như sự thù hằn oán ghét vì tôi ngay thẳng và không hề ở đâu
lâu cả.
- Cứ như ngụ ý của đệ, thì đệ không thể nào tưởng tượng được
ra rằng trong đời này lại có một người kỳ dị như tiên sinh đấy.
- Một vị tiết phụ không khi nào lại tưởng trong đời có kẻ bán
thân nuôi miệng... Một người trần tục thích ăn ngon, thích gái đẹp, không khi
nào tin rằng xưa nay vẫn có những bậc chân tu, cam chịu suốt đời khổ hạnh. Quan
bác đã có cái chí kinh thiên động địa rồi, thì khi nào tưởng được trong đời có
kẻ sống một cách phiếm lãng như tôi? Sự ấy âu cũng là thường vậy.
- À quên, tiên sinh xem số tử vi cho đệ đi. Đệ tuổi Canh Dần,
đẻ ngày 16 tháng tư, giờ ngọ. Xưa nay đệ xem đã nhiều, song chưa bao giờ gặp được
thày hay.
Ông bạn già giơ bàn tay ra bấm một lát rồi nói lầm bầm:
- Sài pha tham, kiếm không đắc địa, kinh đà vương địa, song lộc
triều viên. Quan bác nói đúng giờ lắm. Số quan bác là hung tinh đắc địa theo
cái lối số Lê Hoan, nghĩa là có thể đã làm những việc đại gian hùng, mà không
ai làm gì được mình cả.
Nghị Hách còn hoài nghi, nói nửa thật nửa bỡn:
- Tiên sinh thử kể những tội ác nhất của đệ ra xem sao.
Ông bạn già nghiêm mặt:
- Nếu tôi nói, quan bác đừng chối, mà cũng đừng giận!
- Vâng! Xin cứ nói!
- Thật thế đấy nhé?
- Vâng, vâng!
- Thôi, tôi chả nói!
- Đệ lạy bác, xin bác cứ nói cho hết!
Ông già nhìn chòng chọc nghị Hách, nói:
- Năm Tân Hợi tức là năm 1911, quan bác phạm tội thông dâm vợ
người. Năm Quí Sửu, quan bác lừa người được số bạc trăm. Đến năm Kỷ Mùi, tức là
năm 1919, năm quan bác đúng 30 tuổi thì quan bác giàu có rồi, đã bắt đầu hiếp...
rồi, thật thế đấy, tôi xin nhắc lại, quan bác đã hiếp... rồi!... Lại cho đến
năm Nhâm Tuất thì quan bác gian hùng lắm. Hai mạng người đã chết vì quan bác. Lại
đến hai năm sau nữa, tức là năm Giáp Tý 1924, thì quan bác lừa người được mấy
chục vạn, và đồng thời xuýt nữa quan bác chết hụt thì phải. Chút nữa thì hỏa
thiêu... Bẩm đoán qua loa có đúng chăng?
Nghị Hách ngẩn người ra, mồ hôi trán đầm đìa lắp bắp:
- Giời ơi, nếu vậy thì ra người ta ở đời này có số thật?
- Người ta có số hay không thì quan bác biết đấy. Nếu không
có số, tôi lại biết được những việc bí mật ghê gớm như thế mà quan bác đã làm
hay sao?
Trong một lúc lâu, nghị Hách ngồi trầm ngâm như một nhà triết
học. Sau ngơ ngác hỏi:
- Ô hay! Thế thì ra tôi cũng không phải chịu trách nhiệm về
những việc tôi đã làm hay sao?
- Chính thế. Cho nên không ai là đáng phục, không ai là đáng
ghét, không ai là đáng yêu, không ai là đáng khinh. Số mệnh xui khiến cả.
- Như vậy thì ngài là bực thánh sống thật đấy. Những câu đoán
ấy quả có đúng cả! Thưa tiên sinh! Tiên sinh làm ơn xem hộ đệ năm nay ra sao.
- Năm nay sợ có sự đau đớn về tinh thần...
Mặt đã tái xanh, nghị Hách hỏi dồn:
- Thế nghĩa là thế nào? Hở tiên sinh?
Ông bạn cười nhạt:
- Có thế mà cũng phải hỏi.
Rồi một lát, ông bạn già thêm:
- Ừ, mà xưa kia chưa bao giờ quan bác phải điều gì đau đớn lắm
thì biết sao được!
- Đau đớn thế nào? Có tránh thoát được không?
- Phải cất mả lại... Để tôi xem, vì cưỡng lại số giời, cũng
khó lắm.
Nghị Hách khẩn khoản kêu van:
- Xin tiên sinh cố giúp cho bao nhiêu tiền đệ cũng không tiếc.
Giời ơi, nếu đệ phải đau đớn về tinh thần thì chắc là khổ lắm, thì chết mất!
Ông bạn già giao hẹn:
- Nói lời thì giữ lấy lời nhé?
Nghị Hách đáp một cách anh hùng:
- Bẩm vâng!
- Thế mà không giữ lời hứa thì sao?
Nghị Hách phát cáu, đứng lên:
- Thế bác coi tôi là người hay là chó?
Chương 24
Khi đi ngang qua chợ Đồng Xuân, Long đã thoáng nom thấy ông đồ
Uẩn ngồi vắt vẻo trên chiếc xe nhà mà Tú Anh đã tậu cho Mịch. Trông mặt ông bố
vợ hụt lúc ấy có vẻ dương dương tự đắc quá, có vẻ ngạo mạn quá, đến nỗi mới cảm
tưởng thứ nhất của Long đối với ông đồ chỉ là lòng khinh.
Long đã cười thầm.
Chàng chợt nhớ lời Tú Anh trong một buổi chuyện về các nhà
nho, về ảnh hưởng của nho học. Cái nền học thuật ấy vẫn chế tạo ra những hạng
người cực đoan hoặc hay thì hay vô cùng, hoặc dở thì cũng dở vô cùng. Cho nên
cái tiết tháo của nhà nho, hoặc cái đê tiện của nhà nho đều cùng đứng về hai
thái cực cả. Ông đồ Uẩn chính là hạng thuộc về cái thái cực thứ hai, bị hoàn cảnh
lôi cuốn đến không giữ được nhân cách. Do thế mới có hạng nhà nho không chịu
đem tài học ra phụng sự chế độ mới, cam tâm và vui lòng sống suốt đời thành bần,
không phàn nàn, không hối hận, với một hạng nho thứ hai lần, đã thành thực đi
theo đạo quân cần vương, cũng như đã thành thực quay về kinh thờ một ông công sứ,
đến nỗi sì sụp bốn lễ, bốn vái, mà không thấy ngượng, có thể cho xích tay cả
gia đình bạn đồng chí cũ đã cứu mình thoát chết, để tâng công mà không chút hối
hận mảy may... Người cao khiết quá, giữ tiết tháo một cách nghiệt ngã quá, thì
thành ra gàn dở, vô dụng cho đời, mà người trung dung quá thiên về chủ nghĩa
gia đình quá, thì thường vì bốn chữ vinh thân phì gia mà mất hết lương tâm.
Càng nghĩ đến những lời nhận xét của Tú Anh, Long càng thấy
đúng, mà đã càng thấy đúng, Long càng ngán ngẩm cho sự đời. Chao ôi! Ông đồ Uẩn!
Một người xưa kia như thế mà bây giờ như thế! Hay là tại ông đồ chưa phải hẳn
người đã thấm nhuần đạo nho? Hay tại đạo nho chỉ kết quả nên hạng người như thế?
Hay bởi lẽ mặc lòng được tiếng nhà nho, ông đồ Uẩn cũng vẫn vô học như thường?
Phải đâu, ừ phải đâu mới là một thày đồ có một dúm chữ ê a dạy lũ trẻ ranh mà
đã là có học! Vả chăng cái số thầy đồ vô học mà tự phụ vẫn nhan nhản trong xã hội...
Nếu đúng thế Long đã nhầm, đã nhầm một cách khốn khổ, đã sung sướng một cách vô
nghĩa lý, khi chàng hỏi được Mịch mà chàng tự đắc là sẽ được làm rể một bậc thượng
lưu học thức, một người thanh bần nhưng có một tầm hồn vững chãi, có một căn bản
tinh thần - một nơi dòng dõi thế gia.
Những ý nghĩ ấy dắt Long đến việc muốn giải phẫu cái tâm hồn
khó hiểu của Mịch. Sự thay đổi tâm tình của Mịch khiến Long phải ngạc nhiên một
cách kinh khủng mãi cho đến bây giờ, Mịch đã đi từ một cô thôn nữ ngây thơ, hiền
lành, chất phác, đến một thiếu phụ gian dâm, lãng mạn, xảo quyệt, đáng sợ. Mỗi
khi đem cái cảnh Mịch còn là cô gái quê lúi húi vớt bèo, mà so với cảnh Mịch đã
là vợ lẽ một anh trọc phú, quần là áo lượt bệ vệ ngồi trên cái sập gụ khảm, mà
cất cao giọng đài các xỉ vả đầy tớ, thì Long không biết rằng cuộc đời có còn là
cuộc đời không, hay là Long đã ngủ mê... Mỗi khi nhớ lại cái cảnh Mịch vừa tự tử
hụt xong mà khóc sướt mướt với Long trong nhà thương, rồi đem cảnh ấy ra so với
trận cuồng dâm mà Long đã bị Mịch lôi kéo vào, thì Long lại phải lẩm bẩm một
cách kinh hoàng: Thật là không thể tưởng tượng được! Trong cái thời gian chưa đầy
nửa năm! Những nguyên nhân nào đã thay đổi lòng người đến thế?
Sau cùng, Long tìm ra được cái bả vật chất. Thật vậy, sự phù
hoa giả dối của một xã hội chỉ trọng những cái bề ngoài, một nền luân lý ích kỷ,
sự tín ngưỡng thế lực hoàng kim, cuộc cạnh tranh dữ dội đến hình thức đã làm hại
tâm thuật người đời. Do thế, lúc người ta bần thì người ta còn thanh, và đã nên
phú rồi, nhiều khi người ta hóa ra trọc.
Thế rồi ngẫu nhiên Long nghĩ ngay đến mình. Nào phải tìm ai để
mà kinh ngạc nữa, Long cứ việc đem ngay Long ra đã thừa đủ! Thì Long cũng thay
đổi một cách đáng sợ, cũng chỉ trong vòng nửa năm nay mà thôi. Từ một anh hàn
sĩ đầy lòng thương đời, ghét cay ghét độc những cái xa hoa vật chất, và căm hờn
sự vô tình của bọn trưởng giả đối với nòi giống, Long đã trở nên một kẻ hư hỏng,
có tư cách con nhà phá của, đem tuổi thanh xuân ra miệt mài những nơi ca lâu tửu
quán, và, quá nữa, lại đi thông dâm với vợ người! Cái tâm hồn trong sạch, cái
chí khí cao cả, những tư tưởng hy sinh cho nòi giống đã đâu mất cả! Ngày nay,
Long cũng đã hóa ra người ích kỷ, khốn nạn, người thuộc vào cái hạng mà chính
Long đã rất khinh bỉ xưa kia! Mà vì lẽ gì, nào Long có hiểu... Long thấy mình
không có điều gì trái đạo cả. Đời đã làm cho chàng đến nỗi thế. Danh từ của việc
nghe đáng sợ lắm, tuy những việc của Long hình như là cố nhiên sẽ phải xảy.
Long hình như không phải chịu trách nhiệm những cử chỉ mình Long đã bị hoàn
toàn sai khiến.
Những phút nghĩ ngợi như thế là những phút mà cái linh trí bất
thần đến với Long để giúp chàng suy mình ra mọi người, để định lấy một phương
châm xử thế. Long thấy ông đồ, Mịch và Long, chỉ là bọn người đáng thương hại
mà thôi. Hầu như trong đời vẫn có một sức mạnh huyền bí gì đó, vẫn cầm quyền cuộc
đời đến nỗi không còn ai lại tự nhủ nữa. Có một tâm hồn vững chãi... mấy ai mà
có được? Mấy ai là chòng chọi nổi với hoàn cảnh?
Long lại nhớ đến lời khuyên của Tú Anh... “Người đời không ai
đáng yêu, không ai đáng trọng, không ai đáng khinh, vì ai cũng có điều thiện và
điều ác, trong lòng người nào cũng có một thần thiện và một thần ác”.
Quan niệm của Tú Anh là coi thường sự đời, là sự thản nhiên với
những việc có hại cho mình, là sự thận trọng những điều lợi hại cho người ta. Lối
xử thế của Tú Anh chỉ có chịu thiệt mà không hề cầu lợi. Có lẽ vì chỉ muốn cứu
vớt cả một đời Mịch, chỉ muốn gây dựng lại cái gia đình ông đồ, và chỉ muốn
Long sẽ vui duyên mới mà quên hận cũ, chỉ muốn nhân sự đầy đủ vật chất, Long có
thể luyện tập cái tinh thần cho vững chãi thêm lên, cho nên Tú Anh đã phải ép
lòng nói dối cả Long lẫn Mịch, để cho cả hai bên hiểu nhầm nhau mà đoạn tuyệt
nhau... Trong hành vi ấy, có kiến thiết mà không có phá hoại. Phải, phải, Tú
Anh gả em gái cho mình thì nào có lợi lộc gì đâu? Mịch về làm vợ bé nghị Hách
thì có lợi lộc gì cho Tú Anh đâu?
Nghĩ đi nghĩ lại cho cùng, Long chỉ thấy Tú Anh là một người
ngồi trên đống vàng đống bạc mà không hề bị ánh sáng hoàng kim chiếu lóa mắt,
đương đuổi thanh xuân mà thản nhiên được trước ái tình, một người học thức cao,
nhân phẩm cao, một người hữu ích rất hiếm có vậy, Long bất giác hối hận vì đã
phản chắc Tú Anh, Long nguyện sẽ không bao giờ dám ngờ vực lòng tử tế của ân
nhân mình nữa. Long quyết sẽ không cùng Mịch lừa dối nghị Hách và phụ lòng tin
cậy của Tú Anh nữa. Và, muốn thế được, Long phải cấm mình không được thậm thọt
nhà Mịch nữa.
Còn đương nghĩ ngợi liên miên như thế thì Long đã đến Quán
Thánh từ lúc nào không biết. Chỉ còn độ mươi bước nữa là đến nhà Mịch. Long tự
hỏi: “Ta đã biết nghĩ như thế thì ta còn đến đây làm gì?” Tuy nghĩ thế chàng vẫn
bước chân đi... Long đi qua nhà Mịch mà cứ đi mãi, Long không biết nên quyết thế
nào... Rồi nhân cái sự trù trừ của mình, Long càng thấy Tú Anh là người hiểu đời
một cách âu xa, sau khi đã nói đến những câu: “Loài người không ai ác không ai
tồi, không ai đê tiện, không ai phụ bạc cả. Loài người chỉ là một lũ ngu dốt
không biết phân biệt điều hay, điều dở, không biết ăn ở sao cho phải, luôn luôn
bất cập, luôn luôn thái quá; loài người chỉ là một lũ nhầm lẫn đáng thương! Do
thế mới có câu: than ôi, không ai bản thân vốn ác, vậy mà người ta đã gây ra
cho nhau biết bao nhiêu thảm kịch ở đời!”
Long quay bước trở lại. Chàng tự giao hẹn: “Ta vào lần này là
lần cuối cùng”. Rồi bấm chuông.
Đứa đầy tớ chạy ra mở cửa thì Long chững chạc đường hoàng vào
ngồi đợi ở phòng khách. Một lát Mịch ngó đầu nhìn ra... Thấy khách là Long, Mịch
cứ áo ngắn quần trong, ra ngồi tiếp chuyện. Tuy vậy, Mịch cũng che mắt thế gian
bằng cách dõng dạc sai đứa con đỏ:
- Pha nước và lấy gói thuốc lá ra đây, mày!
Rồi Mịch hỏi vờ Long trước mặt con sen:
- Này, anh Tú sao mà lại không đến thế?
- Thưa dì, anh tôi còn bận dạy học, có lẽ chốc nữa mới đến được.
- Tôi nóng gặp anh ấy để hỏi xem muốn chữa cái xe thì mất độ
bao nhiêu tiền...
- Thưa dì, xe mới tậu mà đã phải chữa?
- Ừ, vì ngồi xóc lắm, cái đệm phải thay, díp xe cũng phải
thay.
- Bẩm hình như cụ nhà có ra chơi?
Đứa ở, sau khi pha nước và để gói thuốc ở bàn lui vào nhà
trong, chẳng ngờ vực gì cả. Nó thấy Long đến lần này đã là lần thứ ba... Nghe
những câu như thế nó cho Long là họ hàng gì đó. Sau khi nó vào rồi, chủ nói mới
lả lơi cười cợt với Long mà rằng:
- Gớm, mất mặt! Độ này có gì lạ không?
Long lắc đầu, khẽ đáp:
- Còn có cái gì lạ được nữa.
- Tôi thấy anh như độ này chơi bời lắm, không nên thế, anh ạ.
- Nói bậy!
- À, thế câu chuyện ông già bí mật bây giờ ra sao?
- Từ độ ấy không gặp đâu nữa!
- Anh có đi tìm ông già ấy không?
- Biết người ta ở đâu mà tìm?
- Lạ lắm nhỉ?
- Thật thế, lạ lắm.
- Anh có tin được lời của ông già kỳ quái ấy không?
- Bảo tin thì tin sao được một người lạ mặt, kỳ quái, khó hiểu
như thế? Mà không tin hẳn, cũng không xong, ấy thế mới khổ chứ!
Mịch thần mặt ra hồi lâu rồi tiếp:
- Sao cái ông lão ấy lại biết cô Tuyết? Sao lại biết rõ cậu
Tú Anh có nhờ cậy anh giúp hộ một điều gì?
Long nhăn mặt nghĩ ngợi mãi mới nói:
- Chính tôi, tôi cũng đương sự hỏi sao ở đời này, lại có một
người thứ hai nữa biết rõ cả những việc bí mật của tôi như thế? Nhất là chỗ tôi
bồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ là điều mà đến Mịch cũng không biết được. Đã thế, làm
thế nào để không tin hẳn ông già ấy? Cho nên hiện giờ tôi đương phân vân lắm.
Lúc tôi phải nghĩ đến ông già thì tôi lại khổ sở vô cùng. Tôi lại còn có ý nghĩ
này nữa là dễ thường ông già ấy chẳng qua chỉ là một người nào đó, không muốn
cho tôi lấy được Tuyết, muốn cho tôi từ hôn, từ hôn đi! Nghĩa là ông già chỉ là
tay sai của một gia đình nào muốn làm thông gia với nghị Hách, hoặc của một anh
chàng nào say mê con Tuyết, đến bịa đặt ra câu chuyện tôi còn có bố mẹ giàu có,
có thể làm cho tôi gặp bố mẹ tôi được, có thể cho tôi phải theo cái điều kiện
trái ước với Tú Anh đi thì là người ta thành công trong sự rẽ duyên chúng tôi.
Thế cũng nên.
Mịch hấp tấp:
- Ừ, có lẽ mà thế đấy, điều ấy có lý lắm.
- Nếu không thế, thì ắt là tôi còn bố mẹ giàu thật.
- Hay là...
- Làm sao?
- Hay là chính ông già ấy là...
- Mịch muốn nói là bố tôi, có phải không?
- Vâng.
- Ấy, cũng có khi tôi đoán như vậy!
- Đoán thế không phải là không có lý đâu.
Long thở dài một cách nhọc mệt:
- Thôi thôi thôi! Nghĩ thế nào cũng là có lý cả! Càng nghĩ lắm
chỉ càng nát óc, âu là chẳng việc cóc gì mà nghĩ ngợi cả lại xong. Mặc quách sự
đời muốn ra sao thì ra, nghĩ cũng vô ích!
Nói xong, Long chạy đến chỗ Mịch, hôn Mịch một cái vào trán,
Mịch hỏi:
- Mình có nói cho Tú Anh biết rõ câu chuyện quái lại ấy
không?
Long đáp:
- Anh ấy chỉ bảo tôi đừng để ý đến việc ấy, vì ông già ấy, có
lẽ chẳng qua là một người nào đó biết gièm pha một cách quỉ quyệt đó mà thôi.
Giời ơi! Sao mà tôi khổ thế này! Một năm nay, bao nhiêu là sự xảy ra, bao nhiêu
là điều phải nghĩ ngợi!
Long quay về ngồi chỗ cũ, hồi lâu lại cười nhạt mà rằng:
- Chỉ có Mịch là sung sướng!
Mịch cau mày, giận giỗi nói:
- Anh đừng nên nói thế mà mất cả lòng tử tế của đôi ta với
nhau. Nếu anh cho là tôi sướng, thì tôi cũng có thể buộc anh là sướng được.
- Chúng mình đã ăn ở với nhau đến thế này thì đừng nên nói đến
sự tử tế với nhau nữa.
- Sao?
- Chúng ta đã trót hiểu nhầm nhau...
- Không những chỉ có thế mà thôi, anh ạ.
- Phải, hơn nữa, ta phụ nhau một cách rõ rệt, cả hai bên cùng
phụ lẫn nhau...
- Anh muốn nói gì thế?
- Tôi muốn nói thẳng ngay rằng đã xử với nhau đến như chúng
ta rồi, thì thế là hết phương cứu chữa, thì thà rằng cắt đứt những mối tơ vương
đi, vì tử tế đãi hậu là vô bổ.
Mịch hỏi như mỉa mai:
- Thế à?
Long tiếp theo một cách hằn học:
- Thật đấy, Mịch ạ, thật thế đấy! Tôi đã bắt đầu thấy rằng
cái cuộc ái ân vụng trộm này đã hạ tôi vào hạng những kẻ thất phu, vô học, những
kẻ mất nhân cách, những kẻ vô lương tâm!
Mịch cúi đầu hổ thẹn một lúc lâu. Thói thường vào trường hợp
như thế, bao giờ người ta cũng phải hãy hổ thẹn đã. Về sau cái tính tình ấy mới
bị lòng tự ái đổi ra là sự căm tức. Trong năm phút, Mịch đã tìm thấy đủ mọi
nghĩa lý để mà căm Long. Mịch thấy rằng Long xưa kia đã cố chí phụ mình, thì
ngày nay mới không muốn theo đuổi cuộc trả thù nghị Hách nữa, mới sợ hãi, muốn
giữ gìn... Hai nữa, nói thế, có can đảm nói thế, nghĩa là hết yêu.
Mịch cười gằn:
- Tôi nghĩ thì lại trái hẳn. Tôi chỉ thấy trả thù được thì là
sướng.
Long phân trần:
- Mịch ơi! Mịch! Em nên nghĩ lại một chút, Mịch phải biết
nghĩ mới được. Còn danh giáo gia đình, còn công cha nghĩa mẹ, những sự ấy không
nên mỗi chốc mà hy sinh hết đi. Vả lại, dẫu trả thù được đi nữa, thì nào có ích
gì? Chúng ta kỳ chung vẫn khổ như trước. Nếu cứ thế này mãi, sợ rồi chỉ hại một
đời Mịch mà thôi.
Không hiểu rõ bụng Long lúc ấy là thực thà, Mịch cho đó là sự
giả dối, là sự xảo quyệt. Mịch cho là Long đã đem dùng sự đạo đức và sự cần thủ
hiếu của Mịch để lôi cái lòng yêu về cho dễ. Ngẫu nhiên Mịch nhớ lại tất cả mọi
chuyện cũ và ngờ vực ngay rằng chính Long đã phụ Mịch một cách hoàn toàn đầy đủ,
và đã phải giả vờ hờn giận để buộc tội Mịch, thì là Long đã gỡ được những tội
phụ bạc của Long! Mịch giận ứa nước mắt, khóc mà nói:
- Dù sao đi nữa thì cái đời tôi cũng đã bị hại rồi!
- Ừ, và đó không phải là một lẽ để làm hại nó thêm nữa.
- Tôi đã bị hại một đời, ngay từ khi anh về mà anh gắt mắng xỉ
vả tôi rồi!
Rồi Mịch nức nở khóc to hơn trước, không lo rằng đứa ở có thể
biết được. Long thấy Mịch đáng thương hại quá, bèn đứng lên... Chàng muốn hôn Mịch
để an ủi Mịch mà không dám... Ngay lúc ấy thì còi ô tô rúc lên ở ngoài cổng.
Đứa ở chưa kịp chạy ra, Tú Anh đã thoăn thoắt bước vào. Trong
lúc bối rối, Mịch chỉ biết đứng ngây mặt ra. Nhanh trí khôn hơn, Long lại ngồi
xuống ghế ôm đầu ủ rũ, để chờ cho Tú Anh đã bước vào phòng khách rồi, mới ngước
mắt thẫn thờ nhìn lên, làm như không hề có một chút cảm động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét