Lấy nhau vì tình 2
Phần thứ hai
I. Hai tháng đã qua
Trong thời gian ấy, Liêm đã sống những ngày sáng sủa, ngắn ngủi
quá, để hưởng tất cả những điều gì đáng gọi là hạnh phúc, và để nếm trải tất cả
mọi cái hạnh phúc mà một người phàm trần tốt số có thể được hưởng. Chàng được
hoàn toàn lạc quan mà nhìn thế sự. Chàng được bằng lòng bố mẹ đã đưa trầu cau
đi chạm ngõ cho mình, bằng lòng cái địa vị thầy giáo dạy tư rất nhũn nhặn của
mình. Chàng bằng lòng người vợ sắp cưới mà chàng trông thấy rằng chỉ có những đức
hạnh chứ không có lấy một tính xấu nào cả, một thiếu nữ kể về phương diện nào
cũng là hoàn toàn, người mà mỗi khi nghĩ đến, chàng đã tìm được một cách mệnh
danh đầy thú vị là “người mà cuộc đời là một bài thơ!”. Liêm được bằng lòng về
mặt trời cứ tuần tự mọc lên ở vừng đông, mỗi buổi sáng, về một cái lá vàng nọ rụng
và bay tơi tả theo ngọn gió heo may, về ánh sáng đèn điện của những phố xá chỉ
đông người vào ban đêm, về những xe cộ làm phiền nhiễu cho sự giao thông của phố
xá ấy... Bất cứ sự vật gì, đối với chàng, cũng đều có nghĩa lý cả, nếu nó không
có một thứ thú vị riêng của nó. Chàng đã sống để mà không biết rằng đời là một
sự vô nghĩa lý, chỉ vì chàng yêu và được yêu... Liêm thấy rằng mình còn trẻ, tiền
đồ còn rộng rãi thênh thang, mà đã được hưởng thụ cuộc đời, có nhà cửa, có bố mẹ,
có học thức, công danh, lại có cả tấm yêu của một thiếu nữ đáng yêu vào bậc nhất.
Bữa nay, Liêm nằm ở cái phòng garconière của Cử
Tân, trên một cái ghế bành có đệm rất êm dịu để hưởng cái êm dịu của một điếu
thuốc lá Hồng Mao 1. như một dân nghiện sành sỏi. Hôm trước, Cử
Tân có việc phải đi xa, đã bảo Liêm đến “trông nhà”.
- Mày cứ việc dùng cái lỗ 2. của tao bằng địa vị một người có quyền sở
hữu. Mày muốn đem con “gà mái” nào của mày đến cũng tùy ý... Và bồi bếp của tao
đấy, mày cứ việc sai bảo chúng nó y như tao vậy. Tao đi đúng một tuần lễ thì
tao về. Được không?
Trước sự mời mọc tình cờ như thế, Liêm đã nhận ngay, tuy chưa
biết nhận để làm gì. Vì dạo này nhà Liêm co may ngươi trong họ ở nhà quê ra
chơi, phải đụng chạm với một bọn người nói chuyện cứ như cãi nhau, Liêm không
chịu nổi sự huyên náo vô ý thức ấy, và hễ ăn cơm xong, nếu không đến nhà Quỳnh
chàng không còn cách gì khác là đi thư viện để đọc sách một cách bất đắc dĩ.
Cho nên khi nhận lời mời của một người bạn già mà địa vị cùng cách ăn ở cao hơn
mình, lại bỗng dưng tỏ ra có tình với mình đến thế, Liêm cảm động lắm, và chỉ
thấy rằng nhận lời bạn là một điều làm vui lòng bạn. Vả lại được có một chỗ an
tĩnh để nghỉ ngơi, đọc sách, dẫu rằng chỉ trong một tuần lễ, Liêm cũng thấy sẽ
có thú vị hơn là phải đi thư viện, vì cái nhà Cử Tân có cách bài trí cực kỳ cám
dỗ người, nhất là đối với thiếu niên 3.
Đến đấy được một buổi, Liêm bỗng nghĩ khác.
Thật vậy, nếu đến bây giờ, Liêm mới biết lợi dụng nơi kín đáo
ấy thì thật đáng ngạc nhiên lắm! Ừ, sao không hẹn Quỳnh đến chơi đây? Sao lại cứ
phải hẹn hò nhau trên cầu Paul Doumer, một nơi có trăm nghìn con mắt tò mò của
thiên hạ rất nguy hiểm cho danh tiếng của người mà chàng yêu, và có thể cũng có
hại cho chính chàng nữa? Liêm nghĩ đến sự lo sợ kể ra cũng chính đáng của Quỳnh,
nó làm cho hai người mất cả hứng thú, những khi chàng cùng Quỳnh sóng đôi nhau
đi, đứng trên cầu sông Cái. Chàng lại tiếc những cái hôn đáng lẽ nồng nàn đằm
thắm của mình, của hai người, vào những lúc mà Quỳnh cứ phải giật mình hoảng sợ,
tưởng chừng có kẻ nào vẫn đứng rình mò ở sau lưng. Cho nên cái hôn là cái cử chỉ
mà có thể nhờ nó mà một cặp trai gái được lên một cõi Nát Bàn riêng của một thế
giới riêng; thì trái lại, đối với Liêm và Quỳnh, chỉ là sự khiêu khích đến cái
tò mò không được thỏa mãn, và gây cho Liêm, nhất là cho Liêm, một sự khó chịu,
một sự bực dọc... Liêm chỉ ao ước, trong những lúc ấy, rằng Quỳnh sẽ lim dim cặp
mắt, ngả đầu về đằng sau, mở hé cặp môi son để lộ cái ánh sáng của những cái
răng màu hạt trai, để mà nhận cái hôn của chàng một cách rất đằm thắm, rất say
sưa... Thì là chàng được mãn nguyện! Thì chàng mới có thể được biết cái gì là
thú vị của một cái hôn! Nhưng chẳng bao giờ Quỳnh lại làm như ý của Liêm muốn!
Nàng chỉ hay cúi mặt xuống, vì hổ thẹn, hoặc là quay hẳn mặt đi tránh sự âu yếm
của người yêu một cách gián tiếp, hay là nhìn sang tả, nhìn sang hữu, quay lại
sau lưng, sợ có ai trông thấy mình.
Cái cao hứng của Liêm thường bị dập tắt đi như thế.
Cho nên, khi ý nghĩ kia nảy ra trong óc, là tức khắc Liêm thảo
một lá thư nhỏ trong có ba dòng, hẹn Quỳnh đến nhà của Cử Tân. Trong ba dòng,
Liêm đã tìm ra được những câu văn mạnh mẽ để cho người yêu khỏi phải nghi ngờ,
khỏi phải do dự, khỏi phải sợ hãi. Nhất là Liêm lại hẹn vào lúc hai giờ chiều,
thì đó là một cái cớ cho Quỳnh an tâm ra đi. Ban ngày ban mặt, một thiếu nữ ra
đi đường hoàng giữa thanh thiên bạch nhật, như vậy, ắt nàng chẳng phải lo ông
và bà phán Hòa ngờ vực gì nữa. Mà thiên hạ liệu còn có người nào bảo rằng một
thiếu nữ sau khi kiếm được một cái cớ nhỏ để bỏ cửa hàng trong một vài giờ, giữa
lúc hai giờ chiều, mà lại là “đi với trai”!
Liêm chắc Quỳnh thế nào cũng đúng hẹn.
Nhưng hai giờ rồi mà vẫn không thấy gì cả! Liêm hé mở cửa sổ,
nhìn qua cái hàng rào sắt, trông ngóng... Rồi tình cờ, Liêm xuống hẳn sân, nhìn
vào cái hầm, cái chỗ ở của bọn gia nhân nhà Cử Tân. Người bếp lúc ấy nằm ngủ thẳng
cẳng trên cái chõng tre, ngáy ran lên, tựa hồ như đó là một người suốt một đời
chưa bao giờ được ngủ ngon như thế. Chàng gật đầu, hài lòng lẩm bẩm: “Ấy nó chẳng
biết chuyện gì là hơn!”. Chàng ra cửa hé một bên cánh cổng sắt để cho người yêu
lúc nào đến, thì sẽ khỏi e ngại. Chàng chỉ định thế rồi quay lên ngồi chờ,
nhưng, không nghĩ ngợi lại vô tâm bước ra... Chàng nhìn về phía đầu phố thì
trông thấy Quỳnh đã lững thững đi đến. Liêm để cho tình nhân thấy mình, nhận được
nhà rồi lại quay vào.
Khi Quỳnh dừng chân trước cái cửa đã hé mở thì, đứng trên
gác, Liêm vẫy tay ra hiệu bảo cứ việc lên. Tuy vậy, Quỳnh cũng rảo gót như một
người tìm một chỗ trốn tránh, dáng điệu ngượng ngùng, hấp tấp. Đứng trước cái cửa
phòng lúc ấy cũng hé mở, nàng hình như đắn đo, nghi kỵ. Liêm phải giục :
- Thì vào trong này đi nào!
Quỳnh còn hỏi :
- Nhà ai đây, hở anh?
- Hãy vào đi đã rồi nói chuyện cũng được.
Nói xong, Liêm đẩy nàng vào, khép ngay cửa lại. Muốn cứu chữa
cho cái cử chỉ có lẽ lỗ mãng của mình, chàng tiếp :
- Thế này là chúng ta thật được yên ổn hoàn toàn trong nửa giờ
để mà ngồi nói chuyện với nhau! Enfin... seulsz 4.
Quỳnh khẽ rú lên một tiếng. Liêm ngạc nhiên, quay lại... Đó
là cái đầu lâu nó khiến Quỳnh khiếp đảm đến thế! Chàng cười, cầm tay người yêu
khẽ lôi ra chỗ cái ghế dài ở góc phòng đằng kia :
- Không sợ! Cái đó là người ta bày làm đồ chơi, không có ma.
Ta ngồi xa xa, ở đây vậy.
- Nhà này là nhà ai, hở anh?
- Nhà một ông giáo sư già, đỗ cử nhân, bạn dạy học của anh.
- Thế ông ấy đâu?
- Ông ấy đi xa một tuần lễ, nhờ anh đến đây ở hộ.
- Lạ nhỉ?
- Chính thế đấy.
- Người ngủ dưới nhà hẳn là đầy tớ?
- Bẩm vâng ạ.
- Sợ nó biết...
- Bẩm không ạ! Nó ngủ thì ắt nó không biết, và dẫu có biết
thì nó cũng không dám nói với ai, vì nó sợ nói với ai thì chủ nó sẽ đuổi nó!
Một câu dài như thế, Liêm nói có một hơi, khiến Quỳnh phải
phì cười. Nàng tiếp :
- Em bảo với cô em là em đi xem mẫu khuy.
Liêm tắc lưỡi :
- Mặc! Em chỉ ở đây lâu lắm là một tiếng đồng hồ là cùng. Ban
ngày ban mặt thế này, vào một nhà tử tế như thế này, trong một nơi kín đáo, ấm
cúng như thế này, thì còn sợ gì nữa.
Chưa chi một tay Liêm đã ôm lấy Quỳnh ngang lưng. Tay kia
chàng nâng bàn tay người yêu lên, đặt vào đấy một cái hôn kính cẩn hơn là âu yếm.
Quỳnh để vậy, nhìn ra trước mặt khẽ thở dài. Nàng thừ người ra.
Những ý nghĩ của Quỳnh lúc ấy là rất phức tạp. Trong óc nàng
có sự xung đột của cái liều lĩnh và cái hối hận. Biết thế nàng chẳng đến cho
xong! Nhưng mà nàng yêu! Nhưng mà sợ Liêm giận! Liêm hay hôn Quỳnh lắm, hay làm
cho Quỳnh phải ngượng lắm. Nhưng chính vì cái chỗ hay làm nàng ngượng ấy mà
Liêm mới đáng quý! Vả lại, có hai bên bố mẹ chồng nhận rồi, đối với một cái
tình như thế, liệu nàng còn dám ngờ vực gì nữa, còn dám từ chối gì nữa.
Lúc bấy giờ, mặc cho Liêm tự do hôn tay, hôn má, Quỳnh cứ thừ
người ra để băn khoăn. Nàng mang máng thấy rằng thôi thế là xong, dễ thường
nàng cũng hư hỏng như trăm nghìn người khác! Nhưng liệu có phải chính thế
không? Quỳnh cũng hư hỏng! Có lẽ nào! Liêm, dẫu sao cũng đã là chồng nàng rồi.
Nàng dẫu sao, cũng là vợ Liêm rồi. Không, có gì đâu?... Nàng không hư hỏng được!
Liêm yêu nàng, đã hỏi nàng làm vợ, nay mai sẽ cưới thì nàng đành phải chiều ý
người chồng cho đủ bổn phận của một người vợ ngoan ngoãn, chứ biết tính sao
đây! Miễn cái yêu có chừng mực, đừng vượt ra ngoài lễ giáo một cách quá đáng, đừng
dắt đến sự càn rỡ.
Gian phòng lúc ấy tranh sáng tranh tối, và cái cửa sổ mở hé.
Thật vậy, bốn bề chỉ có tường, tủ sách, tranh ảnh, hai người chỉ là một, ở giữa
cái thế giới riêng.
Liêm không còn tự chủ được nữa. Bao nhiêu cái biết mà chàng
đã được Khánh - cô gái giang hồ tập sự - vỡ lòng cho, lúc ấy cũng đồng thời thức
cả dậy, hình như để đón chờ những cảm giác cũ một lúc, rồi lại mới mãi mãi. Tay
chàng lúc ấy đã để xuống chinh phục cái ngực của Quỳnh... Chàng mơn man cái da
thịt còn nguyên vẹn, còn băng tuyết ấy, như một tay lọc lõi sành sõi. Chàng lại
nghiệm ra rằng cái ân huệ cuối cùng trong sự vỗ về, ôm ấp một gái giang hồ chẳng
đủ khiến mình được rung động như một chút ân huệ nhỏ mọn của người yêu. Nhưng
Quỳnh đã hất tay Liêm ra, khẽ bảo :
- Đùng nên thế, anh! Em muốn ái tình của đôi ta cao thượng,
trong sạch...
Liêm nghiêm mặt lại mà hỏi một cách dằn dỗi :
- Thì em cho anh là một kẻ thô tục, vũ phu, đểu giả lắm đó à?
Quỳnh ngước mắt nhìn lên, sợ hãi lắm. Liêm giảng giải một
cách chỉ ích cho mình :
- Không, em chớ nhầm. Đã yêu nhau thì không có gì trong sạch
cũng như không có gì bẩn thỉu cả. Ai cũng đến thế mà thôi! Chỉ khác rằng yêu vì
một cái nghĩa lâu dài, hay vì cái nhục dục của một phút... Chúng ta nay mai lấy
nhau thì dẫu đến thế nào đi nữa, cũng chỉ chính đại quang minh mà thôi. Cái
dâm, dẫu rằng phải kể đến cái dâm trong đôi ta, thì cũng nên phân biệt cái gì
là dâm tà, cái gì là dâm chính... Không định lấy nhau mà yêu nhau, ấy là tà,
còn định ăn đời ở kiếp với nhau mà ăn nằm với nhau, ấy là chính.
Quỳnh không còn biết nói năng gì nữa... Người ấy lại chẳng là
người chồng, nghĩa là người bảo gì thì nàng cũng phải vâng lời đó hay sao? Nàng
đành để cho Liêm vỗ về ôm ấp...
Không thể kìm được sự rạo rực của xác thịt, Liêm tuy biết
mình đương làm một việc càn rỡ mà cũng đứng lên đóng hẳn cửa sổ lại để cho hai
cái mặt khỏi phải nhìn thấy nhau mà thêm ngượng. Một lát sau, trong cái tối âm
u, lặng lẽ của gian phòng, có tiếng rên rỉ của Quỳnh, của một thiếu nữ lần đầu
trong đời bị thương ở chỗ vô cùng trong thân thể, một tiếng kêu đáng yêu thương
dịu dàng đủ vẻ :
- Anh ôi! Anh Liêm ơi!
Thế là buổi chiều hôm ấy, Liêm đã làm cái việc mà luật pháp
đành phải bao dung nhưng luân lý kết án.
--------------------------------
|
Thời ấy người ta quen gọi người Anh là Hồng Mao. |
|
|
Nói theo tiếng Pháp bình dân là cái nhà. |
|
|
Thời ấy thiếu niên có nghĩa như thanh niên ngày nay. |
|
|
Rốt cục... một mình. |
II
Quỳnh sợ hãi lắm, phải cúi gằm mặt xuống.
Quả tim nàng bắt đầu đập rộn, cố nhiên...
- Sao cô lại nói thế? Cô muốn nói cái gì? Hay là cô đã biết
rõ cả mọi chuyện rồi chăng? Thật là khó hiểu... - Nhưng may sao là chưa để cho
nàng kịp đáp, bà phán Hòa đã lại nói nốt - Thật thế đấy... Cô bảo thì chị nên
nghe mới được. Chị có giận, cô cũng đành phải nói. Cô vào bậc cha chú, biết sự
đời là gì, đã khuyên bảo thì chị phải nghe. Người ta đã có trầu cau ăn hỏi tử tế
rồi, vậy mình lại càng phải giữ giá trị mình lắm, kẻo không người ta khinh cho.
Nếu một khi người ta đã khinh được mình rồi thì cái việc ăn đời ở kiếp với nhau
về sau là rất khó. Chị nên cẩn thận lắm lắm mới được.
Đến đây, Quỳnh xem chừng lời lẽ của cô chỉ là mơ hồ thôi, nên
đã biết đối đáp :
- Thưa cô, con (vào những lúc thân yêu, Quỳnh thường tự xưng
là con) có làm gì đáng trách đâu?
Bà phán Hòa giảng giải :
- Nghĩa là cô cứ bảo trước đi là vừa... Chứ nếu lại để xảy ra
sự gì rồi, thì còn nói làm gì nữa!
- Con vẫn biết lắm, cho nên con vẫn giữ gìn thận trọng lắm.
- Những khi người ta đến đây thì con đừng nên tiếp chuyện mới
phải. Giá con lánh mặt đi thì hơn nữa, nhưng mà lại bận trông hàng! Đã thế, đừng
có chuyện trò, đừng có cười cợt với nhau, cái sự ấy đối với người ngoài là khó
coi lắm, phải hiểu như thế mới được! Chị không biết chứ những khi cô ở trong
nhà mà bước ra cửa hàng mà đã thấy chị với người ta đứng với nhau hàng nửa giờ
rồi thì chính cô cũng cứ ngượng cả mặt, chẳng còn biết nói ra làm sao...
Quỳnh khẽ cười nhìn lên hỏi :
- Thưa cô, chả nhẽ anh ấy cứ đứng đấy thì cháu biết làm thế
nào? Chả nhẽ anh ấy hỏi điều gì thì cháu cũng không đáp!
- Có khó gì cái sự ấy! Không phải cô dặn chị phải lãnh đạm,
phải cự tuyệt người sau này sẽ là chồng của chị. Nhưng mà cái gì cũng nên phiên
phiến thôi. Thí dụ người ta hỏi mình độ mười câu mà mình chỉ đáp rất gọn vài ba
câu thôi thì người ta dần dần cũng phải hiểu... là không tiện nói chuyện nhiều
quá. Chứ lại cũng cứ liên liến, cứ vồ lấy chuyện mà đáp lau láu người ta mãi
mãi thì còn nói gì nữa?
- Cháu có liến láu với anh ấy bao giờ đâu nào!
Đến đây, bà phán Hòa đứng lên. Trước khi vào, bà còn giơ ngón
tay trỏ, ra một cái lệnh nghiêm trọng :
- Phải giữ gìn đủ mọi đường mới được! Không nói chuyện, cái ấy
đã đành, nhưng mà lại phải giữ đừng có bao giờ thư từ gì cho nhau cả, điều ấy
cũng lại can hệ hơn! Cấm tiệt mọi sự đấy! Thế chị đã nghe ra chưa? Chị nên biết
rằng nếu chị mà không ra gì thì mẹ chị cứ lại mặt tôi mà mắng!
Nói xong, bà phán Hòa vào nhà trong.
Quỳnh mừng rỡ vô cùng, vì đó là chứng cớ hiển nhiên rằng cô
ruột của nàng chưa biết một tí nào cả. Như một đứa trẻ ăn vụng không bị bố mẹ bắt
quả tang, đã thoát khỏi trách mắng. Thoạt đầu, nàng đã sung sướng một cách ngây
thơ... Nhưng cái vui ấy chỉ được có một lúc thôi; nàng chẳng còn là cô gái ngây
thơ như trước nữa. Hơn nữa, không những đã 22 tuổi, sau khi phó thác thân thể
cho tình lang, cô thiếu nữ ngây thơ bỗng vụt trở nên một người đàn bà! Bắt đầu
có trí khôn, Quỳnh đã biết ngay là mình dại. Bắt đầu có một cái lương tâm rõ rệt,
Quỳnh đã bị ngay cái lương tâm ấy cắn rứt.
Thế rồi nàng ngồi thừ ra, hai lông mày cau lại, nét mặt đăm
chiêu... Không! Nàng không ngờ chính nàng lại táo tợn đến bậc ấy! Có thể như thế
được chăng? Không! Không có thể được. Không có lý nào! Vậy mà...
Thôi, thế là xong! Cô đã dặn đừng có thư từ gì với người chồng
chưa cưới... thì xưa nay Quỳnh đã thư từ đi lại mãi rồi! Cô đã dặn không được
năng chuyện trò với người ấy... Thì nàng đã lẻn nhà đi chơi với người ấy nữa!
Cô nàng đã dặn nàng phải giữ gìn, phải thận trọng... thì nàng đã suồng sã, đã
hiến cho người tình mất cả chữ trinh!
Nghĩ đến đây, Quỳnh đỏ bừng mặt, tự mình cũng phải hổ thẹn với
mình. Trí nhớ của nàng rụt rè trở lại với việc cũ để cho lương tâm nàng sỉ nhục
nàng mãi không thôi... Một ít khoái lạc trong giây lát với cơn đau đớn một vài
giờ, ấy đó, sự đời, cái sự đời mà người trong sạch đến bậc nào cũng đôi khi bị
lòng tò mò thúc giục muốn nếm trải, muốn biết rõ, thì nó chỉ có thế! Thật là bất
ngờ! Nàng không bao giờ lại dám tưởng rằng mình có khi phó thác thân thể mình
cho một người đàn ông - dẫu là vị hôn phu một cách dễ dàng đến như thế. Nàng
không ngờ rằng từ cái hôn nó chỉ là một thứ ân huệ nhỏ mọn, người yêu của nàng
lại có thể đi đến cái việc vô cùng hệ trọng cho cả một đời nàng, mà lại dễ hơn
là trở bàn tay. Thật ra, nàng nào phải là người hư hỏng, bị sự thúc giục của tuổi
dậy thì làm cho hóa ra càn rỡ, cho cam! Trái lại, từ khi bắt đầu yêu, chính là
nàng vẫn tự chủ luôn rằng phải cố làm thế nào cho đừng đến nỗi phạm phải cái điều
ấy, thế mới lạ! Thì ra cổ nhân đã nói không sai: khôn ba năm dại một giờ. Thì
ra đời này, đừng có ai cậy mình khôn mà được.
Nhưng mà đó chưa phải là điều cốt yếu.
Nhưng mà những ý nghĩ vừa qua chưa phải là một phương giải
quyết.
Điều cốt yếu là, sự đã thế rồi, thì liệu người chồng chưa cưới
của Quỳnh có khinh bỉ nàng hay không! Nếu có, nàng sẽ phải lấy cách gì ra đối
phó? Đến đây, Quỳnh lầm bầm: “Không, ta chẳng lo gì cái sự ấy. Một người như
Liêm chẳng phải là kẻ yêu ta, được ta rồi lại bạc tình, thì giở mặt với ta...”.
Trong lúc lo âu, cô gái nhẹ dạ đã tìm ngay được cách an ủi giản dị ấy. Đó há lại
chẳng phải là phương châm cuối cùng của những kẻ có linh hồn yếu đuối như Quỳnh
hay sao! Nàng nhớ lại cái thái độ của Liêm từ khi bắt đầu yêu nàng, những ngôn
ngữ, những cử chỉ toàn là biểu lộ một tấm tình nồng nàn tha thiết... Và đã mấy
tháng nay Liêm không hề thay đổi.
Ấy thế rồi Quỳnh tạm được yên tâm.
Nàng đứng lên, quên ngay cái lỗi tầy đình mình đã phạm phải,
và chỉ còn nhớ những lời dặn bảo của người cô ruột: “... mình lại càng phải giữ
giá trị của mình lắm, kẻo người ta khinh đi cho. Nếu một khi người ta đã khinh
được mình rồi thì việc ăn đời ở kiếp với nhau về sau là rất khó!”. Đó là lẽ phải,
đó là sự khôn ngoan.
Quỳnh đứng lên, ra tựa cửa...
Vào lúc ấy, Thanh đi qua, Quỳnh khẽ nghiêng đầu chào, nhưng
Thanh cho đó là được mời vào, nên vào ngay tức khắc. Sau mấy câu chào hỏi, thấy
hàng vắng, Thanh tỉ tê đem chuyện riêng của mình ra kể, và cũng hỏi Quỳnh về
chuyện hôn nhân.
- Thế bao giờ thì cho tôi ăn cỗ đấy?
- Cái đó tùy bên nhà trai, chứ sao chị lại hỏi?
- Thôi, chị thế là an phận, em cũng mừng cho chị lắm. Từ hôm
em được biết tin đến giờ, em lại buồn thay cho em. Chị ạ, anh Liêm cứ trông mặt
mũi, cũng đủ biết là người đứng đắn, tử tế! Hạng người như thế, dám chắc không
khi nào có thể đang tay làm khổ được một người đàn bà... Một cặp vợ chồng như
thế, trai tài gái sắc, thế là tốt đôi. Chị nên biết rằng thế là chị được hưởng
hạnh phúc ở đời rồi đó.
Quỳnh cúi mặt vì quá sung sướng, ấp úng đỡ lời :
- Chị quá khen!
Thấy Liêm được Thanh khen vắng mặt, Quỳnh bỗng đem lòng yêu mến
ngay Thanh. Nàng lại hơi hối hận vì trước kia đã cư xử ra chiều lãnh đạm với
người bạn gái của nàng vì đã hiểu lầm trong một thời kỳ nên chưa rõ cái bụng dạ
quý hóa... Bao nhiêu sự xích mích nhỏ nhen, bao nhiêu cái ghen ty tầm thường,
giữa hai người xưa kia, nay bỗng tiêu tan hết cả. Quỳnh nói đã khéo. Thanh lại
khéo hơn. Người ta cứ việc dùng những lời dịu dàng văn hoa ra an ủi nhau quá
đáng mà cũng không biết nữa. Và đó là một điều thú vị lắm, dễ chịu lắm; khi người
ta xử hòa với nhau một cách ngấm ngầm mà yêu quý nhau một cách công nhiên. Dần
dần, trong một lúc cao hứng, Thanh đã đem cả một sự tưởng chừng phải giữ bí mật
lắm, nói cho Quỳnh rõ :
- Chị ạ, như em thì em thiết nghĩ không cần gì đời. Em cho rằng
đàn bà là được cái địa vị để cho đàn ông phải trọng đã, phải tòng phục... Chứ họ
không có quyền gì bắt nạt hay lấn át ai cả! Muốn tử tế thì đây cũng xin tử tế,
mà muốn giở mặt thì đây cũng giở mặt ngay cho mà xem!
Quỳnh vẫn không hiểu rõ đầu đuôi ra làm sao, và chỉ biết rằng,
trong khi nói những lời ấy thì cặp môi của Thanh cứ cong tớn lên, thế thôi.
Nàng cầm cái bút chì cứ nguệch ngoạc lăng nhăng trên bìa quyển sổ viết (một quyển
sổ cẩu thả) vừa mỉm cười vừa lắng nghe bạn nói hằn học... Rồi hỏi :
- Thế bây giờ xoay ra làm sao?
- Nó muốn giở mặt, lại ra ý khinh bỉ gia đình nhà em, thì em
chỉ còn cách cự tuyệt ngay tức khắc! Chị ạ, em tức quá, chữ em thì xấu, mà em
viết thư thì không bao giờ lại được gãy gọn...
Trong một lúc cao hứng cực điểm, không biết mình sắp làm một
việc rồ dại, Quỳnh phăm phăm nói ngay một cách nửa thật nửa bỡn :
- Nào, có định thế thật không nào! Để tôi xin giúp một tay!
Thanh không thấy cái ý nghĩa bông đùa trong câu nói ấy, giận
dữ kể lại tình cảnh... Nào là hai người yêu nhau đã ngót một năm, rồi người đàn
ông có ý chán, dễ thường mê người khác, rồi Thanh cũng có ý thay đổi, muốn đoạn
tuyệt, sẵn lòng dứt tình, để có thể cũng được tự do yêu người khác... Cái vấn đề
muôn năm giữa phái nam nữ tự do yêu nhau chứ nào có gì lạ đâu! Thuật chuyện
xong, Thanh yêu cầu bạn thảo qua hộ lá thư cự tuyệt rất rắn rỏi để cho nàng sẽ
theo đó mà chép lại... Thanh khẩn khoản lắm, nói một cách rất đứng đắn nữa, khiến
Quỳnh chẳng còn kịp nghĩ xa xôi. Vả lại cái tuổi trẻ là cái tuổi tự đắc, hay
khoe khoang. Quỳnh muốn cô bạn có dịp biết rằng nàng cũng là một tay “văn
chương” chứ không phải kém!
Thế là nàng xé ngay tờ giấy trắng cuối cùng ở quyển sổ bán
hàng, sẵn bút chì, thao thao bất tuyệt thảo ngay một lá thơ. Thanh đọc xong,
khâm phục lắm, cảm ơn mãi, và chỉ yêu cầu chữa qua loa một vài chữ. Thanh gập mảnh
giấy nhét vào miệng cái gói giấy trong có một cái khăn sa tanh mới may ở Hàng
Ngang.
Hai người lại chuyện trò huyên huyên hồi lâu nữa, nghĩa là
làm cái việc có thể cho người bề trên sỉ nhục là: “Lúc nào cũng chỉ nói chuyện
trai!” mà không biết mình cũng hơi hư hỏng một chút.
Đồng hồ đánh 5 giờ làm cho Thanh sửng sốt đứng lên...
- Chết, thôi xin phép chị, em phải về!
Vừa lúc ấy, có hai chàng “công tử bột” rầm rộ bước vào. Vội
phải tiếp khách, Quỳnh không kịp dặn bảo gì người bạn gái. Lúc hấp tấp đi vòng
quanh cái quầy hàng để nhường lối cho khách đi, trong một phút lơ đễnh, Thanh
không biết rằng cái thư mà Quỳnh viết hộ đã rơi lọt khỏi bọc giấy nhật trình để
nằm trên mấy mẩu giấy gói hàng khác, ở một khe tủ... Thanh ra gọi xe mặc cả, gắt
với phu xe một hồi, rồi bước lên.
Hai người khách hàng trẻ tuổi, cũng như trăm nghìn thiếu niên
khác, vào hàng là cốt để nói nhiều mà mua ít. Một người hỏi xem các thứ nước
hoa và một người hỏi mua một hòn bi ve. Xưa kia Quỳnh bị khách hàng bông lơn
hay trêu ghẹo cũng đã nhiều, nhưng nàng không hề cho một ai có dịp tóm lấy những
lời nàng đối đáp để mà tán ma tán mãnh nhiều hơn nữa.
Nhưng hôm nay, tình cờ Quỳnh lại chịu khó ứng đối, vì nàng
sung sướng nghĩ đến Liêm, cho rằng không ai bằng Liêm, mà nếu ai còn dám ghẹo
nàng thì nàng cũng trêu lại chơi một phen cho mà xem!
- Thưa cô, cô có nhiều thứ thơm quá, ngần này lọ mà tôi không
biết nên mua lọ nào cả thì có khổ không!
- Dạ, bẩm ông cứ việc mua theo cái cần dùng của ông chứ sao!
- Vâng, nhưng mà khó nghĩ lắm. Tôi mạn phép xin cô khuyên tôi
lấy thứ nào đây!
- Tùy ông chứ!
- Cái đó đã đành! Lấy ai mà chả tùy tôi! Nhưng mà cô nên
khuyên tôi kẻo tôi lầm lẫn. Hiện tôi mua nước hoa là để biếu đàn bà. Vậy cô thử
bảo đàn bà họ ưa thích thứ nào? Tôi thì mua thứ nào có thể làm vui lòng người
đàn bà?
- Ông nên lấy họ Houbigant 1 này,
vì giá vừa phải...
- Bẩm vâng! Biếu thứ này thì làm vui lòng người đàn bà nhận
được thứ nước hoa ấy. Nhưng mà còn người đàn bà bán thứ nước hoa ấy thì biết
làm thế nào cho người ấy vui lòng hử cô?
Quỳnh cả cười dễ dãi nói :
- Thì ông phải mua thứ nào đắt nhất! Cái này ba đồng tư.
- Vâng tôi lấy cả hai! Vậy cô có bằng lòng cho tôi lấy cả hai
không?
- Ông lấy cả hai lọ nước hoa hay là cả hai người đàn bà?
- Ấy chết! Bẩm, cả hai lọ nước hoa ạ!
Người kia (lúc ấy đương chọn bi ve) nói một cách ranh mãnh :
- Vợ cả vợ hai, hai vợ cùng là vợ cả!
Rồi, đánh rơi hòn bi xuống đất, người ấy cúi xuống nhặt, và
nhận thấy lá thư gập đôi có chữ “anh ơi” bèn tò mò cầm lên, bỏ vào túi một cách
bất lương. Xong rồi, người ấy lại đem chuyện bi ve ra ám ảnh mãi.
- Thưa cô, nhớn tuổi, to đầu như tôi thì nên chơi hòn bi nào?
- Bẩm tùy ông...
- Cô bán hàng tất cô phải hiểu. Con trai sắp lấy vợ thì nên
đánh thứ bi nào!
Quỳnh quay lại cười ngây thơ mà rằng :
- Thì người ta cười cho chết!
Liêm, lúc ấy đứng bên ngoài cửa kính đã được ba phút, đã bất
bình lắm! Quỳnh của chàng lại cười cợt với mấy thằng khốn nạn kia! Chàng phăm
phăm bước vào, cau mặt, đi lại như ông chủ hiệu, tỏ ra mình là người thế nào với
cô bán hàng. Cụt hứng, hai anh chàng kia trả tiền và bước ra... ngượng nghịu và
khó chịu.
Liêm nhìn Quỳnh trừng trừng làm cho nàng tái mặt, lo sợ về
cái tội đã cười với khách. Rồi nàng cúi mặt lẳng lặng vào nhà gọi cô ra trông
hàng thay. Liêm phải tươi cười với người mợ họ, để mà tức tối trong lòng, vì Quỳnh
không ra hàng nữa.
Nửa giờ sau, Liêm phải chào người mợ, ra đi...
Bữa ấy, trong lòng chàng có một cái tức giận có nghĩa lý hẳn
hoi và trăm nghìn mối ghen tuông chưa có nghĩa lý.
--------------------------------
|
Một hiệu nước hoa có tiếng ở Pháp. |
III
Năm tiếng chuông thong thả, ngân nga, điểm 5 giờ.
Đương ngồi xem một tờ báo cho khuây khỏa nỗi sốt ruột, Liêm bỗng
giật mình, phải đứng hẳn lên. Có thể như thế được chăng? Liêm không hiểu nổi nữa!
Quỳnh đã sai hẹn. Không phải đến muộn quá mà thôi, lần này Quỳnh không đến nữa.
Vì Liêm đã hẹn người yêu từ 3 giờ rưỡi cho đến 4 giờ. Vậy thì vì cớ gì? Xưa
nay, đối với Liêm, Quỳnh đã tỏ ra phục tòng lắm. Chưa là chồng hẳn, Liêm cũng
đã giữ cái địa vi chúa tể, có cái quyền sở hữu người đàn bà ấy trong tay. Cho
nên đối với một người tình nhân sẵn có cái óc độc tài, một việc nhỏ nhen cũng
trở nên có cái nghĩa hệ trọng. Liêm bỗng nổi giận bừng bừng...
Chàng không hiểu rằng mình thế là không biết điều chút nào.
Khi được quá tin, quá yêu, chàng vô tâm lạm dụng cả tin lẫn yêu. Rồi những sự
chàng được hưởng đáng lẽ chỉ nên coi là đặc ân, thì chàng cho ngay là mình có
quyền, quyền sai khiến, quyền bắt bẻ, quyền giận dỗi nữa.
Nhưng đó cũng chẳng là lỗi riêng ở Liêm mà thôi. Cho nên Liêm
quên ngay rằng trong cuộc ái ân, nếu Quỳnh đã làm cao, đã khó tính, đã kiêu ngạo,
thì trong hai người, chính Liêm sẽ là tên nô lệ. Chàng không nhớ rằng khi bắt đầu
yêu vụng dấu thầm người thiếu nữ mà “cuộc đời là một bài thơ” ấy, trong những
thời kỳ quên ăn bỏ ngủ, bị cái khát yêu giày vò tàn nhẫn, thì chàng đã yên trí
ngay rằng nếu được hưởng chỉ có một cái cười vô tình, chỉ một câu đáp ngọt
ngào, chỉ một thái độ nhã nhặn hay kín đáo của thiếu nữ ấy, chàng cũng đã đủ
sung sướng vô cùng để mà coi những điều lặt vặt ấy là những sự to tát đáng cho
đến chết cũng vẫn phải nhớ ơn...
Nhưng sự đời đã không khó khăn như Liêm đã tưởng.
Cuộc chinh phục đã quá dễ dàng. Liêm chỉ còn nghĩ đến cái quyền
của mình chứ không kịp nghĩ đến cái ơn của người yêu. Đáng lẽ cũng phải xử sự
như người yêu của mình, chưa chi chàng đã có thái độ của một ông chồng áp chế. Đáng
lẽ cũng phải yêu, Liêm chỉ vội nghĩ đến hờn giận mà thôi. Đáng lẽ phải yêu Quỳnh,
thì Liêm chỉ yêu Liêm mà thôi, mà lại yêu mình qua người khác vậy?
Liêm đứng tựa lưng vào cột, tầm mắt đặt ra phố xá nhưng không
trông thấy cái gì cả. Như một cô thôn nữ dệt xong tấm lụa thì phải xem lại cả tấm
để tìm những chỗ có mấu, những đoạn lỗi chỉ, Liêm cũng lần lần kiểm soát cuộc
tình duyên của mình đã mấy tháng nay. Ích kỷ một cách vô tâm, chàng bỗng thốt
ra một câu: “Tại sao Quỳnh lại thay đổi?”. Thật thế, cái tiếng thay đổi vô
tình đã len vào sự nghĩ ngợi của Liêm. Chàng không biết rằng đối với những thiếu
niên, trong tình trường, khi một sự gì đã không có thi vị thì tức khắc nó phải
trở nên có tính chất bi thảm. Người đương yêu không phải là một người thường như
mọi người, nên trong sự gì cũng thấy bất thường hoặc phi thường. Cho nên chàng
không tìm thấy lý lẽ nào chính đáng để tha thứ cho Quỳnh cái sai hẹn hôm nay.
Chàng nhớ ngay đến những cái cười, những câu đáp, cái vẻ nhí nhảnh được sung sướng
của Quỳnh, lúc tiếp hai thằng công tử bột, chúng đứng tán ma tán mãnh... Liêm bắt
đầu ghen...
Chàng nhớ rõ ràng lúc ấy, đứng dừng chân bên ngoài cửa kính,
những cử chỉ của Quỳnh đã bị bắt được... quả tang.
Ngay bấy giờ, Liêm cũng còn như đương trông thấy cái cảnh ấy
trước mắt. Quả tim của Liêm bỗng lại thổn thức đập mạnh... Máu trong huyết quản
tựa hồ dồn cả lên hai bên thái dương... Người yêu thương nhất đời của chàng,
người vợ chưa cưới của chàng, người mà chàng đã gọi là “người mà cuộc đời là một
bài thơ” thì, than ôi! Cái lẳng lơ là không còn phải ngờ gì nữa! Quỳnh, Quỳnh
mà chàng yêu thiết tha như thế, yêu đứng đắn như thế, yêu để mà định lấy làm vợ
chứ chẳng còn phải vì cái manh tâm trên bộc trong dâu gì nữa, thì người đàn bà ấy,
thật thế, cũng lại như trăm năm nghìn người đàn bà khác mà thôi!
- Đồ khốn nạn! Đồ đĩ!
Liêm cau mày xỉ vả một câu như thế vào chỗ trống không, y như
là chàng xỉ vả vào mặt Quỳnh vậy. Cử chỉ ấy chẳng những không làm cho Liêm
nguôi mà thôi, mà lại còn khiến chàng nổi giận hơn trước nữa. Chàng ghiến răng
dậm mạnh gót chân xuống đất, rồi bỏ dãy hành lang mà vào phòng. Ngồi trên cái
ghế lùn, chàng lấy hai tay bưng trán. Và những ý nghĩ đen tối, bi quan, thảm đạm,
đã đến lúc được chiếm đoạt hoàn toàn cái tư tưởng của Liêm.
Thật vậy, một người con gái mà nhí nhảnh với những con trai lạ
mặt, chúng đương kiếm cách bông đùa mình, thì đó có phải là người đứng đắn nữa
không? Quyết rằng không, vì người đàn bà hoàn toàn đứng đắn thì phải nghiêm mặt
lại mà lặng thinh, hoặc là, nếu không muốn làm mất lòng những khách hàng của
mình, thì ít ra cũng biết phát biểu lòng khinh bỉ của mình ra một cách kín đáo.
Nhưng mà, than ôi, đối với ai kia, chứ đối với Quỳnh thì lại khác hẳn! Quỳnh
không biết rằng đã có chồng rồi mà lại còn tươi cười đáp liến láu những lời
bông phèng nhảm nhí của đàn ông khác, là lẳng lơ. Trái lại, Quỳnh còn ra vẻ
sung sướng vì được người ta trêu ghẹo nữa! Mà đối với đàn bà thì phải hễ cứ có
chồng rồi thì mới phải giữ gìn khép nép hay không? Tưởng rằng dẫu chưa có chồng,
dẫu chưa được ai dạm hỏi, thì cũng phải giữ đứng đắn thì mới phải là giống người
chứ?
Nghĩ đến đây, cái ghen tuông bóng gió của Liêm tăng lên đến cực
độ. Chàng đã được yên trí: Quỳnh là người lẳng lơ, thế thôi. Chàng không cần phải
ngờ vực gì nữa! Không cần phải lý luận nhiều nữa! Xưa kia, Liêm tưởng người mà
chàng kén chọn là một người ngoan. Nhưng đã muộn rồi! Quỳnh mà ngoan? Nếu vậy
thì Quỳnh cũng ngoan ngoãn như những thiếu nữ hư hỏng khác, ấy thế!
Cố nhiên là những ý nghĩ chua cay của Liêm không phải chỉ dắt
chàng có đến sự kết luận ấy mà đã là thôi đâu. Chàng còn nhớ lại những ngôn ngữ
và cử động của Quỳnh, những lúc hai người lẻn nhà đi chơi với nhau, ăn nằm với
nhau... Ăn nằm với nhau... Ừ, mà sự quả đã có thế thật, cái con người ngoan
ngoãn ấy, mà cuộc đời là một bài thơ như thế? Chút nữa thì Liêm quên! Than ôi,
chút nữa thì chàng quên rằng người thiếu nữ đứng đắn ấy, hoa khôi của một phố,
cái tiếng nết na thùy mị đã hầu trở nên một thành ngữ đối với những ai quen biết,
mà Liêm cho là đứng đắn mà cả nhà Liêm cũng đồng ý nữa, thì đã ăn nằm với một
thằng đàn ông, mặc dầu người ấy chính là Liêm! Cái sự nhảy ra ngoài lễ giáo như
thế mà có tỏ rõ một đức tính gì, hoặc là yêu, hoặc là tin, hay là cái gì khác
thì chẳng biết, nhưng bảo là chứng cớ sự ngoan ngoãn của một thiếu nữ thì, hỡi
ôi, cái đó quyết rằng không! Quỳnh đã nhẹ dạ cả tin Liêm chứ có phải nhẹ dạ cả
tin người nào khác đâu? Liêm đã nghĩ lại như thế. Nhưng mà than ôi! Ngay sau đó
thì Liêm cũng đã nghĩ luôn ngay rằng: “Nếu nó ngủ với mình được thì nó cũng ngủ
với thằng khác được lắm!”.
Đến đây ý nghĩ ghen tuông của chàng vấp phải một vấn đề lương
tâm. Chàng nhớ lại rằng khi bắt đầu ôm ghì Quỳnh vào lòng mà hôn thì Quỳnh đã
run lẩy bẩy cả chân tay, thổn thức cực điểm, đã tỏ rằng Liêm là người đàn ông
thứ nhất được chiếm đoạt - dẫu là bề ngoài - cái thân thể còn trong sạch ấy.
Ngay cả đến lúc bị dục tình xô đẩy, Liêm cũng vẫn nhớ lại cái thái độ lo sợ, hốt
hoảng của Quỳnh, giữa cái tình thế vừa muốn giữ gìn vừa muốn tỏ lòng yêu, vừa
tin vừa nghi, vừa sợ bị khinh thường lại vừa lo bị giận dỗi, để mà, sau cùng,
thì hy sinh cái tân tiết cho người yêu... Chàng lại thấy văng vẳng bên tai cái
tiếng kêu khe khẽ đến nỗi như là thất thanh: “Anh ôi! Anh Liêm ơi!” của Quỳnh.
Thật thế, tiếng kêu ấy không những đáng yêu mà còn đáng
thương nữa. Liêm cảm thấy như đó là cái sợ mênh mang của một người đàn bà khi
biết rằng tính mệnh của mình đã ở trong tay một người đàn ông. Anh ôi, anh
Liêm ơi, câu ấy có ngụ cái ý rằng: “Thế là từ nay mà đi, anh cho em sống thì em
được sống, anh bắt em chết thì em phải chết”. Đã như vậy, Liêm nay có còn nên
đang tâm mà nghiệt ngã kết án một người đã tin và yêu mình đến như thế? Không!
Không!
Liêm đã trờn trọn thấy rằng mình bạc tình.
Nhưng mà sao bữa nay Quỳnh không đúng hẹn? Há chẳng phải đó
là Quỳnh đã có một chút gì hơi thay đổi - dẫu là hơi hơi nữa - trong sự yêu
đương? vẫn biết rằng nếu Quỳnh ăn nằm với chàng thì cũng chỉ là quá yêu và quá
tín mà thôi, nhưng trên đời, nào có thiếu gì những thiếu nữ bắt đầu là vì yêu
và tiếp tục là hư hỏng? Không! Liêm phải cẩn thận mới được! Từ trước đến nay,
Quỳnh chưa hư hỏng, chưa phản bội, cái đó chàng không dám chối cãi. Nhưng mà từ
nay trở đi thì chàng phải quan tâm, điều ấy đã cố nhiên lắm thay! Chứ cơ sự đã
như thế rồi, thì Liêm chẳng thể nào lại yên trí được rằng người yêu của chàng
chẳng bao giờ lại sa ngã, lại phản trắc, lại trụy lạc được nữa! Bằng cách lý luận
ấy, thế là cái đức hạnh của Quỳnh từ đấy bị bỏ vào phạm vi của sự hoài nghi.
Liêm vẫn ghen.
Chàng cho rằng nếu không đề phòng thì hỏng.
Rồi chàng nhớ lại đến Khánh, một gái giang hồ mà chàng chưa hề
dám đem so sánh với Quỳnh, người vị hôn thê. Thì Khánh cũng đã phó thác thân thể
một cách dễ dãi như thế, một cách ngây thơ như thế. Liêm rất đau lòng khi nhận
ra rằng ở một gái giang hồ và một thiếu nữ con nhà lương thiện, cách hiến thân
chung quy cũng giống nhau mà thôi... Than ôi! Người đàn bà nào cũng vậy, cũng
có thể bắt đầu thì là như Quỳnh mà tiếp tục thì như Khánh. Nếu Quỳnh là người
đoan chính hoàn toàn thì chẳng đời nào có thể sa ngã được, ắt hẳn bắt đầu Quỳnh
phải cương quyết trước nhất ngay cả với Liêm! Nhưng không! Đối với Liêm, nàng
đã dại dột, Liêm không thể tin đức hạnh gang thép, cái tâm can thiết thạch của
nàng được nữa! Có đâu mà tin?
Nghĩ đến đấy, Liêm bỗng nghĩ trùm lấp đến tất cả mọi hạng đàn
bà... Chàng bỗng thấy ghê tởm, thấy đáng phàn nàn cho cái số kiếp đàn ông. Vì rằng
đời đã từng ghi những vụ ngoại tình ghê gớm: gái năm con chưa hết lòng chồng,
những tiểu thư khuê các hoang dâm với những thằng nhỏ, thằng xe, những đàn bà
có chồng danh giá mà đi ngoại tình với những đứa chỉ đáng là đầy tớ cho chồng,
vân vân... Vào trường hợp ấy, Liêm không hiểu rằng tuy nhiên cũng vẫn có nhiều
đàn bà đáng kính trọng, có đức hạnh, vì đây là Liêm đương lục tìm, đương soi
mói rặt những cái xấu của đám phụ nữ mà thôi, chứ không phải chàng đương bình
tĩnh và công bình xét đến những cái tốt của phụ nữ. Cho nên Liêm phải tự hỏi
lòng một cách xót xa: “Ngoài những tấn kịch đã vỡ lở tung tóe mà đời biết đến
được, thì còn bao nhiêu tấn kịch tương tự như thế bị chôn vùi trong tối tăm?”.
Liêm lại đứng lên, vì ngồi đã mỏi.
Giữa cái không khí lặng ngắt của gian phòng vắng vẻ, chàng đọc
vang lên một cách chua cay hai câu cổ thơ:
Souvent femme varie,
Bien fol est qui s’y fie! [1]
Đọc xong, Liêm lại thấy bỗng đâu mình tự chế nhạo mình.
Chiếc đồng hồ đã ngân nga sáu tiếng.
Dưới nhà, đã nghe thấy tiếng đũa bát lạch cạch nhau vì bọn
gia nhân của Cử Tân đã sửa soạn bữa cơm chiều. Ngoài phố đèn điện đã sáng. Mãi
đến lúc ấy, Liêm mới nhớ rằng phải về nhà ăn cơm. Chàng lấy cái mũ chụp vào đầu,
lẩm bẩm: “Thế là cả một chiều hôm nay chờ đợi công toi chứ không làm được việc
gì cả!”.
Liêm uể oải xuống thang.
- Thưa ông, chiều tối ông có lại đây nữa không?
- Có! Có chứ.
- Thưa bao giờ ông Cử con về?
- Cái đó tôi cũng không biết.
Sau khi đáp lời người bếp của Cử Tân như thế, Liêm đẩy mạnh
cánh cửa ra thẳng. Một ít gió lạnh ngoài phố quật mạnh vào mặt chàng, làm Liêm
hơi tỉnh táo thần trí. Phong cảnh của phố xá nhộn nhip khiến chàng hơi nguôi
nguôi... Nhưng mà một nhặng xanh bị nhốt trong phòng kín thế nào thì ý nghĩ
ghen tuông trong óc chàng cũng thế. Con nhặng xanh bay vo vo chán thì đậu một
chỗ, không làm cho ta phải sốt ruột nữa. Nhưng khỏi mỏi cánh rồi thì nó lại bắt
đầu bay. Cái ý nghĩ ghen giận trong óc Liêm cũng chỉ tạm dừng có một lúc ngắn
ngủi. Chàng hãi hùng hỏi: “Hay là đã có ai...”.
Câu tự hỏi ấy cũng chỉ là một câu hỏi lửng, vì chính Liêm
cũng không dám hỏi cho đủ chữ, cho gãy nghĩa, vẫn biết rằng nếu Liêm sợ có kẻ
nào đến chiếm mất lòng Quỳnh của Liêm, thì Liêm hèn lắm, vì một người ghen
chính là một người hèn, thế thôi. Trong sự ghen tuông nó vẫn có ngụ ý cái kín
đáo này: người ghen là người sợ cái người vu vơ nào đó giỏi giang, tài cán hơn
mình, có thể xiêu được lòng thục nữ, có thể hạ được mình xuống mà tranh cướp tấm
yêu, nghĩa là khiến mình phải lo sợ, thì mình mới phải ghen. Thì Liêm chẳng khi
nào muốn thấy mình có vẻ khiếp nhược như thế! Ghen tuông chính là đề phòng.
Nhưng Liêm không muốn đề phòng! Lòng tự ái của Liêm bảo chàng rằng ngoài chàng
ra thì thôi, không một người nào xứng đáng cho Quỳnh cả, và nếu Quỳnh không yêu
chàng thì thôi chứ chẳng còn ai hơn được chàng nữa. Vậy mà Liêm cứ phải đề
phòng, cứ phải ghen... Vì sao? Vì rằng cái bụng dạ đàn bà, than ôi, nó đâu dễ
hiểu như ta vẫn tưởng! Cứ gì cái kẻ thứ ba nào đó phải là hơn Liêm về đủ mọi
phương diện thì mới chiếm được Quỳnh của Liêm! Nếu sự đời lại toàn là có nghĩa
lý cả thì còn đâu những tấn kịch tiểu thư khuê các ngủ với thằng xe, hay là những
đàn bà lừa chồng để đi với những kẻ chỉ đáng làm đầy tớ cho chồng!
Thế là Liêm nghĩ đến tương lai, cái ngày mai nó chẳng sáng lạn
như chàng dự tưởng. Đáng lẽ được là một người chồng hưởng hạnh phúc giữa một cảnh
gia đình êm ấm, có vợ là người tin cậy được, thì chàng ắt sẽ là một người chồng
ghen. Đáng lẽ được ăn no ngủ yên, Liêm sẽ phải lúc nào cũng phải ả cái thế dự bị,
đề phòng một điều gì, nghĩa là sẽ ngủ cái giấc ngủ của những người lính cứu hỏa!
Chỉ vì sợ vợ chàng không đủ cho chàng hoàn toàn tin yêu. Chỉ vì Quỳnh đã là người
lẳng lơ, nếu được chồng thả lòng thì ắt hỏng bét! Đến đây Liêm muốn kêu lên :
- Quỳnh! Quỳnh, mày làm khổ tao! Tao tưởng tao yêu được mày
thì là tao được hưởng hạnh phúc ở đời, không ngờ chỉ vì yêu mày mà tao khổ sở
đau đớn!
Nghĩ thế, Liêm bỗng thấy ruột gan nôn nao lên như đương có điều
gì đau đớn thật sự vậy. Chàng khổ sở lắm, khổ sở không thể nói được nữa. Đáng lẽ
về nhà, chàng qua nhà Quỳnh để xem mặt mũi nàng ra làm sao. Rồi, không thấy Quỳnh
ngồi ở cửa hàng mà chỉ thấy có bà phán Hòa, Liêm không vào, đi thẳng.
Tối hôm ấy, bỏ bữa cơm chiều, Liêm nằm hút ở một tiệm thuốc
phiện như một dân bẹ chính tông.
[1] Đàn bà thường hay thay đổi,
Điên lắm là kẻ tin họ!
IV
Nghe tiếng gọi, Quỳnh vội vàng giấu cái thư của Liêm vào túi
áo.
Rồi nàng chạy vào.
Lúc ấy bà phán Hòa ngồi chống hai tay vào cằm ở bàn, còn mẹ
nàng, bà tham Bích, thì ngồi đườn người ra trên sạp. Hẳn hai bà đã có điều gì
chẳng bằng lòng nhau...
Trông thấy con gái, bà tham Bích nói đổng :
- Nay mai nhà trai đến ăn hỏi, vậy cô định thế nào? Cô muốn
người ta đem đồ sính lễ đến đây hay ở dưới tôi? Cô muốn ăn hỏi cũng một nơi, cưới
cũng một nơi, hay cả hay thứ cũng một nơi? Ở đâu hay ở Nam Định?
Nói đến đấy, không để Quỳnh có thời giờ đáp, bà lại nói ngay
với bà phán Hòa :
- Ấy nó còn trẻ con thì cứ để tự ý nó xem nó thiên về bên cô
nó hay về bên mẹ nó, tùy bụng dạ nó, thế là hơn cả. Tôi là mẹ nó nhưng tôi
không có quyền gì! Cô là cô ruột nó, nhưng bất quá cô cũng như tôi thôi.
- Thôi chị đừng nói nữa! Với những người hàm hồ, tôi không muốn...
Đây, con chị, thì tùy chị, muốn làm gì thì làm! Chị lại cho tôi là truất quyền
của chị đi à? Ví thử có thế thật, thì tôi lợi lộc cái gì vào việc ấy chứ? Nghĩa
là nhà trai là chỗ quen thuộc, chú rể là cháu tôi, cháu chồng tôi, thì tôi muốn
giản tiện cho người ta, để người ta ăn hỏi ở đây và cưới ả đây thì đỡ tốn kém,
có thế thôi! Nhưng ngờ đâu chị lại không bằng lòng. Thôi được, tuy rằng “thương
con ngon rể” phương ngôn đã có câu, nhưng mà đã trót mang nặng đẻ đau, thì cũng
nên... cho bõ. Tôi chẳng dám can ngăn điều gì! “Cô cũng như cha”, nhưng mà cô
đây là cô đã xuất giá rồi, thì... đây này: bà cô nắm lấy cổ tay, trao cho ông
mãnh: đây này cháu tôi!
Bà phán Hòa, đến đây, đứng lên ngay, giọng lại phũ phàng hơn
trước nữa :
- Tôi bảo thật cho chị biết: từ nay trở đi thì mặc kệ hết!
Sau này giả dụ có khá thì cũng chẳng ai được nhờ! Con này đã biết là con này dại
mặt lắm! Dại lắm! Từ giờ trở đi gọi là cứ cho ăn kẹo!
Thấy em chồng to tiếng, bà tham Bích có lẽ hối hận, có lẽ hoảng
sợ. Bà không dám nói gì nữa, chỉ ngồi thừ mặt ra thôi.
Không được hỏi đến mình, Quỳnh thở dài, lại quay ra cửa hàng,
vì không có người trông hộ.
Ngồi ở quầy hàng, vẫn lắng tai nghe xem bên trong động tĩnh
ra sao. Nhưng không thấy gì nữa. Nàng lầm bầm: “Quái không biết ngày hôm nay là
ngày con khỉ gì mà lắm chuyện lôi thôi đến như thế này!”. Thật vậy, cuộc hục hặc
của người mẹ và người cô ruột, đối với nàng, thật có thể đáng gọi là một sự tai
biến. Quỳnh đã ở cái cảnh ngộ trên búa dưới đe. Nàng lại bùi ngùi cho cái thân
phận bồ côi của mình. Có mẹ, nhưng mẹ đã đi lấy chồng, thì có cũng như không
có. Như vậy, còn ai biết được rằng chính nàng là khổ sở lắm, đau đớn lắm, vì bơ
vơ, vì trơ trọi? Liêm! Nhưng mà Liêm có đủ là sự khuây khỏa của nàng không?
Than ôi! Cái thơ của Liêm vừa gửi cho nàng, thật là một cái chiến thư! Đọc thư ấy,
nàng tưởng chừng cuộc tình duyên phải đến đoạn tuyệt! Thật vậy, một người yêu
nàng, nay mai lấy nàng, mà bây giờ lại đối với nàng, có những tính tình như thế,
đó chẳng phải là điều đáng cho ta yên tâm!
Mà vì lẽ gì, nào Quỳnh có hiểu?
Nàng thấy trong lá thư ấy một thứ ghen tuông bóng gió, cho
mình là hư hỏng, một thứ khinh bỉ kín đáo, và tất cả sự hằn học của một ông
nhân tình chuyên chế không biết cái gì là chướng và sắp sửa trở mặt, sắp sửa bạc
tình.
Quỳnh lúc nãy đã bừng bừng nổi giận. Nay, nàng còn giận hơn nữa.
Việc nào của ái tình cũng là quan hệ hơn những điều khác. Quỳnh
không còn tâm trí đau đớn về cuộc cãi vã giữa cô và mẹ nữa, lại phân vân giở đến
cái thư của Liêm. Nàng đọc đi đọc lại những đoạn hệ trọng.
Không, Quỳnh ơi, anh đã nhầm. Nói cho thật ra thì cả hai
chúng ta đều nhầm. Có phải thế không? Đáng lẽ chúng ta không nên lấy nhau - à
quên, không nên dự định lấy nhau. Nhất là đừng biết nhau rõ quá... Vì sao? Ấy
cái khốn nạn của đời, của ái tình, của hạnh phúc, và của cả mọi sự khác nữa, là
như thế đó. Ta đáng lẽ chỉ nên có ảo tưởng thôi, chứ đứng nên đụng chạm vào sự
thực: Quả núi ở xa, ta trông nó đẹp, đẹp quá đi mất! Nhưng khi ta đến chân quả
núi ấy rồi, than ôi! Còn có gì đâu! Quỳnh ơi, lẽ ấy nguyên nhân vì đâu, em có
biết không? Vì sự đời là xấu xa, còn ta, ta cứ hy vọng, cứ ao ước cái gì hoàn
thiện, cái gì hoàn mỹ, cho nên ta mới thất vọng, cho nên ta mới đau đớn...
Rồi lại đến đoạn như thế này nữa:
Đáng lẽ ta yêu nhau rồi không lấy được nhau thì mới là thượng
sách. Như thế, ta vẫn có nhiều ảo tưởng về đời người và một quan niệm - mặc dầu
nó có khi sai lầm, mà chắc là bao giờ nó cũng sai lầm - rằng nếu lấy được nhau,
thì ta nắm được hạnh phúc của cõi thế gian. Còn như lúc đời sum họp với nhau mà
khổ sở, mà hết ái tình, thì thực không còn phương kế gì cứu chữa nổi thì thật
không còn sự thất vọng nào cay đắng hơn nữa. Anh nói thế không phái nói đùa
đâu. Than ôi, thì ra chỉ vì yêu em mà anh khổ sở như thế!
Nhưng hai đoạn trên đây cũng chưa khiến Quỳnh phải rối ruột bằng
đoạn cuối thơ sau này:
Nhưng thôi, ta kêu ca gì nữa! Chúng ta đã trót yêu nhau rồi!
Bây giờ đến Thượng đế có muốn gỡ cũng không kịp nữa. Xin Quỳnh cứ yên tâm. Anh
sẽ cố gắng là một người chồng đáng yêu và nếu cần, thì là một người chồng mù
lòa nữa, miễn sao cho em sung sướng... Tuy nhiên anh cũng có bổn phận bảo trước
em thế này: sự kiên nhẫn của anh cũng chỉ có giới hạn mà thôi. Em có biết ái
tình là gì không? Ái tình là cái sự hai người tưởng nhầm là yêu nhau, nhưng thật
ra, người đàn ông yêu mình qua người đàn bà, cũng như người đàn bà yêu mình qua
người đàn ông thế thôi. Em yêu anh chăng? Không! Ấy là em tự yêu em qua anh đó.
Anh yêu em chăng? Cũng không! Ấy là anh nhờ em mà tự anh yêu anh, ấy thế. Cho
nên ái tình là một vật nguy hiểm, mỏng manh, chóng hỏng, dễ vỡ. Nhất là khi nó
lại xung đột với lòng tự ái. Anh mong em hiểu nổi những dòng này. Vậy em nên
coi chừng. Khi anh đã yêu em thì em đừng nên làm gì khiến anh phải thù em hay
là khinh em. Và em cũng đừng kiêu ngạo ở nhan sắc làm gì, vì phương ngôn đã có
câu: Hồng nhan bạc mệnh đó! Cái bọn phụ nữ quá kiêu ngạo, không hiểu đời, không
biết mình, thì chỉ có một cách trụy lạc mà thôi! Anh còn muốn nói nhiều lắm, một
cái thư này không sao đủ được, Quỳnh ạ. Vả lại, có những điều miệng nói ra thì
còn được, chứ viết ra trên mặt giấy thì vừa bất tiện lại vừa khó coi. Vậy mai
anh lại chờ em vào quãng một giờ trưa, ở chỗ vẫn hẹn. Thế nào em cũng đến, anh
mong em lắm đó.
Quỳnh vẫn không hiểu vì sao Liêm lại nỡ viết một cái thư cho
nàng bằng những lời lẽ như thế. Thật là Giời cũng không hiểu được. Có còn cái
gì bất ngờ hơn thế nữa không? Liêm điên chăng. Cái đó có thể: Liêm điên. Nhưng
phải nguyên do nào thì Liêm mới hóa điên được chứ?
Tự mình căn vặn mình mãi, Quỳnh cố nén giận, cố vấn tâm... Dần
dần, nàng hơi hiểu. Nàng nhớ lại cái tội của nàng: đã trót cười nói vui vẻ, khi
tiếp hai khách hàng thiếu niên lấc cấc mà bị Liêm bắt quả tang. Có lẽ vì thế là
một, và vì nàng không vâng lời đến chỗ hẹn nữa, là hai.
Nhưng sao Liêm lại chỉ vì ghen mà gần như sỉ nhục nàng như thế?
Nàng hiểu rõ giọng khinh bỉ của cái thư: Liêm cho nàng là đã
hư hỏng. Và như vậy, kể cũng chẳng oan gì! Than ôi! Ai bảo trót quá tin! Thật
là đúng như lời người cô đã dặn bảo cháu một cách hợp lẽ nhưng tiếc rằng khí muộn
một chút. “Nếu một khi người ta đã khinh được mình rồi thì cái việc ăn đời ở kiếp
với nhau về sau là rất khó. Chị nên cẩn thận lắm mới được”. Nhưng đến bây giờ
thì còn gì nữa? Quỳnh chỉ còn có một cách là, như đứa trẻ lỡ tay đánh vỡ cái đồ
chơi của mình, nàng tần ngần đứng trước những mảnh vỡ, và cũng sắp khóc mếu giống
như đứa trẻ con. Nàng nhớ đến những câu trong truyện Kiều, những câu xưa kia
nàng đã nhẩm đọc nhiều lần như một học sinh thuộc lòng một bài luân lý, và bài ấy
đã chỉ có giá trị “nước đổ đầu vịt”.
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai dễ sánh tày Thôi Trương?
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên dữ chán chường yến anh!
Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã...
Thật thế, bây giờ Liêm đã đến lúc rẻ rúng, chỉ có thế thôi!
Cái đó là hai năm rõ mười rồi, nàng chẳng còn phải ngờ vực gì nữa, chẳng hoài
hơi tìm kiếm gì nữa cho mệt. Than ôi, thì ra khôn ba năm dại một giờ, ấy đó
chính là chân lý, và từ thượng cổ đến giờ, những tấn thảm kịch của loài người
chung quy cũng chỉ quanh quẩn ả cái vòng liên miên và cũ rích ấy mà thôi. Quỳnh
hối hận lắm. Nàng không dám kết án Liêm nữa, mà chỉ tự mình lại oán giận mình.
Lòng tự ái của một người tự trọng như nàng khiến nàng không thèm đổ vấy cho kẻ
khác. Quỳnh có đủ can đảm để nhận tội mình, cho rằng chỉ có một mình mình là
đáng trách móc, đáng xỉ vả mà thôi. Những ngấn lệ long lanh đã ứa ra ở quầng mắt...
Vừa lúc ấy bà phán Hòa đủng đỉnh bước ra. Trông thấy Quỳnh sụt
sịt, không hiểu đó có phải là giận người chị hàm hồ và thương cháu gái bồ côi
không, mà bà còn rít lưỡi lại mà chì chiết :
- Thôi con ơi, con đừng khóc nữa! Cô đã đủ đứt gan đứt ruột
ra đây rồi! Bố con chẳng may chết đi cho nên ngày nay con mới khổ!
Quỳnh gạt nước mắt, thấy cái tình thế ấy quả thật nghiêm trọng
lắm. Chỉ vì việc nàng mà, một bên thì cô, một bên thì mẹ, hai người đay nghiến
nhau đến thế. Nhất là bà phán Hòa thì, bằng mấy câu vừa rồi, há chẳng phải là
bà đương xỉ vả một cách bóng gió về tội nàng đã góa chồng mà lại còn cải giá đó
hay sao? Nhìn vào trong nhà, thấy bà mẹ ngồi thâm gan tím ruột, có lẽ uất đến
không nói được nữa, nàng bèn dõng dạc :
- Thưa mẹ, thưa cô, con tưởng việc con lấy chồng có thể làm
cho mọi người được vui vẻ một chút... Nhưng mà nếu chỉ vì việc con mà cô và mẹ
giận dỗi, cãi vã lẫn nhau như thế thì phiền lắm, con không thiết gì nữa đâu!
Thì thà con không lấy ai nữa cho xong!
Nói đến đây, nàng lại khóc nức nở, vì câu “thà con không lấy
ai nữa cho xong” chính là một câu tâm sự chứ không phải một lời đe dọa vu vơ,
cũng không phải vì vui mồm mà thốt ra.
Nàng nói rồi mới biết rằng đã nói thế là có lý. Cho nên nàng
nhìn cả cô và mẹ, nhắc lại :
- Thật thế! Thà con không lấy ai nữa cho xong!
Vừa lúc ấy, ông phán Hòa xách ô bước vào nhà. Thì ra đã gần
12 giờ trưa. Bà vợ bây giờ mới nhìn lên đồng hồ để nhận thấy rằng thì giờ đi
chóng quá.
Nghe thấy cháu nói thế, ông chú ngừng chân, ngạc nhiên hỏi :
- Cái gì? Cái gì thế này? Có chuyện gì thế này? Sao lại ăn
nói như thế?
Vợ ông xua tay :
- Mời ông cứ vào đi đã. Cái việc này phải nói lâu mới được.
- Thế cả nhà ăn cơm chưa?
- Ăn từ 10 giờ kia rồi.
Nhìn vào trong, thấy bà tham Bích, ông phán “a” một tiếng rồi
hỏi Quỳnh :
- Thế me cháu về chơi từ lúc nào thế?
- Me con về đây từ hôm qua, nhưng sáng hôm nay mới đến đây.
- Thôi, thế chị hãy trông hàng nhé? Cơm rồi kia mà.
Từ lúc ông phán đi làm về, hai chị em cũng đỡ. Có lẽ chỉ vì
có mặt một người đàn ông cho nên hai bà bất đắc dĩ phải thôi, không còn dám hục
hặc lẫn nhau. Và, vì lẽ hai bà ở cảnh bó buộc phải để trí nghe nhau, không ai
được lấp liếm hay lấn át ai nữa, cho nên cái lẽ phải đã đến lúc được người ta
kính trọng. Ông phán vừa ngồi ăn cơm ở bàn vừa khoan thai giảng giải và nói những
điều nghĩa lý cho vợ và cho “chị dâu ôi” của vợ lúc ấy cũng ngồi ở sập để lắng
tai nghe. Ngồi ở ngoài cửa hàng, Quỳnh chỉ nghe câu được câu chăng, lõm bõm lắm.
Đại khái ông phán kêu rằng chú rể chẳng phải người xa lạ, là
cháu gọi ông bằng cậu, ông xin mạn phép thay mặt nhà trai để yêu cầu bên nhà
gái theo cái chính sách “giơ cao đánh khẽ” về mục đính hôn sự, lo sao cho hai
trẻ được nên vợ nên chồng, chứ không phải là một dịp để lòe thiên hạ hay cãi
nhau. Như vậy thì để cho nhà trai cưới xin ở đây, mà “bà phong nhong” thì về
đây, rồi cô dâu chú rể, sau khi lễ gia tiên ở đây rồi, sẽ xuống Nam, thì vừa giữ
đủ lễ, và không sợ thiên hạ bàn tán...
Người đàn ông một khi đã phải nói, thì việc gì mà chẳng thu xếp
xong xuôi? Cho nên về sau cô và mẹ Quỳnh đều phải xin lỗi nhau, hối hận.
- Cô cũng nóng lắm cơ!
- Chị hàm hồ như thế thì có đến cóc cũng phải mở miệng!
Ông phán giơ hai tay lên không gian, nói bông :
- Thôi! Tôi xin cả hai bà! Xin đừng có ai làm gì đến nỗi hỏng
mấy cái việc “thằn lằn” của tôi nhé! Ai làm hỏng thì tôi bắt đền cho đấy!
Nghe thấy tiếng cười nói rầm rì, cái không khí đã vui vẻ, Quỳnh
cũng đỡ khổ. Nhưng... sao ấy, nàng không thể tươi tỉnh lên được nữa! Cái lá thư
khốc hại nó đã chạm quá mạnh vào tâm giới nàng, đã gây cho quả tim một vết
thương. Thật vậy, dẫu rằng sau này vợ chồng được ăn ở hòa thuận với nhau đi nữa
mặc lòng, sau một lá thư khinh bỉ nàng như thế, nàng không thể nào sung sướng
được nữa, vì cái ái tình kia, trong lòng nàng, đã bắt đầu hấp hối...
Bên trong, ba người bây giờ đương bàn soạn về những cách
thách thức, những lễ nghi phức tạp, mọi đồ hành nghi. Rồi chẳng hiểu, vì bà
phán Hòa nói những gì, lại thấy bà tham Bích, mẹ nàng, nói to lên :
- Vẫn biết là giơ cao đánh khẽ, nhưng mà cũng thế nào chơi một
vừa hai phải, kẻo người ta khinh đi cho. Dẫu sao cũng phải giữ cái thể diện,
cái bề ngoài, cho thiên hạ trông vào... Con gái tôi không chửa hoang, không làm
đĩ, thì việc gì tôi lại phải hạ giá con gái tôi đến như thế!
Câu nói vô tình ấy của người mẹ là một tiếng sét đánh xuống
cái lương tâm người con. Quỳnh những nghe mà bủn rủn cả chân tay, rối loạn cả
thần trí. Nàng muốn khóc òa lên mà không khóc được. Nàng cố giữ cho nét mặt thản
nhiên, nhưng cũng không được nốt! Nàng chỉ lo rằng người ngoài trông thấy nét mặt
nàng cũng đủ khám phá ra cái sự đáng xấu hổ của nàng, nhưng càng giấu giếm,
càng muốn che đậy, cái mặt lại càng hóa ra thảm hại và khó coi.
Quỳnh oán Liêm, bao nhiêu cái hối hận, cái tự mình giận mình
nàng không còn nữa. Nàng nhớ lại mọi hành vi, ngôn ngữ khả ố của Liêm, lúc Liêm
chiếm đoạt cái thân thể nàng. Quỳnh tưởng tượng ra rằng Liêm có lẽ xưa nay là một
kẻ đểu giả vô cùng, làm hại những thiếu nữ lương thiện khác vô số! Vậy mà Liêm
còn hẹn với nàng rằng đến trưa ngày mai... Thật là đồ tồi! Thật là đáng khinh bỉ!
Cả ngày hôm ấy, Quỳnh thẫn thờ như kẻ mất hồn, làm cho bà
tham Bích tưởng rằng con gái có điều gì giận dỗi. Bà mẹ bỗng động lòng, hứa sẽ
cấp thêm vốn liếng cho con về nhà chồng, nhưng Quỳnh cũng chẳng vì vậy mà trở
nên vui tươi.
Đêm hôm ấy, lúc đi nằm, vắt tay ngang trán, Quỳnh tự dặn mình
:
- Ngày mai, nhất định ta không thèm đến!
V
Nhưng mà hôm sau Quỳnh lại đến, một cách rất đúng hẹn, rất
ngoan ngoãn, rất sợ sệt nữa, mặc dầu đã có sự gì xảy ra nữa, mặc dầu lòng tự ái
của nàng đã bị thương rất nặng đi nữa, nàng cũng vẫn thấy cái linh trí hay linh
giác chi đó nó bảo nàng rằng nếu không vâng lời y hẹn, ắt là không xong. “Không
xong”, thật thế! Nàng đã ở vào cảnh trót “đâm lao phải theo lao” mất rồi, còn
gì! Cho nên sự thật tuy rằng nàng không có tội gì cả, lúc đứng trước mặt Liêm,
Quỳnh cũng co quắp quá một con cua trước một con ếch, lại sợ hãi quá một người
có tội rất nặng trước một ông bố cực kỳ nghiêm khắc nữa.
Được thể, Liêm so vai, dang hai tay ra bảo :
- Xin mời cô ngồi.
Cái tiếng “cô” ấy quả thật có một ngụ ý khinh bỉ lắm, song Quỳnh
chỉ còn biết ngồi ngay xuống ghế đi-văng. Nàng gượng cười một cách đáng thương,
và làm lành :
- Chắc mấy hôm nay, anh giận em lắm.
Liêm đút hai tay vào túi quần, không đáp. Chàng đứng nhìn Quỳnh
trừng trừng. Rồi trong khi Quỳnh không chờ đợi một lời nào cả, thốt nhiên Liêm
nói :
- Này em... Anh hỏi thật em nhé? Có phải bụng dạ em đã thay đổi
rồi, phải không?
Quỳnh ngước mắt lên, không biết đáp thế nào, rồi lại cúi mặt
xuống. Nàng vốn bẩm tính thực thà một cách đáng quý, cho nên câu hỏi bất kỳ ấy
khiến nàng chột dạ. Vì rằng câu hỏi ấy lại đúng sự thực lắm, thế thôi. Đêm qua,
cả đêm qua, nàng đã trằn trọc thâu canh, đau khổ vô cùng, giận người yêu vô
cùng và đã nhiều lần nghĩ đến sự đoạn tuyệt để cho lòng tự ái được đỡ đau thương...
Nếu nàng sắc sảo một chút, hẳn nàng đã nói một cách rắn rỏi đại khái: “Vâng, quả
có thế. Nếu không có cái lá thư của anh như thế, hẳn tôi cũng không nghĩ gì sự
thay đổi. Nhưng mà đã có lá thư của anh! Tôi cũng muốn thay đổi lắm, hay là rất
có thể thay đổi được, nhưng mà cái đó cũng lại còn là tùy anh”. Nhưng than ôi!
Còn xa Quỳnh mới được là người sắc sảo và khôn ngoan. Ngay lúc ấy, sự thật nàng
tuy cũng có thoáng thấy cái ý muốn nói những câu quyết liệt như thế kia đấy.
Nhưng không hiểu sao, nàng chỉ lại cúi đầu! Có lẽ thái độ của Liêm nghiêm quá,
“chồng” quá, nên Quỳnh không dám... Và có lẽ tại cả số kiếp của nàng nó xui khiến
ra như thế nữa. Mặc dầu thế nào đi nữa, Quỳnh cũng không thể nào mà lại có thể
có được cái thái độ ngỗ nghịch mà nàng sợ là sẽ lếu láo với Liêm. Ngay lúc ấy,
cúi đầu xuống, Quỳnh chỉ tưởng rằng mình đã tỏ ý ngoan ngoãn thôi, chứ nàng
cũng không biết rằng vô tình nang đã phải khuất phục sự vô lý một lần nữa, vì rằng,
trò đời là thế, khi đã chịu một lần rồi, sự nhẫn nhục tức khắc thành thói quen,
để cho nàng sẽ cứ phải chịu mãi mãi.
Cử chỉ ấy càng khiến Liêm được quá đáng. Đáng lẽ phải được
hài lòng, chàng lại đi cho rằng sự im lặng ấy, cái cúi đầu ấy, chỉ là một sự
thú tội kín đáo của Quỳnh mà thôi. Chàng lại hỏi xẵng :
- Thế nào? Có gì, xin em cứ việc nói thẳng ra, thế thôi!
Quỳnh ngước mắt lên nhìn một lần nữa, để rồi lại cúi mặt xuống
một lần nữa.
- Thật thế, em cứ nói phăng ngay ra đi thôi! Không việc gì
còn phải úp mở! Nếu quả thật em muốn thay đổi, thì để anh liệu...
Hồi lâu, vẫn cúi mặt, Quỳnh khẽ nói ấp úng :
- Em chả hiểu sao cả... Thật là... Không có chuyện gì cả. Em
rất lấy làm lạ.
Liêm oai nghiêm ngồi xuống bên cạnh người yêu. Hai con mắt
sáng quắc lên nhìn chòng chọc vào mặt nàng, như một ông cẩm, mật thám lúc lấy
cung một quân gian. Chàng lại hỏi :
- Không có chuyện gì cả? Thật thế? Em có muốn anh nói thật
không? Đây này anh xin nói phăng ngay ra thế này: Nếu một khi em đã yêu anh, mà
em lại toan lòng chim dạ cá, thì... một là em sống, anh chết, hai là em chết,
anh sống!
Quỳnh rên rỉ hỏi :
- Giời ơi! Có gì mà anh làm dữ đến như thế!
Cái ghen đã chất chứa trong tim gan từ mấy ngày, nó đã tức
hơi trong đáy lòng, bây giờ mới được lúc phát phì ra, Liêm chẳng còn tự chủ được
nữa :
- Em bảo không có gì? Em không biết em là người lẳng lơ? Em
hư hỏng mà em không biết rằng em hư hỏng?
Quỳnh đã đến lúc không còn biết sợ nữa, và đã biết tức. Nàng
cười nhạt, hỏi lại :
- Thế em đã lẳng lơ, đã hư hỏng ra làm sao?
Liêm đứng ngay lên, mặt đã đỏ bừng :
- Em lại còn bắt anh kể lại cái sự ấy nữa thì thật bẩn cả mồm
anh, thì khốn nạn thật! Em chóng quên đến thế cơ à? À quên là phải, nếu những
người đã biết được cái tội của mình là lẳng lơ thì đời nào còn lẳng lơ! Phương
ngôn có câu: “Nếu cú biết thân cú hôi thì cú đã chẳng hôi” là đúng lắm.
Nói thế xong, Liêm thích chí lắm, cho rằng tự nhiên nghĩ ngay
đến câu phương ngôn ấy thì, dẫu mình có nói quá đáng, hẳn cũng không còn ai cãi
lại được mình nữa. Không đợi Quỳnh phải đáp, chàng lại nói tiếp luôn :
- Em quên mất thật rồi đó à? Em quên rằng buổi chiều hôm ấy,
đã có hai thằng khốn nạn nó tỏ ra vẻ say mê em, và em đã lấy thế làm thích lắm,
em đã cười tít cả mắt lại, đã đáp chuyện chúng nó nở như ngô rang? Em không biết
biết rằng chỉ vì thế mà em sai hẹn với anh, mà em vội coi không ra gì? Phải, em
đẹp lắm, anh biết. Em chả đẹp mà lại ai cũng say mê em! Khônị phải anh ghen cho
nên anh nói thế đâu...
Liêm thành thực tưởng rằng mình không ghen, vì sau một phút
chàng lại nói :
- Thật thế, anh không thèm ghen với những quân khốn nạn ấy
đâu! Anh ghen với hạng ấy anh tự thấy mất giá trị lắm! Mà em thì lại cứ làm cho
anh phải mất giá trị, đó là một điều nhục nhã. Một sự vô cùng khốn nạn...
Liêm ngừng bặt, không còn biết tìm danh từ nào xúc phạm hơn,
tệ ác hơn nữa. Thấy cái tội của mình đã rành rành ra đó, Quỳnh chỉ còn biết chống
chế một cách dại dột :
- Người ta là khách mua hàng, em là người bán hàng, em làm thế
nào được? Không nhẽ em lại đi mắng người ta.
- Thì ít ra em cũng phải biết câm mồm đi chứ? Em cần phải cười
nói ríu rít thì mới có khách mua hàng hay sao? À, thôi, anh trách em làm gì? Em
chẳng qua cũng chỉ như thiên hạ, đem cái nhan sắc ra mà đưa đẩy để kiếm khách
và giữ khách, dẫu biết rằng cái giá trị của mình có vì thế mà giảm đi một chút
thì cũng không sao, vì điều cốt yếu chỉ là bán được hàng, kiếm được lãi, sao
cho có tiền thì thôi. Nhưng có lẽ em không biết răng đó chính là một cách, một
phương pháp... cái gì nhỉ? - mãi dâm - phải, chính thế, một lối mãi dâm cái
nhan sắc của mình với khách, và đã mãi dâm thì dù cái đẹp của mình thôi, hay cả
xác thịt của mình nữa, cái ý nghĩa của nó cũng đến vậy mà thôi, và thà rằng chết
đói còn hơn đắt hàng kiếm lợi như thế.
Không những Liêm không để ý đến sự quá đáng, mà trái lại, sau
khi nói thế, lại còn tưởng bở lắm, vì chàng cho mình là có học thức lắm mới nói
được những câu hiểm độc đến thế, cay như thế, đau như thế. Chàng không biết
mình lọ, đáng tức cười, và vô cùng trẻ con. Trái lại, Quỳnh cũng không hiểu rằng
đó là vì Liêm quá ghen mà thôi, và vì ghen nên mới phụ mồm. Nàng biết sao được
rằng một người chồng ghen đến bậc hóa ra phụ thì chính là một người chồng có thể
rất chung tình được nữa. Nàng chỉ đau đớn mà thôi, cho nên nàng cũng đổi giọng
:
- Vâng, dễ thấy đấy. Em không lẳng lơ thì ai nữa mới lẳng lơ!
Nhưng đã thế, anh yêu em làm gì? Thì anh bỏ phăng ngay đi, anh hồi hôn đi, có
được không?
- Ấy là tự em, em nói như thế trước nhất đấy nhé?
- Em nói trước, để anh khỏi phải nói trước, mà được nói sau,
thế chứ gì? Thôi, anh ạ, em hiểu rõ lòng người lắm. Giá dụ nếu em trước kia biết
giữ gìn thì không sao đâu! Nhưng em quá tin anh, đã trót quá yêu anh... Bây giờ
thì anh làm gì cũng được. Em cũng xin tùy ở anh!
Những lời ấy khiến cho Liêm không biết nói gì vào đấy nữa.
Chàng mím môi lại, căm tức lắm. Thật không ngờ Quỳnh lại quay trở lại buộc
chàng như thế. Không, Liêm không có lỗi chút nào. Nếu trong sự cãi lộn này, Quỳnh
mà không có lỗi thì thôi, chứ quyết kẻ có lỗi chẳng phải là Liêm. Chàng chỉ vì
yêu Quỳnh mà phải nói thế, có lẽ yêu quá nữa, thế thôi, chứ chàng chưa hề nghĩ
đến sự trở mặt. Vậy mà chàng bị buộc tội như một Sở Khanh thì có tức không?
Liêm nhìn Quỳnh, lúc ấy thu mặt trong hai cánh tay, gục xuống, hai cánh tay
trên đầu gối. Chàng nhớ lại lúc Quỳnh bông lơn hai anh công tử bột, rồi khi thấy
Liêm, lại chạy trốn vào trong nhà. Chàng nhớ lại lúc Quỳnh sai hẹn, để Liêm phải
mất công toi chờ đợi cả một buổi. Sau những sự như thế, Liêm có quyền thấy thái
độ ấy là bất chính, và, một khi đã thấy cái bất chính ấy rồi, hỏi rằng chàng có
quyền nói nữa hay không?
Lúc ấy, trông thấy người thiếu nữ mà mình đã yêu, mà mình đã
làm chủ cả phần hồn lẫn phần xác, đương gục đầu đau đớn, Liêm không thể có một
ý kiến nhất định được nữa. Thật thế, chàng biết chàng sẽ thay đổi, tùy theo một
vài cử chỉ, hay một vài ngôn ngữ của người ấy. Chàng bâng khuâng tự hỏi con người
như thế không biết là bị mắng oan hay là đáng tội, gục mặt xuống để giả vờ hay
là khổ sở thật sự, rằng người ấy có thể trở nên một vợ hiền hay sẽ là người lẳng
lơ, và điều nguy hiểm nhất, hay đó chỉ là “gái khôn lắm nước mắt” mà thôi? Than
ôi, Liêm thật không sao biết được!
Khi Quỳnh gượng ngẩng đầu lên, nước mắt đã đầm đìa hai cánh
tay áo. Nàng lấy khăn ra lau mặt, cái mặt hoen ố, vì nước mắt đã làm hỏng mất cả
hai áng má đào tô điểm bằng phấn, son. Nàng lau một lần chưa đủ, vì những hàng
lệ lại tuôn theo, lã chã... Cả người nàng rung động vì cái cơn hậm hực không ngừng,
đủ biết rằng cái đau khổ đã vò nát tâm can...
Trước cảnh ấy, Liêm cảm động.
Chàng chưa hề trông thấy một sự khổ nào lại đầy đủ nghĩa lý đến
thế! Lần đầu trong đời, Liêm mục kích một thiếu nữ khóc lóc âm thầm, mà lại là
vì chàng. Tất cả những sự ghen giận, tất cả những cái bực tức, tất cả lòng tự
kiêu của chàng hầu như tan biến ra mây khói mất cả. Liêm thấy động tâm, muốn
yêu, thương... Thế là, như là rất hối hận, chàng đứng lên, quỳ xuống trước mắt
người yêu. Từ trong thâm tâm, Liêm thấy một cả giác sung sướng vu vơ, hình như
lòng tự ái của chàng được phỉnh nịnh đầy đủ lắm. Hình như có một tiếng nói vô
thanh đã nhắc nhỏm vào lương tâm của chàng: Ấy đó, người thiếu nữ như thế ấy,
đã phải khóc lóc vì ta! Tuy nhiên, Liêm cũng không kịp nhận ra được cái chân
lý, một cái công lệ thiên nhiên, là muốn yêu cho tha thiết và nồng nàn, thì phải
đã có làm cho nhau đau khổ.
Cũng hóa ra nghẹn ngào, Liêm áp úng gọi :
- Quỳnh! Quỳnh! Anh van em... Anh xin lỗi! Anh biết anh có lỗi
lắm, nhưng mà chính là chỉ vì quá yêu em, quá ghen em...
Nàng ngẩng mặt lên, trồng ra đường mà thẫn thờ như trông ra một
phong cảnh nào xa thẳm, mịt mù, ở chỗ mà tầm mắt không đến được vậy. Nàng không
đáp, không chống cự, cứ để yên... Liêm nắm lấy hai bàn tay xinh xắn ấy mà hôn lấy
hôn để. Rồi chàng áp mặt vào mặt Quỳnh, như muốn uống lấy mấy giọt lệ còn đọng
lại để hưởng cái thi vị của đau khổ, cái nên thơ của hối hận.
Cả hai người cứ thế, trong cái im lặng, rất lâu...
- Quỳnh ơi, em có giận anh không? Em có còn yêu anh không?
- Anh đừng nên như thế nữa. Chúng ta cần phải nên hiểu nhau lắm
mới được.
- Anh xin lỗi em nhé? Ừ đi, để cho anh yên tâm nào.
Quỳnh khẽ gật đầu một cái.
Thế là Liêm phủ kín cả mặt Quỳnh bằng những cái hôn yêu
thương. Môi chàng đặt lần lượt vào má, mũi, mắt, trán, cổ, gáy... Quỳnh ngồi đờ
ra, vì cơn đau ghê gớm vừa dứt thì sự an ủi bất ngờ cũng gây cho tâm hồn nàng
những cảm giác quá mạnh, đến nỗi chẳng lúc nào nàng kịp được như trí phán đoán.
Nàng cứ ngồi yên.
Nhưng mà, chưa chi xác thịt đã muốn đòi lấy cái quyền của nó.
Ôm ấp trong cái thân hình óng chuốt ấy lâu như thế, trong một căn phòng nửa
sáng nửa tối, giữa lúc bốn bề tịch mịch, sau một cơn giông tố của cõi lòng,
Liêm đã thụ động cái tính chất cổ truyền, cái tính chất của cái giống đực dã
man, từ đời thượng cổ đến nay vẫn là bất di bất dịch giữa mọi biến hóa của y phục,
ngôn ngữ, lễ giáo, văn minh... Dầu sao, Liêm cũng vẫn chỉ là một thằng đàn ông,
cũng như mọi thằng đàn ông. Một lần nữa, cái động lực cửa thiên nhiên vẫn là mạnh
hơn hết cả mọi sự kiềm chế, và Liêm lại muốn chiếm đoạt thân thể của Quỳnh, một
lần nữa. Từ sự an ủi dịu dàng, và từ những cách mơm trớn chàng lại dấn bước đến
những cử chỉ phũ phàng khó coi...
Đến lần này, người thụ động đã không còn chịu nổi nữa. Cái bản
năng bảo tồn, sự nghi ngại, sự ghê tởm nữa, đã khiến Quỳnh trở nên cương quyết.
Nàng đẩy Liêm ra, giằng ra. Trong một lúc lâu, đó gần như là một cuộc vật lộn, ẩu
đả, tuy rằng không có ai nói gì với ai cả. Liêm hơi ngạc nhiên, thấy Quỳnh tỏ
ra một sức khỏe khác ngày thường.
Nhưng mà, bên ngoài, tiếng còi xe hơi đã rúc vang lên. Liêm bất
đắc dĩ phải thôi, để cho Quỳnh cài lại những khuy áo và vấn lại mớ tóc đã sổ.
Khi Cử Tân bước vào buồng, chính bộ y phục của Liêm cũng vẫn còn xộc xệch, khó
coi. Cử Tân chào cả hai người, vừa lùi ra vừa xin lỗi...
Cáu kỉnh hết sức, Quỳnh nhìn Liêm nói :
- Thật nhục nhã đến thế này là cùng!
Rồi nàng nhổ ngay nước bọt xuống đất, nghĩa là xuống tấm thảm
sặc sỡ. Liêm bẽn lẽn, phải chạy ra ngoài để chuyện trò qua loa vài câu với người
bạn đi xa trở về, giữa lúc mình, lại nhà người bạn ấy, được đủ quyền tự do...
Y phục đã chỉnh đốn rồi, Quỳnh đứng lên. Khi nghĩ rằng lúc ra
đi thế nào cũng phải chạm trán với người đàn ông, tuy lạ mặt nhưng có lẽ là chủ
nhà ấy, nàng lại càng bực mình hơn nữa. Nàng gọi giật giọng :
- Liêm! Anh Liêm!
Chàng quay vào...
- Em về đây!
Liêm sợ hãi, cho thế là thất sách, khẽ bảo :
- Hãy ở lại lát nữa nào?
- Không! Em nhất định phải về!
Nói xong nàng phăng phăng đi ra, khiến Liêm cũng phải ra trước
lấy lối cho người yêu đi. Chàng đỏ mặt giới thiệu :
- Ông Cử Tân, bạn đồng sự của tôi... Đây, vợ chưa cưới của
tôi.
Cử Tân reo lên, vẫn có vẻ bông lơn :
- A! Rất hân hạnh!
Quỳnh bẽn lẽn cúi đầu, mỉm cười chào. Mặt nàng từ đỏ ngã sang
tái nhợt. Rồi nàng thoăn thoắt bước xuống thang, để Liêm trơ trẽn, tưng hửng
trước mặt Cử Tân.
Bữa ấy, Liêm thấy Quỳnh ngu ngốc lắm. Sự thể đã trót xảy ra rồi,
đáng lẽ Quỳnh phải ráng ở lại, dẫu chỉ một phút nữa, ít ra cũng phải có một
thái độ bình tĩnh hơn thế. Nhưng Quỳnh đã giận dỗi ra về một cách mới vô lễ làm
sao, đáng ghét làm sao.
Trên con đường về, Quỳnh xấu hổ với hết tất cả những khách đi
đường, mà vẫn không dám thuê xe ngay, và thấy rằng người yêu nhất đời của nàng
chỉ là một kẻ thô tục, đáng khinh bỉ hết sức.
VI
- Việc của mày, thì chính mày phải tự lo liệu lấy chứ? Mày định
để cho ai? Nào còn có mấy ngày nữa đâu? Không làm ngay, còn đợi đến bao giờ nữa?
- Được ạ, thầy không phải giục, con biết...
Liêm cau mày khẽ đáp thế một cách khó chịu. Thấy con trai như
thế, bà mẹ liền chú ý, và hỏi :
- Mấy hôm nay, anh làm sao thế? Sao mà buồn bã thế?
Liêm cúi đầu không đáp, làm cho bà mẹ phải nói :
- Sắp lấy vợ đến nơi mà lúc nào cũng cứ lử khử lừ khừ y như bị
ép duyên ấy! Việc này là tự cậu, mai sau hay dở thế nào thì mặc, chả ai biết đấy
là đâu!
Liêm lại đáp một cách cau có :
- Thì nào con có định bắt ai chịu trách nhiệm về việc này
đâu!
Thế xong, chàng mới biết mình lỡ lời. Đáng lẽ chàng không nên
chưa chi đã thú nhận như thế, nhất là khi mẹ mình cũng không hoan nghênh việc ấy
lắm. Giấu diếm và che đậy cái lỗi của mình, há đó chẳng phải là bản tính của
con người ta đó sao? Tuy rằng cái việc chàng nay mai kết duyên với nàng đã đi đến
cái kết quả dĩ nhiên của nó, nghĩa là sự chán nản, sự buồn bực, sự hối hận nữa,
nhưng đó chưa phải là lẽ để cho Liêm bạ với ai cũng than thở tâm sự riêng; dẫu
rằng là với mẹ, người thân yêu nhất. Cho nên chàng lại vội nói chữa :
- Con buồn là vì thấy bên nhà gái dềnh dàng, lôi thôi, kênh
kiệu lắm, khó chịu lắm. Thật họ không biết điều chút nào?
Do sự kiếm cớ ấy, chàng vô tình lại được thêm một mối bực
mình nữa, là nhà gái thách thức những sính lễ và hàng nghi một cách không có cảm
tình chút nào nữa. Tóm lấy chỗ ấy, bà mẹ Liêm nói ngay :
- Ấy là cháu cô cháu cậu với nhau đấy! Ấy là có ông phán Hòa
nhà ta chủ trương, tin đi mối lại đấy. Giá nhà này mà lại hèn, mà họ là gả gượng,
hay là chú rể sứt môi, chột mắt, dốt nát, thì không biết họ còn bắt nạt mình ra
làm sao!
Vốn xưa nay chủ trương thuyết dĩ hòa vi quý cũng như đa số của
những ông già hiền lành, phúc hậu, cụ ông gạt phăng ngay đi :
- Gớm! Mà sao bà nói dai thế! Dẫu người ta có điều gì không
phải nữa, nhưng mà khi bà đã ưng thuận cả rồi, thì bà cứ im đi có được không?
Nói lắm, mất cả tử tế, mà không còn ra nghĩa lý gì nữa.
Nhưng bà vợ còn cố nói vuốt một câu :
- Nhưng mà tức lắm, không ai nhịn được.
Liêm đứng lên, hỏi :
- Nào, thầy đẻ có gì bảo nữa không thì nói nốt đi, con còn phải
lên gác bận việc đây.
Mẹ chàng đáp :
- Chỉ có thế đấy thôi! Xin cậu nhớ cho! Và liệu đi thì vừa!
- Vâng, vâng con xin nhớ.
Nói xong, chàng quay vào, lên thang...
Ngồi trước bàn giấy, Liêm chán nản nhìn tập giấy có hơn sáu
chục bài luận Pháp văn của học sinh mà chàng sẽ phải chữa, để giảng vào buổi học
hôm sau. Chàng thở dài, vì mỗi lần chữa bài, chàng thấy khổ sở, như chịu một
cái hình phạt trong việc tìm thấy cái dốt nát, cái ngớ ngẩn, những cái xưa kia
khiến Liêm đã bao phen được cười no nê, nhưng ít lâu nay chỉ làm cho chàng phát
cáu.
Nhìn vào đồng hồ thấy chưa đến 8 giờ, Liêm bèn lấy thuốc lá
hút, rồi nằm dài ra giường, sung sướng vì trì hoãn được một việc khó chịu, dẫu
rằng chỉ là được nửa giờ nữa mà thôi. Liêm không muốn bận trí nghĩ ngợi về điều
gì nữa, nhưng ý nghĩ đen tối vẫn cứ đến...
Chỉ còn hơn năm hôm nữa đã là ngày nghênh hôn. Buổi trưa hôm
nay, Liêm đã đi thuê in hai trăm cái giấy báo hỉ. Chàng rất lấy làm phiền về việc
ghi chép tên tuổi những người bạn bè ở gần, ở xa, bạn cũ, bạn mới, người trong
họ nội, họ ngoại vân vân... Thật là một việc khó chịu là cái việc mời ăn cưới,
nó làm cho chàng sợ rằng mời có khi cũng bị ghét, mà không mời cố nhiên bị
trách móc. Lại còn vấn đề khó giải quyết là nếu mời người này thì không thể nào
lại không mời người khác nữa, mà nếu không mời cả thì lại không xong. Bạn hữu
thân, sơ của Liêm rất nhiều. Vậy mà mẹ chàng lại muốn mời có hạn... Đến lúc ấy,
Liêm mới kịp triết lý về tình bằng hữu, về sự xã giao. Người này có thân với
mình không? Người kia có thể không mời được không? Đó là những câu hỏi khiến
Liêm gần hóa loạn óc.
Chàng lại thở dài, vì nhận thấy rằng chàng đương khổ sở, hay
là sắp lấy vợ nhưng không sung sướng một chút nào cả; mà nay mai, người ta sẽ
xúm quanh mà bông đùa, mà chúc tụng, để cho chàng sẽ phải cứ mỉm cười nhận lấy
cả mọi điều một cách giả dối, và, như thế thì thật là một sự vô nghĩa lý không
thể tha thứ được! Thì, khốn nạn, nào chàng có phải tội vạ gì cho cam mà lại đến
nỗi phải ở cảnh người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm như thế!
Nghĩ đến đấy, Liêm nghiến răng căm tức cái vô nghĩa lý mà mình đương chế tạo
cho mình.
Chàng lại ngồi lên, ra bàn, quả quyết vứt hết những ý nghĩ mà
chàng cho là ti tiện và làm cho chàng chỉ hóa ra tầm thường mà thôi. Liêm giở đến
tập giấy bài phải chữa. Nhưng... chàng phải vứt bài vở của học sinh đấy, vì dưới
tập giấy có phong thơ, mà đứa ở đã để tự bao giờ không biết. Chàng bóc ra, đọc
vài hàng, ngừng lại, tưởng chừng như có thể hóa điên được!
Thôi, thế này thì đính xác hai năm rõ mười rồi nhé? Cái hư hỏng
của Quỳnh, của người mà chàng yêu quý nhất đời, của người “mà cuộc đời là một
bài thơ” thì có đến Giời cũng không che đậy cho được nữa! Chàng lẩm bẩm: “Biết
mà! Biết mà!”. Trong cái đau đớn bất kỳ ấy, chàng thấy một thứ cảm giác kỳ lạ,
hình như là cái sung sướng nữa, khi chàng yên trí rằng Quỳnh chẳng là người
đoan chính chút nào cả. Tuy nhiên trong lúc tâm hồn khủng hoảng dữ dội ấy, Liêm
cũng phải cười nhạt và nhận thấy rằng mình đã sung sướng, ấy chính là vì không
phai ngờ vực sự đau khổ của mình nữa, nghĩa là đã được yên trí để khổ sở thế
thôi! Cố dằn lòng, Liêm bình tĩnh đọc lại cái thư có hai mảnh giấy một lần nữa,
hình như người thất vọng hoàn toàn rồi mà vẫn còn cố sức hy vọng một cách vu
vơ, hình như người biết mình đã chết đến cổ rồi mà vẫn còn tưởng có thể sống được
nữa...
Thưa ông,
Tôi với ông xưa nay chưa từng quen thuộc nhau, tất nhiên là
không có thù hằn, oán ghét gì nhau. Việc ông sắp lấy vợ, nếu chưa chắc làm cho
ông sung sướng thì cũng không làm cho tôi đau khổ gì cả. Vậy mà tôi gởi cho ông
lá thư này kèm lá thư khác nữa, tin chắc rằng cái thư ấy có dính dáng đến vấn đề
hạnh phúc của ông. Xin ông đừng hỏi tại sao cái thư như thế lại lọt vào tay
tôi, để tôi lại gửi cho ông; vì đó là sự bí mật, và ông cũng không cần biết rõ
cho lắm, ấy là tôi tưởng như thế. Lại xin ông đừng tưởng tôi có lôi thôi gì tới
việc bách niên của ông đâu. Tôi chỉ là một khách qua đường, thấy sự bất bình
thì dừng chân đứng lại nói... Tôi cũng không mong ông nhớ ơn tôi, nếu ông sẽ
cho rằng tôi làm việc này, chính là muốn làm ơn cho ông. Bởi vậy, đáng lẽ cho
ông biết rõ tên tuổi và chỗ ở, tôi chỉ ký dưới thư này là:
Vô Danh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét