Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ
Lời nói đầu: Đây chỉ là bài viết cho vui theo thường lệ. Những
bạn có tên trong lá thư này xin đừng để tâm nhé. Chúng ta mong luôn sống vui, mạnh
và với tấm lòng nhân ái, khoáng đạt như thuở còn cắp sách đến trường.
Tôi xin nhắc lại vài kỷ niệm với các bạn tại trường Quốc Gia
Kỹ Sư Công Nghệ mà tôi còn nhớ được. Trường chúng ta không còn ở bên ta nữa,
nhưng những kỷ niệm, những tình cảm thân thương dành cho trường và cho nhau, đã
từ bao năm nay, dường như không thể phai mờ trong trái tim của mỗi chúng ta. Nhắc
lại những kỷ niệm đó, không phải để nuối tiếc những gì đã qua hay đã mất, mà
chính là để nuôi dưỡng những cái cần được và cần phải giữ
gìn trân trọng.
Tôi xin bắt đầu với những kỷ niệm ấy nhé.
Làm báo trườngSau bao năm xa cách, tôi lại được đọc mấy dòng thư của anh
M.X. Thành viết cho tôi và nhắc về vài kỷ niệm tại trường, thật cảm động và vui
làm sao. Tôi với anh Thành quả thật không xa lạ gì nhau vì trong thời gian
"luyện kiếm" ở trường Công Nghệ. Ngoài việc học, chúng tôi còn cùng
chia sẻ với nhau trong công việc báo chí cho sinh viên trường với tư
cách tự biên tự diễn vào những năm 1966-1967, những năm có quá nhiều biến động
chính trị trong nước. Anh Thành thì năng động lắm lại tha thiết với "nghề"
làm báo nên anh thường quên cả ăn trưa để chăm lo cho tờ báo ấy. Nếu nói chỉ có
anh Thành và tôi làm tờ báo thì không đúng mà đó là sự đóng góp vun trồng của
toàn thể anh em lúc đó. Cũng vì sự quý trọng nhau nên anh Thành và tôi cứ nhường
nhau chữ Trưởng ban báo chí, để cuối cùng khi tờ báo được "in"
ra, hàng Trưởng ban báo chí trong danh sách Ban đại diện vẫn còn để
trống, không ai chịu đứng tên cả.Nhắc đến kỷ niệm làm báo, cái khó khăn lúc đó là vấn đề tài
chính. Lấy đâu ra tiền để ra báo dù chỉ là in "Roneo". Bài vở đóng
góp thì nhiều mà tiền thì ít nên việc lựa chọn bài, ngoài cái hay của bài còn
phải lưu tâm đến chiều dài của bài viết nữa, cần phải "nắn túi" xem
chịu đựng nổi nó hay không. Tôi nhớ có một năm phải lo cho tờ báo Tết thì phải,
tờ báo mang tên "XANH" với tờ bìa là hình ảnh con bồ câu trắng tượng
trưng cho hòa bình. Chúng ta không có có tiền nên đành phải "gà què ăn quẩn
cối xay", tôi vác "bị gậy" gõ cửa các vị giáo sư nhà để ăn xin.
Giáo sư đầu tiên tôi gõ cửa là thầy Giám Đốc Bùi Tiến Rũng, thầy vui vẻ ủng hộ
100 đồng. Tôi lần lượt vác "gậy" đi gõ các thầy khác và tôi không còn
nhớ rõ thầy nào ủng hộ và ủng hộ bao nhiêu. Cũng may, thu vén, thêm thắt số tiền
ủng hộ của các thầy vào, chúng ta cũng đủ sức để lo toan cho tờ báo ấy.Chuyện học tậpThấy anh Thành nhắc tới vài kỷ niệm trong trong Xưởng Cơ Khí
của trường, tôi xin đóng góp thêm vài kỷ niệm của mình nơi cái xưởng ấy.Thú thật khi đi học, tôi thuộc loại "văn thì dốt mà vũ
thì nhát (nhát gan)". Học dũa thì không dám dũa vì sợ nó
"bom-bê" nên cứ kiên nhẫn đứng mài cục sắt trên cây dũa "ba tạt"
(dũa thô). Mài toát mồ hôi mà khi đo ra chẳng thấy kích thước nó suy xuyển chút
nào. Tôi phải nhờ tới thằng bạn học cùng lớp thuộc loại "nhà nghề"
như Nguyễn Hoàng Thu ra tay cứu giúp.Ở Xưởng Rèn, tôi còn nhớ rõ lắm, có cái "búa máy"
thật to hiệu "Titan". Cái búa ấy to lớn kềnh càng làm tôi run sợ mỗi
khi phải sử dụng nó. Có một lần, trong phần thực tập, tôi phải làm cái
"kìm rèn". Phần đầu và phần thân kìm, tôi ì ạch rèn bằng búa tay mãi
cũng xong, còn cái đuôi kìm thì phải dùng tới cái búa máy mới đủ sức kéo dài
cái đuôi nó ra. Nhìn cái búa máy khổng lồ ấy, tôi ngại làm sao. Trông mấy thằng
bạn sử dụng nó, tôi thấy dễ quá mà. Cứ nung thỏi sắt nóng đỏ lên cho
mềm, đặt nó lên mặt đe, lấy chân nhấn lên bàn đạp của máy xuống
mạnh hay nhẹ tùy theo mình muốn búa đập xuống đe mạnh hay nhẹ. Trong
khi chân nhấn xuống bàn đạp, để hòa nhịp với chân, hai tay dùng kìm lăn tròn đều
thỏi sắt để búa đập xuống phần đã được nung đỏ. Và như thế, chỉ một loáng (một
thoáng) thôi, cái đuôi kìm sẽ được thành hình. Trông chúng làm thì thấy dễ ợt
mà sao tôi vẫn sợ. Năm lần bẩy lượt tôi cứ nung thỏi sắt cho đỏ, hăm hở chạy tới
cái búa máy (phải chạy vội vì sợ cục sắt nguội), đứng ngập ngừng suy nghĩ, chờ
đợi cái giờ phút quyết định trọng đại là đặt thỏi sắt đó lên mặt đe và nhấn bàn
đạp cho búa đập xuống. Tôi thuộc loại Quách Tĩnh trong truyện Anh Hùng Xạ Điêu
của Kim Dung, nghĩa là đầu óc chậm chạp ngập ngừng nên chưa quyết định xong thì
thỏi sắt đã nguội mất rồi. Tôi lại hăm hở trở lại lò nung đỏ thỏi sắt trở lại.
Cứ như thế và như thế, tôi rất bận bịu, tất bật trên con đường từ lò tới búa
máy rồi lại từ búa máy tới lò. Thầy phụ tá ở Xưởng Rèn như hiểu được tâm can của
thằng học trò nhát gan này. Thầy thương hại khi đứng nhìn thấy tôi cứ chăm chỉ
và hăm hở chạy tới chạy lui. Thầy bèn ra tay nghĩa hiệp "nắn" dùm tôi
cái đuôi kìm tròn trịa, xinh xinh bằng cái búa máy ấy. Thực ra thì thầy cũng
hơi ác với tôi một tý. Tiện tay, còn một tý nữa thì xong, thầy lại bỏ lửng đưa
tôi làm tiếp cái phần cỏn con còn lại. Tôi cũng để đuôi kìm lên đe, chân đạp xuống
bàn đạp của búa. Búa đập xuống "chát chát" mấy tiếng inh tai. Tôi nhận
ra ngay, hỡi ôi, cái đuôi kìm tròn trịa, xinh xắn trước đây nay đã trở thành dẹp
lép. Tôi hốt hoảng rút vội đuôi kìm ra ngay khỏi mặt đe. Tiếng búa vẫn đập xuống
đe dữ dội. Âm thanh của búa nay không còn "chát chát" nữa mà là những
tiếng "choang choang" đổ vỡ. Ông thầy chỉ còn biết hét lên trong hốt
hoảng "Buông chân ra! Buông chân ra!..." Tôi vội vàng rút chân ra khỏi
bàn đạp. Chiếc búa ngập ngừng lên xuống rồi ngưng. Không gian lúc đó trở nên
yên lặng nặng nề, yên lặng một cách não nề, ngơ ngác. Ngơ ngác như tôi đang
nhìn tiếc rẻ cái đuôi kìm đã trở nên dẹp lép cong queo, bỏ thì thương mà vương
thì tội. Tôi chỉ còn biết đứng nhìn nét mặt chán chường thất vọng đến thảm não
của ông thầy cùng với những nét mặt đáng ghét của những thằng bạn cùng lớp đang
đứng bịt miệng cười, có thằng cười hô hố. Và cũng từ ngày ấy, cái ngày sao
"búa tạ" chiếu đúng đỉnh đầu, tôi từ giã cái búa máy như giã từ
vũ khí vậy.Nay tôi xin nói về cái Xưởng Ô Tô. Sinh viên gọi nó là xưởng
cho xôm tụ, cho oai, chứ thật ra "xưởng" ấy chỉ có mấy cái "đầu
máy" ô tô cũ rích để chưng, chỉ để chưng thôi. Một cái máy ô tô duy nhất
loại "bốn xi lanh, bốn thì" tý hon, chỉ bé bằng thân người tôi lúc ấy,
và cũ mèm để sinh viên thực tập tháo ráp, tháo ráp thả cửa, tháo ráp vô tội vạ,
tháo ráp không hề thương tiếc. Và tất nhiên là thầy Porteil (Trưởng Xưởng Ô Tô)
không cần phải lưu tâm tới việc sinh viên "đánh vật" với cái máy này
mà sợ họ làm hư hỏng. Cái máy không thể hư thêm hoặc cũ thêm được nữa vì nó là
máy phế thải. Sinh viên chia nhau ra mà "đánh vật" với máy, cứ hai
người một lượt cho được công bằng. Tôi còn nhớ rõ, toán tôi gồm tôi và N.V. Bé,
tên hắn là Bé nhưng thân xác lại to, sức lực lại dồi dào nên tôi cho hắn làm thợ
chính, tôi làm thợ phụ, thứ thợ phụ chỉ để sai vặt mà thôi. Hắn bảo tôi xiết ốc
là tôi xiết ốc, bảo mở ốc là tôi mở ốc. Nhiệm vụ quan trọng của tôi là chỉ có
thế, không thêm cũng không bớt. Sau mấy tiếng đồng hồ, hai kỹ sư tương lai
"đánh vật" với cái máy, tháo hết các cơ phận ra rồi lại ráp chúng
vào. Hai thằng hì hục thế nào mà khi ráp xong cái máy "tý hon" ấy lại
như cũ thì còn dư đúng một lon đầy vừa ốc lẫn bù loong. Tôi và
Bé nhìn nhau như đồng ý dấu lon "của nợ" ấy vào gầm tủ. Thầy Porteil
trông thấy cười: "Kỹ sư giỏi là biết làm kinh tế giỏi, sau khi ráp máy
xong tiết kiệm được một lon ốc lẫn bù loong". Cái cười của thầy thật nhân
hòa nhưng cũng đủ làm hai thằng chúng tôi đỏ mặt. Hai thằng tôi còn nhớ mãi câu
nói này cho tới bây giờ. Thỉnh thoảng gặp lại nhau ở San Jose vào những dịp tất
niên thường vẫn nhắc lại để cười. Ai bảo Tây không biết nói "móc lò".Nay, tôi lại xin nhắc về Xưởng Đúc. Thầy Granotier dạy môn
"Đúc kim loại" và cũng là trưởng Xưởng Đúc. Cái xưởng này đúng là nơi
lý tưởng để đào tạo "xếp cu-ly". Nhiều người hay nói đùa dân kỹ sư
mình một cách rất thân thương như thế. Mỗi khi phải vào Xưởng Đúc thực tập thì
người cứ "lấm như than" (không phải lấm như bùn). Anh nào anh nấy,
đen thủi đen thui vì bụi than, khăn tay bịt mặt như chàng Zoro (phim ảnh cùng
tên) đi bắt quân gian, bận rộn cuốc cuốc, xúc xúc đống than "hất"
vào lò đốt. Thầy Granotier chỉ dễ tính khi chơi, chẳng hề dễ tính khi
học bao giờ. Tôi nhớ có một lần, trong giờ thực tập, ông chợt hỏi tôi bằng tiếng
Việt :"Mấy cái?" Nay tôi cũng chẳng nhớ ông hỏi là mấy cái gì, chỉ nhớ
là phải tính toán cái gì gì đó, kết quả sẽ là bao nhiêu cái. Tôi giật mình lập
lại nguyên văn câu hỏi của ông :"Mấy cái". Ông cau mày hỏi lại
:"Tôi hỏi anh, anh tính ra mấy cái?". Tôi nhìn ông, mặt đỏ gay ấp úng
không trả lời được. Thầy Granotier không hỏi nữa và bỏ đi. Tôi biết thầy không
muốn làm mặt tôi phải đỏ thêm lên vì ngượng, ngượng vì tính mãi không ra được mấy
cái. Tôi không thể nhớ nổi mấy cái của nợ ấy là mấy cái gì, tôi chỉ nhớ được
hai tiếng "mấy cái" tiếng Việt ngắn ngủi mà lại thân thương đó. Nghe
đâu vợ thầy là người Việt.Khi nói tới Xưởng Đúc, tôi không tôi không thể liên tưởng tới
thầy Thoại và thầy Phục (thầy Phục là phụ tá thầy Granotier trong Xưởng Mộc làm
khuôn đúc). Thầy Thoại dáng người nhỏ nhắn dễ thương, dạy môn "Luyện
kim" có liên quan mật thiết với Xưởng Đúc. Thầy Thoại tốt nghiệp bên Đức về,
phụ tá thầy Granotier. Mỗi khi thầy Thoại "lên lớp", thầy ôm theo một
chồng sách cao ngất ngưởng để trên bàn. Khi giảng bài, tay phải thầy viết lên bảng
thì tay trái thầy lại xóa đi ngay. Lúc nào bảng cũng sạch sẽ, sinh viên vô
phương chép lại cho đủ câu. Tay viết, tay xóa là cái tật của thầy, tính thì có
thể sửa, tật thì chịu dù là sinh viên cố sửa cho thầy. Về sau sinh viên nghĩ ra
"chước quỷ mưu thần", chia nhau mỗi đứa viết vài chữ rồi ráp chúng lại
với nhau để học. Bài học lúc đó toàn bằng tiếng Tây, thật khổ cho thằng tôi. Có
những ông thầy Tây mới từ Pháp qua dạy, chưa quen "thổ ngơi", cứ thao
thao bất tuyệt, sinh viên chỉ còn biết há hốc mồm ngồi chiêm ngưỡng cái cảnh thầy
giảng thầy nghe, không lấy "note" nổi.Ngoài những xưởng kể trên, còn có những phân xưởng khác như
phân xưởng Máy Dụng Cụ ngổn ngang những máy tiện, máy phay, máy bào; phân xưởng
Gò Hàn. Đặc biệt có Phòng Thí Nghiệm về "sức chịu vật liệu" đứng độc lập
do thầy Martin trụ trì. Thầy Martin dạy môn Sức Chịu Vật Liệu (Resistance des
Materiaux) và Kỹ Nghệ Họa.Nói đến thầy Martin, tôi nhớ tới tác phong chững chạc của
ông, một người tốt nghiệp tại một trong những trường nổi tiếng bậc nhất nước
Pháp (Art et Metiers), và cũng là ông thầy có hình ảnh "thực dân" nhất
trong số những ông thầy Tây mà tôi được học. Thực dân nhất nhưng cũng thương
sinh viên nhất. Thầy không quản công sức giải đáp mọi thắc mắc của chúng ta và
thầy cũng biết cười tủm tỉm với những câu hỏi xem chừng ra ngớ ngẩn. Mỗi khi thầy
gọi sinh viên lên "hỏi bài", ai không trả lời được thì ông cứ tự bứt
đầu, bứt tai mình, dậm chân rồi đuổi "nạn nhân" về chỗ. Có một lần, đến
phiên tôi "bị" thầy gọi lên bảng, thò chân vào dép
"săng-đan" thì dép đã bị "thằng" nào chơi nghịch đá đi đâu
mất rồi vì khi ngồi học tôi thường hay tháo nó ra cho mát chân. Tôi vội giật
ngay đôi dép của thằng ngồi bên cạnh là Nguyễn Bỉnh Cương chạy phóng lên. May
quá, hôm đó tôi trả lời được những câu hỏi hóc búa của thầy. Trước khi thầy cho
điểm vào sổ, thầy khẽ ngửng đầu lên nhìn tôi mỉm cười, cái mỉm cười hiếm hoi ấy
làm tôi nhớ tới bây giờ. Thoát. Tôi nhớ thầy Martin dùng cuốn sách
"Resistance Des Materiaux" của Chillon, tôi phải "order" từ
bên Pháp, đợi đến nửa năm sách mới về nên chỉ đủ kịp dùng cho nửa năm học còn lại.
Bộ sách "Element De Constructions" gồm 10 cuốn, thời gian tôi đặt mua
cũng phải mất nửa năm, nhưng được cái bộ sách này dùng được cho đến khi ra trường.
Đến khi ra trường vẫn còn dùng nó được để tham khảo khi cần. Sinh viên Việt Nam
ta lúc đó khổ thế đấy. Sách toán hay vật lý của Pháp ở bậc
Trung học thì học sinh có thể mua dễ dàng ngay tại nhà sách Khai Trí nằm trên
đường Lê Lợi, không khó khăn gì. Tôi nhớ cuốn sách giải toán "Journal De
Mathematique" gồm những bài giải các đề thi tuyển của các trường
lớn bên Pháp, rất hay.Những câu chuyện ở Xưởng Cơ Khí thì nhiều lắm lắm, mỗi phân
xưởng tôi đều có những kỷ niệm cần được kể ra. Và nói đến Xưởng Cơ Khí mà không
nhắc tới những buổi Lễ nhập môn hay những buổi Dạ vũ tất niên hàng
năm nổi tiếng thì thật là một thiếu sót vô cùng nhưng tôi xin để dành khi khác.Chuyện thể thaoThôi, tôi tạm rời cái Xưởng Cơ Khí độc đáo, thân yêu duy nhất
của Trường để ra sân bóng truyền cho dãn gân dãn cốt. Tôi xin kể một vài kỷ niệm
ở cái sân bóng truyền này.Ngoài cái bản chất "văn thì dốt vũ thì nhát" ra, thể
lực của tôi hồi đó thuộc loại "ho hen gầy còm", "liễu yếu đào tơ
(?!)" một thứ liễu ăn thì nhiều mà chẳng béo (mập) lên được bao nhiêu, có
lẽ giun sán ăn cả. Tôi ra sân với cái thân khẳng khiu, Vì khẳng khiu nên tôi
không bao giờ dám cởi áo hay quần dài khi ra sân vì sợ các cô, những bông hoa
thướt tha biết nói hiếm hoi bên trường Kỹ Sư Hóa Học gần đó chiêm ngưỡng. Tôi cứ
đóng nguyên bộ, vẫn giầy, vẫn áo trong quần và vẫn thắt lưng da chỉnh tề. Vì khẳng
khiu nên bọn cùng "team" chỉ cho tôi đứng sát lưới và chỉ được đánh
banh khi chúng gọi tới tên. Tôi chỉ còn biết đứng sát lưới nhìn trái banh qua lại.
Chúng nâng, chúng truyền, chúng đập không hề có tôi được dự phần vào. Chúng chỉ
cho tôi dự phần vào những trái thuộc "trái hư, trái thối" mà chúng
đánh hỏng hay không thể đỡ nổi. Hễ trận nào thua là chúng đem tôi ra làm thịt,
đổ thừa. Toán thua phải đãi toán thắng một chầu Hải Ký Mì Gia trong Chợ Lớn. Tiền
tôi kiếm được của những ngày "kèm học tư gia" cho con nhà giàu đều
thay phiên "cúng" cho chúng cả. Còn một tay ra sân cũng "cậu"
như tôi là Nguyễn Bỉnh Cương (vừa sau khi ra trường, Cương có học bổng của
chính phủ Pháp cho theo học tiếp ở bậc Tiến sĩ cùng với Châu Tùng Thiện và Nguyễn
Xuân Thanh. Thiện mới mất năm 2020 tại Paris). Người to mồm hay "nạt nộ"
anh em nhất trong "team" vẫn là "người ruồi reo máu lửa"
Nguyễn Hoàng Thu (nay sống ở Úc). Hoàng Duy Bình (nay sống ở Pháp) thì đánh
banh cứ như múa, khều khều như sợ trái banh đau hay sợ bẩn tay vậy. Hắn xà ẹo
xà ẹo, uốn éo mỗi khi đáng banh, nhưng nhờ hắn cao nên "đập" banh rất
hay và "cản" banh rất nghề. Hoàng Thanh (nay sống tại Mỹ) thì lâu lâu
mới ra sân, luôn đứng cuối sân để "cầy" banh lên. Những hôm trời mưa,
banh ướt sũng, vừa trơn vừa nặng, lúc đó Hoàng Thanh trở thành tay "cầy"
số một. Tất nhiên, những hôm trời mưa như thế thì tôi thất nghiệp, chỉ được ngồi
ngoài vỗ tay cổ võ, nhưng nếu "team" phe ta thua thì vẫn cứ phải góp
phần cùng "chung tiền" cho toán thắng đi ăn. Nhớ đến
"chúng", những người bạn cùng lớp (vỏn vẹn 25 người) hay bạn đồng
môn, là tôi như đang nhớ đến những ngày vui trong đời.Nhiều chuyện để kể lắm, như chuyện ăn chơi, nhảy đầm và
những chuyện trên Giảng đường cũng xin được hẹn kỳ sau, tôi xin được
tạm ngừng kể lể ở đây.Kết luận:
Bốn năm học ở trường QGKSCN là bốn năm xương
máu của tôi, bốn năm để lại cho tôi biết bao vui buồn hỗn độn, thất thường.
Đúng như anh Thành nói, khi còn trẻ ta sống với tương lai, lúc về già sống với
quá khứ. Nay về hưu, ngồi nghĩ lại, tôi mới nhận ra rằng những kỷ niệm xa
xưa ấy lại thường chính là một trong những nguồn hạnh phúc của tôi lúc này, lúc
ở cái tuổi "chưa già nhưng không còn trẻ nữa", hay nói cách khác ở
cái tuổi "chớm già" hay "bát thập cổ lai hy". Cười.
Nguyễn Giụ Hùng
Kết luận:
Bốn năm học ở trường QGKSCN là bốn năm xương
máu của tôi, bốn năm để lại cho tôi biết bao vui buồn hỗn độn, thất thường.
Đúng như anh Thành nói, khi còn trẻ ta sống với tương lai, lúc về già sống với
quá khứ. Nay về hưu, ngồi nghĩ lại, tôi mới nhận ra rằng những kỷ niệm xa
xưa ấy lại thường chính là một trong những nguồn hạnh phúc của tôi lúc này, lúc
ở cái tuổi "chưa già nhưng không còn trẻ nữa", hay nói cách khác ở
cái tuổi "chớm già" hay "bát thập cổ lai hy". Cười.
Nguyễn Giụ Hùng
.jpg)





.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét