Sài Gòn năm xưa 2
Phần V
Cổ tích chung quanh Sài Gòn Chợ Lớn
Trước năm 1954, lăng miếu cổ tích trong Nam được Trường Viễn
Đông Bác Cổ giao phó cho quản thủ Pháp của Viện Bảo Tàng Sài Gòn chăm nom. Đến
năm 1954 thì Pháp giao quyền lại cho Viện Khảo cổ Việt Nam quản thủ. Trào Pháp
bơ thờ không lưu tâm nhiều tới cổ tích trong Nam, chê không cổ như đền Đế Thiên
(Cao Miên) lại không thuần túy như các đền chùa ngoài Bắc (Bút Tháp) hoặc ở miền
Trung (chùa Thiên Mụ). Khi làm sổ liệt kê vào sách mục lục cổ tích, họ bỏ sót rất
nhiều; nay Chính phủ ta chưa chỉnh đốn kịp, nên có nhiều người thừa dịp mua rẻ
đất thổ mộ, vận động xin phép được cất nhà rồi xin bốc mả cải táng. Nếu Chánh
phủ không khéo ngăn ngừa kịp lúc thì chẳng bao lâu nữa, chung quanh Sài Gòn tuy
có vẻ phong quang hơn nhưng các cổ tích sẽ theo lưỡi cuốc vô tình của thợ xây nền
nhà mà lui vào dĩ vãng hết. Nhiều lăng mộ có vẻ hùng vĩ, có thể nên để lại làm
kiểu mẫu cho khoa kiến trúc lấy đó biết được cách thức bắt chỉ phong tô kiểu vở
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Không khéo ủng hộ và duy trì kịp thời, thì miền Nam
có tiếng là rất nghèo về mỹ thuật và cổ tích, sẽ nghèo nàn về mỹ thuật và cổ
tích hơn nữa, một phần lỗi là chưa làm sổ tu chỉnh liệt kê và bảo tồn cổ tích
được chu đáo hơn.
Đường Công Lý nối dài, mé tay mặt khi ta đi từ Sài Gòn lên
sân bay, cách nay lối hai mươi lăm năm, có một người ngoại kiều mua một sở đất
trên có một ngôi mộ lâu đời không có ai nhìn nhận cả. Đơn xin bốc mả không ai
ngăn trở. Quá hạn kỳ chủ đất thuê người phá mộ. Gặp một mão bằng vàng, một sợi
dây đai cũng bằng vàng, nút áo cũng bằng vàng, lược giát đầu bằng đồi mồi còn
nguyên vẹn, cũng bịt bằng vàng nốt, đem ra cân thử, cân được trên một ký lô
vàng ròng (lối 30 lượng). Báo đồn rùm lên, chừng ấy mới thấy một người cháu họ
ra mặt, nhờ trạng sư đem vụ ra tòa phân xử. Tòa phú cho tham biện Pháp tỉnh Gia
Định điều tra. Ông Dufour là người ngay thẳng, làm phúc trình trả lời; việc lâu
năm tôi không còn giữ được nguyên bản, nhớ mại mại có câu như vầy:
"Nên lập ủy ban cân kỹ lưỡng các món đã tìm thấy trong mộ.
Hãy định theo giá thị trường, đổi ra bạc băng, ký quỹ vào kho cung thác sở
(caisse des dépôts et consignation) chờ lịnh tòa. Nếu người khiếu nại có đủ bằng
cớ chứng minh mình là con cháu chắt của kẻ bạc phước nằm dưới nấm mộ kia, thì
cho y lãnh của ấy về (đã tính ra tiền). Nếu chứng cứ không minh bạch, khi ấy sẽ
tuỳ Tòa định đoạt. Dầu chi đi nữa, những trang sức phẩm tìm được, nên ký thác
cho Viện Bảo Tàng sở tại triển lãm cho bá tánh xem… Vì tánh chất công cộng nên
không tính ra bạc số tiền công làm nên món đồ. Chúng ta, người Pháp, đã mang tiếng
nhiều rằng "đến đây với danh hiệu kẻ đi cướp nước". Không nên vì một
lý do gì mà tư vị, ủng hộ bất chánh một "tiểu bối" "ăn cướp hạng
nhì" mượn danh đại Pháp, bóc lột người bản xứ!"
Tiếc thay, Việt Bảo tàng không có phần. Các bảo vật ấy về Viện
không bao lâu, kế gặp chiến tranh, ông quản thủ Pháp cất kín các vật trong một
tủ sắt kiên cố, chở tủ ấy xuống gửi tại tòa hành chính tỉnh Long Xuyên, tưởng vậy
là chắc, không dè đến năm 1945, một nhóm người xâm đoạt luôn cả tủ cả bảo vật,
Viện Bảo tàng mất hết không còn món nào.
Đây là một vụ thứ hai về phá mộ xưa. Hôm ấy nhằm ngày 16
tháng 11 năm 1953. nhân danh đại diện quản thủ Pháp Viện Bảo tàng Sài Gòn, tôi
đến làng Hoà Hưng, vào một ngõ trong hẻm chi nhánh đường Lê Văn Duyệt coi cho
người ta bốc một ngôi mả vôi vô thừa nhận, để đất trống cho tân nghiệp chủ tiện
xây cất nhà cửa. Mộ này đã bị phá từ mấy ngày trước chỉ chừa cái hòm chưa cạy nắp,
những chi tiết quan trọng, mộ bia, liễn đối đều không còn nên không làm sao rõ
được chức phận, phẩm tước của người quá cố. Duy thấy chiếc quan tài bằng cây huỳnh
đàng mà đoán địa vị người ấy khi xưa ắt cũng lớn lắm, giàu có lắm. Gỗ trai, huỳnh
đàng, người mình thích đóng hòm cũng phải. Cứ bằng chứng nơi chiếc quạt tre phất
giấy dầu trong tay người chết, quạt còn xòe được như mới, chữ còn sắc sảo vì viết
bằng một chất phấn kim khí sáng sáng như chì rõ ràng đề "Gia Khánh đệ …
niên" thì đoán hòm chôn đã được tròm trèm một trăm năm mươi năm rồi, thịt
rã nát thành đất đen. Xương còn nguyên nhưng thâm xì, nhưng lạ thay, trên trán còn
rõ ràng một miếng da người thấy lỗ chân lông nhầy nhầy nhìn còn được, cạnh gò
má xương màu đỏ đỏ như nhuộm máu, buột miệng anh cò lai hôm ấy thốt ra một câu
tôi nhớ mãi: "accident d’auto". Quên nói hôm ấy có một ông bác sĩ và
một phó cảnh sát trưởng đến chứng kiến với tôi vụ cải táng này. Và trong ý anh
cò lai, vì chưa thấy chiếc quạt "Gia Khánh" nên đinh ninh thây ma nằm
đó chắc của một người mới chết gần đây vì tai nạn xe cộ, ô tô húc mà thôi! Mà lạ
thật! Những cái gì cho ta trường cửu, thì trở nên tro bụi: vàng xi, nút áo bạc,
mấy nút bằng pha lê biến thành chai (verre). Trái lại, những vật ta cho rằng
mau mục, mau tan rã còn lại ràng ràng như mới: vỏ cau ăn trầu, chiếc chiếu lót
dưới người chết còn đủ màu nhuộm ô xanh ô đỏ, thậm chí giấy tiền vàng bạc còn
phân biệt để nguyên xấp, bên vàng bên bạc rành rạnh, không hư; trong tay, như
đã nói, cầm chiếc quạt "Gia Khánh" gói trong vuông khăn nhiễu điều,
cây quạt này xòe được lúc trong hòm lấy ra, đến cái chốt nan quạt cũng chẳng hề
hấn gì (duy sau này cất để đến nay, giấy quạt khô trở nên giòn không mở ra được
nữa). Trên bụng còn một gói, giở ra là trầu, thuốc xỉa (thành tro bụi), cau ăn,
xác còn cứng chắc, một ống bạc đựng vôi đã hen rỉ, cả các món đựng trong một
đãy trầu bằng gấm có thêu kim tuyến ràng ràng, một khăn đỏ khác gói hai cây viết
lông, quản bút bằng trúc mới tinh, ngòi bút bằng lông mềm mại, khi lấy trong
hòm ra, ước chừng lấy chấm mực viết như chơi, nhưng ra ío giây lát sau thì lông
bút rớt ra khỏi quản. Ngay chỗ háng, giữa xương hai đùi, có một chùm lông rõ rệt.
Râu đen, tóc dài đều còn nhưng sau râu lại nhét vào mồm, không để tự nhiên dài
che cổ, ngực? Phong tục này xin hỏi các bậc lão thành. Răng nhuộm đen, chứng tỏ
người chết là người Việt gốc gác không miền Bắc thì miền Trung, đầu chít khăn
quấn tay, áo mặc nhiều lớp chồng lên nhau, vẫn còn nguyên xé nghe tèn tẹt. Chiếc
lược đồi mồi vẫn chưa mục, và hai món này: khăn, lược chứng tỏ cho ta biết người
quá vãng không có phẩm tước triều đình (nên không đội mão). Dầu chi cũng là một
người phong lưu khác giả nên có đem theo bút lông, cây xỉa răng bạc, cây móc
tai dát vàng và bao đựng thuốc xỉa, thuốc hút, đãy đựng trầu ăn. Ô hô! Giàu
sang một đời, nằm xuống đất nay đã gần một trăm năm mươi năm, thế mà chưa được
yên thân! Cháu con lâu đời át đã lui về quê cũ Bắc hoặc Trung, còn sót những đứa
ở lại đây, một nắm xương tàn đối với chúng sao trọng bằng tiền bạc nên chúng đã
ký tên bán đất, phú cho phu phá mồ đào cốt, cải táng về đâu mặc kệ. Ván hòm cứng
thật. Ngoài da mốc mốc, đất ăn xầy xầy, tưởng bở. Chạm sâu một phân tây, cứng rắn
vô cùng. Thậm chí, cái máy khoan điện, thuở nay nào biết kiêng nể thứ gì, sức bực
sắt đá nó còn nhai như bánh bột thế mà máy khoan đâm không thủng nắp hòm! Khoét
được lỗ nào chỉ đút sâu lỗ đó, chung quanh vẫn y nguyên. Khoan cả mấy giờ không
xuể đâu vào đâu, phu phá mồ "xổ nho" nghe mà phát mệt! Thét rồi,
chúng chạy về lấy búa thầu và đục thép cỡ lớn ra nói chuyện với huỳnh đàng!
Nghĩ mà tội cho người nằm đó! Sắm hòm cây danh mộc tưởng chừng đủ chịu đựng với
thời gian, không dè kẻ thù ngày nay là đức cháu bất hiếu, một tên võ phu tay cầm
búa thầu đục thép. Không một tiếng não bạt ê a, không một câu kinh an ủi. Nằm
trơ đó mà chờ người ta mổ búa lớn vào nắp vào đầu. Nhà chức trách cũng bất lực,
vô phương cứu cấp, mục kiến cho đám phu phá mồ dang thần lực nện búa thầu vào đầu
đục, búa nào búa nấy nháng như búa Thiên Lôi. Hòm mở toang ra, chúng hốt lấy hốt
để, từ hòm huỳnh đàng chuyển cốt qua một cái quách nhỏ bằng cây tạp dầu. Chiếc
hòm quý huỳnh đàng mới làu làu phu phá mồ thừa hưởng, bán manh bán mủn cho phường
dị đoan đem về là ghế xây, bàn cầu cơ. Quách dầu, vài đứa đem vùi một chỗ vô
danh, chờ ngày không mục nát tự nhiên, thì đến năm cải táng nhường chỗ cho lớp
khác. Chung quy có mớ đồ vật ký thác cho Viện Bảo tàng còn lưu lại hậu thế, kỳ
dư trở về tro bụi. Nếu chánh phủ không sớm thảo điều lệ bảo vệ các cổ tích,
lăng cũ, mộ xưa, cấm mua bán đất thổ mộ, liệt kê các ngôi mả bằng ô dước, vôi
đá tại Việt Nam thì chẳng bao lâu nữa chung quanh Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn
không còn sót lại một cái nào khỏi bị lưỡi cuốc phu phá mồ đưa về dĩ vãng.
Ngày trước đất rộng, dân gian tín ngưỡng, sợ chùa, miễu, mộ
phần. Ngày nay đất chật, sự tin tưởng thần thánh, quỷ ma đã bớt, nhất là những
đất có chôn mả thường bán rẻ tiền, miếng nào còn sót lại trong đô thành không
chầy thì kíp cũng có người mua, dời mộ xây cất dinh thự, lâu đài, ít lâu người
cố cựu cũng không làm sao nhớ nổi.
Đại lược các cổ tích còn sót lại và ngày nay còn thấy là:
- Lăng Thượng Công Lê Văn Duyệt tại chợ Bà Chiểu. Tả quân từ
trần 1832, năm 1835 mộ bị san bằng phẳng, núm mộ bị xiềng lòi tói sắt. Năm
1848, vua Tự Đức tha tội truyền xây lại như cũ. Năm 1868, Tả quân được truy phục
"Vọng các công thần, chưởng Tả quân Bình Tây Tướng quân Quận Công" và
được vào "Miếu Trung Hưng Công Thần".
- Lăng Phò mã Hậu quân Võ Tánh, mộ chánh tại Bình Định, đây
là mộ chôn hình nhân bằng sáp, vì người tự thiêu trên giàn hoả, không còn thây
thi. Mất năm Tân Dậu, ngày hai mươi bảy tháng năm năm 1801. lăng nằm trong vùng
đất quân sự, vào cửa phải xin phép trước. Xưa tuy không vẻ nguy nga nhưng trang
nghiêm. Nay tiêu điều lạnh lẽo. Trước năm 1942 còn sót lại bốn cây đại thọ đứng
tứ trụ bốn góc lăng, là bốn cây thông do Gia Long sắc chỉ dạy trồng. Mỗi cây lớn
cả ôm, da trổ da quy nứt lục lăng trông rất ngộ. Binh Nhật chiếm Sài Gòn, đục
thông lấy tòng hương làm chết khô bốn cây cổ thụ, nay còn sót một gốc khô đứng
sừng sựng, cảnh tang thương càng làm thêm đau lòng người hiếu cổ.
- Lăng Long Vân hầu Trương Tấn Bửu, đường Trương Tấn Bửu. Mất
năm Minh Mạng thứ 8, ngày 2 tháng 8 năm 1827, vì người quản thủ không có óc thẩm
mỹ, sửa chữa miếu kiểu ngoại lai, mộ phần trét xi măng, sơn vôi lố lăng trông xốn
mắt.
- Lăng Bình Giang Bá Võ Di Nguy tại Phú Nhuận, trong hẻm một
con đường mang tên của Ông nhưng con cháu đã bán đất chung quanh lăng, còn chừa
nội phần mộ, kề bên có một chuồng heo dơ bẩn và một ngôi miếu thờ không đáng
danh là miếu thờ. Đất là đất của Vua, con cháu công thần ăn hoa lợi. Nay trở
nên đất của Nhà nước, tại sao ban quản thủ không xin thủ tiêu tờ mua bán đất bất
hợp pháp (Bình Giang Quận công tử trận tại Thị Nại năm 1801).
- Lăng Bá Đa Lộc (Eùvêque d’Adran), thường gọi "Lăng Cha
Cả" ở Tân Sơn Nhất, đường lên sân bay. Mất năm 1799, chôn vào đêm. Đám
tang nửa theo phép đạo Thiên Chúa, nửa theo lễ tục Nam, tế trọng thể, bài ai điếu
viết trên lụa vàng, nay còn để dành tại họ Sài Gòn.
- Sau Lăng Cha Cả là mộ phần chung các vị mục sư kế tiếp mất tại
đây. Trong số, có mộ cha R.P.Liot, là bí thư của Đức linh mục d’Adran.
- Lăng Lê Văn Phong, sanh tiền tặng "ông Tả Dinh"
là em của Lê Tả quân. Mất trước Tả quân nên mộ phần kiên cố hùng vĩ bởi do Tả
quân đứng trông nom xây cất. Chúng tôi mới tìm được trước ở trong hoa viên nhà
ông quản lý Đông Pháp Ngân hàng, sau vì đổi chủ nên mất tích. Trước ở về phía hữu
đường Mac Mahon nối dài, nay ở về phía hữu đường Ngô Đình Khôi (?), khuất trong
xa, phải cố tìm mới ra mối.
- Lăng Nguyễn Văn Học,trước kia Pháp gọi "tombeu du
Maréchal Nguyễn Văn Học". Nay truy ra không có công thần nào triều Nguyễn
có tên họ như vậy. Có chăng là ông Trần Văn Học,tác giả bức địa đồ tỉnh Gia Định
hoạ năm 1815? Ngày trước ngôi mộ Nguyễn Văn Học ở chỗ khác, chủ đất xin dời nên
tham biện sai gỡ ra từng khối nguyên đem về ráp lại trong hoa viên gần tòa hành
chính như hiện nay ta thấy. Năm cải táng, 1939, lấy được đồ trang sức phẩm bằng
vàng, mão, đai của nhất phẩm đại thần, về sau ông quản thủ Pháp dời giấu ở Long
Xuyên bị cướp chung một số kiếp với những đồ vàng đào được tại đường Công Lý đã
nói ở đoạn trước.
- Lăng quý tộc họ Hồ, hoàng thái hậu, vợ vua Minh Mạng, mẹ
vua Thiệu Trị tại làng Linh Chiểu Tây (Thủ Đức).Lăng này còn tốt, tuy có vẻ đìu
hiu. Trong sử ngày xưa, vua Tự Đức sai ông Phan Thanh Giản sang Pháp nói chuyện
đem tiền chuộc đất ba tỉnh Miền Đông cũng vì những ngôi mộ này một phần nào.
- Lăng ông Nhiêu Lộc, cách kiến trúc khác hơn những lăng đã
thấy, hình vuông vắn như ngôi nhà vững chắc. Lăng này trước kia Trường Viễn
Đông Bác cổ chưa liệt kê, may thời nay lọt trong sở nhà đất thuộc sân bay Tân
Sơn Nhất, tại đường Chi Lăng (?), giữa khoảng Võ Di Nguy (?) và Ngô Đình Khôi
(?). Một ngôi mộ xưa nhỏ hơn mộ Nhiêu Lộc, vì ở gie ra ngoài đường Chi Lăng,
nên đã bị phá, không biết khi cải táng có gặp món đồ gì có giá trị cổ tích
chăng, vì lúc sau này, Ty Vệ sinh Đô thành, mỗi khi cải táng, không như trước,
mời đại diện Viện Khảo cổ tham dự.
- Đất mộ phần dòng họ Trương Minh, tại Gò Vấp, đến đây hỏi
thăm nhiều người biết. Phủ thờ cũ kỹ, kèo trính mối leo cả dây. Đặc biệt nơi
đây còn giữ được trên trăm bài vị tiền nhân trong dòng họ. Còn sót vài món từ
khí, bàn thờ, hoành phi, liễn đối nguyên xưa của nhà ông Thế Tải Trương Minh
Ký, một học giả đồng thời ông Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Mồ mả có cái xưa nhất là của
ông bà Trương Minh Giảng thì xây bằng vôi trộn ô dước theo kiểu thế kỷ XIX, có
riêng một ngôi mộ núm tròn kiểu khác lạ chưa từng thấy, đến như ngôi mộ của ông
Trương Minh Ký cất đầu lối thế kỷ XIX đã "lai Tây", có nóc bắt bông
thạch cao kiểu bắt chước các mồ mả đạo Thiên Chúa, xuống một bậc nữa, đến cháu
con ông Thế Tải thì có cái ngả hẳn về đạo Thiên Chúa, dầu núm đất cũng khắc mộ
bia Việt ngữ, tên họ kèm theo tên thánh thêm đặt ảnh chụp lồng kiếng chân dung
người quá vãng. Đi xem đất phần mộ họ Trương Minh, biết được kiểu mồ mả ba thế
hệ: thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và thế kỷ XX.
Chùa Chiền
Về cổ tích trong Nam, các chùa chiền chiếm một địa vị khá
quan trọng. Xét ra người Miên thuở giờ có tục hoả táng nên mồ mả cổ tích Miên
trên đất Sài Gòn không thấy cái nào. Những chùa Miên xưa chỉ sót lại mấy cái nền
đất dùng qua việc khác. Đường Trương Minh Giảng nay có dựng một ngôi chùa thì vẫn
mới quá, chưa đáng liệt kê vào số cổ tích. Chỉ có người Việt, người Tàu, đồng
văn hoá, đồng tín ngưỡng, cho nên khi đi đến đâu xứ lạ đất mới thường ưa đậu tiền
đậu vốn hùn nhau lập chùa miễu cùng chung thờ phượng (không kể các chùa đặc
tính của mỗi dân tộc hoặc các am, thất nhỏ, riêng biệt của vài phái, nhóm địa
phương). Nay điều tra kỹ thì chưa có cái nào có trước năm 1698, tức đều sau cuộc
Nam tiến mà thôi.
Theo chúng tôi được biết, thì có ba chùa sau đây đáng gọi
tiêu biểu cho ba tín ngưỡng:
- Một ngôi chùa thờ Phật, cổ nhứt trong vùng là chùa Giác
Lâm, do người Minh Hương, Lý Thoại Long, quyên tiền xây năm Giáp Tý (1744), nay
vẫn còn nghiêm túc vững chắc ở trên Phú Thọ.
- Một ngôi chùa khác, liên hệ rất nhiều đến lịch sử là chùa
Minh Hương Gia Thạnh, lập năm Kỷ Dậu (1789) do di thần Minh mạt và con cháu
Minh Hương, dựng trong Chợ Lớn (Sài Gòn thời đó), để di dưỡng tinh thần yêu cố
quốc, mến quê hương, chùa nầy đến nay khói hương không dứt, được tiếng khéo tu
bổ, khéo săn sóc nhứt trong vùng.- Còn một ngôi chùa thứ ba của phái Nho Học, quan trọng không
nhỏ đối với lịch sử đất Sài Gòn, tiêu biểu cho lòng trung cang ái quốc, tạo lập
từ ngày người Minh dựng nên phố Đề Ngạn. Qua năm Canh Thìn (1820), chùa được
xây cất lại mới và trải bao biến cố, còn sừng sững làu làu như ngày nay ta thấy,
đó là Thất Phủ Quan Võ Miếu. Nay xét kỹ lại, mới rõ đây là cổ tích gần như duy
nhứt để chỉ trung tâm điểm của phố Sài Gòn của người Tàu ngày xưa.
Nếu có thể ví ông bà ta xưa kia vào lối cuối thế kỷ XVIII và
ngót hơn một thế kỷ tiếp đó ngày tư ngày tết, hãnh diện nhứt là được lê gót
giày mạ mị (đế kết bằng lông đuôi ngựa), dạo phố Quảng Tống Cái (Quảng Đông
Nhai hay rue de Canton), qua đời chú bác ta lại thích chiều chiều thả xích phê
đường Catinat, giày "ăn phón" (fabriqué en France) nện vỉa đường nghe
cốp cốp, qua đến đàn em ta và ta ngày nay lại ghiền thú chen lấn nhộn nhịp nam
thanh nữ tú Chợ Bến Thành, rõ ràng trải qua ba thời đại, Sài Gòn ở ba điểm khác
nhau, và phố Triệu Quanh Phục ngày nay, bắt từ chùa Quan Đế chạy dài tận mé
sông, quả là địa điểm đất cổ Sài Gòn, rất đáng được liệt kê vào sổ cổ tích và
nên ủng hộ cho đến kỳ cùng, không nên vì lý do nào, cho phép vỡ phá sửa đổi xây
cất lại mới, làm mất dấu vết "lịch sử" của nó. Trong các cổ tích thuộc
đường Triệu Quang Phục, đáng để ý nhứt là Thất Phủ Quan Võ Miếu, như đã nói,
trong chùa có lên cốt tượng thờ Đức Quan Công, thái tử Quan Bình, và kẻ bề tôi
trung tín là Châu Thương cùng ngựa Xích Thố. Vía đức Quan Đế vào ngày mười ba
tháng Giêng âm lịch. Khảo ra, chùa có trước thế kỷ thứ XIX, nhưng đến năm 1819
- 1820 mới xây cất kiên cố cho đến ngày nay, tuy bị bỏ bê, nhưng vẫn còn vững
chắc và hùng vĩ lắm. Nếu nói nay chùa lâm vào cảnh nhang tàn khói lạnh thì quá
đáng, nhưng nên trách ban quản trị hiện thời vì quá ham lợi và quá xu mị phe
duy vật, đành dùng sân bên hông chùa xây cất phố lầu cho mướn, tuy có thêm huê
lợi nhưng mất sự tinh khiết chung quanh chỗ thờ phượng, lại cho phép trước mặt
tiền chùa dựng một rạp ciné, ngày ngày diễn tuồng cụp lạc dâm ô, đàng điếm, thậm
chí trong chùa, giữa chánh điện, lại phân chia phòng nhỏ phòng lớn, lớp dạy học,
chỗ bày ghế bố làm nơi ăn ngủ của bọn bán xăm bán nhang đèn, xúc phạm đến thế
là cùng, người có Nho phong lễ giáo đến đây không khỏi động lòng trắc ẩn. Đã biết
ở đâu cũng có tiểu nhơn, quân tử, cũng không nên cố chấp làm gì, nhưng không
nói nó làm sao ấy! (Ngày mồng năm tháng sáu d. l. mới đây, chúng tôi có dịp trở
lại viếng chùa, thấy còn thương tâm hơn nữa. Người ta đương khiêng cây ván bày
bừa bãi trước chánh điện, các lớp dạy học và những phòng tụ hội của uỷ ban nầy
nọ đã lấn sát bàn thờ, đức Quan Đế chỉ còn một chỗ ngồi hết sức chật hẹp, tượng
cốt thì lột mãng bào mũ miện ra, định chừng muốn tô lại mới; nhưng nếu đã hết
tin tưởng thì thà để vậy có phần cổ kính hơn, - một bài minh đề "Đạo Quang
đệ thất niên " (1827), kể lại công đức Quan Đế khắc trên gỗ mạ vàng tuyệt
mỹ thì bị bỏ ra ngoài sân dựa vách, mặc dầu mưa gió, mặc dầu mục hư, thảm não
nhứt là mấy tấm cổ bia đá khắc danh sách các nhà từ thiện xưa đã hỷ cúng bao
nhiêu vào công cuộc xây dựng chùa, trong số bia ân nhân ấy có một thạch bia chữ
lớn nêu rõ bà Đỗ Thị, phu nhơn Tả Quân Lê Văn Duyệt, cúng hai trăm quan tiền thời
đó (năm 1819) và một bia đá khắc kể rõ bảy phủ là những phủ nào, toàn là bia cổ
tích, liên quan nhiều đến lịch sử Sài Gòn, những bia ấy cũng tránh không khỏi sự
phá hoại vô lý, tấm thì bị trét hồ, tấm lại bôi vôi hoặc mất chữ hoặc lem luốc
chữ không đọc được. Thiết tưởng dốt nát thì còn tha thứ, nhưng nếu đó là sự cố
ý xúc phạm của người hữu học, thì đến thế là cùng! Một dân tộc có tiếng là văn
minh, nếu muốn được người khác tôn trọng, thì trước phải biết trọng mình và tôn
kính những cốt tượng thần phật của mình thờ phượng xưa nay với chớ! Đây là một
câu hỏi của một người bấy lâu hằng lấy gương Quan Đế làm mực thước xử thế, xin
gởi với bao lễ kính và chí thành lên các bực đàn anh Trung Hoa, nếu có dị nào đọc
bài này, vui lòng cho biết tôn ý để học hỏi thêm. Hỏi: Vì sao cũng xưa các người
Tàu dạy khắp nơi thờ cúng Quan Võ Đế rồi ngày nay cũng người Tàu làm gương nguội
lạnh đến thế nầy? Nếu các ông không có tín ngưỡng nữa thì xin giao ngôi chùa lại
cho chúng tôi gìn giữ làm cổ tích như thế còn có nghĩa hơn.- Cách chùa Quan Đế một tấm vách, có chùa "Tam Hội Miếu"
thờ bà Chúa Thai Sanh, coi về sinh đẻ. Nơi đây những người đàn bà hiếm con thường
đến cầu nguyện về đường tử tức. Chùa lập năm 1839 gọi tắt là "Phò Miếu"
(Miếu Bà). Tương truyền trong chùa có thờ bài vị một vị Phò mã, con trai ông Trịnh
Hoài Đức.
- Ở xúm xít góc Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi có đến ba
chùa, còn cái thứ ba, cũng gọi "Phò Miếu" hoặc "Chùa Bà"
nhưng đây thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Đây là một ngôi chùa có tiếng là xưa nhứt,
giàu nhứt, khéo nhứt, và cũng giỏi bảo tồn nhứt trong vùng. Vía bà là ngày hai
mươi tháng ba âm lịch, nhưng chùa vào lễ từ ngày mười tám đến ngày hai mươi ba
mới dứt, và người dân chất phác xứ Chợ Lớn vẫn đinh ninh khi nào lễ cúng Bà
xong thì khi ấy mới bắt đầu có mưa đầu mùa. Chùa này trên nóc có gắn sành rất
khéo, tả lại cuộc vui đời xưa. Hai bên chùa, từ năm 1825 - 1830, đã có trụ sở
Bang Quảng Đông, nhưng ngày nay ta thấy hai tòa lầu kiên cố, một bên là trường
học, một bên là trụ sở liên lạc của người bang Quảng Đông, lấy hiệu là "Huệ
Thành Hội Quán".
Nay truy ra mới biết xóm ba Chùa nầy đích thị là trung tâm điểm
của xóm"Đề Ngạn" và nơi xưa kia trong sách gọi"Sài Gòn" thị
chính là nơi đây:
"Cách huyện Bình Dương mười hai dặm, ở phía tả và phía hữu
đường quan lộ. Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ
"điền", nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán người
Thổ ở chung lộn dài độ ba dặm, đủ cả hàng hoá trăm thức, ở bên sông nam và bắc
không thiếu món gì, đầu phía bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây
cất đối nhau phía tả và phía hữu. Phía tây đường lớn có chùa Thiên Hậu, ghé tây
có Ôn Lăng Hội Quán. Đầu phía nam đường lớn về hướng tây có Chương Châu Hội
Quán (của bang Phúc Kiến). Phàm gặp giai tiết lương thần và ngày tam nguyên,
sóc vọng thì treo đèn đặt án để đấu xảo, ánh sáng rực rỡ hình như cây lửa cầu
sao vậy, lại đánh trống thổi kèn huyên náo, con trai con gái kéo đến tấp nập,
thành một thị phố đô hội náo nhiệt.
"Trong một đường lớn có giếng xưa nước ngọt bốn mùa đầy
luôn không kiệt. Đường ngang có khe nhỏ gác cầu ván lớn, hai bên phố ngói cất
dăng ở trên, treo giăng màn trướng để che mặt trời, đi trên đường mát mẻ như đi
dưới mái nhà cao lớn vậy. Phía đông đường lớn có chợ Bình An, có đủ những thổ sản
quý báu ở núi ở biển và ở thôn dã, ban đêm cũng thắp đèn mua bán. Ngày nay đã
thưa thớt không bằng như xưa".
(Đại Nam Nhất Thống Chí, Lục Tỉnh Nam Việt, bản dịch Nguyễn
Tao, tập 2, trương 74).
Căn cứ theo tài liệu trên thì quả trung tâm điểm của thị trấn
xưa kia gọi "Đề Ngạn", tức là phố Sài Gòn của người Tàu đời xưa, đích
thị là ở ngay nơi xóm Ba Chùa nầy rồi. Bằng cớ là những chùa nầy còn giữ y chỗ
cũ, mặc dầu ngày nay trung tâm chỗ buôn bán đã dời qua địa điểm khác, nhưng chốn
cũ vẫn còn nhiều hiệu buôn khách đồ sộ, có cái lâu đời đến hơn trăm năm rồi.
Xét ra người Tầu thuở đầu qua đây, lúc ấy chưa có thuốc trị bịnh
hiệu nghiệm như ngày nay, nên họ tin nhiều ở sự phù hộ của thần thánh, đâu đâu
đều có miếu thờ đức Quan Đế và bà Thiên Hậu. Về chùa Bà, còn một ngôi chùa rất
xưa nữa ở góc đường Lê Văn Duyệt và Hồng Thập Tự. Nay thấy nền chùa thấp lé đé
dưới vỉa đường mà đoán chừng chùa nầy tạo lập từ xưa lúc ấy đô thành còn ẩm thấp
chưa cao ráo như ngày nay.
- Một chùa bà Thiên Hậu nữa thì ở tại mé sông Chợ Cầu Ông
Lãnh. Xưa người Tàu kình nhau lập chùa miếu, mỗi bang có mỗi chùa riêng. Và
nghe đâu chùa Bà Chợ Cầu Ông Lãnh là của nhóm người Phước Kiến.
Sau đây là sự tích của bà Mi Châu, thuộc Bồ Dương (Phước Kiến).
Ngày sanh: 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), đời vua Tống Nhân
Tông. Tám tuổi biết đọc, mười một tuổi tu Phật giáo. Mười ba tuổi, thọ lãnh
thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm
được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác. Bà coi theo đó mà luyện tập rồi đắc đạo.
Cha tên Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai trai, anh của Bà,
chở muối đi bán tỉnh Giang Tây, giữa đường thuyền lâm bão lớn… Cả ba cùng té, lặn
hụp chới với… Cùng một ngày giờ đó, trong lúc trận bão diễn ra ngoài khơi, thì
bà đang ngồi dệt vải bên cạnh mẹ. Bà ngồi khung cửi, bỗng nhắm mắt lại, nghiến
hai hàm răng, hai tay đưa tới trước dường như trì níu một vật gì nặng lắm. Mẹ
ngồi gần thoạt thấy cử chỉ lạ lùng làm vậy, phát sợ, gọi bà. Bà không ừ hữ. Mẹ
càng sợ thêm, đến gần Bà nắm hai vai vừa lắc chuyển vừa la lớn: "Sao vầy
con? Trả lời đi con! Nói mau kẻo mẹ sợ lắm". Bà mở mắt, ư một tiếng dài
như vừa tỉnh giấc chiêm bao, bỗng oà lên khóc: "Mẹ ôi! Thôi rồi, cha mắc nạn
to, thuyền bị bão chìm, nay con không cứu cha được cũng vì mẹ một hai trục con
về. Âu chẳng qua cũng tại số trời! " Rồi bà thuật tự sự. Khi ban nãy Bà
làm như vậy là Bà đang một tay nắm anh cả, một tay kéo anh thứ, vì cả hai đang
chới với dưới ngọn ba đào. Giữa lúc bối rối làm vậy bỗng Bà thấy cha đang lặn hụp
dưới thuỷ triều và sắp bị nước cuốn trôi… nên Bà vừa dùng răng cắn được chéo áo
của cha, Bà sắp cứu được cả ba thoát nạn dữ, kế nghe mẹ kêu giựt dội một hai
lay gọi ép Bà trả lời, Bà vừa hở môi thì sóng cuốn cha mất dạng. Nên Bà chỉ cứu
được hai anh khỏi nạn và chờ các người ấy về sẽ rõ âm hao. Quả đúng như lời,
cách ít hôm sau, hai anh về tả lại cảnh cha chết, quả y như lời Bà đã thuật
cách mấy ngày trước.
Từ đó tin đồn truyền ra, xa gần đều biết và mỗi khi ngoài biển
thuyền bè bị đắm, gọi vái đến Bà là tai qua nạn khỏi. Về sau, dân gian quá ngưỡng
mộ danh Bà, mỗi khi có nguy hiểm tai nạn đều van vái Bà, nhứt là những khách
thương cỡi thuyền vượt biển.
Năm Canh Dần (1110) niên hiệu Đại Quan, nhà Tống sắc phong
Bà: "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Lễ cúng 23 tháng 3 mỗi năm; và tại Chợ Lớn,
có chưng cộ Bảy Bang rất lớn, có múa rồng hát bội Tàu và ta, bong đèn kết tụi,
bong hình nhơn "Kim Đồng, Ngọc Nữ" bằng trẻ con rất khéo. Từ ngày duy
tân, bớt những xa xỉ ấy, bao nhiêu hoa lợi chùa Bà mỗi năm trên số triệu, đều
dùng vào việc nghĩa: giúp dưỡng đường, trường học, v.v… Nhưng ban trị sự Chùa
Bà sáng suốt nên không theo gương bên Quan Võ Miếu, vẫn thờ phượng tôn kính và
chỗ chánh điện vẫn giữ y như cũ. Hay là các người Trung Hoa, mặc dầu theo mới,
nếu có triệt để "duy vật" là bên chùa ông, còn bên chùa Bà vẫn kiêng
nể và nhắm mắt để cho đàn bà đi chùa lễ thần và cúng vái thế cho mình.
Trong chùa Bà Thiên Hậu Chợ Lớn còn vài cổ vật, cổ tích: một
đại đồng chung đề "Đạo Quang năm thứ 10" tức làm vào năm 1830. Một bộ
lư Pháp lam (cloisonne') vĩ đại, cũng đề một niên hiệu ấy. Một tướng lịnh của
tướng d ' Ariès ký tên cấm các binh sĩ Tây và Y Pha Nho (Tây Ban Nha) phá phách
trong chùa cũng đề ngày lối năm 1859 hoặc 1860, tiếc thay người trong chùa
không biết giữ gìn kỹ lưỡng, nên chữ đã phai mờ không đọc được. Chùa ngày nay
như ta thấy, toàn xây bằng vật liệu bên Tàu đem qua, từ viên gạch, tấm ngói, đến
những đồ gốm gắn trên mái nóc đều do thuyền buồm chở sang đây, đến cách thức
phong tô cũng giữ y thể thức Tàu, gạch xây liền mí không tô hồ, đếm rỡ từng tấm
một, lằn hồ thẳng đường thẳng lối khít rịt và ngay bon như vẽ, thiệt là rất
khéo và tưởng chừng thợ kim thời khó làm sắc sảo hơn được nữa. Truy ra chùa nầy
trùng tu năm 1860 (Hàm Phong năm thứ 10). Ngày nay đứng sân chùa ngắm lên các cảnh
chưng trên nóc bằng đồ gốm nung bên Tàu là biết được những phong tục Trung Hoa
cổ thời, thưở vua chúa còn trị vì: đả võ đài, thi đậu vinh quy, công chúa tuyển
phò mã, v.v… những vật này đáng được liệt kê vào sổ cổ tích vậy.
Nay tiếp tục dạo xem các chùa khác thì gặp:
- Đường Đồng Khánh, một chùa của người Hải Nam, hiệu đề
"Quỳnh Phủ Hội Quán" còn trang nghiêm và khéo gìn giữ, có trật tự lắm.
Trong chùa còn một chung đồng lớn đề "Quang Tự Ất Hợi" (1875).
- Đường Nguyễn Trãi, có một chùa của người Phước Kiến, hiệu đề:
"Hà Chương Hội quán". Chùa nà đồ sộ và khéo nhứt thời xưa, cho nên
ngày nay người cố cựu Chợ Lớn còn quen dùng danh từ "lớn bằng chùa ông Hược",
vì thời trước chỉ có chùa nầy là nguy nga nhứt. Quên nói "Hược" là
tên nôm na của "Hà Chương Hội Quán". Ngày 6 tháng 6 năm 1960, chúng
tôi có đến viếng chùa, nhơn dịp hỏi lai lịch và nguyên do chữ "Hược"
thì chính ông từ giữ chùa cũng ấp úng trả lời không suôn sẻ. Chúng tôi hỏi
"Phước Kiến" có bảy phủ là những phủ nào thì ông kể không đủ số. Đến
chữ "Hược", theo ý ông là do chữ "Hạp" (Hiệp), tức ý nói
chùa lập ra do sự thống nhứt của các phủ tỉnh Phước Kiến hạp lại". Cắt
nghĩa làm vậy chúng tôi tưởng chưa thông đâu. Kế đó chúng tôi đến hỏi một học
giả ham chơi đồ cổ, gốc người Phước Kiến ở đường Phạm Ngũ Lão thì ông không trả
lời được. Riêng chúng tôi được biết, có phải chăng "Hược" do "Học"
tức "Phước" hay "Phúc" đọc giọng Phước Kiến? Chúng tôi nay
xin chép ra đây để chờ người cao học phủ chính.
Tiếng rằng "Chùa Ông Hược", nhưng chánh điện thờ bà
Thiên Hậu. Trong chùa có một chuông lớn đề "Đồng Trị, Mậu Thìn niên"
(1868). Tại chùa có bốn cây cột đá, nguyên khối, rất lớn và khéo vô song. Chạm
rồng vấn cột, vẩy vi, nanh móng nổi ra, tóc râu chạm lọng tuyệt mỹ, tiếc thay,
mấy năm tao loạn đã bị sứt mẻ và gãy rời mất đôi chỗ, thật là rất uổng. Khéo nhứt
là hình "bát tiên quá hải" chạm đứng trên thuỷ ba, trên mây và trên
vi rồng, nét chạm thần tình đến tưởng nét vẽ trên giấy cũng không khéo hơn.
Nghe nói xưa chùa có sáu cây cột nhưng đã bị chánh phủ thời đó "mượn không
trả" hết hai cây rồi!
Ngoài cửa chùa, đời Đồng Trị năm Mậu Thìn (1868), Trạng
Nguyên Lâm Hồng Niên người Phước Châu, có gởi cúng hai câu liễn khắc vào đá,
nay còn rành rành:
"Hà thái ánh Nam thiên, vận triều tu hòa chi khánh.
"Chương lưu thông trạch địa, linh khai phú hữu chí trường".
- Đường Lão Tử, có "Ôn Lăng Hội Quán" của người
Phước Kiến, thờ Bà Thiên Hậu. Vị trụ trì chùa nầy cho biết rằng "Ôn
Lăng" là một danh địa phủ Tuyền Châu. Ngoài cửa chùa có chạm vào đá hai
câu liễn do Trạng Nguyên cập đệ Ngô Lỗ cúng năm Tân Sửu (1901) đời Quang Tự:
"Ôn nhu trước chí nhơn, chánh đạo dung dân nguyên Khổng Dịch;
"Lăng nhạc đồng trang trọng, mẫu nghi hình ngã cánh vô
phương ".
Trong chùa còn một chuông lớn đề "Đạo Quang Ất Dậu
niên" tức năm 1825 (năm thứ sáu của vua Minh Mạng).
Khi từ tạ ra về, hòa thượng đưa ra cửa, dạy thêm cho biết rằng:
"Để tưởng niệm Châu Ngươn Chương, thuỷ tổ nhà Minh, nên chùa thường dùng
màu đỏ (châu, chu) sơn cột và trính, còn trên ngạch cửa, có chạm hai mắt lồi
ra, tượng trưng "Nhựt", "Nguyệt", hai chữ ấy ráp lại tức
"Minh" vậy.
- Đường Đèn Năm Ngọn, góc Khổng Tử và Phùng Hưng, còn một
ngôi chùa Phước Kiến nữa, đề "Nhị Phủ Hội quán". Nhị phủ là Chương
Châu phủ và Tuyền Châu phủ nhập lại. Chùa nầy lập năm 1835, thờ "Ông Bổn".
Nguyên đời Vĩnh Lạc (1403 -1424), vua có sai ông thái giám Trịnh
Hòa (sách Pháp âm: Cheng Ho), cỡi thuyền buồm dạo khắp các nước miền Đông Nam Á
ban bố văn hoá Trung Hoa, và luôn dịp mua về cho hoàng đế Minh Triều những kỳ
trân dị bửu Ấn Độ, Xiêm La, Miến Điện, Cao Miên, Việt Nam, Chiêm Thành, Tân Gia
Ba, Chà Và, Nam Dương Quần Đảo, v.v… Trương Hòa tỏ ra vừa nhà thám hiểm, du lịch,
khảo cứu địa dư, ngoại giao, ngôn ngữ học, mỗi mỗi đều tài tình. Đi đến đâu,
ông thi nhân bố đức, và đưa người Tàu đến lập nghiệp đến đó, hoặc chỗ nào có
người Trung Hoa ở sẵn thì ông chỉnh đốn sắp đặt cho có thêm trật tự, v.v…, sau
nầy ông mất, dân ngoại kiều cám đức sâu, thờ làm phúc thần, vua sắc phong
"Tam Bửu Công", cũng gọi "Bổn Đầu Công" (đọc giọng Tàu là Bủn
Thầu Cúng) gọi tắt là "Ông Bổn".
- Đường Nguyễn Trãi đi một đoạn khỏi đường Tổng Đốc Phương, gặp
chùa Lệ Châu. Đây là "chùa Tổ", thờ tổ sư của nhóm thợ và chủ lò kim
hoàn; sau những người Hoa Kiều đồng nghề cũng nhập với đồng nghiệp Việt Nam,
nên mỗi năm cúng tổ long trọng và oai nghi lắm.
- Đường Đồng Khánh ngang bót Quận Tư, nay đổi làm bót Quận
Năm, là chùa "Minh Hương Gia Thạnh". Chùa nầy cổ nhứt trong vùng, tạo
lập từ năm Kỷ Dậu (1789) đời Cảnh Hưng, nhờ ban quản trị sáng suốt nên gìn giữ
được vẻ tôn nghiêm xưa… Trải bao biến đổi, chùa còn giữ được bút tích, liễn đối
do tay Trịnh Hoài Đức viết, và các đạo sắc chỉ vua ban đời trước. Trong chùa thờ
các di thần Đại Minh và con cháu, phần nhiều là những người Minh Hương danh tiếng,
đứng đầu có Trần Thắng Tài. Sau thêm bài vị các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh,
Vương Hữu Quang v.v…
- Trong Chợ Lớn còn ba chùa thờ Quan Võ Đế nữa là:
1) - Phước An Hội quán, lập năm 1900, thế cho miếu nhỏ
"An Hòa cổ miếu", ở đường Hùng Vương, góc trổ ra đường xe lửa Mỹ cũ.
Chùa nầy do người Minh Hương tạo lập. Mấy chục năm trước, hội trưởng là ông
Nguyễn Chiêu Thông, nay đã mất.
2) - Bửu Sơn Hội quán, đường Xóm Vôi (trong xóm có bán vôi).
Hội trưởng có công với chùa năm xưa là ông Dương Công Cẩn.
3) - Nghĩa Nhuận Hội quán, đường Gò Công, lập năm 1872, do
ông Đỗ Hữu Phương (1840 - 1914) gây dựng và con là Đỗ Hữu Trí vun bồi. Hội trưởng
cũ là ông Trương Văn Bền. Chùa được ban quản trị chăm nom chu đáo lắm. Trong
chùa ngăn nắp, chỗ thờ, chỗ yến tiệc, đâu đâu đều đàng hoàng. Còn đủ năm tấm cổ
bia bằng đá khắc tên các nhà hảo tâm hỷ cúng lập vào những năm: Tân Mùi (1871),
Kỷ Mão (1879), Giáp Ngọ (1894), Bính Ngọ (1906) và Tân Hợi (1911). Năm 1952 có
một bà cúng vào chùa một tượng xích thố mã bằng gỗ sơn mài, trông y ngựa thiệt,
không chùa nào có tượng khéo hơn, lạ là thời nay còn nghệ sĩ có biệt tài như vậy
cũng nên mừng. Nhưng lạ nhứt và mừng nhứt là tôi được gặp tại đây câu liễn thờ
Quan Đế, bấy lâu nghe đồn mà không biết ở đâu, trong câu gồm hết một bộ truyện
Tam Quốc:
"Sanh Bồ Châu, Sự Dự Châu, Chiến Từ Châu, Thủ Kinh Châu,
Vạn Cổ thần châu hữu nhứt;
Huynh Huyền Đức, Đệ Dực Đức, Xá Bàng Đức, Thích Mạnh Đức,
Thiên thu thánh đức vô song "
Còn một chùa Quan Đế khác nữa gọi "Chùa Ông Nhỏ" để
phân biệt với chùa đường Triệu Quang Phục là "Chùa Ông Lớn". Chùa nầy
ở trên đường Nguyễn Trãi, hiệu đề "Nghĩa An Hội quán". Chùa nầy có tục
lệ đến ngày vía thần, phát bánh quy sang năm sau góp lại, trẻ em ăn là được phước,
và cũng giúp vốn để sanh nhai, tục gọi "tá phú". Dường như chùa nầy của
người Triều Châu. Tại chùa có trường tư thục hiệu đề "Sùng Ninh" và
đây cũng là phòng liên lạc hội Khổng Học Hoa Việt.Kể về chùa Tàu, tại Sài Gòn, đường Phạm Đăng Hưng (Đất Hộ),
có một ngôi chùa cũng lạ lắm. Chùa tạo lập lối năm 1905, ăn lạc thành năm 1906,
trông có vẻ cổ kính vô cùng, hoa viên, và cách sắp đặt phía trong đáng được liệt
kê vào hàng kỳ quan tại Sài Gòn này lắm. Ấy là chùa Ngọc Hoàng, chữ viết
"Ngọc Hoàng Điện". Một người Tàu tên Lưu Minh ăn chay ròng, giữ đạo
"Minh Sư", lập chí quyết lật đổ nhà Mãn Thanh, xuất tiền tạo lập vừa
để thờ phượng vừa làm nơi hội kín. Chánh điện thờ đức Ngọc Đế, tiền điện thờ đức
Thích Ca, phía hữu điện vào trong xa có một cổ miếu nhỏ thờ viên đá bản xứ tượng
trưng "Ông Tà" của người Cao Miên xưa. Đây có lẽ là nguồn gốc miếu cổ
nầy, về sau người Tàu có thâm ý mang từ bên xứ họ sang một viên đá khác để gần
đó, nhang đèn thờ phượng, chữ đề "Thái Sơn", tức lấy đá từ hòn núi
Thái Sơn bên Tàu qua đây thay thế cho Néac Tà" bản xứ. Gần đó nữa, có bụi
tre ngà, dưới gốc cũng nhang đèn nghi ngút, trên nhánh tre nào quạt, nào tóc rối,
nào chỉ quấn nùi, quạt tượng trưng cho sự mát mẻ, có lẽ hoặc của hai người bạn,
vừa hết giận nay làm thân, hoặc của đôi vợ chồng sum hiệp sau những ngày hờn dỗi,
tóc rối, chỉ nùi tượng trưng những rối rắm trường đời nay cởi bớt treo đây cho
nhẹ. Trước miếu có gian phòng bày cảnh thập điện và cảnh thiên đàng chạm trên
cây rất đẹp, bên tả điện có treo bứ tranh "Đạt Ma Tổ Sư quá hải",
tranh vẽ trên giấy nét bút thần tình. Kế bên có thang đưa lên từng lầu, nơi đây
thờ Quan Đế và bài vị những người có công tạo lập cảnh chùa. Bước ít bước tới
sân lộ thiên, đứng đây dòm bao quát thấy đủ nóc bắt bông bắt chỉ bằng đồ gốm
tinh xảo vô cùng, lại thấy sự thâm ý hạn chế ánh sáng làm cho trong chùa có vẻ
âm u huyền bí theo ý nhà kiến trúc sư tinh thông thuật tâm lý.
Nay trở lại kể qua các ngôi chùa thờ Phật thì có Giác Viên Tự,
tên ngoài là Chùa Hố Đất, cũng gọi là Tổ Đình. Chùa nầy đã có từ năm Gia Long
thứ 2 (1803), nhưng nếu được u nhã kiên cố như ngày nay là nhờ công vị cao
tăng, sư Hải Tịnh nhiều. Trước khi sư Hải Tịnh tu tại chùa Giác Lâm, sau vì thấy
chùa hư nhiều cần tu bổ lại nên sư Hải Tịnh qua trụ trì tại chùa Giác Viên ở
cách đó lối một cây số ngàn. Ở Giác Viên Tự, sư Tịnh Hải lao công trì chí sắm từng
bộ cột gõ và chắt mót lần hồi cho đến đủ tiền tu tạo chùa Giác Lâm. Sửa chùa rồi,
sư Hải Tịnh giao cảnh Giác Viên Tự cho đồ đệ là Hoà Thượng Hoằng Ngãi, tên ngoài
là Trần Văn Phong. Sư Hoằng Ngãi gốc người Bà Điểm, sanh năm 1857, tịch ngày
23-12-1919. Lễ nhập tháp là ngày 3-1-1930, tháp nay còn gần chùa Giác Viên,
ngày cất đám có trên ngàn thầy sãi các nơi đến dự.
Một chùa Phật hữu danh nữa là chùa Cẩm Đệm, tên xưa là
"Giác Lâm Tự", trên Phú Thọ, đường đi Bà Quẹo, cách chùa Giác Viên một
cây số ngàn. Chùa cũng có tên khác là "Cẩm Sơn Tự", lập từ năm Giáp
Tý (1744), là một ngôi chùa xưa bực nhứt trong vùng.
Như đã nói, vị cao tăng Hải Tịnh trước tu hành nơi đây. Khi
sư Hải Tịh tu bổ chùa như sở nguyện được rồi thì sư giao chùa Giác Lâm nầy cho
một đồ đệ nữa là Yết ma Phạm Văn Tiên, người Bình Thới (Gia Định), sanh năm
1875 (không biết người tịch năm nào, chớ vào khoảng 1929, người còn khỏe lắm).
Chùa Giác Lâm còn một dật sử cũng nên thuật lại. Số là độ trước,
Tư Mắt, tay anh chị nổi tiếng nhứt hô bá ứng một thời tại Chợ Lớn, khi biết
mình gìa thì lui về nghe kinh niệm Phật tại đây. Nào ngờ khi thiếu niên thì búa
dao không chém được, trở về lão, vì một cây đèn ét xăng trục trặc sao đó, khiến
Tư Mắt lui cui sửa chữa thế nào mà xăng phựt cháy, cháy luôn "con hổ già
Tư Mắt" không cứu kịp. Ô hô! Anh Tư!
Chùa Giác Hải tại Phú Lâm lập năm 1887, ở gần Chùa "Giải
Bịnh". Năm 1929, vị hoà thượng trụ trì nơi đây là ông Nguyễn Văn Tường,
pháp danh sư Từ Phong, chùa cất sửa lại kiểu nhà thờ Da Tô.
Chùa Giải Bịnh nay gọi "Thiên Trúc Tự ", trước tên
"Giải Bịnh", vì nơi đây lúc trước chuyên trị tà ma giải bịnh loạn óc.
Còn từ Phú Giáo trở ra Phú Lâm, những chùa nên kể là:
- Chùa Bửu Sơn
- Chùa Gò, chữ gọi "Phụng Sơn Tự ", cất trên nền
chùa Thổ xưa, nay còn thấy rõ cản ao nước bọc chung quanh, điệu
"Barray" của Cao Miên sót lại. Nơi đây, năm 1902, vị chủ toạ, tộc
danh là ông Đinh Văn Chấn, người Gia Định, làng Phước Thạnh, sanh năm 1866, tự
thiêu mình trên giàn hoả, thọ 37 tuổi. Chùa Gò có đặc điểm là có bốn cây
"bạch mai" một loại với cây mai "đồn Cây Mai", nhưng trổ
bông trái sum sê, hỏi ra thì giống mai nầy mang từ Cao Miên về cách nay trên bốn
chục năm và có lẽ cùng một chi phái với mai trên lăng Mạc Cửu đất Hà Tiên, vì
nhứt quyết mai Hà Tiên gốc ở Cao Miên đem về, còn mai do Mạc Cửu mang từ Trung
Hoa sang đã khô chết từ lâu.
- Chùa Tứ Phước
- Chùa Sùng Đức
- Chùa Tuyền Lâm (ông Yết ma Hạp, sanh năm Canh Ngọ (1870),
cũng tự thiêu năm Giáp Tý (1924) và mộ ông nay ở nghĩa địa Giác Viên, thọ 54 tuổi.
- Chùa Bửu Lâm
- Chùa Từ Ân, theo Đại Nam Nhất Thống Chí, trương 81, thì
chùa nầy lập năm 1802, được sắc phong năm 1821 "Sắc Tứ Từ Ân Tự ".
(Hoà Thượng Nguyễn Văn Bằng, pháp danh Thanh Ấn, trụ trì nơi đây là một nhà sư
danh tiếng nhứt trong Nam, đạo, hạnh gồm hai, năm 1931 vẫn còn mạnh khoẻ).
Các chùa nên kể nữa là:
Chùa Phật Bửu Tự đường Cao Thắng;
Chùa Hưng Long đường Minh Mạnh, mới xây dựng lại. Năm 1952,
tôi có gặp tại đường Phan Thanh Giản, trong một trại bán cây ván cũ, một vài
cây cột gõ, còn chạm chữ "Hưng Long Tự", không biết sao lại lạc loài
nơi đây? Một chùa ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí, trương 81, rằng "Hưng
Long Tự" lập năm Giáp Dần (1794) do người làng là "Lính Yển"
quyên của, Hòa Thượng Phước An đứng lập, năm Gia Long thứ 2 (1803) được ông Hà
Chánh Niệm trùng tu, có phải chùa nầy chăng, và nếu phải thì địa phận làng An
Điềm xưa, thuộc huyện Bình Dương, ăn giáp đến đường Minh Mạng ngày nay vậy. Còn
"Lính Yển" nào đây có phải là người cõng Chúa Nguyễn Ánh chạy giặc
năm xưa chăng? "Lính Yển" năm 1794 quyên tiền lập chùa, còn chuyện
"cõng Chúa" thuộc năm nào, thì mơ hồ quá.
Một chùa ở đường Sư Vạn Hạnh, hiệu "Ấn Quang" tức
"Phật Học Đường Nam Việt", phái Đại Thừa.
Một chùa hiệu "Bồ Đề Lang Nhã" của tư gia lập, đường
Minh Mạng, thờ đức Quan Âm "thiên thủ thiên nhãn" (gỗ xưa mạ vàng).
Chùa Kỳ Viên đường Phan Đình Phùng, (Phật Giáo nguyên thủy)
(Tiểu Thừa).
Chùa Xá Lợi đường Bà Huyện Thanh Quan, kiến trúc tối tân, có
thư viện.
Chùa Tam Tông Miếu, đường Cao Thắng, v.v…
Những chùa cũ nay chỉ nghe nhắc tên là: Chùa Khải Tường, năm
1859 ông Nguyễn Tri Phương lập làm đồn chống Pháp, qua đêm 6-12-1860 binh ta phục
kích giết quan bà Barbé nơi đây, nên chùa bị Pháp dẹp. Chùa nầy có dật sử chính
hoàng tử Đảm (sau lên ngôi là Đức Minh Mạng) sanh nơi hậu liêu vào năm Tân Hợi (1791)
giữa cơn tị nạn bình Tây Sơn. Qua năm 1804, Cao Hoàng nhớ tích cũ, để tạ ơn Phật
dày công che chở mấy năm bôn tẩu, nên gởi tặng chùa một cốt Phật Thích Ca thật
lớn bằng gỗ mít, thếp vàng tuyệt kỹ. Từ năm 1867, chùa bị dẹp, tượng Phật phải
dời về nương náu nhiều nơi, cùng một số phận với hội Cổ Học Ấn Hoa, khi đường Tự
Đức, khi đại lộ Thống Nhất, (chỗ hãng máy bay Air France bây giờ), mặc cho mối
ăn mọt khoét. Ngày nay thăng bình trở lại, tai qua nạn khỏi, đức Thích Ca vĩnh
viễn ngự tại trung đường Viện Bảo Tàng Sài Gòn như chúng ta đã thấy. Nền chùa
Khải Tường truy rõ lại, ở lọt vùng đất trường Đại Học Y Dược hiện thời, số 28
đường Trần Quý Cáp, trên khu đất mang số bông đồ kim thời 1, 8, 9, - section B
2 è feuille, ville de Saigon. Vị trí nền chùa định chừng ở lối dãy nhà bếp nhà
xe của toà nhà cũ Chưởng khế Mathieu. Xóm nhà nầy dạo trước, nhiều người đồn
"ở không được", và tương truyền ai ở đây, cũng bị "phá khuấy"
ít nhiều, chẳng ốm đau cũng có chuyện nọ chuyện kia xảy đến làm cho nhọc lòng rối
trí luôn luôn. Thời Pháp có lúc họ dùng ngôi chùa để nuôi lính sen đầm, nay chỗ
ấy làm trụ sở trường thuốc, hoạ chăng từ đây tà mị gặp kẻ cao tay ấn hơn rồi!
Cũng lối đó, ngang chùa Khải Tường, day mặt ra đường Lê Quý
Đôn phía sau xa xa khu trường lớn Pháp Chasseloup-Laubat cũ, xưa có một ngôi
nhà lợp ngói ta, cột gỗ danh mộc, lối năm 1867, binh Pháp đặt làm tiểu đồn
(fortin), sau làm trại nuôi trẻ hoang, đến năm 1895 thì dẹp.
Trong Gia Định có chùa Tập Phước, cũng có từ lâu đời.
Báo Tri Tân số 7 ngày 18-7-1941, có kể bài của ông Nguyễn Triệu
chép bài thi ngũ ngôn cổ điệu của Trịnh Hoài Đức để tặng Viên Quan Hòa Thượng
chùa Tập Phước như vầy:
Ức tích thái bình thì
Lộc đổng Phương thịnh mỹ
Thích Ca giáo hưng sùng,
Lâm ngoại tổ phú quý:
Ngã vi thiêu hương đồng,
Sư tác chi giới sĩ,
Tuy ngoại phân thanh hoàng,
Nhược mạc khế tâm chí,
Phong trần thúc lương bằng,
Thế giới nhập (?) ngạ quỷ!
Bình ngạnh nhậm phù trầm
Bào ảnh đẳng sinh tử.
Yểm tứ thập dư niên,
Hoàng thuấn tức gian sự!
Tây giao thích nhàn hành,
Sơn môn ngẫu tương trị:
Ngã, Hiệp biện trấn công,
Sư, đại hòa thượng vi.
Chấp, thủ, nghĩ mộng hồn!
Đàm tâm, tạp kinh quý!
Vãng sự hà túc luân,
Đại đạo hợp như thị…
Chùa Kim Chương trong thành Ô Ma, trong địa đồ Trần Văn Học,
thì ở ném phía tả Hiển Trung Từ. Năm 1885, cụ Trương Vĩnh Ký đã không còn thấy,
có lẽ bị phá bỏ từ trước. Nay thấy trong sách, khi ghi Kim Chương Tự, khi viết
"Kim Chung Tự" định "Chương" là đúng hơn, ngặt nỗi không biết
chữ viết ra sao?
Miễu Thánh cũng gọi Miễu Hội Đồng, ở về phía hữu đền Hiển
Trung, cũng bị thủ tiêu trong mấy năm binh cách trước 1885.
Đền Hiển Trung, xây năm Ất Mùi (1895), trùng tu năm Gia Long
thứ 3 (1804), tu bổ năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). Đền nầy được trường Viễn Đông
Bác Cổ liệt kê vào sổ cổ tích, tưởng nhờ vậy mà được tồn tại, không ngờ đến năm
1954 thì đã không còn!
Riêng tôi được đến viếng một phen năm 1947 với ông Pierre
Dupont, nhơn viên Trường Bác Cổ, khi ấy đền đã bị mối ăn hư hao nhiều rồi, qua
năm 1950, tôi có trở lại viếng với ông Bernard Phillipe Groslier là quản thủ
Pháp của viện Bảo Tàng Sài Gòn. Chúng tôi đề nghị cấp tốc sửa chữa đền, nhưng
cơ quan nhà binh Pháp không thuận giao trả đền cho Trường Bác Cổ, một hai rằng
đền ở trên lãnh thổ nhà binh thì thuộc quyền nhà binh định đoạt! Tưởng việc đâu
còn đó, và trong trí tôi đinh ninh nhớ đền ở mé gần đường Võ Tánh, cứ đứng
ngoài rào, ngay chỗ giáp mối đường Nguyễn Cư Trinh (Marchand cũ) ngó vói qua tường
thì thấy nóc đền. Không dè qua năm 1955, chúng tôi trở lại đây với nhơn viên Viện
Khảo Cổ, thì đã sao dời vật đổi, đền đâu chẳng thấy, một viên gạch nhỏ cũng
không còn, đừng nói chi một bộ kèo trính rường cột chạm trổ tỉ mỉ. Trường Bác Cổ
đã nhìn nhận và liệt kê vào hàng cổ tích, thì có lẽ đã theo "bàn tay
nhám" của nhà thầu nào đó mà biến thành tờ giấy bạc trong két của họ hoặc
đã làm mồi cho mối mọt, uổng thay!
Đền Hiển Trung có một dật sử riêng, nay cũng nên nhắc ra đây
cho thoả chút lòng hoài cổ. Nguyên tôi có quen một bạn nhỏ, tánh tình dễ
thương, nay làm việc tại Thư Viện Quốc Gia đường Gia Long. Năm 1942, anh đến tuổi
nhập ngũ, nên Tây bắt vô ở trong thành Ô Ma. Nơi đây anh được nghe thuật lại một
chuyện thuộc tín ngưỡng, mà bây giờ tôi xin kể nghe chơi, không dám ép phải tin
bằng lời, vả lại về phần đảm bảo đúng sự thật, hoặc tin được cùng không, đã có bạn
tôi chịu trách nhiệm. Số là vào năm 1938, sau cuộc tuyển chọn lính tân, nhà
binh Pháp bèn đem các anh lính mới điều từ Lục Tỉnh về tập trung chung quanh và
ở ngay trong đền Hiển Trung. Vài ngày sau, xảy ra việc binh lính mới điền không
đau ốm mà chết, chết một hơi cả chục đứa trong một đêm. Các võ quan Pháp bao giờ
họ chịu tin chuyện là ma phá quấy hay quỷ thần quở phạt, v.v… nên một mặt họ
phú cho sở quân y điều tra và chận đứng bịnh lạ, một mặt nữa thì họ cấm quân
lính ăn những vật bán ngoài thành. Thầy thuốc không tìm ra căn duyên bệnh dữ,
và lính cứ chết thêm mãi. Túng thế họ đành nhắm mắt để cho các thầy đội ông ách
cúng tế vái van thử xem. Ấy! Việc làm chơi chơi mà bệnh dứt ngang mới quái lạ.
Bẵng đi một dạo, câu chuyện dị đoan vừa quên lần, kế xảy ra chuyện mấy trẻ con
Tây mới đến chung quanh đền rồi chiều lại có nhiều đứa bị nóng lạnh đến bí đường
tiểu tiện! Mấy ông nhà nghề, nói thúc thủ thì quá đáng, nhưng chưa kịp trổ tài
thì đứa trẻ qua khỏi cơn nguy, nhờ chị vú
vái cho một nải chuối. Muốn vậy thì cho vậy: năm 1939, các võ
quan thành Ô Ma bày một cuộc lễ rất lớn, cho phép lính tráng nghỉ ngơi mấy ngày
và tha hồ ngã bò vật heo cúng tế. Dẫu sao cũng mua được lòng vui kẻ dưới, vấn đề
tự do tín ngưỡng sờ sờ trước mắt kia mà! Năm ấy cuộc lễ càng tăng phần long trọng
nhờ có quan từ triều đình Huế vào đây "ngự tế". Nay đền Hiển Trung đã
không còn, một phần lỗi là vì nhà binh Pháp thuở ấy tự tiện dỡ xuống không cho
Trường Bác Cổ hay kịp mà dời đi chỗ khác xây dựng lại để bảo tồn một cổ tích
xưa, thật là đáng tiếc lắm thay!
Văn Miếu thờ đức thánh Khổng, dựng năm Minh Mạng thứ 5 (1824)
tại địa phận thôn Phú Mỹ (Thị Nghè) cũng mất dấu từ lâu.
Cũng tại thôn Phú Mỹ, có một dàn xã tắc và ruộng công điền mỗi
năm tế giao tại đây. Ruộng nầy, biết được ở trước Dưỡng Lão Đường, nhưng biết vậy
thôi, chớ nhà cửa cất chồng lên làm mất dấu từ lâu rồi.
Một cổ tích mất dấu nữa là "Chú tiền trường", tức
"trường tiền" là chỗ đúc những tiền "Gia Long thông bửu",
nay nền nhà cũ ở đâu? Sở Công Chánh ngày nay, tục quen gọi "Trường Tiền",
có phải là vì bộ Công khi xưa chuyên việc đúc tiền, nên nay tên gọi làm vậy, và
chớ nên thấy sở Công Chánh có tục danh là "Trường tiền" rồi đề quyết
ngày xưa "Chú tiền trường" ở nơi đây, vì mỗi tỉnh Miền Nam đâu đâu đều
có sở trường tiền cả.
Trong Chợ Lớn có hai ngôi chùa đã bị phá, nay chỉ còn tên:
1/- Phước Hải Tự trong vùng dưỡng đường Chợ Rẫy; và 2/- Phước
Hưng Tự, đường Hồng Bàng, góc Nguyễn Tri Phương. Hiện đường Hồng Bàng còn thấy
vài ngôi tháp cổ kính, đây là mộ của các vị hoà thượng trụ trì chùa Phước Hưng
vậy.
Về chùa Kiểng Phước, xin xem trương 160 (Tìm ở chương 160
trong sách thì không có truyện về chùa này)
Còn sót tên những chùa và hội quán như sau đây, xin bổ túc:
Ưu Long Hội Quán, ở đường Ưu Long (Xóm Củi) không đặng công
nhận.
Phụng An Hội Quán của nhóm Minh Hương, số 27 đường An Bình,
không đặng công nhận.
Chùa Quan Âm Tự, đối diện Bót Cầu Tre, trên hương lộ số 14.
Huệ Lâm Tự, đường Tùng Thiện Vương (Xóm Củi) đang xiêu đổ.
Mặc dù chùa nầy vắng khách, nhưng trước chùa ngày 5-4-1962,
tôi còn thấy để dưới bụi cây bốn phiến đá cổ chạm theo kiểu Khơ Me, không biết
do từ đâu mà chùa có, và để cù bất cù bơ làm vầy. Có người bàn với tôi nên xin
"thỉnh đá" nầy đem về cho nhập vào bộ môn đá cổ của Viện Bảo Tàng.
Tôi thì nghĩ khác: Nếu xin được đá nầy đem về Viện thì không khác nào"gánh
vàng vào kho". Viện đã có đá nhiều, đem về thêm chật, vả lại theo tôi, đá
của chùa Huệ Lâm, kiểu vở còn kém đá của Viện Bảo Tàng, nên sự đem về đó không
cần thiết lắm. Chi cho bằng sẵn đây đề nghị với ban quản trị của chùa Huệ Lâm,
nếu mấy hàng nầy lọt vào mắt xanh quý vị, là nên sửa sang"chỗ ngồi" xứng
đáng cho các phiến đá cổ thạch nầy, trước nữa đề cao những cổ vật của chùa, sau
lại cho khách bốn phương đến cung chiêm tại chỗ cũng nên lắm. (V.H.S).
Giác Lâm Tự (hẻm số…) đại lộ Thuận Kiều (không đặng đàng
hoàng).
Phước Long Tự, số 226 đại lộ Hậu Giang.
Giác Ngộ Tự, số 36 đại lộ Nhân Vị. Vừa cất xong, khá đẹp.
Hưng Tích Tự (tên xưa là Giác Thành Tự), số 253, đại lộ Minh
Mạng.
Tịnh độ cư sĩ, số 282 đường Nguyễn Tri Phương.
Từ Nghiêm Tự, số 415-417 đường Bà Hạt, của nhóm ni cô.
Pháp Hội Tự, số 682 hẻm Phan Thanh Giản.
Thiên Tôn Tự, đường Nghĩa Thục, kế dưỡng đường An Bình.
Pháp Quang Tự, số 163 đường Đào Duy Từ.
Linh Phước Tự, ngay cầu chữ Y, bến Phạm Thế Hiển.
Tịnh Xá Mộc Sơn tự, đường Lương Văn Can.
Tịnh độ cư sĩ, đường Lương Văng Can.
Huê Huyện (Hing Wen Pit Sut) thờ Lữ Tổ, Văn Xương, Ngũ Âm, của
người Huê kiều, ở hẻm Lò Siêu số 9.
Ngoài ra, xin bổ túc như sau:
Chùa Giác Hải, số 343/45 đường Lục Tỉnh (Phú Lâm).
Chùa Gò (Phụng Sơn Tự) ở đại lộ Trần Quốc Toản (Phú Lâm).
Chùa Từ Phước, số 60 đường Lục Tỉnh.
Chùa Sùng Đức, số 140 đường Lục Tỉnh.
Chùa Tuyền Lâm, số 265 đường Lục Tỉnh.
Chùa Bửu Lâm, đường Phú Thọ.
Chùa Từ Ân, ở đường Tân Hóa (Phú Lâm).
Chùa Hưng Long, số 290 đường Minh Mạng.
Chùa Ấn Quang, số 243 đường Sư Vạn Hạnh.
Đường Lục Tỉnh, số 180 có chùa Huê Lâm (ni cô) đừng lầm với
chùa Huệ Lâm, đã nói ở trương 208.
Chùa Minh Hương ở đường Hùng Vương, gần ga cũ xe lửa Sài Gòn
- Mỹ Tho, ga nầy nay đã phá bỏ.
Sự Phát Triển Của Thiên Chúa Giáo Trong Nam (Địa Phận Sài
Gòn)
Tuy đã nói nhiều về chùa chiền theo Phật Giáo, Khổng Giáo, và
Lão Giáo, để thêm đầy đủ thiên tài liệu, xin tóm tắt đại lược về sự phát triển
và hoạt động của giáo khu đạo Thiên Chúa tại Sài Gòn.
Nhắc lại năm 1884, Hội Truyền Giáo Nam Kỳ xin tách ra làm một
giáo khu giám mục riêng biệt cai trị một địa phận gồm một phần lớn Nam Kỳ và
hai tỉnh miền Trung là Bình Thuận và Đồng Nai Thượng.
Cứ theo thống kê trong bộ "Đông Dương Tân Thời" (L'Indochine
Moderne của hai ông Testeron và Percheron) (trương 235) thì năm 1928 giáo khu
giám mục Sài Gòn gồm có:
- Số người theo đạo Thiên Chúa Giáo…89.250 (89 ngàn 250)
- Trụ sở của đức Linh Mục đặt tại Sài Gòn
- Thánh đường (églises), tiểu giáo đường
(chapelles) và cầu nguyện đường (oratoires) 248
- Tu nữ (bà sơ) Dòng Saint-Paul de Chartres 256
Kể và 9 trường học (écoler)
8 viện trẻ mồ côi (orphelinats)
7 dưỡng đường (hôpitaux)
1 viện trị phung cùi (léproserie)…
- Một số nữ tu sĩ bản xứ coi sóc 14 viện trẻ mồ côi.
- 170 trường học địa phương (école pároissiale)
số học trò theo học là 14.935 (14 ngàn 935)
- 4 viện mồ côi (Nam) - Số học trò là 140
- 1 ấn quán.
- 2 tờ tuần báo (périodiques).
Sài Gòn có một quản sự tu viện của Hội Ngoại Quốc Truyền Giáo
(Procure des Missions Etrangères) thiết lập năm 1901, đặt ra để tiếp tế các vị
tu sĩ tạm đi qua đây. Như năm 1928, viện đã tiếp rước 122 tu sĩ trong hội và
148 tu sĩ các hội khác, tính chung là 270 tu sĩ ghé Sài Gòn.
Số người giữ đạo Thiên Chúa tại Sài Gòn và vùng phụ cận gồm
có xóm Thị Nghè, xóm Chợ Quán, và Xóm Chiếu, tính vào ngày Sài Gòn bị binh Pháp
chiếm (11 tháng 02 năm 1859) là… 27 ngàn công giáo. Lúc ấy giáo khu Sài Gòn biệt
lập như hiện nay chưa có.
Ngày 13 tháng 2 năm 1859, ông B.Paul Lộc, tử vì đạo, bị đem
ra xử tử (chém đầu) tại cửa thành, góc đường Hồng Thập Tự và Hai Bà Trưng hiện
nay. Đây là một vị tử đạo duy nhứt của họ Sài Gòn, ngày sau được:
- Đức Thánh Léon XIII, ngày 13-02-1879, phong
"Vénérable" Đại Đức.
- Đức Thánh Pie X, ngày 02-05-1909, phong
"Bien-heureux" (Á Thánh).
Ngày Thành Lập Giáo Khu Sài Gòn
(Foundation de la Chrétienté de Saigon)
Từ năm 1848, Hội Truyền Giáo trên Cao Miên (Mission du
Cambodge) được giao cho Đức Cha Miche cai quản. Từ năm 1852, Đức Cha Lefèbvre
được phong đại lý Đức Giáo Hoàng hoặc giáo khu giám mục (vicaire apostilique de
la Cochinchine Occidentale) tại miền Tây Nam Kỳ. Đầu Đức Cha bị triều đình Nam
treo giải thưởng, từ khi khai chiến với Pháp, nhưng Đức Cha Lefèbvre trốn thoát
nạn và ngày 15-02-1859 thì lên được tàu về Pháp.
Trừ hai khu Thị Nghè và Chợ Quán vẫn tách riêng thì cho đến
năm 1861, Sài Gòn, Xóm Chiếu, và vùng phụ cận vẫn chung làm một họ. Tháng 2 năm
1859, theo chơn quân đội Pháp, Đức Cha Lefèbvre trở về Sài Gòn, chiêu tụ các tử
đệ và người công giáo về lập ấp quy tựu từ đồn Nam (Tân Thuận) chạy đến kinh
Tàu Hũ.
Tháng 5 năm 1863, Thuỷ Sư Đề Đốc De Lagrandière nghĩ công ơn
người công giáo, nên ban phụ cấp cho Hội Truyền Giáo, mãi đến năm 1882, phụ cấp
này mới bị bãi bỏ.
Kể ra có công nhiều nhứt là:
- Đức Bá Đa Lộc, (Père Le Grand) tịch ngày 9-10-1799.
- Đông Cung Cảnh, từ trần ngày 21-3-1800 (cách có mấy tháng).
- Cha P. Liot (nhờ ông nầy nên hai ông Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc
quen nhau, về sau P. Liot làm bí thư và kế nghiệp Bá Đa Lộc) tịch ngày
28-4-1811 (mộ ông ở gần lăng Bá Đa Lộc, được liệt kê cổ tích tháng 5 năm 1930).
Nhà Dòng Saint-Paul
Lối cuối năm 1860, do yêu cầu của Đức Cha Lefèbvre, nên các
bà sơ Nhà Dòng Saint-Paul de Chartres được phái sang đây, với phận sự là săn
sóc trẻ mồ côi vì cha mẹ chúng bị bắt đạo nên bỏ rơi, và những trẻ vô thừa nhận
của bên lương. Gốc tích nhà Dòng "Thánh Nhi" Sài Gòn (Sainte-Enfance)
do đây mà có. Nhà Dòng nầy lúc ban sơ ở Chợ Cũ, dựa nhà đức Linh Mục; hai năm
sau 1862, Đô Đốc Bonard hiến cho Bà Bề Trên R.M. Benjamin, sở đất hiện nay ở chỗ
ta còn thấy, nên Nhà Dòng dời về đây và lần lượt bành trướng thêm, gồm có:
- Một nhà tu riêng cho các bà sơ Việt Nam.
- Một nhà nuôi trẻ con Pháp và trẻ con lai.
- Một ký túc xá dạy dỗ nữ sinh con nhà khá giả bản xứ, gọi
Trường Nhà Trắng.
- Một nhà nuôi trẻ mồ côi và con bỏ rơi bản xứ.
- Một nhà nuôi gái bản xứ bị dụ dỗ nay cải thiện.
(Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường
Tộ năm xưa đứng coi xây cất).
Dưỡng Đường Chợ Quán
(Hôpital de Cho-Quan)
Dưỡng đường này do Đức Cha Lefèbvre sáng lập, để nuôi người bịnh
tật nghèo nàn, không phương thế làm ăn, ban sơ cất ở gần nhà Đức Linh Mục, vùng
Chợ Cũ, về sau Nhà Dòng và Chánh Phủ Pháp thoả thuận giao cho các bà sơ Dòng
Saint-Paul đảm nhiệm nên đem trụ sở về Chợ Quán.
Chủng Viện (Séminaire)
Trước lập tại Thị Nghè, rồi dời về Xóm Chiếu sau rốt về đường
Cường Để như ta thấy ở giữa Thánh Nhi Viện (Sainte-Enfance) và con đường Nguyễn
Du.
Nhà tu Carmel
Ngày 3 tháng mười năm 1861, có bốn bà nữ tu sĩ dòng
Saint-Thérèse, đến Sài Gòn, nhiệm vụ là lập nhà tu Carmel. Trụ sở ở đường Cường
Để, ngang Chủng Viện.
Các vị Sư Huynh Trường Công Giáo
(Les Frères des Ecoles Chrétiennes)
Nhơn lời yêu cầu khẩn thiết của Đô Đốc De Lagrandi ère, nên
năm 1866 có sáu vị sư huynh sang Sài Gòn do đại sư huynh T.H. Frère Philippe
Supérieur des Frères des Ecoles Chrétiennes biệt phái. Qua đến đây thì cách ít
lâu sau, Nhà Dòng giao cho các vị ấy trông nom trường trung học Collège d
'Adran là trường do Đức Cha Puginier thiết lập từ hai năm trước (1864). Trường
nầy hoạt động cho đến tháng chạp năm 1882, thì đóng cửa, vì hội đồng quản hạt
Nam Kỳ đề nghị ngưng cấp học bổng.
Trường Taberd
Năm 1874, Cha Henri de Kerlan, cha sở coi thánh đường Sài
Gòn, tự xuất tiền riêng, sáng lập trường Taberd (vì thế nên nay còn hình bán
thân của Cha tại sân trước), đầu tiên là để dạy dỗ các Tây Lai, sau nầy mới đổi
thành chánh sách, thâu nạp tất cả các học sanh, bất luận lương, giáo. Ban đầu
các học trò nơi đây do các tu sĩ, truyền giáo sư (missionnaire) dạy dỗ. Từ năm
1889, thì các sư huynh thay thế các vị nầy trong đường giáo huấn, và các sư
huynh trường Công Giáo (Les Frères des Ecoles Chrétiennes) buổi đầu tiên là do
Đức Cha Colombert mời qua. Những dãy nhà cũ của trường là do Đức Cha Mossard đứng
coi xây cất, lớp sau mới là của các sư huynh tiếp tục tu tạo thêm mới được đồ sộ
như ngày nay. Trường vốn là sản nghiệp riêng của Hội Truyền Giáo (Mission).
Cũng như trường Trung Học Chasseloup-Laubat, về sau trở nên trường Trung học
Jean-Jacques Rousseau, trường Taberd rất có công trong việc đào tạo nhơn tài
trong xứ trong nhiều thế hệ liên tiếp. Thanh danh rất lớn. Được nhiều cảm tình.
Dưỡng Đường Quân Binh
(Hôpital Militaire)
Năm 1864, nhà thương nầy thuộc các bà sơ Dòng Saint Paul coi
sóc. Qua năm 1904, chế độ nầy cáo chung và từ ấy các nữ y tá ngoại đạo trông
nom. Tuy vậy chánh phủ Pháp vẫn tiếp tục trợ cấp một siêu độ sư (aumônier) đến để
thăm viếng vấn an bịnh nhân cùng làm phép bí tích nếu cần.
Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn
(Basilique de Saigon)
Báo Cách Mạng Quốc Gia, số 406 xuất bản ngày 6 và 7 tháng chạp
năm 1959, có bài khảo cứu rất đầy đủ về lịch sử nhà thờ Đức Bà do ông Phạm Đình
Khiêm viết. Đây là tài liệu khác do bộ "Đông Dương Tân Thời"(L'Indochine
Moderne) của hai tác giả Pháp Testeron và Percheron viết từ năm 1931.
"Từ ngày Pháp chiếm Sài Gòn, Đức Cha hành lễ tại một
ngôi chùa hoang phế và sửa tạm dùng làm thánh đường.
Năm 1863, Đô Đốc Bonard truyền lịnh dựng nơi ngày nay là trụ
sở Toà Tạp Tụng đường Nguyễn Huệ, một thánh đường bằng gỗ, nhưng thánh đường nầy,
mười năm sau thì mối mọt ăn mục nát không còn dùng được nữa.
Năm 1874, phải dọn về phòng khánh tiết của dinh cũ Phó Soái
Nam Kỳ, chỗ nhà trường Taberd hiện nay và tạm hành lễ nơi đây.Đô đốc Duperré truyền đem việc xây cất thánh đường ra đấu thầu,
và sau rốt, thì công việc tạo tác do ông Bourard được mời từ Paris qua đôn đốc.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Đức Cha Colombert đặt viên đá đầu
tiên trước mặt Phó Soái Nam Kỳ và đông đủ nhơn vật tai mắt thời ấy.
Ngày 11 tháng 4 năm 1880, ăn lễ lạc thành rất lớn.
Tiền xây cất, tiền sắm từ khí nội tâm, Soái phủ Nam Kỳ đài thọ
tất cả, là hai triệu năm trăm ngàn (2.500.000) quan tiền Tây thuở đó.
Thánh đường đo được 133 thước Tây từ cửa ngăn (porche) đến
mút chót phòng đọc kinh (chevet).
Hoành lang (transept) đo 35 thước bề ngang.
Cao: từ đá xây cuốn trốc khung (clef de voute) đụng đất cái
là 21 thước.
Hai tháp cao từ mặt đất là 36 thước 60. Sau thêm hai cánh
chóp nhọn lầu chuông 21 thước nữa là tất cả cao 57 thước (tháp chuông làm năm
1895). Sáu đại đồng chung, nặng 25.850 kí (tiếng gồm sáu âm) đặt dưới hai lầu
chuông.
Lễ nghi xức dầu đền thánh đặt làm "Vương Cung Thánh Đường"
(Basilique) được cử hành long trọng ngày 7 và 8 tháng chạp năm 1959. Và Sài Gòn
hãnh diện có một Vương Cung Thánh Đường từ đây, một vinh quan của Viễn Đông.
Sau đây là danh tánh các linh mục Giáo Hoàng đại lý, giáo khu
giám mục Miền Tây Nam Kỳ từ năm 1852 đến năm 1926:
Dominique Lefèbvre… 1852 - 1865
Jean-Claude Miche… 1865 - 1873
Isidore Colombert… 1873 - 1894
Jean-Marie Dépierre… 1895 - 1898
Lucien Mossard…1898 - 1920
Victor - Charles Quinton…1920 - 1924
Isidore Dumortier…từ năm 1926…
Và những vị cố đạo (missionnaires apostoliques):
Oscar de Noloberne…1863 - 1871
Henri de Kerlan…1872 - 1877
Henri Le Meé…1877 - 1898
Anselme Delignon (vicaire)…1898 - 1899
Henri Moulins…1899 - 1900
Charles Boutier…1900 - 1906
Eugène Soulard, từ năm 1906.
Và vân vân…
(theo tài liệu bộ "L'Indochine Moderne" của Teston
và Percheron, ngưng năm 1926, thiếu tài liệu từ năm ấy đến hiện nay).
Đình thờ thần
Các đình thờ thần xưa của đất Sài Gòn nay đã mất đi rất nhiều,
nay chỉ còn nhắc tên và biết được vài đình mà thôi.
Tại Sài Gòn:
- Mỹ Hội
- Hoà Mỹ
- Tân Khai
- Long Điền
- Trường Hòa
- Long Hưng
- Phú Hòa (còn)
- Phú Thạnh (còn)
- Nam Chơn (còn)
- Tân An (còn)
- Chợ Quán (còn)
- Cầu Kho (còn)
- Cầu Quan (còn)
Trong Chợ Lớn:
- Phú Định (bỏ rồi)
- Phú Hòa (bỏ rồi)
- Phú Lâm (còn)
- Cây Gõ (dẹp, cất trường Cây Gõ sau đổi tên là trường Minh
Phụng)
- Phú Hữu (còn)
- Minh Phụng (còn)
- Bình Tiên (còn)
- Bình Tây (còn)
- Tân Hòa Đông (còn)
- An Bình
- Cầu Tre (còn)
v.v…
Phần VI
Nhân vật bản xứ hồi Tây mới qua
Đây phải đâu chỉ có bọn dọn bàn làm bá chủ tại Sài Gòn thuở
giao thời, khi Tây mới qua. Tiếp theo còn những giới đặc sắc nhứt - (xin xem
Thơ Nam Kỳ và Thơ Nam Kỳ tiếp, bản in Nhà Dòng Tân Định năm 1903).
1. Đây là bọn hầu cận các quan Tây
"Nực nồng những kẻ hoài thinh!
Tiếng Tây không biết, tưởng vinh trong đời,
Áo vân quần nhiễu dạo chơi,
Đồi mồi lược diễu, giắt phơi trên đầu,
Xa Tào (?) Soái phủ ở đâu,
Vườn hoang múa gậy, người hầu cậu quan…"
(Thơ Nam Kỳ, trương 15)
Áo quần bằng vân nho xuyến nhiễu, toàn những thứ đắt tiền, phải
hạng ăn to xài lớn mới dám dùng. Lược giắt đầu tóc làm bằng vảy đồi mồi có diễu
vàng là trang sức cực kỳ sang trọng thuở xưa, đến năm 1915 còn thấy dùng, nay
đào mả cổ còn gặp.
Xa Tào đây chắc là xa giá hầu Tào Tháo (tiếng nói điệu hát bội).
Hoài thinh. Có phải chăng: "Hoài" là
mang, "thinh" là thanh danh; hoài thinh là "mang danh"?
2. Và đây là mấy thầy thông ngôn ký lục
"Các ông tham biện đương đàng,
Tiếng Nam người biết, điếm đàng khó qua;
Ông nào chẳng biết tiếng ta,
Ở ngoa ủ bổ, nói ra nói vào,
Quê mùa làng xóm chú nào,
Tới dinh hầu việc đã nao hết hồn.
Nên hư nhờ tiếng thông ngôn,
Đưa lên cũng phải, lấp chôn bao nài".
(cùng trương 15)
Lúc ban sơ, trong Nam Kỳ, Tây đào tạo người giúp việc bằng
cách tuyển lựa học trò lớp nhứt các trường tỉnh, đem về Sài Gòn dạy dỗ tại trường
d ' Adran (chỗ trường Taberd bây giờ). Sinh viên được ăn ở tại trường, thêm
lãnh phụ cấp mỗi tháng và xà bông giặt đồ, giày, y phục kiểu Tây mỗi năm mấy bộ:
o bế như vậy, mà lúc đầu ít người dám xin học vì còn sợ triều đình ta trở lại nắm
chánh quyền. Một cậu con nhà giàu tỉnh Gia Định, mướn người đi học thế cho
mình, sau nầy cậu trở nên "tên bán quán cơm tại cầu tàu Sốc Trăng",
còn anh học trò khó chễm chệ là ông chủ quận châu thành, Đốc phủ sứ. Sinh viên
trường d 'Adran thi ra trường, ai đậu số cao được tự ý lựa: nếu ham ăn lương lớn
(sáu đồng bạc con Ó) (piastres en argent décorées de l' Aigle Mexicain) thì bổ
làm thầy giáo dạy học, bằng như ham làm thông ngôn (tuy lương kém hơn, có bốn đồng
bạc con Ó, nhưng còn trông cậy nơi tiền cửa sau, tiền "lì xì" và lễ lộc
bưng mâm), còn lại những người không đậu nhưng hạnh kiểm tốt thì đều được thâu
dụng vào các sở mới tạo lập: trường tiền, nhà dây thép, sở hoạ đồ, v.v…) Xưa thầy
"thông ngôn" oai lắm: chức làm "interprète" khi "đứng
bàn ông Chánh" (thông dịch viên của Tham biện chủ tỉnh) thét ra khói, khi
"khi đứng bàn ông Phó", làm tay sai và thông dịch viên cho Phó tham
biện, hét ra lửa, ngày sau thầy thông ngôn đủ năm làm việc được thì một kỳ nữa
rồi được bổ làm Huyện lên Phủ, rồi Đốc phủ sứ, làm chủ quận, đại diện cho quan
Pháp trong một vùng, "oai như giặc", "oai thấu trời", oai
hơn ông ghẹ"!
Vì kiêng nể nên dân tặng vợ các vị ấy chức "cô
thông", "cô huyện". Chức ký lục ban sơ gọi làm vậy, nhưng sau đổi
lại là "thơ ký" tức "secrétaire". Lúc đầu thơ ký chuyển
trong hàng học trò lớp nhứt, chưa đỗ đạt, không cấp bằng, nhưng học lực khá, viết
chữ thật đẹp và ít lỗi lầm. Vì kém vế hơn thông ngôn, nên dân ban chức
"thím ký S". hoặc "thím S". cho bà vợ, đồng một hạng với mấy
thím vợ các chủ tiệm Tàu trong Chợ Lớn. Đến khi chức thông ngôn đặc biệt chỉ
dùng để gọi các thông dịch viên bên Toà Án (interprète des tribunaux), các thầy
thông bên Tòa Bố đều liệt vào sổ "secrétaire" (thơ ký), nhưng phân biệt
ra "thơ ký chánh ngạch, ngạch soái phủ" (secrétaire du Gouvernement),
lãnh lương quản hạt và "thơ ký địa hạt" (thầy ký tỉnh, lãnh lương
làng) (secrétaire régional). Khi ấy, các thím vận động và đồng hè lên chức
"cô ký" rắp rắp!
Dân đời trước, đi hầu quan Tây, bên Tòa Án thì chưa có trạng
sư, bên Tòa Bố ít có tham biện sành sỏi tiếng Việt, và mỗi mỗi đều trông cậy
nơi thầy thông ngôn, cho nên dân sợ "thầy" hơn sợ "ông râu
ria"! Thông ngôn tiếng mất tiếng còn, lợi hại vô cùng. Có lễ vật thì việc
vạy hoá ngay, không lễ không tiền thì dân thấy thua kiện trước mắt. Có khi vì bất
tài, mấy thầy thông ngôn đời trước giết người không cần dao bén. Câu tòa hỏi:
"Demandez au condamné s'il préfère les travaux forcésou la peine de
mort?" Dịch không suy nghĩ câu ấy hoá ra: "Tòa hỏi anh muốn Tòa kêu
án khổ sai rồi chết chém hay không?" vì thầy nghe lầm "…et la peine de
mort".Ở ngoa ủ bổ - Tôi không hiểu trọn câu. Duy biết "ủ" là
"hữu", "bổ" là "vô" (tiếng Tiều). Còn "ở
ngoa" có phải "au revoir" chăng?
3. Và đây là các "vợ Tây", "me Tây" thời ấy
"Lâm cơn nhờ có "Chị Hai"
Đưa vào liệu việc, bẩm ngài mới an
Xem qua chẳng có, hứ ngang (vì chẳng có tiền kèm theo)
Làm lơ chẳng bẩm cho làng làm ơn
Đáng vì thúc bá làm cơn
Mầy tao, quát nạt, quăng đơn vội vàng.
(chương 15)
(Nhơn tâm đời nào cũng vậy).
4. Còn đây là về mấy chú dọn bàn đã kể trên
"Đáng thương mấy chú dọn bàn,
Nhiễu điều, giày vớ, xinh xang với đời,
Đứa nghèo bắt chước làm hơi,
Tuy người quân tử sánh chơi không bằng.
Ra vào làm bộ hung hăng,
Xét ra mới biết là thằng dọn cơm!
Kìa bầy thúi địt còn thơm!!!
(trương 15 -16)
5. Đây là bọn gái buôn hương
bán phấn thời ấy
"Một đêm chẳng biết mấy chồng,
Chà Và, Ma Ní cũng đồng "lội" qua!
Ngày thì hớn hở vào ra,
Ai ra xem thấy: Chị Ba ngoắt vào.
Đẹp lòng tạm bạn liễu đào,
Cửa quyền thong thả chú nào bẩm thưa.
Coi ai thất thế thơ mơ,
Thấy không cung kính vào thưa vội vàng:
Để tao nói với ông quan,
May ra kẻ nghịch, khám đàng chung thân,
Ai mà chẳng nghĩ thiệt hơn,
Muốn chi đặng nấy, chẳng đơn từ gì!
(trương 17)
(Hạng gái này đời nay vẫn còn)
6. Lại đây là bọn hạ cấp khiêng gánh
xách đồ cho bà đầm,cho ông sơn đá, hay ông đầu bếp
được Tây cưng, tục danh
"ba nhe" = panier
"ban bù" = bambou
"Khiến nên con đĩ phải vì,
Ba nhe lũ ấy có gì lung lăng,
Theo Tây đội thúng mua ăn,
Trả nhiều bớt ít, chưởi ngang không vì;
(trương 17)
7. Thêm bọn lính gọi "lính tập" thời ấy
(tirailleur)
" Nhiều bề khó nói long đong,
Ở gần lính tập hết trông ăn làm,
Đi đâu có lũ có đoàn,
Rượt gà, bắt vịt, phá hoang bí bầu,
Bán buôn chúng đã lắc đầu,
Mười tiền trả bảy, ai hầu dám kêu!
(trương 17)
8. Sau rốt là lính ma tà, ma ní, và mà tà tét
"Đời ôi nhiều nỗi bợn nhơ;
Ma tà có chú hay quơ hay quào,
Giận ai gươm súng phao vào,
Báo quan nhà nghịch, vây rào xét coi.
Quan bèn tưởng thật dấu noi,
Phú sai đi bắt xét lòi súng ra.
Đặng tang rồi mặc ý ra,
Quơ đồ ráo cạo đoạn già dẫn đi…
(trương 18)
Nhân vật tuy đổi chớ nhơn tâm ấy vẫn còn, cổ kim không khác mấy.
Đoạn già… Đoạn= rồi thì; Già = gông.
Đoạn già dẫn đi nghĩa là: rồi thì đóng gông dẫn đi.
Cái "mốt" ăn mặc hồi Tây mới qua cho đến trận Âu
Châu đại chiến 1914-1918 thì: thầy thông thầy ký, những người còn thủ cựu, gọi
"phe theo Nho", thì áo dài xuyến đen, khăn đóng "Suối đờn",
giày Hạ Châu đế lót lông ngựa, gọi theo Quảng Đông là "giày mạ mị"
(mã vĩ), hoặc giày "hàm ếch thêu cườm chữ ngẫu" đặt tại Gò Công. Mấy
thầy tân tiến gọi "phe theo Tây", thì bận áo bố trắng cổ đứng, nút
tra chuỗi hổ phách, đầu đội nón "casque Secrétaire" của hiệu Paul
Canavaggio sản xuất, là bảnh tẻn nhứt hạng rồi, chân đi thêm giày "ăn
phón" (en France), tay xách dù lục soạn đen, cán sừng trâu, thì lại
"bảnh quà xa quá xá". Khi nào được chụp hình đứng bên Quan lớn Chánh
thì cổ thắt "cà ra oách" (cravate), diện áo "u hoe" (veston
ouvert), tay lo le điếu xì gà tàn, thì duy có mấy cô mấy ỷ đời ấy biết cho.
Các tay dọn bàn, nấu bếp hầu cận "Ông To" thì nịt
dây nịt nỉ chống một gang tay, tám nút đen phơi trước bụng, quần lục soạn trắng
không vận, thời ấy chưa có dây lưng rút, lưng quần xổ ra kéo phủ lên dây nịt, gọi
"vận quần theo kiểu quần bàn", đó là tay tổ, khuyên ai đừng ngó lâu
mà ăn thoi bất tử.
Nấu bếp, dọn bàn thì đầu chít khăn nhiễu trắng, giắt lược đồi
mồi, còn như mấy ông mấy thầy tự ví như bậc nho sĩ, thì chít khăn thanh (lụa
xanh), chớ cũng không ai dám vượt bực chít khăn nhiễu điều, trừ phi mấy ông già
bà cả gần xuống lỗ thì dùng khăn đỏ mà vẫn được châm chế, không ai nói gì.
Các ỷ, các ý trong Chợ Lớn thì đầu bới tóc thả bánh lái
"ba vòng một ngọn", ăn trầu tích toát, để móng tay dài và mỗi lần xỉa
thuốc thường vảnh ngón tay cho người ngoài thấy mình có cà rá hột xoàn bự hay bộ
nhẫn vàng quấn kiểu "cửu khúc liên hườn". Trên vai mấy ỷ thường giắt
vào một khăn vằn Nam Vang dùng để lau trầu, khác với mấy cô vợ Tây thì quấn chuỗi
hột vàng gần gãy cổ, tay đeo kiềng vàng kiểu "nhứt thi nhức hoạ" thêm
mặc áo mớ ba mớ bảy, tóc xức dầu thơm chánh hiệu "Cô Ba".
Thú phong lưu thuở ấy là chiều chiều ngồi xe song mã đánh một
vòng "Lăng Tô" (Láng Thọ nói giọng Tây), hoặc ngồi xe kéo bánh cao su
đặc, ra bến tàu hóng mát. Nếu không bài bạc thì xem hát bội.
Vả lại kép hát chầu đó cũng là một nhơn vật đáng kể, nhờ mấy ỷ,
mấy thím bao bọc nên không thua người thợ bạc có tiếng là dám ăn dám xài, không
kém mấy chú dọn bàn đầu bếp ông Tây.
Miệng thế gian ăn mắm ăn muối mà độc địa, đã ghi hạng tầng lớp
xã hội như sau:
"Mười giờ Ông Chánh về Tây,
Cô Ba ở lại, lấy thầy Thông ngôn"
(Biết đâu mặc dầu Ông Chánh còn tại vị, họ đã cảm nhau trước
rồi).
Nhưng kết duyên cùng dân thầy là để cầu sang, sao bì:
"Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng,
Lấy chồng thợ bạc, đeo vàng đỏ tay!"
Dọn bàn, kép hát, thợ bạc, người nào cũng đua nhau lược đồi mồi,
ống đót nanh heo, nhưng người chủ lò khéo tay làm gì cũng gác trên một bực: lược
diễu vàng, hoặc sợi dây chuyền đồng hồ quả quít cũng vàng, hấp dẫn khác nào có
ngải mê bùa lú.
Thỉnh thoảng anh kép hát bảnh trai, nhờ giọng tốt, mắt liếc
đưa tình, đã chiếm trái tim cô gái nửa mùa. Bằng cớ là còn lại bài thi như sau:
Vịnh Kép Hát Bội
Nhỏ mà không học lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan!
Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu,
Vô buồng đứng dưới mấy ông Làng.
Mượn màu son phấn ông kia nọ,
Cổi lớp cân đai chú điếm đàng.
Tuy chẳng ra chi nhưng cũng sướng:
Đã từng trợn mắt lại phùng mang!!
Tú Quỳ
(Chương Dân Thi Thoại, 1936, Huế, tr. 12)
Trong tập thi thoại kể trên, Phan Khôi tiên sinh nói rõ rằng
bài thơ này là tác giả làm ra cốt ý để chỉ trích ông Nguyễn Duy Hiệu khởi binh
Cần Vương ở Quảng Nam, nhưng ông thường "ỷ chức quan mà lung lạc bạn đồng
sự ". Biết Tú Quỳ thì ắt Phan Khôi (Chương Dân) biết rõ hơn tôi rồi, việc ấy
khỏi phải nói. Việc đáng nói là trong bài thơ "Kép Hát Bội", tôi nhận
kỹ rất có thể Tú Quỳ mượn cớ trách mát ông bạn Nguyễn Duy Hiệu, nghĩa hiệp có
thừa, nhưng còn kém đức độ, quân tử, luôn thể Tú Quỳ lấy cớ vịnh kép hát mà móc
lò bọn quan "nhảy dù" thuở ấy, thơ làm được như vậy mới đắc thể cho!
Câu nào câu nấy ăn sát đề tài "Kép Hát Bội", nhưng
kỳ trung người bàng quan hiểu ngầm biết Tú Quỳ muốn nói ai nữa kìa. Nào!
"Nhỏ ăn học không ra gì, lớn theo Tây tà rồi Tây phong chức cũng "ông
kia ông nọ". Những buổi tiệc tùng đình đám thì ngồi vếch đốc trên ba anh
hương chức quèn, sướng thật, nhưng sao bì khi chầu hầu các ông bụng bự, khúm
núm dưới bệ khó coi làm sao! Đành rằng "ông kia nọ" là bề ngoài, chớ
bề trong khó che đậy cái dốt của chú điếm đàng vẫn phơi rành rành trước mắt mọi
người. Hỏi thử con nít lên ba nó cũng biết bao nhiêu đó là Tú Quỳ mô tả hình dạng
bọn "nhảy dù" chứ gì. Câu "Đã từng trợn mắt lại phùng mang"
mới là chưởi thiên hạ! Sướng con ráy quá!
Trong các nhơn vật sớm ra đời, cúc cung làm quan cho Pháp,
đáng kể là: Tôn Thọ Tường, Cai tổng Du, Lãnh binh Huỳnh Công Tấn, tri phủ Trần
Bá Lộc, tri phủ Nguyễn Trung Trực, tri huyện Đỗ Hữu Phương, thống ngôn Joannès
Liễu, Paul Lương và Loan (theo ông Khuông Việt, "Tôn Thọ Tường",
trương 60).
Đời ông Tôn Thọ Tường và tâm sự của Tôn, nhà văn Khuông Việt
đã viết thành sách. Những ông kia cũng thời thế đẩy đưa, thêm nói ra e "bứt
dây động rừng". Tôi chỉ ghi lại đây những nhơn vật "nẩy lửa",
nhưng tạm giấu tên…
1/- Ông thứ nhứt xuất thân "đội" rồi thăng tri huyện,
tri phủ, rồi lại về hưu "hàm Tổng Đốc".
Mộ ông nay ở tỉnh Mỹ Tho, ai đi tàu gần tới xứ sản xuất cam
ngon là thấy sừng sững trước đầu doi ngay khúc ngã ba sông hùng dũng.
Ông là người giữ đạo Thiên Chúa, vì căm thù vua Tự Đức bắt đạo,
nên sớm ra giúp Pháp và lập rất nhiều công lớn, nhưng về già lại bị Pháp bỏ
rơi. Ngoài Bắc Hà có Hoàng Cao Khải, trong Nam là có ông. Nhơn vật nầy đã từng
cùng với một nhơn vật nữa là Nguyễn Thân, khét tiếng miền Trung, cả hai đồng thủ
vai tuồng "đánh bạt Mai Xuân Thưởng" vùng Bình Định.
Lính Pháp và quan võ Pháp đánh cùng binh Văn Thân cù nhầy
trót một năm trời mà bình không nổi giặc. Người Pháp muốn mua chuộc nhơn tâm, nửa
cương nửa nhu, khi chùng khi thẳng và không nỡ xuống tay độc thủ. Pháp bắt được
địch quân thì giam vào ngục thất là cùng. Giam mãi ngục thất dẫy đầy người yêu
nước, cho nên thét quan Pháp phải viện đến ông. Ông ra quân chỉ có mấy tháng mà
dẹp yên vùng Thuận Khánh (Khánh Hoà, Bình Thuận).
Ông là người khô ráo dong dảy, môi mỏng, cặp mắt có sát khí.
Ông bắt được địch thủ, nhứt quyết không cầm tù và chỉ chặt đầu y quân lịnh:
chém người như chém chuối, chém không chừa con đỏ. Các ông già bà cả, nay nghe
nhắc tên ông, đều thảy lắc đầu. Chính toàn quyền Paul Doumer đã hạ một câu xác
đáng: " Việc ấy đã biết dư, cố nhiên là phải vậy! Nếu muốn (nhơn nghĩa) và
chớ chi còn kế hoạch nào khác, thì thà đừng sai hắn cầm binh…".
Ngày nay còn nghe nhắc đến những phương pháp quá bạo tàn:
Để đối phó với các địch binh không khứng ra quy thuận và thường
ẩn mình nơi thâm sâu cùng cốc, có một cách tuyệt đối:
Sai bắt cha mẹ vợ con của người ấy, đóng gông cầm tù. Một mặt
bố cáo trong ngoài kỳ hạn bao nhiêu ngày, phải ra nạp mạng. Bằng không thì:
- Cha, mẹ, và vợ, bêu đầu làm lịnh;
- Trẻ con thì bỏ vào lòng cối giã gạo, sai lính dùng chày lớn
quết như quết nem!
- Đối với phạm nhơn tội không đáng chết, có khi cũng cho thân
nhơn lãnh về. Mà đây là một đau lòng khác nữa.
Trò chơi ác độc là bỏ người đàn ông vào nóp lá nóp bàng, mỗi
người một nóp may bít đầu đuôi, chỉ chừa một lỗ để lọt "bộ đồ kín" ra
ngoài, đàn bà nào nhìn được "của riêng" thì lãnh được chồng về!
Néron là bạo quân tàn nhẫn, Lê Ngọa Triều cũng bạo chúa xú
danh, còn chưa nghĩ ra việc này!
Có một hôm, ra đường nghe một đứa nhỏ lên năm, chưởi cha mắng
mẹ. Sai bắt đứa trẻ, bỏ nhịn đói suốt ngày, xế chiều sai lính đưa cho trẻ một
chén cơm canh và một đôi đũa thứ đời xưa, một đầu xanh một đầu đỏ. Đũa này thường
dùng đầu đỏ và cơm, đầu xanh chỉ dùng khi có tang. Đứa nhỏ cầm đũa so ngay ngắn,
để đầu đỏ xuống dưới, cẩn thận. Lên án: tuổi thơ mà đã có trí khôn. Phàm đã
khôn thì không phép mắng chưởi người sanh đẻ ra mình: Quết! Quết cho tuyệt những
thứ phản cha phản mẹ!
Chuyện không đích xác, không dám chắc có quả như vậy chăng,
chép ra đây như một tài liệu buổi trà dư, không quên đánh dấu hỏi thật lớn (?)
Dẹp xong giặc, được thăng Tổng Đốc và được ban Đệ Tam Đẳng Bắc
Đẩu Bội Tinh (Commandeur de la Légion d'Honneur), nhưng chim dữ hết thì ná treo
đầu tường, Pháp ngán nên không dùng nữa.
Năm 1899, toàn quyền Doumer thân hành từ Sài Gòn đỗ đường xuống
nhà thăm, thì đã gần miền, chỉ mấy tháng sau là nhắm mắt. Lạ kỳ là trối trăng dạy
"chôn đứng". Ma chay linh đình mấy chục ngày dài, mỗi bữa ngả bò vật
heo thết trên ngàn miệng ăn. Quan tài đặt xuống huyệt có lính tập bồng súng
chào, đủ mặt quan Lang Sa dự đám (Paul Doumer. -Souvenirs, trương 59-62).
Con trai ăn học bên Pháp, về làm quan ít lâu, cũng khét tiếng
như cha, bây giờ chợ Sa Đéc nhà vuông làng Tân Quý Đông còn truyền tụng câu liễn:
"Tân thị Mỹ Thành, chánh bổ Lục Na công sáng tạo,
Quy dân lạc lợi, Huỳnh đường Trần Bá Thọ kinh dinh"
Có dịch tập"Nhị Thập Tứ Hiếu" ra Pháp văn và Quốc
ngữ. Sau ra làm hội đồng quản hạt (conseiller colonial), dám ăn dám nói, Doumer
nhìn nhận người Pháp cũng không bì. Buồn rầu việc tư, tự tử bằng súng lục.
2/- Nhơn vật thứ hai của đất Sài Gòn, là một hàm Tổng Đốc có
tên đặt một con đường thị tứ nhứt tại Chợ Lớn.
Có tiếng là "hiền" hơn ông kia. Người nẫm thấp, phốp
pháp, râu bạc le the, râu mép để ngạnh trê vuốt sáp nhọn quớt như cặp sừng
trâu. Về già ưa đón đưa tân khách Pháp đãi rượu sâm banh (champagne), cho ăn
bánh Petit beurre thứ de Nantes chánh hiệu.
Nhà dọn nửa Tây nửa Ta, năm căn đố lương thành vọng gỗ quý chạm
lọng khéo léo, trước nhà có sân rộng chưng toàn cây kiểng gốc (cây thế), ngó mặt
ra một con kinh nay đã lấp. Doumer tả hình trạng đã viết một câu ngộ nghĩnh:
"Người ông giống hệt nhà ông: ngoài bày y phục Pha Lang Sa, trong giữ
phong tục bản xứ".
Ngôi nhà nầy nay đã dỡ, đất thì bán cho khách Tàu xây nhà chọc
trời làm tửu quán, cao lầu và rạp ciné. Chỉ chừa một khuỷnh để làm nơi thờ phượng.
Mấy chục năm về trước, cờ bạc còn thạnh hành, vua đổ bác, "Thầy Sáu Ngọ"
nhiều tiền, mướn đấy làm chỗ hốt me ăn thua ức vạn. Nghĩ cho con cháu rân rát,
đỗ đạt thành danh, mà từ đường chứa đầy tiếng thô tục, nước bọt và đờm xanh, có
phải chăng là căn quả?
Tiếng rằng "hiền", là hiền hơn ông kia, chớ xét ra
một đời mâu thuẫn: lấy một tỷ dụ là đối với Thủ Khoa Huân. Che chở cũng y, đem
về nhà đảm bảo và cấp dưỡng cũng y, mà rồi bắt nạp cho Tây hành hình, cũng y nốt.
Xuất thân hộ trưởng, biết chữ Nho, sớm ra đầu và làm tay sai
đắc lực cho Pháp.
Thuở ấy, nói tiếng Tây, ba xí ba tú, đâu có "ngon
lành" như đời giờ. Sự ấy cố nhiên. Nhưng có một giai thoại như sau, tôi
chép ra, nhưng xin cô bác đừng hỏi nhiều vì không bảo lãnh đúng sự thực.
Tương truyền vào một dịp đầu xuân, đem dâng cho một quan Lang
Sa quà Tết: một con dê xồm bép mỡ kịp đút lò đêm giao thừa. Quan hỏi: "Con
gì? Ông cho tôi con gì đó?"
Quýnh quá quên phứt, không nhớ rõ "bouc" hay
"chèvre", thôi thì tả hình dạng nó cũng được: "Luỹ"
"mêm xối xiên" "dà na bắp" "dà na cót" (même
chose chien, il y a barbe, il y a corne). Câu này đúng nguyên văn hay chăng,
tôi không dám chắc. Điều tôi dám chắc là quan đút lò "dê xồm" ăn ngon
lành và từ đó câu kia đã để đời trở nên bất hủ. Gần đây trong Nam còn ưa nói với
nhau thành ngữ "mêm xối xiên" để thế từ ngữ "đồng một thể như
nhau".
Một giai thoại nữa:
Tết Nguyên Đán. Nhà ấy ra câu đối có treo giải thưởng. Câu đối
ra như vầy:
"Đất Chợ Lớn có nhà họ Đỗ,
Đỗ một nhà: "ngũ phước tam đa"
Không biết quả thật chăng, về sau có người gởi đến câu đáp
như vầy, nhưng không nhận thưởng:
"Cù Lao Rồng, có lũ thằng phung,
Phun một lũ: "Cửu trùng bát nhã".
Cố nhiên không ai dám nhận mình là tác giả câu này. Người
chép ra đây càng cẩn thận hơn, không cam đoan câu ấy do ai đã học lại.
3/ - Nhơn vật thứ ba, kịch liệt nhứt thời, là Huỳnh Công Tấn.
Người tỉnh Gò Công, nay còn thạch trụ trước chợ bêu danh. Ban
đầu chống Pháp, sau về làng, dâng lễ ra mắt bằng cách bắn gãy xương sống ông
Lãnh binh Trương Công Định. Pháp ghi công cất nhắc lên Lãnh Binh tân trào.
Khi lâm chung, ông Tôn Thọ Tường điếu:
"Phúc quới thị thảng lai, oanh liệt hùng tâm khinh nhứt
trịch,
"Thinh danh ưng bất hủ, ức dương công luận phú thiên
thu".
(Giàu sang ấy thoáng qua, lừng lẫy hùng tâm khinh một ném,
Tiếng tăm đành chẳng mục, chê khen công luận phú ngàn năm).
Con trai là Huỳnh Công Miêng, du học bên Pháp, về xứ lúc đầu
theo Phủ Trần Bá Lộc, đánh với giặc "Văn Thân" ngoài Thuận Khánh. Sau
này nghĩ sao không rõ mà không nhận chức gì, chỉ ngao du ăn xài theo bực công tử.
Đi khắp Lục Tỉnh, đi đến đâu, ưa đánh lộn bênh vực người mắc nạn, hết tiền vô
quan Tây "mượn xài". Quan nể tình cũ ông cha, hằng trợ giúp và dầu phạm
pháp cũng không bắt tội. Khi chết được đời nhắc tên trong "vè Cậu Hai
Miêng" với danh từ ngộ nghĩnh " lưu linh miễn tử". Chí ngày nay,
ông già bà cả gặp ai hành động ngang tàng mà không bị tội, ưa nói: "bộ thằng
đó là lưu linh miễn tử hay sao mà! "
Đó là những nhơn vật xuất thân võ biền. Còn sau đây là những
nhơn vật biết thừa cơ hội trở nên cự phú, hoặc giữ chí thanh cao cam tâm làm học
giả suốt đời, tuy nghèo nhưng trong sạch và được kính mến.
4/- TRẦN NGƯƠN VỊ
Người tỉnh Long Xuyên, Bát Phẩm cựu trào, tục danh "Ông
Hạp". Sang triều Pháp, thăng lần Đốc phủ sứ. Sở dĩ ghi tên lại đây vì là
thân sanh vị trạng sư đầu tiên nước Nam. Trần Ngươn Hanh, đã từng dạy Hán học
Trường Ngôn Ngữ Đông Phương (Ecole des languages Orientales), và vì có nhà trên
đường Trần Hưng Đạo cận nhà ông Tôn Thọ Tường ở mé sông đường Cầu Kho.
5/ TRƯƠNG VĨNH KÝ, tự SĨ TẢI
TRƯƠNG MINH KÝ, tự THẾ TẢI
HUỲNH TỊNH CỦA, tự TỊNH TRAI.
Đây là ba nhà học giả trong Nam, tiểu sử nhiều nơi đã ghi rõ
ràng nên không chép lại.
Ông Sĩ Tải nhà ở chỗ nền nhà bà Đốc phủ Phải, đường Trần Hưng
Đạo, nơi đây là xưởng dạy cắt may cắt y phục Âu Tây (trại Yên Thế).
Ông Thế Tải,dòng dõi ông Trương Minh Giảng, là người từng cầm
binh oai trấn xứ Cao Miên, nhà ở đường Đoàn Thị Điểm, con cháu còn rân rát.
Ông Tịnh Trai, người Phước Tuy (Bà Rịa), xuất thân thông ngôn
chữ La Tinh, có nhờ ông Tôn Thọ Tường chỉ biểu thêm chữ Nho, tác giả bộ Đại Nam
Quốc Âm Tự Vị, nay còn hữu dụng, nhà trên xóm Tân Định.
Ba ông minh triết bảo thân, gần bùn chẳng nhuốm mùi bùn,
không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất
Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm nước nhà những
cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng.
Nghĩ cho tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà
kia, nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ngòi bút, một
nghiên mực, sự nghiệp văn chương trường cửu của ba ông tiền bối này mới thật
quý và thơm.
6/- Sài Gòn có bốn nhà giàu gộc: nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xường,
tứ Định.
Nhứt Sĩ là ông Lê Phát Đạt. Người Cầu Kho, thuở nhỏ tên Sĩ.
Nhơn qua học La Tinh ở Cù Lao Pénang gặp thầy dạy trùng tên nên đổi lại là Đạt.
Tuy vậy đời vẫn quen gọi theo tên cũ (Nhà Thờ Huyện Sĩ).
Xuất thân thông ngôn chữ La Tinh. (Thời ấy, đào tạo nhơn viên
thông thạo chữ và tiếng Pháp chưa kịp, nên phải dùng người ở trường Nhà Dòng
ra, học chữ La Tinh, chữ Hán, và chữ Quốc Ngữ do trường Pénang (có lưu gót cũ của
Bá Đa Lộc) do các thầy tu dạy và điều khiển). Ông làm việc nhiều năm tại tỉnh
Tân An. Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác, Pháp phát mãi ruộng
đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đấu giá. Thế rồi, ép nài
ông, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều, nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa
liên tiếp mấy năm liền, ông trở nên giàu hú. Trong nhà, có treo câu đối dạy đời:
"Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách,
"Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ".
Khi từ trần, xác chôn giữa Thánh Đường Chợ Đũi, do ông xuất
tiền - trên ba mươi muôn bạc, bạc thời ấy - và hiến đất xây nên.
Nhì Phương - Tức Đỗ Hữu Phương Chợ Lớn. Đã nói rồi nơi đoạn
trước. Sự nghiệp trở nên đồ sộ nhứt nhì trong xứ, phần lớn do tay phu nhơn Trần
thị gầy dựng. Bà giỏi tài đảm đang nội trợ, một tay quán xuyến trong ngoài, làm
của đẻ thêm ra mãi, lại được trường thọ, mất sau chồng.
Tam Xường - Tục danh "Hộ Xường", tên thiệt là Tường
Quan, tự "Phước Trai", gốc người Minh Hương. Thông ngôn xuất thân. Sớm
sớm xin thôi, ra lãnh thầu cung cấp vật dụng thức ăn cho thị xã. Nhờ khéo tay
thêm phùng thời, cự phú không mấy hồi. Còn nhà thấp năm căn nửa xưa nửa nay toạ
lạc đường Khổng Tử. Vòng rào sắt trước ngõ chứng rằng mặt tiền ngó ra kinh có lẽ
trước kia cao ráo, nay kinh đã lấp, thế vào đây là một con đường cái, thềm lộ bồi
đất cao hơn sân nhà, thành thử sân như sâu xuống và vuông nhà đã thấp nay lại
càng lụp xụp.
Chủ nhà mất đã lâu.gia tài kếch xù, con cái nhiều giòng, phần
ăn chia chưa xong.
Tứ Định là Hộ Định - Làm Hộ trưởng, họ Trần (?) Nhà ở khoảng
giữa đường Trần Thanh Cần, gần dốc cầu Palikao một đầu và chợ Quách Đàm một đầu.
Ngôi nhà năm căn trệt chạm trổ thật khéo, cột cẩm lai bóng ngời ngó thấy mặt;
trong nhà vật dụng từ khí từ cái bàn, cái ghế, cái đôn sành đều có vẻ cũ xưa. Mấy
năm trước chính mắt tôi còn thấy làu làu vững chắc tuy khoảnh vườn sân trước đã
bị cắt xén sát mặt tiền nhường chỗ làm thềm và đường cái nay mở rộng nên lấp
kinh. Gần đây, vì đất chợ cao giá nên tuy nhà lập làm phần hương hỏa mà con
cháu đã bán và dỡ đi. Thay vào đó là một dãy phố lầu tiệm buôn khách trú. Phần
hoa lợi tuy có thêm, nhưng thiệt hại phần cổ tích từ đây và cứ theo đà nầy, đô
thành Sài Gòn ngày một mất dần những dấu vết xưa.
Sau đây, tôi xin lựa và kể tiếp vài nhơn vật bản xứ có tánh
cách thật điển hình, để rồi bắt qua khảo về nhơn vật ngoại quốc, chớ tự xét
không đủ tài và cũng không tiện trong một tập nhỏ khảo về Sài Gòn, mà liệt kê
cho đầy đủ những người cũ của bản xứ Sài Gòn xưa, một lẽ là như thế công việc sẽ
rườm rà mất hứng thú, lẽ khác là làm lạc hướng tập khảo cứu này.
Nhơn vật điển hình, theo tôi, tưởng nên kể sơ quý ông:
- Một nhơn vật đại diện nhóm trí thức, ông Diệp Văn Cương.
- Ba nhơn vật đại diện nhóm kinh doanh thương mãi và kỹ nghệ:
Đinh Thái Sơn, Nguyễn Văn Của, Nguyễn Văn Viết.
- Các nhà văn và nhà báo đặc sắc.
- Một vài thân hào có tiếng tăm.
7/- Đại diện điển hình nhóm trí thức là ông Diệp Văn Cương, tự
Thọ Sơn, về sau thấy ký tên các sách xuất bản lấy hiệu "Yên Sa"
vì ông quê quán làng An Nhơn (Gia Định). Thuở nhỏ tân cần khổ sở, nhưng học
hay. Sớm đỗ bằng trung học, chánh phủ Pháp cấp học bổng cho sang Pháp học tập
thêm, đỗ tú tài đôi, trở về dạy trường Chasseloup-Laubat, tục danh "Trường
Bổn quốc". Toàn quyền Paul Bert mến tài đưa ra giúp việc ngoài Bắc Kỳ và
Trung Kỳ. Đức Đồng Khánh chọn làm thầy, dạy vua học. Một bà công chúa, con đức
Thoại Thái Vương Hồng Y, để mắt xanh và hạ sanh ông Diệp Văn Kỳ. (Diệp Văn Kỳ
là một nhà báo kỳ cựu trong Nam, đỗ cử nhơn Pháp, dám ăn dám nói, sau theo Nhựt
và chết không tên tuổi, tiếc thay). Vua Thành Thái nối ngôi cho ông về Nam. Về
đây ông làm Đầu Phòng Phiên Dịch nhiều năm vì ông có Pháp tịch, thêm làu thông
Hán tự, văn pháp của ông khỏi nói, đời ấy là số một! Gần tuổi về hưu, ông trở lại
dạy Sử học và Việt văn trường Chasseloup-Laubat như trước. Kẻ viết bài này khi
còn học lớp dưới, đã từng đứng nghe lóm ngoài cửa và ân hận không được thọ giáo
cùng ông. Khoảng năm 1919, dạy sử học, ông lấy Sử Diễn Ca Lê Ngọc Cát ra bình
chú, dạy Việt Văn ông đã biết đem những đoạn xuất sắc trong Kiều, Lục Vân Tiên,
và Chinh Phụ Ngâm ra giải thích cũng là mới lạ. Người ông nẫm thấp hùng vĩ, lịch
duyệt Bắc Nam, ông ngâm thi sang sảng, nói tiếng Tây rất "giòn", bình
sanh sở thích hát bội, roi chầu bóng bẩy rất mực phong lưu, tuồng hát nằm lòng,
cô đào anh kép phục sát đất! Vãn hát ông rước luôn đào để cả y phục và áo mão về
nhà hát lại ông thưởng thức riêng.
Tánh tình cứng cỏi, thẳng thắn, quen việc xưng hô chốn triều
đô. Học trò rắc rắc phải gọi "Quan Lớn", nhưng thuở ấy không lấy đó
làm chướng tai. Nực cười những sĩ tử trường T. qua dự thi bằng thành chung gặp
ông giám khảo, chúng gọi Diệp tiên sanh bằng "ông", tiên sanh cười gằn:
"Về hỏi Ch. mầy dám gọi tao bằng "ông" hay chăng, hà huống là mầy?"
Tuy vậy ông không tiểu tâm và học trò trường lạ đáp trúng, ông cho điểm tộc bực.
Được chỗ hay là thường thích kiếm chuyện gây gổ với người da trắng, lấy đó làm
sung sướng, và luôn luôn cử xử địch thể với quan "mẫu quốc", không nhịn
bước nào. Tây tà đều ngán và lánh ông vì sợ ông làm mất mặt.
8/- Ba đại diện thương mãi, ấn loát, khuếch trương kinh tế
thì đặc sắc nhất là có:
- Đinh Thái Sơn: Ông gốc người Nghệ An vào Nam thuở nhỏ. Cha mẹ
theo đạo Thiên Chúa đã nhiều đời. Ông xuất thân học nghề đóng sách tại nhà in
Thánh đường họ Tân Định. Ông nhờ ông Trương Vĩnh Ký thương nên xin giùm cho
lãnh đóng sách của Kho Sách chánh phủ. Vì ông Câu Toán gả con gái cho, về sau
nhớ ơn, lập nhà in và bán sách, sửa xe "máy", sửa súng, sửa đèn
manchon, lại cũng lãnh mua giùm những món hàng Sài Gòn cho thân chủ ở Lục Tỉnh,
gởi hàng theo Nhà Dây Thép bằng cách lãnh hoá giao ngân mới mẻ dân ta chưa mấy
người biết sử dụng. Nhà sách "Phát Toán" ở đường d'Ormay, về sau ông
nhường cho bạn là ông Joseph Nguyễn Văn Viết, ngày nay còn phát đạt và ở y chỗ
cũ. Đinh Thái Sơn tách ra hùn vốn với ông Lê Phát An, có ông Lê Văn Nghi làm đại
diện, mở ba căn "Ấn Thơ Cuộc" tại đường Catinat số 157 và dịch hai chữ
"Đồng Hiệp" ra tiếng Pháp lấy hiệu "Imprimerie de l'Union".
Về sau, nhà in "de l'Union" sang tên cho ông Nguyễn
Văn Của, từng dưới làm nhà sách, trên lầu cho mướn phòng ngủ. Sau rốt nhà in
"de l'Union" từ 157 đường Catinat, dời qua nhà mới tạo ở gần trường học
Taberd, ngó mặt qua hông Sở Bưu Điện Chánh. Nay đã đổi làm nhà buôn ngoại quốc.
- Nguyễn Văn Viết- Ông Jh. Viết bước vào thương trường công
nghệ từ năm 1900. Kế đó ông nối nghiệp ông Đinh Thái Sơn, in truyện đóng sách,
cần cù nhiều năm gầy dựng sự nghiệp lớn để lại cho con cháu tiếp tục cho đến
ngày rày.
- Nguyễn Văn Của -Thuở nhỏ kiệm cần khổ sở. Từng nghe nói lại
rằng lúc ấu thơ, ông không ngần ngại xách đèn lồng theo chị đi bán rong đêm
khuya mới đủ sống, cơ cực vô ngần. Thế mà mấy chục năm sau ai ai cũng biết danh
ông. Một đặc sắc nữa là cho đến ngày tỵ trần ông chỉ làm "Ông Huyện Của"
(tước Hàm) và đào tạo rất nhiều Phủ và Đốc Phủ danh dự. Ông là thân sinh tướng
Nguyễn Văn Xuân (trào Bảo Đại).
9/- Nay kể qua các nhà văn, nhà báo kỳ cựu nhứt trong Nam, nhớ
vị nào thì viết ra đây, không nhứt định sắp theo thâm niên cùng thứ tự, thì đại
khái thuở ấy có:
- Gia Định Báo là xưa hơn cả. Ra đời 1 tháng 4 năm 1865 dưới sự
điều khiển của ông Ernest Potteaux, qua đến 16 tháng 9 năm 1869 giao về ông
Trương Vĩnh Ký, ông là tổ nghề báo quốc văn ta vậy. Ngộ hơn hết là trong cái ô
chừa đợi chữ ký của người quản lý, thưở ấy không dịch"gérant"
là"quản lý" mà viết là"kẻ làm nhựt trình".
- Phan Yên Báo do Diệp Văn Cương biên tập.
- Nông Cổ Mín Đàm, ra đời năm 1901. Lương Khắc Ninh tự Dũ
Thúc làm chủ bút, rồi lần lượt đến Gilbert Trần Chánh Chiếu, Tân Châu Nguyễn
Chánh Sắt, Nguyễn Viên Kiều bút tự Lão Ngạc, Nguyễn Đồng Trụ, Lê Văn Trung,
Nguyễn Thành Phương phụ bút, v.v…
- Nữ Giới Chung của bà Sương Nguyệt Anh, con gái Đồ Chiểu, sau
về tay Nguyễn Thành Út làm chủ bút.
- Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées)của ông Trương Vĩnh Ký
(1888-1889), chuyên về sưu tập các áng văn Nôm xưa;(sau đổi tên lại là "Sự
Loại Thông Khảo").
- Nhựt Báo Tỉnh.
- Nam Trung Nhựt Báo của Nguyễn Từ Thức, chủ bút; Lê Sum, phụ
bút.
- Đông Pháp Thời Báo, trước chủ bút là Nguyễn Kim Đính, sau
giao về Diệp Văn Kỳ, (con cụ Diệp Văn Cương), ít lâu đổi làm tờ Thần Chung, dưới
sự cộng tác đắc lực của nhóm Nguyễn Văn Bá, giáo sư xuất thân trường Sư Phạm Hà
Nội, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Đào Trinh Nhất, Trần Huy Liệu, Phan Khôi, v.v…
- Công Luận Báo của Nguyễn Kim Đính.
- Phụ Nữ Tân Văn của Nguyễn Đức Nhuận và nhóm Phan Khôi.
Rồi đến những nào Trung Lập Báo (Phi Vân Trần Văn Chim); Nhật
Tân Báo 1926 (Cao Hải Để); Sư Phạm Học Khoa (nhà in Nguyễn Văn Của); Trong Khuê
Phòng (Lê Thành Tường 1934, chủ bút: Lương Đình Thiệu) v.v…
Ngoài các tay viết báo, còn những ông túc nho ẩn sĩ, kẻ
chuyên tâm dịch truyện Tàu, người soạn tiểu thuyết; Trần Phong Sắc tự Đằng Huy,
Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương (thân phụ Nguyễn An Ninh), Nguyễn An Cư
(thúc phụ Nguyễn An Ninh, cũng một tay hốt thuốc có danh), Nguyễn Viên Kiều tự
Lão Ngạc, Nguyễn Thành Phương (người Trà Vinh), Lê Hoằng Mưu tự Mộng Huê Lầu,
Nguyễn Thành Úc, Lê Sum tựa Trường Mậu, v.v… Những người nầy ưa tựu góc đường
Thủ Khoa Huân, tại nhà hàng Cửu Long Giang (Pháp gọi là Hôtel du Mékong) hoặc tại
khách sạn Nam Hồng Phát trên con đường Lê Lợi. Cốc ắp xanh hai cắc bạc, bữa cơm
Tây vì vèo bốn món tám cắc, rượu tính riêng (vin mousseaux hiệu Veuve Amiot chỉ
có chín cắc một chai lớn). Nguyễn An Khương có nhà trên Hốc Môn, đứng lập tiệm
Chiêu Nam Lầu, từng dưới Cô của Nguyễn An Ninh đứng cắt may áo dài, từng trên
chứa khách đến tá túc, phần đông là hội viên kín của nhóm "Đông Kinh Nghĩa
Thục" và phe Cường Để. Thuở chúng tôi mới chơn ướt chơn ráo lên Sài Gòn
khoảng năm 1919, còn thấy mỗi chiều dạng một người đàn bà trọng tuổi, dong dảy
dễ coi, đứng trong phố sai trẻ, hoặc ngồi trên sập ván cắt cắt may may. Hỏi ra
mới biết được đây là cô ruột của Nguyễn An Ninh. Nay bà đã vui chơi tiên cảnh,
nhà phố bà ở, nhớ mài mại thì một dãy với các tiệm Chà bán vải, lối rạp chớp
bóng Nguyễn Huệ hiện thời. Tiếc thay chỗ nầy không được kỷ niệm lại bằng một tấm
"lắc" cẩm thạch để đời, gương một tiết phụ biết ái quốc thương nòi, tấm
"lắc" không cần dài dòng, miễn viết, "Đây là chỗ cũ tiệm Chiêu
Nam Lầu từng chứa nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục" (19…19), tưởng như vậy cũng đủ!
10/ Những Người Lỗi Lạc, vượt mức quần chúng trong vài giới
khác lạ hơn thường.
Bà Lưu Thị Ngoạn, tục danh "Cô Ba Ngoạn",làm chủ một
gánh hát bội, đào tạo nhiều đào kép nay còn để tiếng nhắc đời (đào Năm Nhỏ, dâu
của bà, hát đứng cặp với kép Hai Thắng (sau nầy là Bầu Thắng) thì không ai bì kịp.
Đồng thời còn kép Sáu Ất xuất sắc vai Dự Nhượng và vai Quan Công, kép Cang giỏi
vai Trương Phi, đều là đào kép hữu hạng, không kém các đào kép Đào Bổn, Đào
Chung, ông Tư Nhựt, lớp trước.
Chợ Lớn có bà Tám Đội, quen gọi "Cô Tám"cũng chủ
gánh hát bội hữu danh, không sút gánh "Cô Ba Ngoạn", thêm có rạp hát
riêng, sự nghiệp đồ sộ, nhà lầu, vườn cao su, hột xoàn cả ô, khi bà nhắm mắt, sự
nghiệp cũng tiêu tan theo gió.
Đường Hồ Văn Ngà chỗ rạp chớp bóng Rex, xưa có ông Ninh dựng
rạp hát bội tại đây. Tên ông là Lương Khắc Ninh, tự Dũ Thúc, vừa nhà văn, soạn
tuồng, viết báo, vừa làm bầu gánh hát, vừa kèm chức nghị viên quản hạt, nên ông
được tặng nhiều chức hiệu: Bầu Ninh, Hội Đồng Ninh, cũng một người.
Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến,
có Cô Ba, con gái thầy thông Chánh, là đẹp không ai bì;đẹp tự nhiên, không răng
giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt
mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi
nhà nước in hình vào con tem nhà Thơ Dây Thép (Bưu Điện), và một hiệu buôn xà
bông xin phép hoạ hình làm mẫu rao hàng: xà bông "Cô Ba": muốn biết
danh tiếng bực nào xin ráng tìm các bà cỡ 1900 hỏi lại!
Lối năm 1923 đến 1935, có các cô Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Hương,
Hai Thời, v.v… đua nhau bán dạng thuyền quyên, báo hại Bạch Công Tử, Hắc Công Tử,
Công Tử Bạc Liêu, Công Tử Cầu Ngang (Trà Vinh) kình nhau phá nhà của cha mẹ để
lại. (Ông cha các cậu, kẻ giàu ruộng "cò bay thẳng cánh", người giàu
nhờ ruộng muối miệt Bạc Liêu, (một ngày nắng tốt huê lợi đến năm ngàn đồng bạc,
bạc thời ấy, như chơi).
Chiều chiều các cô lượn đảo trên các đường phố, hết Chợ Bến
Thành đến Catinat, xe Delage mui trần, tài xế vận y phục nhà có dấu hiệu, hay
xe Hoa Kỳ "cắt chỉ" mới trong hãng lấy ra buổi sớm. Các cô thi đua
trên đường nhựa, lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường.
Các cậu không sẵn xe, các thầy phong lưu, ông còm mì bột
"chơi bời" cũng không chịu sút nước "ăn xài" của các công tử
mũi trắng. Xe song mã chạy mát, mỗi giờ hai đồng bạc xe lô ca xông một cuốc Sài
Gòn Thủ Đức đầu tháng là năm đồng, cuối tháng cạn xu mời mọc ba đồng cũng được!
Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh
sòng bài sòng me, hoặc năm ba gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo hại các cậu
con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán lúa vay bạc Chà, cố
cầm sự nghiệp ông bà để lại.
Năm Quý Sửu (1913) có vụ Phan Phát Sanh làm "Cách Mạng".
Phan Sát Sanh tự Lạc, năm ấy, vừa hai mươi tuổi, con của Phan
Núi làm Cảnh Sát trong Chợ Lớn. Lúc nhỏ không ham ăn học, lớn làm bồi cho Tây,
bỗng xưng Phan Xích Long, tự cho mình là "Đông Cung", con vua Hàm
Nghi, sắm mão và dây đai vàng, tự tôn làm "Hoàng Đế", lập đảng kín,
chế tạo lựu đạn trái phá, in trát dán khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây, kêu
gọi dân nổi dậy chống Pháp. Việc làm như giả ngộ (giả bộ), chưa chi đã lậu sự,
bắt bớ lung tung.
Phan Xích Long bị cò Tây bắt tại Phan Thiết, còng giải về Sài
Gòn. Đồng đảng, cả thảy bị bắt một trăm mười một người, đem ra Tòa Áo Đỏ xử tử
mồng năm đến mười hai tháng mười một dương lịch 1913, tha bổng năm mươi bốn người,
kêu án năm mươi bảy người, nặng hơn hết là án chung thân khổ sai sáu người:
Phan Xích Long, Nguyễn Tri, và Nguyễn Hiệp, án hiện diện. Còn ba người Nguyễn
Màng, Trương Phước, và Nguyễn Ngọ trốn thoát không bắt được, bị án khiếm diện.
Ba người nầy bị giam Khám Lớn Sài Gòn, làm chấn động giới giang hồ mã thượng.
Qua năm Bính Thìn (1916), giữa trận Âu Châu đại chiến 1914 -
1918 bên trời Tây, Tây thua xiểng liểng thì đêm mười hai tháng giêng âm lịch, đảng
kín "Thiên Địa Hội" tổ chức cuộc khám phá định cứu các "đại
ca" ra khỏi vòng lao lý. Ban đầu rất nhiều thuyền ghe nhỏ tứ xứ đến đậu
chen nhau dưới gầm cầu móng Khánh Hội, đến ba giờ khuya là khởi sự. Dưới khẩu
hiệu "đại ca", các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ mang phù chú, tay
cầm gươm mác, kéo lên Khám Lớn Sài Gòn. Dao nói chuyện với súng làm sao lại,
bùa chú chống đạn chỉ có hiệu lực trong trí óc người mê tín. Sự thực thì hai
người bị bắn chết tại cửa Khám Lớn, bốn người bị rượt theo bắn ngã tại Xóm Dầu
trong Chợ Lớn. Đồng đảng, bất cứ đàn ông đàn bà ai mặc áo đen quần trắng, buổi sáng
ấy và lẩn quẩn xóm tình nghi là bị bắt nhốt khám và đem ra xử ở Tòa Đại Hình. Kết
cuộc: ba mươi tám người bị xử tử tại Đồng Tập Trận và bắn ngày hai mươi tháng
hai năm 1916; mười ba người bị xử bắn ngày mười sáu tháng ba năm 1916, kể luôn
hai người đêm phá khám tử chiến tại trận tiền và bốn người bị hạ sát tại Xóm Dầu,
thì cuộc phá khám 1916 đã khiến năm mươi bảy vị "anh hùng" tên ghi
vào sử nhưng thây thì bị chôn vùi "Đất Thánh Chà" đường Hiền Vương,
cho đến mới đây nghĩa địa này bị ban phá ra bình địa xây xóm nhà anh em lao động
tài xế, đô thành, mồ mả xiêu lạc mất tích luôn, nhưng danh thơm còn mãi trong
trí óc người yêu nước.
Giới người bất đắc chí trổ sanh nghề lạ thì trước có Tư Mắt,
sau có Thầy Sáu Ng.
Tư Mắt, tên thiệt là Nguyễn Văn Trước, sanh tiền có lập một tiệm
hớt tóc, số nhà 200 đường Thủy Bình cũ (nay đường Đồng Khánh), lấy hiệu là
"Nam Hữu Mai".
Ngày mười bốn tháng năm năm 1915, Tòa đem Tư Mắt ra xử, kể
lai lịch Tư Mắt có đến ba vợ, đều phụng sự "Anh Tư" hết lòng, và vô số
anh em. Tòa khép Tư Mắt vào tội "gia nhập hội kín ám trợ Cường Để",
kêu án lấy chừng, kỳ trung Tư Mắt bắt chước theo Đơn Hùng Tín trong truyện "Thuyết
Đường": phàm trong đám du côn đứa nào đã chịu làm em nuôi của "Đại Ca
Tư Mắt" thì Đại Ca không khi nào bỏ, "hoạn nạn tương cứu, sanh bất tử
ly", không tiền thì Đại Ca cho tiền, không áo, Đại Ca cho áo, thậm chí khi
bị tù rạc thì có người nuôi ăn và cung cấp thuốc, bánh. Nhưng khi nào Đại Ca cần
dùng ra lịnh thì phải tuân hành, chết sống không kể thân, sai biểu chém ai, giết
ai là chém bất luận bà con thân thích.
Tư Mắt đi đến tỉnh nào xứ nào là em út rần rần, đứa theo ủng
hộ, đứa đến trình diện bái nghinh Đại Ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì người
khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh gọi mì vì đã có Đại Ca bao trả.
Nhưng phải nhớ "ăn của anh Tư thì sau nầy có việc chớ khá so đo cùng anh
Tư"!
Lính tráng kiêng dè nể mặt, cò bót miệng ngậm sáp cũng làm
lơ. Lịnh sai nã trốc đã ra mà tìm không có ai dám ra tay sanh cầm Tư Mắt: không
khéo có ngày mang thẹo, ăn dao của hàng em út anh Tư. Tuy vậy hết hồi vinh
quang đến hồi xuống dốc. Về sau Tư Mắt ăn năn vào chùa "Giác Lâm" Chợ
Lớn lần chuỗi bồ đề tụng kinh sám hối.
Thầy Sáu Ng.thì khác. Thầy mua Pháp tịch, lấy tên Tây là Paul
D. để rủi thời xộ khám thì được đãi hàng đặc biệt, liệt hàng phạm nhơn Âu tịch.
Về sau chạm phải viên chưởng lý Lafrique, Paul D. bị thâu chức dân Tây.
Thầy làm nghề chứa cờ bạc khắp vùng Sài Gòn Chợ Lớn, cao lâu
khách sạn phải nhờ Thầy Sáu "ủng hộ" thì mới mong hốt me xổ đề không
bị bắt hoặc bị bối phá đám giựt tiền. Thầy Sáu tổ chức rất là chu đáo. Mỗi tuần,
thầy sai người thân tín đem bao thơ lo lót trao tay đến tận nhà. Cứ đếm một tuần
nhựt "chơi" mấy ngày là trả "tiền xúp" mấy bữa. Bữa nào
không chơi được thì gọi "ngày ấy hôi", miễn trả tiền.
Trả từ trên xuống dưới và trả từ dưới lên trên, ông xếp, ông
chủ sự phòng, ông thông, ông ký, thầy đội chạy giấy, chú cai gác đường, anh
lính tay trơn cũng "ẵm tiền" thầy Sáu, nên mỗi khi có lịnh trên đưa
xuống dạy đi "bắt bài thầy Sáu chứa" thì Thầy đà hay trước, hay gấp mấy
lần: hay bằng ông xếp báo tin, hay bằng đội, cai, bếp, lính, mỗi người nắm được
giấy "mật lịnh" là lật đật gõ cửa "nhà người ngồi không chia của"
để giội tin sốt dẻo.
Giữa các người thọ của hối và thầy Sáu, còn một anh lợi hại
là tên cỡi xe đạp chở bao thơ đi phát từng nhà. Mỗi tuần anh chận lận "lấy
lên" của mỗi ông chút ít, mà nào ai hay biết, có biết chăng là những tay hốt
cái sòng me vì thấy anh ta vẫn có tiền cúng mỗi ngày mà không hầy hấn. Thầy Sáu
vẫn nghi nhưng vẫn ép lòng dùng đứa tớ bất lương nhưng tinh xảo, các ông vẫn biết,
biết mình bị "trút lọp" mỗi tuần hay ít bữa một đôi tuần bị một lần,
nhưng biết thì biết vậy chớ miệng nào kêu mà kêu với ai?
Nhắc đến Lafrique là nhớ đến ông chưởng lý mặt sắt "Thiết
diện vô tư", giới bất lương đều ngán và kiêng sợ. Thế mà có một lần họ La
vẫn bị qua mặt cái vù mà không hay biết, và bị một quan Việt bán đứng không ngờ.
Sự cớ như vầy:
Thầy Sáu bị họ La bắt bề tội chứa me cho vào tù một lúc; lúc
khám được ra rồi, Thầy treo giải thưởng: "Ai giỏi tài cám dỗ cho cá ăn
câu, cho họ La để Thầy tự do chơi ít lâu, thì Thầy đền ơn người ấy: tiền thưởng
mặt mười ngàn đồng bạc lớn, riêng mỗi ngày miễn "chơi thả cửa không ai bắt"
là có tiền xúp rắc rắc một trăm đồng ngày ấy, nguyện không sai lời. (Thuở đó,
thống đốc Nam Kỳ lương chưa đến ba ngàn bạc). Và có một thống đốc từng phân bì
ăn ít hơn viên cò xếp Chợ Lớn, vì lễ mễ lì xì của Tàu cho cò vô số đếm. Như vậy
bạc một trăm mỗi ngày, tính ra nhằm một tuần bảy bữa: 100$ x 7 = 700$, và mỗi
tháng hai mươi tám ngày, là 100$ x 28 = 2.800$. Trong khi ấy, viên chánh tham
biện Tây gần về hưu, nhứt hạng tham biện, lương tháng chín trăm và viên đốc phủ
sứ đặc hạng, lương tháng hai trăm năm chục đồng. Vì ham số bạc kếch xù, mà cũng
vì bấy lâu thua me sòng Thầy Sáu thâm thủng lần hồi vô phương cạy gỡ, vay hỏi bạc
Chà không được nữa nên có một ông Quận, ngồi cai trị một vùng có tiếng là xứ
cao su tốt nhứt trong Nam, ông ta nghĩ ra một diệu kế. Ông biết họ La có đồn điền
trong quận mình, nên một hôm xuống lãnh mạng với Thầy Sáu giao kết ngày ấy,
tháng ấy, Thầy Sáu cứ mở công khai sòng me tại số… đường… trong Chợ Lớn, nếu
không ai làm khó dễ thì Thầy phải giữ lời trao cho ông số bạc mười ngàn. Liền
khi ấy, còn tiền thưởng mỗi ngày một trăm hẹn hậu nhựt tri. Thầy Sáu ưng chịu.
Đến ngày hẹn, Thầy dẫn cái ngành thầu (ngân đầu) đến chỗ do ông Quận chỉ, kẻ trải
chiếu, người cầm chén hốt me, tay con đặt rần rần trọn buổi tối, từ đỏ đèn đến
khuya, thiên hạ vô ra nườm nượp không khác nào nhà Xéc (Cercle), có ba tăng, thế
mà lính tráng, biện Tây không một ai nói nửa lời. Thầy Sáu mừng rỡ ra mặt, xỉa
tiền thưởng mười ngàn không tiếc, mà mừng hơn ai ca, là ông Quận, ông chờ sẵn từ
hồi nào, ông thộp số bạc nhét vào túi ngon lành, lên xe đi một nước, không cần
đếm, lại còn dặn vói thầy Sáu hãy tiếp tục đi rồi sẽ hay.
Thầy Sáu quen mửng (lối) cũ, qua ngày sau, còn mời thêm các
tay sộp cho sòng me thêm cụp lạc. Đợi tay con đông đủ, chủ cái đương "nhập
thần", me đang xí mứng (vô cuộc) ngon lành, thì lính cò ụp tới xỏ xâu dắt
về bót, chỉ thiếu mặt chủ chứa, nhưng Thầy Sáu đã có người hy sinh ra chịu tội
thế. Té ra ông Quận quả là diệu thủ. Ngày trước ông mời họ La đến nha môn đãi
cơm thết rượu. Họ La vị lòng, vẫn cần dùng ông Quận để coi chừng coi đỗi sở vườn
và nhờ chăm nom ba "thằng cu li", đừng cho chúng nó trốn hoặc bỏ sở,
bởi thế nên khi nghe ông Quận ngỏ lời thiết yếu xin ông ban đặc ân nhơn ngày giỗ
tổ tiên trong Chợ Lớn, tại căn phố của nhạc phụ, số… đường…" đúng vào ngày
thứ bảy tuần tới, ngày ấy có anh em bà con cô bác tề tựu đông người và có đánh
bài ăn thua nho nhỏ cho vui đám ", họ La nghe chưa dứt lời đã gật đầu lia
lịa, về nhà còn không quên căn dặn cò bót đến ngày giờ đã định đừng khuấy rầy
ngày giỗ tổ tiên của người ta, nhưng chỉ ngày thứ bảy đó thôi, vào ngày khác có
xảy ra việc gì thì cứ phận sự thi hành. Bởi rứa nên việc hôm sau Thầy Sái đành
ôm hận vào lòng, tuy thất bại nhưng đối với Thầy, như bù mắt cắn voi, nào thấm
tháp chi thầy, hòng sợ!
Kể về thế lực, Thầy Sáu không làm quan, làm làng mà oai vệ
hơn quan làng bá bội. Chiều chiều, thầy ngồi xe hơi "sáu máy", tài xế
chánh và tài xế phụ đều vận y phục có lon chạy chỉ thêu, thầy rảo một vòng Chợ
Lớn lấy tiền xâu, thầy ghé cao lâu nào thì y như hẹn trước, tài phú kéo ngăn tủ
lấy bạc ra nạp không sai một xu nhỏ. Có khi thầy cao hứng lên lầu cầm chén
"xổ cái" giải muộn, mấy khi như vậy, các tay hổ kha (con bạc) đặt thả
cửa, nếu thầy thua đã có chủ tiệm bao thầu, chung trả đủ rồi sau sẽ tính toán với
Thầy. Mà cờ bạc như sòng Thầy Sáu, ai lại không ưa. Trước khi có bày ra Đại Thế
Giới, mấy mươi năm về trước, mà thầy đã sắp đặt ngăn nắp hẳn hòi. Tiệm cao lâu
nào do thầy tổ chức chỗ chơi, thì đèn đỏ đèn xanh báo hiệu đàng hoàng, lính
tráng hoặc du côn, bợm bãi không thể nào trèo lên lầu được mà hòng phá phách.
Chỗ chơi, khách vừa bước vào là đã có người đến dâng nước đá, nước cam giải
khát; mì cháo tha hồ muốn dùng cứ gọi tửu bảo hầu sáng đem lên, khỏi trả tiền,
thêm sẵn bàn đèn mời mọc, sập gụ bóng trơn, muốn giải phiền mấy điếu ngao, cũng
có đủ người, đủ chỗ cung cấp, thậm chí có người quá tham, thừa dịp nằm gần bàn
đèn tiêm tiêm, nướng nướng, nhét á phiện đầy hộp kalmine để đem về nhà hút sướng
thân khỏi tốn tiền, việc như vậy mà cũng không một ai chỉ trích, chiêu hiền đãi
sĩ đến thế là cùng!
Cờ bạc thì không đánh đặt bằng tiền mặt, vì dầu thế cũng phải
đề phòng để nếu khi bị bắt thì dễ chạy án; trong sòng sát phạt ăn thua với nhau
bằng "nút chí" hoặc bằng chiếc đũa, tùy màu sắc khác nhau, nút chí kể
là bao nhiêu đồng, chiếc đũa tuỳ màu sắc, là mấy chục mấy trăm, tùy giao kết
trước. Khách thôi chơi bước xuống lầu đến bàn tài phú, trao các vật ấy là có đủ
số bạc, không sai chạy xu nào cả.
Có khi khác Thầy Sáu ngồi nhà hàng uống rượu khai vị hoặc để
nghe em út phúc trình chỗ nào chơi, chỗ nào dẹp, chỗ nào có người phá đám, hoặc
cũng để khoe cô nhơn tình mới sắm! Lối ăn mặc của Thầy rất kỳ dị, nửa dọn bàn,
nửa mấy ông, mấy thầy. Buổi sáng thấy thầy diện bộ tussor (vải tơ tầm) bén
ngót, buổi chiều thầy tra bộ "quàng đông" hàng Bắc Thảo, chơn đi giày
escarpin! Một hôm thầy mặc y phục lụa đen, đơm sáu nút óng ánh là sáu hột kim
cương lớn cỡ đầu ngón tay út. Thầy đến gõ cửa phòng nhà ngủ Bá Lạc góc đường Lê
Công Kiều Chợ Mới, để nhờ thầy Tư Nên xem số tướng.
Tư Nên lúc ấy đang nổi danh, thoạt trông tướng mạo thầy, Tư
Nên cũng phải giả chước mệt mỏi xin hẹn qua ngày sau sẽ đến nhà đoán vận mạng
luôn cả hai ông bà mới chắc chắn hơn. Sau, thầy Tư Nên nói riêng với tác giả
bài nầy (V.H.S). rằng sở dĩ hôm ấy thầy không dám trổ tài, là vì thoạt tiên thầy
thấy một người mặt mày dữ tợn, ăn mặc khác thường, trong ý Tư Nên định: nếu đó
là "ăn cướp sát nhơn" thì sao chưa ngồi tù, còn nếu đó là "trưởng
giả phú hào" thì sao hình thù tướng mạo lạ lùng đến thế?
Tư Nên đưa khách ra cửa, nhớ số xe nên sau nhờ hỏi người xa
phu (tài xế) biết được đích thị đó là thầy Sáu Ng. Qua ngày kế đó, Tư Nên đến
nhà xem cả chỉ tay hai vợ chồng Thầy Sáu, và nhờ biết trước nên đoán không sai
một mảy. Nào số thầy ngồi không chia của, tướng Đơn Hùng Tín đời Đường. Nào năm
tới đây, chỉ tay thầy đứt đoạn nơi đường sanh mạng, lẽ đáng năm tới thầy bỏ
mình. Nhưng may sao tay của vợ thầy không có số chết chồng, nên đổi lại năm tới
đây thầy và cô sẽ cách mặt nhau, hoặc nhẹ thì do một cuộc đi chơi xa, Đông du,
Tây du nào biết, hoặc nặng thì thầy sẽ bị ngục hình tù tội. Tư Nên nói rất nhiều,
Thầy Sáu khen lấy khen để, và về sau, nghiệm ra không sai một lời, quả nhiên Tư
Nên đáng là bậc kỳ tài trong khoa tướng số.
Thầy Sáu sau nầy bị kẻ khác mạnh thế lực hơn giành nghề, thêm
hết thạnh đến suy, về già thầy đánh đâu thua đó, lại bị bạn hữu trở mặt cướp mất
một số tiền to tát, nên thầy bán cả hai nhà lầu xinh đẹp, và tỵ trần trong một
nhà dưỡng lão gần Sài Gòn. Em út, như bồ câu hết lúa, không một đứa cho thầy thấy
mặt, lúc lâm chung.
Tác giả bài này được mục kích năm 1927 - 1928, một vụ Thầy
Sáu xử kiện và lên án đày lưu một chú chệc chuyên môn đổ tam hường lận (ăn
gian).
Bà Phán K. đến xẹc (cercle) của Thầy Sáu trong Chợ Lớn. Nơi
đây, mỗi đêm có một sòng tam hường ăn thua mỗi thẻ hường là năm đồng. Chú chệc
tráo hột, ăn bà K. sạch túi, hơn ba ngàn bac. Sau có người mách mánh lới gian,
bà K. đến thưa tự sự tại nhà Thầy Sáu. Thầy lật đật sai em út quần khắp chợ Bến
Thành và trong Chợ Lớn, may sao gặp được chú, lập tức mời chú đến nhà riêng của
Thầy, có cả bà Phán đối nại và các tay em út thính lịnh. Thầy Sáu tra hỏi kỹ
càng, xét quả đúng như lời bà K. than phiền. Thầy xử chú phải trả đủ số bạc
gian lận cho bà K. Trả rồi, thầy lên án: "Sòng bài xẹc tôi tổ chức ăn thua
sòng phẳng. Bà Phán đây tôi vẫn kính trọng là anh, là chị của tôi. Nay nhà
ngươi đến phá đám. Tội ngươi nặng lắm, nhưng nể lời bà đã xin tha, thì tôi cũng
tha cho làm phước, duy tự hậu, tôi cấm nhà ngươi tốt hơn đừng héo lánh tới Chợ
Bến Thành, đất Sài Gòn và nhà xẹc của tôi. Em út, nghe dặn: Đứa nào gặp mặt hắn
ở đâu thì "mần" hắn cho tôi. Có bề nào tôi chịu!" Lạy lục năn nỉ
cách mấy cũng không xiêu lòng, chú đành cuốn gói trở lên Nam Vang hành nghề. Rủi
ro bị bắt, bất quá ngồi tù ít lâu. Với Thầy Sáu, không được như vậy. Như thuở
kia đối với Tư Mắt, Thầy Sáu có em út thừa hành phận sự, hễ không cho ở được một
chốn nào thì chỉ có một nước phải tuân lịnh thầy mới mong bảo toàn sanh mạng;
cãi lịnh, đoàn em út Thầy Sáu "ăn thịt" có ngày.
Thầy Sáu còn có một phương pháp nuôi em út cũng ngộ. Tuỳ đứa,
tuỳ tài, thầy dùng theo chỗ: đứa gác đường, đứa giữ cửa, đều có phận sự và có
lương ăn. Gặp khi túng bấn hữu sự, em út đến xin tiền, thầy Sáu chỉ ngay giỏ giấy
bạc cũ rách và thiếu miểng, thiếu góc, do tiền hồ, tiền xâu dư lại: "Đó! mặc
ý. Đứa nào ráp mót được bao nhiêu thì lấy đem về mà xài!" Đôi bên đều thoả
thuận như vậy, nhưng than ôi, giấy còn khá khá, giấy ít hư hao đã được o bế từ
đêm trước kia rồi, nhà Thầy Sáu có nuôi cả một bộ Ba Tàu chăm nom và đếm giấy bạc,
có thua gì nhà băng!
Kể về bộ quân sư của Thầy Sáu cũng tài tình lắm lắm. Thưở đó,
một học giả (vừa mới mất), ông chuyên viết báo, và Pháp văn của ông rất đanh
thép, rất mực phong lưu, nhà viết báo Maurice Monribot đã từng bái phục, ví văn
ông như văn Anatole France pha mùi Buffon. Ông làm chủ nhiệm một tờ tuần báo rất
được đồng bào chú ý. Ông bình sanh rất thích xem đánh võ đài và có tánh ưa đến
gần. Mê xe hơi kiểu mới lạ, chạy êm, chạy lẹ. Thú tiêu khiển của ông là hằng
ngày, ăn vận chỉnh tề, ngồi ngay ngắn nơi băng sau, để tài xế đưa đi dạo phố
phường, bến tàu, lăng Cha Cả. Nhưng tánh ông rất ghét bạc bài và bổn tánh rất
thanh liêm thẳng thắn. Nghe Thầy Sáu chứa bài nơi đâu là số báo sau có ít hàng
của ông chỉ trích. Thầy Sáu sợ lắm và nhột quá, mượn người tin cậy đến xuống nước
quy hàng và xin nạp ông mỗi tuần một số bạc to tát. Nhưng không bao giờ ông khứng
hạ mình lãnh số tiền nhơ nhớp ấy. Thầy Sáu đăm chiêu nhưng cũng chẳng biết làm
sao.
Cách ít lâu, ông muốn sắm xe hơi, nên đăng báo tìm cách bán
xe cũ. Một chú Ba Tàu đến ưng mua với một giá cao hơn giá ông định khá nhiều.
Ông mừng thầm trúng mối và vui lòng bán xe, thơ thới và khoan khoái như một
quân tử làm một việc thanh thiên bạch nhựt. Ông vẫn y như cũ, thẳng tay "bố"
Thầy Sáu nếu dịp đưa đến.
Nhưng ngờ đâu, kỳ Thầy Sáu chứa bài sau vụ ông bán xe, ông
đành ngơ mắt, giả đui, giả điếc, vì vừa dợm viết thì mặt thằng Ba Tàu ló
ra: "Hè! Tội nghiệp mà! Ngộ đâu có tiền mua xe của ông! Mua xe của ông, hè,
là tiền của Thầy Sáu lớ! "
Phần VII
Nhơn vật Hoa kiều hồi Tây mới qua
NHỮNG NHƠN VẬT TRUNG HOA ĐẶC SẮC NHỨT TỪ BUỔI TÂY SANG NAM VIỆT
Trong sách khảo về Tôn Thọ Tường, ông Khuông Việt có ghi nơi
trương 51 và 52 rằng năm 1866 có cuộc đấu xảo đầu tiên trong xứ và qua ngày mồng
Bốn tháng Ba có bày lễ phát phần thưởng trước mặt quý ông: Tôn Thọ Tường, tri
phủ Trần Tử Ca, tri huyện Nguyễn Văn Thi, giáo sư Trương Vĩnh Ký, cùng những
ông: Carneiro, Sémane, Manmehdorff, Dunlop, Mettler, Wang Tai và Tấn Phát.
Tôi không truy nguyên rõ Tấn Phát là người quốc tịch nào. Đến
như Wang Tai, các sách được đọc đều ký âm theo Pháp Văn, không có ghi chữ Hán
kèm theo, nên không tài nào biết danh tánh ông cho rõ, họ Vương hoặc họ Hoàng,
v.v…? Chỉ thấy nói ông Wang Tai có nhà ở Sở Thương Chánh hiện nay và ông là một
thương gia tên tuổi nhứt nhì buổi giao thời.
Về các nhơn vật tăm tiếng lẫy lừng của giới Trung Hoa xin kể:Hui Bon HoaTục danh "Chú Hoả, mặc dầu về sau danh vọng lớn, địa vị
cao, cũng không ai gọi "Ông Hoả" bao giờ. Sớm nhập Pháp tịch, nên ký
âm theo Pháp ngữ làm vậy rồi gọi như vậy cho đến đời đời, không rõ theo Hán tự
hà danh hà tánh? Đến nay các con cháu luôn luôn hoà thuận, gia tài giữ nguyên vẹn
không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mỗi khi cần dùng một số
tiền to tát thì người trong họ phải xin chữ ký của người trưởng huynh khi ấy
ngân hàng mới phát bạc. Nhờ giữ gìn có phương pháp cho nên sự nghiệp Hui Bon
Hoa ngày càng đồ sộ thêm mãi, không sứt mẻ mảy may nào. Sơ khởi chú Hoả nghe
đâu hùn hiệp với một người Pháp bao thầu khuyếch trương các tiệm cầm đồ (Mont
de piété) trong Nam Kỳ. Về sau rã hùn, người Pháp được chia một số tiền to lớn
và làm chủ vĩnh viễn các sản nghiệp đất cát miền Lục Tỉnh. Hiện nay, phố xá Sài
Gòn một phần lớn là của Công Ty Hui Bon Hoa làm chủ. Nhưng công ty nầy được tiếng
là "rất biết điều" và không eo xách, làm khó người mướn phố.Nói đến Chú Hoả, tất nhiên phải nhắc lại đây các bang trưởng,
chủ nhà máy, lò gạch, tiệm buôn lớn, những tay cự phú tuy làm giàu cho họ đã
đành, nhưng cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thạnh vượng kinh tế miền
Nam, trong số tôi chỉ biết sơ những vị sau này, và rất mong các bậc lão thành bổ
túc cho thêm đầy đủ.Chú Hỷ(Khuyết danh tánh) - Có tàu chạy khắp Lục Tỉnh, hễ đường nào
có tàu Tây hãng Vận tải đường sông rạch (Compagnie des Messageries Fluviales)
thì có tàu Chú Hỷ (như ngoài Bắc có công ty Bạch Thái Bưởi) chạy kèm, giá vé rẻ
hơn, cơm nước dễ chịu, bộ hành cũng biệt đãi hơn, nhưng về giờ khắc thì không
đúng hẳn như tàu hãng Pháp. Đến bây giờ, còn câu thường nhắc:"Đi tàu Chú Hỷ, ở phố Chú Hỏa"Nam LongCó nhà máy xay gạo bán ra ngoại quốc.Nam HảiNay còn nhà ở đường Nguyễn Văn Sâm (d'Ayot cũ).Di Sanh LongTiệm bán thuốc Bắc tại Chợ LớnNhị Thiên ĐườngNay vẫn cònĐồng ThạnhTiệm bán vàng lá danh tiếng. Chuyên bán vàng nguyên chất đánh
ra lá mỏng, cân đúng một lượng, ngoài gói giấy trắng, trong gói một lớp giấy bạch
và một lớp giấy đỏ và có in hình con ngựa. Trung bình mỗi lượng vàng thuở trước
là năm mươi, sáu mươi đồng bạc "con cò" (piastre mexicaine). Đến năm
1919, vàng sụt giá còn lại mười tám, mười chín đồng bạc Đông Dương mỗi lượng.
Qua năm 1943 - 1944, Nhựt đổ bộ, vàng vọt lên một trăm đồng, sau một trăm năm
chục đồng một lượng. Ngày nay mỗi lượng lên xuống bốn ngàn, năm ngàn bạc giấy
có hơn, thiệt là một trời một vực.Vi Kính TrangLà ông thầy coi tướng, mỗi lần xem năm cắc bạc, mà nói phong
phóc, hay vô cùng. Nhà ông ở trên gác ngõ hẻm rue des Artisans, phía đường Cháo
Muối (rue des Marins) trở vô.Tja Ma YengTục danh Má Chín Dảnh, họ Tạ, giàu có danh trong Chợ Lớn, vân
vân và v.v…Nhưng nhơn vật điển hình nhứt thời lối 1920, có lẽ là Quách
Đàm.Quách ĐàmXuất thân mua bán ve chai. Sau kèm thêm mua da trâu, vi cá,
và bong bóng cá. Ngày ngày thả rong làng xóm, hai giỏ tre trên vai, quản bao
mưa gió. Buổi trưa Đàm thường nằm nghỉ lưng hàng ba phố trống, ghe phen bị một
phu vác lúa làm khổ, móc túi Đàm lấy giấu giấy thuế thân để chẹt Đàm chuộc năm
xu, một hào, mỗi bữa có đủ tiền uống trà giấc trưa. Như vậy mà Đàm không thù hiềm,
khi đắc thời Đàm tìm cho được anh phu, ân cần mời về cho làm cặp rằng xếp bọn
vác lúa, không khác chuyện Hàn Tín đối đãi với tên ác thủ đời Tây Hán. Đàm nhờ
lanh trí, nhập giới thương mãi thấy việc mau lẹ hơn ai, nên làm giàu cấp tốc.
Đàm hút nha phiến đêm ngày, đèn không tắt, giao thiệp lựa toàn quan to, thậm
chí Thống Đốc Nam Kỳ Cognacq, làm cao không ai có, thế mà cũng hạ mình cầu thân
với Đàm.Đàm mua đất vùng Bình Tây nguyên là đất ruộng, mua xong Đàm
nghĩ ra một kế để biến đất ruộng trở nên đất thổ trạch châu thành. Đàm hy sinh
một số vốn to tát, tự mình xuất tiền đúc một chợ ciment cốt sắt vĩ đại, nay vẫn
còn đồ sộ và khéo léo, quen gọi Chợ Quách Đàm (Chợ Bình Tây).Đổi lại ơn kia, Đàm xin chánh phủ đặt tượng đồng của Đàm nơi
cửa chánh môn. Tượng do Đàm xuất tiền đúc nắn, ăn vận triều phục Mãn Thanh, nón
nhỏ, áo ngắn phủ trên một chiếc áo thụng, đầu để bín, tay cầm một bản đồ, dưới bệ
đá trắng có mấy con giao long bằng đồng phun vòi nước bạc. Chợ xây rồi, chung
quanh đó, Đàm dựng nhà lầu kiểu phố buôn bán và toa rập với chánh phủ Pháp định
dời Chợ Lớn về đây, trước dẹp chợ cũ xấu xí, sau mở mang thành phố cho thêm
tráng lệ. Không ngờ địa lợi chưa thuận, thêm dân cư thưở ấy không được đông đúc
như bây giờ, vả lại các thương gia Huê Kiều đã yên nơi yên chỗ cũng không muốn
dời phố mới xa xuôi thêm hao tốn: Đàm thất bại một phần nhưng không lấy đó làm
mối lo.Để thấy mánh lới, gan dạ của Đàm, kể ra đây một tỷ dụ:Một năm nọ, Đàm sai mua lúa khắp Lục Tỉnh trở về trữ ngập kho
ngập chành trong Chợ Lớn, chờ ngày chuyển sang thị trường Tân Gia Ba. Xảy đâu
tin dữ bên Singapore gởi qua cho hay lúa ối và sụt giá! Cứ đà này, lúa của Đàm
dự trữ đã mất lời mà còn phải chịu lỗ lã, số tiền hao hụt không thể tưởng tượng.
Đàm vẫn bình tĩnh như thường, lại ra mật lịnh cho bọn tay sai Lục Tỉnh cứ tiếp
tục mua lúa thêm mãi, giá y cựu lệ, như không có việc gì xảy đến. Chẳng những vậy,
Đàm còn hô hào dạy cứ mua giá có thể cao hơn trước mỗi tạ một vài đồng xu để
người bán ham lời không bán cho người khác. Một mặt, Đàm gởi mật thơ cho đại diện
bên Tân Gia Ba căn dặn tống sang đây một điện tín khẩn cấp đồn đãi rằng lúa sắp
vọt giá lên cao hơn nữa… Quả nhiên, các nhà buôn lúa cạnh tranh với Đàm, tuy
kinh nghiệm có thừa, nhưng không thoát được quỷ kế của Đàm. Các chành ùn ùn xúm
nhau kiếm mua lúa với giá cao để có đủ số ăn thua cùng Đàm. Đàng này, tuy nằm
hút á phiện, nhưng Đàm vẫn lén sai bộ hạ bán đổ bán tháo lúa dự trữ bấy lâu ra
gần sạch kho. Lúa Đàm bán xong, các nhà buôn kia cũng vừa ngưng mua, thầm biết
mắc mưu độc. Các nhà buôn đã chia nhau mua lúa của Đàm, chia nhau gánh lấy sự lỗ
lã của Đàm, và phen này hú hồn. Đàm nằm hút cười thầm "kế mượn tên" của
Gia Cát Khổng Minh lẩm rẩm mà thâm thúy vô cùng, và ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm.Kể ra Đàm rất nhiều cơ mưu, và trong thương giới quả Đàm là một
tay lợi hại. Đàm tuy là một khách trú không mấy ai biết nhiều, nhưng ai biết được
Đàm cũng đều cầu thân để cậy nhờ nhiều việc. Một hội viên hội đồng quản hạt chở
mía cây đến bán cho Đàm, ngồi chờ Đàm hút, dạ thưa kính nể còn hơn vào chầu Thống
Đốc, để chi? Để Đàm vui dạ, khứng mua cao lên vài xu và mua gấp để mía khỏi
"rượu" và "mất cân" được đồng nào hay đồng nấy.Về sau, Đàm giàu quá, xoay qua đứng bảo lãnh (avaliser) cho
con nợ nhà băng "Đông Dương Ngân Hàng". Mỗi lần xin chữ ký bảo chứng,
phải chịu cho Đàm một huê hồng đã quy định trước. Dè đâu gặp năm kinh tế khủng
hoảng, các nhà buôn vỡ nợ không đủ sức trả bạc vay, nhà băng phát mãi sự sản,
lôi kép nhà họ Quách sụp đổ theo luôn.Nhà buôn Quách Đàm lấy hiệu "Thông Hiệp", trụ sở ở
Quai de Gaudot, nay là đại lộ Khổng Tử, nhưng thời ấy còn là một con kinh chưa
lấp.Tương truyền khi sắp phát tích, Đàm đến nhờ một thầy Tàu cho
chữ hiệu. Ông thầy Tàu ngồi thềm đường viết liễn Tết thung dung hỏi Đàm làm nghề
gì? Đàm thưa: "mua bán da trâu và vi cá chở đi xứ ngoài". Thầy Tàu
suy nghĩ giây phút rồi viết cho hai chữ: "THÔNG HIỆP" vừa mạnh vừa tốt,
lại kiêm theo hai câu liễn:"THÔNG THƯƠNG SƠN HẢI (trâu: sơn, cá: hải)"HIỆP CÁN QUÀN KHÔN"Thiệt là tuyệt diệu! Đàm mừng khấp khởi, khắc bảng phết son
thếp vàng.Quả thật từ đấy việc làm ăn của Đàm ngày một phấn chấn, thịnh
vượng, bành trướng khắp biển Đông núi Việt. Số tiền lời không xiết kể. Khỏi
nói, từ đó năm nào Đàm cũng không quên công ông thầy Tàu cho chữ.Đến chừng bị nạn kinh tế, gia tài sụp đổ, Đàm không trách nhà
buôn do mình bảo lãnh sai lời, để mình "chết theo một bè". Đàm chỉ
căm thù ai kia đã lấp con kinh trước nhà, làm "hư phong thủy". Đàm
đinh ninh tin tưởng vào lời thầy địa lý năm xưa, dạy rằng chỗ Đàm đóng đô là
"đầu một con rồng", khúc đuôi nằm tại biển cả! Dặn coi chừng đừng cho
lấp kinh, tức lấp "mạch rồng", và nếu một mai mạch rồng khô cạn, nguy
cho cơ nghiệp họ Quách.Phố lầu chỗ Quách Đàm buôn bán thuở ấy, Đàm mướn mỗi tháng đến
ba trăm đồng bạc. Đàm nài mua lên nhưng chủ không ưng bán. Đàm dư tiền nếu muốn
xây cất bao nhiêu nhà to đẹp lại không được, nhưng Đàm vẫn tin "cuộc đất
làm ăn khá", mắc bao nhiêu cũng không nệ, và chẳng khứng bỏ cuộc thế ấy để
đi chỗ khác: lấp con kinh "sinh mạng", Đàm giận cũng phải!Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn đưa không
thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi đường có việc, miễn nối gót
theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve và
riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy "ngẫu" (năm đồng bạc) đền
ơn có lòng đưa đón.Một phú gia giàu sang bực ấy, mà nay còn gì? Gần chùa Giác
Lâm trong Chợ Lớn thuộc ranh tỉnh Gia Định, một ngày mới đây, tôi thấy một bầy
bò sữa đứng ăn cỏ trên một ngôi mộ có vẻ hùng tráng nhưng trơ trọi điêu tàn. Cạnh
bên là một đám ruộng khô chứa một đống rác to bằng đống lúa chưa vô bồ, ruồi muỗi
lằn xanh bay vù vù như một đám nhạc hỗn độn.Địa thế "hữu bạch hổ" không còn; "tả thanh
long" và ruộng nọ đang lấp, còn chăng là bầy bò nhơi cỏ gần đống rác và mớ
ruồi lằn, ấy là hiện trạng ngày nay của mộ phần "phong thủy" ông
THÔNG HIỆP.Phần VIIITÂY ĐẾN RỒI TÂY LẠI ĐI… (1859 - 1946)Kể về người Pháp sang đất Sài Gòn, trong số những người tiền
phong phất cờ, phần nhiều lắm người hữu học, thông thái:- Aubaret, lão thông chữ Hán, từng cầm đầu phái đoàn phiên dịch
trợ lực sứ đoàn Phan Thanh Giản sang triều Napoléon III thương thuyết việc chuộc
ba tỉnh miền Đông xứ Nam Kỳ. Có soạn một bộ văn phạm Việt Nam (grammaire) và dịch
một phần bộ Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức ra Pháp văn.- Luro dạy luật học và phong tục học tại Trường đào tạo các
tham biện, tục gọi Collège des Stagiaires (trường ở chỗ học đường Taberd hiện
nay), đồng một thời cùng các giáo sư Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh
Của.- Philastre dịch bộ Hoàng Việt Luật Lệ (Code de GiaLong).- Doudard de Lagrée, Francis Garnier, là nhà thám hiểm, kẻ đi
khảo sát sự lưu thông hai sông Mékong, Nhĩ Hà (sông Hồng) người tìm ra cảnh Đế
Thiên, Đế Thích (Angkor).- Sylvestre khảo về cổ tiền và luật bản xứ.Nếu nhắc lại đây, tưởng không sao kể hết. Ngoại trừ phần tử xấu,
thực dân hạng nặng, qua đây vơ vét bóc lột, và tàn bạo, thì giới mô phạm, giới
y tế, - phải nhìn nhận - đã để lại nhiều kỷ niệm tố vì làm tròn nhiệm vụ khai
hoá trí óc, nâng cao sức khỏe người Việt không ít.Cuối thế kỷ XIX, bắt đầu thế kỷ XX, Nội các Pháp ngán tài xuất
chúng và tánh cứng cỏi của Paul Doumer nên tìm cách không cho ông ở Paris và
"trấn" ông sang làm Toàn Quyền Đông Dương (1897). Doumer có tánh độc
tài tự quyết nhưng rất thanh liêm, ông muốn mở mang xứ Bắc Kỳ để nhử nước Trung
Hoa, không thiết khuếch trương thổ sản đất Nam Kỳ. Trái lại, Paul Blanchy là Chủ
Tịch Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ lại muốn mở mang miền Nam hơn xứ Bắc. Do đó hai
nhân vật này không thuận với nhau, nhứt là về cuộc xuất phát chi tiêu công nho
thuộc địa (budget colonial). Paul Blanchy mất tháng chạp 1901. Paul Doumer mùa
xuân 1902, sang Pháp rồi ở luôn bên ấy không trở qua Đông Dương nữa. Blanchy và
Doumer đã ghi đậm dấu chơn tại đây, mỗi người mỗi cách… Gì thì gì, hai người đã
mở đầu một nghệ thuật mới mẻ trong xứ: nghề viết báo, trước bành trướng tại Sài
Gòn, sau mới tung hoành đất Thanh Long.Tờ l'Opinion" (Lucien Héloury chủ trương), tờ "le
Courrier Saigonais "(Paul Blanchy làm chủ), tờ "La France
d'Aise" của Héloury giao lại cho bà Luoise Alcan bỉnh bút thì cực lực bên
vực Paul Blanchy.Riêng tờ "le Mékong" do hai anh em Le Riche biên soạn
thì mật lãnh phụ cấp và triệt để ủng hộ Paul Doumer.Thời này là thời ký giả Pháp có dịp ẩu đả ngay giữa quán rượu
hoặc đánh gươm, bắn súng lục trong các cuộc đánh gươm rửa hận "duel".Ký giả Julien Delpit nhờ Doumer làm mai, cưới vợ là ái nữ ông
Lê Phát Thanh, triệu phú. Delpit lêu lổng xài hết sự nghiệp của vợ rồi đưa nhau
lên Lào làm công chức.De Lachevroti ère xuất thân làm cho báo"L'Opinion"
ngày nọ đến xin chủ cho lên lương, muốn xin được bốn trăm đồng bạc một tháng,
Héloury không nhận lời, de Lachevrotière nhảy ra lập tờ"l'Imparatial"
do Camille Aymard mua lại của Gallois Montbrun.Ganesco, dòng dõi một nhà viết báo Pháp có tên tuổi, qua đây
làm đầu phòng văn cho Thống Đốc Rodier, nghĩ ra viết báo, rồi nhảy trở vô quan
trường, đổi xuống làm tham biện tỉnh trưởng trường Tân An. Để kéo dân Sài Gòn
xuống đất Tầm Vu ăn chơi ngày chúa nhựt và cũng để giành mối Hội Đua Ngựa, lão
tham biện "công tử bột" nầy bày ra cuộc thi chó bắt chuột gọi
"ratadrome" (Lamagat, tr. 171).Vào thời ấy, mỗi ly rượu khai vị (consommation) thứ mắc tiền
nhứt như abinsthe, chỉ có hai cắc bạc (0 đ 20) một ly cối.Khởi đầu, dùng đèn dầu lửa (dầu hoả) đã là sang, vì trước kia
ta thắp đèn dầu phộng, đèn mỡ cá. Dân chúng muốn đi đêm phải xách đèn lồng, đèn
tắt thì lính kêu phạt tội vi cảnh. Các nhà số, nhà điếm, thì có đèn đỏ, đèn
xanh. Sau nầy xài đèn khí đá (carbure). Tết đến, lấy ống chì bắt bông mai, cắm
lộc bình, đốt lên, mỗi cái hoa là một đóm đèn sáng rực, con nít và dân quê ngó
không nháy mắt. Rồi đến thời kỳ xài đèn ét xăng có man chon sáng xanh, chiều
chiều có anh phu dạp xe chạy thắp đèn ngoài đường, danh gọi "le
lampiste". Rồi bắt qua đèn điện có xài than, rốt lại mới có đèn ngày nay,
điện hay néon…Nhà quan viên thì dùng quạt làm bằng vải bố kaki căng trong
khung treo trên trần nhà, có dây rỏ rẻ và sắm chú "bồi" con ngồi kéo
quạt (panca, panka, punka).Nay xin nói sơ qua về cuộc đời an nhàn của những năm về trước
trong giới Pháp kiều.Đầu thế kỷ XX, ra khỏi Sài Gòn hai mươi cây số ngàn (20km) đã
là xa xôi lắm. Tha hồ săn bắn; heo rừng, nai, cà tong… Xa vô chút nữa thì trâu
rừng, con min, cọp, voi không thiếu gì. Hoàng tử Henri d'Orléans dòng dõi Vua
Henri IV, Thái Tử xứ Đan Mạch Waldemar và công tước Duc de Montpensier đua nhau
thường năm dứt mùa mưa lối tháng mười ta là có mặt tại Sài Gòn, lấy sự săn bắn
thú dữ làm món tiêu khiển phong lưu. Công tước Duc de Montpensier xài tiền như
nước, mua nhà hàng Continental tặng cho cô nhơn tình là Bá tước Comtesse de B…Sài Gòn muốn đi Nam Vang phải mất trọn một tuần lễ chớ chẳng
chơi, vì mỗi tuần chỉ có ba chuyến tàu khứ và hồi. Nếu phải kể ở lại trên đó bốn
mươi tám giờ chờ tàu, toi mất bảy ngày dễ quá, nhưng trên tàu, thú vui trời nước,
đọc sách đánh bài tiêu khiển, duy ban đêm chưa có đèn điện, còn dùng đèn cầy và
đèn dầu hoả, thêm nạn tàu ghé Cù lao Giêng thì đúng giờ ăn cơm tối, bọ xích và
muỗi đen bay vãi vào mặt vào họng và thức ăn.Hãng tàu chạy sông "Méssageries Fluviales" sáng lập
năm 1883 -1884. Sau đổi là "Compagnie Saigonaise de navigation", đầu
tiên do Jules Rueff làm chủ sáng tạo. Rueff quen thân với Vua Hoàng Lân
(Norodom). Rueff bán đồng hồ reo, đồng hồ chuông, đồng hồ bỏ túi, cho Norodom
mà dư sức làm giàu. Rueff mướn bọn thuyền chủ (trong Nam gọi Cò Tàu), tuy người
quốc tịch Lang Sa nhưng trả lương chỉ có bốn chục đồng bạc mỗi tháng, tính mỗi
tuần mười đồng. Thế mà bọn nầy đều làm giàu ngang xương, đủ tiền nuôi em út,
còn nuôi thêm ngựa đua, vì tàu chạy đường Sài Gòn qua Bangkok, chuyến đi thì chở
"lậu" súng lục, chuyến về chở "lậu" thuốc phiện, không mau
giàu sao phải. Ông Henri kể lại chuyện một cò tàu chở thuốc phiện lậu, khi tàu
đến gần thương khẩu Sài Gòn thì sai neo thùng thuốc phiện buộc chùm với chiếc mỏ
neo chìm lỉm xuống nước chờ lính đoan xét tàu xong rồi trục vớt lên. Có một lần
nọ, lính đoan biết kế, đón tàu từ hòn Côn Sơn, xuống nằm ỳ dưới tàu chờ về địa
phận Sài Gòn sẽ ra tay lục xét. Vỏ quýt dày, có móng tay nhọn. Dọc đường, viên
cò tàu bơm ngọt, phục rượu Tây đoan say vùi, chờ khi sang tất cả số đồ lậu thuế
qua thuyền nhỏ phi tang đâu đó xong xuôi, khi ấy Tây đoan tỉnh giấc, chỉ còn nước
chạy giấy phúc trình: "trên tàu, xét kỹ càng không một món đồ nào lậu thuế"!Năm 1905 đã có vấn đề "nước uống" đem ra bàn cãi tại
hội đồng thành phố. Công ty Nhà Đèn xướng ra thuyết ít tốn kém cho ngân quỹ là
đào thêm giếng lấy nước ngọt ngay tại chỗ. Hãng Balliste có thế lực lớn lại đề
nghị dẫn nước thác Trị An về và như thế đô thành sẽ có dư điện lực do sức mạnh
của nước làm ra, vĩnh viễn không lo khan nước khan hơi điện. Năm 1904, Xã Tây
Cuniac sang Pháp định vay tiền mẫu quốc mười hai mười ba triệu quan gì đó để
thi hành chương trình Balliste. Nhưng Cuniac gặp trở ngại; khi trở về Sài Gòn
thì xin từ chức xã trưởng thành phố, và vấn đề "nước ăn nước uống"
cho đến ngày nay vẫn chưa dứt khoát.Vấn đề "đổ bác đổ tường" cũng được chú ý đến. Tuy có
lịnh cấm cờ bạc, nhưng cấm lấy chừng, ngày tư ngày tết, các chú hốt me tận
ngoài đường cái, những thương gia đầu tắt mặt tối quanh năm cũng nghỉ xả hơi,
đóng cửa, cầm giấy đỏ có đề bốn chữ"cung hạ tân xuân", vừa đi thăm bè
bạn ba bữa đầu năm, vừa ghé sòng bài thử thời vận. Nhà hàng"Hôtel de
France" đường Catinat, trong ba ngày Tết, Hoa Kiều mướn chứa me đến hai chục
ngàn đồng một ngày. Dòm vào sòng "đuôi sam" nhiều không thua khăn
đóng và khăn quấn đầu rìu. (Lamagat, trương 135).
Năm 1906 Jean Duclos chở ngựa lớn con, giống A Rập từ Hà Nội
vào cáp độ Trường Đua Sài Gòn, báo hại nhiều nhà thua phá sản. Qua năm 1912, de
Monpezat cũng làm mửng ấy và chủ ngựa Hà Nội vét túi bọn trong Nam.
Câu Lạc Bộ thể thao "Cerclie Sportf" cũng ra đời lối
năm 1912.
Lão Mézin, với hai bàn tay trắng, qua đây khai phá ruộng tỉnh
Cần Thơ làm nên đồn điền "domaine de l'Ouest".
Lão Gressiercòn giỏi hơn nữa, cỡi trâu chạy đua với ngựa, và
khai hoang mở rộng vùng Phú Lộc (Sóc Trăng).Hai người sống ở ruộng nhiều hơn ở đất Sài Gòn. Gressier cày
sâu cuốc bẫm củi lục làm ăn ròng rã ở đây bốn chục năm dài không về Pháp quốc
chuyến nào.
Lão Vidal,xin thôi làm sĩ quan thủy quân, ở thiệt thọ tại Sài
Gòn cưới vợ Việt Nam, tập ăn trầu nhai bỏm bẻm, được tôn làm đại hương cả làng
Phú Nhuận. Khi mãn phần, di ngôn dạy chôn cất theo đạo Phật, có thầy chùa tụng
kinh siêu độ, đám táng dùng nhà vàng và đạo tỳ đòn rồng, đòn bông khiêng vai
(vì thưở ấy chưa có xe tang ô tô) và thêm có hò đưa linh ấm đám. Tôi nhớ rõ việc
nầy vì năm ấy tôi còn làm việc tại trường máy đường Đỗ Hữu Vị, chủ trường là
quan năm Rosel sai tôi dẫn đường viếng tang Vidal, đến nơi thấy nhà vàng và thầy
chùa gõ mõ, ông cật vấn nhiều lần vì tưởng đã lầm nhà.
Lão Fernand Lafonmua đất châu thành và lập nghiệp tại góc đường
Lê Văn Duyệt và Hồ Xuân Hương (Verdun Colombier) gần chùa Xá Lợi và trường Áo
Tím, nay là Nữ Học đường Gia Long; đất ấy Lafon mua với giá năm cắc bạc (0 đ
50) mỗi thước vuông.
Tên Chà Và bán sữa tươi có một bầy bò thả ăn rong trên đất của
đô thành. Chánh phủ ép phải mua đất trên Tân Sơn Nhứt để lấy cỏ cho bò ăn, Chà
ta khóc ròng và chạy tiền mua; ngày nay Chà cười vì đất "chó ỉa" một
thước vuông một, hai cắc bạc, nay đắt hơn vàng khối.
Tiền bạc trong xứ, khi cần dùng tạm bợ thì phải vay hỏi nơi
Chà Chetty ở xóm Ohier (nay vẫn còn chỗ cũ) tuy cho vay cắt cổ mà không bạc Chà
lấy đâu có vốn làm ăn? Mỗi năm rằm tháng Giêng, Chà bày cộ đèn, đưa thần Civa
(tượng đúc bằng bạc ròng) dạo chơi đường phố, mua bán tấp nập suốt đêm.
Các quan Lang Sa và nhà giàu thân thế sắm xe bicyclette, lúc ấy
đã biết máy móc là giống gì, thấy xe không dùng ngựa bò mà chạy ngờ ngờ, đã đặt
tên nó là "cái xe máy". Trước còn bánh đặc, phần đường xá gồ ghề, mê
sức chạy mau mà quên đau… sau có bánh bộng, nhưng xe nổ vỏ thì có lấy tay mà bụm!
Xe máy dầu (motocyclette) là một xa xí phẩm mới có sau nầy.
Khách phong lưu và người có tiền thì đi xe "kiếng",
tức xe đóng bít bùng có cánh cửa gắn kính cho có ánh sáng, nên gọi như thế. Người
Pháp gọi xe ấy "voiture malabare" vì người cầm cương phần đông là người
Mã Lai. Rồi sau có xe trái bí, hình dáng thanh hơn xe kiếng. Xe trái bí, nhà Dưỡng
Lão Thị Nghè mấy năm về trước, còn thấy dùng để đưa các dì, bà phước đi chợ mua
đồ ăn. Nhà giàu nữa thì dùng xe mây một ngựa (thùng đan bằng mây) hoặc xe song
mã có xà ích (sais) Chà Và cầm cương.
Xe tự động (ô tô) sơ khởi là xe hiệu Peugeot, Panhard,
Delage, muốn chạy phải đốt cho máy nó nóng!!! Mui vải bố có dây da kéo chằng chịt
ra trước ra sau, cửa xe thì không có… Những người có xe ô tô buổi đầu toàn những
cự phú và các Lang Sa sang trọng, trong số có ông Lê Phát An là một. Năm 1923,
xe Chánh phủ chỉ có độ một trăm chiếc ghi, số từ C-1 đến C-100, chiếc Delage
C.100 của Thống Đốc Nam Kỳ là "chiến" nhứt hạng.
Câu hát, câu hò thưở trước
Tiện đây, tưởng nên ghi chép một mớ câu hát câu hò dính líu
chút ít đến nhơn vật và phong cảnh Sài Gòn xưa:
"Sài Gòn mũi đỏ,
"Gia Định xúp lê,
"Giã hiền thê ở lại lấy chồng,
"Thuyền anh ra Cửa như rồng lên mây"
(Đời trước, ghe thuyền Sài Gòn đều sơn mũi đỏ cho dễ phân biệt
với ghe thuyền Lục Tỉnh. Dường như phong tục sơn mũi thuyền và khắc tên họ, quê
quán chủ thuyền đã có từ thời ông Nguyễn Cư Trinh vào Nam, cốt để dễ bắt ghe
gian hoặc thuyền của bọn cướp (xem Sãi Vãi do Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật sao
lục và chú thích).
Gia Định xúp lê:Ghe anh lui đến Gia Định, như cởi mở, nếu là
tàu thì đã thổi còi vang dội. Hát câu nầy, anh cho gái hiểu một đi không về!
"Mẹ đi Chợ Quán, Chợ Cầu,
"Mua cau Chợ Vải, mua trầu Chợ Dinh".
Hay là:
"… Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu,
"Mua Cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh"
(Câu hát vùng Huế, nhập Gia Định đời Tây Sơn)
"Chị Hươu đi chợ Đồng Nai,
"Bước qua Bến Ngé, ngồi nhai thịt bò"
(Câu hát đối bí hiểm, chưa có câu đáp lại. Trong câu có đủ:
hươu, nai, nghé, bò).
"Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Bước qua Bến Nghé, ngồi nhai thịt bò"
(Cặp nhơn tình nầy, một người gốc gác ở Huế, một người trong
Nam).
"Nhà Bè nước chảy phân hai,
"Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về".
(Câu hát tuyên truyền cuộc di dân vào Nam. Xưa, một phú ông
đã có công sáng lập nơi đây một nhà cứu tế và bán buôn, cất trên Bè, trên sàn,
sau nhóm đông thành chợ, gọi Chợ Nhà Bè. Bấy lâu, tên ông là Thủ Huồng, nghe
làm vậy nhưng không biết chữ viết ra sao, nay đọc Gia Định vịnh, thấy ông
Trương Vĩnh Ký ghi là Võ Thủ Hoằng mới rõ).
"Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai,
"Nước sông trong sao lại chảy hoài?
"Thương người xứ lạ lạc loài tới đây".
(Câu hát gợi tình, lời trung thực thuộc loại chánh phong).
"Chợ Sài Gòn cẩn đá, Chợ Rạch Giá cẩn xi măng,
"Giã em ở lại vuông tròn, anh về xứ sở, không còn ra
vô".
(Hát xong câu nầy, là cút biệt về Rạch Giá, ô hô!)
"Cúc mọc bờ ao, kêu bằng cúc thuỷ,
"Chợ Sài Gòn xa, Chợ Mỹ cũng xa,
"Viết thơ thăm hết nội nhà,
"Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em! "
(Câu hát huê tình, điệu chánh phong).
"Mười giờ tàu lại Bến Thành,
"Xúp lê vội thổi, bộ hành lao xao"
(Mười giờ có một chuyến xe lửa từ Mỹ Tho lên, đỗ ga "Bến
Thành" thì kéo còi…)
"Anh đi ghe cá trảng lườn,
"Ở trên Gia Định, xuống vườn thăm em"
(Ghe trảng lườn là loại thuyền trẹt, cạn lòng).
"Xay lúa giã gạo Đồng Nai,
"Gạo thóc về ngài, tấm cám về tôi ".
"Trầu Sài Gòn xé ra nửa tá,
"Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi,
"Buồn tình gá nghĩa mà chơi,
"Hay là anh quyết ở đời với em?"
(Minh Tâm)
"Anh ngồi quạt quán Bến Thành,
"Nghe em có chốn, anh đàng quăng om (om trà Huế)
"Anh ngồi quạt quán Bà Hom,
"Hành khách chẳng có, đá om quăng lò "
(Minh Tâm)
"Xe mui chiều thả xanh quanh,
"Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi ".
(Thú phong lưu thuở trước, đến 1914 sấp sau mới có ô tô).
Kết luận:
Sài Gòn là đất hưng vương, căn bổn phát tích Nguyễn Triều.
Pháp chiếm năm 1859. Pháp bị lật năm 1945. Tiếp theo là cuộc trưởng thành, cách
mạng, độc lập.
Lịch sử Sài Gòn có lắm đoạn vẻ vang:
Không có bàn tay người Việt tô điểm, không thịt xương người
Việt làm nồng cốt, không máu huyết người Việt làm xi mon, chưa chắc Sài Gòn có
bộ mặt mới xinh như ngày nay.
Có người quen tánh lý luận, chê lớp tiền bối lựa Sài Gòn làm
kinh đô là thất sách, vì xa biển. Sao không chọn Vũng Tàu Ô Cấp, đủ sơn, đủ thuỷ,
tàu bè dễ ghé dễ lui. Một nhà chuyên môn kiêm bác sĩ nói với tôi: "Vũng
Tàu cát bời rời, đất không chơn đứng, xây nhà không bền chắc; ở ngay mũi súng,
khó phòng thủ. Thiếu nước ngọt, bị phủ vây thì nguy to".
Sài Gòn, trái lại:
Có một nước lọc dưới đất cát, đủ cung cấp nước ăn quanh năm,
khéo tiết kiệm không lo thiếu nước.
Sông Đồng Nai, thác Trị An ở gần: dẫn nước tốt dễ dàng.
Sài Gòn là đất núi, có chơn đứng, xây cất nhà bao nhiêu từng
cao đều được;
Sông Nhà Bè quanh co uốn khúc, vì vậy mà hiểm, binh giặc kéo
đường thuỷ, đủ thời gian lập thế thủ; nhờ khuất gió mạnh, bến được yên, tàu đậu
không sợ bão tố.
Đứng giữa các mối đường, sự giao thông thuận tiện;
Ngày nay có sân bay rộng lớn khang trang, Sài Gòn nối liền với
hoàn cầu trong nháy mắt.
Như một viên bảo ngọc, càng ngày càng quý, Sài Gòn hội đủ điều
kiện để trở thành một đô thị tối tân.
Xuân Mậu Tuất (1958)Xuân Canh Tý (1960)Vương Hồng Sển
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét