Sơ lược thi cử ngày xưa
Chương Một
Phần 1
Tổng quát
Sách Khải Định chính yếu (ghi lại các sự kiện thời Khải Định)
chép rằng tháng Giêng năm 1919, thể thức kỳ thi Hội với những thay đổi,
vua Khải Định phê: "Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều
đình, nên trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai
thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện Bộ Học để xin vào ứng
thí".
Ngày 16-5-1919 (nhằm 17-4 âm lịch), kỳ thi Đình cuối cùng diễn
ra trong cung vua.
LỜI NGƯỜI VIẾT
Dựa theo tài liệu trên, THI CỬ theo Nho học đã kết thúc cách
đây vừa tròn 100 năm. Một trăm năm ngắn ngủi so với chiều dài gần 9 thế kỷ
(1075-1919), mà mọi triều đình nước ta kể từ đầu đời nhà Lý trở về sau, ngoài
việc tiến cử đặc biệt, sự tuyển chọn nhân tài cho đất nước đều do qua thi
cửcả. Ấy vậy, khi ngoảnh nhìn lại, chúng tôi tự thấy mình không biết gì mấy về
việc làm quan trọng như thế của người xưa nên cố gắng lục lọi, tìm tòi một số
tài liệu trong các sách tham khảo ít ỏi có sẵn trong tay, và cộng thêm những
bài viết trên NET để tạm vẽ nên một vài nét sơ lược về thi cử
Nho học ngày xưa. Đề tài thì mênh mông, tài liệu tham khảo thì giới hạn, đôi chỗ
lại khác biệt hay mâu thuẫn lẫn nhau, khó hiểu nên mong có sự đóng góp của quý
vị độc giả để giúp chúng tôi có sự hiểu biết rộng rãi thêm và chính xác hơn.
LOẠT BÀI NÀY CHỈ PHỔ BIẾN GIỚI HẠN TRONG NHÓM THÂN HỮU nhằm kỷ
niệm một trăm năm ngày chấm dứt thi cử Nho học tại Việt Nam.Vũ trụ chức phận nội
Đấng trượng phu một túi kinh luân.
Thượng vị đức, hạ vị dân,
Sắp hai chữ quân, thân mà gánh vác,
Có trung hiếu nên đứng trong trời đất
Không công danh thà nát với cỏ cây.
Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây,
Phải hăm hở ra tài kinh tế
Người thế trả nợ đời là thế
Của đồng lần thiên hạ tiêu chung,
Hơn nhau hai chữ anh hùng.
(Phận Sự Làm Trai – Nguyễn Công Trứ)
Cách thi cử được thay đổi tùy theo mỗi triều đại, có những
triều đại thay đổi vài lần. Gần đây nhất, đan cử riêng triều Nguyễn trong
việc tuyển chọn nhân tài cho triều đình Huế, nhìn chung có thể chia ra làm 5
giai đoạn chính:
1- Khảo khóa (cấp tỉnh): khuyến khích việc rèn luyện
văn chương thi cử hàng năm.
2- Tỉnh hạch (cấp tỉnh): chuẩn bị cho kỳ thi Hương
3- Thi Hương (cấp miền, tỉnh hay liên tỉnh): kỳ thi
lấy học vị Cử nhân và Tú tài
4- Thi Hội (cấp toàn quốc): chuẩn bị cho kỳ thi Tiến
sĩ
5- Thi Đình (cấp toàn quốc): kỳ thi lấy học vị Tiến
sĩ
Trong 5 kỳ chỉ có hai kỳ có học vị, đó là thi Hương và thi
Đình. Học vị Cử nhân, Tú tài dành cho kỳ thi Hương và học vị Tiến
sĩ dành cho kỳ thi Đình.
Khảo khóa
Kỳ Khảo khóa được tổ chức hàng năm như một kỳ thi
thử ở cấp tỉnh dưới sự giám sát của quan Tổng đốc tức quan
đầu tỉnh,và quan Đốc học tức quan đứng đầu về giáo dục trong tỉnh. Mục
đích cuộc thi là rèn luyện và khuyến khích cho học trò
trong những kỳ thi lớn sắp tới.
Các bài thi gần như tương tự những bài thi chính thức của kỳ
thi Hương, gồm một bài kinh nghĩa bình luận vài đoạn trong Kinh Thư,
Kinh Thi; một bài thơ, một bài phú; và một bài văn
sách thuộc loại văn nghị luận. Bài thi được chấm bởi quan Đốc học với sự
trợ giúp của các vị giáo thụ và huấn đạo của tỉnh.
Kỳ thi này không có học vị, học trò đỗ chỉ được hưởng miễn đi
tạp dịch hàng năm, và đó cũng được coi như một vinh dự lớn cho đám học trò.
Tỉnh hạch
Kỳ thi Tỉnh hạch mở ra trước kỳ thi Hương vài tháng nhằm chọn lựa
học trò giỏi trong tỉnh. Bài thi gồm những môn tương tự như kỳ thi khảo
khóa nhưng đề bài ở trình độ cao hơn.
Những học trò thi đỗ kỳ thi này mới được dự cuộc thi Hương mà
thôi. Tên những người đỗ được quan Đốc học của tỉnh lập danh sách gửi lên Bộ Lễ
(sau này là Bộ Học). Đây là danh sách chính thức xác nhận tên tuổi của những
thí sinh được tỉnh đề cử dự thi kỳ thi Hương sắp tới.
Những thí sinh có tên trong danh sách được đề cử của quan Đốc
học tỉnh mình phải nộp theo thời hạn ấn định trước khi mở kỳ thi Hương, mỗi người
4 quyển (1) cho 4 kỳ thi, để quan Đốc học chuyển tiếp tới Trường
thi.
Thí sinh dự thi còn phải nộp chứng nhận về hạnh kiểm và lý
lịch (2) bởi quan chức địa phương nơi nguyên quán.
Thi Hương
Kỳ thi Hương được tổ chức 3 năm một kỳ, vào những năm
Tý, Mão, Ngọ, Dậu, được gọi là chính khoa do triều đình tổ chức. Gọi
là chính khoa để phân biệt với những khoa đặc biệt được tổ chức trong những dịp
có sự kiện đáng nhớ như năm vua lên ngôi, thượng thọ cha mẹ vua ... được gọi
là ân khoa. Người đỗ thi Hương được trao học vị Cử nhân và Tú
tài. Tuy nhiên chỉ có những người đỗ Cử nhân mới được coi là người được
quyền dự kỳ thi Hội được tổ chức tại triều đình vào năm sau. Người đỗ đầu kỳ
thi Hương gọi là Giải nguyên.
Thi Hội
Kỳ thi Hội chỉ dành cho những người đã đỗ Cử nhân kể
cả những khóa trước trong toàn quốc không kể năm nào.
Trong kỳ thi Hội không có học vị nào được trao cho
người thi đỗ. Tên các thí sinh đỗ được niêm yết trên hai danh sách. Hai danh
sách này chỉ nhằm mục đích đề cử các thí sinh thích hợp với những học
vị trong kỳ thi Đình.
- Danh sách thí sinh đỗ trong bảng thứ nhất (bảng
chính) được đề cử học vị Tiến sĩ.
- Danh sách thí sinh trong bảng thứ hai (bảng phó)
được đề cử nhận "giải khuyến khích" với học vị Phó bảng như
cái tên của bảng niêm yết.
Người đỗ đầu kỳ thi Hội gọi là Hội nguyên.
Thi Đình
Kỳ thi Đình chỉ để phân cao thấp, thứ bậc học
vị Tiến sĩ và chỉ dành cho những người đã được "đề cử" trong bảng
thứ nhất của kỳ thi Hội mà thôi chứ không phải là kỳ thi có người đỗ hay hỏng.
Kỳ thi này chỉ có một vòng thi duy nhất và bài thi cũng chỉ
có một bài chế sách duy nhất do chính nhà vua chọn hoặc tự ra đề. Vua
là người quyết định việc xếp hạng.
Sau quyết định của nhà vua, tên các tân Tiến sĩ được
niêm yết trên một bảng màu vàng. Bảng thứ hai (phó bảng) vẫn là bảng
"đề cử" giải khuyến khích của kỳ thi Hội nay chính thức hợp
thức hóa mang học vị Phó bảng.
Các tân Tiến sĩ trên bảng vàng được chia thành 3 hạng,
tức tam giáp:
1- Đệ nhất giáp chỉ gồm 3 người, theo thứ tự:
- Người đứng đầu được gọi là Đệ nhất giáp đệ nhất danh
tiến sĩ cấp đệ, còn được gọi là Đình nguyên (tương đương học vị trạng
nguyên có từ đời nhà Trần cho tới hết nhà Hậu Lê).Riêng nhà Nguyễn không
dùng học vị Trạng nguyên mà thay bằng Đình nguyên.
- Người đứng thứ hai được gọi là Đệ nhất giáp đệ nhị
danh tiến sĩ cấp đệ, còn được gọi là Bảng nhãn
- Người đứng hàng thứ ba được gọi là Đệ nhất giáp đệ tam
danh tiến sĩ cấp đệ, còn được gọi là Thám hoa
Dân gian gọi tắt 3 vị này là ông Trạng, ông Bảng và ông
Thám.
2- Đệ nhị giáp, tiếp theo đó gồm các Tiến sĩ hạng
nhì, đều được gọi chung là Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, gọi ngắn hơn
là Tiến sĩ xuất thân, hay còn được gọi là Hoàng giáp.
3- Đệ tam giáp, cuối cùng gồm các Tiến sĩ hạng
ba, đều được gọi chung là Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, gọi ngắn hơn
là Đồng tiến sĩ xuất thân, hay còn được gọi là ông Nghè.
Người đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình được gọi
là Tam nguyên (như cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến)
GHI CHÚ
(1) Quyển
Quyển là một xấp giấy "trắng" (chưa viết) đóng lại
như một cuốn sách mỏng dùng để làm bài trong trường thi.
- Cách thức đóng quyển
Quyển phải do chính tay thí sinh tự đóng lấy.
Đóng quyển cũng phải theo luật lệ trường thi. Sai một tý là
phạm trường quy, quyển bị loại không chấm.
Mỗi quyển dày khoảng 10 tờ giấy đôi còn trắng chưa viết, được
gọi là "quyển trắng" và có kích thước nhất định. Nếu kích thước
"quyển" tính theo đơn vị đo lường mới thì chiều dài khoảng 32 phân
tây (centimetre), chiều rộng khoảng 18 phân tây, được phân chia:
- Bề ngang, chia làm 6 phần, chừa một phần làm gáy.
Khi viết, 5 phần kia lại chia làm 6 "dòng" song song với
gáy (viết dọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái).
- Bề dọc được chia làm: quãng đầu, quãng cuối và
quãng giữa phải dài bằng hai quãng "xâu lề" của quyển.
*/ Trang đầu, tờ thứ nhất của quyển viết họ tên, quán
sở (nguyên quán) và khai tam đại.
- Phần họ tên, viết chữ thường, nằm ở "dòng"
thứ 5 song hàng với lề (kể từ gáy), không được cao lên quá hay sâu xuống
quá. Phải ghi rõ: tính (họ), danh (tên tục) và tự (tên
riêng)
- Phần quán sở, viết chữ nhỏ ngay dưới họ tên phải
ghi tên tỉnh, phủ, huyện, xã, thôn và niên tuế (tuổi)
- Phần cung khai tam đại, viết sang "dòng"
mép giấy, chữ to bằng ba chữ của họ tên. Phải khai rõ tam đại tức họ tên 3 đời
trực tiếp và ghi ngay bên cạnh mỗi tên chữ tử (chết) hay tồn (còn
sống).
*/ Từ tờ sau của quyển dùng để viết bài thi. Đầu mỗi trang phải
để chừa 3 hàng để "đài". Trong ba hàng ở đầu dòng, hàng trên
cùng gọi là du cách, dưới hàng du cách gọi là hàng thứ nhất, dưới
hàng thứ nhất gọi là hàng thứ hai, dưới hàng thứ hai gọi là hàng thứ
ba. Bài viết của thí sinh phải bắt đầu từ hàng thứ ba đó trở xuống.
(Sự chia hàng như trên sẽ được diễn giải rõ thêm ở phần luật
"đài" ở Chương hai)
- Ống quyển
Quyển được đựng trong ống quyển, ống quyển là một ống bằng
gỗ có nắp, hai phần đầu và đít có móc khuyên đồng để luồn dây đeo vào cổ.
(2) Lý lịch:
Thí sinh không được dự thi nếu là người đang còn tang chế;
làm nghề xướng ca hay con của người làm nghề xướng ca; loạn
đảng hay là con của loạn đảng; có phẩm hạnh không tốt hay
con của người có phẩm hạnh không tốt. Lý lịch này phải được chứng thực bởi
quan chức tại nguyên quán của thí sinh.
Bên lề bài viết,
Mời đọc vài bài thơ:
- Bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ
Chí Nam Nhi
Thông minh nhất nam tử
Yêu vi thiên hạ kỳ (*)
Trót sinh ra thì phải có chi chi,
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu.
Đố kị sá chi con tạo,
Nợ tang bồng quyết trả cho xong.
Đã xông pha bút trận, thì gắng gỏi kiếm cung,
Cho rõ mặt tu mi nam tử.
Trong vũ trụ đã đành phận sự,
Phải có danh mà đối với núi sông.
Đi không, chẳng lẽ về không?
(*) Một người con trai thông minh, nên làm người khác thường
trong thiên hạ.Lời ca: Nguyễn Công Trứ Ca Nương: Nguyễn Kiều
Anh
(bấm vào tên bài hát)
Chương Một
Phần 2
Nền giáo dục Việt Nam xưaI - HỆ THỐNG GIÁO DỤC CÔNG, TƯ
Ở Việt Nam thời xưa nền giáo dục được chia thành hai thành phần:
1- Giáo dục tư thục
Căn bản được thực hiện trong làng, xã hay trong một đơn vị
hành chính nhỏ thuộc địa phương. Người dạy thường gọi là "ông Đồ" hay
"thày Đồ". Ông Đồ có thể là người biết chữ nhưng chưa đỗ đạt, hoặc là
người đỗ đạt làm quan đã về hưu hay những người đã đỗ đạt nhưng không chịu ra
làm quan. Họ sống đạm bạc trên sự đóng góp tự nguyện của học trò dành cho thày.
Bên cạnh đó thày được sự trọng vọng của học trò và làng xóm cũng như xã hội. Học
trò coi thày như cha ngay khi thày còn sống hay đã chết. Học trò học dưới cùng
một mái trường được gắn bó với nhau về tình cảm và thường được gọi là "đồng
môn".
2- Giáo dục công lập
- Ở địa phương. Giáo dục công được thiết lập từ cấp huyện,
người đứng đầu là một quan Huấn đạo hay quan Huấn; ở cấp phủ có
quan Giáo thụ hay quan Giáo; ở cấp đạo có có
quan Điển học; ở cấp tỉnh có quan Đốc học hay quan
Đốc, người trông nom giáo dục cho toàn tỉnh.
- Ở kinh thành Thăng Long xưa. Có một trường dành cho các
Hoàng tử, con các quan trong triều gọi là Quốc Tử Giám. Người đứng đầu trường
này là quan Tư nghiệp, một vị quan hạng tứ phẩm trong triều. Sau
này trường được mở rộng ra đón nhận cho những học trò giỏi được tuyển chọn
trong toàn quốc được gọi là Giám sinh. Những Giám sinh ở đây được trải qua
một giai đoạn học tập để chuẩn bị cho những cuộc thi cử cấp cao với học vị cấp Tiến
sĩ được bổ vào làm quan trong triều. Trường này có thể coi là trường đại
học đầu tiên của Việt Nam.
- Trên cùng, cơ quan cao nhất của nền giáo dục là Hàn
lâm hay Tập hiền gồm những người có phẩm chất đạo đức và phẩm tước
cao.
II- SÁCH GIÁO KHOA
Sách giáo khoa được sử dụng trong giáo dục và thi cử: Tam
Tự Kinh, Thiên Tự Văn, Tứ Thư, Ngũ Kinh và Tam Truyện.
1- Tam Tự Kinh
Cuốn sách viết dưới dạng thơ 3 chữ dành cho trẻ con mới học. Nội dung
là những lời khuyên hữu ích thể hiện qua những câu châm ngôn như "Nhân chi
sơ, tính bổn thiện; tính tương cận, tập tương viễn . . ." (Khi mới
sinh ra, bản chất con người là tốt; bản chất con người là giống nhau, nhưng
thói tục khiến họ khác nhau)
2- Thiên Tự Văn
Đây là cuốn sách gồm một nghìn chữ. Sách được nổi tiếng
nhờ sự sắp đặt từ ngữ một cách xác đáng chứ không phải do sự phong
phú của ý tưởng hay sự trong sáng của văn chương. Sách này được ra đời bởi một
câu chuyện khá lý thú:
Chu Hưng Tự hay Tư Toản là một văn sĩ nổi tiếng bị ngồi
tù vì trọng tội. Vua Vũ Đế nhà Lương (502-550) ra một đặc ân là sẽ tha tội nếu
Tư Toản có thể hoàn thành những vần thơ trong số một nghìn chữ do vua
chọn mà không có chữ nào được lập lại. Ông đã hoàn tất công việc này trong vòng
một đêm. Tuy vậy, sáng ra tóc ông đã bạc phơ.
3- Tứ Thư hay Tứ Truyện
Bốn tác phẩm kinh điển: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh
Tử.
*/ Đại Học
Do Tăng Tử viết. Nội dung sách nói về sự tu dưỡng
bản thân và ứng xử trong xã hội. Gồm 7 điểm tuần tự:
- Cách vật, tức đào sâu kiến thức
- Trí tri, tức mở mang trí tuệ
- Thành ý, tức thực tâm mong muốn
- Chính tâm và tu thân, tức sửa mình
- Tề kỳ gia, tức chăm sóc gia đình
- Trị quốc, tức cai trị đất nước
- Bình thiên hạ, tức làm cho an dân, yên ổn
Có những câu như:
-Giàu có làm đẹp nhà cửa, đức độ làm đẹp tấm thân (Phú nhuận ốc,
đức nhuận thân)
-Đức là cái gốc, của là cái ngọn (Đức giả bản dã, tài giả mạt
dã)
*/ Trung dung
Do Tử Tư viết. Tử Tư là con của Bá Ngư tức là cháu
nội đích tôn của Khổng Tử. Ông dạy rằng Đạo trung dung là lẽ tự
nhiên của của trời đất, con người phải theo lý tự nhiên ấy mà sống mà giữ mình
theo cái trung dung trong mọi hoàn cảnh.
Ông trình bày những nguyên tắc, nếu tuân thủ theo, sẽ tìm được
sự thanh liêm vốn có của mình, sánh ngang với trời đất.
Có câu như:
- Thương yêu người thân là đức lớn (Thân thân vi đại)
*/ Luận Ngữ
Cuốn sách này do học trò của Khổng Tử ghi lại những lời
ngài giảng dạy, hay những cuộc đối thoại của ngài với học trò. Giọng
văn trịnh trọng, lời văn sâu sắc đôi khi đến khó hiểu. Sách được viết sau khi
ngài mất.
Có những câu như:
- Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác (Thi chư kỷ
nhị bất nguyên, diệc vật thi ư nhân)
- Người quân tử hiểu rõ về nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi
(Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi)
- Năng lực người quân tử như gió, năng lực của kẻ tiểu nhân
như cỏ; gió thổi trên cỏ ắt cỏ nép xuống (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi
đức thảo; thảo thượng chi phong, tất yển)
- Điều nhỏ không nhịn thì làm hỏng mưu lược lớn (Tiểu bất nhẫn,
tắc loạn đại mưu)
*/ Mạnh Tử
Sách do Mạnh Tử viết, trình bày dưới dạng đối thoại,
bao gồm những lời răn dạy với những tư tưởng sâu sắc; văn phong luôn
trong sáng, mượt mà.
Sách được chia làm bảy chương: ba chương đầu là Mạnh Tử
thượng và bốn chương sau là Mạnh Tử hạ.
4- Ngũ Kinh
Gồm 5 cuốn kinh điển: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch,
Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
*/ Kinh Thi
Đây là tập thi ca, gồm 311 bài thơ, chia ra nhiều thiên,
mỗi thiên gồm nhiều chương hay thư.
Lối văn cổ điển, vần thơ đẹp, nhiều cảm hứng, được lấy từ những chuyện
tình ủy mị hay phóng túng. Tác phẩm gồm bốn phần: Quốc phong, Tiểu nhã, Đại
nhã và Tụng.
-Quốc phong là một tập thơ gồm 160 bài ca dao dân gian kể
về phong tục của 15 nước chư hầu ở Trung Hoa. Đây là phần hay nhất của
toàn bộ tác phẩm, nhưng có nhiều chỗ miêu tả về tình yêu xác thịt rất lộ liễu.
-Tiểu nhã và Đại nhã, nội dung liên quan tới con người và sự
việc trong vấn đề giải quyết công việc liên quan tới hành chính. Tiểu nhã gồm
80 bài thơ, Đại nhã gồm 31 bài thơ.
-Tụng hay xướng, chia làm ba phần: Chu tụng, Lỗ
tụng, Thương tụng
-Chu tụng, gồm 31 bài tụng ca, được sáng tác để ca tụng những tiền
nhân sáng lập nhà Chu.
-Lỗ tụng, gồm 14 bài thơ ca ngợi những vị vua nước Lỗ
-Thương tụng, gồm 4 bài tụng ca ngợi Thành Thang, tổ
tiên lập ra nhà Thương và một số vị vua khác.
Kinh Thi được bắt đầu sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ 14 trước
Công nguyên (Tr.CN).
*/ Kinh Thư
Kinh Thư do Khổng Tử viết lại, gồm 4 phần: Ngu thư, Hạ
thư, Thương thư và Chu thư, chứa đựng nhiều lời giáo huấn hữu
ích về đạo đức của các đấng quân vương.
Kinh Thư bị mất sau việc đốt sách của Tần Thủy Hoàng, nhưng
vào năm 176 (Tr.CN), Hoàng đế Văn Đế đã phục hồi được kinh này nhờ một ông già
còn thuộc toàn bộ, và đến đời vua sau đó người ta đã tìm thấy một bản gốc ở dưới
ngôi nhà đổ nát của Khổng Tử.
*/ Kinh Dịch
Nội dung cốt lõi của Kinh Dịch dựa trên nguyên lý vũ trụ.
Mọi hoạt động, biến hóa vô cùng của mọi sinh linh, kể cả tinh thần, tư tưởng đến
vật chất đều dựa trên hai nhân tố thiết yếu là âm và dương. Âm
dương có thể diễn tả bởi sự kết hợp qua những thẻ quái, hay những hình
tượng để giải thích sự bí ẩn của tự nhiên, những lời sấm truyền và giải
quyết những khó khăn trong cuộc sống.
Kinh Dịch được viết, ít ra là những nét chính yếu, từ thế kỷ
thứ 13 hay 12 (Tr.CN).
*/ Kinh Lễ hay Lễ Ký
Ghi chép về các lễ nghi, cấu thành nền tảng phong tục tập
quán của Trung Hoa và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa ấy. Cuốn sách được chia
làm nhiều phần: Khúc lễ, nói về chi tiết của các nghi lễ; Tăng Tử
vấn, nói về những câu hỏi của Tăng Tử; Nội tắc, nói về quy tắc trong gia
đình; Tế nghĩa, nói về ý nghĩa của các nghi lễ ...
Có những câu như:
-Đàn ông không nói chuyện trong nhà, đàn bà không nói chuyện
ngoài đường (Nam bất ngôn nội, nữ bất ngôn ngoại)
*/ Xuân Thu
Cuốn sách này còn gọi là Biên niên của Khổng Tử, do
chính Khổng Tử biên soạn. Sách liệt kê những việc làm chính của 12 vị
vua nước Lỗ theo thời gian.
5- Tam Truyện
Nội dung những cuốn sách này là bình luận về kinh
Xuân Thu, gồm:
- Tả Truyện, đặt theo tên tác giả là Tả Khưu Minh.
- Công Dương Truyện, đặt theo tên tác giả là Công Dương
Cao.
- Cốc Lương Truyện, đặt theo tên tác giả Cốc Lương Xích.
6- Sách sử
Gồm sử Việt và sử Trung Hoa. Sử Trung Hoa được đọc nhiều hơn
cả chẳng hạn như các cuốn: Hạ Ký, cuốn sử viết về triều đại nhà Hạ; Đường
Ký viết về triều đại nhà Đường; Hán Sử viết về triều đại nhà Hán
... Sử Ký là một tác phẩm đồ sộ về lịch sử nhưng cũng được coi là một
tác phẩm văn học bởi văn phong mạch lạc và nhẹ nhàng của nó.
7- LuậtBên lề bài viết,
Mời đọc vài bài thơ:
- Bài thơ của cụ Nguyễn Khuyến
Gửi Ban Tu Thư
Nhắn nhủ tu thư hỡi các ngài,
Đã tu tu kỹ, chớ tu lười!
Góp chung ba bốn năm mồm lại,
Rồi để trăm nghìn vạn mắt coi.
Bút gác núi Nùng thêm vẻ rạng,
Mực mài sông Nhị ngát hương trôi.
Bê ba sẵn sách đem mà học,
Để tiếng khoa danh biết mấy đời.
- Bài phú của cụ Tú Xương
Phú Thầy Đồ (tự trào)
Bài 1:
Thầy đồ thầy đạc
Dạy học dạy hành
Vài quyển sách nát
Dăm thằng trẻ ranh
Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía
Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh
Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát
Cho nên thầy lẩn quẩn loanh quanh
Trông thầy
Con người phong nhã
Ở chốn thị thành
Râu rậm như chổi
Đầu to tày giành
Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo
Cũng nhiều lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh
Nhà lính tính quan: ăn rặt những thịt quay, lạp xường, mặc rặt những quần vân,
áo xuyến
Đất lề quê thói: chỗ ngồi cũng án thư, bàn độc, ngoài hiên cũng cánh xếp, mành
mành
Gần có một mụ, sinh được bốn anh:
Tên Uông, tên Bái, tên Bột, tên Bành
Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo
Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè rượu cơm canh
Chọn ngày lễ bái
Mở cửa tập tành
Thầy ngồi chễm chện
Trò đứng chung quanh
Dạy câu Kiều lẩy
Dạy khúc lý kinh
Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép
Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành!
Bài 2:
Có một cô lái
Nuôi một thầy đồ
Quần áo rách rưới
Ăn uống xô bồ
Cơm hai bữa: khoai lang, lúa ngô
Sao dám khinh mình? Thầy đâu thầy vậy!
Chẳng biết trọng đạo, cô lốc cô lô...Chương Hai
Thi Hương
(Triều Nguyễn)Vinh quySách Khải Định chính yếu (ghi lại các sự kiện thời Khải Định)
chép rằng tháng Giêng năm 1919, thể thức kỳ thi Hội với những thay đổi,
vua Khải Định phê: "Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều
đình, nên trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai
thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện Bộ Học để xin vào ứng
thí".
Ngày 16-5-1919 (nhằm 17-4 âm lịch), kỳ thi Đình cuối cùng diễn
ra trong cung vua.
LỜI NGƯỜI VIẾT
Dựa theo tài liệu trên, THI CỬ theo Nho học đã kết thúc cách
đây vừa tròn 100 năm. Một trăm năm ngắn ngủi so với chiều dài gần 9 thế kỷ
(1075-1919), mà mọi triều đình ta kể từ đầu nhà Lý trở về sau, ngoài việc tiến
cử đặc biệt, sự tuyển chọn nhân tài cho đất nước đều do qua thi cử cả.
Ấy vậy, khi ngoảnh nhìn lại, chúng tôi tự thấy mình không biết gì mấy về việc
làm quan trọng như thế của người xưa nên cố gắng lục lọi, tìm tòi một số tài liệu
trong các sách tham khảo ít ỏi có sẵn trong tay, và cộng thêm những bài viết
trên NET để tạm vẽ nên một vài nét sơ lược về thi cử Nho học
ngày xưa. Đề tài thì mênh mông, tài liệu tham khảo thì giới hạn, đôi chỗ lại
khác biệt hay mâu thuẫn lẫn nhau, khó hiểu nên mong có sự đóng góp của quý vị độc
giả để giúp chúng tôi có sự hiểu biết rộng rãi thêm và chính xác hơn.
LOẠT BÀI NÀY CHỈ PHỔ BIẾN GIỚI HẠN TRONG NHÓM THÂN HỮU nhằm kỷ
niệm một trăm năm ngày chấm dứt thi cử Nho học tại Việt nam
I - ĐẠI CƯƠNG
Thi Hương được tổ chức cứ ba năm một kỳ, vào những
năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Những khoa này được gọi là chính khoa (khác với
Ân khoa) do triều đình tổ chức để chọn nhân tài theo định kỳ nhất định.
Khoa thi Hương có hai học vị Cử nhân và Tú tài, nhưng chỉ những
ai đạt học vị Cử nhân mới chính thức kể là người đã đỗ để
tiếp tục vào kỳ thi Hội được tổ chức ở kinh đô.
1- Địa điểm tổ chức thi Hương
*/ Vào đời Minh Mạng và Thiệu Trị có cả thảy 7 trường
thi chia theo miền:
Miền Bắc gồm hai trường Hà Nội, Nam Định
Miền Trung gồm bốn trường Thanh
Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định
Miền Nam gồm một trường Gia Định.
Những tỉnh thuộc địa bàn của các trường thi:
- Trường thi Hà Nội-Nam Định gồm các tỉnh miền Bắc.
- Trường thi Thanh Hóa gồm các tỉnh Thanh Hóa, Ninh
Bình
- Trường thi Nghệ An gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
- Trường thi Thừa Thiên gồm các tỉnh Thừa Thiên và Ngũ
Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi)
- Trường thi Bình Định gồm các tỉnh Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa
- Trường thi Gia Định gồm các tỉnh miền Nam
*/ Vào đời vua Tự Đức (1884) trường Hà Nội phải dời và thi
chung với trường Nam Định được gọi là trường Hà Nam
*/ Vào những năm cuối cùng của thi cử Nho học, khi có sự hiện
diện của người Pháp, số trường thi thu lại chỉ còn:
Miền Bắc: Trường thi Hà Nam (thi ở Nam Định)
Miền Trung: Các trường thi Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên,
Bình Định
Miền Nam: Trường thi Gia Định bị bãi bỏ.
2- Thời gian tổ chức
Tùy thuộc mỗi Trường thi nhưng phải được tổ chức trong cùng một
năm. Thí dụ như tháng Tư âm lịch đối với Thừa Thiên, tháng Sáu âm
lịch đối với Nghệ An, tháng Bảy âm lịch đối với Thanh Hóa và tháng
Mười âm lịch đối với Nam Định. . .
3- Vòng thi bốn trường và các môn thi
Thi Hương gồm 4 kỳ gọi là tứ trường: Nhất
trường, Nhị trường, Tam trường và Tứ trường hay Phúc hạch; cách
nôm na gọi là Trường nhất, Trường nhì, Trường ba và Trường bốn; hay Kỳ
nhất, Kỳ nhì, Kỳ ba và Kỳ bốn; hay Vòng nhất, Vòng nhì,
Vòng ba, Vòng bốn. Gọi sao cũng đều được hiểu như nhau là có bốn đợt thi trong
thi Hương.
- Kỳ Nhất trường: thi kinh nghĩa
- Kỳ Nhị trường: thi thơ, phú
- Kỳ Tam trường: thi chiếu, chế, biểu
- Kỳ Tứ trường hay Phúc hạch: thi văn sách
Thứ tự các môn thi vừa kể trên có thể thay đổi theo mỗi khóa
thi, nhưng căn bản thường áp dụng theo lịch trình như thế.
Thời gian làm bài của mỗi trường (hay mỗi kỳ, mỗi
vòng) kéo dài trong vòng một ngày từ sáng tới tối.
4- Lịch trình cho bốn kỳ thi
Những khóa thi về sau, lịch trình ngày thi của bốn trường
không quy định rõ, nhưng thông thường được áp dụng trong tháng có khoa thi như
sau:
- Ngày mùng 8 thi Nhất trường.
- Ngày 18 thi Nhị trường.
- Ngày 25 thi Tam trường.
- Ngày 01 tháng sau thi Tứ trường (hay trước kia còn gọi là kỳ
Phúc hạch).
- Thông thường, sau một hay hai tuần tính từ ngày thi Tứ trường,
tên người thi đỗ được yết bảng sau khi được triều đình chuẩn thuận
danh sách tân khoa.
Quy định: Người thi đỗ Nhất trường mới
được vào thi Nhị trường, và cứ như thế áp dụng cho Tam trường và Tứ
trường.
5- Mô tả trường thi (Nam Định)
Để hiểu thêm những phần viết trong những tiết mục dưới,
xin đọc và xem sơ đồ Trường thi ở
PHỤ BẢN "A"
II- TIẾN TRÌNH CHUẨN BỊ và ĐIỀU HÀNH VIỆC THI CỬ
A- TIẾN TRÌNH CHUẨN BỊ
1-Triều đình chọn ban khảo thí và ban giám sát
Văn ban đình thần Bộ Lễ (năm 1908 đổi thành Bộ Học) trong triều
hội họp lại đề cử ban khảo thí. Trừ hai quan Đề tuyển là những
người thuộc võ quan, còn các quan khác đều nằm trong hạng khoa mục cả.
Kén chọn xong, đình thần làm sớ tâu lên vua để được chuẩn thuận.
Vua phê lời chỉ dụ, đồng thời cử hai quan Ngự sử sung
vào ban giám sát.
Trước khi lên đường, các quan được đề cử đi phải vào bái mạng
vua rồi ra Bộ Lễ lĩnh cờ và bài, trên cờ có chữ "Chỉ" to và chữ
"Phụng" nhỏ, ý nói vua truyền và các quan phải tuân theo.
- Ban khảo thí
Số lượng gồm:
Một quan Chánh Chủ khảo, một Phó Chủ khảo
Hai quan Phân khảo
Hai quan Giám khảo
Hai quan Đề tuyển còn gọi là quan Đề điệu (riêng
hai viên này là quan võ, không biết văn chương)
Từ 4, 8 đến 10 quan Phúc khảo, (tùy theo trung tâm thi lớn, nhỏ)
Từ 8, 16 đến 20 quan Sơ khảo, (tùy theo trung tâm
thi lớn, nhỏ), số quan Sơ khảo nhiều gấp đôi quan Phúc khảo.
- Ban giám sát
Số lượng gồm:
Hai quan Ngự sử giám sát.
Tám đội thể sát gồm 4 đội coi việc thi và 4 đội coi
giữ trật tự.
Kể từ năm Bính Tuất (1885), niên hiệu Đồng Khánh, triều thần
chỉ cử các quan
Phân khảo, Đề tuyển trở lên mà thôi, còn các quan Phúc
khảo, Sơ khảo sẽ do các quan Kinh lược tỉnh địa phương chỉ định.
2- Trước ngày thi một tuần
Các quan khảo thí và quan giám sát phải
lên đường đến trường thi. Khi đến nơi tỉnh có trường thi tọa lạc, các quan vào
yết kiến quan Tổng đốc địa phương rồi tức khắc tiến trường và
ở luôn trong trường cho đến khi thi xong.
- Các quan địa phương phải cử 40 người lại phòng sung
vào việc biên chép trong trường thi, và cử lính đặt dưới quyền
quan Ngự sử, lại phải cung cấp đủ lương thực cho các quan trường dùng
trong suốt thời gian thi. Đến ngày thi phải cử một viên Lãnh binh đem
quân hộ thành diễu quanh trường để tăng phần nghiêm ngặt.
- Các quan vào trường rồi, phải ở nhà dành riêng cho mình,
không được đi lại với nhau trong suốt kỳ thi.
3- Lễ tiến trường(đơn cử Trường thi Hà Nội)
Hôm đó, có biết bao nhiêu người tụ tập trước cửa phủ của quan
Tổng đốc và dọc hai bên đường đến Văn Miếu để xem Lễ tiến trường của
các quan trong dịp triều đình mở khoa thi ở Hà Nội.
a/ Phần tiến trường của các quan khảo thí do triều đình
đề cử
Nào chiêng trống, trống con trống cái, nào phường bát âm thi
nhau khua inh ỏi từ nhà phủ quan Tổng đốc tiến ra.
- Hai lọng đỏ che cho cờ và bài của nhà
vua
Theo sau đó, theo thứ tự trước sau, là các quan uy nghi trong
sắc phục theo thứ bậc cao thấp của triều đình:
- Quan Chánh chủ khảo (quan Đại thần Bộ Lễ, sau đổi
thành Bộ Học), ngồi võng thứ nhất được che bởi bốn lọng xanh.
- Quan Phó chủ khảo, ngồi võng thứ nhì được che bởi ba lọng
xanh.
- Hai quan Giám sát Ngự sử, ngồi võng thứ ba và thứ tư
được che bởi hai lọng xanh.
- Hai quan Giám khảo, ngồi võng thứ năm, thứ sáu với hai
lọng xanh.
- Hai quan Đề tuyển, ngồi võng thứ bảy, thứ tám với một
lọng xanh.
- Hai quan Phân khảo, ngồi võng thứ chín, thứ mười với một
lọng xanh
- Bốn quan Phúc khảo, mỗi người một võng và một lọng màu
lam.
- Tám quan Sơ khảo, đi bộ, mỗi vị một lọng màu lam đi
theo.
b/ Phần tiến trường của quan, lính, nhân viên phụ trợ tại
địa phương
- Lại một võng điều có bốn lọng che, quan Tổng đốc mặc
sắc phục đại triều tiễn đưa các quan trường.
- Theo sau quan Tổng đốc là một án thư lớn do lính
khiêng, trên để lễ tam sinh gồm một con dê, một con lợn và một con
gà, có hai cái lọng đi kèm. Và một án thư thứ hai, trên có hoa quả, mâm xôi, một
con lợn chín, cũng có hai lọng đi theo.
- Kế đến là 40 lại phòng (thư ký) quần áo chỉnh tề,
xếp hàng đôi đi trước, theo sau là tám viên đội thể sát với một toán
lính vác gươm, cầm giáo rất oai nghi. Toán này do quan tỉnh cử vào sẽ ở lại trường
để phục vụ trường thi.
- Một toán lính tập hậu đi sau cùng để dẹp đường.
Đám rước đi rất oai phong và chậm chạp tiến về phía Văn Miếu.
Đến khu Văn Miếu các quan xuống võng, đem lễ chín vào bái yết đức
thánh Khổng Tử. Lễ xong các vị trở ra và tiến thẳng đến trường thi.
Tiễn tới đây, quan Tổng đốc trở lại dinh.
Các quan trường được tiếp tục rước đến trường thi. (Xem sơ đồ
Trường thi – Phụ Bản "A")
- Đến cổng trường, phu cờ tản ra hai bên, nhường cho phường
trống tiến vào Tiền môn (cổng chính). Qua nhà Thập đạo, thẳng lối
vào Thí viện. Tất cả tụ tập nơi đây.
- Lễ tam sinh bày ở Thí viện, các quan chia nhau vào làm lễ bách
linh và tứ phương thần chủ.
- Lễ hoàn tất, các phu lọng đi ra, khu trường thi sẽ bị biệt
lập khoảng một tháng, nội bất xuất, ngoại bất nhập chỉ trừ có mấy viên đội
thể sát do quan Ngự sử cho ra ngoài để vận chuyển lương thực.
4-Trước ngày thi một ngày
a/ Công việc chuẩn bị các "quyển"
"Quyển" được các quan Đề tuyển làm việc một cách rất
hết sức cẩn thận và trật tự. Thí dụ trường Hà Nội, năm đó có tới vạn
hai (12000) thí sinh ứng thí, số quyển thi phải tới bốn vạn tám
(48000) quyển, bởi mỗi thí sinh phải nộp bốn quyển cho đủ bốn kỳ thi. Bốn
quyển đó do chính tay học trò đóng và đề tên họ với quê quán của mình nộp lên
quan Đốc học tỉnh nơi nguyên quán.
(Nhắc lại, sắp đến ngày thi, quan Đốc học các tỉnh phải chuyển
toàn bộ quyển của các thí sinh tỉnh mình giao cho quan trường).
b/ Công việc của quan "ngoại trường" Đề tuyển
(Danh từ "nội trường", "ngoại trường" có
ý chỉ vị trí được phân bố trong Trường thi - xem Phụ Lục "A")
Sau khi Ngoại trường nhận đủ quyển của các tỉnh, quan
"ngoại trường" Đề tuyển đóng dấu (thí dụ) "Hà Nội thí
trường" vào trang đầu mỗi quyển rồi mới chuyển vào Nội trường cho quan
"nội trường" Đề tuyển.
c/ Công việc của quan "nội trường" Đề tuyển và lại
phòng (thư ký)
Lúc này rất phức tạp.
- Trước hết phải mở các quyển và đóng vào khe giữa của trang
hai và trang ba một dấu nữa. Dấu này có chữ "Văn hành công
khí", người ta còn gọi là dấu "giáp phùng". Dấu này để tránh cho
kẻ gian tháo những tờ từ trang thứ hai trở xuống mà thay những tờ khác vào thay
thế.
- Rồi chọn tên thí sinh mỗi người một quyển, tổng cộng một vạn
hai (12000) quyển, cho vào một đống, trộn cho lung tung và chia làm bốn phần.
Phải trộn đều lên là cốt khi phân chia, những quyển cùng tỉnh không ở cùng một
phần với nhau. Chia ra làm bốn phần vì sẽ chia ra bốn vi, mỗi vi một phần.
- Sau khi chia ra làm bốn phần, các lại phòng lần
lượt ghi tên các "quyển" vào sổ. Bốn phần phải làm tám cuốn sổ, mỗi phần
hai cuốn, biên giống như nhau.
- Lính thể sát (còn gọi là mật
sát) đóng bốn phần vào bốn hòm riêng rẽ, mỗi phần một hòm đưa ra Ngoại trường để
đến ngày thi phát cho thí sinh. Kèm theo đó phải gửi ra bốn cuốn sổ ghi tên thí
sinh để ngoài này làm bảng yết danh treo ở ngoài cửa các vi. Còn bốn
cuốn sổ ghi tên còn lại được giữ trong Nội trường để sau này tra xem
ai bị "hỏng" và ai "được vào" kỳ thi tới.
B- ĐIỀU HÀNH VIỆC THI CỬ
1- Tổng quát về bốn trường thi
- Nhắc lại: Thi Hương gồm "bốn trường", đó là Nhất
trường, Nhị trường, Tam trường và Tứ trường xưa gọi là kỳ Phúc Hạch. Nôm
na, dân gian còn gọi "bốn trường" là
Trường nhất, Trường nhì, Trường Ba, Trường bốn; hay "bốn kỳ"gồm Kỳ nhất,
Kỳ nhì, Kỳ ba và Kỳ bốn; hay "bốn vòng" là Vòng nhất, Vòng nhì, Vòng
ba, Vòng bốn.
- Người thi đỗ Nhất trường mới được vào thi Nhị
trường, và cứ như thế áp dụng cho Tam trường và Tứ trường.
- Trong bốn trường kể trên, mỗi trường kéo dài một ngày.
- Kết quả mỗi trường thường được công bố sau đó mấy ngày, (theo
lịch trình đã nói ở trên), đó là thời gian dành cho ban giám sát Đề
tuyển làm việc, và ban khảo thí chấm bài.
- Bảng thí sinh đỗ trong mỗi trường sẽ được niêm yết tại cổng trường
thi hoặc cổng mỗi vi trước một ngày để thí sinh biết mà chuẩn bị
vào trường kế tiếp.
2- Các môn thi dành cho bốn trường
Thông thường:
Kỳ Nhất trường thi kinh nghĩa
Kỳ Nhị trường thi thơ, phú
Kỳ Tam trường thi chiếu, chế, biểu hay chế, biểu,
luận
Kỳ Tứ trường thi văn sách
3- Cách ra đề thi
- Nhất trường: Đề bài gồm có cả thẩy 7 đề gồm hai
bài truyện rút ra từ Tứ Thư hay còn gọi là Tứ Truyện
và năm bài kinh rút ra từ Ngũ K inh. Những bài văn này gọi chung
là kinh nghĩa. Thí sinh bắt buộc phải làm ít nhất 3 bài trong bảy đề
bài trên. Tuy nhiên thí sinh cũng có thể làm đủ cả 7 bài để tỏ rõ tài học của
mình.
- Nhị trường: Đề bài, gồm một bài thơ và một bài
phú. Thí sinh phải làm đủ cả 2 bài.
- Tam trường: Đề bài gồm chế, chiếu, biểu, mỗi
loại một bài. Chế, thường gọi là "chế văn", tức lời vua ban
khen khi phong thưởng cho công thần. Chiếu là soạn một "chỉ thị"
của triều đình hay lời, lệnh vua ban xuống cho thần dân. Biểu là một
"văn bản" (sớ) của quan đại thần viết dâng lên triều đình hay vua.
Thí sinh phải làm đủ cả ba bài.
- Tứ trường (hay Phúc hạch): Đề bài gồm một
bài văn sách. Bài này đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức sâu rộng về kinh
điển Nho gia, trình bày những mưu lược, kế sách của mình trước những vấn đề kim
cổ hay thời cuộc hiện tại phù hợp với đề bài.
Lưu ý: Ý nghĩa của tên gọi kỳ Phúc hạch là để sát
hạch lại các kỳ thi trước. Vì vậy các khóa thi trước đây, đề bài sát hạch
phải hội đủ các loại văn của ba kỳ thi kia để các quan khảo thí có thể dựa vào
đó mà xét khiếu văn và trình độ của mỗi thí sinh có phù hợp
với những bài văn đã làm trong các kỳ trước hay không hầu để tránh trường hợp
gian lận, thi dùm. Bài thi gồm một bài kinh nghĩa hay bình về Kinh
Thưvà một bài thơ hay một bài phú. Có khóa thi chỉ cần làm một bài
thơ để nhận mặt chữ là đủ. Những khóa thi về sau này, phép thi đổi lại, kỳ
Phúc hạch được coi là một kỳ thi thật sự giống như ba kỳ kia nên được
gọi là Tứ trường. Bài thi lúc này chỉ có một bài văn sách. (Sẽ
có giải thích thêm ở những đoạn sau).
Kỳ thi Nhất trường
(Dùng làm tiêu biểu cho cả 4 kỳ thi)
- Độ hai giờ sáng hôm thi Nhất trường, sĩ tử tập
trung trước 4 cửa vi. Người đông nghẹt như kiến. Những ngọn đuốc (đình liệu)
cháy rực ở các cửa vi và nhà Thập đạo. Trong nhà Thập đạo, trống cùng kiềng
đồng theo nhau gióng đủ 3 hồi 9 tiếng, bấy giờ các quan chuẩn bị xuống các vi.
-Hai quan Ngự sử và mấy người trong đội thể
sát oai nghiêm lên chòi canh giám sát.
-Hai quan Phân khảo ra hai vi TẢ, HỮU
-Quan Phó chủ khảo theo biển "Phụng chỉ"
đến cửa vi ẤT
-Quan Chánh chủ khảo theo là cờ "Khâm sai" ra cửa
vi GIÁP
Đôi lọng vàng che cho hai chữ "Khâm sai", đôi lọng
xanh nghiêm chỉnh che cho vị Chủ khảo vận phẩm phục oai nghiêm tiến
ra cửa vi trèo lên ghế, bệ vệ trên "ghế tréo".
Ngoài cổng trường thi bỗng như xé làn không khí, tiếng loa
"chiếu lệ" thét trên chòi canh.
"Báo oán giả tiên nhập. Báo ân giả thứ nhập! Sĩ tử thứ
thứ nhập"
Mỗi cửa vi, những người lính đứng cạnh vị khảo quan với chồng
quyển, theo miệng người lại phòng cầm danh sách vừa múa loa lên gọi
tên thí sinh. Mỗi khi nghe tên, thí sinh "dạ" to rồi tiến vào cửa cho
lính khám xét.
1- Khám xét và nhận quyển
Lính khám rất nghiêm ngặt:
-Soát từ cái chân chõng, mộng chõng nếu có dáng bị nghi ngờ
-Ghé mắt vào ống quyển, lấy que khuất trong bầu nước uống
-Lần giải lưng, thọc tay vào túi, vuốt các gấu áo gấu quần
-Gỡ tung cả bộ lều nếu bị nghi
-Sau cùng là khám cái tráp son dùng đựng thỏi mực, cái bút,
dùi vở, giấy trắng để "cánh quyển" (giải thích ở dưới).
-Thực phẩm đem theo
Sau cuộc khám sét, các thí sinh nhận quyển của mình (đã được
trường thi đóng sẵn dấu "giáp phùng"). Thí sinh vào trường nơi bãi
thi thuộc vi của mình dựng lều. Các lều được dựng ngổn ngang trông như lều chợ,
không theo thứ tự hàng lối. Trừ khi tới Tứ trường, thí sinh còn ít nên lều
được dựng ngăn ngắn theo hàng lối.
Các quan họp ở nhà Thập đạo ra đầu bài, còn hai
quan Ngự sử ở trên chòi kiểm soát sự gian lận.
2- Tiến trình việc thi cử của thí sinh
a/ Trống báo ra đề bài thi
Bài thi:thi kinh nghĩa gồm
2 truyện lấy từ bộ sách Tứ thư (Luận ngữ, Trung dung, Đại
học, Mạnh Tử).
5 bài Kinh thi lấy từ bộ sách Ngũ kinh (Dịch, Thư, Thi,
Lễ, Xuân Thu).
Nhưng thí sinh chỉ cần làm 3 bài bắt buộc, hoặc làm hết cả 7
bài tùy ý.
b/ Trống báo lấy dấu "nhật trung"
Vào khoảng trưa, có hồi trống báo lấy dấu nhật trung.Bài viết dở dang, nhưng ít nhất viết được 3 dòng
rưỡi, thí sinh phải đem quyển đi lấy dấu nhật trung ở nhà Thập đạo. Dấu
nhật trung của quan trường chứng tỏ bài thi đã được viết ở trong trường chứ
không phải bài đem từ ngoài vào.
Theo quy định trường thi, dấu giáp phùng thì phải
viết đè lên, nhưng dấu nhật trung thì không được viết đè lên, Chung
quanh hai dấu này không được đồ (xóa), di (sót), câu (móc), cải (sửa)
chữ nào cả vì quan trường sợ thí sinh làm dấu bài.
c/ Cánh quyển
Trong khi làm bài, nếu thấy bài mình bị phạm lỗi trường
quy hay viết bài sai thí sinh phải đóng quyển mới, gọi là cánh quyển. Quyển
mới cũng phải ghi tên họ, nguyên quán, khai tam đại trên tờ đầu rồi đem lên nhà
Thập đạo xin dấu giáp phùng. Khi viết được quá 3 dòng rưỡi thí sinh cũng
phải đem quyển lên nhà Thập đạo xin dấu nhật trung rồi mới làm bài tiếp.
d/ Cộng quyển nội
- Trước khi nộp quyển thí sinh phải cộng tất cả những chỗ đồ,
di, câu, cải để ghi vào dưới chữ "cộng quyển nội". Những chỗ sai
sửa này không được quá 10 chữ.
- Sau khi "cộng quyển nội" thí sinh có quyền nộp
quyển (nộp bài thi) tại nhà Thập đạo. Rồi quay trở lại rỡ lều chõng, theo đường chínhđạo ra
cổng về.
e/ Trống thu quyển (1)
Đến chiều tối, một hồi trống báo thời hạn chót thu quyển.
Khi đã có trống thu quyển, quan "ngoại trường" Đề tuyển phải
ra tận nhà Thập đạo trông coi nhân viên lại phòng thu quyển. Quyển
nào nộp đúng thời hạn gọi là quyển nội hàm, được cho vào hòm không và niêm
phong. Quyển nào nộp ngoài thời hạn phải đóng dấu ngoại hàm và để ở
ngoài hòm, quyển không được chấm.
3- Tiến trình chấm bài
a/ Rọc phách
Hòm quyển và những quyển ngoại hàm được giao về cho
quan "nội trường" Đề tuyển trong Nội trường để rọc phách.
Trong Nội trường, quan "nội trường" Đề tuyển để
riêng những quyển ngoại hàm ra một bên, còn bao nhiêu quyển nội
hàm thì đưa cho lại phòng đóng dấu và rọc phách.
Lúc này công việc gấp lắm, bao nhiêu lại phòng đều
xúm vào làm việc.
Mỗi quyển phải "khuyên" một cái vòng tròn ở giữa
trang đầu và viết hai bên khuyên hai dòng chữ giống nhau. Thí dụ bên này viết
hàng chữ "Giáp nhất hiệu" bên kia cũng "Giáp nhất hiệu" hay
bên này viết "Khảm lục hiệu" thì bên kia cũng viết "Khảm lục hiệu".
Rồi gấp một vệt ở giữa khuyên, rọc lấy một mảnh phần có ghi tên họ, quê quán của
thí sinh giữ lại. Mảnh giấy ấy gọi là phách. Sau khi rọc phách, không ai
còn biết quyển bài thi ấy là của ai trừ các quan Đề tuyển.
(Nên nhớ trong suốt khoa thi chỉ có hai quan "ngoại
trường", "nội trường" Đề tuyển là người duy nhất biết
quyển nào là của ai. Toàn ban chấm bài, kể từ quan Chánh chủ khảo đến quan Sơ
khảo đều không biết vì quyển đã bị rọc phách lấy tên ra và thay vào
đó bằng một ám số riêng cho từng quyển. Chỉ các quan Đề tuyển mới
được quyền rọc phách và ráp phách. Như đã biết, các quan Đề tuyển là quan võ,
không biết văn chương nên không thể gian lận sửa bài dùm cho thí sinh được)
b/ Cách phê điểm
Việc cho điểm có hai loại: "đánh giá chung" và
"đánh giá chi tiết" tức tiểu chú.
- Đánh giá chung có bốn mức ưu, bình, thứ và liệt tức rất
tốt, tốt, khá và kém.
- Lời phê tiểu chú gồm những nhận xét ngắn gọn. Những lời
phê thường gặp như vị lưu tức không trôi chảy, sinh cường tức
cứng nhắc, khiếm nghĩa tức thiếu nghĩa, thơ tú tức thơ tuyệt
hay, nghĩa tinh từ túc tức nghĩa tinh tế và câu đầy đủ, bút ý
tinh thâm tức ý hay và sâu sắc ... Những bút phê này được ghi ở mặt sau của
trang thứ hai, nằm phía dưới từ phải qua trái. Trước tiên là bút phê của
quan Sơ khảo sau đến Phúc khảo, Giám khảo cuối cùng là
bút phê của quan Chủ khảo nằm ở trên các vị kia và nằm ở chính giữa
trang, chứng tỏ sự quan trọng của nó.
Mỗi vị dùng một màu mực khác nhau được quy định để phân biệt.
Quan Sơ khảo dùng màu đỏ nhạt, Phúc khảo dùng màu xanh
lơ, Giám khảo dùng mực tím, Chủ khảo dùng màu đỏ son.
Người chấm quyển nào phải ghi rõ chức vụ, họ tên và điểm
phê.
c/ Quan "Nội trường" chấm
Hòm quyển sau khi rọc phách được đưa vào Giám
việntrong Nội trường, ở đấy các quan Sơ khảo chia nhau chấm lần đầu rồi
chuyển sang cho các quan Phúc khảo và Giám khảo chấm lần thứ
hai và lần thứ ba. Mỗi quyển phải đủ ba vị chấm.
Nội trường chấm xong, những quyển ấy lại được giao trả cho
quan "nội trường" Đề tuyển để chuyển sang cho Ngoại trường
chấm.
d/ Quan "Ngoại trường" chấm
Lúc này, những quyển đã được chấm bên Nội trường, lại được
chia làm hai hạng:
- Những quyển nào mà nội trong ba điểm chấm, có một điểm dấu
phê ưu, bình hay thứ đều được đưa ra Thí viện để
các quan Chánh, Phó khảo ở bên Ngoại trường chấm lại và phê điểm lên
trên điểm của ba vị kia trong Nội trường.
- Những quyển bị đủ cả ba điểm dấu phê liệt thì phải
để các quan Phân khảo chấm lại lần cuối cùng. Nếu quan Phân khảo
thấy quyển nào khá mà các quan chấm trước phê liệt sẽ được chọn trình
lên cho quan Chủ khảo định đoạt.
e/ Khi có ý kiến bất đồng giữa các quan khảo thí
Lập một hội đồng ở Thí viện để bàn định.
f/ Cách định những quyển "được vào" hay bị
"đánh hỏng"
- Những quyển đã bị Ngoại trường phê liệt, bất kỳ Nội
trường phê gì dù ưu hay bình mặc lòng cũng vẫn bị
"đánh hỏng". Ngược lại, những quyển nào được Ngoại trường phê thứ hay bình hoặc ưu,
dẫu cho Nội trường phê liệt cũng vẫn "được vào" thi kỳ kế
tiếp. Số phận các quyển "ngoại hàm" phải để riêng một nơi không chấm
tức đánh hỏng.
- Theo lệ, những quan trường chấm văn vẫn được mỗi người
một ý, nhưng các dấu phê phải na ná giống nhau, không được chênh nhau quá.
Thí dụ:
- Ông Sơ khảo, Phúc khảo, Giám khảo phê liệt, ông Chủ khảo
phê thứ hay bình thì chấp nhận được, không sao. Nếu tới ông
Chủ khảo phê ưu mà những ba ông phê trước đều liệt cả thì
những ông phê liệt trước đều bị phù xuất tức bị đuổi ra khỏi
trường vì điểm liệt và ưu cách nhau quá xa
- Hay các quan Nội trường phê ưu, rồi ông Chủ khảo phê bình hoặc thứ thì
không sao. Nếu ông Chủ khảo phê liệt thì những ông phê ưu trước
phải phù xuất vì điểm ưu và liệt cách
nhau quá xa.
g/ Cách giải quyết mâu thuẫn về điểm chấm giữa các quan
khảo thí
Giả sử có quyển dở quá, mấy người chấm trước phê liệt là
đúng, mà ông Chủ khảo phê ưu; trái lại những quyển thực hay, những ông chấm
trước phê ưu tới ông Chủ khảo lại phê liệt thì sao?
Trong trường hợp này có quan Ngự sử can thiệp. Nếu
thấy mấy ông Chủ khảo, Phân khảo thiên vị thì quan Ngự sử có quyền bắt bẻ và lập
tức làm sớ đàn hạch (luận tội) gửi về triều đình.
Ngoại trường chấm xong lại đưa trả về cho Nội trường để ráp
phách.
h/ Ráp phách
Trong Nội trường, bây giờ lại phòng lại xúm vào làm
việc. Mở hòm phách để lấy phách ráp vào quyển. Khi thấy bên phách, bên quyển
có hai dòng chữ số đúng nhau, hai nửa cái khuyên ăn khớp nhau, tức phách đúng với
quyển. Phách của quyển nào được "tạm ráp" vào quyển nấy, rồi kiểm dấu
phê (điểm phê) bên trong quyển của các quan khảo thí Nội trường và Ngoại
trường.
- Dựa vào điểm phê, những quyển "được vào" kỳ thi tới
sẽ để riêng và những quyển bị "đánh hỏng" để riêng.
- Phách của những quyển "được vào", vừa
được tạm ráp vào quyển lúc trước, nay phải lấy ra. Những phách
này được trộn đều rồi chia ra làm bốn phần cho bốn
vi như lần trước.
- Lúc này lại phòng được chia làm hai nhóm. Một
nhóm lập sổ phách mới cho bốn vi. Nhóm thứ hai chọn những quyển
trắng, nằm trong số một vạn hai (12000) quyển trắng do thi sinh nộp lúc ban đầu, so
sánh và chỉ giữ lại những quyển có tên họ và quê quán phù hợp với những phách (được
vào) vừa được chia ra bốn vi.
- Những quyển trắng này được đóng dấu giáp phùng và
sau đó đóng vào bốn hòm đưa ra Ngoại trường để làm bảng yết danh và sẽ
được phát cho thí sinh "được vào" thi kỳ thứ hai tức Nhị
trường. Phách được giữ lại.
i/ Yết bảng
Quan "ngoại trường" Đề tuyển ở Ngoại trường
làm bảng yết tên những người đỗ Nhất trường được vào thi Nhị trường. Ngoài "bảng chính" yết tên những người
"đỗ" kỳ nhất, bên cạnh đó lại có một bảng gọi là "bảng con"
liệt kê tên những người bị đánh hỏng vì phạm tội như phạm
húy, khiếm tị, khiếm đài, bất túc (bất túc là không viết đủ bài thi). Còn
các tội khác, ngoài bốn tội trên, chỉ bị đánh hỏng mà thôi chứ không phải nêu
lên "bảng con". Riêng tội phạm trọng húy, khinh húy quyển
phải được gửi về triều đình để định tội nặng nhẹ, nặng thì phải tù tội, nhẹ thì
bị đánh hỏng, hoặc có khi bị cấm thi một khóa, hai khóa hay cả đời.Dân chúng xem bảng yết danhnhững người thi đỗ kỳ thi Hương năm 1897Kỳ thi Nhị trường
Bài thi: Thi thơ, phú.
Công việc điều hành thi cử: cũng lập lại tương tự
như kỳ Nhất trường
Kỳ thi Tam trường.
Bài thi: Thi chế, chiếu, biểu.
Công việc điều hành thi cử: cũng lập lại tương tự như kỳ
Nhất trường và Nhị trường. Số thí sinh nay chỉ còn phân nửa so với Nhất trường
nên công việc điều hành cũng như chấm thi có phần nhẹ hơn.
Những điều nên lưu ý về cách chọn người lấy đỗ ở Tam trường để
"được vào"kỳ thi Tứ trường mà trước kia gọi là kỳ Phúc
hạch.
- Trước kia, số người được lấy vào kỳ Phúc hạch chỉ hơn
số Cử nhân được triều đình giải ngạch (2)mấy người
thôi. Thí dụ triều đình giải ngạch cho trường thi Hà Nội năm đó lấy 25 Cử nhân,
lấy số dư ra vài người để phòng khi triều đình muốn gia ân lấy thêm vài Cử nhân
nữa thì có sẵn mà điền vào. Cứ một Cử nhân thì lấy ba Tú tài (nhất Cử tam Tú)
tức lấy 25 Cử nhân thì có 75 Tú tài, tổng cộng là 100 người. Như thế, dựa
vào đấy mà tính ra số người "được vào" kỳ Phúc hạch. Vì vậy khi vào tới
Phúc hạch thì coi như là đỗ, không Cử nhân thì cũng Tú tài.
- Ngày nay, theo phép thi mới sau này, trong ba kỳ
thi đầu, ai có một "bình ngoại" (3) trở lên đều được dự kỳ
thi Tứ trường, bất kỳ giải ngạch là bao nhiêu.
Thí dụ tính cả ba kỳ thi, có vài trăm người đều có ít nhất một
"bình ngoại" thì đều được vào kỳ Tứ trường. Rồi sau kỳ thi này mới
lấy số Cử nhân theo giải ngạch. Như vậy, bây giờ dù thí sinh có "được
vào" kỳ Tứ trường cũng chưa hẳn là đã được đỗ. Chính vì điểm
này, kỳ Phúc hạch xưa kia, nay được coi như một kỳ thi riêng biệt được
gọi là Tứ trường.
Kỳ thi Tứ trường
Bài thi: Một bài Văn sách
Khi có kết quả của cả ba kỳ gồm Nhất trường, Nhị
trường, Tam trường được chấm xong rồi, quan "nội trường" Đề tuyển tạmráp
phách, đóng cả ba quyển của từng mỗi thí sinh trong 3 kỳ, nếu một trong 3
quyển ấy có ít nhất một quyển có bình ngoại trở lên, rồi sau đó lại lấy
phách ra. Cả 3 quyển sau khi lấy phách, được đưa sang Ngoại trường cho
quan Chánh, Phó chủ khảo.
Công việc điều hành thi cử: cũng giống như ba kỳ thi trước.
C- GIAI ĐOẠN CUỐI CÙNG
1- Chọn người đỗ cho toàn khoa thi
Chấm xong kỳ Tứ trường, hai quan Chủ, Phó khảo xét lại tất cả
quyển thi gồm cả bốn quyển của bốn trường để định hỏng, đỗ và định
thứ tự. Sau đó, các quyển được đưa sang cho quan "nội trường" Đề
tuyển ráp phách rồi từ Nội trường lại chuyển sang cho quan "ngoại
trường" Đề tuyển làm bảng yết danh sau này.
- Trong kỳ Tứ trường, ngoài những người được chọn đỗ Cử
nhân, số kém quá thì đánh hỏng, còn những người khác được lấy làm Tú tài.
Nếu số người đỗ Tú tài không đủ túc số gấp ba lần số Cử nhân ở kỳ Tứ trường thì
lấy thêm xuống người được vào thi kỳ Tam trường có số điểm đều đạt điểm thứ cả
(những người có điểm bình đã "được vào" Tứ trường rồi). Tuy
thi Hương lấy hai học vị Cử nhân và Tú tài nhưng chỉ người
đạt học vị Cử nhân mới được gọi là đỗ để vào thi Hội mà thôi.
- Quan chủ khảo sẽ là người làm công việc cuối cùng
là định thứ tự xếp hạng cho những người đạt học vị Cử nhân và Tú tài
trong toàn kỳ thi Hương. Ông dựa trên sự "đánh giá chung" được ghi
trên mỗi quyển, ông ghi trên quyển thi có số điểm cao nhất cho hạng Cử
nhân "Cử nhân hạng, đệ nhất danh"; trên quyển có số điểm cao hạng
thứ hai "Cử nhân hạng, đệ nhị danh", và cứ như thế cho đến hết hạng Cử
nhân được cấp. Cũng tương tự như thế áp dụng cho hạng Tú tài, trên
quyển có số điểm cao nhất, vị Chủ khảo viết "Tú tài hạng, đệ nhất danh",
trên quyển đứng hạng thứ hai "Tú tài hạng, đệ nhị danh" và cứ như thế
cho đến hết hạng Tú tài.
- Cuối cùng, các quan làm danh sách các vị tân khoa (Cử
nhân) và làm sớ tường thuật mọi việc tấu về triều đình. Nếu trong suốt kỳ thi
có vị nào trong ban khảo thí hay ban giám sát thiên vị,
gian lận, thiếu bổn phận hay chểnh mạng trong công việc, hai quan Ngự sử sẽ
làm sớ tấu về triều đình để hạch tội, tùy theo tội nặng nhẹ mà bị giáng chức, cất
chức hay tù tội.
- Đồng thời các quan trường phải làm bản tấu riêng về
những người có văn bài phạm trọng húy và khinh húy để triều
đình phê phán. Phạm trọng húy, nếu nặng có thể bị tù tội, phạm khinh
húy nhẹ hơn có thể bị cấm thi trong một thời hạn dài hay ngắn tùy trường hợp.
- Sau khi được sự chuẩn thuận của triều đình về danh sách tân
khoa được giải ngạch, trường sẽ cử hành lễ xướng danh.
2- Lễ xướng danhLễ xướng danh trường thi Nam Định năm Mậu Tý (1888)cho các thí sinh trúng tuyển làm cử nhânLễ xướng danh được tổ chức rất trọng thể.
Đến hôm làm lễ, tất cả các quan trường đều có mặt ở Tiền
môn
Đông đủ mọi sĩ tử và người xem đều tụ tập ở trước cửa trường.
Các quan trường đều trong y phục triều đình chỉnh tề, uy
nghiêm, ngồi ngay trên một "cái bục" dựng cao ngay trước cổng trường.
Lọng, nhạc, cộng với đoàn quân danh dự đứng nghiêm chỉnh làm
tăng thêm vẻ long trọng của buổi lễ xướng danh. Ở chỗ cao nhất trên bục một
vị quan Tuyên cáo cầm trong tay danh sách những thí sinh đã đỗ. Trong
khi đó hai viên Đội trưởng, mỗi người cầm một loa, cưỡi voi đi qua đi lại. Ba hồi
trống vang, viên quan Tuyên cáo đọc trong danh sách tên họ, quê quán từng người
đỗ một. Hai chiếc loa của hai viên Đội trưởng lập lại, mỗi người quay về một
phía. Người thi đỗ, từng người một, sau khi nghe đến tên mình liền hô to
"có mặt!" rồi tách khỏi đám đông, tiến tới đứng chờ ở dưới bục. Khuôn
mặt họ thật hớn hở khi đón nhận kết quả vừa đạt được, và kết quả đó sẽ mang sự
vẻ vang hãnh diện cho bản thân, họ hàng, làng nước và cũng là khởi đầu trên đường
công danh của mình.
Khi lễ xướng danh kết thúc, các ông tân Cử nhân vào
trong trường thi, trong một nghi lễ, mỗi người được phát một bộ mũ áo bằng
lụa được nhà vua ban tặng. Sau đó các ông cử tân khoa được dự một
bữa tiệc nhỏ tổ chức ngay trong trường thi. Sau cùng các quan khảo thí
cùng các vị tân khoa dự một buổi lễ Thánh (Khổng Tử) ở Văn miếu.
- Quan Tổng đốc tỉnh cũng tới trường thi tham dự lễ xướng
danh để chúc mừng các các tân khoa và mời các vị quan trường và
các tân khoa về phủ dự buổi yến tiệc do quan Tổng đốc khoản
đãi.
- Bảng niêm yết các tân khoa được yết tại cổng trường, sau đó
là ở Văn miếu, gồm hai bảng: Tên các Cử nhân được ghi trên một bảng gỗ sơn
đỏ, tên của các Tú tài được ghi trên một bảng bằng tre đan quét
vôi trắng.
-Lưu ý: Có một điều khác hẳn với các lối thi cử ngày nay, những
người thi đỗ không nhận được một văn bằng nào dù rằng chỉ là một chứng
chỉ chứng nhận đã thi đỗ. Người thi đỗ khi nhận được giấy bổ nhiệm vào chức
vụ nào hay công việc gì trong công quyền bằng giấy tống đạt của triều
đình, văn bản này sẽ có một bản được lưu giữ tại thư khố triều đình.
Chỉ có vậy thôi.Các vị khảo quan trong lễ xướng danh khoa Đinh Dậu,Các thí sinh thi đậu ở trường thi Nam Địnhsau khi được cấp mũ áoIII- BỔ TÚC THÊM VÀI ĐIỀU LIÊN QUAN TỚI THI CỬ
1. Phạm húy
Tổng cộng những chữ ‘húy" có khoảng từ 40 đến 50 chữ được
niêm yết trước cổng trường thi.
a/ Trọng húy là tên của vua và các tiên đế. Theo
phép, những chữ trọng húy đều bị cấm ngặt, cấm đọc, cấm viết, phải coi như
không có những chữ ấy. Nếu muốn dùng những chữ ấy, phải dùng chữ khác thay vào
với nghĩa tương tự. Nếu đã viết chữ húy ra rồi lại xóa cũng có tội, không được
xóa dù xóa mù tịt đi, vì luật trường thi những chữ dập xóa chỉ được chấm 3 cái
vào mặt chữ để quan trường có thể nhận rõ nguyên hình của nó. Nếu xóa mù tịt đi
tức là phạm "đồ bất thành tự" (viết không thành chữ).
Ngay bảng treo liệt kê những chữ húy của trường
thi, nếu viết thẳng những chữ ấy ra thì quan trường cũng đã bị phạm húy rồi. Do
đó trên bảng này họ phải tách chữ húy đó ra thành từng mảnh. Coi đến chỗ đó thí
sinh phải hiểu ngầm.
Chữ húy không phải chỉ áp dụng trong trường thi, mà đó là lệnh
của của triều đình, cấm viết, cấm đọc những chữ, những tiếng ấy, và ai cũng phải
theo, từ quan chí dân đều phải kiêng hết. Trừ ra những người làm giặc.
Để hiểu thêm về những cấm kỵ này, ta biết một vị vua ít ra
cũng có 5 tên gồm
Niên hiệu: danh hiệu khi lên ngôi
Danh tự: tên trước khi lên ngôi
Ngự danh hay cống danh: tên riêng khi lên ngôi
Miếu hiệu: tên cho miếu tổ tông hay thời đại
Tên thụy: tên truy tôn
Thí dụ:
- Niên hiệu Gia Long, danh tự Nguyễn Phúc Ánh, ngự
danh Chúng, miếu hiệu Thế Tổ, tên thụy Cao hoàng đế
- Niên hiệu Minh Mệnh, danh tự Nguyễn Phúc Dong, ngự
danh Đảm, miếu hiệu Thánh Tổ, tên thụy Nhân hoàng đế
- Niên hiệu Thiệu Trị, danh tự Nguyễn Phúc Cảo, ngự
danh Thực, miếu hiệu Hiến Tổ, tên thụy Chương hoàng đế
Trong năm tên trên của vua chỉ có tên thuộc nhóm "danh tự"
là những chữ Ánh, Dong, Cảo và nhóm "ngự danh" như Chúng,
Đảm, Thực được kể là húy mà thôi.
b/ Khinh húy là những chữ đệm trong tên vua đương
triều, tên các vợ vua, mẹ vua hay tổ tiên lâu đời của vua. Nếu có dùng những chữ
ấy phải bỏ bớt một nét đi.
c/ Khiếm trang dùng những chữ thô tục, khiếm nhã gần
sát với chữ liên quan về bản thân vua và công việc của vua. Thí dụ những chữ có
nghĩa không hay như bạo là tợn, hôn là tối, cách là đấm, sát là giết .
. . không được đặt trên kề các chữ có nghĩa là vua như chữ hoàng, chữ đế,
chữ quân, chữ vương, chữ chủ . . . Tội khiếm trang nhẹ
hơn trọng húy, chỉ bị đánh hỏng chứ không bị nêu tên ra "bảng con",
bảng này dành cho những thí sinh bị loại về bốn tội danh phạm húy, khiếm tị,
khiếm đài, bất túc (không viết đủ bài thi) như đã nói.
d/ Khiếm tị là những chữ mang tên các cung điện,
lăng tẩm trong cung. Thí dụ như ở Hoàng cung có điện Cần Chánh thì chữ "cần
chánh" cũng không được dùng làm văn. Ngay cả những chữ húy này nằm ở hai
câu khác nhau nhưng lại đứng gần nhau. Như câu "Tam bách niên xã tắc
chi trường, ninh phi lại ư thử tai" (4) (Xã Tắc nhà Đường
lâu dài đến ba trăm năm, chẳng phải nhờ đến điều đó hay sao). Chữ "trường"
và chữ "ninh" tuy ở hai câu khác nhau, nhưng đọc ghép lại là
"trường ninh" trùng với tên của cung Hoàng thái hậu ở Hoàng kinh. Khiếm
tị chỉ kiêng ở những bài hay đoạn cổ văn mà thôi.
e/ Khiếm đài là chữ đáng đài mà không đài, hay chữ
không đáng đài, hoặc đài không đúng cách. Riêng trường hợp đáng đài mà không
đài thì không những bị đánh hỏng mà còn bị tội nữa.
Phép đài: Đầu mỗi trang trong "quyển" phải để chừa
3 hàng để "đài".
Trong ba hàng ở đầu dòng, hàng trên cùng gọi là du cách,
dưới hàng du cách gọi là hàng thứ nhất, dưới hàng thứ nhất gọi là hàng
thứ hai, dưới hàng thứ hai gọi là hàng thứ ba. Bài viết của thí sinh phải
bắt đầu từ hàng ba đó trở xuống. (Đọc lại phần đóng quyển thuộc Chương một).
Thí dụ:
- Trong kim văn, gặp chữ chỉ về "Trời" như
thiên địa, giao miếu . . . phải viết lên hàng du cách trên cùng; gặp
những chữ chỉ về "vua" như chữ hoàng thượng, thánh thượng, long nhan,
quốc gia, triều đình . . . thì phải đài (viết) lên hàng thứ nhất; gặp những chữ
chỉ về "đức tính của vua" thì phải đài lên hàng thứ hai. Ngoài ra
trong bài văn bắt đầu có chữ "Đối, sĩ văn" (Thưa, tôi nghe), chữ
"sĩ" chỉ vào mình phải viết nhỏ ra một bên. Hay như trong bảng
"Phụng chỉ" trong bảng của quan Chủ khảo mang theo niêm ở chỗ quan Chủ
khảo ngồi, chữ "Chỉ" phải to vì là lệnh của vua và chữ "phụng"
chỉ về quan Chủ khảo thuộc bày tôi phải viết nhỏ lại và viết sang một bên.
- Trong cổ văn phải kể đến cả những chữ húy của các
triều đình đời cổtrong sử nước ta và sử nước Tầu (Bắc sử).
Thực ra còn phải kiêng nhiều chữ nữa như tên mẹ, tên bà của các ông vua ấy nữa.
Quyển bị phạm lỗi như phạm húy không những nguy hiểm
đối với thí sinh mà cũng còn nguy hiểm cho các quan trường chấm thi nữa. Chẳng
hạn một quyển phải có bốn người chấm gồm các quan Sơ khảo, Phúc khảo, Giám
khảo, Chủ khảo nên nếu quyển có lỗi, những người chấm trước không thấy thì
người chấm sau cũng phải thấy. Theo phép thi nhà Nguyễn, trách nhiệm quan trường
rất nghiêm ngặt. Nếu ông Sơ khảo không thấy lỗi mà để ông Phúc khảo tìm thấy
thì ông Sơ khảo sẽ phải bị phù xuất tức đuổi ra liền. Nếu cả ba ông
Sơ khảo, Phúc khảo, Giám khảo không thấy mà ông Chủ khảo tìm thấy lỗi thì cả ba
ông kia phải phù xuất. Nếu ông Chủ khảo cũng không thấy và quyển ấy được
chấm đỗ được gửi về triều đình, quan triều đình tìm ra lỗi thì tất cả các ông từ
quan Chủ khảo trở xuống đều có tội cả. Bởi vậy khi chấm bài các quan phải rất cẩn
thận, tìm tòi cho ra những chữ phạm tội.
f/ Câu chuyện "thánh Quát" liên quan đến luật
phạm húy tại trường thi
Trường quy thời xưa rất nghiệt ngã, hà khắc với những quy định
như trọng húy, khinh húy. . .
Khi công tác ở Bộ Lễ, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường
thi Thừa Thiên. Nhận thấy nhiều bài thi khá nhưng lại phạm quy vì các lỗi lặt vặt,
sơ suất nhỏ, không muốn người có tài bị đánh rớt, ông bàn với người bạn là Phan
Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Chẳng may thiện ý này bị phát giác, Cao
Bá Quát bị tống vào ngục. Vua Thiệu Trị giảm tội ông từ "trảm quyết"
(xử tử) xuống "giảo giam hậu" (giam trong ngục chờ). Trong thời gian
bị tù ngục, Cao Bá Quát bị nhục hình, tra tấn dữ dội. Sau gần ba năm bị giam cầm,
Cao Bá Quát được triều đình tạm tha, nhưng bị chuyển vào Đà Nẵng, cho đi
"dương trình hiệu lực" - tức lúc phái đoàn triều đình công cán nước
ngoài, phạm nhân được đi theo phục dịch để lấy công chuộc tội.2- Tránh gian lận trong thi cử
Nói chung, thi cử ở nước ta qua nhiều thời đại từ Lý, Trần, Hồ,
Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng rồi tới nhà Nguyễn đều được cải tiến dần dần để đi đến
chỗ ổn định vào thời Lê Sơ và hoàn chỉnh vào đời nhà Nguyễn.
Trong bất cứ triều đại nào, việc ngăn chặn gian lận trong thi cử đều được quan
tâm vì thi cử là công việc duy nhất để triều đình chọn đúng nhân tài, những
nguyên khí quốc gia để điều hành đất nước. Riêng có thời kỳ cuối của Lê Trung
hưng, việc thi cử bị tai tiếng nhiều vì các triều vua ấy trên đường suy tàn nên
ít quan tâm đến việc đào tạo và xử dụng nhân tài để xẩy ra nhiều việc mua bán bằng
cấp, kể cả việc gian lận trong trường thi được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên
sang tới nhà Nguyễn, việc gian lận trong thi cử đã được chấn chỉnh lại và
nghiêm cấm. Nói vậy, dù có ngăn chận cách mấy, việc gian lận vẫn có thể xẩy ra
nhưng ở số rất ít.
*/ Hỏi:Sự thông đồng giữa thí sinh với các quan Chủ khảo?
Sự lựa chọn quan trường gồm:
-Các quan thuộc ban khảo thí (khảo quan): Chánh, Phó chủ khảo,
Phân khảo, Giám khảo
-Hai quan thuộc ban giám sát trường thi: "nội trường"
Đề tuyển và "ngoại trường" Đề tuyển
- Hai quan giám sát tổng quát: "nội trường" Ngự sử
và "ngoại trường" Ngự sử
Sự lựa chọn này đều do ý kiến của triều đình: các quan khảo
thí coi việc văn chương; quan Đề tuyển coi việc canh phòng trong
trường thi; quan Ngự sử coi việc giám sát tổng quát và tuy không trực
tiếp tới việc chấm thi nhưng trực tiếp báo cáo về triều đình mọi việc
xảy ra trong trường thi.
- Bao giờ cũng vậy, độ mươi ngày trở lại trước ngày
thi, triều đình mới kiếm khảo quan. Sau khi cắt cử đâu đấy, quan Chánh chủ khảo
được ban lá cờ Khâm sai, ông Phó chủ khảo được ban biển Phụng chỉ. Lập
tức hai đội thị vệ rước luôn cờ biển và dẫn ông nào về nhà nấy. Mấy ông Ngự sử
cũng theo chân ra liền. Thế rồi, các lính thị vệ ở luôn ngoài cổng nhà canh giữ
không cho ai ra vào.
- Mỗi ông Ngự sử cũng phải đi kèm luôn bên cạnh một quan Chủ
khảo. Quan chủ khảo chỉ còn biết sắp sửa quần áo rồi lên đường không dặn vợ con
nửa câu. Từ đấy cho tới khi xong hết việc trường, các quan Ngự sử không rời
quan Chủ khảo bước nào. Các ông Phân khảo cũng bị canh chừng như thế.
Như thế còn dặn dò nhau vào lúc nào mà bảo thí sinh có thể
thông đồng với quan trường.
*/ Hỏi: Giả sử quan Ngự sử thông đồng với quan Chủ khảo
thì sao?
Không có đời nào như thế. Các quan Ngự sử đều là những người
cương trực, không kiêng nể ai. Chỉ những người không kiêng nể ai mới được cử
làm chức Ngự sử. Quan Ngự sử tuy không có quyền trong trường thi nhưng triều
đình vẫn kính trọng, lắng nghe hơn cả.
*/ Hỏi: Thế người ta có thể thông đồng với các quan Sơ
khảo, Phúc khảo, Giám khảo?
Cũng không thể được. Các quan ấy được lấy từ những ông Huấn đạo,
Giáo thụ do các quan đầu tỉnh xung vào kia mà. Cách đề cử cũng tinh tế lắm, như
hai trường Nam Định và Hà Nội, người chấm trường Hà Nội phải là Huấn đạo của tỉnh
Nam Định, người chấm tại trường Nam Định phải là Huấn đạo của tỉnh Hà Nội.
Ông quan chấm thi nào có con em hay học trò mình dự thi ở trường
mình chấm thì phải làm giấy hồi tị xin rút lui. Như vậy các ông Sơ khảo,
Phúc khảo, Giám khảo biết thí sinh là ai với ai mà thông đồng.
Dù cho họ có thông đồng được với nhau cũng vô ích vì quyền lấy
đỗ lại nằm trong tay quan Chánh chủ khảo chứ không phải các quan Sơ khảo
hay Phúc khảo, Giám khảo. Hơn nữa, các quan Sơ khảo, Phúc khảo, Giám khảo sau
khi tiến trường đều phải ở trong nhà riêng của khu Nội trường có rào che kín,
có quan "nội trường" Ngự sử giám thị và quan "nội trường" Đề
tuyển với lính thể sát canh phòng. Trừ ngày ra bảng giải ngạch, mấy ông đó
không bao giờ được giáp mặt với quan Chủ khảo, nghĩa là không nói lót được cho
người nào. Những quyển của thí sinh, tên phải rọc phách, việc chấm cứ
chấm, các quan trường từ Chánh chủ khảo xuống tới tận quan Sơ khảo không thể biết
"quyển" mình chấm là của ai.
3- Bổng lộc các quan trường tại trường thi
Lương các quan ấy không được tính tháng mà phải tính trọn một
kỳ thi, bắt đầu từ lúc tiến trường đến khi xong các công việc.
Lương bổng quan khảo thí được tính như sau:
- Chánh chủ khảo được 50 quan tiền và 10 phương gạo.
- Phó chủ khảo được 45 quan tiền và 10 phương gạo.
- Mỗi ông Giám khảo được 35 quan tiền và 8 phương gạo.
- Mỗi ông Phân khảo được 30 quan tiền và 6 phương gạo.
- Mỗi ông Phúc khảo được 25 quan tiền và 5 phương gạo.
- Mỗi ông Sơ khảo được 20 quan tiền và 4 phương gạo.
Tuy bổng lộc được định như vậy nhưng khi ở trường các quan có
được lãnh đồng nào đâu. Sau khi tiến trường, các ông Sơ khảo, Phúc khảo,
Giám khảo, cho mỗi ông một gian nhà bằng tre, bằng nứa, trong đó có trang bị tiện
nghi tối thiểu cho hai người, một thầy một trò, sống tạm thời. Những gian nhà
này không thể thông qua nhau và chúng bị quây vào một khu cách biệt, khóa trái
cửa, giao chìa khóa cho quan Đề tuyển. Khi nào khoa thi xong, quan Đề tuyển
mới mở khóa cho các ông ấy cùng ra ngoài. Chỉ trừ khi nhà được hé mở cho phu
khuôn nước đổ nước vào vại. Ngay cả phần ăn cũng phải tuôn qua một cửa nhỏ bằng
"lỗ chó chui" ở hàng rào phên nứa và sẽ do tên theo hầu các quan ra lấy
vào.
Ăn uống hàng ngày thì do quan Tổng đốc cung đốn. Những quan
trên thì không biết, nhưng các quan Sơ khảo, Phúc khảo thì mỗi ngày
chỉ được hai lạng thịt lợn hay là hai con tôm he, có thịt thì không tôm. Ba
ngày mới được lọ nước mắm và ít muối trắng. Một thầy một trò ngày hai bữa, chỉ
có thế chia nhau.
Trong những ngày của kỳ thi Trường nhất, Trường nhì còn
đông thí sinh nên các quan còn bận rộn. Nhưng tới kỳ thi Trường ba hay
đến kỳ thi Trường bốn số thí sinh chỉ còn rất ít nên các quan có dư
nhiều thì giờ không biết làm gì. Có quan phải bày trò chơi đánh đáo với tên đầy
tớ theo hầu.
GHI CHÚ
(1)Thời gian cho một ngữ trống.
Quy định thời gian cho mỗi ngữ trống được tính như sau:
-Người lính "cầm canh" cầm trên tay 17 đồng tiền
Gia Long. Sau khi đánh tiếng trống thứ nhất, người lính đặt từng đồng tiền
một xuống sàn một cách đều đặn cho đủ hết 17 đồng tiền trên tay. Rồi lại đều đặn
nhặt đồng tiền lên tay, từng đồng một, cho đến khi nhặt hết đủ 17 đồng vừa trải
ra trước đó. Lúc này người lính cầm canh đánh tiếng trống thứ hai.
-Người lính lại lập lại công việc lúc trước, nghĩa là giải đồng
tiền xuống sàn rồi lại nhặt những đồng tiền ấy lên tay, nhưng số đồng tiền lần
này bớt đi một, nay chỉ còn 16 đồng. Nhặt lên đủ 16 đồng lên tay, người lính
đánh một tiếng trống thứ ba.
Và cứ như thế, mỗi một lần đánh tiếng trống lại thì bớt đi một
đồng tiền, thí dụ còn 15, 14, 13. . . cho đến hết 17 đồng tiền ban đầu thì được
kể là một hồi trống.
(2) Giải ngạch tức số ấn định số người lấy đỗ của
triều đình.
(3)"Bình ngoại" là điểm "bình" của quan
chấm thi thuộc Ngoại trường.
Theo phép nhà Nguyễn, các quan chấm thi được chia ra hai phần:
-Các quan Sơ khảo, Phúc Khảo, Giám khảo thuộc Nội
trường
-Các quan Chánh, Phó chủ khảo và Phân khảo thuộc
Ngoại trường.
Chữ "nội" và chữ "ngoại" ý nói chỉ chỗ ở
của các quan ấy trong trường thi. Bởi vì đóng ở trong trường các ông Sơ khảo,
Phúc khảo, Giám khảo ở phần trong (nội) của trường thi, mấy ông
Chánh, Phó chủ khảo và Phân khảo ở phần ngoài (ngoại) của trường thi.
(4) Thí dụ này lấy trong tác phẩm Lều Chõng của Ngô Tất
Tố
Bên lề bài viết,
Mời đọc vài bài thơ của cụ Tú Xương
Đi Thi
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều cũng chõng cũng đi thi.
Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn,
Sờ bụng, thầy không một chữ gì!
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch,
Phúc nhà nay được sạch trường quy.
Ba kỳ trọn vẹn, thêm kỳ nữa,
Ú ớ u ơ ngọn bút chì!
Đi Thi Nói Ngông
Ông trông lên bảng thấy tên ông,
Ông nốc rượu vào, ông nói ngông.
Trên bảng, năm hai thầy cử đội,
Bốn kỳ, mười bảy cái ưu thông.
Xướng danh tên gọi trên mình tượng,
Ăn yến xem ra có thịt công.
Cụ xứ có cô con gái đẹp,
Lăm le xui bố cưới làm chồng!
Hỏng Thi Khoa Quí Mão – 1903
Trách mình phận hẩm lại duyên ôi!
Đỗ suốt hai trường hỏng một tôi!
"Tế" đổi làm "Cao" mà chó thế!
"Kiện" trông ra "Tiệp" hỡi trời ôi!
Mong gì nhà nước còn thi nữa,
Biết rõ anh em chẳng chắc rồi.
Mũ áo biển cờ, làng có đất,
Ô hay! Hương vận mãi chưa hồi!
Hễ Mai Tớ Hỏng
Hễ mai tớ hỏng, tớ đi ngay!
Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày!
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay!
Sách đèn phó mặc đèn con trẻ
Thưng đấu nhờ trông một mẹ mày.
"Cống hỉ", "mét xì" thông mọi tiếng,
Chẳng sang Tầu cũng tếch sang Tây…
Buồn Thi Hỏng
Bụng buồn còn muốn nói năng chi?
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.
Một việc văn chương thôi cũng nhảm,
Trăm năm thân thế có ra gì!
Được gần trường ốc vùng Nam Định,
Thua mãi anh em cánh Bắc Kì.
Rõ thực nôm hay mà chữ tốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.
Bông Sen: Tranh của Đặng CanHỒNG
HỒNG TUYẾT TUYẾT - Kim Luyến(Giữ phím CTRL & bấm vào tên bài hát)Chương Hai
Thi Hương
"Phụ lục A"
Mô tả trường thi Nam Định
Ghi chú: Thoạt đầu, tôi chỉ có sơ đồ Trường thi Nam
Định xưa được tìm thấy trên Internet, sau đó tôi đã gom góp, phối hợp thêm từ
tài liệu tham khảo để viết lời dẫn giải cho sơ đồ này. Xin độc giả chỉ dùng nó
như sự gợi ý về những địa điểm chính yếu trong "trường thi ngày
xưa" mà Trường thi Nam Định dưới đây được mượn làm mô hình tiêu biểu.
-Vào đời Minh Mạng và Thiệu Trị có cả thảy 7 trường
thi
Miền Bắc: Hà Nội, Nam Định,
Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định
Miền Nam: Gia Định.
-Vào đời vua Tự Đức (1884) trường Hà Nội phải dời
và thi chung với trường
Nam Định được gọi là trường Hà Nam. Dù thi tại một trường
nhưng thí sinh và tổ chức trường thi vẫn được phân thành hai bộ phận riêng
biệt, kể cả khuôn dấu lẫn các học quan. Hai hội đồng chấm thi riêng và không được
giao tiếp với nhau.
Mô tả Trường thi Nam Định (Theo sơ đồ đính kèm)Trường thi được xây dựng trên một thửa đất rộng vuông vắn.
Nhìn tổng quát, trường thi được chia ra làm hai phần:
- Phần ngoài dành làm nơi cho các thí sinh thi
- Phần trong dành làm nơi cho các quan khảo thí (quan
chấm thi), các quan giám sát cùng nhân viên phục vụ trường thi làm việc
và ở.
1- Phần ngoài ngắn hơn phần trong một tý,
được chia làm bốn vi Ất, Giáp, Tả, Hữu đều nhau bởi hai con đường chạy
theo chiều ngang dọc gọi là đường Thập đạo. Nơi giữa ngã tư đường Thập đạo
là nhà Thập đạo [16].
Mỗi vi có hai cửa vào và một cửa lên nhà Thập đạo.
Hai cửa vi Ất: Ất nhất và Ất nhị [18][25];
Hai cửa vi Giáp: Giáp nhất và Giáp nhị [19] [20];
Hai cửa vi Tả: Tả nhất và Tả nhị [21][22];
Hai cửa vi Hữu: Hữu nhất và Hữu nhị [23][24].
Thẳng lối nhà Thập đạo đi ra ngoài là cổng Tiền môn (cổng
trước) [17], lối duy nhất dành cho thí sinh ra về sau khi nộp quyển (nộp
bài thi).
2- Phần trong lại chia ra làm hai, Nội trường và Ngoại
trường.
a/ Ngoại trường
Ngoại trường rộng gấp rưỡi Nội trường, chia ra hai
khu: khu ngoài và khu trong.
- Khu ngoài. Ở giữa khu ngoài có một nhà rộng gọi
là Thí viện [10] để các quan Chánh, Phó chủ khảo và Chánh,
Phó phân khảo làm công việc chấm thi, xem lại các bài thi.
Hai bên nhà Thí viện có bốn cái nhà riêng biệt là nơi ở của
các vị quan ấy, mỗi ông một nhà:
Chánh chủ khảo [11] Phó chủ khảo [12];
Chánh phân khảo [13] Phó phân khảo [14];
Gồm cả nhà quan Giám sát [15] và Lại phòng (Thư
ký) [6].
- Khu trong, chủ yếu dành cho các quan Giám sátĐề tuyển (hay
Đề điệu), được vây kín, chỉ có một cổng ăn thông vói Thí viện, lưng giáp với Nội
trường. Có hai ao lớn [1] ở hai đầu.
Ở giữa khu là nhà Đề tuyển [7], nơi các quan Đề Tuyển
làm việc.
Hai đầu khu là nhà của các quan Chánh, Phó Đề tuyển [8]
[9].
Sau nhà Đề tuyển là dãy nhà Lại phòng [6].
b/ Nội trường
Nội trường nằm ở trong cùng của toàn Trường thi được vây
kín bốn bề bằng tường phên tre, chỉ trừ một cổng duy nhất ăn thông sang Ngoại
trường luôn có lính thể sát canh giữ sự ra vào giữa Nội trường và Ngoại
trường.
Ở giữa là nhà Giám viện [2], một căn nhà lớn tương
đương như nhà Thí viện, là chỗ các quan đến đó chấm bài.
Hai bên Giám viện là hai nhà của các quan Phúc khảo [5].
Đằng sau hai nhà Phúc khảo là hai dãy nhà gồm bốn căn quay mặt
vào nhau, nơi ở của các quan Sơ khảo [4] ở riêng biệt mỗi người
một căn.
Sau nhà quan Phúc khảo, đầu phía bên có một tòa nhà của
quan giám sát Nội trường [3].
Trong cùng gần hàng rào là cái ao.
GHI CHÚ:
- Sơ đồ của Trần văn Giáp (ở trên): Không thấy ghi địa điểm
chỗ ở của quan Giám khảo trong Nội trường???
- Sơ đồ của Robert De La Susse (ở dưới): có nơi ở của
quan Giám khảo trong Nội trường.
Ngoài ra, trường thi còn có tất cả có bảy chòi canh,
Hai cái ở góc trong Nội trường,
Hai cái ở ngoài cùng bãi thi,
Một cái ở lối vi Giáp thông sang vi Tả,
Một cái lối vi Ất thông sang vi Hữu,
Một cái ở nhà Thập đạo.
Trong những ngày thi, các quan Ngự sử giám sát và mấy
viên đội Thể sát lên ngồi trên chòi để kiểm soát hành động của mọi
người.
Ở cổng Nội trường ra Ngoại trường và cổng từ Ngoại trường ra
bãi thi, ngày đêm đều có lính canh nghiêm ngặt, các bên không được thông đồng
qua nhau.Đây là nơi diễn ra các kỳ thi Hương cuối thời nhà Nguyễn,Nguyễn Giụ Hùng
.jpg)


















.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét