Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Nữ Chúa Hồ Ba Bể 2

Nữ Chúa Hồ Ba Bể 2

Cả một vùng hồ nước vụt rơi vào im lặng mênh mông, chỉ còn tiếng chân ngựa khua vó lóc cóc, tiếng nàng chúa Hai nhọn sắc như dùi đâm thủng không gian.
Khi nàng ta hét đến chín, bỗng nàng chúa Ba giơ tay ra hiệu bảo nàng kia:
- Khoan! Lão khách râu xồm giỏi nghề độn thuỷ, chắc đã thoát khá xa, ít nhất phải ra tận ốc đảo kia! Ta nên cho một dịp may cuối cùng, để chúng quân nhắc lại mới được!
Cô gái Tàu nhổ toẹt một bãi nước miếng, mắng:
- Tỉu nà! Hai con giặc cái! Muốn giết, cứ giết, đừng hòng giục cha tao!
Chàng trai quát:
- Giặc cái! Ta mới là kẻ phá giặc, giết thủ hạ hai ả, còn cha con nàng này vô can! Nếu cần, cứ giết mình ta cũng đủ!
Cả hai không thèm đáp, vùng khoa liềm trên trốc đầu, hô:
- Đếm đến mười, không ra, ta chặt hai cái đầu này!
Quân giặc ngoài hồ cũng xô lại đếm vừa đến mười, bỗng nghe ngoài ốc đảo có tiếng hét như sấm vọng vào:
- Tỉu nà hai cong giặc! Tao đây! Lũ mi chớ làm càn!
Hai nàng nhìn ra, cùng hạ tay liềm, nhếch miệng cười đắc ý. Vì ngoài ốc đảo giữa hồ, vừa hiện ra một bóng đen đứng trên ngọn cây sát bờ nước, dáng người còn mặc nguyên xường xám ướt sũng.
- À, vậy là biết điều đó! Bây đâu! Ra bắt lão vào đây!
Quân hồ Ba Bể dạ ran, năm cái thuyền độc mộc rẽ nước chạy ra. Giây lát đã điệu lão khách râu xồm vào, khí giới đã bị tước hết, nhưng không bị trói.
Nàng chúa Hai quát lớn:
- Sao không xích lại?
Thuyền áp bờ, bọn thủ hạ vội đem xích sắt xiềng lão khách lại. Lão trợn mắt, mắng:
- Tỉu nà! Tao tự ra cho chúng mày định đoạt, còn xích gì nữa?
“Xoảng” một tiếng lớn, lão giật bứt tung dây xích sắt, ném bõm xuống nước, nhảy vọt lên bờ, hướng vào hai nàng chúa, nói to:
- Tao lên đây, giờ hãy tha con gái tao và chàng công tử kia ra!
Sợ lão làm dữ, quân hồ Ba Bể cùng chĩa súng lăm lăm.
Nàng chúa Hai cười dữ tợn:
- Đã bị bắt, còn dám ra điều kiện với chúa hồ?
Lão khách có vẻ giận dữ hết sức, chỉ muốn phá tung, nhưng chợt đưa mắt nhìn con gái và chàng trai Kinh, thủ hạ người bị trói, người mang thương tích, máu đỏ lòm, lão nén giận, cười khà bảo:
- Cha con tao sang Nàng xem hồ Ba Bể, làm du khách mới bị lũ mi áp đảo! Nếu bên Quảng Tây, cả quân tướng nhà mi, tao đánh cho không còn mảnh giáp!
Nàng chúa Hai chống nạnh, gật gù, lượn quanh mình, bất thần vung tay điểm một nhát trúng huyệt đạo. Lão khách đứng trơ như tượng gỗ.
Rồi nàng hét:
- Khiên La đâu?
Một viên bộ tướng to như hộ pháp từ phía cánh quân Nam vọt tới.
- Chúa Hai, chúa Ba truyền!
- Đem đội hành hình tới, chặt đầu chúng, bêu làm lệnh, răn thiên hạ!
Viên bộ tướng hộ pháp Khiên La lập tức hô gọi đội hành hình tới, trói tất cả đám người bị bắt vào gốc cây, trói luôn cả bọn đội Đầu Lâu, lính dõng.
Nàng chúa Ba không can nửa lời, chỉ hờ hững nhìn đám người sa cơ.
Bọn này cũng chẳng thèm hé răng, khi đội hành hình đã dàn hàng sắp ra tay, nàng chúa Hai rút súng, bước lại gần, dòm nảy lửa, nào dè cô gái Tàu bỗng nhổ toẹt một bãi nước bọt, hét:
- Tỉu nà con giặc rừng ỷ đông hống hách! Tưởng bọn tao sợ lũ mày chăng? Hừ!
Tiếc thay mày không gặp tao bên Quảng Tây để tao vặn cổ mày ra đằng sau!
Nàng này giận tròn xoe mắt, giơ súng chực bắn, nhưng lại nén được, gật gù cười gằn, quát trầm:
- Nghe cha con ả đều khoe Quảng Tây, phải làm chúa tể thành Nam Ninh hay chúa thổ phỉ?
Toẹt! Lại một bãi nước bọt. Nàng chúa Hai hét “giết chết chúng cho tao”. Đội hành hình vừa toan ra tay, bỗng nghe phía cuối hồ Ba Bể có tiếng cồng khua vang, âm thanh bổng mười phần hùng tráng âm u, đúng là điệu cồng sơn cước.
Đám quân hồ Ba Bể đằng này vụt dừng tay, quay nhìn cả về phía có tiếng cồng.
Dứt hồi cồng đồng, bỗng có tiếng tù và nổi lên, vang động khắp miền sơn thuỷ, âm sừng linh dương rền rĩ man mang, huyền bí như từ cõi xa xăm nào vọng về.
Bỗng “vo, vo”, từ nẻo cuối hồ có một chuỗi âm kỳ lạ bay vút trên không trung, rít như còi, phóng về phía đám hành hình.
Ai nấy đều ngửa mặt trông lên, thấy có một vật đỏ chót bay theo đường cầu vồng đâm thẳng xuống đất, hiện ra một mũi tên còi màu đỏ.
Nàng chúa Ba chạy lại nhổ mũi tên, dòm qua, trao cho nàng kia.
Bỗng cả hai cùng hô “về núi”.
- Lệnh truyền giải tất cả về, chỉ để lại một đội khinh kỵ! Y lệnh!
Đám quân hồ Ba Bể lập tức chạy lại cởi trói cho mọi người, đem lên lưng ngựa, lũ khác thu dọn chiến trường, phút chốc tất cả đã vào hàng ngũ.
Cô gái Tàu cười lớn:
- Chúng mày tiếc đạn?
Nàng chúa Hai lạnh lùng:
- Không phải tiếc đạn, tiếc cái đầu của ả! Chặt ngoài hồ phí của, phải đem về núi chặt làm lễ tế cờ! Chớ quên: chưa kẻ nào kháng cự lại chúa hồ Ba Bể, còn toàn mạng trở về. Đi! Bịt mắt chúng!
Khiên La cùng bọn thủ hạ lấy vải dày bịt ngang mắt mọi người.
Vó ngựa lóc cóc rời hồ Ba Bể đi về hướng Nam.
Chàng trai Kinh thấy đám quân này hung tợn, không khỏi lo cho số mạng cả bọn, lên tiếng dịu dàng bảo:
- Tôi có người gia tướng là quản Đô nhảy hồ trốn thoát về Cao Bằng báo tin, thế nào phụ thân tôi cũng có cách giải cứu, cô chớ ngại!
Lão khách râu xồm hỏi:
- Phải phụ thân công tử là quan tuần phủ Cao Bằng?
- Dạ chính thế! Cha tôi lại quen nhiều tay giỏi võ, chắc chẳng chịu bó tay!
Lời vừa dứt, bỗng cả bọn ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt, rồi mê đi khắc nào không biết nữa.
Chẳng hiểu bao lâu, bỗng nhiên chàng trai kinh hoàng tỉnh mở mắt ra, bàng hoàng thấy mình đang nằm trong gian thạch động, thạch thất chi đó, dưới vùng ánh sáng vàng vọt, nham nhở.
Chàng nhỏm dậy, ngó quanh mới hay đây là một cái hang sâu được chế thành nhà giam, vuông vức hơn mười thước vuông, cửa ngoài bằng chấn song sắt to bằng cổ tay, trong hang có bục gỗ trải cỏ khô.
Cả mấy thầy trò đều bị xích chân vào cây gậy sắt đóng sát ngay vách đá. Bên ngoài song sắt là một dãy hành lang, ánh sáng vàng khè ngoài đó hắt vào, lẫn cả mùi khen khét như nhựa xám, thứ nhựa cây đóng thành thỏi, dân sơn cước thường dùng thay đèn nến.
Thấy mỏi, chàng co chân duỗi thẳng, mới sực nhớ tới vết thương dưới chân, bèn cúi nhìn lại, mới hay vết thương đã được băng bó cẩn thận, tuy cử động còn thấy đau!
Chàng thử vung tay, mới hay sức lực đã bị triệt, trong mình còn mệt mỏi, cổ họng khô cháy, chừng mới qua một cơn sốt dữ. Chàng trai vùng gọi to:
- Khát quát! Có ai ngoài đó không?
Lập tức có tiếng chân bước tới, một gã to lớn, mặt mũi dữ tợn đầy sẹo đứng ngoài song sắt lừ lừ dòm vào, hỏi:
- Công tử con quan gọi gì?
Chàng trai bảo:
- Bọn ta khát nước lắm, cho một ấm!
Gã này nhe răng cười, hỏi:
- Công tử con quan có uống nước cà phên không?
Chàng trai cười:
- Chú mày đùa tao?
Y đáp:
- Không đùa mà! Chúa truyền ai muốn ăn uống gì, phải đưa! Ông Khiên La bảo công tử Kinh thường uống cà phê!
Chàng trai cười:
- Chúa mi tử tế nhỉ?
- Ờ. Công tử con quan chưa biết chúa hồ Ba Bể! Lát nữa bắn, giờ vẫn cho ăn uống no nê mà!
Gã quay ra, loáng bưng vào đủ cà phê, nước trà.
Chàng trai hỏi:
- Cha con ông khách Quảng Tây đâu?
- Cũng giam quanh đây!
Gã vừa nói dứt bỗng nghe gần đây có tiếng đàn bà gọi lanh lảnh:
- Công tử Kinh có đấy không?
Nghe giọng nhận ra chính giọng cô gái Tàu, chàng trai vùng đáp lớn:
- Tôi đây! Cô nương cùng lệnh đường mạnh khoẻ chứ?
Có tiếng đáp:
- Cảm ơn, vẫn mạnh, chỉ lo vết thương nơi chân công tử!
- Không sao! Nó băng bó cẩn thận rồi!
Bỗng ngay khi đó, có tiếng chân rầm rậo, rồi viên bộ tướng to như hộ pháp Khiên La chợt hiện ngoài song sắt cùng một toán quân lực lưỡng nữa, nói lớn:
- Chúa truyền giải tất cả lên sảnh đường!
Đám quân mở khoá, dẫn ba người ra ngoài hành lang. Cha con cô gái Tàu Quảng Tây cùng bọn đội Đầu Lâu cũng đi ra, tất cả đều bị xiềng.
Vừa thấy chàng trai Kinh đi tập tễnh, cô gái Tàu trợn mắt mắng lớn:
- Tỉu nà! Lũ chó đú này hèn hạ! Đã triệt hết công lực người ta, còn xiềng xích như trâu chó! Lũ mi không thấy chân công tử bị thương què sao?
Một gã mặt mày dữ tợn, chừng đầu mục, đứng gần đấy, sấn luôn lại giơ bàn tay to lớn doạ “im mồm”.
Gã liền bị nàng ta bất thần co chân đá luôn một phát đến “hự” một tiếng! Nhưng lúc này công lực đã bị triệt, cú đá không còn mạnh nữa. Tuy vậy cũng làm gã nổi giận, hét lên. Lại có hai ba tên cười ồ làm gã càng tức, thẳng tay tát vào mặt cô gái Tàu. Xoảng!
Một sợi dây xích quật trúng tay gã, kéo giật lại, làm gã giật mình xoay người, trợn ngược mắt, sửng sốt. Vì kẻ vừa quật xích không ai khác chàng trai Kinh vừa tập tễnh nhảy tới.
- Không được làm rối loạn! Cởi xích ra cho chúng!
Mọi người nhìn ra. Nàng chúa Hai đã đứng sững giữa hành lang, tay cầm roi ngựa, quần áo xốc xếch, vẻ vừa đi đảo về.
Bọn giặc vội cúi rạp đầu chào. Khiên La sai tháo xiềng cho mọi người, đoạn giải đi. Đội Lực và viên cai xà cạp trắng phải xốc nách chàng trai, dìu từng bước.
Nàng chúa Hai quay mình đi ngả khác. Đám “tù nhân” bị giải qua dãy hành lang dài hút, ánh nhưa trám vàng khè.
Thì ra đây là một khu “nhà đá” đục thẳng vào vách núi. Đi khỏi dãy hành lang tới một khu khác, đứng nhìn ra, thấy núi đá trùng trùng chạy quanh lòng chảo, rải rác khắp dưới trên có nhiều đồn trại nhà cửa, ẩn hiện lùm cây, ghềnh, coi hiểm hóc vô cùng.
Nhờ có ánh trăng soi vằng vặc, mọi người thấy khu này có nhiều đường ngang lối dọc chi chít.
Bọn Khiên La dẫn họ đi khỏi khu lòng chảo này, lại tới khu khác theo lối đá quanh co, đến một trái núi cao ngất, lưng chừng núi hiện ra nhiều bóng nhà cao, thấp, lớn, bé, lối kiến trúc rất lạ mắt.
Bỗng đến một vùng núi bằng phẳng có một căn nhà gỗ đồ sộ làm theo lối dinh sảnh của các tiểu vương sơn cước, cây cối hoa cỏ mọc đầy, trước nhà có một cái sân, giữa sân có trồng một cái cột cờ cao như cây phướn, ngọn cờ có lá cờ đỏ chót như nhuộm máu tươi, giữa thêu hai cái liềm gác chéo ôm lấy một cái sọ người có tóc coi rất dữ, dưới có một con sóng lượn, tất cả đều bằng ngân tuyến!
Khiên La dẫn mọi người vào thẳng ngôi nhà, qua bậc gỗ cao vút.
Sàn rộng bao la, trần thiết giản dị, nhưng rất uy nghi. Vách căng toàn da thú, ghế từng dãy, toàn ghế mây. Nhưa trám thắp như sao sao, quân đầy sàn, bên nam, bên nữ, ngó qua cũng hơn trăm tay súng.
Đám “tù nhân” được dẫn tận cuối sàn, đứng một bên, hướng lên một bục gồ rộng, cao vọi. Trên bụ có đặt ba cái ghế tay ngai bọc da báo gấm lốm đốm. Ghế chính giữa cao hơn, ghế ở hai bên thấp hơn một chút.
Trước ghế có cái bàn rộng cũng bọc da thú, trên bàn, trên ghế la liệt đầy chiêng, khánh, cồng, tù và, trống khen, nhạc cụ, hai bên vách treo đầy gươm đao. Sau ghế có một lá cờ giống hệt lá cờ ngoài cột cờ.
Im đến nỗi chỉ nghe tiếng nhựa trám cháy lép bép và tiếng gió thổI vi vu ngoài sườn núi mang vào những tiếng chim khảm khắc “loọng sôi”.
Chợt phía sau lá cờ, có tiếng tù và rúc âm u, vang vọng cánh rừng.
Dứt hồi tù và, từ trong vùn vụt đi ra một đội nữ binh quấn xà cạp đeo súng ống, gươm đao, dao găm, cung nỏ, dàn dọc chếch hai bên rồi một nàng bộ tướng tiến lại, cầm dùi gióng lên một hồi còng, đệm ba tiếng cuối ngân nga.
Ai nấy đứng thẳng, im phăng phắc. Âm chưa ngưng hẳn, từ trong vừa vụt tiến ra hai bóng nữ nhân, leo lên ngồi luôn vào hai cái ghế tả hữu.
Bọn “tù nhân” nhìn lên, thoáng hơi bỡ ngỡ, mới nhận ra chính nàng chúa Hai, chúa Ba. Lúc này hai nàng lại mặc xiêm y Thổ Thái.
Nàng chúa Hai mặc “phá” lãnh gấu thuỷ ba kim tuyến, áo gấm lam, ngoài còn khoác thêm cái áo choàng tựa lối gái Mường, cũng màu lam. Nàng chúa Ba mặc cái áo tía, quần lãnh đen, áo choàng cũng màu tía.
Cả hai đều đeo khuyên, nhưng kẻ khuyên chuỗi tròn, kẻ khuyên hình tam giác nhọn. Cả hai đêu búi tó đỉnh đầu, đính mảnh khăn đỏ, chân viền kim tuyến, trông càng tôn vẻ uy tợn rừng xanh.
Cả hai nàng chúa hồ nhìn xuống dưới, không nói nửa lời.
Lúc này, chàng trai Kinh đứng cạnh viên đội dõng Đầu Lâu. Viên này gãi râu, nhe răng cười, ghé tai chàng bảo nhỏ:
- Phải bạn là con trai quan tuần phủ Cao Bằng? À! Tôi có được gặp quan tuần một lần! Quan tuần giỏi võ lắm! Bạn có thấy hai ả chúa hồ kia đẹp không? Hừ! Ai dám ngờ giết người như ngoé!
Chàng trai cười bảo:
- Cũng như ông bạn đó! Ai dám ngờ ông bạn chặt đầu người như sung rụng, uống máu không tanh?
- Ô mông-đi-ơ! Tôi chặt đầu tụi giặc cỏ mà!
- À! Vậy các ả chặt đầu bọn giết giặc cỏ, khác nào?
Lão khách xen vào:
- Hầy à! Cái nghề của bọn cầm súng cầm dao mà! Nhưng chúng nó để bọn ta đứng thế này là... không biết phép lịch sự!
Cả mấy người cùng cười.
Bỗng lại một hồi cồng khua, tự nhiên đám “tù nhân” đều háo hức muốn biết mặt kẻ ngồi chính vị ghế giữa ra sao?

Dứt hồi cồng, bỗng bức rèm cuối vách lay động, có bốn bóng nừ phò một bóng bịt khăn đỏ uyển chuyển đi ra. Mỗi bước đi, khẽ vang lên tiếng nhạc chùm buộc cổ chân nàng. Đột nhiên ánh lửa trám bỗng lao đao rạp xuống như cúi đầu trước nhan sắc tiên cô rừng thẳm.
Đám “tù nhân” thảy đều sững sờ trước vẻ đẹp của nàng vừa ra! Nàng ta uyển chuyển bước lên ngồi ghế chính giữa, khỏi cần nói, ai cũng biết ngay đó mới chính “Chúa tể hồ Ba Bể”, kẻ đã ra lệnh bán đầu lâu thiên hạ!
Nàng mặc lối Thái Đen, toàn xiêm y một màu đen viền trần kim tuyết, bó sát lấy tấm thân thon lẳn ngoài khoác áo choàng đỏ, lót màu đen, tao đeo khuyên lủng lẳng, mỗi bên ba cái liềm móc rất khéo, cổ đeo dây chuyền vàng.
Lập tức, khắp căn đại sảnh nổi lên những tiếng tung hô kính cẩn, tất cả đám giặc nam nữ đều đứng thẳng, cúi đầu.
Bọn chàng trai Kinh, cha con lão khách Quảng Tây, lính dõng vẫn đứng nghiêng ngó dòm lên, dưới vùng ánh sáng nhựa trám vật vờ.
Ai cũng phải sửng sốt vì sắc đẹp của ba nàng nữ chúa hồ Ba Bể, nhất là nàng áo choàng đỏ, ngồi giữa chắc “chúa Cả”.
Mỗi nàng một vẻ, hai nàng kia đã đẹo, nàng chúa Cả này còn đẹp hơn, một vẻ đẹp uy nghi, huyền bí lạ thường như tích tụ cả tinh hoa núi đèo trùng điệp, suối chảy, chim ca, hoa ngàn, cỏ nội.
Chỗ đám “tù nhân” đứng, lên tới chỗ ba nàng ngồi, khoảng cách độ hai mươi thước, tuy vậy vẫn rõ từng đường nét. Vừa nhìn thấy mặt nàng chúa Cả, bỗng chàng trai Kinh giật tim một cái, cảm giác là lạ khó hiểu.
Chàng trai đưa mắt nhìn mọi người. Chàng ngạc nhiên thấy lão khách râu xồm cũng giật mình một cái, mở mắt dòm nàng chúa Cả trừng trừng, rồi đến cô gái Tàu, bọn đội Đầu Lâu, nhiều kẻ cũng lộ vẻ ngạc nhiên, nhìn nàng ta không chớp mắt rồi tất cả cùng nhìn sang chàng trai Kinh.
Lạ lùng, chàng khẽ hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Lão khách gãi râu:
- Hầy! Ngộ trông thấy nàng chúa Cả hồ Ba Bể kia, lại nhớ tới chuyện hai mươi năm xưa... ngộ có gặp một người đàn bà giống hệt nàng!
Bọn áp giải vừa quát “im”, Khiên La bước vụt tới, xua tay làm hiệu, đoạn nghiêm mặt bảo bọn “tù nhân”:
- Chúa hồ đó! Mau làm lễ ra mắt!
Mọi người vẫn đứng yên. Cô gái Tàu cười lớn “Ra mắt? Ha ha”. Cả đám ngạo nghễ cười ồ.
Trên kia, nàng chúa Hai nhìn xuống, cau mày, hất hàm một cái, nhưng ngay khi đó, nàng chúa Cả đã đưa mắt nhìn xuống, vẻ mặt thản nhiên, nghiêm nghị như không hề biết có chuyện lộn xộn bên dưới. Nàng ta giơ một tay lên:
- Tất cả ngồi xuống!
Một ả bộ tướng vớ lấy đùi gióng một hồi cồng vang âm rền rĩ. Đám quân lẳng lặng ngồi xuống, riêng bọn giải “tù nhân” vẫn đứng một góc. Căn đại sảnh lại rơi vào im lặng mênh mông.
- Dẫn đám người bị bắt lên đây!
Vừa nghe lệnh truyền, Khiên La hô nhỏ:
- Nào! Lên mau, chúa Cả khác tính lắm, các ngươi nên giữ miệng cho khỏi mất đầu!
Không ai thèm nói nửa lời, đồng theo chúng áp dẫn đi lên phía ba nàng nữ chúa hồ ngồi. Trèo hết mấy tầng bục, cả bọn được đưa tới trước mặt ba nàng, đứng lố nhố.
Cô gái Tàu có vẻ nóng tính nhất, vùng nói lớn:
- Bọn ta là du khách đến vãn cảnh hồ Ba Bể, vô cớ bị bắt, sao các ngươi để đứng như tượng gỗ thế này?
Nàng chúa Cả nhìn cô gái Tàu lừ lừ, không tỏ vẻ chi khác thường, chợt bảo:
- Khiên La! Đem ghế lên cho họ ngồi!
Bọn thủ hạ hơi tỏ vẻ ngạc nhiên nhưng cũng dạ ran, lập tức mang ghế lên, bày bên tả, cho đám “tù nhân” ngồi.
Cô gái Tàu gật đầu bảo:
- Có thế chứ! Vậy mới là kẻ biết cỡi ngựa bắn súng!
Nàng chúa Ba hơi nhếch mép cười, chúa Hai cau mày. Chúa Cả vẫn không lộ vẻ gì khác thường. Nàng ta cúi xem mấy tập giấy trên bàn, chợt ngẩng lên hỏi:
- Con trai tuần phủ Cao Bằng đâu?
Chàng trai ứng tiếng dõng dạc:
- Chính ta đây!
Nàng chúa Cả phất tay:
- Ra ngoài này! Cứ đem cả ghế theo!
Chàng trai đứng dậy. Viên đội xà cạp trắng phải dìu chàng ra, mang giúp chiếc ghế mây cho tiểu chủ ngồi.
Nàng chúa Cả nhìn chòng chọc, mắt chợt thoáng nét ngạc nhiên, thấy chàng công tử con quan Kinh lại có nhiều nét hao hao giống mình.
Nàng ta quay nhìn hai nàng kia, hỏi nhỏ bằng tiếng Mán:
- Này, hai em có thấy tên công tử người Kinh lại có nét mặt hao hao giống chị không?
Mãi lúc đó, hai nàng mới chợt để ý và cũng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy mặt chàng trai Kinh phảng phất có nét giống nàng chúa Cả. Hai nàng kia cùng gật đầu. Nàng chúa Cả quay hỏi chàng trai:
- Phải chú em là Trần Dũng, con trai tuần phủ Cao Bằng Trần Hùng? Ta có nghe họ Trần có chàng con trai ngoài mười tám tuổi giỏi chữ nghĩa, thích nghề võ, phải chú em?
Tuy nhìn mặt cũng biết nàng chúa Cả hơn mình mấy tuổi, nhưng nghe nàng gọi mình là “chú em”, chàng ta cũng tức lắm, dõng dạc đáp:
- Chính ta! Giờ bắt được, muốn giết cứ giết còn hỏi chi cho thừa lời?
Nàng ta nheo mắt, gật gù:
- Chú em bướng nhỉ? Đầu xanh tuổi trẻ không sợ chết sao?
Chàng trai họ Trần cao giọng:
- Ai không muốn sống? Nhưng sống nhục ta không cần sống!
Nàng chúa Cả ra hiệu cho chàng trai ngồi yên, đoạn ngoảnh sang hỏi:
- Cha con lão khách đâu?
Hai cha con lão khách Quảng Tây bước ra. Nàng chúa Cả nhìn chòng chọc hỏi:
- Phải người Quảng Tây sang Nam? Nghề lạc thảo hay quan nhân?
Điềm nhiên, lão khách đáp:
- Lạc thảo!
Nàng chúa Cả nheo mắt:
- Ta nghe chúng nói lão bắn kích pháo hay lắm, bên đất Tcheng Ngan Fon xưa có một viên tướng thổ phỉ râu xồm bắn “pháo” khét tiếng “Thần pháo Tiên sinh” lão có biết chăng?
Lão khách gật đầu:
- Có biết! Nhưng cô chúa hỏi làm gì?
- Ta nghe tiếng hỏi vậy thôi!
Lão khách vuốt râu:
- Thần pháo tiên sinh Trại Hứa Chử Woòng Tắc Mềnh chính là anh ruột ta đó. Còn ta là Woòng Tắc Lềnh, con ta là Woòng Cẩm Tiên!
Cặp mắt phượng của nàng chúa Cả chợt sáng long lanh nhìn hai cha con lão họ Woòng, đoạn ra hiệu ngồi yên gọi:
- Đội Đầu Lâu đâu?
Viên đội lính dõng bước ra. Nàng chúa Cả vỗ bàn quát:
- Đội Đầu Lâu! Ngươi dám dàn binh chống cự với quân ta, làm thiệt hại nhiều mạng, tội ngươi lớn lắm, mà đầu còn trên cổ được sao?
Không sợ hãi, viên đội dõng cười lớn, dùng tiếng địa phương đáp:
- Ta giữ nhiệm vụ tiễu trừ giặc cỏ, dẫn lính tới hồ Ba Bể, thấy giặc giết người, đòi tiền mãi lộ còn ngang nhiên cắm biển đòi du khách thổ dân, lái buôn phải mua đầu lâu của người ta, mà lính nhà nước không nổ súng sao được!
Nàng chúa Cả cười thét:
- Lính dõng nói mạnh bạo dữ à! Để xem lúc thành quỷ không đầu, còn bạo nữa không?
Đội Đầu Lâu có lẽ cũng thừa hiểu sa tay quân hồ Ba Bể là coi như đã chết, nên cứ ngửa mặt cười ngạo nghễ.
Nàng chúa Cả quay sang nói nhỏ chi với hai nàng kia, ba nàng bàn nhau giây phút, chợt bỗng chúa Cả nghiêm mặt quát:
- Các ngươi dám kháng lệnh chúa hồ Ba Bể, tội nặng đáng tử hình! Nhưng nghĩ lại các ngươi là kẻ biết bắn súng, chưa biết oai chúa hồ, kháng cự cũng là sự thường, nên ta châm chước! Vậy nghe đây, Trần Dũng, đội Đầu Lâu phải viết thư về Cao Bằng, Bắc Cạn, xin tiền chuộc đầu cho cả bọn, Woòng Tắc Lềnh phải viết thư về Quảng Tây gọi Thần pháo sang đây, chúa hồ cần một tay bắn kích pháo giỏi! Bây đâu! Đem giấy bút ra đây!
Bọn nữ binh dạ ran, vào mang giấy bút ra. Woòng Cẩm Tiên vùng quát:
- Khỏi phải viết giấy, sẽ có người tìm tới mượn đầu các ngươi!
Nàng chúa Hai quắc mắt quát:
- Ả kia! Đã bị bắt, mạng treo sợi tóc, còn dám buông lời ngạo nghễ, không sợ chết sao?
Woòng Cẩm Tiên cười khanh khách:
- Ả ỷ đông quân, bắt được người, tưởng ai cũng sợ chết khom lưng quỳ gối trước ả sao? Muốn giết cứ giết, ta đâu có sợ?
Nàng chúa Cả thấy cô gái Tàu bướng bỉnh, chỉ nhếch miệng cười, giơ tay làm hiệu cho cô em ngồi yên. Lão khách râu xồm Woòng Tắc Lềnh cũng đưa mắt cho con gái.

Nàng chúa Cả nói một tràng vừa tiếng Tàu, vừa tiếng Kinh, làm cả đám tù nhân đều lộ vẻ ngạc nhiên hết sức:
- Ta xử như thế chưa đủ lượng dung người sao? Theo luật hồ Ba Bể, kẻ nào kháng lệnh đều bị bêu đầu, nay ta cho chuộc đầu là đã có lòng biệt nhỡn đó, các người nghĩ sao?
Đám “tù nhân” nhìn nhau, chưa thể quyết đoán nàng nữ chúa hồ Ba Bể có ý cho chuộc mạng hay có âm mưu gì. Nhưng lão khách Quảng Tây cũng vuốt râu bảo:
- Kẻ làm nghề lạc thảo mà biết nghĩ đến món lợi tiên chuộc mạng muôn quân, cũng đáng là tay biết nghề đó. Nhưng nàng quên là những kẻ như bọn ta lại dùng tiền, anh trai chuộc mạng, còn gì danh dự nữa?
Nàng chúa Cả lạnh lùng:
- Ta cho chuộc chưa đủ độ lượng chăng?
Chàng trai Kinh vùng nói lớn:
- Không phải độ lượng, mà là khôn ngoan xảo quyệt! Chém đầu người bêu ngọn giáo, thị oai là hạ sách. Sống thác đều có số, chắc người thân của bọn ta sẽ có cách “nói chuyện” với hồ Ba Bể! Tưởng các nàng cũng chẳng cần phải đòi bọn ta viết giấy về!
Nàng chúa Hai quắc mắt, đầy vẻ giận, nhưng nàng chúa Cả vùng ngửa mặt cười lớn:
- Nếu đúng như lời chú em, ta sẽ được thêm mẻ cá lớn hơn!
Bất thần, nàng ta vụt đổi sắc, vỗ chát xuống bàn, quát:
- Trước hết, ta chặt đầu mớ cá nhỏ này, lấy xương, đầu treo giữa hồ cũng đủ làm mồi bắt lũ cá lớn rồi! Bây đâu! Giải cả về nhà giam, sớm mai làm lễ tế cờ!
Quân lính dạ ran. Bọn Khiên La tiến ra, điệu luôn đám “tù nhân” đi.
Không ai sợ hãi, tất cả cùng cất tiếng cười ngạo nghễ.
Tiếng cồng rền rĩ nổi lên, chờn vờn “đi” theo đám “tù nhân” về bên kia núi.
Khi về đến khu động giam, nghe tiếng kẻng cầm canh, mới hay chưa hết canh ba.
Lần này, Khiên La lại giam thầy trò Trần Dũng, cha con lão khách Woòng Tắc Lềnh, bộ hạ, cùng viên đội dõng Đầu Lâu với mấy viên quan vào chung một căn động khá rộng, còn bao nhiêu giam quanh đấy.
Lát sau, lại có bọn quân hồ Ba Bể đem chiếu mền tới và mấy mâm thịt nướng xôi nếp, có cả rượu ngon, trà nước.
Bọn Trần Dũng ăn xong ngồi quây quần uống trà, bàn chuyện nhỏ. Ai cũng lấy làm lạ về tính nết bất thường của nàng chúa Cả hồ Ba Bể, nhất là nhan sắc, tài nói giỏi tiếng Tàu, tiếng Kinh của nàng.
Lát sau, vì mệt mỏi, nhiều kẻ bị thương, nên cả đám nằm quay ra ngủ, phó mặc cho thân thế, số mạng.
Trong khi chàng trai Trần Dũng bị bắt giải về sào huyệt quân hồ Ba Bể, thì quản Đô nhảy được xuống hồ, dùng nghề lặn, tháo về phía xế bắc.
Nhờ khi đó quân hồ Ba Bể còn ở ngoài xa, mấy nàng đầu lĩnh bị chàng trai Kinh cản lại, nên quản Đô thoát được vùng nguy hiểm, kiếm chỗ mũi ghềnh bờ bụi kín đáo, trồi lên luồn rừng, thoát xa vùng hồ nước.
May thay đang thất thểu, quản Đô lại gặp ngay một con ngựa vô chủ còn nguyên cả yên cương lạc lõng trong rừng.
Quản Đô mừng rỡ, bắt ngựa, kiếm lối về sơn trấn Cao Bằng.
Xế trưa, Cao Bằng vẫn tấp nập kẻ qua người lại, xe ngựa từng đàn, dân sơn cước Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Tày... từ các bản động xa đổ về như nước, vì hôm đó nhằm ngày phiên chợ.
Trong tư dinh tuần phủ, bàn ăn đã dọn sẵn, gia nhân nam nữ rộn rịp bưng các món ăn lên, vẻ bận như nhà có khách.
Cạnh bàn ăn có một người đàn bà dáng dấp quý phái, đang đứng sửa lại mấy cành hoa cắm trong bình.
Chỉ nhìn qua, ai cũng biết ngay đó là một bà mệnh phụ thuộc giòng dõi quan sang đã nhiều đời, nhưng nét mặt chỉ hiện rõ vẻ quý phái đoan trang, mà phúc hậu khác thường, không giống một số các bà vợ quan to kênh kiệu đài các rởm đương thời!
Có điều hơi lạ là bà phu nhân này chỉ trạc ba mươi bảy, ba mươi tám, tuyệt đẹp, nhưng ngoài tấm nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn, mặt bà ta vẫn phảng phất vẻ buồn rầu man mác, tuy cố giữ không tiết lộ ra ngoài. Đôi lúc ánh mắt vẫn hiện rõ vẻ thê lương u uẩn.
Sửa xong bình hoa, chợt phu nhân thoáng vẻ khắc khoải, lững thững ra thềm dinh tiền, nhìn xuống đồi. Ngoài thêm lúc đó có hai, ba viên cai đội “xà cạp trắng” đứng lảng vảng đang nói chuyện với nhau.
Thấy phu nhân bước ra, cả bọn quay lại chào kính cẩn. Bà ta đáp lễ, nhìn ra xa, như nói một mình:
- Quái! Sao giờ này chưa có ai về nhỉ? Chú đội Cao à! Sao tôi thấy sốt ruột quá!
Người có tên đội Cao là một gã trung niên, cao độ thước tám, có ria quặp như chiếc ghi-đông xe đạo, mắt một mí, coi gan lì hơn người. Nghe phu nhân hỏi giọng đầy lo ngại, viên đội cận vệ kính cẩn bảo:
- Bẩm bà lớn chớ ngại! Dạo này cả vùng Cao Bắc Lạng yên ổn lắm! Bẩm lại có bác quản Đô, đội Lạc đi theo cậu ấm cả, giặc cướp nào dám động tới! Cậu ấm cả lại giỏi võ!
Phu nhân hơi nhăn mặt, nhìn đội Cao, khẽ trách:
- Tôi đã dặn các chú mãi mà chẳng ai nhớ! Đã bảo đừng gọi thế mà! Chú biết có ai ưa kiểu cách thế đâu?
Đội Cao nhe răng cười:
- Dạ, quen mồm bỏ không được, vả lại cả thiên hạ gọi thế mà... bà lớn!
Phu nhân lắc đầu, cười dịu dàng bảo:
- Chú cũng biết nhà tôi đâu muốn làm quan? Nhà nước thăng chứa cho về xuôi, ông còn xin ở lại trấn rừng mà.
Lời vừa dứt bỗng nghe tiếng còi xe hơi, phu nhân cùng bọn đội Cao vội nhìn xuống, thấy một chiếc xe đen, lính bám quanh chạy thẳng lên đồi, đậu bên thềm.
Lính nhảy xuống, mở cửa cho một viên quan trung niên bước ra.
Đó là một người tầm thước, mặt mày khôi ngô, quắc thước, mặc áo cà sa, ngực đeo bài ngà, đầu chít khăn nhiễu Tam Gian, tuy tuổi đã bốn lăm, bốn sáu, vẫn còn hiện rõ vẻ uy nghi khoáng đạt của kẻ giang hồ ngang dọc một thời, không ưa bị đời kiềm toả.
- Kìa ông đã về?
- Bà mạnh chứ?
Ông ta bước nhanh lên thềm, nở nụ cười đầm ấm, nhưng vụt trầm ngay mặt hỏi:
- Thằng Dũng về chưa?
- Dạ chưa!
- Tôi được tinh hình như vùng hồ Ba Bể có loạn!
Giật mình, người đàn bà kêu nhỏ:
- Trời! Hồ Ba Bể có loạn? Loạn gì thế, ông? Thằng Dũng nhà mình đi chơi hồ...
Viên quan nhìn vợ. Mặt bà đột nhiên xanh tái hẳn đi, hiện rõ vẻ khủng khiếp lạ thường, khiến ông ta lộ vẻ ái ngại, vội nắm lấy tay vợ bảo:

- Không phải loạn rừng đâu! Hình như có đám giặc nổi lên bắt du khách, dân buôn phải nộp tiền mãi lộ đó thôi! Bà chớ ngại!
Ông ta dìu vợ vào phòng khách. Bọn đội Cao cùng toán tuỳ cận đứng cả ngoài thềm, vẻ mặt đăm chiêu.
Viên quan trung niên này không ai khác viên tuần phủ biến chuyển Trần Hùng.
Ông ta ngồi xuống ghế, tháo dây đeo súng lục ném lên bàn bảo vợ:
- Thằng Dũng chắc sắp về!
Người đàn bà đứng bên, đầy lo lắng:
- Nếu giặc nổi lên tại hồ Ba Bể, tôi sợ thằng Dũng nhà mình không chịu để yên đâu, tính nó khác lắm!
Viên quan không nói chi, mặt lộ vẻ điềm nhiên cho vợ an lòng, nhưng vẫn không dấu được nét lo kín đáo.
Người đàn bà rót một chén trà nóng dâng chồng. Hai người đang nói chuyện bỗng nghe ngoài thềm có nhiều tiếng xôn xao, giọng đội Cao kêu lớn:
- Coi kìa! Bác quản Đô! Sao về có một mình?
Hai vợ chồng viên tuần phủ vụt nhìn nhau, bước nhanh ra ngoài.
Dưới đồi, có một bóng người cỡi ngựa chồm lên, theo con đường lượn quanh co, dừng phắt trước cổng tiền. Người lính gác chạy ra đón. Đó chính là quản Đô.
Viên tuần phủ vùng hỏi lớn:
- Có chuyện gì đó, chú quản?
Quản Đô nhảy ba bước, vào thềm, mặt mày hiện rõ vẻ hoảng hốt, chực nói luôn nhưng thấy quan bà đứng đó, mặt xanh mét, y lại hãm được, thở phào, nhìn mọi người, nhìn viên tuần phủ như ngầm hỏi ý.
Viên quan hỏi luôn:
- Phải “có biến” tại hồ Ba Bể? Cứ nói!
Quản Đô lau mồ hôi, quần áo xộc xệch, rách bươm, vết thương máu xỉn, coi thảm hại, y nói như thanh:
- Giặc nổi dậy chiếm cứ vùng hồ Ba Bể. Cậu Dũng và bọn đội Lực bị chúng bắt rồi!
Phu nhân kêu “Trời ơi” bi thảm, viên quan đỡ lấy vợ, an ủi, đoạn vẫy quản Đô:
- Bình tâm tĩnh trí, vào đây, kể lại đầu đuôi ra sao?
Quản Đô theo chủ vào phòng khách.
Đội Cao rót ly nước đầy đưa cho y uống xong, quản Đô vò đầu.
- Bọn này rất mạnh tợn, cầm đầy là mấy con mụ đàn bà. Bọn tôi cùng cậu cả đến hồ, thấy chúng ra cắm biển “bán đầu lâu”, bắt ai cũng phải mua đầu mình, bọn tôi thấy có năm mười tên mới ra tay, đánh đuổi tận hồ. Nào dè chúng kéo ra đông như rươi, giết chết cai Tính, con nữ chúa cố bắt cậu Cả. Không ngờ nó giỏi quá, thả cặp liềm bay vùn vụt vô cùng lợi hại! Cậu Cả đuổi tôi nhảy xuống hồ về báo tin!
Ngừng ít giây, quản Đô tiếp tục kể lại cuộc quần thảo, bộ mặt gan góc của y còn in rõ nét kinh mang.
Viên quan nghe xong, trầm ngâm mười khắc, hỏi:
- Chú có chắc cậu Dũng nhà bị bắt không?
Viên quản gật đầu:
- Dạ chắc! Hình như cả ông đội dõng Đầu Lâu Bắc Cạn và một bọn khách Quảng Tây nữa! Vì lúc đó, tôi đã thoát lên rừng, có nghe vọng hò hét nên mới dám chắc! Vả chính con nữ chúa đã truyền bắt sống, nếu không đã nguy cả rồi!
Hai vợ chồng viên quan hỏi thêm từng chi tiết, viên tuần phủ vụt cao giọng:
- Đội Cao! Chú sang trại cơ binh xà cạp trắng, gọi quản Báo, quản Hổ sang đây, mau! Đưa xe đón cho chóng!
Đội Cao vọt đi. Viên tuần phủ bảo đám thuộc hạ:
- Tất cả vào ăn uống cho no! Trong nhà sẵn bàn tiệc!
Phu nhân đưa cả đám vào, thầy trò cùng ngôi ăn uống thân mật. Mới được tuần rượu, thì quản Hổ, quản Báo tới. Đó là hai người cao lớn, tuổi ngót 40 mặc quần áo ka-ki vàng, quấn xà cạp trắng. Quản Hổ người Thổ Cao Bằng, quản Báo người Kinh, da ngăm bánh mật.
Cả hai chào kính cẩn:
- Bẩm “cụ lớn” có việc gì sai khiến?
Viên tuần phủ trỏ ghế:
- Ngồi ăn uống đã! Ăn xong lên đường có chuyện khẩn cấp!
- Bẩm... chuyện gì thế?
- Cậu Dũng và bọn đội Lực bị giặc hồ Ba Bể bắt, giặc mạnh lắm, có lẽ phải lấy thêm lính khố xanh, quản Đô mới thoát về!
Quản Hổ, quản Báo vòng tay cúi đầu đồng vâng dạ, rồi răm rắp y lệnh. Chỉ ít lâu sau, quan lính đã hăng hái tiến nhanh về phía hồ Ba Bể nhằm giải thoát Trần Dũng cùng đám người bị nữ chúa hồ Ba Bể giam giữ giữa chốn sơn lâm.
CHƯƠNG 3 - NGHE CHUYỆN XƯA, NỮ CHÚA RƠI CHÂU
Xế chiều, tuần phủ Trần Hùng dẫn đoàn quân dưới quyền mình tới Tổng Hoá. Sau một lúc nghỉ ngơi, ông ta đem theo mấy tuỳ tùng thân tín lên ngựa đi dò xét tình hình. Lát sau, mặt trời ngả sát rặng núi Tây, cả bọn tới một cây cầu sắt sơn hắc ín bắc qua suối.
Quản Đô gò cương bảo chủ:
- Đây có đường tắt đi hồ Ba Bể!
Trần Hùng dừng ngựa trên cầu, đưa mắt nhìn quanh, chợt bộ mặt quắc thước tối sầm lại, hiện rõ vẻ thê lương.
Quản Đô nhìn chủ, khẽ hỏi:
- Quan lớn có điều nghĩ ngợi?
Họ Trần khẽ thở dài, chép miệng:
- Xưa, khi ta còn lưu lạc giang hồ, một hôm qua đây, đã chứng kiến một cảnh thảm thương. Ngót 20 năm rồi, hình ảnh thê thảm đó vẫn còn in rõ trong trí ta, nay thấy cảnh cũ, lại chạnh lòng nhớ chuyện xưa …
Quản Đô cùng bọn tòng nhân biết ông ta có điều buồn trong lòng, nên tất cả đều gò cương yên lặng, chợt Trần Hùng thở phào, bảo:
- Ta đi ngả này!
Cả bọn rẽ vào rừng, theo đường mòn đi miết.
Lát sau, mặt trời gác núi, sương bắt đầu dâng, mấy thầy trò tới một cánh rừng đẹp, có con đường mòn chạy vắt qua.
Bỗng nghe tiếng vó ngựa lóc cóc, cả bọn dạt vội sau bụi cây, trông về hướng Bắc, thấy ba thớt ngựa phóng tới. Trong ánh hoàng hôn rừng, đó là ba người đàn bà đều mặc quần áo khách đen, đeo võ khí, cỡi ba con ngựa khoẻ. Cả ba đều mặt mày dữ tợn, nhưng nhất là mụ đi đầu, thân hình mập mạp như cối xay, mắt ốc nhồi, sườn đeo hai khẩu pạc hoọc lớn, sau hông giắt một cây đao, nhác trông thấy con nít phải khóc thét!
Tới gần ngã tư, bỗng mụ đàn bà vụt giơ tay, cả ba cũng dạt ngược sau thân cây, mụ khách hét the thé:
- Tỉu nà! Lũ mi là ai? Phải tụi giặc Ba Bể ra đòi tiền mãi lộ?
Tiếng mụ như sấm. Quản Đô thì thào:
- Có lẽ tụi giặc cái hồ Ba Bể?
Tuần phủ Trần Hùng giơ tay làm hiệu, đoạn ứng tiếng đáp:
- Bọn tôi là lái buôn, đem hàng hoá đi hồ Ba Bể để bán! Mấy bà đi đâu đó?
Mụ mập cười ré:
- A! Có hàng tốt bán cho mụ một ít! Có bán đầu lâu không?
Viên quan đáp:
- Muốn mua đầu lâu, phải hỏi mấy ông giặc hồ Ba Bể! Bọn tôi chỉ bán …
- Nếu đúng lái buôn, mau đi ra, còn núp làm gì?
Bỗng có tiếng Quảng Tây quát gai trầm phía sau, mấy thầy trò dòm lại, đã thấy hai mụ mập đứng lù lù sau lưng, chĩa súng, nhe răng cười.
Trần Hùng ra hiệu cho cả bọn rời chỗ nấp.
Mụ mập dữ nhất tiến lại, dòm họ chòng chọc, cười bảo:
- Không phải lái buôn! Coi giống như quan Nam đầu tỉnh Cao Bằng?
Mụ tuy ở bên Tàu, nhưng hay sang chơi bên Nam, không giấu được mụ. Tuần phủ Trần Hùng nhìn đăm đăm, bỗng nhận ra vẻ quen quen như đã gặp ở đâu, ông ta vụt hỏi:
- Còn bà … Mười tám năm xưa, hình như bà có đi vùng này thì phải?
Mụ mập cười lớn:
- Ha ha! Quan Nam sao biết? Phải rồi! Hôm đó loạn rừng, thú dữ ra như rươi!
Viên tuần phủ Trần Hùng mừng rỡ, kêu lên:
- Đúng rồi! Chiều hôm đó, trời bỗng nổi phong ba, loạn rừng, thú dữ kéo ra từng đàn, có bầy đười ươi quái từ vùng hồ Ba Bể chạy ra đường Tổng Hoá - Chợ Rã đuổi bắt người đàn bà tuyệt sắc có đứa con thơ …
Như được khơi dậy kỷ niệm xưa, mụ mập dữ tợn vùng cười the thé:
- Ôi chao! Quan Nam Cao Bằng nói đúng! Bữa đó có con đười ươi chúa biết nói tiếng người, đuổi bắt người đàn bà mặc áo trắng. Súng bắn không chết đó, mụ đi tới, chém búa như sấm sét cũng chẳng ăn thua, lại bị nó lật đổ xe, mấy lần ném xuống suối, ném vào bờ bụi suýt dập xương. Ôi chao! Mười tám năm rồi, mụ còn nhớ nguyên cảnh đó!
Viên quan họ Trần lại kêu:
- Vậy bà la Mẫu Dạ Xoa bữa đó đi với ông Trại Hứa Chử? Ôi! Mười tám năm rồi, trông bà vẫn không thay đổi bao nhiêu!
Nghe kể, mụ mập lộ vẻ vui thích, cười khanh khách:
- À à! Tụi lục lâm có gọi mụ là “mẹ con Dạ Xoa”, nó đặt là “Pạc Họoc phu nhân”, còn lão Trại Hứa Chử là chồng mụ, nó gọi là “Thần pháo tiên sinh”, vì lão bắn “pháo” giỏi dữ a! Cách mấy cây số có thể rót trúng con chim sẻ. Hé hé! Mà sao ông quan Nam lại biết?
Chép miệng, họ Trần đáp:
- Hôm đó mỗ đây cũng có mặt trong cỗ xe “Ba Đen”! Mỗ đã dùng hết cách, không cứu nổi, lại bị nó quăng xuống gầm cầu suýt mất mạng!
Mụ mập có hiệu Mẫu Dạ Xoa giục lại gần hỏi:
- Giờ ông quan Nam đi đâu mà lại giả dạng lái buôn? Phải đi dò tụi giặc?
Biết mụ xấu người dữ tướng mà tâm địa không xấu, họ Trần chẳng giấu, đáp:
- Mỗ cùng giám binh Cao Bằng Bắc Cạn đem binh tới tiễu trừ giặc hồ Ba Bể, nhân dịp cứu đứa con trai bị chúng bắt! Còn bà?
Mẫu Dạ Xoa đấm gió trợn mắt mắng:
- Tỉu nà! Tụi chó đú đó cũng bắt mất chồng, con mụ đi vãn cảnh hồ Ba Bể! Hầy à! Mụ đi tìm gặp nó! Hình như chúng là mấy con giặc cái? Tỉu nà! Chúng ỷ đông, bắt cả ông Trại Hứa Chử và con gái yêu của mụ!
Đã được biết qua bản lãnh hai vợ chồng tướng phỉ Quảng Tây, họ Trần bảo:
- Vậy ta đồng cảnh ngộ! Nay mỗ đi thám sát, xem xét tình hình giặc, bà có vui lòng cùng đi, tới đó, ta tuỳ cơ ứng biến?
Mẫu Dạ Xoa gật:
- Mụ vừa tới Cao Bằng, được tin dữ, lại thấy lính nhà nước kéo đi, chỉ sợ làm vỡ chuyện, mụ phải đi lối tắt định tới thăm dò sào huyệt giặc, tìm cách cứu chồng con. Quan Nam có võ, ta cùng đi, hay dữ à! Còn lính đâu?
- Các cơ đội tiến chiếm các điểm chiến lược quanh vùng, đợi lệnh!
- Vậy là hay! Nào! Ta đi! Hai mụ này cũng là Dạ Xoa em mục trong bọn “Quảng Tây Tam Mẫu”, ba con mẹ đất Quảng Tây à!

Mụ trỏ hai mụ kia, giới thiệu xong, cả hai đám nhập một, mải miết theo lối mòn xuyên sơn, nhắm hồ Ba Bể, đi như gió cuốn.
Đến khi mặt trời vừa lặn, cả bọn đã tới vùng hồ nước kỳ quan.
Quản Đô đi trước dẫn đường, giơ tay ra hiệu dừng lại.
Ánh trăng thượng tuần treo lơ lửng trên núi như lười hái tử thần, chảy xuống sơn lâm một thứ ánh sáng vàng lờ như sữa, vì miệt sơn cước đêm mùa hạ cũng có sương lạnh khí đá như thu đông.
Ngay bên đường có một tấm biển đen chữ trắng, phía sau tấm biển có cắm một cây giáo nhọn, treo một chuỗi đầu lâu, râu tóc xoã sợi, coi phát gớm.
- Chuỗi đầu kia là những kẻ không chịu mua đầu! Đây còn cách hồ năm bảy trăm thước!
Mẫu Dạ Xoa nói nhỏ:
- Biển cắm kia, chắc có đứa núp quanh đây! Phải tìm nó!
Bà ta lừ mắt một cái, hai mụ Dạ Xoa em phóng người đi hai ngả lẹ như hai con chim cú bay đêm. Viên quan Nam cùng mọi người tiến vào chỗ khuất. Chừng mười lăm phút, bỗng thấy hai mụ Dạ Xoa từ trên cây buông mình xuống, bảo:
- Không có tên nào! Cả khu cửa rừng vắng ngắt!
Quản Đô bàn:
- Có lẽ ban đêm chúng bỏ về sào huyệt hết?
Viên quan Nam trầm ngâm:
- Chúng chiếm lĩnh hồ Ba Bể bắt người, tất phải biết lính nhà nước tới, chắc phải để kẻ thám sát! Giờ phải lần tới sào huyệt của chúng, nhưng chỉ đi ít cho đỡ lộ. Có gì sẽ bắn hiệu báo tin liên lạc!
- Phải đó! Nên bỏ ngựa, dùng phép dạ hành là hơn! Còn bao nhiêu hãy nấp kín đợi, nhưng nấp gần hồ tiện hơn!
Cả bọn lại tiến vào, ít phút sau hồ Ba Bể đã hiện ra.
Cả bọn đến khu núi rậm giấu ngựa, đoạn viên quan Nam, quản Đô, ba mụ Dạ Xoa nương bóng cây, bóng núi đồi, sương mờ lướt về hướng Tây hồ.
Trong năm người, chỉ có quản Đô kém thuật dạ hành chút, nhưng y làm hướng đạp nên mọi người phải đi chậm lại đợi y.
Nhưng đường xuyên lâm cứ tới con suối lại mất, cả bọn phải vừa đi vừa phỏng đoán, tìm tòi.
Rừng núi trùng trùng hoang vắng, trăng lạnh, sương mờ, cảnh vật huyền bí thê lương.
Viên tuần phủ họ Trần chợt để ý cả ba mụ Mẫu Dạ Xoa cứ thỉnh thoảng lại cúi nhìn xuống đất hoặc vọt lên ghềnh núi, lại gần thân cây, chăm chú xem xét. Ông ta lấy làm lạ vội quay hỏi:
- Bà tìm chi đó?
Nhất Dạ Xoa đáp:
- Hầy à! Mụ tìm sào huyệt tụi giặc cái!
Nhưng đi quanh quẩn mãi bỗng đường tiều lại đứt, cả bọn đành men dọc suối kiếm lối đi. Bất thần Nhất Dạ Xoa bật kêu nhỏ:
- Hầy à! Thấy sào huyệt nó rồi! Tỉu nà! Vỏ quýt dày, móng tay nhọn, mày bắt cha con ông Hứa Chử mày giấu sao nổi?
Họ Trần ngạc nhiên hỏi. Nhất Dạ Xoa trỏ sang bên suối, bảo:
- Sào huyệt kia! Thấy chứ?
Hai thầy trò cùng chú mục dòm, chợt nghiêng đầu, thấy nhiều đốm trắng cát bờ biển lấp lánh dạ quang, chạy thẳng tắp vào tít chân núi xa.
- À! Mỗ hiểu rồi! Mẹo lông ngỗng Mỵ Châu công chúa trỏ đường cho Trọng Thuỷ đuổi theo tới tận vùng Mộ Dạ!
- Quan Nam thông minh dữ à! Đấy là cái mẹo hay nhất của bọn giang hồ lục lâm, đi đâu cũng tìm thấy!
Mẫu Dạ Xoa vọt qua suối, dẫn cả bọn theo các đốm lấp lánh, đi miết thì ra đó một loại cát tẩm ngân nhũ, dạ quang, luôn luôn họ Woòng mang trong người, khi cần, sẽ rắc trên đường đi. Hồi sáng, cha con họ Woòng bị điệu đi, đã bí mật mở túi cho cát rơi theo vó ngựa, làm dấu cho người nhà biết đường.
Băng rừng, vượt núi, chỉ ít phút sau, bỗng tới một cửa cốc thâm u, có một bóng đồn canh bên ghềnh.
Mẫu Dạ Xoa thì thào:
- Để mụ tới quét dọn cái đồn kia cho!
Viên quan Nam nói nhỏ:
- Coi chừng kế không thành!
- Hầy à! Cái vụ đó, mụ làm như cơm bữa!
Một cái lắc mình, thân hình mập mạp của Nhất Dạ Xoa đã vọt đi êm như một cái bóng mất dạng gần cửa cốc.
Phút sau, Mẫu Dạ Xoa đã đứng bên này ghềnh đá, dòm sang đồn bên kia, cách đó hai thước hẻm.
Đồn canh bằng đá, nhỏ hơn một cái điểm canh dưới xuôi. Trong đồn nhựa trám cháy vật vờ, chỉ có một bóng cao lênh khên đứng bên khung cửa, nhìn ra hẻm.
- Nó núp quanh đồn để một đứa làm mồi nhử! Tỉu nà! Định lừa cả mẹ già mi!
Mẫu Dạ Xoa đảo vòng quanh đồn canh.
Viên quan Nm đứng xa đợi chỉ độ mười phút, đã thấy mụ trùm thổ phỉ vọt ra.
- Hầy à! Có bảy thằng, sáu thằng núp quanh đồn, một thằng tựa cửa! Mụ cho nó làm bù nhìn coi dưa rồi! Đi thôi!
Năm người tiến vào cốc. Lối đá quanh co, gập ghềnh, cát sáng dẫn cả bọn đi qua hai đợt núi, cốc nữa, bỗng trước mặt hiện ra một vùng đồi thung lũng trập trùng, hiểm trở, trại quân, nhà cửa san sát như bát úp khắp nơi, ánh lửa lập loè trong đêm trăng sương, mới nhìn, không khác một vùng sơn động bản dân trù mật, nhưng đây nhà cửa dựng cả trên sườn núi đá.
- Sào huyệt giặc Ba Bể đây rồi!
Vùng núi im lặng lâu lâu mới thấy vài bóng giặc đi tuần phòng chập chờn như bóng ma, vài tiếng kẻng cầm canh vang trong trăng sương.
Dấu cát sáng rải rác ven chân núi xa tít phía tây trại giặc thưa dần, tới lưng chừng một rặng núi hiểm nằm lọt giữa khu nhà cửa, dấu cát bỗng mất hẳn, ngay chỗ có hai con đường lên núi, xuống thung.
- Tỉu nà! Mất dấu! Hai cha con lão râu xồm này xài phí dữ, rắc bừa bãi hết cát nửa chừng!
- Không sao! Ta cứ đảo một vòng thế nào cũng tìm thấy! Coi chừng cạm bẫy!
Viên quan Nam cùng Mẫu Dạ Xoa nhìn lên núi không thấy nhà cửa bèn theo đường xuống núi. Quanh quẩn qua nhiều khu trại vẫn chẳng thấy trại giam đâu.
Cả bọn đang đứng trên lối đá lưng chừng núi, bỗng nghe tiếng chân người, trên đá dăm, cả bọn vội nấp kín sau ghềnh.
Một toán bảy, tám tên dẫn một người mặc xường xám đi tới.
Ánh nhựa trám vật vờ, vừa thấy mặt người kia, Mẫu Dạ Xoa mừng rỡ, thì thào:
- Hầy à! Hứa Chử! Hứa Chử nhà mụ!
Viên tuần phủ Cao Bằng núp sau ghềnh bụi nhìn ra, mặt thoáng tia vui buồn lẫn lộn, thì thào:
- Đúng Thần pháo tiên sinh rồi! Mười tám năm qua, coi vẫn không thay đổi bao nhiêu, nhưng... cơn ác mộng năm xưa, chiều giông tố loạn rừng vẫn còn đầy dấu tích tang thương!
Mẫu Dạ Xoa khô giọng:
- Đập chết mấy thằng giặc rừng kai, cứu Hứa Chử nhà mụ!
Viên quan Nam giơ tay cản:
- Khoan! Chưa cần vội! Ta thử xem nó dẫn đi đâu! Lạ thật! Coi vẻ chúng lễ phép khác thường, xếnh xáng lại không bị trói!
Bọn giặc đi ngang qua, ánh đuốc soi rõ, quả nhiên Hứa Chử không bị trói xiềng chi cả, tay lại cầm ống thuốc lá bào vừa đi vừa hút phì phèo.
- Tỉu nà! Lão Hứa Chử nhà mụ hay dữ à! Bị giặc bắt còn hút thuốc như đi chơi mát.
Viên quan Nam ra hiệu đi theo quanh co vượt qua hai đợt núi đồi, xa hẳn khu dinh trại, bọn dẫn Hứa Chử ra sau trại về hướng Tây Bắc.
Bỗng tới một con thác ba đầu tít trên ngọn núi đổ xuống như ba giải lụa bạch vắt chếch gặp nhau lưng chừng núi và đổ xuống một vụng nước đầy mỏm ghềnh thạch bàn dị hình, phát ra một thứ âm như tiếng kèn trống, ngang vụng là một con suối sâu rộng, có một cái cầu mây dập dềnh bắc qua suối, trong thật hùng vĩ, nên thơ, bí hiểm.
Hai bên bờ suối thác, cây cỏ thưa thớt, dưới trăng, coi càng giống bức tranh thủy mạc vẽ nét đan thanh!
Leo ra giữa cầu mây, Hứa Chử họ Woòng chợt quay bảo viên bộ tướng sau lưng:
- Hầy à! Nữ chúa các chú chọn khu thác ba đầu này coi đẹp dữ à? Hỏi tao chuyện gì lại dẫn tận đây? Sắp tới chưa?
Gã kia lắc đầu:
- Nữ chúa bảo sao làm vậy? Không ai biết việc gì? Bọn tôi chỉ được lệnh đem ông thổ phỉ râu xồm tới, không biết chuyện gì khác!
Vượt qua cầu mây, bọn giặc dẫn lão tướng thổ phỉ Quảng Tây men vòng qua núi thác ba đầu, sang bên kia hẻm, bỗng dưới trăng, hiện ra một vùng sơn kỳ thuỷ tú, đồi núi trập trùng, suối khe róc rách, nhà cửa nằm san sát sườn đồi, bốn bề đầy hoa thơm cỏ lạ.
Bọn kia dẫn lão tướng phỉ Quảng Tây tới một tòa dinh sảnh đồ sộ lưng chừng núi. Dinh chiếm một khoảng bằng phẳng, giữa cây cao bóng mát, chung quanh đầy khe nước róc rách, quanh dinh đều có điếu kiều cong vút liên lạc với các toà ngang dãy dọc, trông như dinh Chúa Mèo Woòng Chí Sình Hoàng Su Phì.
Chừng đã có lệnh trước, chẳng thấy một bóng quân canh nào xuất hiện. Mãi tới khi cả bọn lên tới cổng dinh mới nghe có tiếng tù và linh dương nổi lên âm u, lập tức trong dinh có tiếng khánh khua một tràng lanh lảnh.
Trên vọng lâu, có tiếng đàn bà nói vọng xuống:

- Chú Khiên La! Lệnh Chúa truyền đưa Woòng sếnh sáng vào khách sảnh!
Viên tướng Mán ra hiệu, cả bọn băng qua điếu kiều, vào tận thềm dinh.
Đã thấy hàng chục gái hầu xiêm y rực rỡ ra mời vào phòng khách an toạ. Woòng vuốt râu cười bảo:
- Hầy à! Cô chúa giặc tiếp ngộ lịch sự dữ à!
Gái hầu đem trà nước ra mời lão khách Woòng cùng bọn Khiên La.
Được vài tuần, bỗng có một nàng trạc 17, 18 tuổi vẻ trưởng tỳ tướng ra bảo:
- Soái nương truyền Khiên La cứ về trại, để Woòng sếnh sáng lại! Soái dặn: Đêm nay có người đột nhập trại trung, không trại nào được ngăn trở, cứ để vào! Sáng mai có lính Nhà nước tiễu phạt hồ Ba Bể, mọi sự sẽ có chúa Hai, chúa Ba định đoạt, ba quân phải sẵn sàng!
Khiên La lĩnh lệnh, chào họ Woòng, lui ra.
Lão khách Quảng Tây nghĩ thầm:
- Bọn nào đột nhập sào huyệt giặc? Hay mụ Dạ Xoa? Ôi chao! Ả chúa này lợi hại dữ! Nói như ma xó!
Đang nghĩ vẩn vơ, bỗng trưởng tỳ tướng lại ra, kính cẩn bảo:
- Soái nương tôi mời sếnh sáng quá bộ vào trong kia! Sếnh sáng theo tôi!
Lão khách đứng lên, theo nàng ta đi qua mấy dãy hành lang, tới một căn phòng mỹ lệ, đèn nến lung linh.
Màn che trướng rủ toàn bằng thổ cẩm quý, vách, ghế căng bọc da hổ báo, trên vách treo đầy tranh ảnh, các thứ khí giới xưa nay, giữa phòng có một chùm đèn lồng toả sáng xanh dịu.
Nàng trưởng tỳ tướng mời lão tướng họ Woòng ngồi xuống một cái ghế rộng bọc da báo, đoạn đưa tay quay nhẹ chùm đèn, ánh sáng đổi nhiều màu, huyền ảo lung linh. Nàng này bước sang phòng bên, chỉ một phút, đã có bốn nàng nữa bưng trà rượu, hoa quả ra.
Một nàng cầm hai con dao lá lan hất tung lên một trái cây, và cứ thế múa tít hai lưỡi dao lan loang loáng dưới đèn.
Lão tướng lạc thảo tò mò ngồi dòm thấy trái cây cứ quay tít thò lò trên cao, vỏ rớt lả tả, chỉ nháy mắt đã thấy nàng kẹp trái cây đã gọt vỏ nhẵn thín giữa hai dao lá lan đặt xuống dĩa.
Họ Woòng cúi dòm sàn, chẳng thấy mảng vỏ nào, chừng ngó hai tay nàng ta, thấy rõ, mới hay nàng vừa tung gọt vừa đỡ lấy vỏ, “ngọt” như làm xiếc.
Một nàng khác cũng cầm dao hất tung trái cây lên, nhưng nàng này lại chỉ dùng một lưỡi dao múa gọt xoèn xoẹt, thoắt đã đầy một dĩa.
Lão Woòng bất giác buột miệng kêu:
- Hầy à! Mấy cô gọt cái kiểu này còn hay hơn gái Hồng Kông gọt lê táo tại xóm Thạch Sùng gấp trăm lần! Ý à! Cái vùng hồ Ba Bể bên Nam lắm nhân tài dữ a!
Nàng trưởng tỳ tướng cắt trái cây rót rượu mời lão Woòng:
- Rước sếnh sáng dùng chút rượu khai vị cho ấm bụng, soái nương chúng tôi cũng sắp về!
Lão tướng thổ phỉ không làm khách, vuốt râu, cầm ly rượu uống liền, nhắm trái cây. Mấy nàng thi nhau rót rượu, dâng trái.
Bỗng một hồi khánh gióng, nàng trưởng tỳ tướng chạy vào, thoắt đi ra, lễ phép bảo:
- Soái nương đã về!
Họ Woòng nhìn vào, thấy rèm hoa lay động, một bóng mắc “phá” lãnh, áo đen viền chần kim tuyến thuỷ ba, uyển chuyển bước ra, trên vai còn khoác áo choàng đỏ chót, lót đen, đẹp lộng lẫy huyền bí oai nghiêm dưới ánh đèn lồng nhiều màu: Nữ chúa hồ Ba Bể!
- Chào Tiên sinh Thần pháo!
Lão tướng phỉ đứng lên thủ lễ. Nàng chúa hồn giơ tay ra hiệu cho khách ngồi xuống, và nàng cũng ngồi xuống chiếc ghế đối diện.
Họ Woòng vốn tay ngang dọc làm nghề lạc thảo đã lâu, tính ngược ngạo đã quen, không biết sợ là gì, giờ lại thấy nàng chúa hồ, tự nhiên lão sinh lòng nể vì, vuốt râu bảo:
- Cô chúa hồ Ba Bể đối với ngộ hậu dữ à! Ngộ không phải Thần Pháo, ngộ là Tắc Lềnh!
Nàng nữ chúa cười bảo:
- Tiên sinh là Thần Pháo, bà Mẫu Dạ Xoa cũng đã tới đây!
Lão tướng thổ phỉ giật mình, cố giữ vẻ điềm nhiên, hỏi:
- Hầy à! Mẫu Dạ Xoa cũng tới đây? Đó là chị dâu ngộ, vợ ông anh Thần Pháo, cô soái gặp bà chị ngộ?
Nàng chúa hồ cười đáp:
- Mẫu Dạ Xoa tới đây nhưng chưa ra mặt, nhưng sớm muộn sếnh sáng sẽ gặp! Tôi mời sếnh sáng đến tư dinh đầy hảo ý, mong Tiên sinh chớ ngại! Tôi muốn nói chuyện với Thần pháo tiên sinh Trại Hứa Chử!
Họ Woòng nhìn nàng, trên khuôn mặt đẹp tuyệt trần, chỉ lộ rõ sắc nghiêm nghị, phảng phất nét khắc khoải thầm kín, tuyệt không hiện vẻ chi xảo trá, họ Woòng gãi râu hỏi:
- Chuyện gì?
Nàng chúa hồ tự tay rót rượu cho Woòng, chờ Woòng uống xong nàng rót nữa, ngồi trầm ngâm mươi lăm khắc, chợt đứng lên, quay bảo gái hầu, tỳ tướng:
- Các em ra ngoài, nếu thấy khách lạ tới, hãy mời ngồi chơi chờ ta!
Dứt lời, nàng vẫy lão tướng phỉ, dẫn vào một căn buồng trong có ngọn đèn lồng xanh dịu. Nàng thắp lên một cây sáp lớn, đưa Woòng lại bên vách, trỏ vào một bức tranh hỏi:
- Sếnh sáng có biết cảnh gì đây không?
Woòng chăm chú nhìn, thấy đó là một bức tranh vẽ cảnh hồ nước mênh mông, có hai bóng cỡi ngựa bị một bầy đười ươi vây bắt, cây cối ngả nghiêng, rõ cảnh phong ba!
Woòng lẩm bẩm:
- Hầy à! Trông giống hồ Ba Bể dữ à! Hình như đười ươi bắt đàn bà!
Nàng chúa hồ gật đầu, lại dẫn lão bước sang bên, trỏ một bức tranh khác to hơn vẽ cảnh một cỗ xe song mã đang chạy, giữa vùng sơn lâm u ám phong ba, bốn bề đầy thú dữ, phía sau xe có một cỗ xe khác đuổi theo, trên xe lố nhố đười ươi.
Nàng lại trỏ sang cạnh, cũng cảnh tương tự, nhưng có thêm một cỗ xe đi ngược, tới giữa cầu, gặp xe đười ươi trên cỗ xe đi ngược lại có hai bóng mặc quần áo Tàu đứng nóc xe bắn, chém đười ươi.
Vừa nhìn bức tranh này, lão tướng phỉ Quảng Tây vùng kêu lớn:
- Hầy à! Lạ dữ chưa? Sao bức tranh này lại giống cái cảnh ngộ đã gặp mười tám năm xưa dữ à? Cỗ xe đười ươi đuổi theo xe hành khách, cỗ xe ngược đường có hai cái bóng đánh nhau với đười ươi, coi đúng cảnh vợ chồng Thần Pháo, Dạ Xoa, nhưng ai vẽ đẹp mà chưa được đúng!
Mắt vụt sáng, nàng chúa hồ hỏi dồn:
- Sao sếnh sáng biết rõ... sai chỗ nào?
Gãi râu, Woòng đáp:
- Con đười ươi chúa nó đứng trên mui, lão xà ích ngồi đánh xe, trong cỗ xe trước có một ông già Thổ xách cái ô và có người đàn bà áo trắng bồng con ngồi trong đó! Con đười ươi chúa biết nói tiếng người, nó đuổi theo thiếu phụ từ trong vùng hồ Ba Bể. Nó đòi lấy bà ta làm vợ! Tỉu nà! Con đười ươi giữ ống cũng biết mê gái đẹp!
Chụp lấy vai Woòng, nàng chúa hồ run giọng:
- Sếnh sáng biết rõ, đây chính vẽ cảnh mười tám năm xưa đó! Sếnh sáng thấy người đàn bà? Sếnh sáng đứng trên xe?
Dĩ vãng hiện về, lão họ Woòng buột miệng, vò râu:
- Tỉu nà! Con đười ươi quái! Lúc đó vợ chồng ngộ đứng trên mui xe mà! Hầy! Tội nghiệp bà ta phải trao đứa con cho ông già Thổ, nhảy xuống nộp mình cho con quái!
Chợt nàng chúa hồ dẫn họ Woòng lại cuối phòng, trỏ vào một bức tranh lớn khác, hỏi:
- Sếnh sáng biết cảnh này không?
Woòng chăm chú nhìn.
Đó là một bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn sơn lâm, một bầy chó sói lố nhố tha một người đàn bà và một đứa con nít chạy vào rừng. Cạnh bức này, còn bức khác vẽ một bà già khăn đỏ phi ngựa vào giữa đàn sói, cứu được người đàn bà chạy đi.

Cảnh bên là bà khăn đỏ đặt nạn nhân vào hốc, cảnh nữa vẽ bà ta phi vào đàn sói, cứu được đứa nhỏ, chạy về hốc, chỉ thấy hốc trống trơn, rải rác mấy cái xác đười ươi, chó sói! Cảnh cuối là bà khăn đỏ bồng đứa con nhỏ đi giữa rừng hoang trăng lạnh sương mờ về miền xa xôi. Bên cạnh đó là bức hình một cô gái bịt khăn đỏ phi ngựa chồm lên một mỏm ghềnh dài, đưa mắt nhìn tứ phía, vẻ mặt u uẩn buồn mang mang như muốn tìm một hình bóng chi giữa cõi đời mịt mùng mà không thấy!
Cũng như những bức tranh vẽ cảnh nạn đười ươi, những bức tranh vẽ nạn chó sói này được vẽ thứ tự từng cảnh như trên màn ảnh, đặc biệt là nét vẽ rất đẹp, hết sức linh động, trông thấy phảng phất như thật, phải là kẻ có tài mới vẽ được!
- Sếnh sáng có biết những cảnh này không?
Lão tướng phỉ họ Woòng gãi râu:
- Hầy à! Vẽ coi đẹp dữ! Nhưng ngộ không biết mấy cái cảnh này! Ngộ có biết mấy cái cảnh khác không vẽ trong tranh này.
Nàng chúa hồ hỏi:
- Cảnh nào? Sếnh sáng...
- Cũng cảnh chó sói đười ươi! Trời còn mưa nhỏ, xe ngựa đổ gãy lung tung, người đàn bà bị con đười ươi chúa lôi lên cầu, sắp “làm dữ” thì đàn chó sói, chó núi trong rừng đổ ra, ào ào kéo lên vây kín mấy con đười ươi, người đàn bà! Đười ươi chỉ có chín mười con mà chó sói đông như rươi. Đười ươi tài giỏi hơn, cuộc ác chiến diễn ra trong nháy mắt, cuối cùng...
- Đàn chó sói bắt được người đàn bà đem đi?
- Không phải! Hầy à! Chó đông như rươi, đười ươi lại giỏi, súng bắn không chết, nó xé xác chó như xé con ngoé, cuối cùng con đười ươi chúa bồng người đàn bà quý phái chạy vào rừng sâu, hướng hồ Ba Bể mất hút!
Vừa nghe tới đó, nàng chúa hồ nắm vội lấy vai họ Woòng, nóng nảy hỏi:
- Sao? Sếnh sáng bảo con đười ươi chúa bắt cóc người đàn bà đem di?
Gật đầu Woòng đáp:
- Chính thế!
- Sao sếnh sáng biết rõ khi đã bị nó ném xuống vực bên đường?
Nhe răng cười, Woòng gật:
- Hầy à! Nó ném ngộ và mụ lỗ phồ xuống vực, nhưng lại ném đúng mớ dây leo chằng chịt trên suối, nên hai đứa lại mò được lên, đuổi theo xe, tới cây cầu sắt thì gặp. Lại đánh nhau một trận, lại bị nó ném xuống suối đi chầu Hà Bá! Ngộ ngóc đầu lên, thấy rõ mà!
Trầm mặc suy tư, nàng chúa hồ dịu dàng hỏi:
- Nếu đười ươi chúa bắt, sao lại còn người đàn bà và đứa nhỏ bị đàn sói kia tha vào rừng?
Woòng gãi râu:
- Hầy! Cái đó ngộ không biết, ngộ chỉ biết lúc lũ quái vật giành nhau những mồi ngon, con đười ươi chiếm được, chạy mất!
Chợt lão chú mục dòm dãy tranh vẽ sặc sỡ, hỏi:
- Tranh này ai vẽ đúng màu sắc! Mà ai vẽ?
- Vẽ đúng màu! Và chính tôi vẽ bộ đười ươi, còn bộ chó sói, sư mầu vẽ, nhưng cũng vẽ đúng màu!
Woòng gật đầu:
- Vậy cô soái không thấy bà bị đười ươi bắt mặc áo trắng, còn bà bị sói tha mặc áo xanh? Không lẽ bà ta lúc đó còn thay áo?
Nàng bật giọng:
- À, nếu vậy là có hai người bị nạn cùng đứa nhỏ? Nhưng đứa nhỏ đã trao cho ông già Thổ, sao lại bị tha với người áo xanh?
- À, đoạn đó tụi ngộ đang nằm ở dưới suối, đau gần chết, dậy không nổi!
Im mươi khắc, chợt nàng chúa hồ gọi tỳ nữ đem bàn ghế, trà rượu vào, bảo khách:
- Xin sếnh sáng kể lại cho nghe chuyện năm xưa về buổi loạn rừng!
Tò mò, Woòng hỏi:
- Cô chúa có họ với nạn nhân?
Viên tướng phỉ Quảng Tây ngồi nhìn nàng chúa hồ, dưới ánh đèn sáp, trên khuôn mặt đẹp lúc này hiện rõ nét u uẩn mênh mang như tích ẩn cả nỗi hờn đau trên trần thế.
Bỗng một vài nét thoáng qua trong trí nhớ, họ Woòng vụt nghĩ thầm:
- Hầy à! Ta tối dạ dữ! Bộ mặt cô chúa hồ này có nhiều nét phảng phất giống mặt người đàn bà áo trắng năm xưa gặp nạn trên đường Tổng Hóa - Chợ Rã? Họ hàng? Không phải! Hầy! Chắc cô chúa này là đứa nhỏ năm xưa con bà gặp nạn! Phải rồi!
Họ Woòng nhìn thoi lửa sáp nhớ lại dĩ vãng. Thời gian mười tám năm dài dặc tưởng phai chìm trong lớp cát bụi thời gian, bỗng từ từ hiện lên trong trí nhớ lão tướng lạc thảo, như những hình bóng trên màn ảnh rõ dần rõ dần...
Tự nhiên lão Woòng thấy lòng cuộn lên một nỗi đắng cay kỳ lạ, cái cay đắng xót xa của một kẻ ngang tàng quen sống với súng gươm bất chấp cả pháp luật Tây Tàu, nhưng lại không chịu được cảnh kẻ cô thế yếu bị kẻ bạo lực hiếp. Và lần đó lão phải bó tay, thấy mình bất lực, nhìn người bị nạn nhỡn tiền, cứu không nổi. Trong cảnh im lặng bao trùm căn buồng kín đầy tranh vẽ tang thương, giọng lão tướng thổ phỉ nổi lên chìm chìm, cao dần, nghe bỗng trở nên xa xăm như tiếng dĩ vãng bên tai nàng...
- Lâu rồi! Mới hơn mười tám năm qua, nhưng tưởng chừng đã lâu hàng mấy chục năm rồi... Vì ngày đó, cái đầu hắn chưa bị thời gian nhuộm bạc, bộ râu xồm chưa lốm đốm hoa râm... Hầy à! Vợ chồng hắn đang hồi sung sức, ngang dọc tung hoành bên đất Quảng Tây, nhà nước Tàu phải nể mặt, còn nhà nước Nam không hề sinh sự vì vợ chồng hắn ưa du ngoạn bên Nam, không hề ăn cướp.
Hắn là Woòng Tắc Mềnh có hiệu Thần Pháo Tiên sinh Trại Hứa Chử vì bắn “pháo” giỏi không cần làm con toán lôi thôi và có bộ râu xồm Hứa Chử. Vợ hắn là Pạc hoọc phu nhân Mẫu Dạ Xoa vì mụ bắn “Pạc hoọc” giỏi nhất Quảng Tây và cái mặt còn là mặt mẹ con Dạ Xoa, nhưng cái bụng lại tốt lắm!
Ngày ấy, hai vợ chồng hắn sang Nam du ngoạn, đi xem cảnh hồ Ba Bể. Một buổi chiều, hai vợ chồng đáp xe song mã chở hàng từ chợ Rã về Cao Bằng, giữa đường, bỗng trời nổi phong ba, khắp vùng hồ Ba Bể chợt xảy ra trận loạn rừng, ác thú chạy tứ tung, kéo cả ra đường cái.
Vợ chồng hắn ngồi trên mui xe ngựa ngắm cảnh phong ba ầm ầm, dậy khắp vùng sơn lâm Phi Mã. Giữa đường chợ Rã - Tổng Hoá, đến gần một cây cầu sắt bỗng trong gió, vợ chồng hắn nghe vẳng có nhiều tiếng tru hú kêu la vang động, hai người dòm lên, thấy cỗ xe ngựa chạy như bay.
Lúc đó, trời đất tối sầm vì phong vũ, nhưng vẫn rõ mọi vật, cỗ xe ngựa cứ chạy bon bon. Nhìn cỗ xe sau, ai nấy kinh ngạc sợ khi thấy một bầy đười ươi to lớn đứng ngồi lố nhố trên mui, dưới xe.
Con đười ươi chúa đang dậm chân hét giục xà ích phóng xe đuổi dữ, còn cỗ xe trước, đầy hành khách nam nữ giơ tay, kêu la ầm ĩ hét “đười ươi quái bắt người”!...
Rồi cuộc đấu ác liệt diễn ra giữa đám đười ươi, lão Thổ và vợ chồng hắn! Bọn đười ươi thắng thê! Người đàn bà áo trắng buộc phải gạt nước mắt trao đứa con cho lão Thổ, nhờ nuôi dưỡng rồi nộp mình cho đười ươi chúa. Vợ chồng hắn dùng khí giới, quyền cước ra sức đánh nhau với đười ươi chúa nhưng đều vô ích, cả hai bị con quái tóm quăng xuống vực như ném hai con ngoé.
Nhưng may gặp dây leo đỡ, cả hai người thoát chết, bèn mò lên đường tìm võ khí, quyết hạ con quái cứu người lâm nạn. Lúc đó chỉ thấy xe bị lật chỏng chơ, hành khách chạy đâu hết, vợ chồng hắn bèn cắm đầu chạy ngược về hướng chợ Rã...
- Có thể là sau khi nhận đứa nhỏ, ông già Thổ kia chạy vào rừng, tình cờ lại gặp em gái bà áo trắng kia, trao đứa nhỏ rồi lộn ra đường cái. Và khi bầy chó sói đuổi theo đười ươi đã bắt gặp hai dì cháu và chúng bắt tha đi!
Woòng vò râu kêu:
- Hầy à! Chắc vậy đó! Cứ xem hai người màu áo khác nhau, đủ biết người bị sói tha với với đứa nhỏ là cô em còn cô chị bị đười ươi chúa bắt đi!
Nàng chúa hồ đứng nhìn dãy cảnh trên vách, mặt hoa hiện rõ vẻ thê lương vô cùng.
Lão tướng phỉ Quảng Tây đứng lên, bước lại gần nàng ta, đưa mắt nhìn. Dưới ánh đèn sáp lung linh, lão thấy đôi mắt phượng của nàng rơi châu âm thầm tầm tã.
Non phút sau, không ngoảnh lại, nàng hỏi lão Woòng:
- Nếu vậy người chị bị đười ươi chúa bắt, người em bị sói bắt, con quái đười ươi biết nói tiếng người, súng bắn không chết... là giống chi? Có thể là quái vật thành tinh được không? Còn ông già Thổ làm sao gặp được ông? Còn người xà ích chắc cũng biết nhiều chuyện chiều hôm đó?
Lão Woòng không đáp, hỏi lại:
- Cô chúa à? Ngộ coi cô chúa không vui khi nghe chuyện loạn rừng năm xưa. Cô chúa đừng giận, phải cô chúa là con gái bà áo trắng bị quái vật đười ươi Phi Mã Ác bắt đem đi?
Nàng chúa hồ quay mặt lại, má đào loang đầy nước mắt, nàng không lau, không đáp câu lão hỏi, lại cất giọng chìm chìm như nói để mình nghe.
- Cô em bị chó sói bắt đem di... Sao người con trai tuần phủ Cao Bằng lại có khuôn mặt hao hao giống tôi? Sếnh sáng có nhận thấy điều đó không?
Woòng gật lia:

- Hầy à! Chính ngộ hồi nãy cũng có để ý điều đó! Mà không riêng ngộ, cả tụi đều thấy thế!
Nàng chúa hồ vụt sáng hẳn mắt, cao giọng:
- Sếnh sáng có nghĩ cô em người đàn bà thoát nạn dữ hiện nay còn sống? Tôi thấy vợ viên tuần phủ Cao Bằng có gương mặt quen quen!
Họ Woòng chưa kịp đáp, bỗng có nàng trưởng tỳ tướng tiến vào, đứng giữa khung cửa thông, kính cẩn nói vọng:
- Bẩm soái nương, Nùng Kham đi đường 36 đã về, muốn vào trình!
Nàng chúa hồ khoát tay:
- Dẫn y vào đây!
- Dạ!
Trưởng tỳ tướng lui ra, thoắt đã dẫn vào một người to lơ”nàng, trán to, mặt mày dữ tợn, gan lỳ. Vừa thấy nữ chúa hồ, y vội cúi rạp đầu chào kính cẩn. Không đợi y nói, nàng hỏi luôn:
- Họ đâu? Nùng Kham!
Người Mán có tên là Nùng Kham đáp:
- Bẩm soái nương họ còn đợi ngoài kia!
- Dẫn vào đây! Chú không làm họ sợ đấy chứ?
Y nhe răng cười khô:
- Dạ... bị đem về núi họ đều sợ nhưng tôi có bảo cho họ yên lòng!
Y quay ra, giây phút dẫn vào một bọn đàn ông khoảng vài chục người, kẻ mặc quần áo chàm, kẻ mặc quần áo đen, nâu, tất cả đều trạc bốn mươi tuổi trở lên. Ai nấy đều lộ vẻ sợ sệt, có lẽ đều biết đã bị điệu vào “hang cọp”!
Tự động cả đám đông đều chắp tay chào kính cẩn, nhiều kẻ khúm núm coi rất bi hài!
Họ Woòng chưa hiểu quân hồ Ba Bể bắt đám người này về làm gì, đã thấy nàng nữ chúa hồ dịu dàng nhìn họ, hỏi:
- Phải các chú đều làm nghề xà ích chạy xe ngựa đường Cao Bằng, Bắc Cạn, chợ Rã, hồ Ba Bể không?
Cả đám gật đầu dạ lia. Nàng lại hỏi:
- Ngót hai mười năm rồi?
Cả đám lại gật. Nàng nữ chúa hỏi:
- Ta có chút việc muốn hỏi, vậy chú nào đã bị cảnh loạn rừng giữa đường, cách nay khoảng mười tám năm?
Hơn chục người nhao nhao lên tiếng. Nàng lại hỏi:
- Ai bị trên đường Tổng Hoá - Chợ Rã?
Sáu bảy người gật đầu, nàng vẫy Nùng Kham lại bảo dẫn bọn kia ra ngoài đợi, đoạn ra hiệu bảo mấy người này lại bên vách trỏ lên những bức tranh trầm lời:
- Mấy chú nhìn xem, có thấy gì lạ không?
Bọn xà ích cùng dòm tranh, khen đẹp, bỗng một kẻ kêu lớn:
- Ôi chao! Sao cái cảnh này giống hệt cái cảnh con đã thấy hôm loạn rừng năm xưa!
Lại một kẻ nữa kêu:
- Ô! Đười ươi đuổi người! Ơ! Cái anh đánh xe ngồi dưới chân đười ươi giống quá! Giống anh “Hai chai bố”!
Nàng nữ chúa sáng hẳn mắt, gọi hai người đó lại gần. Đó là hai kẻ trạc năm, sáu chục tuổi, nhưng coi còn khoẻ. Một người già hơn chút mặt nặng hơi men, hai con mắt còn đỏ.
Lão tướng phỉ nhìn hai người kia chợt nheo mắt, gãi râu, lẩm bẩm:
- Hầy! Coi mặt hai chú quen dữ à!
Nàng nữ chúa trỏ tranh hỏi:
- Hai chú đã thấy cảnh kia?

Hai người gật. Nàng ta lại sai dẫn hết mấy kẻ kia ra, chỉ giữa lại hai người hỏi:
- Hai chú tên chi?
Gã mắt đỏ như mắt sáo mẹ cất giọng nhè nhè:
- Bẩm bà chúa, con là “Hai chai bố”, còn anh này là “Ba Đen”! Bẩm, chúng con đã thấy cảnh đười ươi bắt người! Bẩm, nó túm tóc con bắt cầm cương... giờ nhớ lại còn ghê!
Nàng chúa hồ sai đem rượu, mồi nhắm cho hai chú xà ích dùng, và bảo:
- Hai chú này, hãy kể lại chuyện loạn rừng năm xưa! Sẽ có thưởng!
“Hai chai bố” thấy rượu thèm rỏ dãi, vớ lấy uống như trâu, Ba Đen cũng làm một ly đầy.
Rượu vào lời ra, “Hai chai bố” cao hứng quên cả sợ, cầm cả bầu rượu bước lại gần vách trỏ bức tranh nói lè nhè:
- Cái tranh này vẽ đẹp ghê! Nhưng còn chưa đúng cảnh thực! Cái thằng xà ích này là “Hai chai bố”. Trong cảnh thực, con đười ươi chúa nó đứng sừng sững ngay sau lưng xà ích! Ối! Nó to như người, nó mình đồng da sắt, nói đủ tiếng Kinh, tiếng Thổ, giọng nó như sấm, nghe muốn vỡ màng tang! Bẩm... “Hai chai bố” là con đây!
- Tôi! - Nàng chúa hồ nhắc y.
- Dạ... Tôi! Tôi xuôi Tổng Hoá, gặp chú Ba Đen đang chạy như ma đuổi về hướng chợ Rã, tiếng gọi inh ỏi, tôi đang say rượu nghe báo có đười ươi, lại tưởng họ giễu mình giống con đười ươi nên cứ phóng bừa, bị con quái nó túm được, bắt lộn xe lại đuổi Ba Đen!
Ba Đen tiếp:
- Dạ lúc đó trong xe con... à tôi... Có bà áo trắng đẹp như tiên bồng một cô nhỏ chạy ngựa trong vùng hồ Ba Bể ra, ngựa ngã chết, bà ngất, được ông cụ Thổ đỡ lên xe, chạy đi. Con đười ươi chúa xông ra đuổi theo, đòi bắt. Ông lão Thổ và mấy người lính dõng bắn liền mấy phát, nó không chết!
Nàng chúa hồ gọi tỳ nữ đem rượu ra nữa. Hai người xà ích vừa uống vừa kể lại chuyện mười tám năm xưa loạn rừng hồ Ba Bể, bầy đười ươi đuổi bắt người đàn bà áo trắng bồng con. Từng chi tiết, hai người xà ích già nhớ đâu kể đấy. Đến chồ con đười ươi chúa nổi hung lật xe, “Hai chai bố” bị ném vào bụi chết ngất, riêng Ba Đen được chứng kiến đoạn sau, y kể tiếp từ lúc chui vào bụi rậm bên đường, đến chồ thấy ông già Thổ chạy ra, đười ươi chúa vồ bà áo trắng, ép làm vợ trên cầu sắt, hai vợ chồng tướng thổ phỉ Tàu hiện ra bắn nó. Đến đoạn đười ươi ném hết mấy người xuống suối, ác chiến với chúa sói, cắp bà áo trắng chạy vào rừng v.v... Nhất nhất không thiếu đoạn nào!
Kể xong, Ba Đen nốc luôn một ly rượu đầy, chợt để ý dòm lão họ Woòng ngồi gần đấy, vùng kêu:
- Ô! Tôi nhớ ra rồi! Ông cụ râu xồm này giống mặt ông tướng phỉ có bà vợ to lớn hôm đó! Giống như đúc! Ô, cả hai rất giỏi, mà con đười ươi chúa còn giỏi hơn nên hai người bị nó quăng xuống suối!
Họ Woòng gãi râu, trỏ Ba Đen, “Hai chai bố” nói vang vang:
- Tao nhớ ra rồi! Hai chú mày là hai chú xà ích hôm đó! Trông chỉ già đi ít thôi!
“Hai chai bố”, Ba Đen cũng bật reo:
- Hứa Chử! Ông cụ Hứa Chử!
Họ Woòng đứng dậy vỗ đốp vai hai chú xà ích. Cả ba trông lại: nàng nữ chúa hồ Ba Bể nước mắt đã chảy ròng ròng từ lúc nào!
Cả ba cùng im lặng nhìn nhau không ai nói tiếng nào.
Vẫn đứng nhìn tranh, nàng chúa hồ hỏi:
- Ba Đen! Chú ngồi đánh xe nghe bà áo trắng nói gì với ông già Thổ?
Lão xà ích gãi cằm, vẻ bâng khuâng:
- Dạ tôi ngồi đằng trước, lúc đó tâm thần hoảng hốt, gió thổi ào ào, nghe tiếng được tiếng không, nhưng lúc bị nó quăng dây móc xe dừng lại, tôi nghe bà ta nghẹn ngào bảo “... Thân tôi dẫu thác cũng chẳng quản chi... Chỉ mong con thơ thoát tay quái vật... Một giọt máu này xin cụ cứu cho... Mai sau còn có ngày rửa nhục...!” Ông già Thổ mấy lần khuyên giải, cố chống con quái vật, nhưng nó như ma quỷ, súng bắng không chết. Ông già phải ôm cô nhỏ nhảy xuống chạy vào rừng!
Nàng chúa hồ run giọng:

- Sau chú nấp trong bụi, lại thấy ông già vọt mình chạy ra đường cái?
Ba Đen gật. Nàng trầm mặt:
- Nếu vậy khi chạy vào rừng, ông già đó đã gặp người em bà áo trắng, trao đứa nhỏ, rồi lại chạy ra định cứu bà, nhưng vẫn bị thua, và khi bầy sói đuổi đười ươi, đã bắt gặp hai dì cháu núp trong rừng nên bắt tha đi!
Họ Woòng gật lia. Nàng chúa hồ lên tiếng gọi:
- Khiên Mây đâu? Đem đồ vẽ vào!
Nàng trưởng tỳ tướng cùng hai nàng nữa mang giá vẽ, thuốc vẽ, bút lông... vào.
Nàng chúa hồ pha thuốc, vén tay áo cầm bút vẽ lia trên mặt lụa căng. Tay bút như rồng bay phượng múa. Chỉ lát sau nàng đã vẽ xong năm, bảy bức, diễn tả lại đúng như lời Hứa Chử Woòng Tắc Mềnh, xà ích Ba Đen, “Hai chai bố” đã kể. Nước mắt nàng nhỏ xuống sơn màu như mưa. Chỉ nhìn qua nét vẽ cũng hiểu nàng đã hoà cả tâm hồn vào tay bút.
Lão Woòng Tắc Mềnh bất giác vò râu khen:
- Hầy à! Cô soái hồ Ba Bể có hoa tay dữ, vẽ như cảnh thực! Hà! Ngộ còn nhớ chú “Hai chai bố” ngồi dưới chân con đười ươi chúa, mắt trợn ngược, mặt xanh như tàu lá chuối coi giống hệt bức tranh này!
Nàng nữ chúa lau nước mắt, gọi bọn nữ tỳ tướng Khiên Mây vào treo tranh lên, đoạn quay bảo Mây đi mời “cậu họ Trần tới”.
Nừ tỳ tướng Khiên Mây vừa ra tới khung cửa thông phòng khách bỗng giật nảy mình thấy một pho tượng mập như chum vại đứng lù lù ngay bên pho tượng “cô Then” bằng gỗ mun đặt gần cửa ra ngoài.
- Quái! Tượng mụ béo bằng đồng hun này ai mới đặt đây? Vừa rồi đâu có?
Khiên Mây lẩm bẩm bước lại gần. Tượng mụ béo buông thõng tay, hai con mắt ốc nhồi trợn ngược nhìn... không khí!
Sinh nghi, Mây trố mắt dòm. Đúng tượng đồng hun, Mây kêu:
- Ôi chao! Ai đúc khéo dữ! Coi hệt mụ quỷ Dạ Xoa dưới âm ty!
Dứt lời, vì bận việc Mây đi thẳng ra cửa ngoài. Nhưng tới cửa Mây ngoái dòm lại, đúng lúc pho tượng mụ béo quay người, thò một tay như chực túm gáy nàng ta.
Giật thót mình Mây bật kêu:
- Tượng thịt!
Tượng mụ béo lại đứng đờ, nhưng vừa nghe Mây kêu, tượng vùng trợn mắt mắng:
- Tỉu nà, con ranh con hỗn! Sao dám gọi bà nội mi là tượng thịt?
Khiên Mây hỏi lớn:
- Mụ béo vào đây làm chi?
Nhe răng cười, mụ đáp:
- Tao đi xem nó đem lão Hứa Chử đến đây làm gì?
Mây thở phào, đổi sắc mặt, lễ phép:
- Vậy mời bà ngồi chơi đợi soái nương!
Thì ra mụ béo này không ai khác chính là mụ “Mẫu Dạ Xoa Pạc hoọc phu nhân”. Nguyên nãy vẫn cùng thầy trò viên tuần phủ Cao Bằng nấp phía ngoài nghe ngóng, thấy bọn quân Ba Bể dẫn Hứa Chử Woòng vào rồi trở ra, lát sau lại tên khác dẫn một lũ xà ích vào, ai nấy đều lạ, muốn vào coi xem hung cát thế nào, nhưng tỳ nữ lố nhố ra vào nên chưa tiện. Chợt thấy chúng tản đâu hết, Mẫu Dạ Xoa liền vọt luôn vào khách sảnh. Nào ngờ vừa đến bên pho tượng, bỗng thấy Khiên Mây xồng xộc đi ra. Túng thế, mụ Dạ Xoa bèn đứng sững giả vờ làm pho tượng, vì mụ cũng đen như đồng hun!
Giờ thì lộ, nghe Mây mời, Dạ Xoa trợn mắt, nhe răng cười rè:
- Mời ngồi chơi? Tỉu nà, lịch sự dữ! Cô em chọc tao hả?
- Thưa, soái nương có dặn hồi nãy!
- Hầy! Soái nhà côn em biết có khách?
- Dạ biết chứ! Chính soái ra lệnh, nên không ai ngăn chặn bà!
- Lão Hứa Chử đâu? - Dạ Xoa nheo mắt hất hàm hỏi.
- Dạ, đang ở trong phòng soái nương!
Dạ Xoa trợn mắt hét như sấm lệnh:
- Tỉu nà, tao đập mụ trước, vặt râu lão chó đú sau!
Khiên Mây kinh ngạc kêu:
- Kìa bà mập! Sao bà làm dữ...
- Đem lão râu xồm vào phòng riêng làm gì? Tao đập chủ tớ mày, vặt râu lão xồm!
Lời dứt, mụ vọt tới vung trảo móc họng Khiên Mây. Nàng tỳ tướng vội nhảy sang bên tránh. Nhanh như chớp, mụ xoay luôn người thò tay kia vồ. Bịch! Cả bàn tay hộ pháp vồ trúng một bàn tay nhỏ nhắn, Mẫu Dạ Xoa thích chí cười ré lên:
- Nhãi con! Tao vặn họng mày! Muốn sống mau dẫn tao vào gặp con chủ mày!
Bỗng nghe tiếng quát líu lô “mụ béo vào đây làm gì”, Mẫu Dạ Xoa trợn mắt ốc nhồi dòm kỹ, mới hay không phải túm được Khiên Mây, mà là một nàng mặc áo chàm, tua ngũ sắc, bịt khăn đỏ, chân quấn xà cạp đỏ, mặt đẹp tuyệt, hai mắt hơi xếch long lanh sáng quắc rất oai vệ. Nàng này chính là nàng chúa Hai, Mẫu Dạ Xoa vung mạnh tay, định vật nàng chúa Hai xuống nhưng nàng này bản lãnh cao cường, vụt xoay người dùng một thế võ đặc biệt quẳng mụ đến “huỵch” xuống sàn. Dạ Xoa chồm dậy ôm lấy nàng nhưng lại bị quật “rầm” xuống lần nữa.
Ngay lúc đó, nàng chúa Ba cũng vừa xịch tới, bỗng từ ngoài có hai bóng to lớn phục phịch nhảy vọt vào, vung chuỳ, búa tấn công cả hai nàng chúa hồ. Cả ba mụ Dạ Xoa toàn tay giỏi, ngờ đâu hai nàng lại giỏi hơn, chỉ qua lại vài đường đã đá tung hai mụ lộn ra thềm ngoài. Mẫu Dạ Xoa hét “không xong rồi”, mụ rút cây nhuyễn sách phủ ra chém lia lịa, định mở đường thoát ra thềm, nhưng vẫn bị vây chặt không qua nổi. Hai mụ kia lại nhảy vào đánh loạn.
Lúc đó viên tuần phủ cùng quản Đô nấp ngoài, thấy ba mụ Dạ Xoa bị vây, vùng bảo:
- Ôi chao! Mẫu Dạ Xoa nóng nảy để lộ tung tích rồi! Chú đợi đây, ta vào giải cứu!
Dứt lời, viên tuần phủ quẳng người vèo vào thềm như con chim cắt. Cách mười tám năm, tài nghệ ông ta giờ đã vượt cao hơn mấy bậc, vừa hạ chân đã xông vào đánh hai nàng chúa hồ.
- Lão là ai?
- Rút thôi, mấy bà Dạ Xoa!
Liền mấy đường quyền cước tung ra, cả bọn nhảy vọt ra ngoài. Hai nàng chúa hồ chực đuổi theo bỗng nghe một hồi khánh gióng lên, lập tức dừng lại, tiến thẳng vào khu phòng riêng của nàng chúa Cả. Nàng chúa Hai nói luôn:
- Bọn gian tế dám vào tận soái sinh do thám, sao đại tỷ không cho bắt?

Nàng chúa Cả ra hiệu cho hai cô em vào buồng trong, nói chuyện dặn dò chi. Ít phút sau, cả ba cùng ra, nàng chúa Cả bảo lão Woòng:
- Pạc hoọc phu nhân vừa cùng một người tính vào sảnh, hình như là ông tuần phủ Cao Bằng. Rất tiếc họ bỏ đi rồi! Cám ơn chuyện sếnh sáng và hai chú xà ích đã kể, giờ sếnh sáng có thể cùng Cẩm Tiên rời trại nhưng mai có lẽ tôi còn muốn nói chuyện nữa, vậy hãy xin về nghỉ cho mạnh, mai sẽ gặp lại!
Lão Woòng nghe tin vợ vào trại có vẻ áy náy:
- Hầy! Mẫu Dạ Xoa tính nóng như lửa, sợ mụ nổi hung làm chết oan nhiều người!
- Sếnh sáng chớ ngại! Tôi đã cho lệnh để họ vào ra tự do! Giờ chắc đang đi tìm nhà giam, nhưng... không gặp đâu! Sếnh sáng cứ yên lòng về ngủ!
Woòng chào, theo mấy nàng quân hầu ra khỏi soái dinh, đầu óc chập chờn nhiều ý nghĩ, chẳng còn dám quyết việc hung hay cát trước thái độ khó hiểu của nàng nữ chúa hồ Ba Bể nữa!
CHƯƠNG 4 - MÁU ĐÀO TUÔN CHẢY VỀ TIM...
Trong khi Woòng Tắc Mềnh được Khiên La dẫn tới tư dinh chúa hồ, tại nhà giam bọn Trần Dũng, Cẩm Tiên vẫn ngồi thao thức, lo ngại chẳng hiểu chúng dẫn lão tướng phỉ đi đâu?
Lát sau bỗng lại thấy Khiên La đưa một nàng tỳ tướng tới. Nàng này chính là Khiên Mây, em La.
Mây vào phòng giam, lễ phép bảo chàng trai:
- Xin mời công tử theo tôi!
Ngạc nhiên Dũng hỏi:
- Có chuyện chi?
Mây lập lại lời mời, Dũng đứng dậy đi theo Khiên Mây ra khỏi nhà giam. Mây đưa Dũng xuống một con đường ngầm, quanh co đi mãi. Lát sau Dũng thấy đứng trước một vùng sơn kỳ thuỷ tú, gần một khu dinh sàn nguy nga. Mây đưa chàng vào, qua mấy dãy hành lang, nhiều căn phòng rộng tới một căn xinh lịch ảo huyền.
Cau mày, Dũng hỏi:
- Đây là đâu?
- Đây là nơi công tử được đãi vào bậc khách quý! Mời công tử vào!
Mây nép sang bên. Dũng vén soạt rèm bước luôn vào, vẻ bực bội.
Bỗng chàng đứng phắt lại vì trước mặt là một nữ lang đang ngồi trầm ngâm trên một cái ghế bọc da cọp. Một trang tuyệt sắc giai nhân. Chính nàng chúa Cả mà Dũng đã gặp.
Nàng chỉ chiếc ghế trước mặt bảo Trần Dũng, vẻ từ tốn:
- Mời chú em ngồi!
Chàng trai trẻ tuổi hơi cau mày, phần lấy làm lạ trước thái độ nàng nữ chúa, phần khó chịu vì lời xưng hô kẻ cả của nàng ta, nhưng cũng chậm rãi ngồi xuống, đưa mắt ngó thẳng đối phương, vẻ chờ đợi. Nàng chúa Cả cũng lặng yên nhìn Dũng, giây lâu chợt thở ra nhè nhẹ.
- Ta muốn mời người trẻ tuổi một vài chén rượu, nhân tiện có việc muốn nói!
Nàng gõ vào chiếc khánh vàng đặt bên cạnh ba tiếng, phút chốc đã thấy Khiên Mây bưng vào một mâm rượu thịt nghi ngút khói và thơm lừng, toàn những món đặc sản của dân sơn cước vùng hồ Ba Bể. Nàng chúa Cả tự tay rót rượu mời Dũng.

- Nào, chú em hãy cùng ta cạn chén mừng cuộc gặp gỡ “tiên binh hậu lễ” này.
Nàng nâng chén rượu lên môi nhìn Trần Dũng đăm đăm, ánh mắt tràn đầy vẻ bao dung, khó hiểu. Người con trai viên tuần phủ không khỏi cảm thấy lúng túng trước tình thế lạ lùng: hai kẻ đối địch nhau giờ bất ngờ lại ngồi cùng nhau đối ẩm!
- Xin mời!
Nàng chúa Cả ngửa cổ uống cạn một hơi. Dũng miễn cưỡng làm theo, xong chàng nói luôn:
- Có chuyện chi cứ nói!
- Lát nữa sẽ nói chuyện, giờ chú em hãy dùng thử mấy món lạ miệng do đầu bếp của ta làm!
Rất tự nhiên, nàng tiếp luôn thức ăn cho Dũng. Mới đầu chàng trai chỉ ăn chiếu lệ, sau qua vài chén rượu, thấy ngon miệng chàng cũng ăn uống thoải mái, thầm khen tài nấu nướng của tay hỏa đầu quân thuộc hạ nàng nữ chúa hồ Ba Bể. Rượu được vài tuần, chợt nàng chúa Cả trở nên trầm mặc, gương mặt đẹp tuyệt trần bỗng như có một làn sương mù ảm đạm bao phủ, đôi mắt phượng dõi nhìn xa xăm u uẩn... Hồi lâu, nàng khẽ buông một tiếng thở dài như muốn hút cả tâm tư sầu bi, ai oán.
- Này chú em, ta mạn phép hỏi một điều, mong chú khá cho ta rõ!
Giọng nàng chìm hẳn, run run khiến Dũng ngỡ ngàng. Chàng trai Kinh buông đũa ngó sững. Lúc này mặt hoa càng hiện rõ vẻ thê lương như tích chứa cả niềm đau nhân thế! Dũng khẽ gật, ôn tồn đáp:
- Có điều gì xin cứ hỏi!
- Chẳng hay... Chẳng hay lệnh đường... thân mẫu chú em nhũ danh là gì? Chú em có thể cho ta biết không? Ta... Ta có điều thắc mắc!
Dũng ngẩn người trước câu hỏi của nàng chúa hồ, giây lâu chàng muốn nói nhưng lòng đầy phân vân, nghi hoặc về ý định của nàng.
- Gia mẫu họ Hoàng tên Kiều Liên. Chúa hồ muốn biết chắc có ý dụng gì chăng?
Vừa nghe Dũng dứt lời, nàng chúa Cả bỗng xúc động lạ thường, thảng thốt khẽ bật kêu:
- Hoàng Kiều Liên! Họ Hoàng lại lót chữ Kiều... Sao lại trùng hợp đến thế? Phải chăng điều ta suy đoán... không sai?...
Nàng lẩm bẩm như nói với chính mình, thần sắc càng lúc càng biến đổi. Bỗng nàng nhìn thẳng vào mắt chàng trai Kinh, nghiêm giọng hỏi:
- Chú em có hiểu biết nhiều về thân thế, họ hàng bên ngoại chứ? Cụ thể là thân mẫu... chú có chị em, anh em ruột thịt ra sao?
Dũng nhíu mày vừa khó chịu vừa ngạc nhiên trước sự truy vấn khó hiểu của nàng. Tuy nhiên, chàng vẫn điềm tĩnh:
- Biết chư! Ông bà ngoại ta đã khuất núi từ lâu. Gia mẫu không có em trai, chỉ có một người chị gái!
- Người chị ấy tên gì? Giờ ở đâu?
Nghe nàng hỏi dồn, gương mặt chàng trai vụt tối hẳn lại. Lát sau chàng mới bùi ngùi:
- Nghe nói dì ấy... đã thất lạc từ lâu!
- Từ bao giờ? Tại đâu?
Người con trai viênt tuần phủ Cao Bằng chợt thở phào một hơi buồn buồn:
- Không rõ! Chỉ nghe gia mẫu nhắc sơ qua là dì ấy thất lạc cùng với người con từ lâu lắm... Lúc đó ta chưa sinh ra đời! Dì ấy tên Kiều Lan, Hoàng Kiều Lan!
Rắc! Dũng vừa dứt lời, chiếc tay ghế nàng chúa hồ ngồi đã gãy sụm. Nàng nấc lên “trời ơi” cực kỳ thống thếit rồi dáng liễu từ từ gục xuống, hai bàn tay bưng kín mặt hoa, đôi vai rung động thổn thức theo từng tiếng nức nở nghẹn ngào...
Dũng ngồi im. Chàng trai càng lúc càng rối trí trước thái độ, hành động của người thủ lĩnh lục lâm vùng hồ Ba Bể. Hồi lâu, chừng đã vơi bớt phần nào mối xúc động ghê gớm từ cõi sâu u uất của tâm hồn, nàng chầm chậm ngẩng lên. Dưới ánh sáp lung linh, khuôn diện nàng lúc này đầm đìa nước mắt, đẹp não nùng như đóa hoa phù dung trong mưa... muốn tê dại lòng người!
Nàng lấy khăn lau nước mắt. Ngay khi đó nữ tỳ tướng Khiên Mây vén rèm bước vào cung kính thưa:
- Bẩm chúa Cả, khách mời ở sơn trấn Cao Bằng đã tới!
Nàng chúa hồ vụt sáng mắt, truyền:
- Hãy mời bà vào đây ngay!
Khiên Mây lui ra, chừng hơn phút sau đã nghe tiếng đàn bà thánh thót ngoài cửa phòng:
- Cái ngươi đưa ta đi đâu? Chúa hồ của các ngươi đâu? Các người bắt giam con ta nơi nào?
Vừa nghe giọng nói, Trần Dũng giật mình biến sắc, đứng bật dậy sửng sốt kêu:
- Mẹ ơi!
Thiếu phụ được nàng tỳ tướng đưa vào chính là mẹ Dũng, vợ viên tuần phủ Cao Bằng Trần Hùng. Nhận ra con, bà xúc động ôm chầm lấy chàng trai mừng mừng tủi tủi:
- Con ơi! Mẹ lo quá... chỉ sợ con mẹ...
Dũng đỡ mẹ ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn tiệc, nghiêm mặt nhìn nàng chúa hồ hỏi:
- Chúa hồ sai thuộc hạ bắt cóc mẹ con ta đến đây có ý dụng gì?
Nàng chúa Cả khoát tay, gượng mỉm cười trấn an người con trai viên tuần phủ:
- Chú em hãy yên tâm! Ta có việc riêng muốn hỏi thăm lệnh đường nên mạn phép “mời” người đến đây, hoàn toàn không có ý xấu! Thưa... bà...
Ánh mắt nàng dừng lại trên khuôn mặt người đàn bà. Lúc này bà ta cũng đang tròn mắt ngó nàng sững sờ như bị thôi miên. Rồi, bỗng nhiên cả hai người đều rùng mình chừng cùng nhận thấy người đối diện có quá nhiều nét giống mình từ dung mạo đến vóc dáng!
- Trời! Có lẽ nào... Không! Không phải! Chị ta đã... mất tích từ... buổi chiều hôm đó... buổi chiều khủng khiếp... Không! Trời ơi!

Người vợ viên tuần phủ vụt ôm mặt nói nhảm như người mê sảng, vẻ bị kích động đến tột độ. Dũng lay gọi một hồi bà ta mới bớt kinh mang, tuy giọt châu vẫn lả tả tuôn rơi nhạt nhoà má phấn.
- Phu nhân! Xin bà bình tĩnh.
Nàng chúa hồ rót một chén trà đưa mời, vành môi son cắn chặt cố nén nỗi xúc động mãnh liệt trong lòng. Bà ta run run đỡ lấy uống cạn, hỏi nàng:
- Cô chúa hồ... Sao cô lại giống người chị tôi đến thế? Giống như hai giọt nước! Chẳng lẽ...
Thiếu phụ chưa nói hết câu, nàng chúa hồ lặng lẽ rút trong mình ra một chiếc túi gấm nhỏ màu xanh trông đã ngả màu. Nàng mở miệng túi dốc ra một vật bằng kim loại vàng lấp lánh.
- Thưa, bà đã bao giờ trông thấy vật này?
Nàng chúa hồ xoè bàn tay cạnh thỏi sáp. Đó là một tấm “lắc” vàng xinh xắn, nhỏ cỡ đeo vừa cổ tay con nít, trên mặt có khắc chữ nhỏ li ti. Thiếu phụ ghé sát dòm. Kiểu dáng tấm lắc cùng hàng chữ hiện rõ dưới ánh sáng toả hắt:
“Võ Kiều Loan, sinh ngày... tháng... năm... mẹ Hoàng Kiều Lan”
Thiếu phụ thảng thốt kêu lên:
- Tấm “lắc” của cháu tôi! Nó thất lạc đã mười tám năm rồi... Sao cô chúa hồ lại có tấm “lắc” này?
Bà ta chụp tấm lắc xăm soi ngắm nhìn mê mải, nét bi thương càng hiện rõ trên khuôn mặt người mệnh phụ tuyệt sắc. Nàng chúa hồ cảm nghe trái tim muốn ngừng đập trong lồng ngực, đầu óc choáng váng. Nàng hít mạnh một hơi dài, cố lấy giọng tự nhiên hỏi:
- Thưa, cháu của bà thất lạc trong trường hợp nào, tại đâu? Bà... xin vui lòng cho biết?
Người vợ viên tuần phủ gạt lệ trừng trừng vào khoảng không, hồi lâu khẽ nói, giọng chùng xuống, ai oán như tiếng gió chiều thu lá rụng:
- Chuyện cũ nhắc lại thêm đau lòng... Mười tám năm... Chiều đó, hai chị em tôi cùng mấy người gia nhân đi ngoạn cảnh hồ, bỗng cuồng phong nổi dậy, loạn rừng ác thú ra đầy đàn. Một đàn đười ươi do một con chúa đàn cầm đầu đuổi bắt chúng tôi, gia nhân bị tàn sát hết... Con đười ươi chúa quái đản khủng khiếp, súng bắn không chết! Chị tôi bồng đứa con thơ chạy ra đường cái, nhờ xe ngựa chạy trốn nhưng vẫn không thoát, dầu đã được mấy người thương tình hết lòng cứu giúp... Một người nghĩa hiệp đem đười ươi cháu tôi chạy vào rừng, gặp tôi, giao cháu bé cho tôi rồi chạy ra đường quyết tử chiến với con quái vật nhưng rồi cũng đành bất lực bó tay trước sức mạnh phi phàm của nó... Hai dì cháu tôi núp trong rừng bị một bầy sói hung tợn tha đi. May lại được bà cụ Mán giỏi võ xông vào cứu. Bà cụ giấu tôi trong một hốc núi rồi chạy đi cứu đứa bé nhưng... trong khi cụ ấy đi thì tôi bị đười ươi phát hiện, kịp lúc người đàn ông nghĩa hiệp trở lại. Vì không có đười ươi chúa ở đó nên ông ấy cứu được tôi... Vì sợ bầy đười ươi kéo tới, chúng tôi tạm lánh đi nơi khác, đến khi quay lại chỗ cũ thì...không thấy – bà vụt thở dài – Có lẽ... cháu tôi đã... Từ đó tôi mất hai người thân yêu trên đời!...
Thiếu phụ kể dứt, nàng chúa hồ không còn dằn lòng hơn được nữa, ôm choàng lấy bà ta nức nở:
- Dì ơi! Cháu đây! Đứa bé bất hạnh mười tám năm xưa... chính là cháu đây! Sư mẫu cháu đã cứu cháu thoát nanh vuốt loài sài lang hung tợn rồi trở lại hốc núi tìm dì, nhưng... dì đã đi khỏi, người... đành mang cháu đi dạy dỗ hết lòng, mong có ngày cháu tìm được cội nguồn thân thế! Dì ơi!
Người vợ viên tuần phủ bàng hoàng lặng người đi trước lòi xác nhận của nàng dù trước đó bà ta đã thầm nghi hoặc khi thấy người nữ thủ lĩnh hồ Ba Bể giống hệt chị mình.
- Trời ơi! Cháu... Kiều Loan cháu tôi! Dì Kiều Liên đây! Ôi! Thật trời cao có mắt! Mười tám năm qua, dì... cứ đinh ninh cháu... Thật không ngờ ngày nay lại được trùng phùng!
Hai mái đầu áp vào nhau cùng khóc vùi, mừng mừng tủi tủi. Trần Dũng chứng kiến cảnh mẹ với nàng chúa hồ - hai người ruột thịt hội ngộ, lòng cũng không kém xúc động. Chàng trai vỡ lẽ ra rõ ràng nàng nữ chúa đã có ý ngờ mình là họ hàng ruột thịt từ đầu nên đối xử một cách đặc biệt bao dung dẫu hai bên ở hoàn cảnh đối địch nhau! Càng ngắm Dũng càng thấy nàng giống mẫu thân mình, tuy vẻ đẹp của người thủ lĩnh hồ Ba Bể có phần sắc sảo hơn chút!
Rất lâu, hai người phụ nữ mới ngẩng lên. Người vợ viên tuần phủ quay sang con trai gạt nước mắt, bảo:
- Dũng con! Mau nhận chị! Đây là chị Kiều Loan, con dì Kiều Lan - chị ruột mẹ! Chị con thất lạc từ buổi chiều loạn rừng mười tám năm trước, nhờ trời nay mới gặp lại nhau!
Dũng lúng túng cúi đầu chào. Nàng chúa hồ Võ Kiều Loan cảm động nắm tay chàng mỉm cười qua làn lệ rưng rưng:
- Chị có điều gì sai sót với em, mong em miễn thứ cho!
Chị đã nghĩ từ đầu vào lúc mới gặp em về mối liên hệ huyết thống giữa chúng ta nhưng... còn phải chờ kết quả tìm hiểu nhiều manh mối! Giờ thì mọi sự đã rõ. Trời xanh còn tựa kẻ bất hạnh nên run rủi cho gái này tìm lại được người thân! Dì ơi, sư mẫu cháu có ghi lại sự việc xảy ra mười tám năm xưa. Gần đây cháu có bổ túc thêm khá đầy đủ. Giờ xin mời dì cùng em Dũng sang phòng tranh xem!
Chợt nàng quay về phía cửa sổ cao giọng:
- Vị khách nãy giờ ẩn ngoài đó, nếu muốn xem tranh xin mời đi cùng!
Bà Kiều Liên cùng con trai ngơ ngác nhìn ra. Ngoài khung cửa sổ, cảnh vật bàng bạc sương đêm, xa xa vài tiếng chim khảm khắc vọng lại nghe mơ hồ, bâng khuâng... Bỗng có tiếng tằng hắng rồi một giọng đàn ông vang lên trầm trầm:
- Giỏi lắm! Kiều Loan con! Tài nghệ con quả đã đến mức phi thường, đang cơn xúc động vẫn kiểm soát được chung quanh!
Theo tiếng nói, một bóng người quăng vèo vào hạ chân xuống giữa phòng êm như chiếc lá rơi. Hai mẹ con Dũng cùng buột miệng kêu lên mừng rỡ:
- Ồ! Cha!
- Ông!
Người vừa xuất hiện chính là viên tuần phủ Cao Bằng Trần Hùng. Ông ta đưa mắt nhìn nàng chúa hồ, trên gương mặt phong trần hằn rõ những nét thương cảm, giây lát mới thở phào chậm rãi nói:
- Kiều Loan con! Ta vừa chứng kiến tất cả. Ta cũng đã xem những bức tranh mà sư mẫu con với con vẽ lại thảm cảnh năm xưa! Ta chính là kẻ mang lốt ông già Thổ tình cờ gặp mẹ con trên đường lánh nạn và vì... tài hèn sức mọn nên không cứu nổi người tiết phụ khỏi tay quái vật bạo hành!
Giọng viên tuần phủ dần rung chìm đứt quãng, môi mím chặt, khoé mắt con người từng vào sinh ra tử một thời long lanh muốn ứa lệ. Cuộc trùng phùng với đứa bé của mười tám năm xưa khơi dậy nỗi đau xót ghê gớm hằng đeo đẳng trĩu nặng tâm hồn ông ta.
- Con ơi... bao năm qua ta vẫn có ý tìm kiếm tông tích con cũng như mẹ con dù nhiều lúc đã... tuyệt vọng... Cũng may trời cao có mắt, nay còn được gặp con!
- Thì ra... dượng chính là ông cụ Thổ tốt bụng năm xưa?
Võ Kiều Loan gạt nước mắt hỏi, bà Kiều Liên xen vào bảo nàng:
- Đúng vậy đó cháu! Hôm đó khi tình cờ gặp mẹ cháu rồi gặp dì lâm nạn, dượng cháu đang mang lốt hoá trang ông già Thổ. Dượng cháu đã cố sức xả thân vì nghĩa nhưng không địch nổi con quái vật đười ươi khủng khiếp mình đồng da sắt, súng bắn không chết! Sau... cảm nghĩa trượng phu dì gá nghĩa cùng dượng cháu.

Kiều Loan nghe dứt từ từ sụp xuống chân viên tuần phủ:
- Cháu xin dượng nhận cho một lạy này!
Viên tuần phủ họ Trần lật đật tránh sang một bên đỡ nàng dậy.
- Đừng cháu! Ta là thân nam tử cứu không nổi người cô thế, thực đáng hổ thẹn, sao dám nhận lễ của cháu! Huống chi chúng ta còn chung gia tộc!
Cả bà Kiều Liên, Trần Dũng đều hết lời khuyên cản. Kiều Loan muốn mời họ sang phòng bên, xem tranh nhưng ông Trần Hùng ý không muốn vợ thấy lại những hình ảnh đó, sợ bà thêm đau lòng. Ông đưa tay chỉ Dũng bảo:
- Con là nam nhi, tinh thần vững mạnh có thể qua xem!
Dũng vâng lời theo gái hầu đi ra. Chàng trai nãy giờ nghe chuyện, lòng sôi sục nhiệt huyết muốn biết tường tận diễn biến dẫn đến tai hoạ năm xưa và con quái vật đười ươi chúa đo!
Còn lại ba người, Võ Kiều Loan truyền pha tra ngồi hàn huyên việc nhà. Qua lời kể của bà Kiều Liên, Võ Kiều Loan được biết cha nàng tên Võ Long, xưa kia vốn tay vũ dũng thích ngang dọc giang hồ lại kiêm thông văn học thạo cả bốn ngón phong lưu: cầm, kỳ, thi, hoạ. Mẹ nàng sinh trưởng trong một gia đình quyền quý – ông ngoại Kiều Loan trước là quan dưới miền xuôi sau bực giận triều đình lắm bọn tham quan ô lại nên cáo lão đem gia quyến lên mạn ngược sinh sống lấy cảnh lâm tuyền vui thú điền viên. “Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau”. Cuộc tình duyên của hai người đang độ tươi đẹp như núi rừng Việt Bắc thình lình kẻ thù cũ xuất hiện. Ông nhận lời thách đấu của y và lên ngựa ra đi một mình, mặc mẹ nàng, cùng gia đình hết lời khuyên ngăn. Mấy ngày sau, Võ Long trở về gục trên lưng ngựa, mình mang thương tích trầm trọng. Ông đã thắng kẻ tình địch, đánh hắn rơi xuống vực từ một triền núi trên ngọn Phi Mã Ác Sơn nhưng bản thân cũng bị mấy đòn thí mạng của hắn. Dù được danh y chữa trị hết lòng, vết thương vẫn không thuyên giảm nên chỉ ít ngày sau ông mất. Khi đó bà Kiều Lan mẹ nàng đang mai thai được sáu tháng. Cái chết của chồng khiến bà đau khổ ngã bệnh, suýt sẩy thai. Nó là vết thương không bao giờ lành trong lòng người cô phụ! Sau khi thân phụ mãn phần, bé Kiều Loan lên hai tuổi. Thấy chị hay sầu muộn, bà Kiều Liên khuyên chị nên đi du ngoạn cho khuây khoả. Hai chị em thường mang theo bé Kiều Loan, cùng gia nhân để đi tìm những danh lam thắng cảnh thưởng lãm. Và rồi một lần nữa tai hoạ lại giáng xuống gia đình vào buổi chiều loạn rừng oan nghiệt đó...!
Nghe xong cội nguồn thân thế mình, Võ Kiều Loan càng thêm chua xót, tủi hờn. Số phận đã tàn bạo cướp đi hai đấng sinh thành nàng quá sớm. Sinh ra không được nhìn cha, lớn lên không biết mặt mẹ hiền. Giờ đây... thù nhà nặng trĩu đôi vai người thục nữ!
- Cháu sẽ tìm ra quái vật đười ươi, tru diệt nó rửa hờn cho mẹ.
Võ Kiều Loan nghiến răng nói như nhai từng tiếng, mắt phượng long lanh chờn vờn sát khí. Tuần phủ Trần Hùng kín đáo khẽ thở dài. Ông hiểu người con gái thủ lĩnh lục lâm vùng hồ Ba Bể sẵn sàng dành trọn cuộc đời để thực hiện lời thề của con nhà võ. Nhưng... kẻ thù của nàng là đười ươi chúa, một con đười ươi biết nói cả tiếng người, súng gươm không phạm nổi... Chính ông mười tám năm xưa từng chạm trán “nó” suýt vong mạng cùng vợ chồng tướng lạc thảo Quảng Tây Woòng Tắc Mềnh - Mẫu Dạ Xoa!
- Theo dượng, quái vật đười ươi là giống chi, phải “nó” là người mang lốt thú? Cháu không tin “nó” là giống quái vật thành tinh. Có thể “nó” là một kẻ tà đạo giỏi võ, biết thuật dạy thú, mang lốt đười ươi... và mang cả giáp chống đạn bên trong?
Ông Trần ra dáng trầm ngâm:
- Dượng không dám khẳng định, tuy điều cháu nói chính dượng cũng từng nghĩ! Chỉ rõ nó cực kỳ lợi hại... quyền cước, súng trường trở thành vô dụng trước nó. Tài nghệ cháu giờ tới mức nào?
- Cháu được sư mẫu truyền hết võ học của người, giờ có thể lấy đầu người ngoài mấy chục bộ.
Nàng chúa hồ bình thản đáp vẻ tự tin. Dứt câu, nàng phất vụt tay áo. Một luồng sáng trắng nháng lên bay vút về phía cuối phòng, liếm xoẹt cắt ngang thân cây đuốc cắm trên vách rơi xuống đất tắt phụt, loáng cái nó đảo về nằm gọn trong tay nàng, hiện rõ hình một lưỡi liềm bán nguyệt bằng thép, trắng lạnh.
Vợ chồng ông Trần thầm rung động kinh phục trước thủ pháp thần tốc của nàng. Nhất là viên tuần phủ, bằng vào kiến thức sau nhiều chục năm lăn lộn trong làng võ, ông hiểu Kiều Loan vừa vận dụng kình lực phô diễn kỹ thuật “cách không phi liềm”, một công phu đặc dị chỉ những cao thủ thượng thừa mới luyện nổi.
- Tuyệt kỹ! Hảo công phu!
Võ Kiều Loan không để ý lời khen ngợi, tiếp luôn:
- Cháu còn một môn công khác, hy vọng sẽ hạ được “nó”, dẫu cho quái vật có mình đồng da sắt! Thôi, dì dượng yên tâm, chuyện đó cháu đủ sức giải quyết! Giờ hãy tính việc trước mắt. Có phải sáng mai, lúc bốn giờ, đại quân của dượng sẽ khởi động?
Nàng đưa mắt nhìn ông Trần, hỏi. Ông ta không khỏi bối rối trước ánh mắt cô chúa hồ Ba Bể. Nghịch cảnh oái ăm đã đặt hai người vào vị trí đối địch nhau, liệu xử lý cách nào đây? Kiều Loan là thủ lĩnh lục lâm hồ Ba Bể, còn ông kẻ từng dọc ngang vùng vẫy thời trai trẻ, sau đường đời đưa đẩy lại ra làm quan triều đình, dẫu chẳng quá luỵ mình vì bả vinh hoa phú quý nhưng... trách nhiệm ông vẫn là giữ yên vùng trấn nhậm! Tuy nhiên, viên tuần phủ vẫn gật đầu xác nhận.
- Tin tức của cháu chính xác đấy! Từ nãy giờ dượng đang nghĩ cách hoá giải tình thế hiện nay nhưng... chưa biết tính sao! Có lẽ đã đến lúc dượng rút lui khỏi chốn quan trường đầy phức tạp!
Võ Kiều Loan tỏ vẻ thông cảm nỗi khổ tâm của ông Trần, hơi mỉm cười nhẹ nhàng bảo:

- Dượng đừng lo, cháu đã nghĩ đến trường hợp này từ lúc hay tin bọn giám binh Bắc Cạn, Cao Bằng mở cuộc hành quân! Để tránh tình huống phức tạp khó xử cho dượng, cháu đề nghị như vầy...
Nàng thấp giọng vừa đủ cho ông Trần nghe. Giây lát, viên tuần phủ tươi hẳn nét mặt đứng lên, buông gọn:
- Giờ đây dượng đi tìm mấy bà Dạ Xoa tới đây, họ đang ẩn ngoài kia! Cháu nên báo cho cha con ông tướng thổ phỉ Quảng Tây ngay thì hơn!
Ông Trần vọt đi liền. Võ Kiều Loan truyền gái hầu mời riêng cha con tướng lạc thảo Woòng Tắc Mềnh, Woòng Cẩm Tiên đến. Chừng mười lăm phút sau tất cả đều có mặt đầy đủ. Nàng chúa hồ lên tiếng xin lỗi về chuyện xảy ra. Mẫu Dạ Xoa lúc đầu còn hầm hầm giận dữ vì vụ chồng con mụ bị bắt giam, nhưng được ông Trần cùng họ Woòng hết lời khuyên giải, thấy con gái vẫn khoẻ mạnh, lại biết Kiều Loan là con bà áo trắng bị nạn đười ươi năm xưa, mụ mới dịu cơn tam bành thịnh nộ. Nàng chúa hồ cũng kể vắn tắt kế hoạch bàn với ông Trần Hùng về việc đối phó với đạo quan binh. Theo đó, tạm thời trong ít ngày, quân hồ Ba Bể sẽ rút hết vào vùng bí mật, bỏ khu trại ngoài trống không chờ... quan binh đến! Ông Trần sẽ cứu được Dũng, còn bọn đội Đầu Lâu cùng bọn thuộc hạ sẽ được giam riêng... chờ quan binh cứu!
Nghe dứt, lão tướng lạc thảo Quảng Tây vò râu khen:
- Hầy à! Kế sách cô chúa đưa ra hay dữ a! Vừa giúp quan Nam tránh khỏi thế kẹt vừa giữ lại chút thể diện cho mấy ông giám binh để họ... hiên ngang kéo quân về! Hay dữ a!
Võ Kiều Loan quay sang bà dì đang ngồi cạnh Woòng Cẩm Tiên:
- Cháu sẽ cho người thân tín đưa dì về tư dinh ngoài Cao Bằng! Phần Cẩm Tiên, em sẽ đi cùng lệnh đường lệnh mẫu! Thôi, giờ xin mời mọi người sang phòng bên để gái này dâng chén rượu tạ lỗi cùng chư vị!
Nàng đứng lên đưa cả bọn sang gian khách sảnh. Từ lúc nào, một bàn tiệc thịnh soạn đã dọn sẵn chờ mọi người...
CHƯƠNG 5 - CON TRAI CHÚA TỂ MƯỜI VẠN NÚI
Sông Gầm...
Một chiều cuối hạ sắp sang thu, trời bắt đầu nổi gió vàng hiu hắt. Mặt trời đang từ từ ngả về phía núi Tây, sương rừng dâng lên. Dòng sông thao thiết chảy, sóng vỗ bờ róc rách, lác đác vài thân cây, vài khóm hoa dại bập bềnh trôi về phía hạ lưu.
Bến đò rừng chiều nay vắng khách qua sông. Trong cái quán cạnh đó, anh lái đò ngồi hút thuốc tán gẫu chuyện mưa nắng với chị chủ quán. Chị này còn khá trẻ, chừng ngoài ba mươi, dáng đẫy đà, trông cũng duyên dáng khoẻ mạnh. Chốc chốc chị ta lại phá lên cười, hai con mắt lá dăm nheo tít, bộ ngực nở nang rung lên sau lớp áo bó căng. Anh lái đò chừng khoái chí được dịp khoe cái “duyên ăn nói” của mình, miệng nói huyên thuyên không ngớt.
- Thôi, liệu mà về với bu nó! Chiều rồi đây cũng dọn dẹp nghỉ!
Chị ta mỉm cười, chậm chạp đứng dậy. Anh chàng rít vội một hơi thuốc lào, cười hềnh hệch vẻ tiếc rẻ:
- Hãy gượm đã nào! Chẳng mấy khi chúng mình rảnh rỗi mà hàn huyên tâm sự như hôm nay!
- Hứ! Thôi chả nói chuyện với nhà anh nữa! Gớm, tâm với sự...! Liệu mà giữ mồm giữ miệng, ba hoa cho lắm có ngày bu nó xé xác ra ấy! Đừng quên rằng đây cũng là hoa có chủ nhé!
Chị chủ quán ngúng nguẩy bỏ đi vào trong sau khi nguýt anh lái đò một cái thật dài. Anh ta xách điếu cày lên, khệnh khạng bước ra, vừa đi vừa ngâm “có chồng thì mặc có chồng...”
Bỗng có tiếng vó câu lóc cóc nổi lên. Anh lái đò hơi nghểnh cổ dòm. Từ xa hai bóng người ngựa thả kiệu băm thong dong phi tới, phút chốc đã dừng trước quán. Đó là hai thiếu nữ, mặc y phục theo lối con gái tân thời thành thị đi du ngoạn. Cô áo trắng cỡi ngựa bạch, cô áo xanh cỡi ngựa hồng, bên yên ngựa đều có giắt súng săn, dao rừng. Cả hai cùng tuyệt đẹp. Nhất là cô áo trắng, mắt phụng hơi xếch, mày ngày dài quá mắt không vẽ, mi cong, mũi dọc dừa, môi cung san hô đỏ như son, ngoài vẻ nhan sắc tuyệt trần còn phảng phất nét uy nghi, cao quý. Nhác trông, anh lái đò thầm đoán hai cô chừng con nhà danh giá miền xuôi lên rừng săn bắn giải trí. Anh ta đon đả mời:
- Bẩm, rước hai tiểu thư vào quán uống nước ạ!
Hai cô gái đưa mắt nhìn nhau. Cô áo trắng cất giọng thánh thót hỏi:
- Giờ còn đò sang ngang không chú?
Anh lái chỉ tay ra bến, nhanh nhẩu:
- Dạ còn! Bẩm, chính tôi đưa khách qua sông đây! Hai tiểu thư đi đường xa chắc mệt, xin mời vào nghỉ một lát xuống đò sau!
Miệng nói tay anh ta nắm lấy dây cương ngựa vẻ ân cần săn đón hết sức. Cô áo trắng quay sang cô áo xanh khẽ gật đầu ra hiệu, nhảy xuống.
Hai thiếu nữ chọn một bàn cạnh cửa sổ trông ra đường. Chị chủ quán suốt buổi ế hàng đang tính dẹp nghỉ, thấy hai cô khách sang trọng ghé vào, tất tả chạy ra săn đón:
- Bẩm, hai tiểu thư dùng chi? Quán nhà em có cơm, rượu luôn cả mấy thứ thịt rừng nữa ạ!
Chị ta kể một loạt. Hai cô gái gọi mấy món ăn với cơm. Chỉ lát sau tất cả được dọn lên bốc khói thơm lừng. Cô áo trắng cầm đũa bảo cô áo xanh:
- Ăn đi, Mây! Từ đây đến chỗ có bản làng nghỉ đêm cũng còn xa lắm, hãy ăn no lấy sức!
- Bẩm chúa Cả...
Cô áo xanh vừa cất lời, cô áo trắng liền hắng giọng, sửa:
- Gọi bằng chị!
- Dạ tại em... quen miệng! Chị tha lỗi!
- Từ nay em nên ý tứ hơn! Việc giữ kín hành tung lai lịch chúng ta rất cần thiết trong lúc này!

Thiếu nữ áo trắng chìm lời nhắc bạn đồng hành. Nàng chính là thủ lĩnh hồ Ba Bể Võ Kiều Loan cùng nữ tỳ tướng thân tín Khiên Mây cải trang. Từ sau khi biết rõ cội nguồn thân thế đau thương của mình, nàng thăm mộ phụ thân xong, xếp mọi việc giao quyền cho hai nàng chúa Hai chúa Ba tạm thời chỉ huy thuộc hạ, lên đường truy tìm tông tích quái vật đười ươi chúa. Không muốn thù riêng lụy đến người khác, Kiều Loan cương quyết ra đi một mình, dẫu hai cô em kết nghĩa cũng như bọn ông Trần Dũng, vợ chồng lão tướng lạc thảo Woòng Tắc Mềnh một lòng đòi theo. Mọi người khẩn khoản quá nàng mới đồng ý cho Khiên Mây theo hầu. Hai thầy trò bí mật lên đường tránh gây kinh động ba quân tướng sĩ, Kiều Loan và nàng tỳ tướng mặc y phục màu giống như hai bà Kiều Lan, Kiều Liên trong buổi chiều gặp nạn dữ!
Hai nàng vừa ăn vừa chuyện trò nho nhỏ. Tít góc trong, anh lái với chị bán quán cũng ngồi tán gẫu tiếp, thỉnh thoảng lại liếc trộm về phía hai cô khách. Anh lái hạ thấp giọng thì thào:
- Này, đằng ấy xem hai cô này mặt đẹp như tiên, trông ra dáng con nhà giàu có... Sao bạo gan thế nhỉ? Dám cỡi ngựa đi săn trên rừng... Chà, thân gái dặm trường, gặp... chuyện bất trắc như chơi!
- Gớm! Nhà anh khéo lo, người ta dám xông pha còn ngại gì mấy chuyện vớ vẩn! Cứ trông súng săn, dao rừng thế kia ai cũng biết hai cô chẳng phải tay vừa! Đừng thấy đàn bà con gái mà vội xem thường, cứ như tớ đây, từ thuở bé đã ngược xuôi buôn bán tỉnh nọ, tỉnh kia, mấy năm nay lại mở quán bán hàng ở cái bến đò rừng khỉ ho cò gáy này, tiếp xúc với đủ hạng người mà đã có đứa nào “nuốt” nổi!
Chị ta ưỡn ngực về trước, mặt hất lên như thách thức một đối thủ... tưởng tượng nào đó. Anh lái đò vội nở nụ cười cầu tài, lảng sang chuyện khác.
Lại có tiếng vó ngựa đổ tới lớn dần rồi dừng rập trước quán. Ai nấy ngoảnh trông ra, kỵ sĩ gò cương nhảy xuống, tiến vào. Khách là một chàng trai trẻ, trạc hơn hai mươi, mặc quần áo chàm Thổ, đầu chít khăn nhiễu Tam Giang hình chữ “Nhân”, nét mặt đẹp rắn rỏi như đá tạc, hai con mắt xếch sáng như tia lửa điện, phát tia nhìn mười phần oai võ, lại thêm cặp súng lục đeo trễ bên sườn khiến kẻ táo tợn nhất nhác trông cũng phải chờn chợn nể vì. Khách lên tiếng hỏi, giọng Kinh sang sảng như chuông đồng hướng về chị bán hàng:
- Còn chuyến đò ngang nào không, bà chủ?
- Bẩm, còn! Mời... “quan lớn” xơi chén rượu đã. Bẩm hai tiểu thư chốc nữa cũng xuống đò tôi đấy!
Anh lái xum xoe mời khách vào bàn. Chàng trai nhìn thoáng qua chỗ Võ Kiều Loan, Khiên Mây rồi thản nhiên ngồi xuống.
Kiều Loan kín đáo quan sát, thấy người khách trẻ cả nhân dáng, cử chỉ thái độ đều biểu lộ một phong cách đặc biệt khác thường. Chàng ta yên lặng ngồi “độc ẩm”, mắt dõi nhìn ra bến sông, vẻ hơi mơ màng không chú ý đến chung quanh, như không hề biết sự có mặt của... hai cô gái đẹp trong quán. Còn về bản lĩnh, bằng kinh nghiệm, dù chỉ mới gặp, nàng biết người áo chàm này là tay cao thủ thượng thừa trong làng võ - động tác, giọng nói và nhất là thần thái chàng trai chứng tỏ rất minh bạch, không thể lầm lẫn!
- Thưa chị, em đoán ông khách áo chàm kia là một nhân vật phi thường trong giới võ lâm giang hồ!
Như cùng ý nghĩ với Kiều Loan, Khiên Mây thì thầm nhận xét chàng khách lạ.
- Đúng vậy! Một tay chọc trời khuấy nước đó! Cứ xem phong thái chàng ta cũng đủ biết!
Chờ mấy người cơm nước xong, anh lái lên tiếng mời khách xuống thuyền. Kiều Loan, Khiên Mây dắt ngựa xuống trước, chàng áo chàm lững thững theo sau. Chiếc tam bản từ từ rời bến, quay mũi nhấp nhổm trườn sóng. Trời chiều lộng gió, mặt sông bốc hơi nước lành lạnh thoang thoảng mùi bùn.
Khúc sông nơi đây khá rộng, tít bờ bên kia rặng núi in đậm vào nền trời, chạy vát chếch hướng đông nam. Ngay chân núi là một cánh rừng bạt ngàn tịch mịch.
Ba người khách cùng thả tầm mắt ngắm cảnh sơn thuỷ bao la, lòng đuổi theo những ý nghĩ riêng tư, không ai bắt chuyện với ai.
Cánh rừng phía trước mỗi lúc một gần. Thuyền sắp cặp bờ, còn cách chừng vài sải, bỗng “đoàng! đoàng!” liền mấy tiếng súng nổ vang, chát chúa. Chim rừng hốt hoảng đập cánh bay lên tứ tán. Từ sau những lùm cây vụt hiện ra một toán người ngựa lố nhố hơn chục tên. Mặt mũi tên nào nom cũng dữ tợn, súng cầm tay chĩa xuống thuyền. Một gã lực lưỡng nhất, mặt diều hâu, râu xồm chổi xể, có một vết thẹo dài vắt ngang trán, múa tít khẩu Pạc hoọc trong tay thúc ngựa tiến lên mấy bước, cất giọng ồm như lệnh vỡ xổ một tràng tiếng Quảng Đông:
- Lầy Tài Wang đợi chú em đây! Biết điều giơ tay lên! Hà hà!

Y cười lớn, tay vẫy luôn hai phát sát mạn thuyền. Đạn chíu nước văng tung toé cả lên người chàng áo chàm. Chàng ta từ lúc thấy bọn kia xuất hiện vẫn bình thản không lộ vẻ nao núng, đứng gác một chân lên mũi thuyền hất hàm hỏi:
- Bọn mi thuộc cánh nào? Muốn gì?
Gã cầm Pạc hoọc nhướng cao mày vẻ ngạc nhiên trước thái độ chàng trai rồi chừng tự ái, y lại cười thét:
- Sao? Chú em không biết Lầy đại vương à? Ha Ha! Ông Lầy là tao đây! Tỉu nà!
Khắp mấy cõi biên thuỳ còn đứa nào không biết oai danh tao!
- Riêng ta chưa hề nghe tên mi!
Chàng áo chàm khẽ nhếch môi cười khinh mạn. Nghe gã xưng danh, nàng chúa hồ Ba Bể và tỳ tướng Khiên Mây đưa mắt ngó nhau. Cả hai biết tên Lầy là trùm thổ phỉ mạn biên thuỳ Trùng Khánh, thường xưng Độc Thủ Đại Vương. Y rất kiêu ngạo về môn công phu sở trường “Ngũ độc thần sa thủ”, một tuyệt kỹ thuộc loại tàn độc trong giới Hắc đạo võ lâm. Khi giao đấu với người khác, y xỉa trúng đối phương, dù bất kỳ chỗ nào và chỉ cần trầy da một chút nạn nhân vẫn có thể bị trúng độc chết bởi đôi bàn tay y đã tôi luyện bằng năm loại thuốc độc cực kỳ ghê gớm. Ngoài ra y còn là một hung thần gieo rắc kinh hoàng cho đàn bà, con gái mấy vùng sơn cước. Một tên sơn tặc đáng nguyền rủa nhất!
Khiên Mây mím môi ngầm ra hiệu xinh lệnh chủ, xem chừng nàng ta muốn động thủ gấp, nhưng Kiều Loan chưa đồng ý. Nàng chúa hồ đợi chàng khách lạ xử trí ra sao, vả lại hiện cả mấy người dưới thuyền đều bị hơn chục mũi súng của bọn chúng xỉa vào, nếu vọng động hấp tấp ắt không tránh khỏi thiệt hại, chi bằng nén lòng chờ thời khắc thuận tiện sẽ ra tay.
- Tỉu nà! Không nói nhiều, giơ tay khỏi đầu bước lên! Tất cả, riêng thằng lái đò tao tha cho về!
Anh lái đò mặt tái như gà cắt tiết, run lẩy bẩy, miệng lắp bắp nói không ra tiếng. Trên trùm phỉ quát lớn, nổ thêm mấy phát thị oai. Chàng áo chàm uể oải làm theo lời y, nụ cười vẫn không tắt trên môi:
- Chỉ bằng vào hơn chục tay súng mi dám xúc phạm đến ta, kể cũng liều đấy!
Này, ta hỏi thật mi phục kích bắt ta làm gì khi ta với mi không thù không oán?
Lầy Tài Wang nheo cặp mắt diều hâu cười nham hiểm:
- Hãy biết cái đầu chú em hiện đáng giá một thùng bạc xoè, và nếu bắt sống giá sẽ gấp hai lần, đủ chưa, hỡi Trương thiếu chủ? Hà hà!
- Vậy cứ bắt ta, hai cô kia vô can hãy để họ đi!
Chàng trai khô giọng bảo gã Lầy. Y liếc nhìn hai thiếu nữ, vẻ sững sờ vụt hiện trên bản mặt “cô hồn”. Chừng giờ y mới nhận thấy hai nàng có nhan sắc tuyệt đẹp. Nhất là nàng áo trắng, vẻ thiên kiều bá mị lồ lộ nét khuynh thành đến gỗ đá cũng phải rung động.
Tên trùm thổ phỉ dòm Kiều Loan hau háu. Nàng chúa hồ trong lốt giả trang cô gái miền xuôi thản nhiên nhìn lại y. Đến mươi khắc, Lầy Tài Wang vùng thở phì, gãi râu sồn sột lẩm bẩm:
- Hầy, múi chầy léng! Cô tiên! Hà, thiên hạ đệ nhất mỹ nhân! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ ông Lầy mới gặp người đẹp như cô em này! Hầy, xứng đáng làm Lỗ phồ Tài Wang a!
Y chỉ chàng áo chàm, giật giọng quát bảo thủ hạ:
- Tước vũ khí nó!
Đoạn y đưa tay vẫy hai cô gái, cười nhăn nhở:
- Hầy! Hai cô em xinh đẹp, không sợ! Mau lên ông Lầy xem, ông Lầy không ăn thịt đâu!

Ngay khi hai tên thủ hạ y vừa cặp súng áp sát lại, chàng trai vụt chuyển động. Chỉ thấy bóng áo chàm loáng lên, hai gã thổ phỉ đổ dụi vào nhau rồi tiếp liền mấy loạt đạn nổ xé không gian, mấy tên bị văng mất súng chới với. Lầy Tài Wang chưa kịp định thần phản ứng, mắt chợt hoa lên, gáy y đã bị một bàn tay cứng hơn thép nguội túm lấy, bóp mạnh một cái. Cả thân xác lực lưỡng mất hết khí lực, mềm nhũn, khẩu Pạc hoọc rơi bịch xuống chân ngựa. Như trong mộng ảo, chàng áo chàm đã sừng sững ngồi sau lưng Lầy, hai tay luồn dưới nách y, hai họng súng chỉa về trước khạc liên hồi. Lại năm, sáu gã rụng súng ôm tay rên rỉ.
- Cút hết! Chậm ta đổi ý, mất mạng!
Chàng đanh giọng quát ra lệnh, cặp mắt sáng như tia lửa điện quắc lên quét lia qua những bản mặt “cô hồn” đang nhăn nhó vì đau đớn. Bọn thủ hạ Lầy quá khiếp đảm trước tài bắn thần sầu quỷ khốc của người áo chàm, lấm lét dòm nhau rồi nhìn chủ tướng đang bị khống chế. Một tên chừng đầu mục vùng hô lên “chẩu à!”, cố nén đau thúc ngựa vọt đi. Lũ kia lật đật quay đầu ngựa phóng theo. Phút chốc bọn thổ phỉ đã mất hút sau cánh rừng âm u cô tịch. Chàng áo chàm nhấc bổng thân hình Lầy Tài Wang ném “huỵch” xuống mặt cỏ, quay gọi hai thiếu nữ dưới thuyền:
- Mời hai cô lên, an toàn rồi!
Từ nãy giờ nàng chúa hồ cùng tuỳ tướng Khiên Mây chứng kiến cảnh chàng khách trẻ hạ bọn Lầy, không khỏi thầm phục phong độ, tài ba chàng ta. Võ Kiều Loan vốn từ thuở nhỏ từng theo chân sư mẫu dọc ngang bốn phương khắp mấy cõi biên thuỳ Việt – Trung – Lào, nàng ta gặp rất nhiều cao nhân dị sĩ nhưng về tài bắn có lẽ chưa ai sánh kịp chàng này, chưa kể còn thân pháp nhanh như điện chớp và thủ pháp chế ngự đối phương cực kỳ chính xác hữu hiệu!
Hai nàng trả tiền đò, dắt ngựa lên. Anh lái vẫn chưa hoàn hồn, vội chống sào quay mũi thuyền chèo đi như bị ma đuổi. Kiều Loan khẽ gật đầu chào chàng khách lạ, khen:
- Ông giỏi quá! Hạ được cả bọn chúng chỉ trong nháy mắt, tài nghệ như ông chắc trên đời chẳng có mấy người! Xin thành thật cảm ơn. Nếu không có ông chắc chị em chúng tôi gặp… chuyện rắc rối với chúng!
Chàng áo chàm bật cười hồn nhiên bảo chàng:
- Cô quá khen đó thôi! Tôi cũng chỉ võ vẽ vài đường gọi là để phòng thân. Chuyện bắt buộc đối với kẻ trôi nổi phong hồ! Xin hai cô đừng nói chuyện ơn nghĩa bởi… nếu không có ngu mỗ trên chuyến đò vừa rồi hai cô đâu có gặp bọn chúng! Mục tiêu bọn thằng Lầy nhắm là tôi!
Chàng trai chợt nhìn thẳng vào mắt nàng chúa hồ, thấp giọng:
- Thực ra, nếu tôi có bó tay trước bọn chúng thì hai cô cũng động thủ, đúng không?
Chỉ mới gặp tôi biết bản lãnh hai vị tiểu thư không tầm thường đâu!
Bốn mắt chạm nhau, tự nhiên Võ Kiều Loan thấy lúng túng, một điều kỳ lạ mà trước đây nàng chưa bao giờ gặp phải. Lòng nàng cảm nghe vừa dâng lên một nỗi xúc động nao nao, ấm áp… Mặt hoa chợt nóng bừng, Kiều Loan chớp chớp hàng mi cong vút lảng tránh ánh mắt chàng áo chàm, trỏ tên trùm thổ phỉ, hỏi:
- Ông định xử trí tên này ra sao?
Chàng áo chàm phác một cử chỉ buông gọn:
- Tôi đã có cách! Chiều muộn rồi, nếu hai cô gấp xin cứ lên đường trước! Nhớ lưu ý đề phòng, đường từ đây vào đến miền sơn lâm Phi Mã Ác dạo này thường có bọn đạo tặc lai vãng cướp bóc! Chúc hai cô thượng lộ bình an!
Chàng mỉm cười ra dấu chào tạm biệt hai thiếu nữ. Kiều Loan nắm dây cương tần ngần giây lát, hỏi:
- Dám mong ông cho chị em tôi được biết… quý danh để ghi nhớ… kỷ niệm buổi chiều nay!
- À… Chàng trai lạ có vẻ bâng khuâng – Bèo nước gặp nhau là chuyện bình thường, nhưng nếu cô đã hỏi ngu mỗ đâu tiện dấu… Ngu mỗ họ Trương tên Hồng Kiệt! Còn nhị vị tiểu thư?
Nàng chúa hồ khéo léo kể vắn tắt tên mình và nàng tuỳ tướng. Đoạn như bị thôi thúc nàng hỏi tới:
- Ông… chắc không phải người vùng này? Nghe khẩu âm tôi đoán… ông là người miền xuôi?
- Cô thông minh lắm, đoán gần đúng! Vâng, mẫu thân tôi gốc người đồng bằng Bắc Việt, còn phụ thân người vùng khác! Tôi ở xa lắm, tận bên Vân Nam, chuyến này về nước có chút việc riêng!
Khách áo chàm vui vẻ đáp, vẻ phóng khoáng hiện rõ trên gương mặt đẹp ngang tàng đượm nét phong trần. Chừng chàng trai thú vị trước nhận xét của Võ Kiều Loan. Nàng chúa hồ nhíu đôi mày liễu suy nghĩ, vùng buột miệng kêu khẽ đầy sửng sốt:
- Họ Trương… ở Vân Nam… võ công, tài bắn siêu quần… Phải ông là Tiểu Thần Xạ Trương Hồng Kiệt – con trai trưởng vị chúa núi Thập Vạn khét danh Bắc Thần và phu nhân Bạch Y Nương?
Chàng áo chàm gật đầu cười gượng:
- Đúng vậy, nhưng… danh hiệu Tiểu Thần Xạ là do anh em thương mà đặt cho chớ kẻ này đâu có tài ba gì!

Thầy trò Kiều Loan, Khiên Mây trao đổi nhau một cái nhìn ngụ ý. Chàng áo chàm là nhân vật khét tiếng Tiểu Thần Xạ trong thiên hạ, được chân truyền tuyệt học võ công cùng bí quyết tác xạ vô địch của Thần Xạ Đại Sơn Vương Trương Hồng Lĩnh - Trần Phượng Kiều, hai nhân vật võ lâm mà tài ba cùng đức độ được cả hai phe chính tà kính nể! Thảo nào chàng ta bắn rơi súng bọn Lầy trong nháy mắt!
Khiên Mây hồn nhiên bày tỏ lòng ngưỡng mộ, tấm tắc khen. Tiểu Thần Xạ Trương Hồng Kiệt vội xua tay gạt đi. Chuyện trò giây lát, nàng chúa hồ ngỏ lời từ biệt, cùng tuỳ tướng lên ngựa bôn hành.
Chàng trẻ tuổi yên lặng trông theo bóng hình hai thiếu nữ xa dần… rồi hút chìm trong nắng nhạt chiều hôm…
Tự dưng ánh mắt chàng phảng phất nét ưu tư, man mác… Đâu đây có tiếng chim rừng lạc bầy kêu lên rời rã, bâng khuâng.
CHƯƠNG 6 - TRUY LÙNG QUÁI VẬT
Màn đêm phủ trùm lên vạn vật từ lâu. Núi rừng chìm sâu trong cảnh âm u tịch mịch. Thỉnh thoảng một tiếng hoẵng kêu “hoăng… oăng…” nghe lạc lõng, mơ hồ.
Võ Kiều Loan cùng nàng tuỳ tướng vẫn mải miết ra roi phóng về phía trước. Ngựa phi nước đại, vó câu khua trên lối mòn xuyên sơn vang lên sạo gợn. Xa xa, ngọn Phi Mã Ác Sơn (Pi U Uác) sừng sững vươn lên như hình thù con quái vật khổng lồ hếch mũi ngửi trời khuya.
Trăng liềm hạ tuần từ từ hiện ra. Trời lộng gió. Kiều Loan ghìm tay cương cho ngựa phi nước kiệu bảo Khiên Mây:
- Kiếm bản làng nào nghỉ qua đêm, ngựa mệt rồi!
Hai người thúc ngựa lên một gò cao, phóng tầm mắt quan sát. Tít hướng đông bắc, cách hai ba ngọn đồi thưa có đốm lửa chập chờn giữa đêm rừng hiu quạnh.
- Ta tới đó đi, Mây! Chắc bản Thổ hay bản Mường gì đó!
Ngựa vọt đi liền. Độ nửa giờ sau bản Thổ hiện ra trên sườn đồi trước mặt. Bản này khá đông, khoảng gần trăm nóc nhà sàn nằm rải rác từ sườn đồi xuống thung lũng, nhà nào cũng cao lớn như nhà lầu dưới miền xuôi, gầm sàn đều có nuôi gia súc. Mọi nhà dường như đã như đã ngủ hết, chỉ một căn còn leo lét ánh đèn.
Kiều Loan, Khiên Mây vừa thả kiệu băm đến đầu bản bỗng nghe “tách! phập!”, một phát tên nỏ cắm phập vào thân cây trước đầu ngựa. Hai nàng giật mình lùi lại.
Nàng Mây kêu lớn bằng tiếng Thổ:
- Ai đó, đừng bắn! Chị em tôi lỡ độ đường ghé trọ nhờ đây!
Im lìm hơn phút, có tiếng đàn ông cất lên dõng dạc:
- Đi mấy người, nói mau!
- Hai – Nàng tuỳ tướng mau mắn đáp – Chúng tôi đi săn, lỡ đường!
Có tiếng xì xầm bàn bạc rồi ánh lửa bùng lên, năm sáu người vạm vỡ, xách cung nỏ, súng săn chạy ra. Một thanh niên ra dáng chỉ huy giơ cao ngọn đuốc ngó kỹ hai nàng, dịu giọng hỏi:
- Hai cô người miền xuôi?
- Vâng, chúng tôi muốn trọ nhờ qua đêm!
Kiều Loan ôn tồn trả lời. Chừng đã yên tâm vì khách lạ chỉ là hai thiếu nữ xinh đẹp, người thanh nhiên nhã nhặn, mời hai cô gái vào bản. Hai nàng xuống ngựa đi theo, thầm nghĩ vùng này chắc đang có biến cố gì đây nên dân bản phòng thủ có vẻ nghiêm ngặt. Đến một căn nhà thắp đèn sáng, một ông già Thổ trạc lục tuần, khoác chiếc áo dạ đầu chít khăn, nom quắc thước đường bệ ra đón. Kiều Loan đoán chừng đó là ông “Phìa” - người đứng đầu bản này – Không đợi ông lão hỏi, người thanh niên nói luôn:
- Thưa cha, hai cô nương đây đi săn lỡ đường xin trọ nhờ qua đêm!
Ông già nheo mắt dòm, gật gù:
- Được! Bảo chúng thu xếp chỗ nghỉ cho quý cô!
Hai nàng vội ngỏ lời cám ơn. Ông lão thấy hai cô gái xinh đẹp vẻ quý tộc người Kinh, lại nói thạo cả tiếng Thổ, nên chừng cũng mến khách, truyền gia nhân dọn một phòng riêng ngăn nắp sạch sẽ cho hai cô khách, lại mang lên một mâm lớn đủ cả cơm, đồ ăn, thịt lợn rừng nướng, đích thân ông già Phìa ngồi tiếp. Chủ khách vừa ăn vừa trò chuyện cầm chừng. Nàng chúa hồ để ý thấy ông lão lâu lâu lại dỏng tai nghe ngóng, vẻ lo lắng bồn chồn như đang chờ đợi một điều gì bất trắc sắp xảy ra, bèn lựa lời hỏi. Ông già Phìa thở dài kể:
- Hà, hai cô khách từ xa tới không biết đó. Bản này bao năm qua sống trong yên lành, bỗng dưng tai họa giáng xuống, chỉ trong vòng một tuần lễ xảy ra liền mấy vụ mất tích hết sức bí ẩn, nạn nhân hầu hết là những cô gái hoặc đàn bà xinh đẹp! Hà… người thì đi rẫy không về, tìm không thấy, người thì đang ngủ trong nhà đột nhiên biến đâu mất! Mới đêm qua có nhà đang ngồi ăn cơm tối, thình lình rào một cơn gió, đèn đuốc tắt hết, khi thắp sáng lại được thì đã mất người! Chính vì vậy dạo này chúng tôi phải canh gác kỹ như hai cô vừa thấy!
Nghe ông Phìa kể, nàng chúa hồ chợt động lòng suy nghĩ, mặt hoa vụt trầm hẳn xuống. Chuyện đàn bà con gái bản Thổ này bị mất tích kích động óc hiếu kỳ và cả sự phẫn nộ trong lòng Võ Kiều Loan. Bình sinh nàng rất căm ghét những kẻ dâm tà bại hoại. “Vạn ác dâm vi thủ” – Trong vạn điều ác thì cái dâm đứng trên hết, đó là điều Kiều Loan thường xuyên răn đe kẻ dưới. Đương nhiên kẻ gieo rắc tai hoạ cho phụ nữ lương thiện nơi đây chắc chắn không ngoài mục đích xấu xa đó. Và theo nàng suy luận, thủ phạm phải là kẻ cao bản lãnh, một cao thủ tà phái mới thực hiện các vụ bắt cóc dễ dàng như vậy! Nàng chúa hồ chạnh niềm đau thân thế, liên tưởng chuyện thảm mười tám năm xưa… một chiều loạn rừng, thân mẫu nàng bị sa tay quái vật đười ươi chúa…!
Nàng hít một hơi thật sâu, nén ngọn lửa giận đang bùng lên, chìm giọng bảo ông già Phìa, mắt phượng long lanh cương quyết:
- Xin Phìa cho phép chúng tôi lưu lại bản ít ngày để cùng chung sức trừ nạn dữ! Cứ theo lời cụ kể, tôi nghĩ thủ phạm là kẻ giỏi võ, rất giảo quyệt. Chúng tôi muốn bắt hắn đền tội, e rằng... Nói cụ bỏ qua cho, dăm tay súng săn với vài chục tay cung nỏ bình thường không dễ làm nổi!
Ông lão trố mắt kinh ngạc dòm sững nàng. Việc cô khách xinh đẹp yểu điệu này tỏ ý giúp dân bản trừ nạn chừng quá bất ngờ đối với ông. Những tưởng khi nghe chuyện bất trắc cô ta sẽ kinh hoảng, nào ngờ...
Ông Phìa cảm động, nói giọng ái ngại:

- Cám ơn! Cám ơn cô khách trẻ có lòng thương dân bản nhưng dẫu sao... già này không muốn hai cô khách lụy đến thân! Tai hoạ ghê gớm lắm, chúng tôi có nhiều người khoẻ mạnh mà còn không ngăn nổi “nó”, huống chi... Già định khuyên hai cô khách sáng mai gấp quay về, đừng đi săn tại vùng này, lỡ chẳng may...
Nàng chúa hồ vội ngắt lời trấn an lão:
- Cụ đừng ngại! Chị em tôi từ nhỏ đã được học qua vài đường quyền cước nên tuy là phận nữ nhi mà sức lực cũng không thua kém giới nam tử mày râu cho lắm! Xin cụ hãy yên tâm!
Thấy Kiều Loan tỏ thái độ cương quyết, ông già Phìa bất đắc dĩ phải ưng thuận tuy vẫn không hẳn tin hai cô khách đủ tài sức cứu giúp. Lão chép miệng buồn bã nói như than:
- Ôi! Số trời định sẵn! Già đâu muốn quý khách gặp chuyện chẳng lành... Ôi, số trời! Thay mặt dân bản, già xin cảm tạ tấm lòng vì nghĩa của quý khách trước!
Dứt lời, ông già Phìa chắp tay thi lễ. Nàng chúa hồ ngăn lại, an ủi ông già làng chất phác tốt bụng. Đoạn nàng nhỏ giọng thì thầm căn dặn một hồi. Ông Phìa nghe xong gật gù khen phải, bước ra gọi người thanh niên khi nãy vào truyền lệnh đến từng nhà có đàn bà con gái trẻ bảo tập trung lại ngủ tạm nhà lão phòng bất trắc!
Chỉ lát sau hơn hai chục người đã tề tựu trước sân nhà Phìa. Ông già cho tất cả vào ngủ trong căn phòng chính, rộng nhất, giữa phòng có bếp lửa. Cửa chính, cửa sổ đều đóng chặt, chỉ chừa lại một cái khép hờ như vô tình để sót. Kiều Loan đề nghị bọn trai tráng tiếp tục canh gác bí mật quanh bản, phần nàng cùng Khiên Mây thay đổi y phục, mặc như gái Thổ nằm ngủ chung với đám đàn bà con gái bản, mỗi nàng trấn một đầu. Riêng ông Phìa nằm phòng bên cạnh, trong chăn dạ thủ sẵn một cây nỏ lớn và... chờ xem.
Trời về khuya, trăng lưỡi liềm vàng bệch. Sương chăng ngang đồi như những dải “voan” mờ xám. Cả một vùng núi rừng lạnh ngắt, bốn bề quạnh quẽ. Thỉnh thoảng một tiếng hổ gầm “à uôm!” từ xa vọng về nghe chờn chợn giữa đêm rừng âm u, huyền bí...
Võ Kiều Loan nằm đắp chăn thổ cẩm ngang ngực, cạnh nàng cả dãy đàn bà con gái dần dần ngủ thiếp đi hết. Đầu óc nàng chập chờn bao ý nghĩ từ chuyện thù nhà chưa trả, số phận mẹ hiền chưa rõ ra sao... đến chuyện ba quân thuộc hạ, nghĩa lớn chưa tròn... và quyện lẫn trong những dòng suy tưởng đó còn phảng phất hình bóng chàng áo chàm con trai vị chúa núi Thập Vạn, Trương Hồng Kiệt!
Bỗng một tiếng động vang lên rất khẽ, tựa tiếng lá rơi bên hông nhà. Nàng chúa hồ lập tức chú ý, lắng tai nghe ngóng. Có tiếng chân di chuyển êm như mèo đi, phải tinh lắm, phải có thính giác của bậc võ nghệ thượng thừa mới nhận ra. “Tên này thuộc loại có hạng đây!” - Võ Kiều Loan tự nhủ thầm, phỏng đoán tài nghệ kẻ gian qua thuật khinh hành y vận dụng.
Gian tế lướt êm một vòng quanh nhà rồi dừng lại ngang khung cửa sổ khép hờ, rõ ràng y đã phát hiện chỗ này không có cài then. “Kẹt... ẹt...”, tấm liếp che bị nâng lên nhè nhẹ, mùi hương hoa cây cỏ rừng đêm theo gió lùa vào phòng. Một cái đầu hiện ra sau chấn song trùm khăn kín mít, chỉ để hở hai lỗ mắt lấp lánh như mắt mèo đêm. Y quét nhỡn tuyến một lượt đoạn rút một vật đen xì dài hơn gang tay, tròn tròn như ống tiêu, chĩa vào bấm khẽ “tách” một cái, một vệt trắng xám mỏng như sương khói toả ra lan nhanh đến chỗ bọn đàn bà con gái ngủ thoảng mùi thơm hăng hắc, ngây ngất...
“Mê hồn hương!” Võ Kiều Loan liền vận công bế huyệt, phong toả hô hấp, ngưng thần chờ đợi. Hơn phút trôi qua, độ chừng khói mê đã ngấm, bóng lạ đưa tay búng liền mấy cái. “Rắc! Rắc! Rắc!” cả hàng chấn song gãy lìa dạt qua bên. Y đu vèo vào trong êm ru. “Tách!”, y chiếu lia đèn bấm, soi từng mặt gái Thổ, gật gật đầu vẻ đắc ý hết sức.
- Hà! Lão Phìa ngu ngốc, tưởng gom cả lũ ngủ chung là giữ được, càng tiện cho ta khỏi lùng kiếm từng nhà! Dễ chọn!
Y lầm bầm trong cổ họng, tiến lại chỗ nàng chúa hồ, Kiều Loan vờ nhắm mắt, vệt đèn dừng trên khuôn diện đẹp tuyệt trần của nàng. Im mấy giây, bóng đen sửng sốt bật kêu nhỏ:
- Tuyệt sắc giai nhân! À, không ngờ bản này lại có nàng đẹp như vầy! Tây Thi, Tức Vĩ ngày xưa chắc không hơn nổi! Một nàng này giá trị hơn trăm gái đẹp trong thiên hạ! Vận may! Vận may!
Y ngồi thụp xuống thò tay nhón mép chăn thổ cẩm đắp hờ trên người Kiều Loan... “Bốp!”, nàng chúa hồ thình lình vung tả thủ tát mạnh vào mặt y, tay kia bắt dính luôn cườm tay đối phương giật mạnh cái, hất bổng thân hình cao lêu nghêu, cùng lúc chân phải nàng tung bồi thêm một ngọn cước trúng bụng y. Bóng lạ rơi “rầm” xuống, rung chuyển sàn nhà. Cây đèn bấm văng lăn lóc một nơi. Định tâm bắt sống nên Kiều Loan ra đòn còn nương, tuy vậy bóng lạ vẫn gượng dậy ôm bụng rên rỉ.
Thấy nữ chúa ra tay, Khiên Mây cũng vọt lại, tay chiếu đèn, tay vung trảo chộp tới.
- Coi chừng, Mây!
Nàng chúa hồ giật giọng gọi cô tùy tướng. Quả nhiên bóng lạ thất thần chồm lên, hoa tay gạt phăng trảo thủ Khiên Mây, chân quét luôn một ngọn “Tảo diệp cước” mạnh như sấm sét. “Bịch!” nàng Mây bị tung vào vách đổ sụm. Kiều Loan cả giận xẹt tới, chân chưa chạm sàn song quyền nàng đã tung ra cực kỳ dũng mãnh. Bóng lạ chừng nao núng trước thế công vũ bão của nàng, y vừa đỡ vừa lùi, vẻ muốn kiếm đường thoát thân. Kiều Loan bám theo đánh tới tấp, đang dùng cương kình bỗng nàng chuyển sang nhu, quyền pháp trở nên mềm mại, biến hoá khôn lường khiến bóng lạ càng lúc càng thêm bối rối... “Phạch!” vai y bị một phát chưởng vỗ trúng, lảo đảo, toàn thân muốn rũ liệt, khí lực phân tán, phải dựa lưng vào cột thở dốc, vẻ kinh sợ hiện rõ trong ánh mắt:
- Hừ! Giỏi lắm! Nàng... là ai? Không thù oán... sao giả gái Thổ lừa ta?
- Ngươi ỷ tài võ, bắt cóc đàn bà con gái lương thiện, làm chuyện xấu xa bại hoại, ta trừ khử ngươi cũng là lẽ công bằng trong trời đất!
Võ Kiều Loan gằn giọng đanh thép, hữu chưởng múa lên vẽ một đường tròn trong không khí nhắm mặt bóng lạ đánh tới, y gắng gượng xoay đầu tránh nhưng nàng chúa hồ vụt biến chưởng thành chỉ điểm thốc vào yếu huyệt trước ngực đối phương. Bóng lạ rũ xuống luôn. Kiều Loan nhặt đèn bấm, giật soạt vải trùm mặt kẻ gian, hiện rõ một gương mặt trắng lốp như trát phấn, trông hết sức kỳ dị vì những đường nét trên mặt y không ra nam mà cũng chẳng ra nữ, như mặt các tay hoạn quan thời xưa thường gặp trong tranh vẽ.
- Hừ! Bán âm bán dương... chắc mười phần y là tên đạo tặc “Bạch Diện Cô”, ái nam ái nữ chuyên bắt người đem bán!
Nàng chúa hồ khinh bỉ đưa châm điểm thêm mấy trọng yếu huyệt trên người y, phòng trường hợp gian tế có thể vận công tự giải khai huyệt đạo phong toả, đoạn quay sang xem xét vết thương cô tuỳ tướng. Đòn đá quét của tên đạo tặc làm Khiên Mây bầm tím bắp chân, trật khớp gối, không đến nỗi trầm trọng. Kiều Loan vốn khá thông thạo về y lý cổ truyền, chỉ nắn xoa ít phút cô gái đã đỡ nhiều, gượng đi đứng được. Xong, nàng qua phòng bên cạnh gọi ông Phìa. Ông lão thủ tên nỏ nằm đợi gian tế ngờ đâu cũng hít nhằm khói mê lùa vào nên thiếp ngủ đi lúc nào chẳng hay, nàng chúa hồ lay mãi mới tỉnh dậy, ngơ ngác dòm quanh hỏi:
- Nó đến chưa? Sao lạ quá, lão đang nằm đợi tự dưng... ngủ thiếp đi?
Hai nàng nhìn nhau cười. Kiều Loan kể vắn tắt sự việc cho ông lão nghe đoạn chỉ gian tế, buông gọn:

- Giờ cụ Phìa cho mượn tạm phòng này, tôi cần tra hỏi xem y đem những người bị bắt cóc đi đâu! Có thể y còn giấu quanh vùng này chưa đem đi xa! Tạm thời cần giữ nguyên các trạm gác quanh bản đề phòng y còn đồng bọn lẩn khuất gần đây!
Theo lệnh nàng, Khiên Mây cùng ông Phìa mở tung các cửa sổ, lấy quạt xua hết khói mê, nhưng không đánh thức bọn đàn bà con gái đang ngủ, tránh gây kinh động cả bản. Kế đó hai người lôi gian tế qua phòng bên. Ông già rất đỗi kính phục, không ngờ hai cô khách trẻ đẹp lại tài ba, bản lãnh đến vậy.
Nàng chúa hồ cắt Khiên Mây ở ngoài canh giữ đám phụ nữ, phòng bất trắc xảy ra, còn ông Phìa ở lại dự cuộc tra hỏi kẻ gian.
Kiều Loan bảo ông già dùng dây gân bò trói quặt hai tay y vào cột nhà để ngồi trên một cái ghế thấp, trước mặt kê một cái bàn độc có cắm hai ngọn nến.
- Giờ Phìa lại đó ngồi chờ xem, nhớ giữ yên lặng đừng lên tiếng.
Nàng chỉ góc phòng xế sau cột, ông già y lời làm theo, bụng thấp thỏm chưa hiểu cô khách sẽ dùng cách nào bắt gian tế khai.
Kiều Loan vung tay phát kình đánh tắt đèn đuốc trên vách, chỉ chừa lại hai ngọn nến đỏ khé toả ánh sáng mờ ảo trong gian phòng tối. Nàng ngồi xuống đối diện tên bắt cóc, giải huyệt mê cho y tỉnh lại. Gian tế mở choàng mắt ngơ ngác ngó quanh mấy giây rồi như sực nhớ tới việc vừa qua y định vùng dậy nhưng tứ chi rũ liệt không cử động nổi, lại thêm sợi dây gân bò bền chắc trói chặt hai tay vào cột. Y đưa mắt gườm gườm nhìn Võ Kiều Loan, nàng chúa hồ nghiêm nét mặt khô giọng nói:
- Bạch Diện Cô! Ngồi yên, ta có điều muốn nói!
Chừng ngạc nhiên vì cô gái đẹp nói trúng biệt danh mình, tên Bạch Diện Cô trố mắt dòm sững hồi lâu, khẽ “hừ” một tiếng, nhếch mép cười gằn, cất giọng the thé:
- Khá lắm! Gái đẹp cũng biết ta ư? Hừ! Bất tất phải nhiều lời, đã bắt được bản cô gia thì cứ giết đi! Đừng hòng ta trả lời!
Y hất mặt vẻ thách thức ngạo nghễ sẵn sàng chờ đợi mọi sự tra khảo. Nàng chúa hồ cười lạt, mắt phượng vụt xếch lên, phát tia nhìn uy mãnh chiếu thẳng vào mắt y như xoáy tận chiều sâu tư tưởng kẻ đối diện. Soạt cái, một mũi dao găm nhọn hoắc, sắc như nước nằm gọn trên tay nàng. Bạch Diện Cô thoáng rùng mình chờn chợn. Trong vùng sáng chập chờn, gương mặt đẹp tuyệt trần bỗng trở nên dữ tợn lạ lùng. Hai con mắt nàng phút chốc đã thành hai đốm lửa nóng bỏng thiêu đốt nghị lực trong y. Cố thu hết can đảm y nghiến răng chịu đựng nhìn trả lại, nhưng chỉ vài giây rồi run lên, bàng hoàng cảm nhận đang rơi vào một cõi giới mơ hồ, khủng khiếp...! Y vùng hiểu muốn kêu lên nhưng thanh âm không thoát ra ngoài cổ họng. Nàng chúa hồ hoa mũi dao chầm chậm trước mặt y, hơi thép lạnh mơn man trên làn da lành lạnh. Bất thần mũi dao cắm “phập” xuống mặt bàn rung rinh, giọng nàng chợt nổi lên trầm đều, nghe phảng phất như từ cõi giới nào xa xăm lùa về theo hơi gió đêm thu:
- Bạch Diện Cô! Lý trí ngươi hãy ngủ yên cho tiềm thức dâng lên làm sống dậy những gì đã qua. Ngươi hãy kể ta nghe tất cả mọi việc đã làm, chứa đựng trong trí nhớ... Hãy kể ta nghe...!
Tiếng nàng chìm dần, chìm dần như ngấm sâu vào tâm linh Bạch Diện Cô. Cặp mắt phượng quắc lên càng lúc càng thêm bốc cháy, ngùn ngụt lửa.
Mờ sáng hôm sau, trong khi bản làng còn yên giấc, một tốp bảy bóng người ngựa lặng lẽ lên đường nhắm thẳng hướng ngọn Phi Mã Ác Sơn rong ruổi. Dẫn đầu là hai cô gái, một áo trắng, một áo xanh; theo sau năm trai làng khoẻ mạnh, gân guốc, người nào cũng võ trang đủ cung nỏ, dao rừng, súng kíp...
Theo lời kể trong trạng thái bị khống chế tinh thần của tên đạo tặc ái nam nữ Bạch Diện Cô thì cả bốn nạn nhân bị bắt cóc đều chưa bị mang đi xa. Y giấu họ trong một hang kín, giao cho ba thủ hạ canh giữ, định chờ bắt thêm mấy nàng nữa sẽ “giao hàng” cho bọn buôn người vượt biên giới sang nhận. Bạch Diện Cô khai y luôn luôn thực hiện việc bắt cóc một mình, ba tên thuộc hạ - cũng thuộc loại “đồng cô bóng cậu” như y - chỉ làm nhiệm vụ giữ “hàng” bởi chúng kém lanh lợi và võ nghệ quá tầm thường, dễ làm hỏng việc!
Nắm rõ tình hình sự việc y khai, Võ Kiều Loan bảo ông Phìa chọn trong đám trai làng lấy bốn người gan lỳ nhất, thạo đường cùng người con trai ông theo nàng và Khiên Mây đi cứu người. Còn tên Bạch Diện Cô, Kiều Loan triệt phế võ công y, giao ông Phìa nhốt lại chờ xét xử trị tội.
Mặt trời dần dần lên cao, nàng chúa hồ ghìm cương trước một hẻm núi, ra hiệu cho cả bọn dừng lại, trỏ ngọn Phi Mã Ác hùng vĩ trấn ngang trước mặt, trải rộng cả một vùng lâm tuyền sơn kỳ thuỷ tú, vượt hẳn lên trong rặng Ngân Sơn như một kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp những cũng không kém phần hiểm trở, vừa lôi cuốn vừa đe doạ khách đăng sơn. Kiều Loan cất tiếng hỏi:
- Sắp đến rồi! Cứ như lời gian tế khai, y giấu người trong hang bên mé triền đông khoảng lưng chừng núi. Chúng ta sẽ tìm chỗ khuất dấu ngựa quanh đây rồi lên núi. Có ai thuộc địa thế hướng đó?
- Thưa, tôi đã có lần đi săn mạn đó cách nay mấy năm, bên triền đông đỡ dốc hơn chỗ khác, có cả lối mòn bọn tiều phu săn bắn thường lên!
Người con trai ông Phìa lễ phép nói. Từ lúc biết nàng giúp dân bản bắt sống được gian tế, anh ta tỏ ra vô cùng kính nể, xem Kiều Loan như vị cứu tinh của toàn bản. Mấy trai làng kia cũng vậy.
Bọn Kiều Loan xuống ngựa kiếm chỗ hốc núi kín đáo buộc ngựa lại. Xong, họ bắt đầu tiến lên núi theo hướng triền đông.
Như hầu hết các rặng núi vùng thượng du đất Bắc, ngọn Phi Mã Ác được thiên nhiên cấu tạo gồm nhiều đất pha lẫn với đá. Triền núi hướng này có khoảng nhiều đất nên cỏ hoa cây cối tươi tốt lạ thường. Con trai ông Phìa vung dao rừng phát dây leo, cành lá mở đường dẫn cả bọn lần theo lối mòn vượt lên. Mấy người trai Thổ toàn tay khoẻ lại sinh trưởng ở miền núi nên trèo rất giỏi, cả giờ không mệt. Về phần hai nàng vốn bản lãnh công phu thâm hậu, dù chưa vận dụng thuật phi hành vẫn ung dung thoải mái như đi trên đất bằng.
Khoảng xế trưa cả bọn lên tới một vùng cây cỏ rậm rạp, phía trên là vách đá cheo leo sừng sững, lối mòn dứt ở đây. Nàng chúa hồ vọt lên một mỏm đá đưa mắt quan sát bốn bề, vụt sáng mắt nhảy xuống khoát tay bảo bọn trai Thổ:
- Tới rồi! Địa thế đúng như y kể! Giờ chia hai toán, năm người theo hướng này, chị em tôi sẽ theo hướng kia! Nếu tìm được hang chúng ẩn hãy lừa hạ chúng, cẩn thận, tránh gây nguy hiểm cho những người bị bắt. Sẽ gặp lại tại chỗ này, báo hiệu với nhau bằng ba phát súng nổ liền.
Người con ông Phìa nhận lệnh dẫn bọn trai Thổ đi liền. Võ Kiều Loan cùng nàng tuỳ tướng trổ thuật khinh hành lướt đi êm chừng vài trăm bộ, nàng chúa hồ chợt ngừng lại chỉ dấu cỏ dập nhầu dưới chân nhỏ giọng:

- Dấu còn mới nguyên! Đúng bọn chúng ở quanh đây!
Hai nàng lần theo dấu một quãng dài, tới một lùm cây lớn, bỗng nghe tiếng nước chảy róc rách, Kiều Loan vén cành lá nhìn. Phía trước có một dòng suối chảy từ ruột núi ra lượn vòng thúng ôm quanh một hang núi khá lớn, cao hơn đầu người cả sải tay. Ngay trước cửa hang có hai gã đang lui cui nấu cơm. Cả hai ăn mặc rất diêm dúa, áo hoa sặc sỡ, thắt lưng điều, nhác trông tưởng kép hát, phường tuồng trên sân khấu.
- Chúng kìa! Phải tìm cách hạ êm đừng để chúng kịp phòng bị! Chắc trong hang còn một tên nữa!
Nàng chúa hồ ghé tai Khiên Mây thì thào, óc đảo cơ mưu tính kế. Tài nghệ bọn thủ hạ Bạch Diện Cô không đáng kể, hạ chúng dễ như trở bàn tay, việc đó một mình cô tùy tướng làm cũng được. Nhưng cần tránh trường hợp chúng thấy nguy làm càn hại đến tính mệnh mấy người bị bắt hoặc chúng có thể khống chế họ để gây áp lực ngược lại.
Vụt loé lên một ý, Kiều Loan ghé tai cô gái tuỳ tướng dặn nhỏ, Mây tươi nét mặt gật lia đoạn quay lui phóng đi. Kiều Loan yên lặng theo dõi chờ đợi, cách nàng chừng năm chục bộ hai tên kia vẫn loay hoay nấu nướng, không hề biết những điều sắp xảy ra…
Bỗng dưng có tiếng ai hát vang lên từ xa vọng lại, một lúc thêm gần, rõ giọng cô gái thánh thót như tiếng suối chảy nghe êm tai vui tươi trong một bài ca của người Mán. Võ Kiều Loan hơi mỉm cười với ý nghĩ “…nàng Mây mặc áo quần gái Kinh nhưng hát bài ca sơn cước!”
Hai gã ngoài kia lập tức ngừng tay nghe ngóng, xì xầm với nhau, rồi bỏ mặc nồi niêu bếp lò đó, hăm hở lần về phía có tiếng hát.
Chúng vừa đi khuất, nàng chúa hồ liền tung mình nhảy qua suối vọt nhanh tới bên cửa hang, nép sát dòm vào. Lòng hang khá rộng, hơn ba thước tây, ánh nắng ban trưa hắt sâu vào sáng loang lổ từng khoảng. Ngay xế ngoài, một tên đang ngồi dựa vách ngủ gật, súng trường gác ngang trên đùi. Tên này cũng mặc quần áo sặc sỡ như hai tên kia, mặt mũi thoáng nhìn đã biết thuộc loại “ái nam ái nữ”, “đồng cô bóng cậu.”
Cách y vài thước, bên trong, mấy cô gái Thổ ngồi chụm vào nhau, cô nào thần sắc cũng ủ rũ buồn rầu, thỉnh thoảng lấm lét ngó ra ngoài, vẻ âu lo cho số phận.
Kiều Loan cúi nhặt một viên đá nhỏ búng “véo” trúng ngay huyệt nhân trung tên gác, gã há hốc miệng, ngất liền tức khắc. Nàng xẹt luôn vào, nhặt khẩu súng, xua tay trấn an bọn gái đang run rẩy vì sợ hãi.
- Đừng sợ! Ta đến cứu các nàng đây!
Nàng bước lại nhìn kỹ, cả năm cô đều bị xiềng dính cổ tay vào nhau thành một xâu. Chừng nhận thấy người lạ cùng là phái nữ, tuyệt đẹp lại không có vẻ ác ý, một cô rụt rè đưa tay lên:
- Bẩm… Chúng em bị “nó” xiềng…
- Để ta liệu xem.
Kiều Loan quỳ một chân xuống, hai tay nắm hai đầu sợi dây xích. Nàng hít một hơi dài, vận công thật mạnh… “bựt”, xích đứt lìa! Cứ như vậy, lần lượt mấy đoạn xiềng đứt hết. Năm cô Thổ mừng rỡ cùng phục luôn xuống nền hang định tạ lễ nhưng nàng gạt phăng đi trầm giọng bảo:
- Không nên! Hiện chúng còn hai tên nữa ngoài kia, để ta ra xem sao!
Ngay lúc ấy, bỗng có tiếng kêu tru tréo, một bóng sặc sỡ lòe loẹt chạy sầm vào. Kiều Loan quay vụt lại đá lia một ngọn cước, y văng “huỵch” vô vách đá đổ dụi xuống gục luôn. Vừa lúc Khiên Mây phóng vào, thấy chủ soái đã hạ xong hai tên, bèn lễ phép thưa, trỏ tên vừa ngất xỉu:
- Bẩm… em đánh gục một tên, tên này bỏ chạy vào đây …
- Xong rồi! Chúng có ba đứa thôi! Em bắn làm hiệu gọi mấy người Thổ kia tới đưa đàn bà con gái về bản!
Võ Kiều Loan quay sang an ủi, căn dặn đám phụ nữ bị bắt vài câu. Khiên Mây y lệnh lấy một khẩu súng trường lên đạn, bước ra ngoài nổ liền ba phát chỉ thiên ròn rã. Tiếng súng chưa vọng âm đã nghe tiếng súng kíp hồi đáp vang dội vách núi.
Độ mười phút sau, bọn trai Thổ chạy tới, Kiều Loan sai trói ba tên thuộc hạ Bạch Diện Cô lại, đoạn bảo người con trai ông Phìa:
- Mọi việc đã xong, giờ hãy đưa mọi người về bản! Mang ba tên này về tuỳ nghi định đoạt chung với tên đầu đảng! Chúng tôi gởi lời chào cụ Phìa, có dịp sẽ gặp lại! Tạm biệt!
Cả đám trai gái Thổ cùng quyến luyến, ngỏ ý mời “hai vị ân nhân” về để bản làng đền đáp ơn nghĩa. Nhiều người rơm rớm nước mắt, vẻ thiết tha chân thành hết sức làm Kiều Loan, Khiên Mây cũng thấy bồi hồi xúc động. Nàng chúa hồ gượng mỉm cười nói qua loa mấy lời giã biệt rồi cương quyết giục họ xuống núi.
- Thôi trễ rồi, về mau kẻo đường xa muộn mất! Lấy thêm ngựa chúng tôi cỡi cho đủ, tới đây bọn này không cần dùng nữa! Chào tất cả!
Thấy không thể lay chuyển ý định của nàng, bất đắc dĩ bọn trai gái đành chào từ biệt, lục tục kéo nhau xuống núi.
Võ Kiều Loan đứng trông theo hồi lâu, miệng hoa phảng phất một nét cười nhân hậu…
Trưa đó hai nàng nghỉ tại hang núi, cơm nước xong cùng lững thững ra suối tắm giặt. Rừng sâu thanh vắng, hai nàng trút bỏ xiêm y ngâm mình trong dòng nước mát lạnh thoang thoảng hương hoa cỏ dại.
Kiều Loan vừa tắm vừa lơ đãng ngước nhìn khoảng trời xanh thăm thẳm trên cao, lãng đãng từng cụm mây trắng bềnh bồng trôi. Niềm đau thân thế lại trỗi dậy quặn xé lòng nàng. Cuộc truy lùng “quái vật đười ươi chúa” giờ đây mới thực sự khởi đầu. Biết tìm “nó” nơi nào giữa núi rừng trùng điệp hoang vu bát ngát? Liệu “nó” còn hay… đã chết, đã trốn đi miền khác? Sau buổi chiều loạn rừng, “nó” bắt mẹ nàng mang di, từ đó hành tung “nó” bặt luôn lẫn trong những điều bí ẩn muôn đời của rừng sâu, không ai còn gặp nữa! Tính mệnh mẹ nàng ra sao khi đã sa tay quái vật…?! Nghĩ tới đó, Kiều Loan càng thêm nghẹn ngào, xót xa.
Nàng Mây thấy chủ soái bỗng dưng sa lệ cũng lặng lẽ cúi đầu cố nén một tiếng thở dài. Theo hầu nữ chúa khá lâu, Mây hiểu rõ tâm tính người thủ lĩnh của mình. Kiều Loan là một con người rất nghiêm minh nhưng giàu lòng nhân ái, luôn thương yêu kẻ dưới.
Ngoài việc điều binh khiển tướng buộc lòng phải cứng rắn để giữ nghiêm quân pháp, trong sinh hoạt hàng ngày nàng chúa hồ cư xử với mọi người đầy lượng cả bao dung. Từ nàng chúa Hai, chúa Ba xuống đến hàng sĩ tốt, ai nấy thảy đềy một lòng kính mến chủ soái. Riêng nỗi niềm bi thương của nàng mà chỉ một số ít người được biết, Mây tự nguyện chia sẻ với chủ xem như vết thương tâm hồn của chính mình! Bởi thế, cô gái xinh đẹp, trong sáng như đoá lan rừng nhất quyết đòi theo chủ lặn lội nơi thâm sơn cùng cốc truy tìm quái vật, dẫu biết sẽ phải đương đầu với bao gian khổ, hiểm nguy.
- Em cứ tắm, ta lên trước!
Kiều Loan vuốt nước trên mặt, bước lên bờ lấy khăn lau khô người. Bỗng nghe “rào rào”, tiếng cành lá lay động bên trên, tiếp liền mấy tiếng “vút! vút!” xé gió lao tới chỗ nàng. Kiều Loan phản ứng cực nhanh, tấm khăn trong tay nàng như một phản xạ vụt phất ra hất tung mấy vật la, cùng lúc đôi chân di động thoắt sang chỗ khác.
Ngẩng mặt nhìn lên, ngay trên chạng ba thân cây lớn xế trước, hai ba con khỉ lớn đang bíu cành trố mắt dòm nàng, một con còn cầm mấy trái rừng giơ cao định ném tiếp! Sực hiểu, nàng chúa hồ nóng bừng mặt, quấn vội tấm khăn ngang ngực che bớt tấm thân khoả lộng đẹp tuyệt trần, quơ nhặt mấy hòn đá ném mạnh, “bốp! bốp”, sức ném của nàng mạnh như chuỳ giáng, lũ khỉ đau kêu chí choé hoảng sợ chuyền cành chạy mất.
Kiều Loan mặc vội quần áo. “Hừ! Khỉ còn vậy huống hồ giống đười ươi!” Nàng bực thầm nghĩ đến mấy con vật ranh ma quỷ quái. Gần gũi với núi rừng từ nhỏ, Kiều Loan không lạ gì giống khỉ. Loài thú này từng gây nên khá nhiều chuyện ly kỳ xung quanh chủng loại chúng, trong đó có cả chuyện khiến đàn bà con gái nghe tới phải… đỏ mặt!
“Chúng là khỉ hoang hay có kẻ nào sai khiến?” Tự nhiên trong trí nàng lởn vởn mối hoài nghi về sự xuất hiện của chúng.
- Nhớ lưu ý đề phòng, Mây à!

Kiều Loan lên tiếng nhắc chừng cô tuỳ tướng. Nàng Mây vẫn hồn nhiên đùa giỡn với dòng nước, vẻ không bận tâm về việc mấy con khỉ dòm trộm vừa rồi. Chừng cô gái muốn tận hưởng cảm giác khoan khoái quen thuộc mà đã nhiều ngày nay, từ khi rời khỏi hồ Ba Bể nàng không có được luôn.
Mây nhoẻn miệng cười với nữ chủ, dạ lia đoạn rướn cong dáng liễu đu mình lên tấm thạch giữa dòng. Thân hình cân đối trắng muốt, sũng nước của cô gái nổi bật trong nắng thu vàng dịu đẹp lồ lộ như một pho tượng khoả thân giữa cảnh rừng Phi Mã Ác hoang sơ u tịch.
Kiều Loan vào trong hang núi ngả lưng nằm nhắm mắt dưỡng thần trên tấm vải “bạt” trải trên nền đất. Linh tính lờ mờ báo cho nàng biết sắp có điều gì đó xảy đến tại đây, dữ nhiều lành ít. Để chuẩn bị đôi phó nàng cần bảo tồn khí lực thật đầy đủ trước đã.
Nàng hít vào chầm chậm, sâu lắng, tập trung tư tưởng vào hơi thở và vận hành khí lực lưu chuyển trong cơ thể…
Kiều Loan mở choàng mắt ra vì những tiếng ầm ì liên tục nổi lên. Khiên Mây đang nhen một bếp lửa giữa lòng hang nhá nhem tối:
- Trời nổi cơn giông, chắc sắp mưa lớn, chị à!
Nàng chúa hồ vươn vai ngồi dậy bước ra ngoài. Sấm chớp vẫn vang rền, gió lộng rít ào ào cuốn tung cành lá, cây rừng nghiêng ngả xao động, nhiều thân cây nhỏ rạp hẳn xuống muốn trốc cả gốc trước sức dữ dội của cuồng phong.
Cảnh vật trở nên hôn ám, ẩm ướt báo hiệu một trận mưa lớn sắp đổ ập xuống núi rừng. “Ầm!”, một tiếng sét cực mạnh nổ tung trong không gian, tia chớp loằng ngoằng sáng rực xé rách bầu trời đen kịt vần vũ.
Mưa bắt đầu trút xuống như thác đổ.
Kiều Loan ngồi xếp bằng nhìn bếp lửa nổ tí tách, cạnh nàng, Khiên Mây cũng trở nên lặng lẽ, mơ màng. Cả hai như cùng thấm dần cái cảm giác tê tái của con người giữa cảnh “mưa nguồn” buồn mênh mang. Trận mưa lớn khủng khiếp, kéo dài đến đêm vẫn chưa dứt.
- Em nằm nghỉ trước! Đêm nay sẽ thay phiên nhau thức canh phòng, giờ hãy để ta!
Kiều Loan chợt bảo cô tuỳ tướng. Biết tính chủ soái, Khiên Mây hiểu điều đó là một mệnh lệnh bèn lui vào góc đắp chăn nằm, khẩu súng gác lên bọc hành lý đặt cạnh trong tầm tay.
Thời gian chầm chậm trôi, nàng chúa hồ thấy bồn chồn, khắc khoải lạ thường, linh cảm mỗi lúc một thêm rõ rệt… Kinh nghiệm qua bao lần vào sinh ra tử đủ để nàng tin vào điều này dù rất khó lý giải một cách tường tận!
Kiều Loan rút khẩu súng lục giấu trong áo ra kiểm tra lại ổ đạn. Nàng ít khi dùng súng. Tuy nhiên tài tác xạ của nàng không tầm thường chút nào, cách xa hai chục bộ có thể bắn trúng một đồng xu bằng đốt ngón tay cái mà không cầm ngắm. Trong hoàn cảnh hiện giờ, chỉ có hai thầy trò, nếu địch đông có lẽ sẽ phải sử dụng tới hoả lực.
Mưa dần dần nhẹ hạt rồi tạnh hẳn. Nàng rút chiếc đồng hồ quả quýt soi dưới ánh lửa. Đã hơn 11 giờ đêm! Từ lúc nào Khiên Mây đã chìm sâu vào giấc ngủ. Cô gái nằm quay ra ngoài, khuôn mặt rạng rỡ dường như đang mỉm cười trong giấc mộng thanh xuân.
Thình lình giữa cảnh đêm rừng tịch mịch vụt nổi lên một chuỗi âm thanh gai gai rờn rợn nghe muốn nổi da gà, mường tượng như tiếng tru hú gào khóc của giống chi quái gở từ cõi âm u nào vọng tới. Tiếng lạ bay vãi trong không gian, lùa thốc vào lòng hang rõ mồn một. Nàng chúa hồ cau chặt mày liễu lắng tai nghe, khoé hạnh trừng trừng nhìn như dán vào vũng tối nhạt nhoà ngoài trời khuya. Thốt nhiên một ý niệm loé lên trong đầu, Kiều Loan đứng phắt lên, lay gọi nàng tuỳ tướng:
- Dậy mau! Có biến!
Khiên Mây vùng dậy chụp nhanh khẩu súng trường, ngó chủ soái chực hỏi, Kiều Loan nhanh giọng thì thào:
- Chuẩn bị chạm địch! Có thể chúng là một lũ quái nhân quái vật chi đó! Hãy bình tĩnh chờ lệnh ta! Em cứ nấp yên trong này chọn một điểm tựa tốt, ta ra đón chúng!
Dứt lời, nàng vọt nhanh ra ngoài. Tiếng tru hú quái gở lúc này càng lồng lộng hơn. Kiều Loan đứng chắn trước cửa hang, thân dáng nổi bật trong màu áo trắng giữa đêm rừng mờ mịt như thách thức đợi chờ.
- Hà hú! Mỹ nhân trốn đâu? Mau ra! Chúa Hầu đón nàng về động! Hà hú… ú…!
Một giọng thé nhọn cất lên cao vút như dùi xiên vào tai người nghe. Tiếp liền một loạt tiếng rào rào, ngay chỗ lùm cây bên bờ kia bờ suối vụt hiện ra những bóng đen lố nhố.
“Một bầy khỉ!” Kiều Loan chú mục quan sát, tự nhủ thầm. Thốt nhiên một luồn hơi nóng cuồn cuộn bốc lên trong lồng ngực nàng cơ hồ muốn nghẹn thở. “Tên cầm đầu lũ khỉ này xưng chúa Hầu, vậy gã có liên hệ với quái vật đười ươi chúa năm xưa không? Theo lời kể của những người chứng kiến, quái vật đười ươi, khi bắt mẹ ta nó xưng là Lâm vương…!” Nàng hít một hơi dài vận dụng ý chí trấn tĩnh xúc động trong lòng. Phàm con nhà võ khi lâm chiến cần tự chủ tuyệt đối, không để tạp niệm chi phối nội tâm, tránh để địch nhận biết và khai thác những sơ hở về mặt tâm lý.
Bầy khỉ từ từ ra khỏi lùm cây tiến sát bờ suối. Cách khoảng ba mươi bộ Kiều Loan thấy gần hai chục con, hầu hết to lớn dềnh dàng. Dẫn đầu là một con cực lớn, cõng trên vai một hình thù ngồi vắt vẻo. Trăng hạ tuần vừa nhô ra khỏi mây, hình thù trông khá rõ. Một gã gầy đét như que củi, tay chân dài ngoằng, tóc dài chấm vai, râu rậm, khoác một tấm da thú chéo ngang người, cổ đeo lủng lẳng một chuỗi sọ khỉ nhỏ bằng nắm tay trông mười phần quái gở, nhất là trong đêm tối, kẻ yếu bóng vía chỉ nhác trông cũng muốn dựng tóc gáy!
- Hà hú! Mỹ nhân đứng đợi chúa Hầu, mỹ nhân không sợ? Ngoan! Chúa Hầu đến đón nàng đây! Hà hà!
Y phá lên cười một tràng dài đắc ý, chân thúc vào hông con khỉ đang cỡi. Con vật rống lên khật khưỡng lội qua suối, cả bầy nhất tề ùa theo.
Kiều Loan vẫn giữ thái độ điềm nhiên không chút nao núng. Lũ khỉ dàn hàng ngang trước mặt nàng chỉ cách vài bước. Gã xưng chúa Hầu nhảy tót xuống nheo mắt ngắm, chừng quá sững sờ trước vẻ đẹp của Kiều Loan, y ngây mặt dòm sững hồi lâu, cặp mắt quái gở như dại hẳn đi, miệng há ra không thốt nên lời.
“Tách!” Ánh đèn bấm bất ngờ vụt loé lên trong tay nàng chúa hồ, chiếu thẳng vào mặt y, chói loà. Y giật mình sực tỉnh, nghiêng đầu tránh, lùi lại kêu lớn.
- Tuyệt sắc! Tuyệt sắc giai nhân cổ kim hãn hữu! Hà hà! Hầu vương Phi Mã Ác đêm nay xuất hành may dữ a! Đại Hắc, mau cõng nàng về động cho ta! Còn một nàng nữa ẩn trong hang mau vào cõng ra đây!
Y hú lên một tràng, lập tức bầy khỉ đột cùng hú theo. Con đầu đàn gật gù bước tới, cùng lúc lũ kia túa ra vây quanh nàng chúa hồ. Kiều Loan đứng trấn trước cửa hang, cây đèn bấm quét lia một vòng xung quanh, hừ nhẹ tiếng, cười khẩy chìm giọng quát:
- Tên kia, nghe ta hỏi: mi là ai? Sao dám xua lũ khỉ tới đây quấy nhiễu?

- Hà, mỹ nhân chắc mới từ thành thị lên nên chưa biết chúa Hầu hùng cứ vùng núi rừng Phi Mã Ác này đã bao năm qua, muôn loài đều thần phục oai danh chúa Hầu! Hà hà, nàng có duyên may mới gặp ta, để ta đưa về động sống đời thần tiên vui cùng tuế nguyệt, lánh xa mùi thế lụy phù vân!
Y tuôn ra một tràng vừa tiếng Thổ vừa tiếng Kinh, khẩu khí cực kỳ kiêu ngạo lại pha chút… “văn vẻ” khiến Võ Kiều Loan không khỏi ngạc nhiên, cười thầm. Nàng chưa hề nghe nói trong dám quái nhân dị khách khắp mấy cõi Ta Tàu có kẻ nào như gã, có lẽ y chỉ là một kẻ khoác lác nơi xó rừng này. Tuy nhiên rõ ràng y thông thạo thuật dạy thú nên mới thu phục được bầy khỉ đột để sai khiến, ngoài ra cặp mắt y phát quang mạnh chứng tỏ có luyện công phu khác lợi hại, không thể xem thường!
Lúc này con khỉ đầu đàn đã tới kề bên nàng, mùi hôi hám khét lẹt của nó phả cả vào khứu giác. Kiều Loan muốn ngộp thở. Nó nhe răng trắng nhởn, quài tay định túm vai “con mồi”.
- Không được làm mỹ nhân đau, Đại Hắc!
Gã chúa Hầu giật giọng quát, dường như hiểu lời chủ, con vật kêu hí hí mấy tiếng, gật gật cái đầu rồi phục luôn xuống xoay lại vỗ vỗ vào lưng như tỏ ý mời nàng ngồi lên để nó cõng. Gã chúa khỉ cười ré lên khoái trá trước cử chỉ khôn ngoan của con vật, gật lia:
- Giỏi lắm! Lát về động chúa Hầu sẽ thưởng cho mi! Mỹ nhân, nàng mau lên cho nó cõng! Đừng sợ…
Y chưa dứt câu bất thần Kiều Loan tung luôn một ngọn cước vào hông con khỉ đột. “Huỵch!” Cả thân hình nó bị kình lực của cú đá Đảo sơn tầm thấp hất đổ lăn kềnh mấy vòng trên mặt đất, rống hộc lên cực kỳ đau đớn. Tiếp liền từ tay nàng nháng lên một vệt sáng hình bán nguyệt bay vụt ra đảo lia một vòng liếm soẹt liền mấy mảng lông của mấy con gần đó. Cả bầy khỉ cùng rú lên thụt lùi, kinh hoảng nhốn nháo trước vệt sáng kỳ lạ di động loằng ngoằng trốc đầu chúng, cứ chạm trúng con nào là hớt phăng cả mảng da lông. Kiều Loan định tâm chém doạ nên chúng chỉ bị thương nhẹ. Nàng điều khiển chiếc liềm phi rất tài tình linh hoạt, khi cao khi thấp khiến lũ khỉ không còn biết đường tránh né, có con sợ quá vùng quay đầu chạy.
- Phi liềm! Mỹ nhân biết thuật phi liềm…
Gã chúa khỉ bật kêu sửng sốt, chừng quá bất ngờ trước tài nghệ ghê gớm của người đẹp áo trắng. Y rút vội trong mình ra một sợi dây kim loại bảy đoạn múa tít lên cản đỡ lưỡi liềm đang xẹt tới.
Chát! Hai ánh thép quật mạnh vào nhau toé lửa. Y cảm thấy tê dại cả cánh tay, sợi Thất Tiết Mai Hoa Tiên muốn văng đi, lưỡi liềm chỉ khựng lại chút rồi đảo xuống nhanh như chớp hớt phăng luôn một mảng tóc y. Theo đường thép di động, Võ Kiều Loan vọt tới, chân chưa chạm đất, nàng tung liền ba ngọn cước liên hoàn phối hợp cả ba kiểu Kim tiêu, Đảo sơn, và Bàng long, nhằm các huyệt Nhân hầu, Thái dương, Khí hải của đối phương. Chúa Hầu lật đật nhảy tránh, thân pháp gã khá nhanh nhưng nàng chúa hồ đã bám theo như hình với bóng không để đối thủ có cơ hội phản công. Đôi chân nàng vụt cất bổng lên cao đạp tới, hai tay dang rộng như cánh bướm theo một kiểu đá bay rất ngoạn mục… “Huỵch!” Y trúng đòn Hồ điệp song phi của nàng muốn sụm vai, nhào xuống mặt cỏ lăn luôn mấy vòng, sợi Mai Hoa Tiên văng tõm xuống suối. Y gượng đau vùng dậy, cười thét:
- Giỏi lắm! Mỹ nhân thành thị ngờ đâu cũng là tay bản lãnh, đáng mặt thư hùng với chúa Hầu! Ha ha!
Y hú lên một tràng lanh lảnh, bầy khỉ lập tức dạt hết ra phía sau. Đoạn, y ve vẩy hai tay, đôi chân rún rẩy nhảy nhót vờn quanh nàng chúa hồ.
Kiều Loan thu lưỡi liềm vào trong tay áo lạnh lùng ngó y cười khẩy. Chỉ qua mấy đòn sơ khởi nàng lượng được phần nào tài nghệ đối phương. Y có nội lực dồi dào đủ sức chịu một hai đòn bình thường của nàng nhưng về công phu quyền cước cùng binh khí chưa thể liệt vào hàng cao thủ. Thực ra, cú đá bay vừa rồi nàng chỉ muốn cảnh cáo nên dụng kình rất ít, bằng không y đã dập nát xương vai. Dụng ý nàng sẽ chế ngự tên chúa khỉ này để tra hỏi tông tích quái vật đười ươi chúa năm xưa. Có thể y biết một vài manh mối về quái vật bởi y sống chung với loài khỉ vùng này mà đười ươi cũng là giống tương cận, được xem như đồng hạng với khỉ!
Tên chúa Hầu di động quanh Kiều Loan càng lúc càng thêm nhanh, thoắt bên tả, thoắt bên hữu, đảo phía trước, vòng ra phía sau như đèn cù. Kiều Loan ngưng thần chờ đợi, dụng pháp lấy tĩnh chế động trong võ thuật, mặc cho đối phương múa may huê dạng. Bất thần y hú lên một tràng dài như khỉ, vượn, thân hình bắn vọt tới, tả thủ vươn dài thành trảo chụp xuống vai nàng chúa hồ, khí thế mười phần hung mãnh…
Nhưng chân trái Kiều Loan đã thả ra sau, chân phải gập lại vào tư thế Cũng mã, cùng lúc tay phải nàng vung lên theo đà xoay eo chặn bắt dính cườm tay y.
Tên chúa khỉ lập tức xoè luôn tay kia vỗ thẳng vào ngực nàng để gỡ. Tuy nhiên, một lần nữa tay trái nàng lại vung lên bắt dính luôn như nhựa. Và giữa khoảnh khắc y chưa kịp xoay trở hoá giải Kiều Loan vụt bật người ra sau, trầm chỏ xuống, trụ hẳn trên chân trái vặn hông ném y ngã lộn nhào mấy vòng theo một thế võ phối hợp giữa Thái cực quyền và môn vật cổ truyền.
Tên chúa Hầu nằm dài trên mặt đất. Cú ném của nàng thật nặng khiến y không dậy nổi. Kiều Loan vọt lại đưa chân điểm liền mấy trọng huyệt trên người y.
Chừng thấy chủ bị đánh, có mấy con khỉ liều xông vào, nhưng nàng tung lưỡi liềm chém doạ, chúng kinh hãi lội qua suối chạy, kêu la chí choé.
Kiều Loan gọi Khiên Mây ra, lôi y dậy ngồi dựa vào một tảng đá lớn, đoạn chiếu đèn, chìm giọng bảo:
- Tên kia, khá nghe ta hỏi đây! Danh tánh mi là gì? Gốc gác ở đâu? Sao vô cớ dám đem lũ khỉ tới gây sự với ta? Nói mau!
Tên chúa khỉ nheo mắt trước ánh đèn bấm chói loà, ngửa mặt cười khan, giọng phẫn nộ:
- Mỹ nhân ngốc! Ha ha, kẻ ngoài vòng thế lụy như ta còn cần chi tánh danh, quê quán! Nàng chớ phí lời vô ích, đã thắng được chúa Hầu muốn làm gì tuỳ ý… Ha ha! Tiếc thay nhan sắc khuynh thành của nàng lại không để tay tài hoa như chúa Hầu ưu ái…
“Bốp!” Y chưa nói dứt câu, nàng chúa hồ bất thần vung tay tát mạnh, nghiêm mặt nói như nhai từng tiếng:
- Không được lộng ngôn! Mi tài trí là bao mà dám ngông cuồng nghịch phạm? Chỉ bằng vào dăm miếng võ quèn với vài con thú dại dám xưng vương xưng chúa ăn nói huênh hoang xằng bậy không biết xấu hổ! Tội mi đáng bị trừng phạt, không oan!
Kiều Loan vươn tay theo lối Ưng trảo bấu vào một vùng trên vai y. Tên chúa khỉ rú lên đau đớn, mồ hôi rịn ra đầy mặt. Vẻ kiêu ngạo xấc xược biến mất, y rên rỉ:
- Đau… đau… chết mất! Đừng… đừng làm vậy!

Kiều Loan cười nhạt khinh bỉ. Tên này trông có vẻ quái dị, ghê gớm nhưng xem ra chỉ là một kẻ yếu đởm lược lại ưa khoác lác, so với tên Bạch Diện Cô bị nàng bắt sống hôm trước rõ ràng y còn kém xa về công phu rèn luyện!
Nàng nhướng cao mày liễu hỏi:
- Giờ mi có chịu trả lời nghiêm chỉnh những điều ta sắp hỏi?
- Được… được rồi… cứ hỏi…!
Y lắp bắp nói, lấm lét ngó nàng sợ hãi. Kiều Loan im lặng quan sát kẻ đối diện, nàng quyết định đặt câu hỏi thẳng vào mục đích chính yếu cần tìm hiểu:
- Mi sống chung cùng loài khỉ ở rừng Phi Mã Ác này lâu năm hẳn có biết giống đười ươi chứ? Hang ổ chúng nơi đâu? Nói ta nghe!
Vừa nghe hai tiếng “đười ươi”, tên chúa khỉ vụt biến sắc, giương mắt ngó sững nàng rồi ấp úng hỏi lại:
- Nàng… Nàng hỏi đười ươi… làm gì?
Kiều Loan phát tia nhìn uy nghiêm chiếu thẳng vào mắt y như muốn soi thấu tâm can kẻ đối diện. Thái độ tên chúa khỉ vô hình trung đã cho thấy y biết chúng. Nàng phác một cử chỉ, buông gọn:
- Trả lời mau!
Tên chúa khỉ chớp lia cặp mắt, thần sắc biến đổi liên tục, vẻ ngần ngại không dám nói, mường tượng có điều gì đó làm y lo sợ.
Kiều Loan “hừ” một tiếng, tăng thêm kình lực khiến y vụt rống hộc lên:
- Đau… đừng… để tôi nói… tôi nói!
Nàng chúa hồ thu tay về. Y nói nhanh trong hơi thở gấp:
- Ở trên đỉnh núi này… từ lâu rồi tất cả đười ươi Phi Mã Ác đều ở cả trên đó… theo lệnh…
Y chợt ngừng bặt chừng thấy đã lỡ lời, mắt láo liên đảo khắp xung quanh. Kiều Loan vội quát dồn:
- Theo lệnh kẻ nào? Nói mau!
Nàng cảm nghe nhịp tim mình đập nhanh hơn. Cuộc truy tầm tông tích quái vật đười ươi chúa đang tới hồi gay cấn căng thẳng và lời y kể vô cùng quan trọng đối với nàng trong lúc này.
Kiều Loan khô giọng lập lại:
- Chúng theo lệnh kẻ nào? Nói! Nếu mi muốn sống!
- Lệnh… chúa đười ươi!
- Chúa đười ươi! Nó vẫn còn sống ở đây, hay lắm! Ta đang muốn tìm nó đây!
Nàng chúa hồ mím chặt vành môi thở phì giận dữ. Rồi chừng quá xúc động, nàng thình lình bật lên một tràng cười, âm thanh khô gằn chờn vờn sát khí tung vãi trong đêm rừng sâu thẳm tích chứa cả một trời căm phẫn bi thương.
Giây lâu, nàng trấn tĩnh lại, trầm mặt hỏi:
- Chúa đười ươi là giống chi? Nó là đười ươi hay… người mang lốt đười ươi? Nó có thường xuống dưới này không?
- Chúa đười ươi là người… Tài võ của “người” vô song, dưới gầm trời này không kẻ nào sánh kịp! “Người” là bực đại lực, đại trí, quỷ thần còn phải kiêng oai! Bởi một cớ riêng, “người” không xuống núi suốt nhiều năm nay… Nàng… có chuyện gì cần tìm chúa đười ươi?
Sắc diện, lời lẽ y bộc lộ vẻ kính sợ, tán dương chúa đười ươi đến cùng tột. Kiều Loan cười khẩy, ngoắc tay một cái, lưỡi liềm thép sáng quắt nằm gọn trên tay nàng. Nàng kề sát mang tai y. Hơi thép lạnh gai gai khiến tên chúa khỉ rùng mình kinh hoảng cơ hồ muốn ngất lịm. Kiều Loan quát chìm:
- Mi có liên hệ với chúa đười ươi? Muốn ta tha mạng phải khai rõ sự việc cho đúng!
Tên chúa khỉ vội rung giọng kể lể. Qua câu chuyện y thuật lại, trước đây gần hai mươi năm y từng sống trong giới lục lâm, vì lỡ tay gây tội hình nghiêm trọng phải trốn vào vùng núi rừng Phi Mã nương thân. Ở đây, một bữa tình cờ y chạm trán với bầy đười ươi hung tợn, giữa lúc sắp bị đười ươi xé xác, thình lình chúa đười ươi xuất hiện. Y khẩn cầu xin tha mạng. Nhờ may mắn, y thoát hiểm, được chúa đười ươi dung nạp làm kẻ hầu hạ phục dịch. Qua gần gũi tiếp xúc thường xuyên, y biết chúa đười ươi là người, võ công cực cao, giỏi thuật dạy thú nên thu phục huấn luyện được lũ đười ươi rất mực trung thành.
Mỗi khi dẫn bầy đi săn mồi, chúa đười ươi mang lốt thú vào. Lốt đười ươi chính là một bộ giáp bằng mây đan kép giữa lót cao su dày lại kẹp thép, bên ngoài bọc một lớp da đười ươi. Toàn bộ khối giáp được ghép từng phần vừa dễ cử động lại có thể xếp lại thành khối nhỏ. Cả phần đầu cũng vậy, chính là một chiếc mũ giáp được kết cấu theo lối đó, có khả năng chống lại cả đạn súng “mút” cùng tất cả các loại ám khí, độc sa.
Vốn y có chút tài mọn về nấu nướng, lại biết nấu rượu nên chúa đười ươi rất thích y. Những khi đười ươi kéo bầy đi săn mồi, y được giao canh giữ cửa động. Thời gian đầu y rất sợ hãi loài thú này nhưng sau quen dần. Y còn được chúa đười ươi truyền cho vài phép khiển thú, có thể sai xử được đười ươi, cùng các loài khỉ, vượn.
Được gần một năm, một hôm chúa đười ươi kéo bầy xuống núi, mấy ngày sau trở về mang theo một người đàn bà tuyệt đẹp…
Nghe tới đây, Kiều Loan như chạm phải điện, vùng ngắt lời, giọng rung mãnh liệt:
- Người đàn bà đẹp… phải bà áo trắng?
Tên chúa khỉ trố mắt kinh ngạc, đáp:
- Phả… ải! Nhưng sao… mỹ nhân lại biết? Đúng rồi! Bà ta khi đó cũng mặc áo trắng giống như nàng bây giờ!
- Mi trông rõ mặt bà ta chứ?
Nàng chúa hồ chìm lời hỏi. Chừng lời nàng tình cờ gợi lên làm sống lại hình ảnh đã chìm sâu trong ký ức, tên chúa khỉ lắp bắp kêu lên:
- Có… rõ lắm! Mà sao… mặt nàng xem ra… giống hệt bà ta! Nãy giờ ta cứ ngờ ngợ… Đúng rồi, giống nhau như hai giọt nước! Nàng là gì của bà ta?
Võ Kiều Loan cắn chặt vành môi muốn rướm máu, cố nén nỗi đau xé lòng, phẩy tay ra hiệu:
- Hãy kể tiếp!
Tên chúa khỉ ngó nàng hoang mang nghi ngại. Có lẽ y bắt đầu hiểu ra phần nào sự việc cùng ý đồ của người thiếu nữ tuyệt đẹp đang truy hỏi y. Y liếc nhanh lưỡi liềm thép đang rung nhẹ trong tay nàng chúa hồ, khẽ tằng hắng lấy giọng:
- Rồi… ngay tối đó, chúa đười ươi trút bỏ lốt thú truyền ta dọn “tiệc” mừng. Bà áo trắng được giải huyệt đặt ngồi cạnh chúa đười ươi liền cất lời thoá mạ, nguyền rủa thậm tệ, chắc bà ta nhận biết chúa đười ươi nên cứ gọi tên “người” mắng chửi…
- Sao? Bà áo trắng biết tên nó ư? Tên gì?

Kiều Loan nóng nảy cắt ngang câu chuyện. Điều y vừa tiết lộ quả hết sức bất ngờ với nàng.
Mẹ nàng nhận ra “nó” sau khi “nó” trút bỏ lốt đười ươi, biết cả tên “nó”! Như vậy tên mang lốt quái vật đó hiển nhiên không xa lạ gì với bà! Nó quyết đuổi bắt bà để ép làm vợ, phải chăng vì nó say mê nhan sắc bà từ trước? Hay vì nguyên do nào khác? Dẫu sao sự việc vẫn cho thấy một điều hết sức rõ rệt: tên quái vật chúa đười ươi bắt mẹ nàng không phải chuyện tình cờ, mà chính “nó” đã rắp tâm sẵn.
Kiều Loan nhắc lại câu hỏi. Tên chúa khỉ vẫn ậm ừ không nói, chừng y sợ phạm phải điều cấm kỵ ghê gớm nào đó.
- Nói! Giờ ở đây ta là người mạnh nhất, không phải chúa đười ươi của mi! Đừng quên cái đầu mi có thể rụng nếu trái lời!
Nàng phác một cử chỉ đe doạ, mắt phượng long lên cực kỳ uy mãnh.
- Hình như... bà áo trắng gọi tên “người” là... Giáo... Vi Văn Giáo!
Tên chúa khỉ ngập ngừng khẽ đáp, lấm lét liếc trộm nàng. Dưới ánh trăng liềm úa vàng mờ ảo, gương mặt nàng chúa hồ lúc này đanh hẳn lại như tạc bằng đá. Nàng lẩm bẩm lặp lại:
- Vi Văn Giáo... Vi... à! Thì ra...
Kiều Loan chợt nhớ trong lần nàng bí mật cùng bà Kiều Liên đi lễ mộ cha nàng, nhân lúc chuyện trò, dì nàng có kể về thời con gái của mẹ nàng trước khi lập gia đình. Bà Kiều Liên có nhắc đến một nhân vật họ Vi rất giàu có, thế lực rất lớn đem lòng say mê đeo đuổi mẹ nàng, từng nhờ người mai mối đi hỏi mấy bận nhưng mẹ nàng không ưng. Con người này không hề nản chí, vẫn tiếp tục tìm đủ cách hòng được lọt vào mắt xanh của bà Kiều Lan, dù thực tế cho thấy đó là một tình yêu vô vọng! Cho đến khi mẹ nàng gặp và yêu cha nàng thì họ Vi điên cuồng vì ghen tỵ tức tối. Y hành động như một kẻ côn đồ vũ phu, đón đường khiêu khích thách thức ông Võ Long. Vốn là người từng trải giàu tinh thần thượng võ, lại hiểu chuyện nên cha nàng chỉ điềm đạm từ chối, nhẫn nhịn trước thái độ xúc phạm của y. Nhưng rồi chuyện cũng phải đến, vào đúng ngày đại hỷ thiêng liêng của hai họ Võ – Hoàng, giữa lúc tiệc cưới đang diễn ra vui vẻ, họ Vi thình lình xuất hiện trước thềm hoa mang theo hơn chục tay súng lớn tiếng thách đích danh chú rể ra đấu chiến. Thủ hạ cha nàng tức giận muốn khai hoả nhưng ông cản lại và để tránh cuộc đổ máu vô lý cho cả đôi bên, ông nhận lời đấu súng cùng Vi Văn Giáo. Họ Vi thường ngày vẫn tự hào về tài bắn nhanh từng đoạt giải, tuy nhiên trước một đối thủ dày dạn kinh nghiệm sinh tử là Võ Long, nghề bắn của y chỉ là trò diễn vụng về, non dại. Trước hơn trăm cặp mắt mở to theo dõi, cha nàng đã bắn tung cặp súng lục của đối phương ngay khi y vừa đập tay vào báng. Thẹn quá đâm liều, họ Vi tiếp tục thách đấu quyền để rồi lại chuốc thêm mùi thảm bại sau khi trúng một cước gãy ba sườn ngất gục. Bọn thủ hạ khiêng y về nhà.
Sau vụ đó ít lâu, Vi Văn Giáo bán sạch đồn điền, trang trại rồi âm thầm bỏ đi biệt tích.
Chuyện dần rơi vào quên lãng, tưởng đã kết thúc, nào ngờ sau một thời gian dài mất hút, bỗng một chiều kia y lại xuất hiện như một bóng cô hồn oan nghiệt trở về ám đôi uyên ương đang yên vui trong hạnh phúc.
Y hẹn gặp Võ Long để thanh toán mối hận cũ tại một địa điểm bí mật chỉ riêng hai người trong cuộc biết. Lúc đó bà Kiều Lan đang mang thai Kiều Loan. Dù mọi người hết sức can ngăn, cha nàng cương quyết ra đi, một mình một ngựa không cho phép bất kỳ ai đi theo. Hẳn ông hiểu sự việc đã đến lúc phải như vậy, không còn cách nào khác.
Khi ông mang thương tích trầm trọng trở về người nhà mới biết ông với họ Vi quyết đấu trên đỉnh Phi Mã Ác Sơn, và y dẫu tài nghệ qua mấy năm khổ luyện đã tiến bộ khủng khiếp, nhưng sau cùng vẫn bị ông hạ, rơi từ một triền cao xuống vực sâu. Song trước đó lợi dụng sự nương tay lưu tình của họ Võ, Vi Văn Giáo cũng giở được thủ đoạn khiến ông trúng phải đòn độc của y...!
“Theo đó, rõ ràng tên Vi Văn Giáo đã tan xác dưới vực sâu muôn trùng, sao tên quái vật đội lốt đười ươi cũng là Vi Văn Giáo? Mẹ ta nhận ra nó khi nó trút bỏ lốt thú, chắc bà không lầm! Hơn nữa, hang ổ tên quái vật ở núi Phi Mã này, nơi khi trước tên Vi Văn Giáo cùng cha ta tử đấu rồi bị đánh rớt xuống vực... Phải chăng đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Không có lý vậy! Có thể tên Giáo khi rơi xuống vực đã gặp may mắn nên sống sót, chẳng hạn vướng vào dây leo cành lá chi đó. Rồi sau, y gặp lũ đười ươi, thu phục chúng và trở thành chúa đười ươi mang lốt thú tác quái, đuổi bắt mẹ ta nhân buổi người cùng dì Kiều Liên đi chơi hồ năm xưa...!”
Kiều Loan thầm suy luận dựa trên những tình tiết dì nàng từng kể qua và lời khai của tên chúa khỉ, kẻ nô dịch của quái vật đười ươi chúa.
- Tiếp! Rồi sao nữa? – Nàng bảo y.
- Rồi... thình lình bà áo trắng nhào lại chụp lưỡi mã tấu cắm dựng gần đó vung lên chém chúa đười ươi. Lúc đó “người” có phần hơi ngà say, chừng muốn biểu lộ cho bà ta thấy sức mạnh vô song của mình... “Người” không tránh, chỉ ngửa mặt cả cười! Bà áo trắng chém liền mấy nhát vào cổ, vai “người”... nhưng làm sao phạm nổi, chỉ như chém vào lốp ô tô! Nội công người đã đến mức thượng thừa, đao kiếm thường đây dễ gây thương tích! Nhưng... bất ngờ, bà áo trắng trở ngược mũi dao đâm vào cổ tự sát... Sự việc xảy ra quá đột ngột, ngay cả chúa đười ươi cũng không kịp xuất thủ ngăn lại. Có lẽ “người” không ngờ bà ta dám liều lĩnh đến vậy!
- Chúa đười ươi cố làm mọi cách để cứu chữa bà ta nhưng không được vì vết đâm nhằm chỗ trí mạng, ngay huyệt Nhân hầu! “Người” như phát điên vì tuyệt vọng, đánh đuổi lũ đười ươi với ta rồi ôm xác bà áo trắng gào thét, than van suốt đêm không ngừng nghỉ. Qua hôm sau, “người” bình tâm hơn chút, sai ta đóng gấp một cỗ áo, tự tay tẩm liệm bà áo trắng, phủ hoa rừng lên rồi truyền cả bầy khiêng lên đỉnh Phi Mã, riêng ta được giao nhiệm vụ ở lại trấn giữ sơn lâm... Từ ngày đó đến giờ “người” không rời đỉnh, cứ vào khoảng đầu con trăng, “người” lại sai đười ươi xuống lấy rượu ta cất đem lên uống...
Y chợt ngừng bặt vì nàng chúa hồ vụt buông rơi lưỡi liềm đưa tay ôm mặt lảo đảo, thổn thức nấc lên hai tiếng:
- Mẹ ơi!!!
Khiên Mây hấp tấp vọt lại, kịp thời đỡ lấy thân dáng nữ chủ đang từ từ đổ khuỵu xuống...
CHƯƠNG 7 - VAY TRẢ, TRẢ VAY
Trên đỉnh Phi Mã Ác đẹp như một bức tranh thủy mạc Tàu. Trong nắng thu, buổi sớm, cả một khu lòng chảo vụt hiện ra như một đài sen khổng lồ, phủ đầy cây lá hoa cỏ xanh tươi mơn mởn còn lóng lánh sương đêm đọng lại.
Võ Kiều Loan đứng trên triền cao đảo mắt nhìn toàn cảnh vùng triền đỉnh. Bốn bề yên lặng không một tiếng động.
- Quái lạ! Cả bầy đười ươi sống trên này sao có vẻ... tĩnh mịch như vầy?

Nàng cau mày ngạc nhiên tự hỏi, đoạn thận trọng tiến vào khu đài sen. Chừng hơn trăm bộ trước mặt nàng chúa hồ vụt hiện ra một vùng liễu rũ thướt tha um tùm. Đang len lỏi trong rừng liễu, Kiều Loan chợt dừng phắt lại, sau một thân cây, lắng tai nghe. Rõ có tiếng thở như người ngủ say ngáy đều, tuy rất nhỏ vì cách xa nhưng thính giác nàng vẫn phát hiện ra được.
- Tiếng ngáy của kẻ cực sung mãn khí lực! Đười ươi hay... chính nó?
Kiều Loan nhanh chóng xác định phương hướng, áp dụng thuật khinh hành lướt êm. Giây lát nàng tới một gò đất nhô cao đột khởi giữa khu rừng liễu. Trên gò trống trải quang đãng hết sức, rõ được phát hoang thường xuyên, có một mái lều cỏ nằm trơ vơ dưới vòm trời xanh thẳm. Lều không vách che, chú mục nhìn nàng thấy trong có một ngôi mộ đá. Ngay cạnh đó là bóng vạm vỡ cởi trần trùng trục đóng một chiếc khố, nằm xoải tay trên nền đất ngủ, một chân gác lên mộ. Vương vãi quanh y còn lăn lóc mấy bầu rượu lớn, chừng mới uống cạn đêm qua.
Vừa trông rõ cảnh tượng thốt nhiên Kiều Loan run lên vì giận dữ, óc nàng vụt thoáng nhanh ý nghĩ:
- Kẻ say rượu nằm ngủ bên mộ đá trên đỉnh Phi Mã này... còn ai ngoài tên quái vật chúa đười ươi? Hừ! Cứ như lời tên nô dịch của y kể thì quả đúng rồi, không sai. Mẹ ơi! Cha ơi! Hồn oan phụ mẫu trong cõi u minh có linh thiêng xin phò hộ con trẻ rửa được thù nhà... tru diệt kẻ đại thù tàn ác vô luân!
Vừa khấn thầm nàng vừa vọt tới trước lều quát lớn:
- Quái vật đười ươi! Thức dậy nghe ta hỏi tội năm xưa!
Kiều Loan đứng ngay trước lều, cách y chừng vài sải tay. Tiếng quát của nàng lại được vận dụng khí lực từ Đan điền phát ra nên thanh âm mạnh như sấm động khiến kẻ đang ngủ vùng giật mình choàng tỉnh ngồi phắt dậy lẩm bẩm giọng ngái ngủ còn bốc hơi men:
- Hừ! Kẻ nào to gan dữ? Dám lên tận trên này hò hét giữa lúc Lâm vương đang ngủ!
Y đưa tay dụi mắt chầm chậm đứng lên. Lúc này Kiều Loan càng trông rõ hình tướng y. Cao to lực lưỡng như một tay đô vật, da sạm bóng sáng màu đồng, bắp thịt cuồn cuộn, ngực nở vuông như bánh chưng úp, râu tóc y dài thượt, loà xoà phủ gần kín hết mặt mũi. Toàn thân y biểu lộ một sức mạnh khủng khiếp, nhất là cặp mắt phát quang đỏ rực cực mạnh, đầy uy lực ghê gớm.
Kiều Loan trỏ mặt y chìm giọng hỏi:
- Mi là chúa đười ươi Vi Văn Giáo? Ra đây ta đòi món nợ năm xưa!
Đoán chừng ngôi mộ đá là mộ mẹ mình, nàng chúa hồ không muốn động thủ trong lều e phạm tới mộ phần từ mẫu.
- Sao? Nàng kia... Nàng... sao biết tên chúa đười ươi núi Phi Mã? Không! Cái tên Vi Văn Giáo đã vùi chôn vào cát bụi hai mươi năm rồi, chỉ còn chúa đười ươi là ta thôi... Hà hú!
Kẻ trong lều chợt hét vang phẫn nộ, lao vụt ra như tia chớp vung tay chụp nàng chúa hồ. Thân hình y lớn dềnh dàng nhưng động tác nhanh gọn còn hơn chim cắt bắt mồi.
Kiều Loan không tránh, hai tay tréo trước ngực gạt nhanh ra ngoài theo thế đỡ Thập tự thử, cùng lúc chân sau nàng bật mạnh tới trước “Bịch!” ngọn đá thẳng bằng gót chân giáng trúng ngực đối phương – chúa đười ươi - khiến y hơi loạng choạng lùi lại hai bước.
Kiều Loan cũng bị phản kình dội lại, tê chồn bàn chân, chấn động cả chân trụ phải lùi một bộ, tưởng chừng vừa đá trúng một chiếc lốp ô tô bơm căng.
- Hừ! Công phu nó quả ghê gớm không ngờ! Thảo nào năm xưa cả vợ chồng tướng lạc thảo Quảng Tây cùng ông Trần đều bị nó đánh bại dễ dàng!
Nàng không khỏi rúng động nghĩ thầm. Trước giờ nàng chưa gặp tay kình địch nào lợi hại như y. Ngọn cước của nàng từng đá chết cọp mộng, được phóng ra với bảy tám phần sức mạnh, đủ để khai sơn phá thạch mà chỉ đẩy lui y hai bộ!
Mấy năm trước, trên đường rong ruổi bốn phương cùng sư mẫu, Kiều Loan có lần thử sức với một cao thủ khét tiếng về nội công vùng Hoa Bắc. Ông này có thể nằm dưới một tấm ván chịu cho một cỗ xe tứ mã chất đầy đá nặng chạy ngang qua, hay nằm trên bàn chông nhọn cho lực sĩ vác chuỳ đồng nện xuống ngực hàng mấy chục cái vẫn không hề hấn gì. Ông ta thường lập lôi đài thách thức anh hùng bốn bể, trăm trận đều thắng không ai địch nổi. Nhân dịp tình cờ đi ngang qua, Kiều Loan ngỏ ý xin thượng đài dạy cho con người kiêu ngạo tự đắc một bài học. Được sư mẫu chấp thuận, nàng lên sàn đấu và trước sự kinh ngạc của mọi người, cô gái lạ xinh đẹp mảnh mai đã đá nhà võ sĩ lừng danh bất tỉnh ngay trong hiệp đầu, chỉ sau vài chiêu qua lại – cũng bằng ngọn đá thẳng sấm sét. Năm đó nàng mới tròn mười sáu tuổi.
Xem ra công lực tên chúa đười ươi trên đời ít người sánh kịp. Y bị đá trúng ngực tưởng phải thổ huyết nhưng dường như vẫn chưa suy suyển chút nào. Kiều Loan dợm tung lưỡi liềm chém nhưng lại thôi. Nàng muốn đấu chiến với kẻ đại thù bằng tay không trước đã, vả hiện giờ y đang đơn thân nơi đây như nàng, lại không mang giáp lốt thú, cũng chưa thấy bầy đười ươi xuất hiện. Nếu tình thế biến đổi sẽ sử dụng vũ khí, không muộn!
Nàng nhích tới một bước, khô giọng dằn từng tiếng:
- Vi Văn Giáo! Ta tìm mi để đòi món nợ mười tám năm về trước... Một chiều loạn rừng trời nổi cơn giông... gần hồ Ba Bể... Mi xua bầy dã thú đuổi bắt chị em bà áo trắng...
Kiều Loan đang nói bỗng ngừng lời, cau mày ngạc nhiên vì chúa đười ươi Phi Mã Ác cứ dòm sững nàng, vừa xua tay vừa lùi về sau, lắp bắp rú lên:
- Nàng! Kiều Lan nàng... Nàng hiện về giữa thanh thiên bạch nhật... đòi nợ ta chăng? Kiều Lan! Từ cái ngày thê thảm đó, ta đã chôn lốt đười ươi, thề không rời núi... Suốt mười tám năm đêm ngày ta ấp ủ phần mộ nàng... sống thuỷ chung trọn vẹn với mối tình oan nghiệt. Kiều Lan! Nàng... nàng có thấu cho tình ta tan tác bi thương? Đời vô nghĩa khi không còn nàng trên dương thế... Kiều Lan! Hãy đưa ta theo nàng...
Y chợt rống lên bi thiết vùng dang tay lảo đảo bước tới như muốn ôm choàng Kiều Loan, mắt mở trừng đầy vẻ si dại, đau khổ đến cùng cực.
Biết y lầm tưởng oan hồn thân mẫu hiện về, nàng chúa hồ nhướng cao mày liễu dõng dạc nạt:

- Chúa đười ươi! Ta là con gái của người tiết phụ thác oan vì tay mi, bà Hoàng Kiều Lan! Cũng chính mi, lợi dụng tấm lòng nhân hậu của cha ta, mi đã giở thủ đoạn hèn mạt hại người trong trận đấu danh dự trên đỉnh núi Phi Mã này năm xưa. Vi Văn Giáo! Hôm nay là ngày tận số của mi, tên nghiệt súc rắp tâm làm hại gia đình ta tan nát, gây nên thảm kịch cho bao người! Thảm kịch cho cả chính mi... Ha ha! Mi sinh ra cũng một kiếp người mà lại sống như loài súc vật man dã không còn dám chường mặt với tha nhân! Hãy bình tĩnh, đã đến lúc mi phải trả món nợ năm xưa! Ha ha!
Căm hờn tích chứa, uất khí bốc cao, nàng chúa hồ hét lên ngùn ngụt lửa hận, vang động cả một vùng u tịch xung quanh. Lời dứt, thân ảnh nàng vụt di động, hai tay múa lên chặt luôn vào mặt, cổ kẻ đại thù.
Liền mấy tiếng va chạm khô khan vang lên, họ Vi hứng trọn đòn tấn công bằng song chưởng của Kiều Loan. Theo đà nhập nội nàng xoay hông đánh bồi thêm hai cùi chỏ vào bụng y, ngay vùng chấn thủy. Đòn này hầu như nàng vận dụng tất cả sức mạnh tung ra, nhằm đánh gục ngay kẻ đại thù, tránh cuộc đấu chiến dằng dai phí sức.
Vi Văn Giáo rống hộc lên, ôm bụng lùi lại ngồi phệt xuống đất. Chừng y có vẻ thấm đòn, xoa bụng nhăn nhó, nhưng mắt vẫn ngước nhìn nàng ngây dại như con thú nhìn trăng.
Kiều Loan thoái bộ, giữ thế thủ quan sát kẻ thù. Cả hai cánh tay nàng sau khi giáng trúng người y, một lần nữa lại cảm thấy tê chồn ê ẩm vì phản kình. Xem ra thân pháp nàng nhanh hơn nhưng rõ ràng về nội lực y vượt trội hơn nàng một bậc. Kình lực y cực kỳ cương mãnh, chí cương và nếu nàng tiếp tục dùng cương giao đấu với y chắc chắn sẽ bị thảm bại. Kiều Loan may mắn được sư mẫu chân truyền võ học bí truyền Đông phương, lại được nhiều cao nhân kỳ sĩ chỉ giáo thêm nên sự hiểu biết và thành tựu của nàng kiêm toàn nhiều môn gồm cả hai ngành cương, nhu.
Dụng ý nàng chờ xem hiệu quả ngón đòn chí tử vừa rồi trước khi động thủ tiếp với lối đánh thay đổi khác.
- Nàng... Kiều Lan! Nàng về báo oán ta... Ha ha! Đừng... Đừng dối Giáo này... Nàng... chính nàng là Kiều Lan! Ha ha!
Y lộ vẻ sợ hãi cùng tột, tròng mắt mở to muốn lạc thần. Kiều Lan nhìn xoáy vào mặt kẻ đại thù. Vụt tưởng đến cảnh mẹ hiền bị sa tay y năm xưa, phải tự sát để giữ tròn danh tiết, cổ nàng như nghẹn hẳn lại, nước mắt chực trào ra khoé hạnh.
Nàng hít mạnh một hơi, chầm chậm đưa tay lên. Lưỡi thép hình bán nguyệt phản chiếu tia nắng ban mai lấp lánh trên tay nàng sáng loáng.
- Vi Văn Giáo! Đạo trời hễ có vay phải có trả! Mi dùng bạo lực làm chuyện phi nhân tàn ác, hãm hại cha mẹ ta chi vì một dục vọng thấp hèn ti tiểu! Nay ta trừ diệt mi trước vì thù nhà, sau để trừ bớt hậu hoạn cho đời. Đó cũng là lẽ công bằng trong trời đất! Xem đây, ta ché... ém...!!
Kiều Loan bất thần cất cao giọng thét lớn, thả vụt lưỡi liềm. Chúa đười ươi rùng mình ré lên vùng quay đầu chạy, lưỡi thép đảo theo liếm soẹt mảng tóc y, phạt luôn một cành liễu lớn rũ loà xoà cạnh đó.
Nàng chúa hồ thu liềm về, cấp tốc, trổ thuật khinh hành đuổi theo. Rõ kẻ thù đinh ninh nàng là hồn oan người tiết phụ hiện về báo oán nên y khiếp đảm mất tinh thần chẳng còn lòng dạ đương cự đấu chiến!
Nháy mắt cả hai bóng đã vượt khỏi rừng liễu. Vi Văn Giáo cắm đầu lao về hướng ngọn đỉnh. Địa hình khu này khúc khuỷu nhấp nhô lởm chởm đầy đá tảng rất khó di chuyển nhưng y quen thuộc nhiều năm nên chạy rất nhanh.
Kiều Loan bám theo bén gót. Về công phu phi hành nàng có phần trội hơn kẻ thù nên dù gặp địa hình lạ, khó đi vẫn giữ được khoảng cách vừa phải, không để mất hút y.
“Nó chạy lên ngọn đỉnh, chắc hang ổ đười ươi trên đó!” Nàng thầm đoán rồi đề khí gia tăng cước lực phóng nhanh hơn, rút ngắn dần khoảng cách với tên chúa đười ươi.
Bảy mươi... năm mươi... rồi ba mươi bộ. Kiều Loan hét lên một tiếng vung mạnh tay liềm về trước. Ánh thép nháng lên xé gió vụt tới... Đúng lúc bóng Vi Văn Giáo thình lình biến mất sau một ngạch đá. “Chát!” lưỡi liềm chém vào đá toé lửa, loải luôn một miếng bằng bàn tay. Cặp liềm nàng dùng được rèn đúc bằng loại thép đặc biệt với phép luyện kim bí truyền do một ẩn sĩ sứ Phù Tang tặng cho sư mẫu nàng. Bậc ẩn sĩ này vốn xuất thân trong một dòng tộc Võ sĩ đạo (Bushido) lừng lẫy, còn lưu truyền bí thuật luyện kiếm và quạt chiến của giới hiệp sĩ (Samourai) từ ngàn xưa. Khí giới họ sử dụng có khả năng triệt tiêu mọi xung động lực phát sinh khi va chạm và chém sắt như chém bùm, không thua kém những thanh bảo kiếm thời cổ như Can Tương, Mạc Gia hay Ngư Trường... Với loại võ khí độc đáo như vậy, chắc chắn trên đời không kẻ nào chịu nổi dù cho y có luyện được cương khí hộ thân da thịt cứng rắn cỡ nào chăng nữa vẫn bị phạm như thường.
Nàng vọt tới chỗ ngách đá đảo mắt dòm. Ngách hẹp, kẹp giữa hai vách cao sừng sững, ngang chừng hơn thước chạy sâu vào trong khoảng hai mươi bộ dẫn thẳng tới một miệng hang lớn. Ngay trước hang có năm, sáu hình thù lông lá nằm ngổn ngang như những tảng đá lớn.
- Đười ươi! Có lẽ chúng đang ngủ!
Kiều Loan vượt êm qua chỗ chúng, cả lũ chừng say rượu ngủ như chết, có con còn ôm chặt bầu rượu lớn, nằm ngửa mặt nhe răng trắng nhởn trông phát ớn!
Nàng chiếu rê đèn bấm tiến vào hang. Hang sâu hút, dốc lên thoai thoải, trần cao bám đầy nhũ đá lởm chởm kỳ dị. Trên nền đá ẩm ướt còn in những dấu chân mới nguyên.
- Chân người! Tên quái vật chắc trốn đâu đây!
Nàng dò theo hơn trăm bộ tới một chỗ ngoặt thì mất dấu. Chỗ này ruột hang thắt hẹp lại, trần thấp hơn chỉ cao quá đầu người chút.
- Hừ! Nó biến đi đâu? Lạ thật!
Nàng soi đèn tìm quanh, hai bên vách không có gì lạ, phía sau trước nền hang chạy dài tít trong thăm thẳm.
Đang phân vân suy tính, chợt cảm thấy nong nóng sau gáy như có kẻ dòm trộm chăm chú, nàng giật mình quay phắt lại quét lia đèn ngước lên nhìn. Ngay trên kẹt đá sát trần hang, một bóng người ngồi xổm giương mắt dòm xuống, lù lù như một pho tượng đá. Chính Vi Văn Giáo.
Thấy lộ, y kêu rú lên thống thiết:
- Đừng! Kiều Lan! Hãy tha cho ta… Trời ơi!
- Quái vật! Mi phải đền mạng!
Lưỡi liềm xẹt lên, chúa đười ươi hoảng hốt giơ tay chụp, bị hớt phăng luôn mảng thịt nhỏ. Y rống hộc như con thú bị thương, vùng nhảy vọt qua đầu nàng chúa hồ chạy thục mạng.

Kiều Loan chém vớt theo một đường rồi thu liềm vọt theo kẻ thù.
Đuổi chừng hơn phút, qua một khúc ngoặt nữa, lòng hang dần dần sáng hơn, miệng hang đã hiện rõ phía trước.
Chúa đười ươi cố phóng nhanh hơn, cắm đầu lao đi như tên bắn, đàng sau Kiều Loan vừa đuổi vừa nghĩ thầm:
- Hiện nó không dám đấu chiến, chỉ muốn trốn! Nếu để nó thoát ra ngoài thì hỏng hết!
Nàng tắt đèn bấm, lần trong lớp áo khoác rút khẩu súng lục vừa chạy vừa quát giật:
- Đứng lại, không ta bắn!
Mặc, Vi Văn Giáo vẫn chạy. Hô thêm lần nữa không hiệu quả, nàng chĩa mũi súng về trước, hơi chếch xuống chút, lảy cò.
Đoành! Đạn cày sạt một đường trên nền hang sát gót chân y, tung toé đất đá. Phát súng doạ của nàng càng khiến tên chúa đười ươi chạy như điên. Kiều Loan định nổ thêm phát nữa bắn y què nhưng vụt cái, bóng y đã khuất ngoài cửa hang.
Nàng vọt ra, tay súng hờm sẵn, mắt đảo một vòng quan sát bốn phía.
Chúa đười ươi Vi Văn Giáo đang run rẩy đứng dựa vào vách đá dáo dác ngó nàng.
Thì ra, miệng hang mở lên trên ngọn đỉnh Phi Mã Ác Sơn, ngay trước có một khoảng đất trống khá bằng phẳng. Một mặt là vách núi dựng đứng như thành cao đến năm mươi bộ, ba mặt kia là khoảng không bao la vô tận, dật dờ mây trắng. Xế bên dưới nhấp nhô trùng điệp các ngọn núi thấp hơn trong rặng Ngân Sơn, trải dài xa tít tận cuối trời.
Tuyệt lộ!
Võ Kiều Loan chầm chậm bước tới gần tên chúa đười ươi, ve vẩy mũi súng, cười nhạt:
- Trời hại mi rồi! Xưa, khi gieo oán cho nhà ta, chắc mi đâu nghĩ đến ngày hôm nay! Nghe rõ đây, ta nhắc lại, ta là con gái bà Kiều Lan, không phải hồn người oan thác hiện về! Lẽ ra ta bắn mi ngay, nhưng thôi… vì tinh thần thượng võ ta cho mi một cơ hội đấu chiến công bằng trước khi đền tội! Giữa ta và mi chỉ một kẻ được tồn tại trên đời. Chuẩn bị!
Nàng trút đạn ném súng ra xa, luôn cả cặp liềm, hất mặt chờ đợi.
Chúa đười ươi trố mắt dòm nghi hoặc, hồi lâu y lại lắc đầu, lẩm bẩm:
- Không! Nàng là Kiều Lan! Đừng dối ta! Cõi thế này không thể có kẻ nào giống như nàng... đẹp như nàng! Nàng... nàng chỉ có một đứa con nhưng nó đã... vào bụng sói chiều hôm đó cùng em gái nàng... còn đâu! Kiều Lan, hồn nàng không siêu thoát, về báo oán ta... Trời ơi!
Y vùng ôm mặt khóc rống lên thê thảm.
Nàng chúa hồ hiểu không còn cách nào có thể xoá bỏ được ấn tượng trong đầu y. Cuộc sống cô độc man dã kéo dài suốt bao năm tháng và nỗi tuyệt vọng ghê gớm đã tiêu diệt hết sức mạnh tinh thần trong con người y. Khả năng nhận định cùng sự khôn ngoan cũng không còn nữa, y chỉ sống bằng bản năng và những định kiến được hình thành trong quá khứ!
Nhìn cảnh tên chúa đười ươi khóc, tự dưng Kiều Loan thoáng mủi lòng thương hại.
“Nó sinh ra cũng một kiếp người! Thân mang tuyệt nghệ võ công trùm đời... cũng chỉ vì một chữ tình sai lầm mù quáng mà ra... Nhưng, mẹ cha ta nào có tội gì sao phải thác oan vì tay nó?”
Hình ảnh mẫu thân bồng con chạy trốn trong buổi chiều loạn rừng mưa gió đầy trời, bị sa vào tay quái vật, qua lời vợ chồng ông Trần và vợ chồng tướng lạc thảo Thần Pháo tiên sinh kể lại, vụt lại hiện lên trong đầu nàng. Kiều Loan sôi giận nạt lớn:
- Vi Văn Giáo! Xem đây, ta lấy mạng mi tế vong hồn phụ mẫu!
Nàng nhún chân nhảy vọt tới vung quyền lên, chúa đười ươi lật đật tránh, xua tay rú lên:
- Không! Ta không đấu với nàng! Kiều Lan... ta có lỗi với nàng! Ta chỉ yêu nàng! Hãy tha tội cho ta! Đừng oán hận ta! Nàng... nàng là ma quỷ! Không! Ta không đấu với nàng! Đừng nhìn ta như vậy! Đôi mắt căm thù! Trời ơi! Cũng vẫn là ánh mắt đêm hôm đó!
Như kẻ lên cơn điên khùng, y cứ lảm nhảm nói, chân bước thụt lùi liên tục, phút chốc đã ra đến bờ vực thẳm.
- Đứng lại!
Nàng chúa hồ vọt miệng quát giật. Nhưng hình như y chẳng còn ý thức được điều gì khác ngoài nỗi sợ hãi khủng khiếp trước hình bóng mà y đinh ninh là bà Kiều Lan hiện về đòi mạng!
Y lui một bước nữa, cả thân hình to lớn vụt mất thăng bằng chới với trong không khí...
Kiều Loan vọt ra còn nghe rõ tiếng rú của y vọng lên rồi chìm dần... chìm dần...
Nàng đứng lặng nhìn xuống vực, hồi lâu chợt khẽ thở dài bâng khuâng.
- Vậy cũng xong! Đời hễ có vay ắt phải có trả, kẻ gieo gió rồi cũng gặt bão, thế thôi! Âu đó cũng là lẽ công băng trong trời đất! Giờ còn mấy việc nữa phải làm cho xong!
Kiều Loan thu nhặt vũ khí, lần theo lối cũ trở ra khỏi hang núi. Ngang chỗ bầy đười ươi nằm ngủ, Kiều Loan dừng lại thoáng nghĩ:
- Lũ này xưa từng theo nó đuổi bắt mẹ ta, tội đáng chết! Nhưng dẫu sao chúng chỉ là loài dã thú bị nó sai khiến, nào có ý thức rõ ràng về hành động của chúng! Vả nay kẻ cầm đầu không còn, tất chúng lại sống như muôn loài thú khác!
Nàng nhìn kỹ thấy thiếu mất một con, chính con ôm bầu rượu khi nãy. Đoán chừng nó tỉnh dậy mò đi kiếm ăn đâu đó, nàng lững thững bỏ đi.
Ra tới khu rừng liễu, Kiều Loan rút súng bắn luôn mấy phát chỉ thiên theo hiệu riêng gọi Khiên Mây lên. Trước khi lên đỉnh tìm chúa đười ươi, nàng đã dùng quyền lực Nữ Chúa ra lệnh cho cô tuỳ tướng phải ở lại.
Khiên Mây chỉ được phép lên đỉnh Phi Mã Ác nếu có tiếng súng hiệu của nàng và nếu đến sáng ngày mai không thấy chủ soái trở xuống, nàng tuỳ tướng sẽ một mình xuống núi quay về hồ Ba Bể! Kiều Loan đã dự đoán một cuộc đấu chiến sinh tử với tên chúa đười ươi đến long trời lở đất và trong hoàn cảnh như vậy sự có mặt của Khiên Mây chỉ thêm bận tâm nàng. Bởi tài nghệ nàng tuỳ tướng còn non nớt lắm nếu so với một kẻ võ công trùm đời như họ Vi, lại còn bầy mãnh thú hung tợn của y nữa!
Trong thâm tâm nàng thủ lĩnh hồ Ba Bể không muốn người thiếu nữ thân cận mình gặp điều hung hiểm. Cô ta còn trẻ và quá ngây thơ trong sáng, cuộc đời còn trải dài phía trước, đầy hoa mộng. Thật bất công nếu để người thiếu nữ ấy phải chịu chung điều bất hạnh có thể xảy ra với nàng!
Kiều Loan trở lên gò mộ, vào lều. Ngôi mộ đá được vung đắp kỹ lưỡng, ngay ngắn, trên còn đặt một bó lan rừng lớn, tươi nguyên. Có cả mộ chí bằng tấm đá hoa cương lớn, trên mặt khắc chữ nét thảo khá bay bướm:
“Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân
HOÀNG KIỀU LAN
Lâm Vương lập mộ”
Bên dưới lại còn bốn câu thơ, làm theo thể thất ngôn, ngụ ý bày tỏ tình yêu tha thiết thuỷ chung của y với người đã khuất.
Kiều Loan đắn đo giây lát đoạn vận sức nhổ tấm bia lên, dùng cạnh bàn tay đánh bể, ném đi.
Nàng quỳ xuống khấn vái hồi lâu rồi gục lên mộ mẹ nức nở khóc như mưa gió. Nỗi ai oán bi thương trong lòng dâng trào mãnh liệt, nàng gần như ngất lịm đi với cảm xúc tê tái, xót xa, hờn tủi...
Thình lình ngay rặng liễu dưới chân gò vụt nhô ra một bóng lạ, y phục kiểu nho sinh miền xuôi, áo dài khăn đóng, mặt mũi dáng dấp thoạt trông có vẻ thư sinh công tử, duy có cặp mắt lại long sòng sọc, láo liên như... mắt giặc. Y nhìn lên gò cau mặt lẩm bẩm:
- Sao trên đỉnh Phi Mã này lại có nàng nào ra vẻ gái thị thành mà lại ôm mộ ngồi khóc lâm ly... đến vậy? Bất biết thế nào cứ khống chế trước đã... rồi liệu!
Y vọt lên gò. Thân pháp cực nhanh êm, chứng tỏ một bản lãnh không tầm thường chút nào.
Kiều Loan mải đắm nhìn trong niềm đau thân thế, tinh thần bị mối xúc động thiêng liêng xâm chiếm hoàn toàn nên không phát giác có kẻ lạ tới gần.
Chừng nàng nghe động ngẩng lên thì đã muộn, kẻ lạ vung trảo thủ chụp cứng vai nàng, tay kia điểm luôn mấy trọng huyệt sau lưng nàng.
Nàng chúa hồ chỉ bật kêu được một tiếng, toàn thân tê dại đổ dụi xuống, mắt mở trừng ngó kẻ đánh lén.
Kẻ lạ đẩy nàng dựa vào mộ, nheo mắt ngắm, gật gù:
- À... đẹp! Đẹp lắm! Kể cũng đáng gọi là tuyệt sắc! Này! Nghe ta hỏi, nàng là ai?
Sao lại ôm mộ khóc trên cái chỗ khỉ ho cò gáy này? Nói ta nghe!
Kiều Loan chỉ bị điểm huyệt tê nên đầu óc vẫn tỉnh nói được. Nàng quắc mắt nạt lại:
- Gã kia! Sao vô cớ dám đánh lén ta? Mi là thằng nào? Trông mi ăn mặc ra vẻ cũng biết tí chữ thánh hiền, sao hành động như phường tiểu tặc vô liêm sỉ? Nói ta nghe nào!
Kẻ lạ hơi ngẩn mặt vẻ ngạc nhiên, chừng y không ngờ nàng bị khống chế mà dám ngang nhiên sỉ vả kẻ thắng thế.
- À! Xem ra gái đẹp cũng bướng gớm! Trách nào vừa rồi ta ra đòn thấy có dấu hiệu bị phản kình, suýt hỏng! Hà! Cô em chắc cũng thuộc hàng chọc trời khuấy nước chớ chẳng vừa! Mỗ đoán đúng chứ?
Y nhếch mép cười đểu, đưa tay vuốt má nàng, xuống giọng êm như ru:
- Thôi! Cô em bớt giận. Giờ mỗ chỉ hỏi một câu duy nhất: nàng có thấy tên nào mặc quần áo chàm thổ, đầu chít khăn chữ nhân qua đây không? Nói cho mỗ nghe, ngoan nào! Hà hà!
Kiều Loan nhổ “toẹt”, không đáp.
- Hừ! Gái bướng! Hà hà! Thôi được, lát nữa ta sẽ tính... với nàng! Giờ mỗ bận việc phải đi!
Y điểm thêm mấy huyệt nữa, chừng chưa yên tâm lại rút một sợi dây gân bò trói chặt hai tay nàng ra sau.
- Hà! Cô em cảm phiền chút! Như vầy mới chắc!
Y đứng lên bỏ đi.
Kiều Loan nhìn theo bóng y, uất đến chảy nước mắt.
Hơn lúc nào hết, giờ nàng mới thấm thía cảnh “hùm thiêng khi đã sa cơ...!” Nàng thử vận khí giải khai huyệt đạo. Vô ích! Thủ pháp điểm của y rất lạ, không thể nào tự giải!
Lòng thấp thỏm âu lo, nàng thầm mong cô tuỳ tướng sớm xuất hiện. Nhưng cũng ngại Khiên Mây nếu đơn thân chạm trán y có thể bị thất thế vì tên này xem ra không phải tay vừa.
Sực nhớ y có nhắc đến “người áo chàm thổ, chít khăn chữ nhân”, nàng chạnh lòng nghĩ:
- Hay nó tìm Tiểu Thần Xạ? Thái độ nó tỏ ra muốn giết chàng! Thằng Lầy hôm trước cũng muốn bắt chàng bên bờ sông Gầm! Hình như bọn quan chức thuê chúng làm!
Nàng cảm thấy lo cho chàng trai trẻ ngang tàng khí phách mới một lần gặp gỡ trên chuyến đò ngang, nhưng hình ảnh đã khắc sâu vào trái tim người thiếu nữ chưa một lần yêu bao giờ!
Đang ngổn ngang với bao ý nghĩ trong đầu, bất thần có tiếng chân bước nặng nề rung chuyển về phía lều. Rồi một con đười ươi cực lớn lừ lừ hiện ra, tay còn cầm một cái bầu rượu chừng đã cạn, dốc ngược.

Nó thò đầu lớn bằng cái thúng vào dòm quanh, miệng kêu hi hí khe khẽ.
- Chắc nó tìm chủ nó!
Kiều Loan giật mình thầm nghĩ. Con thú rừng đến đây lúc này, ngay khi nàng không còn khả năng tự vệ, quả đáng ngại.
Vừa nhác thấy Kiều Loan, nó khựng lại chút rồi nhe răng trắng nhởn khịt khịt mấy tiếng đi vào, tiến lại chỗ nàng ngồi cúi dòm. Nàng chúa hồ gần muốn ngạt thở vì mùi tanh hôi từ thân mình nó toát ra ập vào mũi.
Con quái thò tay vuốt lông lá sờ mặt, cổ nàng. Kiều Loan vụt nổi gai ốc rợn người quát rung:
- Nghiệt súc! Không được hỗn với ta!
Mặc, nó vẫn không rời nàng. Hai tay vuốt trôi dần xuống, cặp mắt lồi đỏ khé rực lên như hai bóng đèn nhỏ, họng nó phát ra tiếng gừ gừ bị khích động mạnh trước con mồi thơm.
Bựt! Ngực áo nàng đã bị giật mạnh, xổ tung cả hai lớp trong ngoài. Làn da trắng mịn như mỡ đông, phập phồng khuôn ngà căng đầy sức sống ẩn hiện sau lớp áo nịt bằng sa-tanh đen vụt phơi bày, lồ lộ nét khuynh thành đẹp đến điên đảo cả gỗ đá vô tri.
Kiều Loan sực hiểu, kinh hoảng bật kêu:
- Con quái! Buông ta ra ngay!
Nhưng con vật vùng rít lên kinh khủng, bế xốc nàng chạy vụt ra ngoài lao thốc xuống khu rừng liễu dưới chân gò như cơn lốc. Thoáng cái nó len luôn vào một lùm cây khuất, nhớn nhác ngó quanh rồi đặt “con mồi” xuống mặt cỏ, tay vuốt vươn ra chụp lên mình nàng.
Kiều Loan điếng người hét lên hai tiếng:
- Mẹ ơi!
Rồi nàng ngất lịm.
Nàng choàng tỉnh vì cảm giác mát lạnh trên mặt. Có ai đó đang dùng khăn ướt lau cho nàng. Kiều Loan chớp lia mắt nhìn lên. Một gương mặt đàn ông dần hiện rõ, rất quen, đẹp phong trần dày dạn với đôi mắt vừa nghiêm vừa lôi cuốn lòng người: Tiểu Thần Xạ Trương Hồng Kiệt!
- Ồ! Anh... ông!
Nàng bật kêu sững, mừng mừng tủi tủi trước sự hiện diện của người đã làm rung động tâm hồn nàng. Thử cử động nàng thấy tay chân hoàn toàn thoải mái bình thường.
Thấy nàng tỉnh, Trương Hồng Kiệt mỉm cười hồn nhiên, giọng ấm áp bảo nàng:
- Hay lắm! Nãy giờ ngu mỗ cứ lo... sợ nữ chúa Kiều Loan không thèm dậy! Phải ngồi thức canh... suốt trăm năm như trong chuyện cổ tích.
Hồi tưởng lại chuyện vừa qua, Kiều Loan bật cười, kín đáo xem lại y phục. Một chiếc áo khoác đã được thay cho chiếc lúc trước, cũng là áo của nàng để lại trong hành trang giao Khiên Mây giữ. Chú ý cảm thấy cơ thể cũng không xảy ra điều khác lạ, nàng có phần yên tâm vọt miệng hỏi:
- Thưa, ông... sao cũng có mặt ở đây?
- À... tôi...
Chàng trai trẻ ngang tàng chợt có vẻ lúng túng, không ngờ nàng hỏi vậy. Kiều Loan liếc trông thái độ chàng bất giác quay đi, mặt hoa vụt ửng hồng nóng ran. Một cảm giác lâng lâng, dịu ngọt dâng lên trong lòng nàng... Thật tuyệt diệu!
Nàng lảng sang chuyện khác:
- Thưa, hình như ông có gặp... cô em của... em?
Nàng định nói về chiếc áo đang mặc nhưng kịp dừng lại. Nghĩ đến cảnh chàng gặp nàng sa tay đười ươi, áo bị xé rách, Kiều Loan thẹn đến chỉ muốn chui xuống đất trốn.
- Cô ấy đi tìm nước để nấu cơm cho... nữ chúa hồ Ba Bể.
Chàng có vẻ lấy lại được bình tĩnh, nhìn nàng cười như trêu đùa.
“Chắc Khiên Mây đã kể hết thân thế của hai thầy trò cho chàng nghe rồi!” - Kiều Loan nghĩ thầm.
Tiểu Thần Xạ rút một điếu thuốc sừng bò, châm hút rồi chậm rãi kể:
- Tôi tới bản Thổ vừa lúc gặp tráng đinh đưa mấy cô gái bị bắt cóc về. Hỏi, mới biết chính hai cô cứu giúp họ. Đoán hai cô có việc chi quan trọng ghê gớm nên mới ở lại núi này không về cùng họ. Tôi đã định đi hướng khác giải quyết chuyện riêng, nhưng... không hiểu sao cứ nóng ruột, lo âu... Thế là tôi lần lên núi sớm nay, tới hang dưới đó gặp Khiên Mây đang thút thít khóc. Thấy tôi, Mây vội kể hết mọi chuyện rồi nằng nặc đòi tôi cùng đi giúp nữ chúa của cô ấy. Khỏi nói chắc... Kiều Loan cũng biết... Tôi nhận lời ngay. Vừa lúc đó thì nghe tiếng súng hiệu của Kiều Loan, chúng tôi vội thượng đỉnh liền. Vào đến đây thì gặp đúng lúc con quái đang sắp... làm hỗn, cũng may chưa sao! Tôi hạ nó, xác hiện vứt ngoài kia. Vừa xong con đười ươi lại chạm trán với tên giết mướn mặc áo nho sinh. Tên này đã bám sát tôi từ Hà Giang để chờ cơ hội hạ thủ, đành phải miễn cưỡng khai hoả...
Nàng chúa hồ Ba Bể ngồi yên nghe chàng tướng lạc thảo trẻ tuổi kể xong, từ lúc nào bàn tay của hai người đã đan vào nhau xiết chặt. Rồi mặt tìm mặt, môi tìm môi, họ trao nhau một nụ hôn nồng cháy...
Rất lâu, Kiều Loan khẽ đẩy Hồng Kiệt ra:
- Chắc Khiên Mây sắp trở lại! Giờ... em còn nhiều việc phải làm ở đây!
- Đó là việc của chúng mình!
Chàng dắt tay nàng cùng đứng lên. Mặt trời đang lên cao trên đầu họ.

8/2/2016
Hoàng Ly - Đỗ Hồng Linh
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...