Trước năm 1790, khi trong Nam chưa có thành trì kiên cố thì đại
binh chúa Nguyễn "đồn" dinh trại nơi xóm Tân Mỹ, sau đi về "Chợ
Điều Khiển" ở xóm Tân Thuận. Năm Gia Long thứ 10 (1811) lại đi về "Đồn
Dinh" nền cũ. Gia Long năm thứ 16 (1817) lại dời về Mỹ Hoà, cũng gọi là
Nghĩa Hòa. Qua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) vua ra lịnh dạy dẹp dinh trại nầy.
Vua Minh Mạng vì giận giặc Khôi chiếm cứ mấy năm nên dạy phá
bỏ Quy Thành của Gia Long xây cất năm 1790. Qua năm thứ 17 (1836), Minh Mạng ra
lệnh xây thành khác ở về hướng Đông Bắc Quy Thành.
Chiếu theo bản dịch Gaspardone của bộ Gia Định thông chí Trịnh
Hoài Đức thì thành 1836 có bốn cửa, chu vi 429 trượng, cao 10 trượng 3 thốn,
hào thành sâu 7 xích, bề ngang hào 11 trượng 4 xích. Thành 1836 tại làng Nghĩa
Hòa - Bình Dương.
Chính thành 1836, đến năm 1859 thì bị binh Pháp lấy được;
Pháp gọi thành 1836 là "Citadelle de Saigon". Đến năm 1859 thành bị hạ
bình địa, tính ra xây năm 1836, hạ năm 1859, thành thử chỉ đúng vỏn vẹn hai
mươi ba năm, còn vắn số thua Quy Thành của vua Gia Long nữa:
- Quy Thành, xây năm 1790, phá năm 1835: 45 năm.
- Thành Sài Gòn do Minh Mạng dạy xây năm 1836, bị phá năm
1859, dùng được 23 năm. Nghĩ ra Minh Mạng phòng ngừa hậu hoạn, sợ một trận giặc Khôi
tái diễn, nên phá Quy Thành còn có chỗ chế. Tuy vậy, người còn biết mót vật liệu
thành cũ dùng vào việc tân tạo thành mới 1836. Đến như binh Tây, đoạt được
thành "Citadelle de Saigon" kiên cố, mới ràng ràng, nếu họ có chút óc
"tồn cổ" và "thẩm mỹ", họ nên dành cho hậu thế biết lối kiến
trúc xưa này mói phải. Té ra họ cũng sợ vu vơ, e cho một ngày kia người bản xứ
sẽ dùng thành này chống lại nên họ sai châm lửa đốt tiêu. Ngày 8 tháng 3 dương
lịch năm 1859, quân sĩ Pháp đặt 35 ổ cốt mìn phá tan tành Thành 1836 chỉ còn mấy
đống gạch đá vụn; đối với lịch sử thật là một lỗi lầm không nhỏ.
Quân đội Pháp làm thống kê để lại chỉ cho ta biết trận hoả
thiêu này đã tiêu huỷ một cách đáng tiếc:
- Hai mươi ngàn (20.000) cây súng tay đủ cỡ, và một số binh
khí như gươm giáo v.v… nhiều không thể đếm.
- Tám mươi lăm (85) thùng thuốc súng và vô số kể nào bì súng,
hoả pháo, diêm sanh, tiêu thạch (salpêtre), chì v.v…
- Một số lúa trữ trong kho đủ sức nuôi từ sáu đến tám ngàn
(6.000 - 8.000) nhân khẩu trong vòng một năm.
- Lại với một số tiền bản xứ (điếu và kẽm) để trong kho ước định
và trị giá bằng 130.000 quan tiền lang sa thời đó.
Về lúa đốt bỏ, có sách đã trị giá trên ba triệu quan Pháp
(3.000.000 francs) và thuật lại rằng có nhóm Hoa kiều trong Chợ Lớn đưa đè nghị
xin mua mà tướng Rigault de Genouilly không chấp nhận sợ rằng số lúa này không
may lại lọt vào tay binh lính Việt thì khác nào giúp giáo cho giặc. Thà cho họ
đốt bỏ số lúa mà bọn Hoa kiều trả giá đến tám triệu quan (8.000.000 francs). Ba
năm sau, đến 1862, trận lửa đốt lúa còn ngún ngấm ngầm… Ông Charles Lemire thuật
lại rằng: ngày 27 tháng Giêng năm 1862, ông có thí nghiệm, thử thọc cây gậy cầm
tay vào đống tro tàn, khi rút gậy ra thì đã cháy thành than (Bulletin de la
Société des Etudes Indochinnoises, năm 1935, trang 8). Charles Lemire thuật tiếp
rằng về sau chính bên phe Pháp có người tỏ ra hối tiếc hành động huỷ hoại vô
ích của Thủy sư Đề đốc Rigault de Genouilly nhưng đã muộn (B.S.E.I. 1935 kể
trên, trang 96-97). Cho hay làm tướng đi chinh phục nước khác, có hạng còn chút
lương tâm, hạng khác chỉ biết giết chóc, tàn phá, sát hại.
Sau khi triệt hạ thành "Citadelle de Saigon", binh
lính Pháp dùng sắt và vôi gạch xây thành lính "Sơn đá" của họ, tục
danh "Thành 11è R.I.C" (Caserne du Onzième Régiment de l’Infanterie
Coloniale - Trại Bộ Binh Thuộc địa đội thứ 11; trại nầy nằm gần đúng vị trí
Citadelle Việt xưa).
Theo sử sách để lại, thành "citadelle" Việt bắt đầu
từ khu Lê Thánh Tôn chạy đến mé sông là dứt, gồm có khu Dưỡng Đường Đồn Đất
(Hôpital Grall trước gọi Hôpital Militaire), nay là Bệnh Viện Nhi Đồng I, thành
cũ 11 è R.I.C. và một khu vực thương mãi phồn thịnh ở gần thành xưa. Nếu xem địa
đồ, ta có thể đóng khung "citadelle" trong bốn con đường hiện tại:
- Đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ) - nay là Nguyễn Đình Chiểu.
- Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Rousseau cũ)
- Đường Mạc Đĩnh Chi (Massiges cũ)
- Đường Nguyễn Du (Mossard cũ)
Năm 1859 binh Pháp đổ bộ, do ngả Luro (Cường Để, nay là Đinh
Tiên Hoàng) kéo lên công hãm thành Việt. Ngày nay, đi trên khúc đường nầy, trông
thấy cửa thành trước mắt, độ chừng xưa cũng day mặt hướng nầy. Dọc theo vách
rào các dinh thự của võ quan cao cấp bộ Thuỷ quân Việt (đường Cường Để) thấy cẩn
nhiều đá to và gạch thức cỡ lớn, trong vườn, còn nhiều gốc cổ thụ cao ngất trời,
hỏi ra di tích cố đô còn lại bao nhiêu đó. Lúc đổ bộ, tàu chiến Pháp thả neo tại
công trường Mê Linh. Trào Pháp đặt tên là Place Rigault de Ginouilly, có dựng
tượng đồng to lớn để ghi chiến công Thuỷ sư Đề đốc này. Cũng vì thế, chỗ này
xưa gọi "Một Hình". Tương truyền những đêm mưa bão có bóng lão hình đồng
hiện hình gọi đò qua sông. Trời đánh nhiều lần, lão không hầy hấn, tưởng vậy mà
"bền gan cùng tuế nguyệt", không ngờ kịp năm đảo chính 1945-1946,
thanh niên lôi lão, hạ bệ lão xuống, nấu chảy ra bì súng bắn trả hận năm xưa.
Theo Gia Định thông chí thì năm 1777 (Đinh Dậu) Gia Long thâu
phục được Sài Gòn, năm 1779 (Kỷ Hợi) sai tu định địa đồ lập địa giới dinh Phiên
Trấn. Năm 1790 (Canh Tuất) đắp thành bát quái trên gò cao thôn Tân Khai, tổng
Bình Dương gọi đó là Gia Định kinh. Niên hiệu Gia Long nguyên niên (1802), cải
tên Phủ Gia Định làm Trấn Gia Định, đặt Trấn quan thống trị. Qua năm thứ 7, cải
làm Gia Định Thành do một Phó Tổng Trấn thống trị, gọi trấn Phiên An gồm luôn
Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên lại kiêm lãnh luôn trấn Bình Thuận.
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đổi Gia Định Thành làm Phiên An
Tỉnh Thành, đặt chức An Biên Tổng đốc thống trị hai tỉnh Phiên An và Biên Hòa.
Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), mang danh Nam Kỳ Lục Tỉnh. Năm thứ 17 (1836), xây
thành mới đổi danh là Gia Định Tỉnh. Đổi An Biên Tổng đốc làm Định Biên Tổng đốc.
Địa thế Sài Gòn
Nhìn trên địa đồ, ta thấy rõ địa thế Sài Gòn khá gọi là hiểm
trở:
a) Thuở xưa khi chiến tranh còn "hiền", đánh bộ thì
lính đi chân không, binh khí thì dùng dao mác, mã tấu, chà gạc, đánh thuỷ thì
trông cậy nơi thuyền buồm, cung tên… Súng đồng nếu có thì bắn không xa, đạn đá
đạn sắt làm sợ nhiều hơn giết chết. Vì thế, vị trí Sài Gòn đúng là hiểm yếu,
kiên cố nhờ ở giữa trung tâm các ngọn "sông sâu nước chảy" và giữa
các đường lộ "bủa giăng như lưới nhện".
b) Nhờ ở cách biển tám mươi chín cây số ngàn (89km) nếu tàu
chiến tàu ô ở ngoài khơi kéo vào thì Sài Gòn có đủ thời gian thủ thế và nghênh
chiến.
c) Nhờ đóng ở trên gò trên nổng, cao hơn mặt biển trên mười
thước có hơn, Sài Gòn có sẵn hai hào thiên nhiên che chở là sông Thị Nghè và
sông Bến Nghé. Tuy vậy, năm 1859 rạch Thị Nghè không đủ sức ngăn tàu sắt của Đề
đốc Rigault de Ginouilly và đã để cho tàu Pháp xáp cận thành…; nhưng bình nhật
nếu có phòng bị thả chông, nhận chìm xác ghe xác thuyền chở đá chẹn ở lòng sông
cho thật nhiều, thì đủ ngăn sức giặc đường thuỷ một thời gian.
d) Sài Gòn có sự ủng hộ của nhiều đồn bao bọc xung quanh. Các
đồn này nối liền nhau bởi các sông rạch bủa tứ giăng rất là thuận tiện và hiệu
nghiệm. Vì bài biên khảo này có tính cách "thường đàm", nên không sao
chép tên các đồn, đã được ghi rõ trong quyểnĐại Nam nhất thống chí (Lục tỉnh
Nam Việt), bản dịch Nguyễn Tạo, do bộ Quốc gia Giáo dục, Nha Văn hoá xuất bản
năm 1959.
e) Thành Sài Gòn được tiện lợi là kề vựa lúa miền Nam, tức Chợ
Lớn. Nếu chẳng may bị địch vây khổn thì ít lo nạn đói. Vả lại, Sài Gòn có chứa
rất nhiều nước lọc thiên nhiên dưới đất sâu, hễ đào giếng là có nước ăn nước
dùng rất tốt, không sợ nạn thiếu nước.
Từ Chợ Lớn xuống xa một đỗi thì có chợ Mỹ Tho là giáp mối các
con đường thuỷ vận về miền Nam Lục Tỉnh, và lên thẳng Nam Vang (Phnôm-Pênh).
(Ngày nào sự chuyên chở còn "ăn chịu" nhờ đường nước, thì chợ Mỹ Tho
sung túc phồn thịnh ngày ấy. Ngày nay khách bộ hành và hàng hoá xoay qua dùng
nhiều xe hơi chạy ét xăng hơn dùng tàu bè, cho nên chợ Mỹ đã "xuống
chưn". Câu thi xưa"Trên Sài Gòn, dưới Mỹ Tho, đâu đâu thiên hạ cũng
nhường cho,…" nay không còn đúng sự thật! Trái lại, các chợ búa không nằm
trên đường nước nhưng vẫn nằm trên đường lộ cái, như chợ Cai Lậy, bến phà Mỹ
Thuận, chợ Cần Thơ, chợ Sốc Trăng, vẫn tấn phát như thường, nhờ xe qua lại hằng
bữa. Riêng bến phà Mỹ Thuận, ngày nào cầu bê tông cốt sắt xây cất xong, xe khỏi
xuống bắc, thì chợ nhóm nơi đây sẽ mất phồn thịnh. Luật tiến hoá là vậy: cái
vui mừng của khách bộ hành được đi mau về lẹ bao nhiêu, lại là nỗi lo buồn của
người buôn thúng bán mẹt đò Mỹ Thuận bấy nhiêu vậy!) Con đường thiết lộ của
Pháp đặt trước kia, định nối liền mũi Cà Mau lên Nam Vang xuyên ngang Sài Gòn, vừa
từ Sài Gòn chạy tới Mỹ Tho kế bị tháo gỡ: nhựa bánh cao su xe ô tô đã chiến thắng
con đường sắt và chiếc hoả xa.
Tóm lại, ngày trước chiến tranh, chiến cụ còn theo lề lối
xưa, nên vị trí và địa thế Sài Gòn thật là đắc thế. Ngày nay, tuy chiến lược đã
đến thời kỳ nguyên tử, nhưng nhờ đứng giữa ổ nhện đường lộ tứ giăng, thêm có
phi cảng rộng lớn, nên sự bành trướng và phồn thịnh của Sài Gòn càng tăng thêm
mãi mãi chớ không bớt.
Thử nhắc lại vài nét ăn thói ở thời Quan Lớn Thượng
Quan Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành trước
sau hai kỳ:
- Lần đầu, từ năm 1813 đến năm 1816, rồi được chỉ triệu về
kinh để bàn nghị về ngôi Thái Tử.
- Lần sau, từ năm 1820 đến năm quy thần, tức năm 1832. Dinh của
người ở sau toà Vọng Cung (Hành Cung). Theo ông Malleret thì Hành Cung ở ném về
phía trên con đường Paul Blanchy, giáp với đại lộ Norodom, lối nhà Câu Lạc Bộ
Võ Quan Pháp (Bộ Tư Pháp hiện nay) lấn qua một phần đất sở Bưu Điện với một phần
sở Địa Chánh (B.S.E. I., Oct/ Dẹc 1935, tr. 46).
Tả quân bao giờ cũng nêu cao chủ quyền nhà vua. Mỗi năm đáo lệ,
có hai lễ lớn: lễ triều kiến Vua vào đầu xuân nhựt và lễ hành binh. Tả quân giữ
đúng lệ và rất nghiêm về mặt nghi tiết. Ngoài việc đúng năm vua Miên phải nạp lễ
cống không được chậm trễ, bổn phận vua Miên phải sang chúc thọ vua Việt tại
thành Phan An mỗi dịp Nguyên đán. Cứ đêm ba mươi Tết, vua Miên phải có mặt tại
thành để kịp sáng hôm sau đúng canh năm thì cùng Lê Tổng trấn hành lễ chúc thọ
tại Vọng cung. Ông Trương Vĩnh Ký kể lại trong ức lục "Souvenirs historiques"
rằng có một năm, vua Miên xuống dự lễ, thay vì ở trong thành Phan An, lại vào
Chợ Lớn nghỉ đêm, bởi rứa, hôm sau lúc trống canh điểm năm dùi Tả quân và tiểu
triều hành lễ tại Vọng cung thì vắng mặt vua Miên. Tả quân nhứt định không chờ,
đến khi lễ tất, vua Miên mới đem lễ vật tiến vào, Tả quân chiếu điển lệ, phạt vạ
vua Miên phải nộp đủ ba ngàn lượng bạc mới cho về nước.
Ngoài ra, cứ ngày mồng sáu tháng Giêng, thì Tả quân làm lễ
"xuất binh"(muốn gọi "ra binh", "hành binh" đều
được). Dịp này, người ta ra lệnh đòi hết các cơ binh đóng ở "Lục Tỉnh"
về để Người (Tả quân) duyệt nơi Đồng Tập trận cũng gọi "Mô Súng" sau
này mới gọi là Mã Nguỵ.
Lễ này diễn ra để thị oai với các nước lân bang (Cao Miên,
Xiêm La…) vừa để võ an dân tâm, vì thuở ấy dân tình chất phác vẫn tin tưởng quỷ
thần và hiểu rằng đầu năm có diễn oai lực binh quân làm vậy thì trong xứ suốt
năm dân sẽ được bình an vô bịnh, bởi tà ma quỷ mỵ đều khiếp sợ oai võ của Tả
quân.
Ngày mồng sáu tháng Giêng, Tả quân tắm gội trai kỳ, ngồi kiệu
đến Hành cung làm lễ chúc thọ vua rồi phát ba tiếng súng tiền hô hậu ủng, lên
kiệu thẳng Đồng Tập trận, khi binh gia rần rộ kéo ra do ngả Gia Định môn, khi
khác lại do cửa Phan Yên, từ đó xuống ngả Chợ Vải (tên xưa của xóm Chợ cũ Sài
Gòn ngày nay) để trở lại đường Cửa Hữu (Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và trực chỉ lên Mô
Súng. Lễ diễn binh hoàn thành, ông Lớn Thượng (tên kính trọng của dân Nam tặng
Đức Tả quân) đe liệu một vòng chung quanh Quy Thành, ghé viếng cơ xưởng Thuỷ
quân rồi trở về dinh là giải tán. Trong khi ra quân, thì trong thành dân cư vọng
bàn hương án đốt pháo, thắp hương, cốt mượn lễ ra quân để bày lễ tống quái trót
thể. Thuở ấy, quân lịnh của Tả quân rất nghiêm mỗi khi hành quân thì những người
có tang khó, nhứt là người đàn bà bụng mang dạ chửa, đều phải lánh xa. Đi trước
đám quân sĩ, có lịnh nạt đường và quân cầm đồ nghi trượng: hai thanh mác trường,
hai ngọn cờ tiết mao, hai trái dùi đồng, hai phủ việt (búa hoặc rìu), hai cái
biển, một khắc chữ "Tĩnh Túc" (im lặng cung kính), một đề "Hồi Tỵ"
(tránh đi) tức để cho thần dân biết trước mà đề phòng tránh mặt và sửa soạn chuẩn
bị lễ rước cho oai nghi. (Những binh khí cổ nầy, gọi là "đồ lỗ bộ",
hiện có chưng bày trong Viện Bảo Tàng).
Một kỳ khác nữa, nhơn lễ "Trùng ngũ" (mồng 5 tháng
5), Tả quân xuất thành để hành lễ "tịch điền" (hạ tịch) bên Thị Nghè.
Tịch điền ở vào vùng này đã mất dấu vì gần đây dân cư đã xây cất nhà cửa lên
trên. (Những chuyện về Tả quân còn nhiều nhưng trong tập này khảo về Sài Gòn,
xin miễn kể).
Chúa Nguyễn Ánh đóng đô tại Sài Gòn trước sau hai mươi năm
(1779-1801), và mỗi năm, cứ mùa gió thuận thì kéo binh từ Gia Định ra nghinh địch
cùng Tây Sơn vùng Bình Định Quy Nhơn. Năm 1801, chúa Nguyễn thống nhất Bắc Nam,
tức vị xưng đế hiệu Gia Long, từ khi định đo tại Huế, mới thôi ở Sài Gòn và
thành này từ đó xuống địa vị một trấn biên thành.
2. Sài Gòn dưới trào Minh Mạng (1820 - 1840)
Ngày nay nhắc lại thì toà Hành cung đã không còn duy cứ theo
dấu tích để lại thì lọt giữa đường Thống Nhứt hiện tại. Địa điểm phủ tướng suý,
tức là dinh Tả quân, truy ra thì ở gần nhà linh mục Bá Đa Lộc và gần bộ Ngoại
giao hiện thời (đường Alexandre de Rhodes) chạy dài ra sau dinh Tổng thống
(dinh Thống Nhất hiện giờ) - vì thế cho nên cái hoa viên Tao Đàn xưa tách ra
còn mang tên riêng là "Vườn Ông Thượng". Còn tư dinh của Tả quân phu
nhơn (tộc danh: bà Đỗ Thị Phẫn) thì lọt trong vòng rào dinh. Về vườn Tao Đàn,
danh từ Pháp xưa gọi "vườn Bồ rô". Nội cái tên Tây này, thú thật tôi
cũng không rõ điển tích rành rẽ. Có người cắt nghĩa chỗ ấy xưa có làm một cái
"préau" (sân chơi trường học hay tu viện) hoặc "bureau"
(văn phòng) gì đó, cho nên dân ta dựa theo bèn chế ra danh từ "Bờ Rô"
để gọi làm vậy. Thiết tưởng thà tôi chịu dốt, mặc người cười, còn hơn lòe các học
hữu và nhóm thanh niên bằng một cách giải nghĩa gượng ép và không căn cứ. Tiếc
cho một di tích vừa hơn trăm năm mà đã phai mờ trong trí nhớ của người trong nước.
Riêng theo tài liệu của ông giáo Trần Văn Xường, do ông Lê Ngọc Trụ thuật lại,
thì "Bờ Rô" có lẽ do "Moreau" ta đọc trại đi, và cứ theo
ông Xường "Moreau" là tên của người quản thủ Pháp đầu tiên được cắt
chăm nom vườn này. Dẫu thế nào, theo tôi danh từ "Bờ Rô" chưa được diễn
giải một cách ổn thoả. Nhưng dầu chi đi nữa, ta không nên cắt nghĩa càn bừa. Tiện
đây tôi yêu cầu các học giả nên thận trọng lời diễn luận chẳng khá làm tàng bịa
đặt tên "nhà thương Đầm Đất" (như trong một tờ tạp chí kia), trong
lúc dưỡng đường Grall được cất xây trên một đồn đất thật sự, ai ai cũng rõ biết,
và cũng không nên vì thấy gần Sài Gòn có những chợ: "Ông Lãnh",
"Bà Chiểu", "Bà Điểm", "Bà Hom", "Bà Rịa",
"Bà Đen" rồi đề quyết Năm Bà vốn là thê thiếp của ông Lãnh binh nọ. Tội
chết đa! Tuy người mất rồi không nói được, chớ còn người cố cựu nữa chi? Bạn
thân tôi, ông Sơn Nam có kể cho tôi nghe gần Cái Bè, trên con đường đi về Hậu
Giang, có một khúc quanh gọi "Khúc quanh ông Cọp". Nhiều học giả chưa
gì vội nói hớt, cắt nghĩa: "Xưa ở vùng ấy, cọp rất nhiều, nên dân bản xứ lấy
đó đặt tên". Theo ông Sơn Nam chịu khó điều tra kỹ càng; rõ lại mấy chục
năm về trước hãng bán tủ sắt hiệu "BAUCHE" có quảng cáo cho thứ tủ
này bằng một bảng lớn dựng tại khúc quanh đó; trên bảng vẽ hình một con hổ to
ngồi chồm hổm trên đầu tủ, một tay thò xuống cố cạy nắm tủ "BAUCHE"
(nhãn hiệu "con cọp") cạy hoài mà không sao cạy được, đủ biết tủ sắt
kiên cố bực nào. Dân quê trong vùng qua lại tháy bảng vẽ cọp nhan nhản tại khúc
quanh, trong khi nói chuyện bèn gọi tắt chỗ ấy là "khúc quanh ông Cọp".
Chuyện chỉ có bấy nhiêu, không nên lắm sự!
Phần IV
TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TÌM HIỂU THÊM VỀ VỊ TRÍ SÀI GÒN
Có cả thảy mấy vị trí mang tên "Sài Gòn"
và tùy thời đại xoay hướng đổi chỗ như thế nào?
1. Prei Nokor,Sài Gòn của Cổ Cao Miên, trước năm 1680.
2. Đề Ngạn,nơi tụ tập của người Tàu, từ năm 1778.
3. Bến Nghé,nơi tụ tập của người Việt, từ năm 1790.
Đoạn này, theo tôi rất là quan trọng.
Tôi xin mở một dấu ngoặc, vừa để ôn lại những tài liệu đã biết
rồi, vừa để nhơn đó, nhận định và tìm hiểu vị trí Sài Gòn, đã tuỳ thời, đổi chỗ
như thế nào.
Có cả thảy ba vị trí đáng để chú ý nhứt:
1. Chỗ nào là "Cổ Sài Gòn" thành lũy mà người Cam Bốt
gọi là "Prei Nokor"?
Đời xưa, trước năm 1680, người Cam Bốt vùng Thuỷ Chân Lạp có
một thành luỹ giữa rừng già, gọi "Prei Nokor". Nhờ những cuộc đào đất
tìm cổ vật trước đây, khoảng năm 1940-1944, nghiệm ra Prei Nokor có lẽ ở vùng đồn
Cây Mai (Phú Lâm) chạy dài tới vùng Chợ Quán, lối nhà cũ Hội quán Hội Đức Trí
Thể Dục (S.A.M.I.P.I.C - Société pour l’Amélioration Morale, Intellectuelle,
Physique des Indigènes de Cochinchine) (nay là trụ sở cơ quan cố vấn quân sự Mỹ
quốc, đường Trần Hưng Đạo), ăn luồn lên Gò Vấp và Bà Điểm.
Hội quán Đức Trí Thể Dục xây trên một nền chùa Thổ, nền này
còn to hơn đường lộ rất nhiều; mấy mươi năm về trước, đào gặp tại đây đồ cổ đồng,
tảng đá lớn, ngạch cửa bằng đá, đặc biệt nhứt là một cây đèn đồng ten xanh rất
cổ tạc hình một hình nhân Thổ đầu đội mũ, chưn quỳ, hai tay dang một bồn để đựng
dầu thắp, các vật này hiện có trưng bày nơi trung đường Viện Bảo tàng trong vườn
Bách thảo. Sách sử cổ lại cho biết người Cam Bốt có ở vùng Thị Nghè, vùng Cầu
Bông (cổ danh gọi "Cầu Cao Miên").Nơi đây, đã đào gặp một món đồ đất
nung đặc sắc của người Cao Miên dùng. Từ Thị Nghè, người Miên ở giáp liên tiếp
đến Gò Vấp, chạy dọc thẳng lên Biên Hòa, những nơi đất gò lên cao hoặc có giồng
cát khô ráo. Kinh nghiệm cho ta biết phong tục người Khmer thích làm nhà trên
chỗ cao ráo đất giồng, đã vậy còn thêm cất nhà sàn, cao cẳng; rất khác người Việt,
tánh ưa tìm chỗ có sơn thuỷ: dòng nước, khúc quanh bóng mát, nhà nền đát, không
nối cột làm cẳng cao như nhà Miên (B.S.E.I., năm 1942, trang 26).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét