Lấy nhau vì tình 3
Phần thứ ba
I. - Cậu ơi! Dậy đi!... Gớm, 9 giờ sáng rồi.
- Im đi để cho người ta ngủ!
- Dậy thì thôi, 9 giờ rồi! Cậu!
Quỳnh đứng bên giường, cố lôi cái chăn ra. Liêm lại lôi chăn
lên trùm đầu, càu nhàu gắt :
- Im đi mà lại! Khỉ lắm nữa, làm gì đã đến 9 giờ!
- Không chín thì cũng tám rưỡi rồi! Dậy đi, em lạy cậu nữa. Để
cho em còn phải lên hàng chứ!
- Đi đâu cứ việc mà đi, mặc kệ người ta!
- Nhưng mà vú già, tôi sai nó lên nhà có việc đẻ hỏi rồi. Cậu
không trông nhà thì tôi đi ra hàng làm sao bây giờ chứ?
Nói thế xong, Quỳnh ngồi xuống chỗ chân giường, ghếch một
chân lên, tựa cằm vào đầu gối, thất vọng. Mãi Liêm mới lừ đừ mở mắt, vưom vai,
uể oải ngáp, rồi gượng ngồi lên. Chàng lại cau mày :
- Hôm nay, người ta vẫn còn được nghỉ mà cứ lôi xốc dậy!
Vợ chàng sung sướng gượng cười:
- Ngủ trưa quá như thế, đầy tớ nó cười cho đấy!
- Thế nó đâu?
- Hôm qua đẻ bảo em sáng nay phải cho nó đến, để có việc...
Nó đi đã lâu rồi.
- Rõ kệch lắm, nó đi rồi còn sợ nó cười thế đếch nào được!
- Chứ lại không cười à! Cậu chỉ được cái quen thân đốn đời là
không ai bằng!
Nói thế xong, Quỳnh cười lả lơi và khẽ tát yêu chồng một
cái... Nhưng Liêm lại gắt :
- Thôi bước ngay đi cho rảnh!
Vì bị mắng đã quen, Quỳnh không còn biết giận chồng gì nữa,
mà chỉ bẽn lẽn đứng lên, trơ trẽn với những giọng điệu mắc cỡ trong ba phút, đoạn
ra khỏi phòng. Trước khi đi hẳn, nàng còn đứng chữa thẹn bằng cách nói vọng :
- Cậu dậy thật đấy nhé? Chứ không, lại ngủ, nó lẻn vào thì chết
cả đấy.
Rồi nàng gọi xe, mặc cả đến phố Hàng Gai.
Khi vợ đi hẳn, Liêm bước xuống đất. Chàng ra bàn, rót một
chén nước, thấy nóng quá, phải ngồi thừ ra đợi. Chàng băn khoăn tự hỏi: “Ta làm
cái gì bây giờ”. Thật vậy, đó cũng là một vấn đề khó giải quyết. Chàng còn được
nghỉ những hai hôm. Cho đến bữa sáng hôm nay, Liêm cưới vợ đã được năm ngày
đúng. Chàng không hề nghĩ đến sự cả hai vợ chồng đi du lịch một tỉnh nào như
người Tây phương lúc mới lấy nhau, cái ý nghĩ có ngay lúc mới yêu Quỳnh. Cho đến
cả việc đem vợ đi trình diện những nhà bà con, thân thuộc, chàng cũng không làm
một cách chu đáo, mà chỉ dắt vợ đến những chỗ không đến không được mà thôi.
Trong sự thay đổi ấy, chàng chỉ vì đã nghĩ: “Lấy phải một người vợ như thế, còn
danh giá nỗi gì mà đem khoe khắp thiên hạ, thêm dại mặt”, tuy chàng chưa có
tang chứng là Quỳnh hư hỏng hẳn hoi... Vì lẽ chàng nông nổi cho nên hành vi ấy,
chàng tưởng tượng rằng chín chắn và sâu xa lắm.
Lấy vợ xong, Liêm ra ở riêng ngay. Từ trước ngày cưới, chàng
đã vâng theo ý cha mà tìm một căn nhà tuy nhũn nhặn song cũng khả quan, ở phố Bờ
Hồ. Như vậy, vừa tiện cho chồng đi dạy học tư, vừa gần cho vợ đi trông hàng ở
phố Hàng Gai, như trước. Nhà chàng ở sau lưng đền Ba Kiệu, có một phòng khách,
một phòng ngủ, và một mẩu gác sân. Chồng lại sẽ vẫn đi dạy học, vợ cứ theo đuổi
việc buôn bán, mỗi tháng cả hai, tuy không kiếm được nhiều tiền nhưng chẳng sợ
thiếu, mặc dầu mai đây, sẽ lâm cảnh con sài, vợ đẻ. Nghĩa là chẳng phải khó nhọc
gì cả, hai vợ chồng cùng chiếm ngay được trong xã hội cái địa vị trung lưu. Như
thế, đáng lẽ phải hưởng hạnh phúc rồi, còn gì! Liêm gật gù cái đầu, lòng tự nhủ
một cách vu vơ: “Thật thế, đáng lẽ ta phải sướng cực điểm nữa!”.
Cái câu nói vô thanh mà rất gay gắt từ trong thâm tâm ấy khiến
Liêm nhớ lại cả mọi việc tỉ mỉ trong cái đoạn năm ngày đầu của một người tân
lang... Lòng chàng lại hầu như sôi nổi lên vì cái căm hờn mọi sự đáng giận. Vì
lẽ trong mọi thứ nghi lễ phức tạp, chàng đã nhất nhất tuân theo mọi điều ỏe họe,
nhất nhất khuất phục mọi sự bó buộc của họ nhà gái, với cái chủ tâm là một khi
Quỳnh về hẳn tay chàng rồi thì chàng sẽ hành hạ cho bõ, cho nên đến bây giờ,
sau năm ngày phối hợp rồi, mà chưa có dịp nào để gây sự, chàng lại càng tức giận,
thấy mình chỉ là đồ ngu.
Thật vậy, chưa một người con trai nào lại phải lấy vợ một
cách... nhục nhã đến như thế. Ngày đầu, Liêm phải quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên
của bố cô dâu, ở nhà bà phán Hòa, nhà cậu mợ chàng. Rồi hôm nhị hỉ, lại phải xuống
Nam Định... thủ lễ với người bố dượng của vợ nữa! Đã “năm cha ba mẹ” như thế,
Quỳnh vẫn chưa thấy đủ hổ thẹn; và mẹ nàng, bà tham Bích, lại còn cứ vác mãi mặt
lên nói hợm, rõ mới đáng ghét làm sao! Và về phần bà mẹ Liêm, thì bà rất không
bằng lòng vì đã phải lo vào việc đám cưới ngót tám trăm bạc.
Nghĩ đến đấy, Liêm lẩm bẩm chua xót: “Tám trăm bạc để lấy một
con vợ như con Quỳnh!”. Chàng nghĩ vậy mà không nhận ra rằng ở phút này chính cái
tiếc tiền đó làm cho chàng đê hèn, vì lẽ cái hư hỏng của Quỳnh vẫn chưa có bằng
cớ đích xác. Chàng đã định gây sự ngay đêm tân hôn, song bữa ấy mệt quá, chàng
đã ngủ lăn ra như một người đã có vợ hàng mấy năm, cũng chẳng hỏi đến vợ nữa, mặc
dầu vào đêm tân hôn. Đến hôm nhị hỉ, hai lượt ngồi xe hơi đi Nam và ở Nam lại về,
cùng với những cốc rượu phải uống với ông bố dượng của vợ, đã làm cho Liêm mệt
nhoài cả người, cũng như vào đêm trước. Còn những lúc ban ngày, chẳng có phút
nào được đôi hồi với vợ, chàng đã bận bù đầu với trăm, nghìn việc phiền nhiễu
và không có tên. Thật ra, Quỳnh chỉ mới hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chàng
có ba đêm nay mà thôi, vì cô dâu sau ba ngày đầu, đến ngày thứ tư đã lại tiếp tục
công việc buôn bán, để giữ tiếng...
Ba đêm, Liêm đã toan hỏi tội Quỳnh! Nhưng mà... tiếng gọi của
xác thịt vẫn là mạnh hơn cả lòng ghen tuông bóng gió nữa. Vả lại trong những
hành vi ngôn ngữ, tuy nhiên cũng vận khả ái của Quỳnh, chàng lại mất cả cương
quyết, cho rằng hãy hoãn lại sự trừng trị một vài ngày thì cũng không sao. Liêm
tìm được cái cớ này, bất cứ vào lúc nào: chẳng đi đâu mà vội! Và đêm đầu, vào
lúc chàng ăn nằm một cách chính đại quang minh với vợ mới cưới, Liêm đã quên cả
vũ trụ, vì lẽ được chiếm cả một căn phòng rộng rãi, nó khiến anh chàng có được
những tự do đặc biệt, thật hơn nhiều cái vụ lén lút, vụng trộm, hấp tấp, vấp
váp, ngượng nghịu ở nhà Cử Tân... Chàng đã làm chủ cái thân thể gái đương thì ấy
một cách hằn học, với những sự mơn trớn phũ phàng, như là một người hạ thủ
trong một sự rửa hờn, hay là một tội ác. Quỳnh, ngây thơ, vẫn coi sự “mất tiền
mua nâm thì đâm cho thủng” ấy là ái tình.
Nàng đã đáp lại chồng như một người vợ ngoan. Hai cái xác thịt
rung động vì những ý nghĩ bất đồng mà đã có sức mạnh làm cho hai linh hồn hình
như đồng cảm. Và thói thường, cái này lôi cuốn cái kia...
Cho đến hai hôm sau, vẫn lại là một thứ ái ân hằn học của người
đàn ông sẵn một định kiến với người đàn bà thực thà, như thế. Ngũ quan của đôi
bên đã vô tình hợp nhau, cũng như những cặp vợ chồng đã chê nhau rồi, thì khi
biết mùi đời, đã bị kích thích, mà hóa ra say đắm nhau. Bởi thế cho nên cứ mỗi
bữa sáng hôm sau, Liêm dậy rất trưa, ác cảm vợ, tự khinh bỉ mình, nói những lời
không được ngon ngọt phản động lại một cách quá muộn. Còn về phần Quỳnh thì nàng
cũng có kinh ngạc, khi thấy rằng ban ngày người đàn ông tỏ vẻ ghét mình bao
nhiêu thì ban đêm lại như thiên hạ nói tục - “đâm đầu vào” - một cách nồng nàn
và vô liêm sỉ bấy nhiêu! Vài bữa như vậy đã khiến Quỳnh lấy thế làm quen đi
ngay, vì nàng yên trí rằng đàn ông nào hẳn cũng xấu thói như nhau cả. Những lời
gắt phủ, văng tục của người chồng chẳng đủ khiến người vợ phải nghĩ đến phải phản
động lại, vì lẽ tuần giăng mật chẳng phải là không có để chút dư vị ngon ngọt lẫn
vào những chất tân toan.
Liêm cũng vậy. Chàng kiếm cách gây sự, nhưng vợ lại cứ rất
ngoan. Đã có lúc chàng thấy mình vô lý, có lỗi, hay mặc dầu xưa kia quả thật Quỳnh
có “làm sao” đi nữa, thì nay chàng cũng nên cố nhắm mắt làm ngơ, cố tha thứ, dĩ
hòa vi quý cho xong, bởi lẽ dẫu sao, nay người ta cũng đã là vợ mình rồi, vả
trong thế gian, nếu ai có lấy vợ để cho làm đĩ thì mới đáng nói. Cái nguyên vẹn
về tân tiết của Quỳnh, chàng biết rõ ngay vào lúc chưa cưới mất rồi, chàng còn
biết nói ra làm sao? Việc về trước, hiển nhiên không có gì; chỉ có những việc xảy
ra mói đáng để ý.
Nhưng không phải lúc nào Liêm cũng nghĩ như thế cả. Thỉnh thoảng
chàng lại nhớ đến cái thư ác nghiệt và khó hiểu kia. Nghĩ đến lá thư, cố nhiên
phải nghĩ đến cái thằng đã gửi lại cho nàng cái lá thư chính Quỳnh đã viết. Và,
nghĩ đến con người bí mật ấy, chàng cố nhiên phải nghĩ đến bao nhiêu thiếu niên
đã từng trêu ghẹo vợ chàng ở căn hàng tạp hóa phố Hàng Gai. Cố nhiên những lúc
vợ kêu đi ra hàng, thì Liêm lại không chịu nổi nữa, chỉ muốn bắt đóng quách
ngay cái cửa hiệu lại, chẳng buôn thì đừng bán! Thỉnh thoảng Liêm lại giật mình
lo sợ cái vạ mọc sừng như tất cả đàn ông khác đáng phải lo sợ vào thế kỷ hai
mươi:
Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp? Con chàng? Con ai?
Ấy là hai câu phương ngôn từng làm cho Liêm phải nghĩ lẩn quẩn
một cách rất bần tiện.
Cho nên sáng hôm nay, Liêm phân vân chẳng biết có nên hay
không đến cửa hiệu để... làm gì đó... hay để đối phó với những “công tử bột” có
thể đến trêu ghẹo vợ mình. Tuy chàng vẫn yêu, nhưng vẫn cứ ghen. Tuy chàng đã rất
nghi vợ, nhưng chàng vẫn muốn cho vợ là không đáng nghi chút nào. Nói tóm lại,
Liêm vẫn chóng mặt vì đứng giữa những vòng của một chiếc đèn cù, lẩn quẩn,
loanh quanh. Lúc nào mất trí khôn, chàng tưởng mình khôn, chàng sợ mình ngu dại.
Trái lại, Quỳnh bình tâm hưởng cái sung sướng nhỡn tiền, vững
dạ tin ở tương lai, không biết rằng trong tâm hồn của người chồng mà nàng bắt đầu
nghiệm thấy có nhiều tính xấu nhỏ nhặt, lúc ấy đương có cái khởi điểm của một
trận bão tinh thần khủng hoảng rất lớn. Đi ngoài đường, nhìn những cô gái nhỏ
còn cài lược, nàng có ý muốn phô: “Ta đã có chồng, đã là người lớn rồi, các em
ơi”. Ngồi trông hàng, Quỳnh chỉ lo có người vào lấy cớ mua hàng mà nói chòng ghẹo...
Vừa ngồi nóng chỗ, nàng thấy ngay Thanh. Cô này tơi tả bước
vào, ngọt nhạt xin lỗi đã không đi ăn cưới, hỏi thăm Quỳnh mấy câu qua loa về
việc chồng con, và nói đùa một cách táo tợn như đàn ông trêu nhau :
- Gớm, mới lấy chồng có năm hôm mà đã mình gầy mặt võ...
Quỳnh vừa sướng vừa thẹn, đấm Thanh thùm thụp :
- Im đi! Rõ đồ phải gió ở đâu ấy!
- Chào! Lại còn vờ!...
Đối lại sự bông đùa thô kệch, Quỳnh cũng van xin một cách kệch
cỡm :
- Em lạy chị đấy! Chị đừng nói thế!
Thanh hợm hĩnh :
- Nào! Có thế chứ! Nghĩa là đây làm cho biết phép, đã biết chịu
thì đây cũng sẵn lòng tha cho...
- Vâng! Vâng! Bà lý sự lắm, thôi tôi xin lạy cả nón nhà bà!
- Nón đâu? Có lạy cả nón thì phải nón tân thời đấy nhé?
Cả hai lại rộ lên cười. Hồi lâu, Thanh nghiêm mặt nói :
- À quên chị ạ, em phải xin lỗi chị mới được! Thế có chết
không!
- Làm sao? - Quỳnh trợn mắt hỏi thế.
- Cái thư chị viết hộ em đấy mà? Mất rồi! Không biết mất từ
lúc nào, ở chỗ nào, thế có khổ không? Hay rơi ở đây? Em về nhà, giở gói không
thấy...
Quỳnh lắc đầu :
- Không làm gì có sự rơi thư ở đây. Có thế mà cũng mất, rõ đoảng
thật!
- Hôm sau em toan lại ngay để tìm, nhưng chị đi đâu vắng...
Không hề nghĩ đến sự can hệ của sự mất cái thư do tay mình viết
ra trong một lúc dại dột như thế, Quỳnh chỉ trỏ vào mặt bạn, giao hẹn :
- Mất thì thôi, tôi không có làm đầy tớ lần nữa đâu nhé!
Thanh chép miệng :
- Gớm! Rõ làm bộ! Nhưng không có thư thì chuyện cũng xong rồi.
- Sao? Đầu đuôi ra sao?
- Em cự tuyệt bằng miệng, đúng giọng cái thư của chị như in. Nó
sợ quá, xin lỗi mãi, từ đấy lại quý hóa em như cũ! Đấy chị xem, đối với giống
đàn ông, không thế không xong! Họ là thân con lừa, chỉ ưa nặng. Nếu mình nhụt một
lần, nó sẽ bắt nạt mình suốt đời! Phải ra oai mới được!
Quỳnh gật gù cúi đầu, nghiêm trang :
- Chị nói rất có lý. Họ bắt nạt được mình một lần là họ cứ bắt
nạt mình mãi mãi.
Rồi Quỳnh ngây người ra vì căm tức sự đối đãi hỗn xược của
Liêm. Nàng quyết có một chương trình xử thế ngay từ đây. Cho mãi đến buổi trưa,
Thanh vẫn cứ ngồi ám mãi. Tuy nhiên, mặc dầu phải hỏi, phải đáp, Quỳnh cũng vẫn
như chôn vào ruột cái lời của người bạn gái vừa mói có kinh nghiệm: “Đàn ông ưa
nặng như con lừa, không ra oai, không xong!”./p>
II
Trận cãi nhau thế mà hóa ra kịch liệt. Cái sẩy nẩy cái ung.
Liêm và Quỳnh chỉ còn chờ nhau một lời nói nặng, hoặc một cử chỉ phũ phàng, là
quả quyết nói phăng ngay đến sự ly dị nhau. Tức quá, Quỳnh không còn đủ sức
khóc lóc như nàng vẫn có tính ấy. Đối lại, Liêm vẫn cứ vũ phu như thường!
Nguyên nhân là một điều rất nhỏ mọn.
Suốt ngày hôm ấy, Liêm nằm nhà, lúc ngủ gà ngủ gật, lúc đọc
báo, nhưng lúc nào cũng sôi nổi vì một mối ghen tiềm tàng, vô căn cứ. Đến tối,
mãi đến bảy giờ, Quỳnh cũng chưa về ăn cơm. Liêm đã phải mặc quần áo, tức tốc
chạy đến phố Hàng Gai. Thì ra chỉ vì bữa ấy, hàng đông khách. Mà khách hàng
nào? Một bọn cũng công tử bột, đầu trâu mặt ngựa, mua ít, nói nhảm nhiều, cứ
như khêu gan nhể ruột Liêm. Chàng tưởng chừng không xong được nữa, phải được giết
ngay một người nào thì mới hả giận, bởi lẽ vợ chàng vẫn cứ tiếp khách một cách
niềm nở mà chàng cho là vô ý thức. Mãi nửa giờ sau, Quỳnh mới giao được hàng
cho người cô, lẽo đẽo theo chồng về nhà. Suốt dọc đường, vợ chồng hằn học đi cạnh
nhau, không ai nói gì cả.
Về đến nhà, việc thứ nhất của Liêm là cần một chiếc chén tống
đập mạnh xuống đất. Một tiếng bốp dữ dội, những mảnh vỡ tung tóe bắn lên. Đó là
cái chén thứ nhất trong đời Liêm cũng như trong đời Quỳnh. Cho nên nó gây ra những
mối xúc cảm rất mạnh. Quỳnh tưởng chừng như vừa mới thoát khỏi chết, bởi có một
tiếng sét đã đánh xuống chỗ gần nàng. Thật vậy, nàng không ngờ rằng người chồng
ấy lại có thể đến như thế. Còn Liêm lần đầu tiên được biết cái thi vị của sự đập
đồ, phá phách, đã tiện tay muốn đập thêm một cái nữa, nếu không thấy vợ mặt mũi
đã xám lại một cách đáng thương. Người vú già thấy cậu mợ có chuyện đến nơi,
không những chẳng đứng can ngăn mà còn chạy thẳng một mạch xuống bếp, đi trốn.
Hai vợ chồng đều không ai nói gì cả, hình như gầm ghè nhau,
rình mò nhau, định bắt thóp nhau... Liêm đã ngồi xuống ghế, Quỳnh vẫn đứng sững
ở một góc nhà. Trên bàn, cái mâm cơm có chiếc lồng bàn, lù lù, vẫn còn nguyên.
Nhất định không ai thèm nói gì với ai, cho nên chỉ ba phút về sau thôi, cái im
lặng là nặng nề và khó chịu lạ, và thời khắc cũng hình như dài lạ. Mãi về sau,
có lẽ đã ngẫm nghĩ kỹ lắm, cho nên người vú già lẳng lặng xách ấm nước lên, khe
khẽ chế vào ấm giỏ, rồi cúi xuống rón rén nhặt những mảnh chén vỡ ở phía sau
lưng Liêm. Hình như người đàn bà ấy chỉ sợ chủ trông thấy...
Sau cùng, ấy là Quỳnh phải nói :
- Phiền thật thôi!
Nói xong một câu, thấy đã có đủ can đảm để nói nữa, nàng lại
thở dài một cách không tự nhiên cho lắm, chép miệng mà rằng :
- Phiền quá! Lấy chồng thế này thì khổ thật!
Liêm đứng phắt lên, đẩy ghế đánh xoảng một cái về sau lung, hầm
hầm :
- Thế thì bỏ chồng ngay đi! Bỏ ngay đi xem!
Thâm gan tím ruột, Quỳnh phân bua :
- Ấy là anh bắt đầu nói thế trước nhất đấy nhé! Anh Liêm! Đừng
bao giờ anh quên chính anh đã nói thế đấy nhé?
Liêm không ngờ đâu rằng vợ chàng lại biết kết án chàng một
cách tinh khôn và đáng ghét như thế. Chàng quát lên một cách vô nghĩa lý :
- Thôi câm đi, đồ ngu!
Quỳnh lắc đầu, làm ra vẻ thản nhiên :
- Ai làm gì? Ừ, ai làm gì mà ngu?
Liêm đập mạnh xuống bàn, rít răng lại :
- Câm đi!
Cái vô nghĩa lý của chồng không làm cho vợ sợ, và trái lại nữa.
Cho nên Quỳnh cười nhạt một cách trịch thượng, nói như bâng quơ :
- Lạ thật, nào ai làm gì! Ấy là mới lấy nhau được có năm hôm
nay mà thôi!
Chồng làm một hơi liền :
- Phải, thật thế, mới có năm hôm thôi... Nhưng mà năm hôm
thôi, cũng đủ dài hơn là năm thế kỷ! Mới có năm hôm thôi, mà người ta cũng
không chịu nổi nữa rồi!
Những lời lẽ như thế đã mở đầu cho một cuộc cãi nhau tay đôi.
- Không chịu nổi nữa! Không chịu nổi nữa! Thì ai người ta làm
gì mà bảo không chịu nổi! Ghen đâu lại có thứ ghen vô lý như thế nữa! Chả nhẽ
cô Phán cô ấy bận, mà hàng đương lúc đông khách, buôn thì buôn chung, mà lại bỏ
đấy về ăn cơm! Như thế, mặc kệ người ta, thì người ta cũng mặc kệ mình, buôn
bán mà lại bỏ hàng vì sợ ăn cơm muộn, nghe làm sao được! Cậu có đói thì cậu ăn
cơm trước đi có được không, tôi có dám bắt cậu phải chờ tôi đâu! Chờ được một
vài giờ đồng hồ mà đã làm như thế, thì còn lình nghĩa gì nữa!
- Thôi câm đi, đồ khốn nạn! Này, bảo thật cho mà biết đấy
này: đừng có lấy cớ buôn bán! Không ai mù! Đùng tưởng người ta không nói gì là
người ta không biết đâu! Khi thằng này mà đã phải nói thì có đứa phải chết!
Buôn bán... buôn bán cái con khỉ! Đừng có lấy cớ buôn bán...
- Lạ thật, cái gì mà lấy cớ với không lấy cớ? Ai người ta làm
gì? Nào ai trai trên gái dưới gì, nay thằng này mai thằng khác gì, mà bảo lấy cớ?
Ghen đâu lại có thể ghen như thế...
- Ờ! Ờ thôi, đừng có nói nữa! Không ai ghen đâu! Người ta
ghen cho đã phúc! Người ta chỉ khinh bỉ thôi, thật thế, người ta chỉ khinh bỉ
thôi! Đừng tưởng cái giá trị ấy là to lắm đâu... Câm đi không mà người ta phỉ
nhổ cho vào mặt ấy! Phiền, bảo lấy chồng là phiền, nhưng mà đứa nào đã gây ra
cái phiền? Chỉ có thế đấy, không muốn phiền thì bỏ đi, bỏ phăng đi!
- Cũng chưa biết chừng!
Cho nên cuộc cãi vã là không còn phương gì cứu chữa được nữa.
Khi đã nói những lời nặng đến thế rồi, người ta chỉ có thể tàn nhẫn hơn thế nữa
mà thôi. Dẫu ai có ý muốn nhường nhịn thì cũng là không kịp nữa.
Liêm nhắc lại :
- Ừ, bỏ phăng ngay đi! Đi theo thằng nào thì đi!
Giả dụ vào lúc khác, hay không có chuyện gì khác làm cho phải
bực tức, có lẽ Quỳnh chỉ buồn cười lăn ra mà thôi. Nhưng đến bây giờ nàng cũng
không thấy sự ghen tuông bóng gió của chồng là khôi hài nữa. Nàng rắn rỏi, cứng
cỏi nhắc lại :
- Thật thế, cũng chưa biết chừng!
Nói thế xong mới kịp hối hận: Quỳnh bèn chữa ngay bằng một
cách nói thêm nữa :
- Chồng con mà thế này thì có đến... ai cũng không chịu nổi nữa!
Như thế thì còn làm ăn buôn bán gì nữa mới được chứ? Không lẽ người ta vào hàng
lại đuổi người ta ra? Không lẽ muốn được tiếng là đứng đắn, là đoan chính, thì
lúc nào cũng phải mặc sưng mày xỉa lên đối với khách!
Không thể chịu được nữa, Liêm chạy đến trước mặt vợ, giơ cao
tay lên... Chàng muốn đánh vợ lắm, rồi lại không dám. Quỳnh trước mặt chàng,
tuy nhiên cũng vẫn có cái gì như một thứ oai. Liêm bèn nói nặng :
- Có câm đi không, đồ đĩ!
Đã trót giơ cao lên mà lại không dám đánh, ắt phải ngượng mặt.
Muốn chữa cái hổ thẹn ấy, Liêm không còn cách gì khác là nói một câu gì nặng
hơn những lời lẽ trước nữa, cho nó cân. Giá dụ Quỳnh khiếp phục, im đi, thì
Liêm sung sướng lắm, có thể làm lành được, vả lại trong thâm tâm, chàng cũng chỉ
cần có thế. Nhưng vợ chàng lại do thế mà xung điên lên. Đồ đĩ, nó là một thứ
tàn tệ nhất cả, Quỳnh không thể nào chịu được. Nàng cũng đứng phắt lên nhìn trừng
trừng vào mặt chồng ra ý khinh bỉ, lẻn đứng ra xa vài bước, rồi nhổ nước bọt xuống
đất như vừa mới tránh thoát một vật đáng ghê tởm, nàng thách :
- Nói nữa đi, cứ việc sỉ nhục nữa đi, cứ chửi rủa nữa đi!
Nhổ nước bọt vào mặt mình! Liêm đã nghĩ thế, cũng như, vào
trường hợp ấy, bất cứ một người chồng nào cũng đã phải nghĩ như thế. Và như thế,
thì còn người chồng nào tha thứ cho vợ được, nhất là Liêm cũng chỉ là một người
tầm thường, và, nếu cần, thì rất có thể giở mặt, hóa ra vũ phu bằng cả chân và
tay. Cho nên Liêm chạy ngay đến, túm lấy áo ở ngực vợ đẩy lẳng mạnh một cái,
làm cho Quỳnh ngã ngửa xuống cái giường tây thấp, đầu tóc xổ rũ rượi...
Không đau, Quỳnh ngồi ngay lên, chỉnh đốn lại đầu tóc, khăn độn,
thất thanh hét lên y như những đàn bà vẫn thường đánh nhau với chồng tay đôi.
- Đánh nữa đi, đánh chết người ta đi, giết chết người ta đi,
mà xem!
Liêm không cho vợ được ngồi lên, cúi xuống giơ sẵn hai tay,
trỏ vào mặt vợ, giở ngay đến giọng mày tao, sừng sộ hỏi :
- Ừ, tao đánh mày đấy, thì sao? Mà sao! Mà xem mày định làm
gì! Hở! Đồ khốn nạn, đồ đĩ! Mày định bỏ tao ngay bây giờ lập tức, có phải
không?
Cũng chột dạ, sợ bị đòn, Quỳnh cãi một cách nhụt :
- Không ai làm gì mà bảo là đĩ! Người ta chẳng làm gì mà khốn
nạn! Chửa có ai bắt được con này nay thằng này mai thằng khác! Nếu buộc tội hư
hỏng thì cũng phải có chứng cớ, dâm có tang, đạo có tích!
- Ái chà! Ái chà!
- Thật thế, con này không có sợ! Cũng chưa hề có lẳng lơ, dâm
đãng gì, mà bảo là hư! Không có chồng mà còn đi ngủ với trai mà thôi, không có
sợ đứa nào cả! Đừng có hàm hồ! Đừng có ghen vô lý! Không việc gì mà mày tao!
Liêm nghiến răng :
- Này, này, mày câm đi! Mày đừng có già họng! Mày có hư hỏng,
lẳng lơ hay không thì tự mày, mày cũng đủ biết, thì cái lương tâm mày, nếu mày
có lương tâm, nó cũng đủ biết! Không ai cần phải buộc tội nữa mà phải cần cãi!
Đừng có vội gái đĩ già mồm! Thật thế đấy, cứ tự vấn lương tâm mà xem! Hư hỏng
hay đoan chính, cái thằng này mà lại còn không biết nữa à?
Quỳnh cúi mặt xuống, hổ thẹn, thấy nhục nhã, không biết cãi
sao được nữa. Thật vậy, khi chồng nàng đã nói đến thế thì thôi, là nàng phải
câm. Cái bữa ái ân vụng trộm, sự nhu nhược, lòng yêu, cái cả nể của Quỳnh ở nhà
Cử Tân, nay thốt nhiên giáo giở lại cả, đã trở nên những chứng cớ đích đáng để
cho chính Liêm, người đã lừa dối nàng, đã lạm dụng lòng tin của nàng, bây giờ xỉ
vả nàng một cách đắc thắng lắm. Nàng cúi gằm mặt xuống đất, không còn đủ can đảm
nhìn lên.
Thấy thế, Liêm khoanh tay lại, nhìn hồi lâu.
- Ấy đó! Bây giờ thì mày hiểu ra rồi, biết tội rồi! Thế là phải
lắm, là biết điều lắm, tao rất muốn như thế! À, thì ra mày cũng như thế! À, thì
ra mày cũng vẫn có lương tâm cho nên cái lương tâm của mày nó mới cắn rứt mày,
làm cho mày không được gái đĩ già mồm nữa, phải câm đi! À, thì ra mày đã thú tội,
đã biết xấu hổ, cho nên không dám cãi nữa, mà cũng không có gan nhìn thẳng vào
mặt tao nữa! Nhưng mà cũng đủ rồi. Cái tội lẳng lơ, có thể nay thằng này mai thằng
khác được, ai chim cũng được , thích cho con trai chòng ghẹo, với ai cũng cười
híp mắt lại, cũng liếc mắt đưa tình, một trăm thằng nhân tình cũng chưa chắc thỏa
mãn cái thần xác, những cái tội ấy, dẫu là đã phạm rồi, hay là nay mai mới nhận
thì mày cũng đã đều thú nhận cả! Đồ khốn nạn là thế! Đồ đĩ là thế! Bỗng không
ai hơi đâu gây sự với mày, lục đến tội mày! À, tao đã không muốn nói, tao đã
câm đi, tao đã nhịn như nhịn cơm sống, nhưng mà mày cứ bắt tao phải nói! Mày có
biết không? Tao vẫn sợ mày từ khi chưa lấy mày! Vậy mà tao cứ lấy mày, để hành
hạ mày, để sỉ nhục mày, cho cái tội lẳng lơ, hư hỏng của mày, cho bỏ cái tội
mày lừa dối tao!
Quỳnh bàng hoàng lắm, tâm thần rối loạn, không dám tin lấy sự
thực hiển nhiên, nhỡn tiền, có thể chồng nàng như thế được chăng? Than ôi, nàng
tưởng chừng như... và nàng cũng mong rằng đó chỉ là nàng đương ngủ phải một giấc
ác mộng. Tuy nhiên, những lời hằn học ghê gớm của chồng nàng vẫn đương rõ mồn một
từng tiếng ở bên tai.
- Tao muốn biết cái thằng nào là thằng nhân tình của mày, từ
trước khi mày lấy tao, ừ, nó là ai, mà chúng nó là những ai? Một thôi hay nhiều
lắm? Đó là những thằng nào? Mày nên sửa soạn đi, cắt đặt đi, vì mày chết đến
nơi rồi đó! Tao cho mày vài ngày để đáp lại những câu hỏi của tao.
Ngừng một lát, Liêm lại nói :
- Ra mày vẫn tưởng xưa nay tao không biết gì cả! Nhưng mà...
thôi, tao cũng không thèm căm hờn gì mày! Có ai lại trách một con đĩ! Tất nhiên
mày phải như thế, khi mày là con một người đàn bà như thế. Vì rằng bà tham Bích
mới có tội. Góa chồng, rồi đi lấy phăng ngay chồng! Ai giáo dục mày mà mày lại
không hư hỏng, nhất là khi mày đã trông thấy một cái gương xấu như thế? Cái nhà
dột bao giờ cũng dột từ nóc dột xuống! Đáng thương!
Sau cùng, Liêm cầm mũ, gọi vú già lên, dặn hách dịch :
- U già! Bưng mâm cơm này xuống bếp, đổ cho chó nó ăn!
Chàng nói xong, lẳng lặng ra đi, sau khi đẩy cửa đánh thình một
cái.
III
Hai giờ đêm rồi!
Gió bấc nổi từng cơn ào ào, những giọt mưa mỏng manh như bụi,
lấm tấm bay... Thật là cảnh trời sầu đất thảm, nhất là vào lúc cuối năm, cả một
xã hội ai nấy cũng đều điêu linh vì lo chạy cái Tết khốc hại. Trông thấy cảnh
mưa phùn gió bấc, Liêm cũng có băn khoăn nghĩ đến cái ngày xuân, nay mai, nó sắp
tới, nhưng nó chẳng vui gì. Tuy chàng đương đau khổ lắm, song khi trông thấy,
trên hai vỉa hè của các phố vắng vẻ, thỉnh thoảng có bóng dáng của một vài người
ủ rũ trong đêm khuya, chàng cũng chạnh lòng nghĩ đến cái nghĩa nhân sinh phiền
phức của cuộc đời, và thấy rằng cái khổ của chàng có lẽ chỉ là một thứ khổ sướng.
Rồi chàng thấy nóng ruột lắm, không biết Quỳnh ở nhà hiện giờ làm gì, ra sao...
Chàng rờn rợn lo sợ một cách vu vơ thấy mình hình như có tội, hĩnh như đã phũ mồm
quá.
Liêm quay lại bảo Cử Tân :
- Này anh, anh!... Hay là... hay là tôi về?
Cử Tân ngồi nhổm ngay lên, sửng sốt như bị một kẻ xúc phạm rất
nặng, gay gắt hỏi :
- Mais qu’est ce que tu me chantes, crénom de Dieuz 1.
Liêm lắc đầu, làm ra vẻ lần khân :
- Thôi, xin lỗi anh thôi, tôi không về thì không xong!
Cử Tân, với một thứ giọng bất kỳ chua lanh lảnh :
- Rõ đồ khốn nạn ở đâu ấy! Tao đùa với mày đấy à? Tự nhiên
mày chạy đến nhà tao, mày kêu là mày đi ngủ lang đêm nay vì mày đã cãi nhau với
vợ mày, thế rồi tao cho bồi đi mua thuốc, hút để thức đêm với mày, rồi tao lại
cho đi tìm mấy người bạn gái nữa đến đây cho nó vui chơi một đêm, vì mày, mà
bây giờ mày lại đòi về! Tao xin hỏi ngay đến Thượng đế rằng mày như thế là có
phải hay không!
Liêm vỗ vai người bạn đương cáu, xin làm lành :
- Thôi, thôi, mày im đi, tao lạy mày nữa, tao nhất định ngủ lại
đây vậy!
Cử Tân đã nguôi, nhưng cũng còn tức, lại được thể nói tục hơn
nữa :
- Mẹ kiếp! Chứ con giai con giếc mà thế vợ nó sẽ nhổ vào mặt
cho! Đã giận thì cho nó ra giận, đã đi chơi đêm thì phải cho nó ra đi chơi đêm!
Một vài lần dọa, có thể nó mới sợ mình... chứ cứ cái chính sách nửa vời như thế,
cương đấy lại nhu ngay đấy thì nó còn sợ đếch gì mình nữa! Ông ghét nhất những
thằng vừa đánh vợ xong mà lại làm lành với vợ ngay, nhoen nhoẻn ngay như chó với
mèo, ban ngày vừa thượng chẳng chân hạ căng tay xong, ban đêm chưa chi đã lại
rúc đầu ngay vào với nó rồi! Đê nhục lạ một cách! Những thằng như thế tao truyền
đời báo danh cho mày biết không sợ vợ thì cũng mọc sừng nay mai thôi.
Liêm cười nhạt để chữa cái hổ thẹn, van vỉ :
- Thôi thì tao lạy mày nữa! Sao mà mày nói như đàn bà ấy thế!
- Khốn nhưng mà những hạng “cu ngẩu” mới nhớn lên như mày, nếu
không có người nào mở mắt thì không xong cơ!
Liêm ngồi xuống cởi áo dài ra, vứt xuống cái ghế trường ở bên
cạnh để tỏ ra mình đã nhất định không đòi về nữa. Cử Tân ném gói thuốc lá thơm
về phía trước mặt Liêm, mời trịch thượng như ra một cái lệnh :
- Hút đi! Rồi kéo vài điếu thuốc phiện nữa để mà nói chuyện!
Vợ mày nó ngủ một mình một đêm thì đã sao đâu! Đòi về nhặng mãi!
Liêm ngoan ngoãn lại nằm xuống sập, tuy trong lòng vẫn phấp
phỏng, tưởng chừng như sắp có một sự gì sẽ xảy ra. Cử Tân lại bàn rộng chung
quanh cái cử chỉ lúc trước của người bạn trẻ :
- Thật đấy, mày cứ liệu ngay từ giờ đi thì vừa! Phương ngôn
đã có câu: Dạy con từ thuở con thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về...
Liêm phì cười, ngắt :
- Mày cừ nhỉ? Tao không ngờ một người gần vong bản như mày mà
còn nhớ phong dao...
- Chứ lép! Nếu mày không biết ra oai một vài lần, đánh mắng
phủ đầu đi cho vợ mày nó sợ trước đi, nhỡ mà cho con vợ mày nó nhờn, nó lấn áp
mày, thì rồi mày chết. Thì rồi thế nào mày cũng sợ vợ. Mà anh phải biết cái điều
này mới được nhé? Là càng những thằng yêu vợ, sợ vợ, quý vợ, thờ vợ, thì lại là
những thằng có nhiều sừng nhất ở trên đầu! Đấy, mày cứ ngẫm mà xem tao nói có
đúng không? Những thằng chồng mọc sừng phần nhiều là những thằng dễ thương cả,
yêu vợ cả, mới là những thằng chồng có vợ trung thành vào bậc nhất! Nỗi đời nó
lại vô lý như thế mới chó chứ?
- Anh nói đúng lắm.
Đáp thế xong, Liêm ngẫm nghĩ mãi về những lời ấy, và càng ngẫm
nghĩ, chàng lại thấy là đúng sự thực. Do thế, chàng được yên tâm. Chàng không
lo mình đã phũ mồm, đã quá đểu với vợ nữa. Trái lại Liêm còn cho mình là phải nữa,
nhất là sau khi, với luận điệu xác đáng kia, ông bạn từng trải đã vô tĩnh an ủi
được mình. Liêm nghĩ đến câu phương ngôn: Có hạng đàn bà thích bị đánh đập. Quỳnh
có thể ở vào hạng ấy được lắm, và nếu Liêm không mắng, không sỉ nhục, không
đánh đập, thì có khi không xong! Trong óc Liêm bây giờ, cái giá trị của đám phụ
nữ chỉ còn cái giá trị nô lệ. Không, không, sỉ nhục vợ, Liêm chỉ đã giữ đúng
cái bổn phận của người làm chồng! Không ai có quyền gì được nói vào đấy, mà cả
đến Quỳnh nữa, cũng không được phép oán hận! Những đàn bà được chồng yêu quý lắm
thì sẽ xỏ chân lỗ mũi chồng để đi ngủ với trai mà thôi!
Tuy nhiên...
Không, không được thật, không xong thật. Dẫu sao đi nữa, Liêm
cũng biết mình đã trót quá nóng. Mắng Quỳnh thì được, nhưng lại sỉ nhục Quỳnh cả
việc có một người mẹ không ở vậy thì quả thật đó không phải là chuyện chơi. Dẫu
sao, Quỳnh cũng không có lỗi gì, trong cái sự mẹ nàng đã đi bước nữa. Nếu Quỳnh
có tội thì bị mắng đã đành... Nhưng bị sỉ vả vô lý, chi cho khỏi Quỳnh không tủi
thân? Không, mình đã có lỗi. Nghĩ thế, Liêm băn khoăn lắm, vì rằng, dẫu sao,
chàng cũng chưa phải là người mất hẳn trí khôn. Nhưng mà đáng lẽ tự oán trách
mình, thì Liêm lại bị lòng tự ái xui giục cho nghĩ khác hẳn, lấy lẽ rằng ắt phải
có vì lẽ gì, chàng mới phải nói tàn nhẫn đến thế, và kẻ nào làm cho chàng phải
nói thế thì chính kẻ ấy mới có lỗi. Thốt nhiên, lỗi của Liêm bao nhiêu lại đổ cả
vào đầu Quỳnh! Trước ngọn đèn dầu lạc, chàng tần ngần giở hai lá thư, hai lá
thư mà không lúc nào chàng quên giữ trong mình như bùa hộ mệnh.
Trong lá thư đầu tiên mà Quỳnh gửi cho chàng, Liêm đã để ý đến
hai câu này: “Sự thực em cũng đã yêu vụng dấu thầm anh trong bao nhiêu lâu nay!
Bây giờ được anh ngỏ ý ra, em sướng quá, thật là hả lòng hả dạ”.
Đồng hồ đã đủng đỉnh điểm 3 giờ đêm, song Liêm không để ý.
Trong thâm tâm chàng, lại thấy sôi nổi một mối ghen tuông
hình như chính đáng lắm. Chàng tự hỏi: “Ừ, nó đã ‘yêu vụng giấu thầm’ bao nhiêu
người như thế trước khi nó yêu vụng giấu thầm ta?”.
Tư tưởng hoài nghi về dĩ vãng khiến Liêm lại đau khổ lắm, tưởng
chừng có thể khiến chàng quay về nhà ngay lập tức để lại gây sự với vợ một trận
nữa! Chàng tiếc rằng lúc ban chiều đã quên mất điều ấy, không đem ra căn vặn, để
sỉ nhục, để hành hạ... Chàng nhắc lại cho khối óc: “Ừ, đã bao nhiêu thằng đã được
nó yêu vụng giấu thầm như ta? Thật thế, vì rằng trên cõi thế gian, không phải
chỉ có một mình ta là đáng yêu mà thôi, cũng như không phải mình ta là người
con trai thứ nhất và cuối cùng, mà nó gặp trong đời nó! Không còn gì nữa, dám
chắc con này đã phải lòng nhiều người rồi, nó sẽ lấy người khác, và dẫu lấy ai,
hẳn nó cũng nói y như thế. Như vậy, còn đâu là cái trinh tiết tinh thần! Mà chỉ
cái trinh tiết tinh thần mới là đáng kể mà thôi!”. Liêm thở dài một cái.
Cử Tân ngừng tay tiêm hỏi đổng :
- Mày khổ gì thế? Sốt ruột à? Hối hận à?
- Không có gì đâu!
Liêm giở đến cái lá thư kia, tức là cái thư do chính tay Quỳnh
viết, không biết gửi cho thằng nào mà để cho thằng ấy lại gửi đến cho Liêm, cái
nguồn gốc mọi sự đau khổ của chàng. Đến lúc này, chàng bừng bừng nổi giận, thấy
mình ngu ngốc quá đi mất! Trước một sự nhỡn tiền như vậy mà chàng còn lại phải
hoài nghi... Thì cũng như hai với hai là bốn, Quỳnh đã có nhân ngãi rồi, sao
Liêm còn bị họa lai thần ám đến như thế nào mà vẫn không hiểu, vẫn chưa yên
trí? Vậy mà chàng lại còn sợ vợ mình bị mắng oan! Thật vậy, nếu Liêm mù lòa, ấy
chỉ vì tại chàng đã quá yêu vợ... Không, nay chẳng phải áy náy gì, cũng như
mai, chàng sẽ chẳng trù trừ gì, mà làm tan hoang một phen cho mà xem! Vả chàng
đã bảo vợ nên sửa soạn cái chết, mà vợ chàng không nói gì cả, vậy sự im lặng ấy,
vào trường hợp ấy, mà lại còn chưa là một cách thú tội? “Thật thế là mù lòa vô
cùng!”. Nghĩ thế, chàng lại thở dài một cái nữa, giữa lúc đồng hồ vừa điểm bốn tiếng
mà không biết.
Thốt nhiên, thấy dưới nhà có tiếng đẩy cửa, một chuỗi cười, một
hồi gót giày nện hùng dũng vào bực thang, Cử Tân bảo Liêm :
- Chết thật, không biết hai con bé đi đâu mà đến giờ mới lại!
Liêm sửng sốt :
- Ủa! Đã đến bốn sáng rồi! Thức khuya mà không thấy đêm dài
thì tệ thật!
Cánh cửa bị đẩy: đó là Khánh và Paulette, cô đầm lai. Cử Tân
hỏi trống không :
- Thế nào? Ở tổ quỷ nào chui ra đấy? Các em vừa đi lừa dối ai
xong thì về ngay đây, có phải không? Gớm thiệt, nhà mình thật là chỗ ba vạ.
Người đầm lai đấm Cử Tân thùm thụp mà rằng :
- Thối chửa, cho nó đi gọi người ta, lại còn kêu nhà ba vạ.
- Sao lại đến bây giờ mới về?
- Ở Royal Bar bước ra, gặp ngay cái thằng thổ tả ấy, cứ xe giờ
gióng ba đi mãi, đi mãi!
Trông thấy cảnh tượng ấy, Liêm nghĩ thầm: “Như Cử Tân thế mà
là phải! Chẳng yêu ai, chẳng lấy ai. Đàn bà nào cũng chỉ coi là cái đồ chơi chốc
lát, như thế, chẳng bao giờ phải khổ sở”. Khánh đến ngồi bên cạnh chàng, lấy
khuỷu tay thích vào vai chàng một cái. Liêm bèn nói nửa thật nửa bỡn :
- Gớm, em làm cho anh nhớ em làm sao!
Khánh bĩu mồm :
- Thôi đi, đừng bịa!
- Thật đấy chứ lại bịa!
Cử Tân nói đỡ :
- Anh ấy nhớ em quá cho nên anh ấy phải lấy vợ cho nó khuây
đi đấy! Nào, mời các tiên nga, xin các tiên nga nằm dài ra đấy để cho bỉ nhân
được hân hạnh gánh vác cái bổn phận của thằng bồi tiêm!
Mỗi chuỗi cười của cô đầm lai chấm cho câu pha trò có duyên ấy.
Khánh nằm cạnh Liêm nói hỗn :
- Gớm, cái mặt! Lấy vợ có khác: Võ vàng ra rồi! Có sướng
không? Thôi thế là từ nay mà đi, tôi với anh thế là hết tình hết nghĩa!
Liêm nắm lấy cổ tay Khánh, song cô gái giang hồ giằng ra, làm
phách :
- Thôi đốt anh đi! Anh có vợ rồi thì còn nước non gì!
Nằm dài bên cạnh người con gái có thứ nhan sắc ngây thơ ít
khi thấy ở bọn giang hồ như thế, Liêm tự hỏi một cách đau đớn: “Lạ thật, sao một
thiếu nữ như thế này lại phải đi làm cái nghề của chung mọi người? Ừ, nếu gặp ở
ngoài đường, liệu có ai dám tưởng người như vậy mà trụy lạc không? Con này nó
nghĩ gì? Nó sướng hay khổ? Nó có một khối óc không? Một quả tim không? Cái gì
đưa nó đến chốn này? Hư hỏng hay số kiếp?”. Rồi chàng đem cái hình ảnh của Quỳnh
ra so... Thật vậy, chàng, trong một phút mà linh trí sáng suốt ít có, hiểu rõ
cái mỏng manh về số phận của người đàn bà, của kiếp hoa, và câu “hồng nhan bạc
mệnh”. Chỉ cần một tí thôi, một thiếu nữ lương thiện có thể hóa ra trụy lạc được
rồi! Và cứ như hiện tình xã hội này và với phong trào vật chất ấy, với sự suy đồi
của thế kỷ như vậy thì đàn bà nào lại là không chịu một chút ảnh hưởng nào cả!
Cái mối thương tâm vu vơ ấy khiến Liêm kết luận như thế này: “Nhưng mà thà cứ lấy
ngay đĩ làm vỡ lại không sợ lôi thôi!”. Trong tư tưởng ấy, Quỳnh của chàng đã bị
kết án vắng mặt mà chàng không biết...
Liêm mỏi mệt lắm, tuy nằm cạnh một thiếu nữ rất đẹp, chàng
cũng chẳng buồn nghĩ đến sự đùa nghịch để cho khuây bớt những nỗi buồn rầu
trong óc. Chàng chỉ muốn chợp mắt đi được một lúc thôi. Trong khi ấy, Cử Tân với
cô đầm lai chuyện trò, bù khú rất tự do. Chàng không hề để ý, không nghe thấy
gì cả.
Thời gian chạy vụt đi, chưa chi đã sáu giờ. Liêm ngồi dậy,
nhìn ba người kia lúc ấy lim dim ngủ, sự nhọc mệt rõ rệt trên ba cái mặt đầy những
trụy lạc quý phái và thức đêm: Thì vừa lúc tên bồi nhà Cử Tân chạy vào, khoanh
tay nói :
- Thưa ông, có người nhà đến hỏi ông!
Giật mình, Liêm ngồi nhỏm lên, chạy ngay ra hành lang. Đó là
thằng Ba, đứa ở của bố mẹ chàng. Liêm cau mày sợ hãi hỏi :
- Cái gì? Cái gì mà tìm tao sớm thế?
Thằng Ba mặt cũng tái mét, lắp bắp :
- Thưa cậu, ông bà bảo con đến đây... Mợ... Mợ nhà ta... tự tử...
ở Hồ Tây... xác đã đem về... nhà thương Phủ Doãn... đội xếp đưa giấy gọi!
--------------------------------
|
Này, mày nói cái gì với tao thế? Hở Thuợng đế? |
IV
Nhưng may, Quỳnh không chết.
Nàng nằm đây kia, thiêm thiếp như người đương say, thân thể
phủ kín dưới một cái chăn vải trắng của nhà thương. Người nữ khán hộ, lúc đứng
lên đem khay thuốc tiêm đi, đã dặn cụ phán một lần nữa :
- Ấy các quan đã lệnh là phải để cho bệnh nhân được yên nghỉ
thật tĩnh độ vài giờ đồng hồ nữa, xin cụ nhớ cho, và đừng hỏi chuyện gì cả.
Cụ phán gật đầu trịnh trọng :
- Bẩm vâng.
Vì lẽ chưa tin hẳn là vợ còn sống, Liêm đến bên đầu giường. Mặt
Quỳnh lúc ấy tái nhợt, tưởng chừng như cắt không giọt máu nữa. Liêm để bàn tay
trên mũi vợ rồi mới thật là được yên trí, vì chàng nhận thấy một tí hơi thở âm ấm
và yếu đuối như của những trẻ mới đẻ. Chàng chưa có một ý kiến gì cả, thì bố
chàng khẽ vỗ vai chàng ra hiệu là phải đi ra... Đến chỗ hành lang, nhìn chung
quanh thấy lúc ấy vắng người, cụ phán bèn tựa lưng vào tường, khoanh tay lại, hỏi
một cách dõng dạc rất đáng sợ :
- Làm sao thế, hở? Mày làm gì mà đến nỗi mới cưới nó được có
dăm ngày thôi, mà vợ mày đến nỗi phải tự tử. Đêm qua mày đi chơi đâu cả đêm?
Mày chửi mắng đánh đập nó những thế nào. Nó đã làm gì nên tội? Hở?
Liêm đứng cúi mặt, sợ hãi như là chưa từng bao giờ chàng tội
con như thế. Thấy con không đáp, cụ phán cho là đồ ngu không hiểu gì, nên phải
cắt nghĩa bằng cách mắng thêm nữa :
- Mày có biết thế là làm nhục gia đình nhà mày không? Mày có
biết thế là đổ bao nhiêu tiếng ác cho bố mẹ mày không? Mày có biết rồi dư luận
của thiên hạ, của họ hàng nay mai sẽ ra sao không? Sao thế? Hở đồ khốn nạn?
Liêm vẫn đứng cúi mặt. Thật là bất ngờ! Nào chàng có dè đâu
Quỳnh lại đi tự tử ngay như thế! Nào chàng có nghĩ đâu đến sự nếu vợ chàng tự tử,
thì cả một xã hội sẽ nói được vào cái việc riêng của mình như thế! Chàng vẫn tưởng
vợ chồng cãi cọ nhau thì chỉ là việc không dính đến ai cả, không ai có quyền
bàn tán đến, bởi lẽ đó là sự giật giẻ bẩn trong nhà mà thôi. Vợ chàng tự tử, nếu
chàng mà ngờ đến nông nỗi ấy, thì đâu có chuyện! Liêm ngẩng mặt lên, ấp úng :
- Thưa thầy, con thật không ngờ vợ con nó lại tự tử như thế.
Mới nói thế, Liêm đã ngừng lại. Trong óc chàng vừa thoáng có
một tư tưởng hoài nghi. Không kịp nghĩ sâu xa, Liêm bèn hỏi ngay bố :
- Hay là nó dọa! Vâng, hay là vợ con nó dọa con, cũng như nhiều
đàn bà vẫn dọa chồng xưa nay thôi?
Nghiến răng lại, cụ phán nhìn con trừng trừng, mãi mói nói :
- Nó dọa? Nói lại còn dọa? Hai giờ đêm nó ra đi, rồi bốn giờ,
thì nó nhảy xuống Hồ Tây, người ta vớt được nó lên, tháo ở trong bụng nó ra được
một chậu nước, đem về đây phải tiêm thuốc hồi sinh mới thoi thóp thở được, mà lại
còn dọa! Mày có biết bố mày phải hộc tốc ra đi lúc mấy giờ không?
Liêm ấp úng chối cãi :
- Nào con... có biết đâu lại đến nỗi thế! Con mắng nó qua loa
mấy câu, thế thôi. Biết đâu thời buổi này, các cô ấy lại sính đi tự tử như thế!
Lúc ấy, Liêm tức tối lắm, rất thành thực mà nói như thế.
Nhưng nói như thế xong, chàng mới được lương tâm đánh thức cho tỉnh ngộ. Thật vậy,
không phải ai cũng bỗng chốc mà có thể tức khắc đi nhảy xuống Hồ Tây. Ắt hẳn phải
có thế nào, một người mới quyết liều đi tự tử được. Đây kia, nằm đây kia, là một
người thiếu nữ mà tội nặng nhẹ thế nào chưa rõ, nhưng đã hủy hoại đời mình một
cách thê thảm, vì Liêm. Dẫu sao, chàng cũng phải chịu một phần trách nhiệm vào
đấy, cho nên Liêm lại vội chữa :
- Thưa thầy, vâng, con xin chịu lỗi. Dẫu sao cũng là tội ở
con. Nhưng việc này là... lôi thôi lắm, cắt nghĩa bây giờ, ở chỗ này, không tiện...
Thầy mắng con thì con xin chịu, nhưng con xin thầy hãy để lúc khác, về nhà hãy
hay.
Vừa lúc ấy, trông ra vườn hoa của nhà thương, Liêm thấy mẹ
chàng và bà phán Hòa tất tưởi đi vào. Vì lẽ sáng sớm, sương còn dày, chỗ nào
cũng như có một lượt màn trắng phủ xuống, nên hai người đi đến nơi rồi, Liêm mới
trông thấy. Mẹ chàng liền hỏi một cách tự do như ở nhà :
- Thế nào? Sống hay chết?
Cụ phán ông xua tay, khẽ đáp :
- Sẽ mồm chử! May quá, nó sống lại rồi! Bà đừng làm ồn lên...
- Gớm, hỏi thăm mãi mới tìm được buồng! Nào, cho tôi vào xem.
Liêm theo ba người cùng vào. Đến bên giường, cụ phán ông lại
dặn :
- Ấy các bà se sẽ chứ, mà không được ai hỏi gì nó vội, vì các
quan đã cấm...
Cụ phán bà gật gù cái đầu :
- À, chị ấy đương ngủ... Thôi, thế là may! Rõ phúc đức!
Nhưng bà phán Hòa khóc nức nở ngay lên. Trước bà còn khóc nhỏ,
nhưng càng cố nín thì sự nghẹn ngào càng phát to ra. Cụ phán ông vừa khuyên giải
vừa mắng :
- Thôi, xin bà... Ô hay! Sao bà dở hơi thế? Thì nó sống chứ
nó có chết đâu mà bà khóc? Con dâu tôi, chúng tôi lại không biết thương hay
sao!
Bà phán Hòa nói qua những hàng lệ :
- Nó bồ côi sớm, rồi mẹ lại đi lấy chồng, đến nay nó đi lấy
chồng, tưởng là yên thân, chưa được một tuần lễ, ngờ đâu nó lại phải tự tử! Thật
là người ta giết cháu tôi!
Mẹ Liêm phân bua ngay cũng như mọi người đáo để khác :
- Ấy đấy! Thế có rầy rà không! Nào ai biết cơm sống tại nồi
hay cơm sống tại vung! Ấy là vợ chồng lấy nhau thì tôi cho đi ở riêng ngay rồi
đấy! Thế mà bây giờ lại đến nỗi tôi mang tiếng là hành hạ nàng dâu rồi đấy!
Điên tiết lên, cụ phán ông cũng quát :
- Thôi, tôi xin cả hai bà! Các bà muốn gây sự với nhau thì đi
về nhà, đây không phải chỗ! Thôi, đi về đi! Muốn ở lại đây, cấm nói!
Thế, hai bà mới chịu im. Nhưng bà phán Hòa, nước mắt lã
chã... Liêm đứng ngây người ra, lo lắng, biết chừng việc này rồi còn sinh nở ra
nhiều sự lôi thôi to. Chàng bắt đầu hối hận.
Đến lúc ấy, trên giường, Quỳnh mở mắt ra. Nàng khẽ cựa quậy,
và rút một tay để lên trên cái chăn. Nàng ngơ ngác nhìn mọi người, hai con mắt
dại như mắt trẻ mới đẻ... Rồi, hồi lâu, nàng thở dài. Giá dụ lúc ấy không có ai
nữa, ắt hẳn Liêm chạy ngay đến, cầm lấy tay vợ mà tha thiết nói: “Anh đây, Quỳnh
ơi, anh xin lỗi em!...”.
Nhưng ở ngoài cửa buồng bỗng có tiếng giày khua lên. Rồi một
thầy cảnh binh đứng sừng sững nhìn vào, hình như muốn hỏi người nào trong bọn ấy.
Liêm chạy ra :
- Thưa ông, ông hỏi gì?
Người cảnh binh hỏi một cách thản nhiên :
- Có giấy đây! Về người đàn bà tự tử ở Hồ Tây đêm qua. Ai là
người chồng thì ký vào giấy trát này, rồi đến sở cẩm để quan chánh xét hỏi.
Trừ cụ phán là bình tĩnh, hai bà kia những nghe thấy thể cũng
đủ thất đảm kinh hoàng. Cả hai bà cũng nhảy bổ ra, tranh nhau hỏi người cảnh
binh không có thắt lưng :
- Sao? Sao thế hở ông?
Liêm đáp :
- Đây là biên bản của Nhà nước thôi, chứ không có hề gì mà sợ.
Người cảnh binh cũng gật đầu :
- Phải, chính thế. Dẫu người tự tử mà chết cũng không việc
gì, nữa lại còn sống!
Liêm hỏi :
- Thưa ông, thế tôi phải đến ngay bây giờ?
- Ông nhìn trong giấy xem quan gọi mấy giờ?
- À, vâng, chốc nữa, rồi tôi xin đến đúng giờ gọi.
Nói xong, Liêm ký vào sổ; người cảnh binh đi ra. Tuy đã được
người ta cắt nghĩa kỹ đến thế rồi, mẹ Liêm cũng vẫn cứ dặn chàng những điều vô
ích và vô ý thức, khiến cho Liêm phải bực mình vì thấy mình bị coi là đồ ngu.
Chàng bèn lấy mũ đi ngay, tuy rằng chưa đến giờ.
Tại sở Cẩm, Liêm phải đợi rất lâu và được tiếp rất ngắn. Ông
phó Cẩm, một người Tây đã cao tuổi, đầu bạc, râu bạc đã ôn tồn đọc lại cái biên
bản về việc Quỳnh tự tử cho Liêm nghe. Rồi ông đưa trả lại cho Liêm, hai lá
thư, thư của Quỳnh, một lá thư gửi bố mẹ chồng, một gửi cho chồng, mà Nhà nước
đã bóc, đã xét, đã chép nhưng bây giờ, người tự tử may không chết, thì thư ấy
không phải đưa ra Tòa án nữa, mà được quay về sự chủ. Liêm phải ký nhận vào một
quyển sổ, phải đáp vài ba câu hỏi gọn của nhà chuyên trách, rồi được lệnh cho
lui. Lúc Liêm đứng lên đi ra, ông phó cẩm lại bấm chuông gọi. Cho nên ra xong,
có người phu xe được viên tùy phái đưa vào. Viên tùy phái ấy bảo Liêm :
- Ấy kia, chính người đã vớt được vợ ông đấy.
- Dạ, thế ạ!
- Ông có muốn thưởng cho nó đồng nào thì nó đấy. Tội nghiệp
cho nó chầu chực ở đây từ đêm hôm qua, ở đây chạy sang nhà thương, lại từ nhà
thương chạy về đây, bỏ cả công việc làm ăn.
- Vâng, thế tôi xin đợi.
Liêm phải đợi độ năm phút thì người phu xe cũng được ra với một
thầy thông ngôn. Người này bảo với người phu xe :
- Thôi, thế là xong hẳn. Anh cứ việc đánh xe ra đi mà làm ăn
như thường.
Viên tùy phái mách ngay người phu :
- Đây, ông ấy chờ anh để thưởng cho anh đấy. Anh ấy là chồng
người đàn bà đã trẫm mình.
Liêm cũng nói :
- Vâng, bác ra với tôi, tôi xin có thưởng. Nhân tiện bây giờ,
bác kéo ngay tôi đến nhà thương thì càng hay.
Từ tòa Cảnh sát phố Hàng Trống cho đến nhà thương Phủ Doãn,
người phu xe vừa kéo Liêm, vừa thở, vừa thuật chuyện một cách khó nhọc, nhát gừng
:
- Thưa cậu... Con ghếch lên bờ cỏ để ngủ vì hết cả khách, lúc
ấy đã ba giờ đêm, trên con đường cổ Ngư... Con đã ngủ được một giấc... nhưng có
lẽ Giời, Phật dun dủi chi đó... cho nên tình cờ con thức dậy... Bẩm cậu, số mợ ấy
chưa chết... thật quả có Giời trong việc này... Rồi thì... con thấy xa xa...
cách xe con độ năm mươi thước... rõ ràng có cái bóng ngồi ủ rũ... lại có tiếng
khóc tỉ tê... sụt sịt nữa. Bắt đầu con hơi trợn, tóc gáy đứng dựng lên... tưởng
chừng như yêu tinh, ma quỷ chi đó hiện lên trêu con... Về sau... con biết... quả
đó là một người đàn bà... dám chắc sắp tự tử... Con đã toan chạy đến ngay...
nhưng lại thôi... sợ lúc đêm khuya thanh vắng, mang tiếng hãm hiếp, bóc lột...
- Giá bác cứ chạy phăng ngay lại có phải hơn không!
- Ấy con đã tính như thế... Nhưng con lại nghĩ: ngộ không phải
là người định tự tử thì e người ta mắng mình, sợ mình trái luật. Cho nên con phải
đi lén lại dần dần... Rồi thấy mợ ấy đứng lên, con vội phải nấp sau một gốc
cây... Rồi quả nhiên mợ ấy nhảy xuống đánh ùm một cái thật! Con chạy vội đến, cởi
áo cánh ra, trông chỗ tăm nước mà nhảy xuống theo... Con mò... con mò mất một
lúc mới nắm được mớ tóc mợ ấy. Đến lúc ôm được lên, mợ ấy đã uống được khối nước!
Con vác lên vai, lẳng một vài vòng, nước ở miệng ứa ra vô khối. Nhưng con thấy
mợ ấy không thở nữa! Sợ quá... con vội đặt lên xe, chạy về phố Hàng Trống! Giá
con nhớ có bót Hàng Đậu thì con chạy về bót Hàng Đậu, nhưng vì họa lại tần ám,
quên ngay mất cái bót gần nhất! Về Hàng Trống, các quan khám xét qua loa, lấy
những đồ lặt vặt trong túi áo mợ ấy rồi cho một thầy đội cùng con kéo mợ ấy đến
ngay nhà thương. Xong con lại phải về bót, đợi mãi cho đến bây giờ.
Vừa nói đến đây cũng là tạm xong, chiếc xe cũng đến cổng nhà
thương, Người phu xe đỗ xuống, đứng thở. Cho rằng không cần phải hỏi kỹ hơn, Liêm
giở ví ra. Chàng soát lại, thấy chỉ còn được ba đồng. Chàng đưa cả cho người
phu mà rằng :
- Đây tôi có tất cả thế này xin biếu bác cả, và cám ơn bác lắm.
Người phu cầm lấy, không biết nói một câu cám ơn, cũng không
vòi vĩnh gì thêm. Liêm lấy làm lạ rằng người ấy không đòi hơn nữa, mà còn lại cầm
ngay càng xe định đi thẳng. Nhưng chàng hiểu ngay: đối với dân nghèo, số tiền ấy
là to lắm rồi! Chàng nghĩ thầm: “Dễ anh ta đứng nán lại, anh ta sợ mình tiếc của
mà đòi lại chắc?”.
Thấy chưa cần vào ngay, Liêm đứng lại ngoài cổng, vội lấy hai
lá thư ra xem. Lá nào cũng có phong bì đề tên và chỗ ở chu đáo. Một lá như thế
này:
Thưa thầy đẻ,
Con về làm dâu nhà thầy đẻ mới được vài bữa nay mà thôi. Con
phải chết vì con đau đớn lắm. Con không thể sống được nữa. Nhưng không phải vì
thầy đẻ mà con phải chết, mà trái lại, con biết rằng nếu con sống thì thầy đẻ
thương con mãi mãi. Vậy con có thơ này, trước là để tỏ với dư luận rằng con chết
không phải vì bố chồng ác hay là vì mẹ chồng hành hạ nàng dâu, và sau là để con
xin lỗi thầy đẻ.
Xin thầy đẻ rộng lòng tha thứ cho con.
QUỲNH
Còn đây, lá thư để lại cho Liêm:
Anh Liêm yêu quý của em,
Anh ơi, có lẽ em chỉ là một người bạc đức nên không được hưởng
lòng chung thủy của anh. Đấy anh xem, ta yêu nhau như thế, đôi ta lấy nhau dễ
dàng như thế. Vì tình mà kết bạn trăm năm với nhau, thế còn gì sung sướng hơn nữa?
Than ôi, em có hiểu vì đâu mà anh khổ, và làm em đau khổ! Em không ngờ rằng chỉ
vì quá yêu anh, quá tin anh, mà em bị anh khinh bỉ, nghi ngờ. Em dám chắc, trước
mắt anh, em chỉ là con vợ hư hỏng mà thôi. Anh nghi cho nên anh ghen, anh ghen
cho nên anh hành hạ. Em biết cãi thế nào? Khi anh đã nghi em, em biết nói thế
nào nữa, nhất là khi anh đã có chứng cớ rằng em là có thể hư hỏng được, vì lẽ
em đã quá tin anh? Vả em cũng đã cãi mãi rồi, nhưng anh nhất định không nghe
ra, và càng cắt nghĩa thì càng cãi vã nhau, sỉ nhục nhau mà thôi. Em không oán
giận gì anh, em chỉ cho em là xấu số, bạc phúc. Và muốn tỏ cho anh tấm lòng
trinh bạch của em, em chỉ còn có cách là chết đi, thế thôi. Em chết rồi thì anh
sẽ tin rằng em là người đoan chính. Thôi anh ở lại, rồi sẽ lấy một người vợ
khác xứng đáng hơn em. Chẳng biết em có lỗi hay không, nhưng em cũng xin lỗi
anh, lần cuối củng.
Người vợ không xứng đáng của anh.
QUỲNH
Liêm vội vàng lấy khăn mùi soa ra lau, vì nước mắt chàng đã ứa
ra lã chã, trước mặt một đám đông công chúng.
V
Liêm sắp hóa điên...
Quỳnh ở nhà thương về được đúng một ngày, đã có đến mấy chục
người trong họ và bạn hữu đến hỏi thăm. Trong số ấy, người nào có ý thì chỉ hỏi
thăm qua loa xem Quỳnh đã lành mạnh như cũ chưa, thế thôi; và họ biết rằng đến
là khổ tâm cho người chồng, mà không đến thì không được. Nhưng số ấy rất ít. Rất
nhiều là số người đến vừa hỏi thăm vừa lục vấn rằng; thế thì, đến cái nông nỗi
như thế, thì nguyên do đầu đuôi nó ra làm sao! Ấy là chưa kể rằng nhiều người
đã cao tuổi thì không đến nhà riêng của Liêm, nhưng đến thẳng cụ phán. Cho nên
cứ thấy tiếng gõ cửa, Liêm lại giật nẩy mình. Tự cứu vớt bằng một triết lý cuối
cùng, chàng đã thường phải bụng bảo dạ: “Ấy đó là hình phạt cho một thằng can tội
mắng vợ”. Nhưng nạn nọ chưa qua, tội kia đã đến. Hiện giờ, chàng đương khổ sở lắm,
cáu tiết lắm, chỉ muốn giết chết ngay anh chàng phóng viên nào đã viết cái mẩu
thời sự ấy trong tờ Nhật báo xuất bản buổi trưa hôm ấy. Liêm lại đọc lại, lần
thứ tư.
Phải chăng là một vụ bức tử?
Bà vợ ông Liêm đã nhảy xuống Hồ Tây.
Hanoi - Đêm hôm kia, vào hồi 3, 4 giờ, vợ ông Liêm, giáo sư một
trường tư thục lớn ở Hanoi, mới lấy nhau được một tuần lễ nay thôi, không hiểu
vì bố mẹ chồng hành hạ, hay vì chồng bạc tình, mà giữa đêm hôm khuya khoắt, đã
lên trẫm mình ở Hồ Tây. May sao, lúc đó có một người phu xe đêm đánh xe qua đường
Cổ Ngư, đã nhảy xuống vớt được và đem về nhà thương Phủ Doãn thì sáng hôm sau,
bà Liêm hồi tỉnh.
Bà Liêm, khi xưa ai cũng biết, đó là cô Quỳnh, một thiếu nữ một
thời đã nổi tiếng hoa khôi ở phố Hàng Gai. Cách đây bảy hôm, cặp vợ chồng đã
làm lễ cưới rất linh đình, trọng thể. Không hiểu vì đâu mà lứa đôi giai ngẫu
chưa qua một tuần trăng mật mà đến nỗi người thiếu phụ đã phải đi trẫm mình ở Hồ
Tây? Trong việc này có nhiều điều bí mật, nhiều cái ẩn tình, người ngoài cuộc, khó
lòng mà biết rõ được.
Song le, cứ như dư luận bàn tán, thì giáo sư Liêm vốn là người
chơi bời, nay tiệm khiêu vũ, mai xóm cô đầu, cho nên không thiết đến gia đình
cũng như làm cho vợ thường phải khổ sở. Thiên hạ đồn rằng, tuy mới lấy vợ, song
giáo sư Liêm lại chẳng đêm nào mà lại không đi suốt đêm. Ngay cái đêm xảy ra
tai biến trong nhà, ông Liêm cũng đi chơi cả đêm, đến nỗi người nhà bố mẹ ông
tìm đến ông để báo tin vợ tự tử, lúc ấy ông cũng chưa về!
Bà Liêm, lúc tự tử, có để lại hai lá thư, một lá cho bố mẹ chồng,
một lá cho chồng, để nói về nguyên do cái chết. Trong hai lá thư ấy có nói những
gì? Bí mật, vì nhà chuyên trách, khi thấy cô Quỳnh sống lại, thì không thông
tin cho báo giới nữa mà đã trả lại cho sự chủ.
Việc này nêu lên ba câu hỏi: Hoặc đó là tấn kịch mẹ chồng
nàng dâu; hoặc đó là vấn đề ghen tuông hoặc là vấn đề ái tình nhảm nhí nó đã
tiêm nhiễm trong óc một phái thiếu niên sống không lý tưởng vậy.
Thật vậy, với một cách thông tín hàm hồ và vô lương tâm như
thế, tờ báo chó chết ấy vừa làm cho Liêm bỗng dưng trở nên một kẻ cực kỳ đê tiện,
và gây nhiều mối dư luận rất có hại cho chàng. Liêm bằng lòng thà tờ báo ấy nói
đúng sự thực, chàng sẽ can đảm nhận lỗi với thiên hạ, còn hơn là đặt những thứ ức
thuyết ba phải như thế, hoặc vô tình, hoặc hữu ý, đã lợi dụng một tấn bi kịch để
nói xấu nhiều hơn là thông tin. Chàng biết ngay rằng tất ai quen thuộc mình, ở
xa, ở gần, là cũng phải mua số báo ấy, để bàn tán, và đó thật là một cách làm
cho báo chạy một cách rất bất lương, khốn nạn vậy.
Thoạt đầu, lúc mới đọc tin, Liêm đã nghĩ ngay đến sự yêu cầu
nhà báo cải chính, nhưng sau, thấy rằng, muốn cải chính, ắt phải cắt nghĩa rõ,
lại chỉ tổ vạch áo cho người xem lưng thôi, chứ cũng không ích gì... Chàng dặn
mình rằng từ đây mà đi là phải đề phòng tin tức của các nhật báo, nhất là tờ Lá
cải, dốt nhất Đông Pháp này, có những tin lấy hấp tấp, thêu dệt, không thể tin
được, không bao giờ mà lại không có ít nhiều sai sự thực.
Liêm gập tờ báo lại, toan cất vào ngăn bàn, để giấu Quỳnh.
Nhân được lúc không có khách, chàng đến ngồi bên giường vợ, cúi mặt xuống, vừa
âu yếm, vừa hối hận... Chàng nhắc lại, không biết đã mấy chục lần :
- Quỳnh ơi, anh xin lỗi em, em tha lỗi cho anh.
Vợ chàng mở cặp mắt, ngây thơ nhìn chồng để nở một nụ cười
tái nhợt, rồi để tay ra ngoài chăn cho chồng cầm lấy. Liêm cúi xuống, khẽ đặt
vào tay vợ một cái hôn. Rồi chàng ngây người ra, băn khoăn, không biết có nên
tìm cách cắt nghĩa những cử chỉ tàn nhẫn của mình bằng cách đưa cái thư của Quỳnh
ra hỏi lúc ấy hay không. Lòng hối hận, sự sợ hãi, đã khiến chàng quên khuấy
ngay rằng cái thư kia là một nguyên cớ rất chính đáng cho chàng phải ghen, mà
tưởng chừng như Quỳnh đã có tội thư từ cho trai thật đi nữa, thì chàng cũng
không dám đả động đến nữa! Mấy phút sau, chàng lại tìm thấy linh trí, cho nên
chàng tự nhủ: “Phải, dẫu sao, ít ra ta cũng có quyền phân trần”. Rồi chàng quả
quyết lấy ở túi áo lá thư ra, thản nhiên giở trước mặt Quỳnh mà rằng :
- Đây này, không hiểu vì sao lại có lá thư này, của chính tay
em viết, mà lại do một người nào khác nhận rồi đưa đến cho anh, cho nên anh mới
ghen, anh mới khinh bỉ em, và trót sỉ nhục em. Không phải bỗng dưng mà lại tệ bạc
với em như thế.
Quỳnh cầm lấy cái thư, ngơ ngác một phút, kêu lên :
- Chết thật! Thế này thì chết thật!
Lúc ấy, Liêm vẫn dò ý tứ vợ kỹ lắm. Chàng rất mừng thầm khi
thấy vợ có một thái độ sửng sốt không còn đáng nghi ngờ gì nữa. Nếu Quỳnh có một
bộ mặt luống cuống, ắt hẳn chàng đau đớn vô cùng. Bao nhiêu cái thương, cái hối
về trước, ắt hẳn là chuyện để đổ đi mà thôi. Nhưng Quỳnh lại hỏi ngay tức khắc
:
- Nhưng mà còn người nào gửi cái thư này cho anh? Đâu, thế có
thư không, anh cho em xem.
Liêm đưa nốt cái thư kia ra. Vợ chàng đọc hai dòng đầu, hai
dòng cuối; rồi bỏ xuống nói ngay :
- Cái thư này là em viết hộ người chị em bạn, trong một lúc
đùa nghịch, thế thôi, chứ có gì đâu! Sao mà nó lại lọt đến tay người đàn ông
nào như thế này được?
Liêm nghe thấy đúng lý lắm, không nghi vợ chút nào nữa. Chàng
thở thấy hình như dễ hơn trước, một sức nặng vô hình như đã thôi không còn đè
ép trái tìm chàng nữa. Chàng lại tự trách mình vô cùng, khi thấy rằng cái việc
giản dị đến thế mà chàng không biết suy nghĩ, phán đoán cho ra. Lần ấy là lần đầu
trong đời, Liêm nhận thầm trong lòng rằng chính mình là kẻ ngu ngốc lắm.
Quỳnh lại hỏi :
- Hay là... Hay là người bạn gái ấy đã phản em?
Liêm cũng hỏi :
- Nhưng mà ai mới được chứ?
- Chị Thanh đấy thôi, chứ còn ai nữa?
- Cái điều ấy cũng có thể được lắm.
Vừa lúc ấy lại có mấy tiếng gõ cửa. Liêm giật nẩy mình. Chàng
đứng lên, ra mở cửa một cách rất bực tức. Nhưng... đó là sự bất ngờ vô cùng, nó
khiến Liêm phải nghĩ đến thần linh vì người khách tình cờ lại chính là Thanh!
Cô này vừa vào vừa hấp tấp hỏi :
- Thế nào? Chị Quỳnh của em đã mạnh hẳn chưa?
Quỳnh mỉm cười, khẽ mời :
- Mời chị ngồi. Rõ may quá, vợ chồng em đương cần gặp chị...
Thanh ngơ ngác nhìn bạn gái, rồi lại nhìn chồng bạn. Thì Quỳnh
đưa ngay cái thư mà bảo :
- Đây, chị cắt nghĩa cho nhà tôi hiểu cái thư này có phải tôi
viết hộ chị từ dạo tôi chưa lấy chồng hay không?
Thanh trơ trẽn cầm mảnh giấy, nhìn qua rồi cúi mặt xuống, thẹn
đỏ cả mặt.
Quỳnh lại giục :
- Chị nhận ngay đi! Chính vì cái thư... ác hại ấy mà tôi đến
nỗi tự tử đấy!
Thanh lại càng sợ hãi, đến mất cả xấu hổ. Rồi ấp úng hỏi :
- Sao lại đến nỗi thế được?
Liêm cũng hỏi Thanh :
- Cái người đàn ông đáng nhận thư ấy có thể nào là người có
tà tâm lợi dụng cái thư để hòng chia rẽ vợ chồng người ta không?
Thanh cãi ngay :
- Nhưng mà... cái thư này... tuy là chị Quỳnh viết cho tôi,
nhưng tôi trót đánh mất ngay, chứ nó có gửi cho nhà tôi đâu! Nếu gửi, tôi cũng
phải chép lại, chứ đời nào lại để nguyên thế này mà gửi? Sao bác lại hỏi thế?
Liêm vồ lấy cái thư ký tên vô danh đưa ngay ra :
- Thế chữ này là chữ ai, bác có nhận ra không?
Thanh cúi xem rất kỹ lưỡng đoạn ngẩng lên lắc đầu :
- Thật quả là tôi không biết ạ.
Liêm khoanh tay nhìn Thanh chòng chọc. Rồi chàng dõng dạc nói
:
- Thật thế, bác ạ. Vợ chồng tôi suýt nữa chia lìa nhau chỉ tại
cái thư ấy đấy! Tôi ghen và tôi có quyền ghen, rồi tôi mắng nó mấy câu thế là
nó đi tự tử ngay tức khắc!
Đáng lẽ xin lỗi, Thanh chỉ nói :
- Ồ, thế thì ra cái tờ nhật báo ấy đăng tin nhảm cả.
Hồi lâu mới lại nói chữa :
- Đến thế nữa thì thật rõ cái nẩy sẩy cái ung! Mà... rõ khổ!
Cái thư chị ấy viết cho tôi thì tôi đánh mất ngay lập tức chứ nào tôi có kịp được
dùng đến nó đâu, mà bảo hay là tôi còn đưa cho ai làm bậy nữa!
Tuy đã biết chuyện mất thư từ mấy hôm trước, Quỳnh cũng dại dột
hỏi lại một cách, giá vào trường hợp khác, thì là gian dối, đáng nghi, rất nguy
hiểm :
- Thế ra lại đánh mất ngay!
Thanh không dám đáp thế nào cả. Sau cùng cô bạn gái vô tích sự
thấy hổ thẹn, bèn bẽn lẽn đứng lên :
- Thôi, xin phép hai bác. Chị không việc gì thế là tôi mừng rồi.
Thật tôi không ngờ vì vô ý mà lại hại đến hai bác như thế! Nếu mà tôi chưa khám
phá ra thằng phải gió, cái thằng chết băm chết vằm này cho bác, thì thật chưa
biết bao giờ tôi mới ăn ngon ngủ yên. Thôi, chào hai bác.
Liêm không giữ khách; trong lòng cũng muốn tống khứ đi cho
xong.
Chàng tiễn Thanh ra cửa bằng một nét mặt nghiêm nghị có ngụ ý
khinh bỉ.
Đến lúc khép cửa quay vào, chàng mắng vợ :
- Ấy đấy! Rõ có phải nhàn cư vi bất thiện mà, lắm chị em bạn
vào thời buổi này thì chỉ có hại mà thôi, hay không!
Quỳnh khẽ cãi :
- Nếu biết thế thì còn đâu có chuyện.
Vài phút sau, nàng lại trách :
- Còn anh nữa! Đã ghen sao không nói phăng ngay ra? Sao anh
không lục tội ngay để em được cãi có được không? Sao lại không nói ngay đến cái
thư ấy?
Liêm đáp :
- Nào ai biết đâu! Người ta yên trí cả mươi phần mười là hư hỏng,
là có nhân tình rồi, nên người ta mới hành hạ chứ? Nếu nghĩ xa xôi, có đâu đến
nỗi này! Đấy, thế là em đã hiểu: vì có lẽ gì, anh mới tệ với em như thế, chứ chẳng
phải anh say mê người nào khác mà xử bạc với em.
- Nghĩ cho cùng, anh cũng có lỗi, mà em cũng có lỗi. Không cắt
nghĩa ngay cho nhau nên mói hiểu lầm nhau... Thôi, chúng ta cũng phải tha thứ lẫn
cho nhau cả. Vả lại, sự cũng đã rồi... Thật phiền cho thầy đẻ quá!
Liêm vội nói :
- Mà thật cũng là một bài học cho anh!
Đến đây, lại có tiếng gõ cửa! Liêm nhăn mặt đi ra. Nhưng may,
đó không phải là khách, mà chỉ là người đưa thư của nhà Bưu Điện, cầm lá thư
quay vào, chàng lầm bầm: “Hẳn lại thư hỏi thăm của ai đấy! Chóng thật”. Nhưng
đó chẳng phải là thư hỏi thăm. Nét mặt chàng luôn luôn thay đổi, vừa thích lại
vừa giận...
Thưa ông,
Tôi là một thằng khốn nạn. Đáng lẽ chính tôi đến xin lỗi ông
mới phải. Nhưng tôi không dám, tôi sợ lắm. Thật thế, khi đã làm một việc như
tôi làm rồi, thì người ta không nên vác mặt đến xin lỗi ai nữa, có phải thế
không?
Tôi không hiểu việc vợ ông tự tự có dính dáng gì đến sự càn dữ
với tôi không, nhưng tôi cứ viết thư này để ông rõ, vì tôi thấy hình như chỉ vì
một sự điên cuồng của tôi mà gia đình ông đã tai biến... Được tin vợ ông thoát
chết; tôi sung sướng vô cùng, thấy tội mình nhẹ đi. Tuy nhiên, tôi vẫn cần được
ông tha thứ, và xin ông rộng lòng tha thứ.
Tôi xin nói ngay: một lần tôi có gửi cho ông một lá thư ký
tên Vô Danh, trong đó có kèm một lá thư của vợ ông mà tôi đã nhặt được ở cửa hiệu
của cô Quỳnh khi cô ta chưa lấy ông. Tôi vốn là người rất say mê cô Quỳnh, tuy
vẫn bị cô ta cự tuyệt. Tôi vẫn là người biết mặt, biết tên ông, ghét ông, tuy
ông không biết tôi là ai. Vì hay vào mua hàng, tôi nhận biết mặt chữ cô Quỳnh.
Vì tình cờ nhặt được thư ấy (có lẽ để gửi cho ông) tôi bèn nghĩ ra cách ranh
mãnh là gửi cho ông để ông ghen tuông, phân vân. Trong một phút điên rồ, tôi tưởng
đó là sự bông đùa vô hại, vì chưng không bao giờ tôi dám có hy vọng lấy được cô
Quỳnh. Tuy nhiên, thói đời là: không ăn được thì đạp đổ.
Sau khi bịa ra cái thư mà gửi cho ông, tôi chỉ thích chí được
có một hôm thôi, về sau, tôi lo ngày lo đêm, sợ rằng hành vi đê mạt của tôi có
thể làm cho vợ chồng nhà ông bất hòa, mất hạnh phúc. Tôi đã toan gửi cải chính,
vậy mà không hiểu sao cứ trù trừ mãi... Đến khi biết vợ ông tự tử, tôi mới hối
hận vô cùng, chắc rằng có một phần lỗi là ở tôi. Bây giờ, được tin vợ ông khỏi
chết, tôi mới có can đảm viết thư này cắt nghĩa, và xin lỗi.
Thưa ông, tuy vậy tôi vẫn say mê cô Quỳnh nhưng cô ta là người
đoan chính, tôi rất kính phục. Tôi xin lấy danh dự mà cam đoan. Xin ông đừng ngờ
vực vợ ông, nếu ông đã vì cái thư khốn nạn của tôi mà ngờ vực. Tôi lại xin ông
tha lỗi cho tôi và lại cho phép tôi ký tên là:
Vô Danh
Đọc xong, Liêm đưa lá thư cho vợ, so vai nói :
- Nó nghịch đến như thế này thì thật chó má vô cùng!
Chàng không biết rằng chàng rất sung sướng mà chửi kẻ vô danh
như thế.
VI
- Đầu đuôi câu chuyện chỉ có thế mà thôi ư?
- Vâng, bẩm tất cả chỉ có thế.
- Anh không giấu tôi điều gì đấy chứ?
- Dạ! Không!
Ông phán Hòa cứ lắc đầu, mỉm cười. Liêm ngơ ngác... Ông phán
Hòa vẫn cứ cười hoài nghi. Rồi ông trỏ tay lên tường mà rằng :
- Không phải chỉ có thế. Nhưng mà vì bốn chữ kia kìa!
Liêm vội quay lại sau lưng. Đó là bức câu đối trên vóc đỏ mà
một người bạn đã mừng lúc chàng cưới vợ. Sao lại vì bốn chữ ấy? Lá thắm chỉ
hồng... Bốn chữ mà bạn chàng đã mừng, khốn nạn nào nó có ngụ ý cái gì khác
cái ý ngợi khen! Tuy nhiên, Liêm cũng còn cúi đầu ngẫm nghĩ đã, chứ chưa hỏi lại
ông cậu họ rất khó chịu ấy vội.
Trước mắt Liêm, xưa nay ông phán Hòa chỉ là một người rất tầm
thường, một viên chức không có gì lỗi lạc, tính nết không có gì đáng ghét cũng
như chẳng có gì đáng trọng, một con người vô lợi và vô hại cho đời mà thôi. Nếu
có lỗi lạc thì họa chăng ở chỗ mỗi ngày bốn buổi xách ô đi rất đúng giờ, đem
lương tháng về cho vợ rất đúng hẹn, buổi trưa nào cũng đọc một tờ báo tin vặt
trước khi đi ngủ tạm 15 phút, tối thứ bảy nào cũng dắt con đi xem chiếu phim...
Ông ít bạn, sống một cuộc đời lề lối, bó buộc mình bằng một thời biểu bất di bất
dịch và vô vị, thỉnh thoảng mới đánh dăm ba hội tổ tôm, luôn luôn tính sổ và đặt
hàng tạp hóa bên Tây hộ vợ và cháu vợ, không cãi nhau với ai bao giờ cả, cũng
không trai gái lãng mạn một chút, dẫu là một chút thôi... bao giờ! Một người
như thế gọi là đáng yêu với vợ con mà thôi, nhưng có thể gọi là đáng ghét, có
khi đáng khinh nữa, trước mặt thiên hạ. Cho nên, tuy không dám nói ra miệng,
xưa nay, Liêm vẫn có bụng hơi khinh bỉ ông phán Hòa. Nhất là khi nghe thấy ông
nói một lần: “Cứ nuôi vợ nuôi con cho tử tế, thế cũng đủ là người có ích rồi!”.
Liêm lại càng cho ông là tầm thường, không có gì đáng đếm xỉa. Cũng như đa số
thiếu niên khác, Liêm vốn cực đoan, cho rằng một người rất có thể có nhiều tật
xấu, miễn sao đã có một tính nết gì phi thường, và do thế, đáng yêu. Đằng
này... ông phán Hòa chỉ là kẻ vô vị.
Vốn vẫn khinh thường ông cậu như thế cho nên bây giờ bị ông cậu
bất kỳ làm cho phải lúng túng, Liêm vừa kinh ngạc vừa bực mình. Nhưng chàng
không dám lộ sự bực dọc, đành phải ngoan ngoãn hỏi :
- Cậu nói đến bốn chữ lá thắm chỉ hồng ấy à? Cháu
xin chịu không hiểu cậu muốn nói gì cả đấy!
Ông phán Hòa vẫn ôn tồn :
- Nói ra chắc anh giận lắm, nhưng tôi cứ phải nói... Anh biết
bốn chữ ấy có một ý nghĩa xỏ xiên mát mẻ rất kín đáo hay không? Ngay hôm đầu, trông
thấy bức câu đối tôi đã đoán ra ngay, và cũng chắc rằng anh chỉ có Tây học thôi
thì không hiểu được.
Dù khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Ông phán Hòa vừa ngâm hai câu ấy một cách tinh quái xong thì
Liêm nói ngay :
- Cháu không hiểu vì lẽ gì bốn chữ trong hai câu Kiều ấy mà lại
dính dáng đến... sự phẫn uất của vợ cháu, nhất là trong việc, cháu đã nhận lỗi
là cháu quá ghen...
Ông phán Hòa giơ tay ngăn :
- Ấy anh hãy khoan đã!
Sốt ruột, Liêm nói bằng giọng hơi vô lễ :
- Gớm, cậu cũng bí mật lắm! Thì cậu cứ nói phăng ngay ra có
hơn không!
Nhưng ông phán Hòa vẫn nói khẽ rất ôn tồn :
- Phiền anh hãy ra đẩy cái cửa buồng lại đã. Tôi rất không muốn
để chị ấy nghe lỏm được câu chuyện này.
Liêm ra đẩy cửa. Lúc ấy 8 giờ tối, vào ngày thứ ba sau hôm Quỳnh
chết hụt, cho nên Quỳnh vẫn nằm trên giường ở buồng bên cạnh để dưỡng sức...
Liêm quay vào, nói :
- Vợ cháu không nghe thấy gì đâu, cậu cắt nghĩa đi.
- Dù khi lá thắm chỉ hồng, nên chăng... Ấy đó, lá
thắm chỉ hồng có cái ngụ ý chế giễu rằng hai anh chị đã bờm xơm nhau từ
trước khi có lời ưng thuận của hai cha mẹ. Trước mắt người cổ, lấy nhau vì phải
lòng, vì có tình ý với nhau, thế là rất có hại cho người con gái, hẳn anh đã biết
thế. Nói rộng ra, bốn chữ ấy lại còn ám chỉ hai người đã tiền dâm hậu thú nữa.
Nói thế, anh đủ hiểu rồi.
Liêm cúi đầu, và đó là một cách thú tội với ông cậu.
- Anh cứ tưởng rằng cái việc hai anh chị thường lẻn nhà đi
chơi với nhau là không ai biết đâu nhỉ?
Vẫn cứ cúi đầu, Liêm không biết rằng thế là lại thú nhận thêm
một lần nữa, và có muốn chối cãi thì thôi không kịp nữa rồi. Chàng bắt đầu đâm
sợ ông cậu, nhất là khi chàng vẫn khinh thường ông ấy xưa nay. Và cái ông bất kỳ
đáo để ấy lại tiếp :
- Thật thế, đi chơi với nhau thế nào mà đến nỗi cho học trò
nó bắt gặp, rồi nó lại đi nói với em Phúc nó, rồi em Phúc nó lại mách tôi!
- Thưa cậu, điều ấy cháu không dám chối cãi, song đó kể cũng
chẳng can hệ gì...
- Ấy chết! Cái đó can hệ lắm chứ!
Liêm lắc đầu :
- Cháu vẫn không hiểu! Thế thì vợ cháu tự tử vì bốn chữ mừng
xỏ kia hay là vì cái việc ngụ trong bốn chữ ấy?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét