Mồ hôi nước mắt 1
Chương 1
ÁNH đang ủi đồ, một đống
quần áo của người lớn lẫn trẻ con để bên cạnh. Lúc ông giáo sư Ngọc Minh nắm
bàn tay Ánh, Ánh khẽ hất ra. Ánh biết rằng ông Ngọc Minh không toan tính điều
gì bất lương. Nhưng một chút cử chỉ thân thiện đó cũng đã làm cho Ánh hoảng sợ
rồi. Ánh vùng đứng dạy chạy xuống bếp. Ông Ngọc Minh thong thả bước theo.
Ánh ngồi trầm ngâm trên
ngạch cửa không ngó ông. Ông Ngọc Minh đứng trước mặt nàng. Ông thò tay vào túi
áo lấy ra gói thuốc, đánh lửa châm một điếu hút, rồi nói với con ở:
- Xin lỗi Ánh, lúc nãy
tôi đã làm phiền lòng Ánh.
Ánh cúi đầu làm thinh,
ông giáo sư nói tiếp:
- Tôi rất mến Ánh. Tôi để
ý đến Ánh lâu rồi, chắc Ánh cũng đã cảm thấy. Ngay từ ngày Ánh vô giúp việc
trong nhà này nghĩa là cách đây sáu tháng, tôi đã hiểu Ánh nên tôi yêu Ánh.
Nhưng chỉ yêu âm thầm mà thôi. Nay nhân cơ hội gia đình đi vắng, tôi muốn thú
thực với Ánh cảm tình thiết tha chân thật của tôi. Nếu Ánh tin tôi, tôi sẽ thuê
phòng riêng để ở với Ánh.
Con ở điềm nhiên, không
đáp. Ông Ngọc Minh ngồi xuống ngạch cửa, gần Ánh. Ông âu yếm nhìn vào khuôn mặt
hồng hào tuyệt đẹp, khẽ hỏi:
- Ánh có yêu tôi không?
Ánh ngẩng mặt lên nghiêm
nghị ngó ông:
- Tôi không thể yêu ông
được,
- Tại sao không thể?
- Tại hoàn cảnh.
- Tôi không thấy hoàn cảnh
nào cản trở tình yêu của tôi với Ánh. Ánh biết rằng tôi góa vợ đã hai năm nay
và không có con?
- Dạ tôi biết.
- Vậy thì tôi được tự do
yêu Ánh và lấy Ánh làm vợ, có gì ngăn cản đâu?
- Ông được tự do, nhưng
tôi không được tự do.
- Nếu tôi không lầm thì
Ánh chưa có chồng.
- Dạ, tôi chưa có chồng.
- Vậy sao Ánh nói là
không tự do?
Con ở làm thinh.
Ông Ngọc Minh hơi ngạc
nhiên vì những câu trả lời cứng rắn của người tớ gái mười chín tuổi. Rất đẹp và
rất hiền lành, thường ngày Ánh ít nói. Lần đầu tiên ông thấy Ánh có cử chỉ và
ngôn ngữ khôn ngoan cương quyết không ngờ. Ông gặng hỏi:
- Ánh! Tại sao Ánh không
được yêu tôi? Hay là Ánh đã có người yêu rồi?
Con ở vẫn nghiêm nét mặt:
- Dạ không phải.
- Thế thì tại sao?
- Ông là người trí thức,
chắc ông hiểu nhiều.
- Tôi thực không hiểu.
- Xin ông tha lỗi tôi phải
đi ủi đồ, khuya rồi, ông Năm bà Năm sắp về...
- Hai em tôi dẫn các cháu
đi xem xinê, 12 giờ khuya mới về.
Nhưng Ánh không muốn nói
chuyện nữa. Ánh đi thẳng lên phòng giữa, ngồi lặng lẽ tiếp tục ủi đồ, làm công
việc bỏ dở ban nãy.
Ông Ngọc Minh đến ngồi cạnh
Ánh:
- Ánh à, tôi muốn biết rõ
tại sao Ánh không được tự do yêu tôi, trong lúc tôi thiết tha yêu Ánh?
- Thưa ông, tôi chỉ là đứa
đầy tớ, tôi đâu có quyền được yêu một người ở giai cấp giàu sang, một bậc trí
thức thượng lưu.
- Tôi không cần giai cấp.
Tôi không phân biệt giai cấp. Tôi chỉ biết Ánh là một thiếu nữ như tất cả các
thiếu nữ khác. Ánh lại có tư cách đứng đắn, ngôn ngữ đoan trang, nết na hiền
lành, và Ánh có đi học, đã ở Đệ-Tứ. Ánh có học thức, chỉ tại vì số phận quá hẩm
hiu cực khổ nên Ánh phải đi ở mướn tạm một thời gian thôi. Tôi biết rõ hoàn cảnh
của Ánh lắm chớ!
Ánh ngạc nhiên ;
- Tại sao ông biết?
- Tháng bảy vừa rồi, bà
cô của Ánh đến thăm Ánh trong lúc Ánh đi chợ, Ánh có nhớ không? Nhân vui miệng
với em tôi, bà đã kể hết chuyện của Ánh cho em tôi nghe. Ngồi ở phòng khách tôi
được nghe rõ cả. Do đó, tôi được biết rằng ba má của Ánh là người lao động ở một
ngõ hẻm xóm An Bình. Hồi nhỏ Ánh đi học đã được thầy thương bạn mến, vì Ánh học
giỏi và hạnh kiểm tốt nhất trong lớp. Ánh đã đổ bằng tiểu học và học đến lớp Đệ
Tứ thì ba của Ánh chết vi tai nạn lao động trong xưởng máy. Ánh phải thôi học,
kiếm việc làm ở đâu cũng chưa được nên phải ở nhà giúp đỡ mẹ Sau, Ánh đi bán
hàng ở cầu Muối. Mẹ Ánh thì làm công trong một hãng thuốc lá. Rồi hai năm sau mẹ
Ánh tái giá, gặp phải người chồng lưu manh, chỉ cờ bạc rượu chè, và giao du với
bọn đàng điếm. Nhiều lần cha ghẻ bắt ép Ánh đi làm nghề mãi dâm do y kiếm mối.
Ánh cự tuyệt và hai lần phải bỏ nhà trốn đi đến nhà bà cô.
Ánh muốn học đánh máy chữ
để dễ kiếm việc làm, nhưng không có tiền. Ánh phải gánh nước thuê ở xórn Bàn Cờ.
Rồi có lần Ánh nhớ mẹ, về thăm mẹ thi mẹ Ánh đi vắng, người cha ghẻ khốn nạn lại
ép buộc Ánh làm nghề mãi dâm. Ánh cương quyết không chịu liền bị y đánh đập tàn
nhẫn đến đỗi lổ đầu sưng mặt. Người cha ghẻ vũ phu, vô lương tâm, đạp Ánh té
nhào xuống cạnh, chum nước, Ánh nằm bất tỉnh, tưởng như chết rồi. May nhờ hai
bà hàng xóm kêu xe chở Ánh vào nhà thương. Ở bệnh viện ra, Ánh không về nhà cha
ghẻ nữa, trốn đến nhà bà cô ở ngõ hẻm Bàn Cờ. Từ đó Ánh đi ở mướn để kiếm tiền
độ thân. Ánh xem, tôi biết rõ hoàn cảnh rất đau khổ của Ánh như thế đấy. Vì lẽ
đó mà tôi đem lòng thương Ánh và yêu Ánh.
Ánh ngồi ủi đồ, hai dòng
nước mắt lặng lẽ trào ra trên đôi má hồng, âm thầm rơi xuống áo.
Ông Ngọc Minh khẽ hỏi:
- Những điều bà cô của
Ánh kể lại như thế có đúng không, Ánh?
Ánh ngưng bàn ũi, gục đầu
vào tường, khóc nức nở. Ông giáo sư bảo:
- Ánh à, với tôi Ánh
không phải một kẻ ty tiện đâu. Tôi coi Ánh như một người bạn gái đau khổ, vì
nghèo, phải, chỉ vì NGHÈO, mà chịu cảnh lầm than cực nhọc! Tôi không có quan niệm
giai cấp. Tôi chỉ có quan niệm LÀM NGƯỜI. Cho nên tôi thành thật đem lòng yêu
Ánh, và tôi muốn giúp đỡ Ánh tìm hạnh phúc mà mọi người đều có quyền được hưởng,
mọi người đều phải có, không phân biệt ở từng lớp nào, không chia ranh giới một
giai cấp nào. Ánh có tin lời nói của tôi không?
Ánh càng khóc, nước mắt
càng chảy ràn rụa.
Ông Ngọc Minh xúc động,
âu yếm hỏi:
- Ánh à, nếu tôi thành thật
muốn cưới Ánh, thì Ánh nghĩ sao?
Ông Ngọc Minh hỏi đi hỏi
lại ba lần, Ánh chỉ khóc mà không trả lời. Ông hỏi nữa, Ánh lau nước mắt, khẽ
nói:
- Thưa ông, ông có lòng tốt
nói vậy, nhưng tôi đâu dám nhận.
- Tại sao?
- Tại vì tội là một đứa ở.
Tôi là hạng người hèn hạ như ông thấy.
- Tôi đã nói với Ánh rằng
tôi không nghĩ như thói thường nhiều người đã nghĩ. Quả thật trong xã hội có những
thành kiến giai cấp quá vô lý, nhưng tôi sẽ tỏ cho mọi người thấy rằng, không
giai cấp nghèo và giàu, không có giai cấp tư bản và vô sản, mà chỉ có giai cấp
lương thiện và bất lương, chỉ có giai cấp quân tử và tiểu nhân, chỉ có giai cấp
cao thượng và đê tiện, chỉ có giai cấp ở phẩm giá của con người mà thôi. Trước
mắt tôi, một thiếu nữ nghèo nàn mà tính tình cao đẹp như Ánh, có tư cách đứng đắn,
đoan trang như Ánh, là đáng quí, đáng trọng hơn một tiểu thơ khuê các Ở nhà cao
cửa rộng, đi xe hơi Mỹ, mà tính tình bất hảo, tư cách đê tiện, phẩm giả hèn hạ.
Tôi đánh giá trị con người không phải với những hào nháng bề ngoài của vật chất,
mà với giá trị tinh thần và đạo đức.
- Thưa ông, ông nói thế
chớ làm sao xóa bỏ những thành kiến giai cấp cho được? Tôi đã nói, tôi không được
tự do, bởi tôi bị ràng buộc trong thành kiến giai cấp. Tôi ít học, tôi chỉ thấy
thực tế đời người trong xã hội, cho nên tôi đâu dám mơ tưởng đến danh vọng cao
xa.
- Nhưng tôi yêu Ánh, tôi
muốn chánh thức cưới Ánh làm vợ, tức là tôi muốn phá tan những thành kiến bất
công.
- Tôi xin lỗi ông, dù ông
thực lòng thương tôi chăng nữa, tôi cũng xin thành thật cảm ơn tấm lòng quá tốt
của ông, nhưng thật tình tôi không dám nhận. Bởi lẽ gia đình của ông và xã hội
thượng lưu của ông, vẫn khinh bỉ tôi, vì họ chì thấy tôi là một đứa đầy tớ, con
gái của một người cu li đi làm thuê ở mướn. Thưa ông, tôi hiểu như thế cho nên
tôi phải giữ giá trị của tôi. Thà rằng tôi cam phận tôi đòi, một ngày kia tôi
có lấy người chồng cu li chăng nữa, cũng không ai khinh tôi được. Tôi tuy là ít
học nhưng tôi cũng biết gìn giữ danh giá của một người con gái. Tôi vẫn thường
nghe người ta nói rằng tình yêu không có giai cấp, nhưng tôi phải tự biết thân
phận tôi ở một địa vị hèn hạ, thấp kém mọi bề, tôi đâu có tham vọng lớn lao.
- Nhưng một khi tôi yêu
Ánh, thì Ánh có quyền yêu tôi chớ. Ánh có quyền tỏ cho mọi người thấy rằng một
cô gái nghèo cũng có thể là một người vợ tốt, một người mẹ hiền, một phụ nữ xứng
đáng trong xã hội.,. Tôi đã nói những ý nghĩ của tôi cho Ánh nghe, tôi mong Ánh
suy nghĩ, và hiểu lòng tôi. Tôi mong Ánh sẽ đồng ý với tôi, và Ánh đừng tưởng rằng
tôi muốn ve vãn Ánh để làm trò chơi, hoặc lừa gạt Ánh như một kẻ trưởng giả bất
lương. Không phải vậy đâu Ánh à. Tôi thật lòng yêu Ánh và muốn lấy Ánh làm vợ,
công khai trước gia đình và xã hội. Thôi tôi lên lầu... Ánh suy nghĩ, và mai mốt
Ánh trả lời cho tôi biết nhé. Tôi tha thiết chờ đợi câu trả lời của Ánh.
Ông Ngọc Minh chúc Ánh ngủ
ngon đêm nay, rồi ông thong thả bước lên lầu. Ánh điềm nhiên ngồi ủi đồ. Một đống
áo quần của gia đình bà Năm, Ánh giặt từ lúc sáng sớm, phơi cả ngày, rồi bắt đầu
ủi từ lúc chín giờ tối sau khi dọn rửa chén bát, đến bây giờ mới gần hết. Đồng
hò treo trên tường điểm mười một tiếng đã lâu. Một cây đèn nê ông gắn trên trần
nhà chiếu một ánh sáng xanh dịu xuống căn phòng khá rộng, nơi đây dựng một tủ lạnh,
một tủ chứa đồ vặt, và một bao gạo, một xe mô tô, một bàn máy may, một tủ đựng đồ
chơi cho hai đứa con của ông Năm, bà Năm, là em rể và em gái của ông giáo sư Ngọc
Minh. Ông Năm làm chủ sự trong một văn phòng Bộ trưởng với ông giáo Minh đều là
công chức vào hàng thượng lưu và trung lưu, bậc ‘‘ông’’ chớ không phải là bậc
‘‘thầy’’ theo thủ tục giai cấp ở miền Nam.
Đây là căn nhà giữa,
thông qua phòng ăn và phòng khách ở phía trước và nhà bếp ở phía sau. Nơi đây,
con ở thường ủi đồ hoặc may vá, làm các việc lặt vặt.
Vợ chồng bà Năm kêu con ở
bằng ‘‘nó’’, gọi nó là ‘‘Con Ánh’’. Hai đứa con bà gọi bằng ‘‘Chị Ánh’’. Riêng
ông Ngọc Minh thì gọi thân mật bằng tên: ‘‘Ánh’’. Phòng ngủ của Ánh ở kế bếp,
có cửa nhưng chật, vừa đủ kê một chõng tre, một bàn con và treo một ngọn đèn mười
lăm nến mù mờ, Ánh tuy là đứa đầy tớ đi ở mướn cho gia đình bà Năm mỗi tháng
sáu trăm đồng bạc lương, nhưng với tuổi mười chín, Ánh có thân hình nở nang tuyệt
đẹp và sạch sẽ, lễ phép, nhu mì. Ông Ngọc Minh góa vợ đã cảm mến Ánh và yêu Ánh
thành thật, hay là chỉ mê sắc đẹp ‘‘con nhỏ ở’’ rồi tìm cách lợi dụng, quyến rủ
nỏ, như trăm nghìn ông chủ nhà khác đã tư tình với con ở, lừa gạt lấy con ở cho
có chửa rồi tống cổ nó ra khỏi nhà? Ông giáo sư Ngọc Minh có thật yêu Ánh hay
không, chỉ có lương tâm ông biết mà thôi. Nhưng có điều chắc chắn là làm vinh dự
cho ông, là ông không bao giờ khinh khi người nghèo. Thật sự, ông không hề có
thành kiến giai cấp và giả sử ông có thật lòng yêu Ánh thì chắc vì hoàn cảnh
xót xa đau khổ của Ánh, vì tư cách đứng đắn của Ánh, chứ không phải hoàn toàn
vì nhan sắc diễm kiều của cô gái đang tuổi dậy thì. Ông đã lén lút nhiều lần
tìm cơ hội để chuyện trò với con ở. Nhưng không có dịp nào ông được toại nguyện
cả, vì Ánh cứ tìm cách thối thoát và trốn tránh ông hoài. Ánh không tàn nhẫn
đâu, trái lại Ánh rất lễ phép, dịu dàng nhưng Ánh cũng rất cương quyết và khéo
léo chối từ. Đã nhiều lần ông muốn tặng Ánh một vài món tiền khi hai trăm đồng
khi năm trăm đồng, nhưng không lần nào Ánh nhận. Ánh nhã nhặn cám ơn ông mà
không bao giờ Ánh cầm lấy những tờ giấy bạc mới tinh của ông âu yếm trao tặng
Ánh.
Một hôm đầu tháng lương
ông Ngọc Minh có mua một chiếc đồng hồ đeo tay của phụ nữ đáng giá gần ba ngàn
đồng. Thừa lúc cơm trưa xong, vợ chồng ông chủ sự đã lên lầu, ông Ngọc Minh lẻn
xuống bếp đưa cho con ở và nói thầm với nó:
- Tôi tặng Ánh chiếc đồng
hồ này làm kỷ niệm.
Nhưng Ánh khẽ bảo ;
- Thưa ông, ông thật có
lòng cao quí, tôi xin đa tạ ơn ông. Nhưng tôi không dám nhận.
- Tại sao Ánh không nhận?
Tôi thành thật tặng Ánh đây mà.
- Dạ, xin cám ơn ông.
Nhưng tôi ít có dịp dùng đến đồng hồ.
- Tôi đã mua nó để tặng
Ánh, có hóa đơn đề tên của Ánh đấy. Ánh nhận món quà kỷ niệm nầy cho tôi vui
lòng.
- Dạ thưa ông, tôi không
dám. Nhưng tôi rất cảm ơn lòng tốt của ông.
Ánh đi rửa chén bát. ông
Ngọc Minh khẽ nắm lấy cánh tay con ở, cánh tay trắng nõn nà, xinh xắn làm sao!
Nhưng Ánh nghiêm nghị ngó ông:
- Thưa ông, xin ông buông
cháu ra!
Ông Ngọc Minh vội buông
tay Ánh:
- Tôi chỉ muốn đeo chiếc
đồng hồ vào cổ tay của Ánh.
Ánh rưng rưng nước mắt,
không trả lời, vội vàng ngồi xuống rửa bát đĩa. Vừa có tiếng guốc lóc cóc của
bé Ân từ trên lầu đi xuống, đứa con trai đầu lòng sáu tuổi của bà Năm. Ông Ngọc
Minh vội vàng bỏ chiếc đồng hồ vô duyên vào túi áo, với tấm giấy hóa đơn đề tên
Lê thị Ánh. Ông bước lẹ lên nhà giữa. Bé Ân vừa xuống đến nơi, hỏi:
- Cậu Hai không lên nghỉ,
cậu Hai? Cậu Hai làm gì dưới này, cậu Hai?
Ông Ngọc-Minh bẽn lẽn, hỏi
lại nó:
- Con chưa ngủ trưa à?
- Thưa cậu Hai, má con bảo
con xuống mời cậu Hai lên nghỉ.
- Ờ, cậu Hai lên đây. Nãy
giờ cậu Hai còn uống nước.
Chú bé âu yếm nắm ngón
tay ông Ngọc Minh:
- Sao cậu Hai uống nước
lâu vậy cậu Hai?
Ông Ngọc Minh kề tai khẽ
bão cháu:
- Cậu hai đau bụng, chưa
muốn lên lầu con à.
Lên đến lầu, bé Ân chạy lật
đật lại má:
- Má ơi, cậu Hai đau bụng,
má à.
Bà Năm tưởng thật, hỏi
anh:
- Anh đau bụng hả, anh
Hai?
Ông Ngọc Minh không biết
nói sao, chỉ đáp thon lỏn một tiếng:
- Ừ.
Rồi ông sang phòng riêng
của ông, đóng kín cửa lại.
Mặc dầu ông đã bị Ánh từ
chối không nhận đồng hồ, tiền bạc và tình yêu của ông. Ông Ngọc Minh vẫn cứ đeo
đuổi mãi cái bóng mơ thấp thoáng của cô nữ sinh nghèo nàn đau khổ, vì hoàn cảnh
khắt khe phải đi làm con ở...
Ánh yêu kiều duyên dáng
trong bộ quần áo bà ba sạch sẽ gọn gàng, ẩn hiện những đường cong tuyệt mỹ, những
nét mơ uyển chuyển đào tơ.
Đêm nay, vợ chồng ông Năm
dẫn hai đứa con đi xem chớp bóng.
Đáng lẽ, ông Ngọc Minh
cũng đi, nhưng sau bữa cơm tối ông khước từ, viện lẽ hôm nay đau bụng. Bà Năm định
bảo chồng ở nhà để tối mai anh hết đau bụng sẽ cùng đi đông đủ cho vui.
Nhưng lúc sáng sợ hết chỗ
ông Năm vào sở đưa tiền nhờ người tùy phái đi mua trước ba vé. Bà Năm ra đi với
chồng mà trong lòng không vui. Bà khẽ bảo chồng.
- Dạo nầy, sao anh Hai cứ
đau bụng hoài, mình nhỉ?
Ông Năm cũng vô tình đáp:
- Ừ, phải bảo anh Hai
ngày mai đi bác sĩ, để họ khám xem, lỡ ảnh có đau bao tử chăng?
Vợ chồng ông Năm ra đi được
ba mươi phút, Ánh đang ủi đồ, thì ông Ngọc Minh đủng đỉnh mang dép từ trên lầu
xuống, đến ngồi cạnh con ở để tỏ niềm tâm sự như các bạn đã thấy...
Ánh vừa ủi đồ, vừa khóc.
Hai dòng lệ âm thầm rơi xuống áo, Ánh đã lau hai ba lần nhưng vẫn trào ra,, như
tràn ngập cả trong tim. Ánh thầm trách người cô của Ánh sao đem chuyện đời tư
đau đớn nhục nhã của Ánh nói cho gia đình bà chủ nghe làm chi? Ánh đã muốn quên
dĩ vãng đầy nước mắt, và lo công việc đầy đủ cho người ta để rán dành dụm chút
ít tiền làm vốn. Công việc trong nhà rất nhiều, một mình Ánh làm hết, cả ngày
lui cui làm mãi, tối đến có khi 12 giờ mới được đi ngủ, Ánh mệt nhoài người,
không còn rãnh trí để nhớ mẩu đời rất buồn thảm đã qua. Ánh còn muốn thời gian
làm xóa nhòa mau hết những kỷ niệm chua xót ấy. Còn hiện tại và tương lai của
Ánh, một nữ sinh nghèo khổ bơ vơ đem thân đi làm tôi mọi cho người hơi đâu mà
nghĩ đến! Nghĩ đến làm chi cho tủi phận buồn duyên!
Nhưng tối nay, bỗng dưng
ông Ngọc Minh vô tình nhắc lại quãng đời của Ánh đầy gian truân sầu hận, khiến
Ánh càng đau khổ xót xa hơn, Ông giáo sư chỉ nghe người cô của Ánh mách lẻo một
câu chuyện làm quà, ngờ đâu vì câu chuyện ấy mà ông giáo lại đem lòng yêu quí
Ánh, không kể Ánh là kẻ tôi tớ ở thành phần hạ cấp.
Nhưng Ánh không tin rằng
ông Ngọc Minh thực lòng yêu Ánh như ông đã nói. Đã nhiều lần ông lén lút gia
đình em gái ông, tìm Ánh để tỏ tình thiết tha với Ánh lắm. Thường ngày Ánh cũng
nhận thấy ông giáo sư là người rất đàng hoàng hiền lành, lịch sự và có lẽ ông
thương hại hoàn cảnh của Ánh chăng. Nhưng nói rằng ông yêu Ánh bằng một tình
yêu chân thật đậm đà thì làm sao Ánh dám nhận lãnh một mối tình ngang trái giữa
một ông chủ với một con ở, giữa một bậc trí thức giàu sang với một thiếu nữ ty
tiện con nhà lao động, đi ở làm thuê? Ánh cho rằng chẳng qua ông Ngọc Minh
trông thấy Ánh có khuôn mặt trái xoan đều đặn, cặp mắt huyền ảo lạnh lùng mà
Ánh đã từng nghe nhiều bạn gái trầm trò khen ngợi lúc Ánh hãy còn đi học trường
Gia Long, cặp mắt mà nhiều lần chính ông Ngọc Minh cứ nhìn đê mê khiến Ánh ngượng
ngùng khó chịu. Phải chăng ông Ngọc Minh đã say mê đôi má ửng hồng của Ánh mơn
mơn đào tơ và thân hình của Ánh nở nang uyển chuyển, cho nên cứ theo rủ rỉ những
lời tình tự với Ánh? Ánh nghĩ rằng có thể ông Ngọc Minh cảm sắc đẹp của Ánh mà
dùng lời đường mật để quyến rũ Ánh như bao nhiêu người đàn ông khác, thế thôi.
Nhưng tại sao tối nay ông
Ngọc Minh, và lần này Ánh nhớ là lần thứ ba từ khi Ánh mới đến làm công ở nhà
ông, ông lại nói đến vấn đề tình yêu không giai cấp? Đành rằng tình yêu không
phân chia giai cấp, nhưng ông có địa vị cao sang thì ông yêu ai mà chả được? Hiếm
gì các cô gái trẻ đẹp, học giỏi, nhà giàu, sao ông không yêu, ông lại yêu một đứa
ở tồi tàn? Nghe ông nói thật là hay như trong tiểu thuyết vậy, nhưng ngoài đời
thực tế làm gì có một tình yêu chân chính giữa hai cấp bậc trong xã hội hoàn
toàn trái ngược nhau như thế?
Không! Nên tránh ông Ngọc
Minh thì hơn.
Ánh nghĩ thế. Ánh không
nên để cho ông giáo sư đeo đuổi mãi một mối tình vô lý. Ánh đã từ chối nhiều lần
những món quà cũa ông cho. Ánh đã cự tuyệt nhiều lần những cử chỉ bồng bột của
ông. Ánh nhất định phải cương quyết giữ vững thái độ ấy, để tự ông sẽ có ngày
chán nãn và đì tìm tình yêu khác hợp cảnh, hợp tình, hợp lý hơn.
Ánh ủi gần hết đống đồ
thì có tiếng gia đình bà Năm đã về. Cửa ngoài không khóa. Hai đứa nhỏ xô cửa
vào trước. Bà Năm và ông Năm vào sau.
Ánh vẫn ngồỉ yên ủi đồ.
Bé Ân dắt em leo cầu thang lên thẳng lầu. Ông Năm đóng cửa nhà ngoài xong cũng
đi lên lầu. Bà Năm còn vào căn nhà giữa. Ánh lễ phép chào:
- Thưa ông bà đi coi hát
đã về.
Bà Năm ngỏ bốn đống quần
áo đã ủi và sắp xếp tử tế, để riêng từng đống đồ của bà, của ông Năm, của ông
Ngọc Minh, và của hai chú bé. Còn năm sáu cái áo sơ mi và quần của bé Ân chưa ủi
hết. Bà hỏi Ánh ;
- Khuya rồi mà mầy ủi
chưa xong à?
- Thưa bà gần xong rồi.
Ngó đầu tóc con ở hình
như bị bù rối, cặp mắt như muốn sưng, và nét mặt có vẻ buồn rầu, không được tự
nhiên và không vui như mọi khi, bà hỏi:
- Ông Hai đã đi ngủ chưa?
Ánh điềm nhiên đáp:
- Dạ, thưa bà, em ủi đồ
dưới nầy, em không được biết ạ?
Bà Năm làm thinh quày trở
ra phòng ăn, lên lầu. Ánh ủi vội vàng, không suy nghĩ gì nữa. Nhưng Ánh đâu có
biết rằng bà Năm đã nghi ngờ ông anh cả bà hình như có tình tự gì với Ánh. Bà
nghi đã lâu rồi, do thái độ của ông anh từ mấy tháng nay có hơi thay đổi bí mật
đối với ông, nhưng đâu có bí mật được với cặp mắt tinh ranh của cô em gái ông.
Bà Năm chỉ hoài nghi
thôi, chứ thật ra, bà không có lần nào bắt gặp anh bà tình tự với con ở. Thỉnh
thoảng, bà rầy la với những câu tàn nhẫn, hoặc bất công, thì đợi khi vắng Ánh,
ông Ngọc Minh khẽ bảo em nên cư xử dịu dàng với đứa ở. Bà Năm đã không chịu
nghe lời phải và còn giận anh sao lại bênh con ở. Tối nay ông Ngọc Minh không
đi xem chớp bóng, bà cũng giận và nghi ngờ ông muốn ở nhà một mình với Ánh. Kể
ra thì bà Năm nghi cũng đúng thật đấy, nhưng vì đó mà bà lại hay kiếm cớ gắt gỏng
với con ở của bà.
Ánh thức khuya ủi đồ, bà
Năm đã không thương Ánh làm mệt nhọc suốt ngày cho đến 12 giờ đêm, bà lại còn rầy
Ánh sao khuya rồi mà chưa ủi đồ xong. Ánh sực nhớ quãng đời đau khổ vừa qua, mà
ông Ngọc Minh nhắc lại lúc ban nãy. Ánh còn thấy bao nhiêu mỉa mai chua xót của
số kiếp một nữ sinh nhà nghèo đi ở mướn!
Ánh ủi đồ xong, tắt đèn
phòng giữa, đi xuống buồng riêng của Ánh ở cạnh bếp, để ngũ. Đồng hồ đã điểm một
giờ khuya.
Nhưng Ánh nghe tiếng bà
Năm từ trên lầu gọi vọng xuống:
- Ánh! Đun nước sôi pha
cà-phê!
Trong buồng ngủ tối om,
Ánh vừa đặt lưng trên chõng tre chưa được năm phút, đã ngồi dậy, đáp:
- Dạ.
Ánh bật đèn bếp, thổi lửa
bếp để đun nước. Trong khi đợi cho nước sôi, Ánh đứng chụm thêm mấy que củi, đầu
óc nghĩ vẩn vơ đến thân phận của mình... Tự dưng Ánh nhớ lại một vài kỷ niệm của
thời nữ sinh ngây thơ vô tư lự.
Ánh trở vào buồng, lấy
gói vải xanh trong đó có đựng tất cả gia tài của Ánh ; ba bộ áo quần bà ba và
ít đồ lặt vặt. Ánh ôm gói ra bếp, lấy tờ nhật trình cũ lót trên bàn, để cái gói
lên và mở gói soạn đồ đạc ra coi lại. Ánh rút một quyển học bạ bìa xanh đã cũ của
Ánh học ở trường Gia-Long. Học bạ ghi rõ từ lớp Đệ-Thất lên lớp Đệ-Tứ, mỗi năm
mỗi lớp. Lớp nào Ánh cũng được đứng hạng nhì, hạng ba, và được các cô giáo- và
bà Hiệu-trưởng khen:
- Rất chăm chỉ.
- Siêng năng và rất thông
minh.
- Hạnh kiểm tốt.
- Có biệt khiếu về môn vẽ,
và thêu,
- Học mau tấn tới. Rất
chuyên cần. Nhiều triển vọng- về Việt-văn, Sinh ngữ.
- Nhiều cố gắng, và tiến
bộ vê tất cả các môn.
- Rất ngoan.
Và sau cùng, cuối năm Đệ-Ngũ
được bà Hiệu-trưởng khen:
- Người nữ sinh giỏi nhất
trong lớp về học lực cũng như về hạnh kiểm. Cô thiếu nữ này sẽ có tương lai rực
rỡ, đầy hứa hẹn, nếu cô có điều kiện tiếp tục sự học đến nơi đến chốn.
Riêng lớp Đệ-Tứ, Ánh chỉ
học được mấy tháng rồi phải thôi, má Ánh không cho học nữa.
Ánh mỉm cười chua chát,
nghĩ thầm: ‘‘Tội nghiệp cho cựu nữ sinh Gia-Long! Đứng trước bếp lửa sáng bừng
nầy, nó thấy cái tương lai của nó quả thật ‘‘rực rỡ’’ làm sao! Bà Hiệu-trưởng
và mấy cô giáo, mấy thầy giáo của Ánh, có biết đâu ngày giờ này đứa nữ sinh ‘‘rất
ngoan’’ rất ‘‘thông minh’’, ‘‘đầy hứa hẹn’’ của họ chỉ làm một con đầy tớ, một
giờ khuya còn nấu nước sôi để pha cà-phê cho chủ!
Ánh tủi hổ, từ từ gấp học
bạ cất lại dưới mấy chiếc áo quần cũ. Ánh coi đến một quyển ‘‘lưu bút ngày
xanh’’ của bạn gái cùng học một trường với Ánh, viết một bài với một tấm ảnh
dán nơi đầu trang... Đây là Trần-thị- Huệ... chị nầy đã đỗ lấy hai bằng Tú-Tài,
bây giờ đang học Đại - học Sư - phạm, nhờ cha mẹ làm công chức có tiền. Đây là
Lan-Phương, bây giờ làm thư ký đánh máy trong một tư sở. Đàv là Ngọc- Quỳnh,
con nhà xuất nhập cảng, được cha mẹ cho đi học ở ngoại quốc.
Đây là con Minh, học dở
nhứt trong lớp, lười biếng nhứt, lại lẳng lơ trơ trẽn, nhưng nhà nó giàu. Nghe
nói nó đã có chồng làm chủ nhà máy cưa ở Biên-hòa...và Túy-Phượng, bạn thân nhất
của Ánh, nhưng ba má nó có thế lực, nó được xin phép vào học trường Marie
Curie.,.
Mấy chị ấy học kém hơn
Ánh, nhưng nhờ hoàn cảnh, mấy chị đã tiến thân được vẻ vang, nhiều ‘‘hứa hẹn’’
và ‘‘tương lai rực rỡ’’ thật sự. Còn Ánh! Ánh nay là đứa đầy tớ! Chỉ vì cha mẹ
Ánh là dân lao động, vì cha Ánh chết, mẹ Ánh đi bán hàng rong, cha ghẻ Ánh là
tên vô loại! Ánh trơ vơ một thân trơ trọi, nghèo xác xơ không bạc tiền, không
nơi nương tựa, sống khổ cực, sống nhục nhã, sống tuyệt vọng, không có ngày mai!
Từ trên lầu lại có tiếng
bà Năm gọi:
- Nước đã sôi chưa, Ánh?
Sao lâu vậy mậy?
- Dạ, thưa bà, nước vừa mới
sôi ạ.
Ánh cất tập ‘‘lưu bút
ngày xanh’’ vào trong gói quần áo, vội vàng xách ấm nước sôi lên lầu.
Một lúc sau, Ánh trở xuống
bếp, cột cái gói lại định đem cất để đi ngủ. Ánh vừa chợt thấy một mảnh giấy
rơi dưới chân bàn. Ánh cúi xuống lượm: bức thư của người bạn trai đã gởi cho
Ánh từ lâu. Ánh mở ra coi lại. Đây là thư của Hoàng, người bạn cùng lớp, hồi
còn học chung dưới mái trường tiểu học Chợ Quán.
Hoàng cũng con nhà lao động,
cha làm tùy phải ở một sở nhà nước, lượng tháng không quá một ngàn đồng. Khi
Ánh xin được vào trường Gia Long thì Hoàng đi học trường tư, và đỗ Trung học Đệ
Nhất Cấp.
Sáu năm qua, dữ không! Để
kỷ niệm khối tình ngây thơ và đầm ấm giữa Hoàng và Ánh chỉ mỗi trang thư nhầu
nát nầy mà Ánh còn cất mãi!
Ánh mĩm cười, nhớ đến lúc
Ánh với Hoàng cùng học trường Tiểu-học. Hai người thân nhau lắm. Nói rằng hai
người đã ‘‘yêu’’ nhau thì không phải, vì hồi đó Ánh mới mười sáu tuổi, Hoàng mười
bảy tuổi, cả hai đều chăm chỉ học hành chẳng hề nghĩ đến tình yêu như các bạn
trẻ đồng lứa và chưa biết yêu là gì. Cặp thiếu niên ấy cùng con nhà nghèo, cùng
học giỏi và cả hai đều tính nết đoan trang, đã cảm thấy mến nhau, và tự nhiên
quyến luyến nhau. Bức thư độc nhất của người bạn trai mà Ánh còn cất trong gói
áo quần rách rưới đêm nay rớt bên chân Ánh, là bức thư không dài quá một trang,
của Hoàng gởi cho Ánh hồi còn đi học, một hôm gần thi Ánh đau nặng phải xin
phép nghỉ ở nhà ba ngày.
Ánh nhớ lại rõ ràng hôm ấy
là chiều thứ Tư. Ánh nóng lạnh nằm trùm mền trong nhà. Tan học một hồi lâu thì
Hoàng đến, thập thò trước cửa nhà Ánh mà không dám vào. Như thường lệ, giờ ấy
má Ánh đi bán hàng rong ở chợ cầu Ông Lãnh chưa về. Trong nhà Ánh không có ai,
Hoàng có thể vào thăm Ánh tự do. Nhưng ngày thường Hoàng cũng ít dám vào vì sợ
gặp ba của Ánh. Hôm ấy, bà Ánh đi làm chưa về, nhưng Hoàng vẫn cứ lấp ló ngoài
cửa một lúc mới chạy đại vào. Hoàng đến cạnh giường nơi Ánh đang nằm trùm mền,
nhưng Hoàng không dám gọi Ánh. Hoàng lấy trong túi áo bức thư đã viết sẵn, khẽ
nhét cạnh đầu nằm của Ánh, rồi vội vàng đi ra. Ánh nằm mê man, không hay biết
gì cả. Mãi đến sáu giờ má Ánh về nấu cơm, Ánh đã bớt nóng, lóp ngóp ngồi dậy và
gượng xuống bếp để giúp mẹ. Không ngờ Ánh trông thấy một mảnh giấy gấp làm tư nằm
bên gối. Ánh ngạc nhiên mở ra coi, thấy một trang chữ đều đặn, nét chữ dễ
thương của Hoàng.
Bức thư đầu tiên và cũng
là bức thư độc nhất của người bạn trai hồi còn đi học lớp Nhứt trường Chợ Quán.
Đêm nay Ánh đọc lại, tủm
tỉm cười vì giọng ngây thơ thành thật của người bạn trai mười bảy tuổi.
Ánh thân mến,
Sao ba ngày nay Ánh không
đi học? Hoàng không dám đến nhà thăm Ánh, nhưng nghe chị Ngọc nói là Ánh đau,
Hoàng buồn quá Ánh à. Trong trường mình, vắng bóng Ánh thì thấy buồn buồn làm
sao! Tối hôm qua không học để đến thăm Ánh mà không dám vô, vì có ba Ánh ở nhà,
Hoàng đi qua lại trước nhà Ánh ba bốn lần, ngó vô cứ thấy ông ngồi ghế coi nhựt
trình hoài. Ánh đau sao mà lâu khỏi vậy? Hoàng cầu mong Ánh mau lành bịnh để đi
học, chớ gần thi rồi! Ánh thì chắc đỗ, rán uống thuốc cho mau mạnh rồi đi học,
Ánh nhé, trường vắng Ánh sao tôi không muốn học gì hết...
Chúc Ánh mau lành bệnh.
HOÀNG.
Đọc xong thư đã cũ nhèo từ
sáu năm về trước, Ánh suy nghĩ, nét mặt buồn rầu, cúi xuống hôn bức thư.
Ánh rưng rưng nước mắt,
nhớ lại người bạn học nghèo năm xưa. Hoàng thi đỗ Trung học Đệ Nhất-Cấp rồi đi
học đánh máy chữ, tìm một chỗ để yên phần sinh kế. Cuộc đời người thiếu niên
nghèo đâu còn có tham vọng nào cao xa hơn nữa được! Bao nhiêu cố gắng phấn khởi
của tuổi thơ trong thời kỳ học tập đến đây là chấm dứt, để phải lăn mình vào đời
sống thực tế, cam khổ lầm than của con nhà lao động.
Hoàng học khá nhất trong
lớp, thi đỗ cũng đứng cao. Nhưng học giỏi mà làm gì? Đỗ cao mà chi? Ánh cũng
thông minh, chăm chỉ, học đến Đệ-Tứ rồi ngày nay đi làm đầy tớ cho người ta để
kiếm tiền độ thân, thì còn mong gì ‘‘tương lai’’ đầy hứa hẹn’’ như lời của bà Đốc
trường ghi trong học bạ?
Hoàng còn xin được chút
ít tiền của cha mẹ để học đánh máy. Ba tháng sau ra trường cũng bơ vơ thất nghiệp
như bao nhiêu kẻ thanh niên nhà nghèo, lang thang trên vỉa hè đi tìm đường sinh
kế! Ánh còn nhớ một buổi tối, Ánh đang ngồi bán hột vịt lộn và mực nướng trước
rạp hát cầu Muối, bỗng Hoàng đi phất phơ qua đấy, nét mặt tiều tụy, nhưng đôi mắt
thông minh sáng ngời, như lúc còn ở nhà trường với miệng cười chân thật, dễ
thương, biểu lộ một tinh thần đầy lạc quan vui vẻ.
Hoàng dừng bước trước hai
cái mẹt hàng của cô bạn cũ, bỡ ngỡ, chào:
- Ánh!
Ánh cũng bẽn lẽn chào lại,
nhưng vui mừng lộ ra trên mặt;
- Anh Hoàng!...
- Ánh bán hàng, khá
không?
- Khá gì đâu anh! Ngày lời
được vài chục đồng... chán lắm, anh à,.. Còn anh, anh kiếm được chỗ làm chưa?
- Có bằng đánh máy, nhưng
xin việc làm chưa được đâu hết.
Ánh chỉ một chiếc ghế trệt
cạnh lò lửa than nướng khô mực, mời bạn:
- Anh Hoàng ngồi chơi.
Hoàng kéo ghế ngồi gần
Ánh ;
- Ánh bán hàng như vầy có
đủ sống không?
- Có bữa vừa đủ nuôi hai
mẹ con, có bữa thiếu. Nhiều hôm ế lắm anh ơi! Em chán lắm!
- Còn hơn Hoàng ngày hai
buổi vẫn ăn nhờ cha mẹ.
- Anh lo gì, có sẵn bằng
cấp trong tay không sớm thì muộn anh cũng tìm được chỗ làm. Phần em thì có lẽ
già đời phải ngồi bán hột vịt lộn với khô mực! Hai đêm nay bị mưa, ế hàng quá.
Hai người khách đến, hai
anh phu xe cyclo đạp, để xe lên lề đường, kéo nhau lại chỗ Ánh và ngồi xuống
chiếc ghế dài thấp, trước mặt cô;
- Bán hai đồng khô nướng
với hai ly rượu đế cô Hai!
- Dạ.
Ánh niềm nở tiếp hai chú
phu xe cyclo. Họ nâng ly uống một hớp rượu trắng, rồi xé một miếng mực nướng
đưa vào miệng, nhai nhỏm nhẻm. Họ nói chuyện oang oang, giữa đám đông người
toàn là bình dân ăn nhậu và cười nói ồn ào trước cổng rạp cầu Muổi.
Hoàng lặng lẽ ngồi ngỏ
Ánh nướng mực. Hoàng không ngờ mới xa cách nhau chưa bao lâu mà người bạn cũ đã
lớn hơn nhiều. Ánh đã mười chín tuổi, một cô gái đang tuổi dậy thì, sắc đẹp mặn
mà, duyên dáng gấp mấy lần hồi còn xách cặp da đi học.
Ánh mặc áo bà ba trắng,
quần đen, làn tóc huyền, chảy mướt xuống đến giữa lưng. Ánh đèn điện làm nỗi bật
khuôn mặt trái xoan của Ánh với đôi mắt sầu mơ, tròng con ngươi đen lóng lánh,
đôi má ửng đào tơ, bộ ngực nở nang vun vén, hai bàn tay mủm mỉm nỏn nà, trông
Ánh thật là diễm lệ và trong trắng dịu dàng làm sao!
Hoàng ngồi lặng lẽ ngắm
cô bạn học cũ nhà nghẻo mà cậu quý mến nhất. Ánh vẫn còn là người bạn thân yêu
từ khi Ánh học trường Gia Long, Hoàng học một trường tư thục. Dù ít gặp nhau vì
hoàn cảnh gia đinh, vì chăm lo học, đôi bạn trẻ vẫn nặng tình lưu luyến, âm thầm
thương nhớ, chưa dám thố lộ cùng nhau.
Cho đến bây giờ, người đi
bán hàng rong, kẻ lang thang thất nghiệp.
Hoàng nghĩ rằng nếu Ánh
sinh trưởng trong gia đình giàu có, đời sống xa hoa, thì Ánh còn hơn xa gấp mấy
lần các cô tiểu thư khuê các?
Ánh cũng nghĩ rằng nếu
cha mẹ Hoàng có tiền của, Hoàng được đi học đến nơi đến chốn, thì Hoàng đâu có
kém gì các bậc trí thức thượng lưu? Chỉ vi cảnh nghèo khổ đã giam hãm một trang
thanh niên tuấn tú trọng vọng lẩn quẩn của sinh kế, nên bây giờ chàng mới bị cảnh
thất nghiệp, lang thang ngày tháng đi kiếm không ra một việc làm!
Còn Ánh thì cũng chả hơn
gì! Cả vốn liếng chỉ có một rổ hột vịt lộn với một mớ rau răm, vài chục con mực
nướng. Bán từ trưa đến khuya Ánh kiếm giỏi lắm là ba chục đồng bạc lời, tạm đủ
nuôi sống thân gái nghèo, và giúp đỡ mẹ già.
Hai anh phu xe cyclo ăn hết
hai con khô mực và uống cạn hai ly nhỏ rượu trắng, vừa nói chuyện lè nhè -
trong hai mươi phút đồng hồ, rồi móc túi lấy ra 5 đồng bạc nhèo nát đưa cho
Ánh. Ánh nhét dưới thúng không cần đếm lại. Trời sắp đổ mưa. Lúc đầu còn lác
đác rơi vài hột, nhưng Hoàng nhìn lên trời thấy một vòm mây đen nghịt. Gió ào ạt
thình lình thổi mạnh, lay chuyển các ngọn cây hai bên đường. Lá rụng tơi bời,
bay xào xạc dưới ánh đèn. Hoàng giúp Ánh vội vả thu dọn hết gánh hàng vào núp tạm
trong hè rạp hát. Mưa xối xuống như nước lũ. Trong chốc lát hai bên đường nước
ngập tràn không kịp chảy xuống cống. Mưa ào ào không ngớt. Đường phố vắng teo
không một bóng người. Bao nhiêu khách bộ hành bị mắc mưa thình lình đưa nhau chạy
núp mưa, đông nghẹt hai bên hè phố.
Hoàng và Ánh bị đám đông
dồn ép hai bên, phải đứng sát vào nhau. Ánh bẽn lẽn, lần đầu tiên đứng sát vào
cạnh một người con trai, người ấy lại là Hoàng, Hoàng cũng mắc cở, muốn đứng xê
ra một tý. Nhưng đám người đụt mưa cứ lấn áp mãi không còn chỗ quậy cựa được nữa.
Ánh thẹn thùng cảm thấy vai Hoàng và vai Ánh dựa kề nhau như thể truyền cho
nhau một hơi ấm dịu dàng êm ái làm sao ấy...
Ngẫu nhiên bàn tay của
Hoàng chạm vào bàn tay của người bạn gái, hai ngón tay của Hoàng hình như nắm lấy
ngón tay út của Ánh. Ánh thấy tự nhiên rung động toàn thân thể. Vô tình, Ánh
xoay ngó Hoàng, Hoàng cũng vừa quay lại... Hai làn điện chan hòa cùng nhau
trong hai nụ cười và hai tia mắt. Cả hai đều im lặng
Rạp hát Cầu Muối đêm ấy
diễn tuồng hát bội đặc sắc của bầu Thắng, bà con cô bác đi coi thật là đông.
Trong rạp đã chật nứt khán giả, tại cơn mưa rào mà một số đông người thừa cơ hội
lộn xộn ùa vào rạp không cần mua vé. Vì vậy, người ta đã phải đóng cửa rạp,
không bán vé nữa. Số người say mê hát bội, đã dầm mưa từ nhà đến rạp để coi
hát, đến đây họ thất vọng đành phải ở ngoài, chen lấn với đám đông người mỗi
lúc mỗi chật thêm. Trong rạp, tiếng trống kèn inh ỏi, hòa lẫn tiếng mưa thành một
cuộc hòa tấu lào xào, ào ạt lạ lùng.
Hai bà mập ù, mà Ánh nhớ
mặt một bà là một tay đầu thảo chuyên sống về nghề góp hụi ngày ở chợ Ông Lãnh,
bà thứ hai miệng nhai trầu nhỏm nhẻm, cười nói oang oang, vừa từ trong xe xích
lô chui ra, bước lẹ xuống trước mặt Ánh, nhảy đại qua gánh hàng của Ánh và đứng
chen vào giữa Ánh và Hoàng. Sự xâm lấn đột ngột và bất lịch sự của hai bà mập nầy
làm nổi sóng trong đám đông người đụt mưa trên vỉa hè chật chội. Người đầu tiên
bị lấn ra mưa là Ánh, Ánh bị ướt cả đầu tóc và áo quần, tức giận kêu lên:
- Bà nầy kỳ quá, sao bà
xô tôi?
Hoàng liền nhảy ra mưa, nắm
tay Ánh đỡ lên chỗ cũ.
Hoàng lấy cùi chỏ hất mạnh
bà mập ra một bên để giành cho nàng. Nếu không bị vướng gánh hàng của Ánh, thì
Hoàng xô bà mập ra ngoài mưa rồi. Nhưng bà mập bị cùi chỏ của Hoàng thúc mạnh
vào hông, ngã vào bà bên cạnh, và những người đứng kế cận đều bị xô đẩy ngả
nghiêng.
Tiếng phản đối và cãi
nhau nhao nhao nổi lên, mọi người đều gây gỗ với hai bà mập vừa mới chen vào.
Bà mập quay lại sừng sộ với Hoàng và tỏ vẻ hung hăng muốn đánh lộn với cậu.
Hoàng chỏi lại không kém, nhưng Ánh nắm tay Hoàng khẽ bảo:
- Thôi anh! Nhịn là hơn,
đừng nói gì hết.
Hoàng còn đang tức giận,
bảo:
- Để tôi cho họ một bài học,
kẻo họ làm tàng!
Ánh kề miệng vào tai
Hoàng bảo nhỏ:
- Chỗ này chật quá, nếu
đánh nhau với mẽ thì đổ hết gánh hàng của em. Một chút bớt mưa em về.
Hoàng nghe lời Ánh, không
nói lại một câu trong khi mụ mập cứ cheo chéo cái mồm.
Trời Sàigòn không giống
như trời ở các nơi khác. Lúc nắng thì nắng chang chang như thiêu, như cháy, lúc
mưa thì ào ào trút đại hồng thủy xuống trần gian. Thành phố đang khô ráo, thiên
hạ đang đi tấp nập ngoài đường, không có một báo hiệu gì là trận mưa sắp đổ. Bỗng
dưng ông trời động cởn thổi một cơn gió, trút một trận mưa rào rào như muốn lùa
trôi cả Sàigòn ra sông. Nhưng không lâu. Chỉ mười lăm phút hay nửa giờ sau cơn
điên rồ tràn ngập, rồi trời tạnh mưa, không còn rơi rớt một hột nhỏ.
Hoàng ngó lên trời đã thấy
lác đác năm ba ngôi sao. Đám người đục mưa đã lần lượt kéo ra đường, ung dung
đi chơi, hoặc bu lại các gánh hàng quà. Ánh kề vai vào đòn gánh, mỉm cười bảo
Hoàng:
- Em bán hết rổ hột vịt lộn
và mấy con khô mực rồi em về.
- 2 -
Hoàng theo Ánh ra ngồi dưới
trụ đèn, vi chỗ bán hàng lúc nãy đã bị nước mưa đọng lại thành vũng.
Câu chuyện thân mật lại
tiếp tục giữa đôi bạn tâm tình. Có khách đến ăn, Ánh rối rít bán hàng, Hoàng đến
giúp Ánh trong vài việc nhỏ, rót rượu mời khách, nướng khô mực, rửa ly rửa đĩa
trong một chậu nước. Khách đi rồi, hai người lại rù rì trò chuyên. Hoàng hỏi:
- Má không đi bán với
Ánh?
- Dạ, má em bán ngoài bến
tàu. Em rầu cho má em lắm anh ạ, dạo nầy bả mèo với một ông nào đó mà em ghét
quá!
- Sao Ánh ghét người ta?
- Người gì mà tướng mạo
như du côn! Nghe nói chú ấy làm cai ở Bến Tàu, không biết cai gì, mà coi bộ có
nhiều ‘‘em út’’ làm phu khiêng vác. Anh biết không, bữa nọ ổng đến nhà em nói với
má em rằng ổng sẽ giới thiệu cho em một người đàn ông có nhiều tiền!
Ánh cười nói tiếp:
- Ổng làm đâu như em
thích những người đàn ông có nhiều tiền!
Hoàng cũng cười:
- Thời buổi kim tiền, đa
số con gái đều muốn lấy chồng giàu, chớ có ai ngu dại gì mà đi lấy chồng nghèo.
- Phải, em cũng đồng ý với
anh. Nhưng mà...
Có bốn người khách kéo đến
ngồi xuống ghế, bảo Ánh dọn ra một chục hột vịt lộn. Ánh đếm lại trong rổ còn
đúng mười hai hột, liền mời khách:
- Cháu còn mười hai hột,
mời mấy bác dùng hết nhé?
- Ừ, thì cô nương cho hết
mười hai hột đi.
- Các bác uống rượu
không?
- Có chớ! Cô nương cho tụi
tui bốn ly.
Hoàng sốt sắng gìúp Ánh,
lấy bốn ly nhỏ trong thúng ra để trên ghế dài, lấy chai rượu đế rót ra ly.
Ánh thì dọn ra hai dĩa hột
vịt lộn, một dĩa rau rămr một dĩa muối tiêu. Trong lúc bốn người khách ăn nhậu
và trò chuyện om sòm, Ánh lo thu dọn gánh hàng để sửa soạn đi về.
Nửa giờ sau, mấy người
khách mới ăn xong. Ánh bảo Hoàng
- Thôi em đi về đây, anh
Hoàng. Em cảm ơn anh và chúc anh kiếm được việc làm thì em mừng cho anh.
- Hoàng đưa Ánh về nhé.
Ánh tủm tỉm cười:
- Cảm ơn anh Hoàng, em về
một mình được mà,
- Hoàng đưa Ánh về, chúng
ta cùng đi cho vui.
- Dạ cũng được, nhưng sợ
mất công anh đi xa.
- Đây về An bình mà xa
gì.
- Dạ... tùy anh.
Ánh kề vai vào đòn gánh
bước đi nhẹ nhàng, uyển chuyển... Hoàng vui vẻ đi bên cạnh.
Dọc đường, Hoàng hỏi tiếp
câu chuyện dở dang lúc nãy:
- Má dạo nầy có chồng
khác rồi hả?
Ánh cười rất tự nhiên:
- Hai ông bà lấy nhau thật
sự rồi, anh ơi!
- Ổng về ở nhà Ánh sao?
- Chưa ở hẳn, nhưng đi đi
về về luôn. Em ghét lắm
- Sao Ánh ghét?
- Coi bộ ông ta lưu manh
lắm. Nhậu nhẹt tối ngày, ăn nói thì tục tĩu!
- Ổng có thương Ánh bằng
ba lúc trước không?
- Thương cái nổi gì chớ?
Hạng người ấy mà biết thương ai? Mà em đâu có cần ổng thương? Cái thứ cha ghẻ
mà ăn thua gì, anh!
- Cha ghẻ cũng tùy theo hạng
chớ. Cha ghẻ của thằng Bông sao vẫn cưng thằng Bông như con ruột đó thì sao?
- Người ta có học thì
khác chớ. Với lại cũng tùy theo hoàn cảnh. Cái ông nầy thì em thấy mặt là em
ghét, không hiểu tại sao! Ai đời ổng cứ xúi má em bắt em đi làm chuyện tồi bại
để kiếm tiền.
Hoàng ngơ ngác thực thà
không hiểu:
- Chuyện gì tồi bại để kiếm
tiền hở Ánh?
- Hoàng không hiểu sao?
Nhưng em đâu có chịu. Nhiều khi chán nản, em muốn xin phép má cho em đi về ở
quê của ngoại dưới Cần thơ, nhưng má không cho.
- Tại sao?
- Tại bả có một mình em
là gái nên bả không muốn xa em. Em xin bả cho em đi học nữa, bả cũng không cho.
- Sao thế?
- Bả nói tiền đâu mà tiếp
tục học? Bả hỏi em học nữa để làm gì, ai ở nhà lo cơm nước cho mà học?
- Hay là Ánh kiếm công việc
gì làm miễn đủ tiền nuôi sống để có thì giờ học thêm? Tụi mình phải xây dựng một
cuộc đời có ý nghĩa, chớ chẳng lẽ cứ như thế nầy mãi sao?
- Anh Hoàng tưởng em
không biết nghĩ đến việc đó hay sao? Em cũng đã nhờ bạn bè kiếm giùm cho em một
chỗ làm, như đứng bán hàng ban ngày để ban đêm tiếp tục đi học, nhưng kiếm chưa
ra chỗ.
- Sao Ánh không tự mình
đi kiếm việc? Con gái dễ tìm việc hơn con trai. Nhứt là Ánh có sắc đẹp nữa.
Ánh bẽn lẽn ngỏ Hoàng:
- Em mà đẹp gì, anh!
- Ánh đẹp lắm chớ, Hoàng
nói thật đấy, không phải nói nịnh đâu. Ánh đi xin việc làm chắc được liền.
- Thời buổi nầy thất nghiệp
hàng đống, xin việc làm đâu phải dễ, anh! Em đăng vào mục ‘‘Tìm việc’’ trong
báo, một tuần rồi mà chẳng có ai kêu hết. Mấy con bạn của em, đỗ T. H. Đ. N. C.
rồi, có đứa đỗ Tú tài I, cũng nằm nhà một năm nay đó! Em thấy em đi bán hàng
rong thế nầy cũng tạm đủ sống được rồi, không cần phải đi làm đâu cả.
Câu chuyện đến đây thì
đôi bạn đã gần đến nhà Ánh. Còn cách nhà độ mươi thước Ánh dừng bước, mỉm cười
ngó Hoàng:
- Cảm ơn Hoàng đã đưa em
đi một quãng đường xa.
Hoàng muốn đưa Ánh đến tận
nhà nhưng Ánh bảo:
- Thôi, Hoàng à. Em không
muốn hàng xóm trông thấy em đi với Hoàng, sợ họ hiểu lầm chúng mình. Cảm ơn
Hoàng, và chúc Hoàng về ngủ ngon nhé!
Ánh bước đi một mình,
duyên dáng với gánh hàng nhẹ nhỏm. Hoàng đứng lặng lẽ nhìn theo cho đến khi Ánh
quẹo vào ngõ hẻm còn quay lại mỉm cười...
Gần một giờ khuya. Hoàng
đủng đỉnh đi về, đầu óc liên miên nghĩ ngợi.
Chín giờ sáng hôm sau,
Hoàng trở lại nhà Ánh. Ánh nóng lạnh, nằm mê man trên giường trùm mền kín mít.
Hoàng vừa lấp ló toan bước vô cửa thì gặp má Ánh trong nhà đi ra:
- Cậu hỏi ai?
Hoàng ngượng nghịu đáp ;
- Dạ, thưa bác, cháu hỏi...
Ánh.
Bà Tư Rỗ (bà con hàng xóm
thường gọi má Ánh như thế vì hồi nhỏ bà đau trái rạ bị rỗ mặt), đăm đăm ngó cậu
con trai lạ mà bà chưa gặp lần nào, coi bộ cũng nghèo nhưng mặt mày hiền lành dễ
thương. Bà hỏi tiếp:
- Cậu là ai?
- Dạ thưa bác, cháu là bạn
học cũ của Ánh ở trường Chợ quán.
- Mời cậu vô nhà. Con Ánh
nó đau, nó nằm kia. Cậu hỏi nó có việc chi?
Hoàng thấy Ánh trùm mền
trên chõng tre, không quậy cựa. Hoàng buồn bả, xót thương, nhưng không dám đến
gần hỏi thăm cô bạn gái. Cậu chỉ hỏi bà Tư Rỗ:
- Thưa bác, Ánh đau sao?
- Tại nó đó! Hôm qua đã
nóng lạnh, tôi biểu nó ở nhà đừng đi bán, mà nó không nghe lời tôi. Nó sợ nghỉ
bán hàng một bữa thì không có tiền, cứ đòi đi rồi bị mắc mưa, khuya về nóng lạnh,
nằm miết tới bây giờ đó.
- Thưa bác, Ánh có uống
thuốc không?
- Hồi nãy tôi thấy nó rên
quá, rờ đầu nóng hực, tôi lấy dầu Nhị thiên Đường cho nó uống vài giọt.
- Thưa bác, ở nhà có thuốc
tây không?
- Làm gì có. Phần thì tôi
cũng muốn đau, tôi cũng nóng lạnh hai ba bữa rày mà phải cố gắng dậy để đi chợ
mua đồ về bán, chớ không lẽ hai mẹ con nằm mẹp hết!
- Bác cho phép cháu hỏi
thăm Ánh một chút.
Bà Tư Rỗ không muốn thế,
nhưng thấy cậu học trò nói năng lễ phép bà cũng gật đầu:
- Ừ.
Hoàng bước đến gần giường
Ánh, bà Tư ngó theo cử chỉ của cậu. Ánh nằm quay lưng ra ngoài, trùm mền kín đến
cổ, làn tóc dài đen nhánh bỏ xõa xuống giường, Ánh đang mê man bất tỉnh, Hoàng
khẽ sờ lên trán, thấy nóng như lửa. Ánh thở mệt nhọc, đôi mắt nhắm riết dưới
đôi mi dịu dàng. Khuôn mặt hồng hào xinh đẹp lạ thường, xinh đẹp hơn lúc Ánh
khoẻ mạnh. Hoàng thương Ánh quá... Nhưng cậu vội vàng quay ra, chào bà Tư:
- Thưa bác, cháu về.
- Cậu ngồi chơi đã. Cậu
tên chi, hỏi con Ánh có chuyện chi không, nói cho tôi biết để chừng nào nó khoẻ
dậy tôi nói lại.
- Dạ thưa bác, cháu là
Hoàng. Cháu đến thăm Ánh chớ không có chuyện chi hết. Thôi cháu xin phép bác.
Hoàng lễ phép chắp hai
tay trước ngực chào bà Tư rồi bước ra cửa. Bà Tư vô nhà dọn dẹp sơ sài vài nơi,
rồi cầm cái thúng đến gần giường con gái. Bà khẽ đập vai con:
- Ánh! Ánh!
Ánh mê man, không trả lời.
Bà lại nói tiếp. Ánh quậy cựa, bà bảo:
- Má đi chợ đây nghen
con?
Ánh chỉ rên một tiếng, rồi
nằm yên trở lại, coi bộ uể oải lắm. Bà Tư ra đi, sau khi khép cánh cửa ván.
Cánh cửa làm bằng mươi tấm
ván thùng sữa ghép lại, và bồi giấy nhựt trình phía trong.
Vào khoảng mười hai giờ
trưa, Hoàng lại đến. Cánh cửa ván còn khép, Hoàng đánh bạo gõ hai tiếng. Một
lúc cửa hé mở, để lọt vào tia nắng trong căn nhà tối om và ẩm thấp. Người mở cửa
là bà Tư. Hoàng ngó vào nhưng vẫn thấy Ánh còn trùm mền nằm trên chõng tre.
Bà Tư tỏ vẻ không bằng
lòng thấy cậu học trò trở lại. Bà thoáng nghi ngờ cậu nầy có tình ý gì với con
gái bà. Bà bảo:
- Con Ánh nó còn đau.
Hoàng móc trong túi áo sơ
mi lấy ra một trăm năm chục đồng bạc, với cử chỉ ngượng ngịu và sợ sệt, đưa bà
Tư:
- Thưa bác, cháu xin gởi
bác số tiền này nhờ bác trao lại Ánh.
Bà Tư chưa cầm xấp giấy bạc,
nhưng nét mặt bà tươi tắn hơn một chút, bà hỏi:
- Tiền gì đây?
- Thưa bác, tiền nầy là
tiền...
Hoàng ấp úng vài câu bịa
đặt:
- Dạ... tiền của cháu mượn
Ánh hồi trước, nay cháu đem trả Ánh.
- Bà Tư không hiểu, vì bà
biết rằng con gái bà làm gì có tiền cho ai mượn? Cho cậu học trò mượn đến một
trăm năm chục đồng là một món tiền lớn đối với gia đình bà là chuyện hơi lạ, bà
hỏi:
- Tiền gì, nó cho cậu mượn
hồi nào?
- Thưa bác hồi năm ngoái.
Hoàng bỗng thấy mình
không thể đặt chuyện nói láo với má Ánh hơn nữa, và thấy má Ánh đã nghi ngờ, cậu
liền trao tiền cho bà, và nói vội vàng để từ giã:
- Thưa bác, nhờ bác đưa lại
Ánh.
Cậu lại móc trong túi áo
lấy ra một ống thuốc viên:
- Thưa bác, đây là thuốc
thương hàn, cháu xin gởi bác để bác và Ánh uống. Cháu xin phép bác cháu về.
Hoàng vội vàng ra đi, sau
khi đã đưa bà Tư cầm số bạc và ống thuốc viên trừ bịnh nóng lạnh
Bà Tư Rỗ mừng thầm tình cờ
được số bạc một trăm năm mươi đồng, tuy bà chưa biết là tiền gì của cậu học trò
lạ gởi đưa con gái bà. Bà vào bếp nấu nồi lá xông cho Ánh. Tuy bà tin rằng xông
là hết cảm sốt vì đó là môn chữa bịnh rẻ tiền nhất của nhà nghèo và thường là
hiệu nghiệm nhất, nhưng khi xông rồi bà cũng lấy thuốc đưa cho Ánh:
- Con coi có phải là thuốc
nóng lạnh không?
Ánh cầm xem nhản hiệu:
- Phải rồi, má.
- Phải thì con lấy uống
đi cho mau hết bịnh.
- Thuốc ở đâu đây má? Má
mua hả?
- Của cậu học trò gì quen
với mầy đó.
- Ai hả má?
- Cậu gì, tao quên tên rồi.
Nó còn gởi tao đưa trả lại mầy một trăm năm chục đồng bạc đây. Tiền gì mà mầy
cho nó muợn hồi nào, tao cũng không biết nữa.
Ánh ngạc nhiên trố mắt
nhìn mẹ. Vừa mới tỉnh cơn mê sảng, Ánh ngơ ngác không hiểu mẹ nói gì, nhưng bỗng
dưng hình ảnh của Hoàng thoáng hiện ra trong trí nhớ. Ánh hỏi mẹ ;
- Anh học trò nào má? Có
phải cái anh có nút ruồi son ở nơi màng tang đó không?
- Tao đâu có biết nó có
nút ruồi hay không? Tao chỉ nhớ nó nói tên nó là thằng... Thằng gì bạn học cũ của
mầy ở trường Chợ Quán ấy.
- Phải anh Hoàng không,
má?
- Ờ, thằng Hoàng.
Ánh yên lặng một lúc rồi
hỏi:
- Anh Hoàng đưa má một
trăm năm chục đồng mà ảnh nói sao?
- Tiền mày cho nó mượn hồi
nào, ai biết! Nó nói nó gởi trả lại mầy đó.
- Con đâu có tiền cho ảnh
mượn hồi nào?
- Tao biết đâu.
- Anh gởi ống thuốc này
cho con nữa hả, má?
- Ừ.
- ảnh đến đây hồi nào hả,
má?
Bà Tư lại nói đầu đuôi
cho con gái nghe, xong Ánh bảo:
- Chắc là ảnh đến thăm
con, thấy con đau ảnh đi mua thuốc và gởi tiền cho con mượn để uống thuốc. Chớ
con làm gì có tiền cho ảnh mượn!
- Nó làm nghề nghiệp gì?
- Hoàng học giỏi lắm,
nhưng cũng nhà nghèo. Thi đỗ Trung học Đệ Nhất cấp rồi bây giờ thất nghiệp.
- Sao nó có tiền cho mầy
mượn?
- Chắc là ảnh vay mượn của
ai, chớ ảnh làm gì có tiền.
Cảm động vì cử chỉ tốt đẹp
của người bạn trai quá thương yêu mình, Ánh nằm lại xuống giường, thút thít
khóc, bà Tư xuống bếp, múc một tô cháo nóng đem lên gọi Ánh dậy ăn. Nhưng Ánh
không dậy.
Ánh không dè một người bạn
trai cũng nghèo khổ như Ánh, đang thất nghiệp, bơ vơ trên đường đời, mà có lòng
thiết tha lo lắng cho Ánh trong lúc Ánh đau, thật là một cử chỉ cao quý. Một tấm
lòng vàng.
Lần đầu tiên trái tim của
Ánh hồi hộp rung động. Nếu Ánh biết rõ số tiền một trăm năm chục đồng kia, Ánh
sẽ càng thương Hoàng biết bao nhiêu nữa! Ánh không biết rằng Hoàng có một chiếc
đồng hồ đeo tay do một người chú họ thưởng cho Hoàng khi Hoàng thi đỗ, tuy nó
là đồng hồ đã cũ nhưng Hoàng xem nó là kỷ niệm quý báu nhất của Hoàng mà sáng
nay Hoàng đã phải đem bán để lấy một trăm năm chục đồng bạc, đưa cho Ánh và mua
thuốc cho Ánh. Ánh đâu có dè? Chỉ tưởng rằng Hoàng vay mượn tiền của ai để giúp
Ánh trong lúc bệnh hoạn, cũng đã đủ khiến Ánh cảm phục hảo tâm của người bạn
trai kia rồi. Đối với những kẻ nghèo như Hoàng và Ánh, 150 đồng bạc không phải
là một món tiền nhỏ, và Hoàng giúp Ánh trong lúc này chứng tỏ rằng tình yêu của
Hoàng rất thành thật và cảm động. Rồi đây Ánh biết lấy gì đền đáp lại ơn chàng?
Nghĩ quanh quẩn bấy nhiêu
đó, Ánh không sao cầm
được giọt lệ. Ánh vừa vui
sướng vừa buồn bã liên miên.... Vui bởi Ánh được một người bạn trai ân cần chiếu
cố đến, âm thầm săn sóc cho mình và tha thiết thương yêu mình. Buồn, bởi số phận
hẩm hiu, cuộc đời vất vưởng, Ánh cũng như Hoàng, sống một hiện tại tối tăm, một
tương lai mù mịt, bao nhiêu nghị lực và hy vọng của tuổi trả đều như bị chôn
vùi trong đau khổ, nghèo nàn.
Nếu Hoàng biết rõ câu
chuyện xảy ra đêm hôm qua thì Hoàng sẽ còn xót xa cho Ánh biết bao! Sáng nay má
Ánh chỉ cho Hoàng hay rằng tại khi hôm Ánh đi bán bị mắc mưa, về nhà nàng lạnh
nên bị cảm thương hàn đó thôi. Nhưng thực ra Ánh nằm vùi cả ngày hôm nay, mê
man bất tỉnh, đâu có phải vi mắc mưa đêm qua lúc bán hàng ở rạp bát cầu Muối!
Sự thực, là sau khi Hoàng
đưa Ánh về gần đến nhà, và Hoàng đã đi rồi. Ánh gánh hàng vào nhà thì ngạc
nhiên thấy chú Cai Mão, ‘‘cha ghẽ’’ của Ánh, làm Cai thầu khuân vác ở bến tàu,
đang ngồi uống rượu với một thầy nào lạ, Má Ánh đang dọn đồ nhậu trên bàn. Ánh
đã thấy khó chịu rồi. Nhưng nàng vẫn lấy bộ mặt nghiêm nghị và thản nhiên quảy
gánh vô nhà, Chú Cai Mão cất tiếng hỏi Ánh với giọng dịu ngọt bất thường:
- Cô gái cưng đi bán hàng
bây giờ mới về đó hả con? Tối nay bán được khá không con?
Ánh không thích nghe tiếng
‘‘cưng’’ và tiếng ‘‘con’’ trong câu nói của người cha ghẻ. Nàng làm thinh không
trả lời.
Người khách lạ cũng cười
hỏm hỉnh, khen ngợi Ánh:
- Chà, cô Hai giỏi quá
xá? Cô Hai duyên dáng xinh đẹp như vậy chắc là bán hàng đông khách lắm.
Ánh đã quảy gánh biến vào
sau bếp, không trả lời người khách lạ. Ánh rất ghét cái giọng đùa bỡn lố lăng
như thế. Ánh đang dọn dẹp gánh hàng, thì Cai Mão lại gọi:
- Hai ơi, còn khô mực đem
ra đây con!
Ánh hết sức bực mình, tuy
trong thúng vẫn còn mấy con khô mực, nhưng nàng không thích đem ra nhà ngoài để
đãi người khách lạ, nàng đã ghét ngay người ấy vì câu nói vừa rồi, và nàng vẫn
không ưa người cha ghẻ tục tĩu mọi lần hay gấm ghé nàng và xúi má nàng ép nàng
làm nghề mãi dâm lậu thuế, để y rước khách kiếm tiền. Vì ác cảm, nên nàng trả lời
vắn tắt:
- Hết khô mực rồi.
Cai Mão làm thinh. Y rót
thêm rượu mời người khách lạ, rồi nói thì thầm với người nầy:
- Sao? Thầy Hai thấy con
nhỏ được không?
Người khách lạ nhoẻn một
nụ cười khoái trá, gật đầu lia lịa:
- Ngộ lắm.
- Thầy ngồi đây chơi, cứ
việc nhậu đi. Để tôi ra sau kêu nó ra.
Khách lạ tủm tỉm, gật đầu.
Cai Mão đứng dậy ra sau bếp. Ánh đang dọn dẹp đi ngủ. Nàng có một chiếc ghế bố
riêng, kê cạnh chái bếp. Nàng đang cột dây treo mùng, chiếc mùng cũ kỹ đã rách
vá nhiều nơi mà vẫn còn nhiều lỗ hở. Má Ánh đun nước sôi để pha trà. Cai Mão đến
gần Ánh:
- Hai ơi, có Ông Chủ sự
Thương chánh quen lớn với tao, ổng muốn nói chuyện với mầy. Coi bộ ổng thương mầy
lắm đó. Mầy đem bình trà ra pha một chén mời ổng đi.
Hiều ý người cha ghẻ, Ánh
lắc đầu từ chối:
- Tôi không ra đâu.
Cai Mao nổi quạu liền:
- Sao? Mầy không ra hả?
Ánh làm thinh, lui cui cột
dây mùng. Ánh sợ người cha ghẻ du côn lắm, Ánh đã biết y là một tay vũ phu lợi
hại, đến má Ánh mà cũng còn sợ y nữa là Ánh! Nhưng Ánh tức lắm.
Cai Mão lại khẽ dò Ánh,
nói rầm rì bên tai:
- Hai à, tao quen với Thầy
Hai Còm mi, thầy là người tử tế. Thầy thương mầy, thầy cho mầy nhiều tiền, thầy
may áo may quần cho, thầy sắm vòng vàng, cà rá hột xoàn cho. Thầy muốn đưa mầy
đi coi hát trong Chợ Lớn với thầy, tao với má mầy cho phép mầy đi với thầy đó.
Ánh ngồi xuống ghế bố,
khóc. Ánh không dám khóc lớn, sợ cha ghẻ đánh.
Cai Mão liền bảo vợ. Sự
thật, bà Tư Rỗ không phải là vợ mà chỉ là tình nhân của y, vì sợ y mà phải lấy
y luôn. Cai Mão bảo bà Tư:
- Bà phải rầy con Ánh chớ!
Coi bộ con nhỏ cứng đầu đa!
Bà Tư trả lời:
- Ông rầy nó cũng được chớ.
Nó còn nhỏ nó biết gì!
- Mười chín đôi mươi rồi
còn nhỏ gì nữa? Con gái đã lớn mà không nghe lời cha mẹ. Mầy có đi học, mầy thi
đỗ, sao mầy không biết câu tục ngữ nói: ‘‘Cá không ăn muối cá ươn, con không
nghe lời cha mẹ trăm đường con hư?’’
Ánh càng khóc sướt mướt.
Cai Mão nói tiếp, giọng nói lè nhè say rượu:
- Ánh! Mầy... mầy... lớn
rồi, mầy không biết làm ăn giúp đỡ cho... má mầy sao? Má mầy nghèo... nghèo cho
đến nỗi có bữa không có gạo nấu, tao phải đưa tiền cho má mầy đi chợ. vậy mà mầy...
mầy không kiếm nghề gì làm cho có tiền để nuôi má mầy sao?... Không lẽ mầy cứ
đi bán... mấy... mấy cái hột vịt lộn... với... mấy con khô mực đó mà đủ... nuôi
hai má con mầy sao? Mầy ngó lại cái thân mầy coi! Một cái áo nylon để mặc cho
le lói với người ta, mầy cũng không có. Vậy mà tao biểu mầy mấy lần mầy...mầy
cũng không nghe tao, vậy thì mầy muốn gì Ánh? Mầy nói cho tao nghe coi!? Mầy
không nghe lời tao phải không? Ba...ba mầy chết rồi thì tao...tao không phải ba
mầy đây sao...hả Ánh?
Ánh lặng lẽ ngồi khóc, nước
mắt ràn rụa.
Cai Mão đã say quá rồi. Y
đứng không vững nữa, thở ra toàn hơi rượu, y chụp tay Ánh, bàn tay vũ phu của y
nắm đau điếng, Ánh đẩy ra không được, bị y giựt mạnh, miệng khè khà bặp bẹ:
- Ánh, tao cấm mầy...tao
cấm mầy...không được khóc nữa, nghe? Mầy lau nước mắt, đi ra đây với tao...để...để
tao giới thiệu mầy cho Thầy Hai Còm - mi...đi!...đi!...Ánh!...
Ánh vùng vằng la lên, vừa
la và khóc nức nở ;
- Ba ơi!... Ba ơi!... Ba
chết làm chi để cho thân con côi cút đau khổ thế nầy, hỡ Ba! … Ba ơi! Ba ơi!...
Con khổ lắm, Ba ơi!
Cai Mão đánh Ánh một tát
tay thật mạnh:
- À, con nhỏ nầy...mầy la
hả? Mày réo cái thằng cha mầy... sống dậy...để...làm...gì...tao hả?
Y thoi mạnh vào Ánh một
thoi:
- Mầy giỏi réo nữa đi,
tao coi!
Ánh té sụm xuống đất, một
tay vẫn bị cha ghẽ nắm chặt. Má Ánh thì ngồi yên bên bếp lửa, làm thinh không
dám nói gì. Người khách lạ từ ngoài đủng đỉnh bước vào, vỗ vai Cai Mão:
- Thôi, chú Cai! Chú đừng
đánh Cô Hai, tội nghiệp cổ... Tôi can...
Thầy Hai Còm-mi gỡ tay
Cai Mão ra, và ngồi chồm hổm xuống cạnh Ánh, để tay lên vai Ánh:
- Cô Hai đừng khóc nữa.
Ánh hất tay người khách lạ,
vụt đứng dậy chạy ra sau, khóc ấm ức.
Cai Mão đứng trong nhà bếp
chửi ra:
- Con đĩ mẹ mầy! Mầy giỏi
làm bộ cái mặt chó mầy! mầy coi tao!
Chị Tư Rỗ, nghe Cai Mão
nói động đến chị, liền lên tiếng hỏi:
- Ông chửi con đĩ mẹ ai
đó?... Ông ghét nó thì ông làm gì nó ông làm đi, ông giết nó đi, chớ sao ông chửi
tôi?
Cai Mão sặc mùi rượu, lè
nhè:
- Bà không dạy được con
kia, bà còn binh nó hả? Bà muốn binh nó thiệt không? Bà nói đi! Hứ! Con gái bà
hay lắm đó? Đồ chó đẻ không biết thân lại còn... còn... Nè, tui nói cho biết,
nghe hôn! Liệu hồn con Ánh đa!
Thầy hai Còm-mi thấy chuyện
lộn xộn trong nhà Cai Mão và nghe tiếng bà con hàng xóm thì thầm to nhỏ ở ngoài
đường và ở hàng rào sau, y bảo nhỏ Cai Mão ;
- Thôi, chú Cai. Đừng chửi
bới om sòm, hàng xóm họ cười. Cô ấy không chịu thì thôi, để khi khác. Chú nên dịu
ngọt dỗ dành cổ chớ dừng ép buộc cổ bực trí, không xong chuyện gì đâu. Tôi về
đây.
- Mời thầy Hai ở lại chơi
đã, về chi lật đật? Mai Chúa nhựt mà?
- Khuya rồi.
- Mấy giờ mà khuya?
- Gần hai giờ sáng, chủ
tưởng còn sớm lắm sao? tôi về, thím Tư.
- Dạ.
Thầy Hai Còm-mi vội vàng
bước ra. Thấy ba bốn chị đàn bà và vài cô gái kẹp tóc đứng xúm xích ngoài cửa
dòm vô nhà để rình nghe, Thầy Hai mắc cỡ cúi đầu bước thật lẹ ra đường, đi thẳng.
Mấy người đàn bà con gái ngó theo, xầm xì bàn tán.
Trong nhà, Cai Mão vẫn chửi
bới om sòm, không sợ ai nghe. Chị Tư Rỗ ngồi trong bếp làm thinh. Ánh còn khóc
thút thít ngoài sân sau, đứng dựa chum nước cạnh hàng rào phên
Trời lại đổ mưa. Sau một
trận gió lớn lá cây rụng xào xạc, mưa trút xuống ào ào đen đặc cả vòm trời. Bà
con hàng xóm ai chạy về nhà nấy, nhưng về nhà họ vẫn lắng tai nghe. Cai Mão bước
lại đóng cửa bếp, bỏ mặc Ánh đứng dầm mưa ngoài sân sau. Quay vào, y còn ngó hầm
hầm vào mặt chị Tư:
- Tôi cấm bà không được mở
cửa, nghe? Để trời hành nó cho đáng đời!
Xong, y đi lảo đảo ra nhà
trước, ngồi ghế rót rượu uống nữa. Cai Mão uống chưa cạn ly, gục đầu xuống bàn
nói lảm nhảm như đứa điên. Rồi y đứng dậy, qua giường tre của chị Tư kê gần
vách, nằm phịch xuống giường, miệng lảm nhảm vài tiếng rồi ngủ khì.
Chị Tơ coi bộ sợ sệt lắm.
Tuy chị công khai ‘‘lấy’’ Cai Mão đã bảy tám tháng trời, nhưng chị biết Cai Mão
là một tay (anh chị) ở Bến Tàu, một tay du côn có tiếng đã từng đánh đập chị
nhiều lần. Chị đã lỡ lấy y rồi nên bây giờ chị ít dám cãi lời y. Chị còn chiều
chuộng y nữa là khác, bởi lẽ thỉnh thoảng y cho tiền bạc và đưa cho chị bán chợ
đen vài thứ hàng hóa ngoại quốc do bọn em út của y cắp được ở dưới các chiếc
tàu cập bến. Dốt nát và thật thà, chị Tư cũng phục người ‘‘chồng’’ mới của chị
là một tay ‘‘yêng hùng mã thượng’’ chính lời nói của Cai Mão thường khoe khoang
với chị như thế. Chị không cho nghề ‘‘ma cô’’ là bần tiện đâu, vì đã nhiều lần
chị biết chồng chị dắt gái cho khách để ‘‘ăn huê-hồng’’. Lâu lâu, được ‘‘mối’’
nào bở, y khoe với chị và nếu chị xin tiền thì y cũng móc ví lấy cho.
Chị nghèo lắm, nghèo quá
cho nên thỉnh thoảng được Cai Mão cho vài trăm, chị mừng quýnh. Quen cách làm
tiền dễ dãi như thế, chị cho rằng ‘‘ma cô’’ của chồng chị là một nghề nuôi sống
được, chớ cũng không gì hèn hạ.
Đối với Ánh, con gái
riêng độc nhất của chị, hồi còn đời chồng trước, và Ánh còn được đi học, thì chị
cưng lắm, hồi Ánh thi đỗ bằng tiểu học hai vợ chồng mừng rối rít, mua một con
gà về làm gỏi cúng ông bà cha mẹ, và mời cô ruột của Ánh với vài người bà con
hàng xóm đến ăn uống rượu chè để mừng con gái thi đỗ. Anh Tư cố gắng cho Ánh đi
học trường Gia Long. Kế đó Ba của Ánh bị chết oan uổng vì tai nạn lao động. Ánh
đành ở nhà giúp mẹ. Dần dần cửa nhà suy sụp, đã nghèo lại nghèo thêm, chị Tư
làm công ở hãng thuốc Bastos nhưng bị đau ốm, cứ nghỉ hoài nên không đủ tiền
nuôi sống hai mẹ con. Ánh tìm không được việc làm, đành phải đi bán hàng rong
kiếm tiền độ nhựt. Rồi chị Tư gặp Cai Mão, lúc đầu được y giúp ít tiền, tưởng
đâu là người tử tế. Sau khi mèo chuột lén lút đã đời, chị Tư công khai ‘‘ăn ở’’
với Cai Mão, giới thiệu họ hàng làng xóm là ‘‘chồng’’ của chị, rồi về ở luôn
trong nhà chị. Từ đấy Ánh bắt đầu đau khổ vì người cha ghẻ.
Ánh đã lớn. Nhờ có học,
tiêm nhiễm được phong độ lành mạnh của học đường. Ánh bắt đầu ghê tởm người
‘‘cha’’ vũ phu, thỉnh thoảng đánh đập chửi bới mẹ Ánh. Ánh rùng mình lo sợ. Đã
hai lần, Cai Mão lấy lời đường mật dụ dỗ Ánh làm nghề mãi dâm, Ánh đã cự tuyệt,
Ánh khóc lóc với mẹ, nhưng chị Tư Rỗ quá sợ ‘‘chồng’’, chỉ trả lời một câu bơ
thờ với con gái:
- Kệ mầy, mầy muốn sao mầy
cứ nói với ổng. Tao không biết đâu.
Đã hai lần như vậy rồi,
tuy Cai Mão chưa ép buộc gì Ánh, nhưng Ánh đã lo sợ, buồn rầu, cố gìn giữ lễ
phép nhu mì với người cha ghẻ để mong y “thương hại’’, khỏi làm hư hỏng cuộc đời
thiếu nữ.
Đêm nay, thình lình cái
chuyện mà Ánh sợ nhất lại xảy ra một cách vô cùng tủi nhục. Má Ánh vì quá kiêng
nể người chồng mới, không dám bênh vực con gái bị y ép buộc và đối xử quá tàn
nhẩn như thế.
Tình nghĩa mẹ con và
lương tâm của chị đã bị thái độ dã man của ‘‘chồng’’ chà nát dưới chưn. Chị
cũng đành chịu, không dám hé răng.
Nói đúng ra, chị Tư không
phải theo bè với Cai Mão mà ghét bỏ con. Trong lòng chị vẫn thương Ánh và đau
xót cho hoàn cảnh của đứa con độc nhất của chị, nhưng chị sợ Cai Mão quá đổi, định
dần dần để lúc nào y vui vẻ, sẽ năn nỉ y để cho con gái của chị trong sạch,
hòng kiếm được người chồng tử tế đàng hoàng, cho nên chị làm thinh, âm thầm
thương xót mà ngồi nhìn cảnh con gái của mình bị cha ghẻ của nó dày vò đay nghiến.
Nghe Cai Mão đã nằm ngáy khò khò trên giường nhà ngoài, chị đứng dậy khẻ mở
then cửa bếp kêu Ánh. Trời mưa tầm tã, chị
vừa hé mở cửa phên thì
mưa gió tạt vào. Chị đứng một bên, thò đầu ra ngoài trời, không dám gọi to:
- Ánh ơi!...
Ánh không trả lời.
Trời tối đen như mực. Mưa
xối ào ào. Chị Tư lại gọi:
- Ánh ơi! đi vô, con!
Ánh vẫn lặng thinh, không
đáp. Chị chưa trông thấy Ánh đứng chỗ nào. Một lúc chị dòm kỹ mới thấy bóng của
Ánh đứng yên lặng bên lu nước, sát hàng rào phên. Ánh đứng đấy tự nãy giờ dầm
mưa, không nhúc nhích. Gọi tiếp ba lần Ánh không trả lời, chị Tư mới chạy ra
mưa nắm tay con gái kéo vô, Ánh dằng lại, không đi:
- Má để mặc kệ con!
- Đi vô! Ba mầy ngủ rồi.
- Con không vô.
- Đứng dầm mưa ngoài trời
rồi đau đấy, con ơi!
- Chết con cũng không cần
nữa là đau! Con còn mong chết nữa đó!
- Đừng có nói dại. Con
nghe lời má vô thay đồ đi ngủ.
- Đêm nay con ngủ ngoài
mưa.
Chị Tư nắm hai tay Ánh,
kéo vào nhà, Ánh cố trì lại, hai mẹ con níu lại níu qua dưới trận mưa rào trong
đêm tối. Nhưng có tiếng chị Năm Béo, nhà ở sát bên cạnh, từ trong căn nhà tối
thui nói ra dõng dạc:
- Cô Ánh, cô đứng dầm mưa
tự nãy giờ, cảm thương hàn đa cô. Đi vô nhà ngủ đi!
Nghe tiếng nói của chị
Năm Béo mỉa mai làm sao! Đó là chị mỉa mai chị Tư Rỗ mà thương xót cho Ánh. Tiếng
nói của chị Năm Béo hiền từ nhưng chua chát ; cố ý để cho chị Tư Rỗ biết rằng cả
xóm trong ngõ hẻm An Bình nầy đều đã nghe hết những chuyện xẩy ra trong gia
đình chị Tư đêm nay.
Chị Tư nói thầm với con
gái:
- Đi vô con, để hàng xóm
người ta cười...
Ánh suy nghĩ một lúc rồi
lặng lẽ bước vô nhà.
Ánh thay đồ, lên ghế nằm.
Ánh bắt đầu thấy ơn ớn lạnh mà rờ lên trán lại nóng hổi, Ánh lấy mền đắp, một hồi
lâu rồi run cầm cập rồi Ánh mê man bất tỉnh cho đến sáng.
Chiều Ánh dậy được, nghe
mẹ nói có cậu học trò đến thăm. Ánh đoán biết là Hoàng, và từ hôm ấy trong tim
nàng nẩy ra một mối tình man mác. Một mối tình? Cũng chưa phải hẳn là thế, vì
lòng Ánh còn trong sạch, quá bình thản tự nhiên, đã biết yêu đương là gì đâu!
Nhưng Ánh cứ thấy xao xuyến mỗi lần nhớ đến người bạn học cũ nghèo khổ như
mình, đã lo lắng, săn sóc cho mình khi ốm đau bất ngờ. Và cũng từ hôm ấy Ánh nẩy
ra ý nghĩ muốn bỏ nhà ra đi. Ánh ghê sợ người cha ghẻ vô lương tâm muốn lợi dụng
sắc đẹp của nàng để làm nghề buôn hương bán phấn...
Ánh mong cho cơn nóng lạnh
mau khỏi để Ánh ra đi phứt cho rồi! Ánh lo sợ người cha ghẻ dã man, và nghĩ thầm
rằng, nếu mình còn ở nhà thì thế nào cũng có ngày y đánh mình chết! Đã hai lần
rồi y đã dụ dỗ mình, và xúi mẹ mình bắt ép mình phải bán thân vào cảnh sa đọa để
y làm tiền. Lần nầy y đã cư xử khốn nạn với mình như thế biết đâu mai mốt y sẽ
tái diễn cái trò tàn bạo kia nữa thì mình sẽ chịu đựng được nữa khôrg? Ánh rất
đau khổ thấy mẹ Ánh quá sợ người ‘‘chồng’’ vũ phu, không dám lấy lời lẽ can
gián y để binh vực cho Ánh. Lẽ nào mẹ Ánh mê tình nhân đến nỗi ghẻ lạnh với con
gái, để mặc cho y chà đạp lên tấm thân côi cút bơ vơ, mà bà lặng lẽ ngồi nhìn!
Ánh buồn hết sức, nhứt định, nhứt định lần nầy phải bỏ nhà, bỏ mẹ ra đi, tìm một
nơi nương náu để bảo vệ tấm thân thiếu nữ gặp cảnh đa đoan.
Ánh băn khoăn một khi ra
đi lưu lạc, làm sao gặp lại Hoàng? Không ngờ ngày nay đời Ánh lẻ loi hiu quạnh,
chỉ còn có người bạn trai hiền làrh nghèo khổ kia là xót xa thương Ánh, yêu Ánh
mà thôi! Ánh cố nén lòng, ở lại rán chờ Hoàng đến, để hẹn với Hoàng một cuộc gặp
gỡ, nói hết chuyện Ánh cho Hoàng nghe. Nhưng Ánh chờ cả ngày hôm sau, Hoàng
không đến.
Tối hôm ấy, vào khoảng 10
giở, Cai Mão về nhà, mặt đỏ như gấc, sặc sụa hai men. Vừa bước vô nhà, y lè nhè
hỏi:
- Con Ánh làm gì ở trong
nhà he?
Ánh còn mệt, đang nằm
trên ghế bố, tay chân bủn rủn. Nhưng nghe tiếng cha ghẻ, Ánh ngồi vùng dậy, lặng
lẽ chạy ra sân sau, vội vàng leo hàng rào phên trốn bên nhà Bà Năm Béo.
Má Ánh đã đi bán hàng
đêm, trong nhà không có ai, Một ngọn đèn leo lét treo trên vách tường, Cai Mão
vào nhà lục lọi sau bếp tìm không thấy Ánh. Y chửi thề ầm ĩ, hăm he Ánh, rồi chửi
đến chị Tư là ‘‘vợ’’ của y nữa. Một lát sau người đàn ông lạ đêm hôm trước, đủng
đỉnh bước vô nhà. Cai Mão vồn vã tiếp đón:
- Thày hai Còm Mi! Mời Thầy
ngồi chơi.
Hai người nói thì thầm một
chập thật lâu.
Ở bên nhà chị Năm Béo,
Ánh ngồi lặng lẽ một mình,. Chồng chị Năm đã đi chơi vắng. Chị Năm và hai đứa
gái nhỏ của chị đứng nơi hàng rào dòm qua nhà Ánh, thì thầm mét lại Ánh những
điều chúng nó nghe thấy bên nhà nàng.
Hồi lâu Cai Mão ra đi, để
thầy Hai ngồi ở nhà một mình. Một lúc im lặng, Ánh khẽ leo hàng rào về nhà, bước
nhè nhẹ vào bếp, soạn áo quần của Ánh bỏ vào một cái giỏ xách mây. Hình như người
đàn ông ngồi nhà ngoài nghe tiếng động trong bếp. Y nhón gót giày bước vô. Vừa
trông thấy Ánh, y nhếch mép cười rất lẳng lơ:
- Cô Hai làm gì đó, cô
Hai?
Ánh làm thinh, lật đật
nhét đại vào giỏ mấy những quyển tập, sách và đồ vặt của Ánh hồi đi học còn cất
làm kỷ niệm. Thấy Hai Còm mi bước sắn tới:
- Cô Hai! Cô đừng buồn
nghe! Tôi thương cô lắm...
Ánh không thèm trả lời,
xách giỏ mây quay ra, đi chưn không. Nhưng người đàn ông chận lại!
- Cô Hai đi đâu? Bữa nay
tôi tới đây để tặng cô Hai một ghim bạc còn tinh hảo đây nè, và một chiếc cà
rá.
Nói xong, y thò vào túi
quần rút bóp tiền ra. Ánh đi giật lùi đến chiếc bàn cạnh bếp, trên bàn có một
con dao phay. Ánh đứng yên đó, ngó chòng chọc vào mặt người đàn ông.
Thầy Còm mi cầm một ghim
bạc và cái hộp giấy nho nhỏ, xinh xinh, đựng chiếc cà rá. Miệng cười tình tứ,
thầy bước đến gần Ánh, Ánh la lên:
- Lại gần tôi, tôi đâm đấy!
Ánh chụp con dao phay
trên bàn. Người đàn ông nhút nhát, thấy bộ tịch của Ánh hung dữ và nét mặt quả
quyết, y không dám lại gần.
Ánh tay cầm con dao, tay
xách giỏ mây, bước lẹ qua mặt người khách lạ, ra nhà ngoài đi thẳng luôn ra
ngõ.
Ba mẹ con chị Năm Béo và
mấy người hàng xóm đã đứng nấp bên ngoài, đợi coi Ánh đi đâu. Ánh còn quay lại
vứt dao phay vô cửa, rồi đi luôn một mạch ra đường lộ. Những người ngó Ánh ra
đi đều thấy đôi mắt Ánh tràn trề giọt lệ.
Không ai biết Ánh đi đâu.
Họ chỉ thở dài thương xót.
Tay xách giỏ quần áo, Ánh
đi ra đường Trần hưng Đạo, tới ngã tư Nancy, thẳng đến xóm Bàn cờ. Ánh quẹo vào
hai ba ngõ hẻm, tới trước một căn nhà lụp xụp, gõ cửa gọi:
- Cô Sáu!
Trong nhà có tiếng một đứa
nhỏ vọng ra:
- Ai đó?
- Em Nhung ơi, mở cửa cho
chị.
- Chị Ánh hả?
- Ừ, có má ở nhà không
em?
- Dạ, má em ngủ.
Cánh cửa mở, Ánh vào căn
nhà tối om. Một ngọn đèn dầu hôi liu hiu, điểm một chấm đỏ trên bàn thờ Quan
Công.
Em bé trạc 12 tuổi, hỏi
Ánh:
- Chị Hai đến giờ nầy có
chnyện chi không, chị Hai?
- Chị đến ngủ với Nhung,
chớ không có chuyện chi Nhung à.
- Sao bữa nay chị Hai
không ngủ ở nhà?
- Chị trốn nhà đến đây với
Nhung.
- Sao chị Hai trốn?
- Sáng dậy chị nói chuyện
cho cô và Nhung nghe. Bây giờ chị buồn ngủ quá.
Trong căn nhà chật hẹp chỉ
kê chiếc giường gỗ chỗ hai mẹ con em Nhung nằm. Bên cạnh, treo một chiếc võng
đã rách. Ánh để giỏ mây quần áo xuống đất, leo nằm vô võng. Nhung bảo:
- Nằm võng muỗi nó thiêu
chết, chị Hai! Chị Hai lên giường nằm với em.
- Giường chật lắm, để chị
nằm võng được, có muỗi thì chị đắp mền.
Căn nhà yên tĩnh lại như
trước, nhưng có tiếng võng đưa kẽo cà, kẽo-kẹt đều đều. Tiếng võng đưa như kết
thúc tấm thảm kịch riêng của Ánh, như diễn tả nỗi niềm xót xa nghiền ngấm trong
tim nàng.
- 3 -
Ánh không ngủ được, thao
thức suốt đêm, phần bị muỗi cứ vo ve bên tai và bu lên mặt nàng, phần đau khổ
cho những chuyện đã qua, lo ngại cho những ngày sắp tới.
Sáng dậy sớm, Ánh thuật lại
hết những điều đã xẩy ra đêm rồi cho cô của Ánh rõ. Em Nhung ngồi nghe, cứ chắt
lưỡi, thương hại cho số phận của người chị thân yêu con cậu. Thím Sáu Tường là
cô ruột của Ánh, tức giận chị Tư Rỗ, thím chửi rủa không tiếc lời rồi bảo Ánh:
- Thôi, con ở đây với cô.
Con gánh nước mướn ngoài phong tên, cũng có tiền nuôi sống, đừng về với đồ quạ
mổ đó nữa!
Từ hôm ấy, Ánh ở nhà trọ
bà cô ruột ở xóm Bàn cờ, và nghe lời cô, để kiếm tiền đủ sống tạm trong một thời
gian. Ánh phải làm nghề đi gánh nước mướn, ở đây lúc mới đến Anh không có bạn
bè, nhưng dần dần vì sự gặp mặt hằng ngày, Ánh bắt đầu làm quen với vài thiếu nữ,
cùng lứa với Ánh, và toàn là bọn làm thuê ở mướn trong xóm. Không cho ai biết
nàng là một cựu nữ sinh Gia Long, Ánh làm bộ mặt khờ khạo, ngây thơ, không biết
gì. Nhưng tại em Nhung, con bà cô hay đi khoe với trẻ nít trong xóm: ‘‘Chị Ánh
học giỏi lắm đó! Chỉ đã học lớp Đệ Tứ trường Gia Long, chớ đừng tưởng!’’ Thành
thử nhiều thiếu nữ ở mướn không được đi học đâm ra ghen ghét Ánh và những cô nữ
sinh trong xóm lại khinh khi Ánh. Họ trề môi bĩu miệng tìm lời chua ngoa khích
bác cô ‘‘nữ sinh Gia Long’’ đi gánh nước thuê. Nhan sắc thùy mị và yêu kiều của
Ánh càng gây bao nhiêu dèm pha đố kỵ, Ánh vẫn thản nhiên, tuy trong thâm tâm buồn
chán cho cuộc đời xuân xanh đìu hiu ảm đạm, và không thích giao du với những
người cùng lứa nhưng cùng một cảnh ngộ. Ánh làm nghề gánh nước mướn nầy, kiếm
được chút ít tiền, đủ sống tạm qua ngày, không phải nhờ vã bà cô và không làm bận
đến bà. Chung chạ với bọn gánh nước mướn giành giựt ở phong tên, Ánh tập được
tánh mềm dẻo, khôn ngoan lanh lợi, nhưng không bị nhiễm bởi những thói côn đồ mất
dạy, không bao giờ bắt chước ‘‘chửi thề’’, tục tĩu như các bạn ‘‘đồng nghiệp’’,
hoặc nói năng đanh đá như họ.
Dần dần, ba tháng sau,
Ánh quên những chuyện của người cha ghẻ, nhưng vẫn thương xót bà mẹ hiền bị tên
lưu manh đè nén và đôi khi đánh đập chửi bới tàn nhẫn. Má của Ánh thuộc về loại
đàn bà Việt nam ‘‘an thường thủ phận’’, tuy nghèo nhưng cam chịu phận nghèo tuy
bị người chồng vô lại đối xử tàn ác, nhưng không bỏ được chồng, và còn lui cui
làm lụng để phụng dưỡng cho hắn nữa.
Người duy nhất hiểu được
hoàn cảnh tâm sự của Ánh là Hoàng, và cũng là người duy nhất mà Ánh băn khoăn
thương nhớ. Nhiều lần Ánh muốn tìm đến thăm Hoàng nhưng không biết Hoàng ở đâu.
Người bạn học cũ có lòng thiết tha với Ánh cũng không biết Ánh ở đâu.
Sau khi Ánh bỏ nhà ra đi,
Hoàng có đến một lần để thăm Ánh. Hoàng thấy nhà đóng cửa. Hoàng có trở lại hai
lần nữa. Lần sau chót, Hoàng gặp chị Tư Rỗ đang ngồi trong bếp nấu cơm. Hoàng hỏi:
- Thưa Bác, có Ánh ở nhà
không ạ?
Bà Tư trả lời lạnh lẽo:
- Nó đi đâu rồi.
Má Ánh không nói gì nữa.
Hoàng đứng yên lặng một lúc lâu, hơi ngạc nhiên về thái độ bà Tư. Sau cùng cậu
hỏi:
- Thưa bác, Ánh đi đâu?
Bà Tư gắt gỏng:
- Nó đi đâu ai mà biết được.
Cậu hỏi làm chi?
Hoàng không dám hỏi nữa,
chào Bà Tư ra về.
Đêm sau, đúng vào lúc Bà
Tư Rỗ đi bán hàng, Hoàng trở lại lảng vảng trong ngõ An Bình, hỏi người lối
xóm, Bà Năm Béo bảo:
- Cô Ánh bỏ nhà ra đi lâu
rồi. Tại người cha ghẻ hành hạ cổ, ép cổ làm nghề bậy bạ, rước khách kiếm tiền,
cổ hổng chịu.
- Thưa thím, thím có biết
Ánh đi đâu không?
- Tui thấy đi mà hổng biết
đi đâu.
Bà Năm Béo kể tlể sự tình
đầu đuôi các việc xẩy ra tại nhà Bà Tư Rỗ khiến Ánh phải bỏ nhà trốn đi.
Xong bà hỏi Hoàng:
- Cậu có quen với cô Ánh
ha?
- Dạ, cháu là bạn học cũ
của Ánh.
- Tội nghiệp con nhỏ quá!
Chắc là nó trốn đi lục tỉnh! Từ khi chị Tư lấy cái thằng Cai Mão khốn nạn, con
Ánh thì nó cực khổ vàng trời, ai thấy nó vậy mà hổng thương! Trong xóm nầy ai
cũng thương con Ánh hết.
Hoàng ra về, hoang mang
trong trí óc, chẳng biết số phận Ánh hiện giờ ra sao? Hoàng càng thương Ánh, nhớ
Ánh, và nghĩ thầm rằng bao giờ cậu kiếm được việc làm, cậu sẽ dành dụm tiền, để
đi tìm Ánh, lấy Ánh làm vợ. Hằng ngày những khi đi xin việc ở Sàigòn, Hoàng thường
quanh quẩn các đường phố tìm xem may ra có trông thấy Ánh không?
Ánh cũng thế, gánh đôi
thùng ra máy nước, để sắp hàng với các đôi thùng khác, Ánh cầm đòn gánh đứng dựa
gốc cây, buồn bã không nói năng. Thoáng thấy trong đám người qua lại trên đường
phố có chàng trai nào dáng điệu hơi giống Hoàng, mắt đăm đăm ngó theo xem có phải
Hoàng không. Ánh bùi ngùi nhớ lại số tiền một trăm năm chục đồng của Hoàng gởi
mẹ Ánh đưa cho Ánh hôm Ánh bị cảm thương hàn. Nàng nhớ lại tất cả những câu
chuyện của Hoàng với Ánh trước rạp hát cầu Muối đêm trời mưa to. Nàng nhớ lại tỷ
mỷ những cử chỉ quý mến cảm động của người bạn trai đối với nàng hồi còn cắp
sách đến trường. Nhớ bao nhiêu lại thương bấy nhiêu! Ánh nghĩ rằng nếu trong
lúc nầy Ánh gặp Hoàng và Hoàng rủ nàng đi, bất cứ đi nơi nào, miễn là được đi với
Hoàng, sống với Hoàng là Ánh bằng lòng ngay.
Đi đi thôi! Đi cho thật
xa! Đến nơi đất khách quê người, hai đứa bạn tâm tình cùng chung cảnh ngộ, chỉ
biết yêu nhau và đùm bọc lấy nhau! Ánh đâu có mơ tưởng gì hơn!
Gánh đôi thùng nước đầy
trở về ngõ hẻm, đổ mướn cho các nhà trong xóm, hai vai nặng trĩu, Ánh còn phải
bước mau, để kịp ra phong tên hứng một đôi nữa. Sáng dậy thật sớm, từ lúc 5 giờ,
Ánh gánh nước cho đến 11 giờ về nhà cho cô, Ánh còn lo cơm nước đỡ đần cho cô
các việc gia đình, 2 giờ lại gánh nước cho đến 6 giờ chiều. Ánh làm bếp, dọn
cơm để sẵn đấy cho cô và cho em Nhung ăn trước, 7 giờ ruỡi Ánh đã phải quảy đôi
thùng ra phong tên gánh nước cho đến 9 giờ đêm. Các nhà hàng xóm phần nhiều đã
khép cửa dọn dẹp đi ngủ. Bấy giờ Ánh mới quảy đôi thùng nước cuối cùng trong
ngày đem về đổ lu nước ở nhà. Xong rồi mới ăn cơm, dọn dẹp, rửa ráy rồi đi ngủ.
Biết bao nhiêu đêm, Ánh đặt lưng lên giường, trằn trọc không ngủ được. Nghĩ
chuyện này chuyện nọ, buồn bã cho thân phận nghèo nàn côi cút, còn mẹ mà cũng
như không, Ánh rưng rưng hai hàng nước mắt. Có khi Ánh gục mặt vào gối, khóc
thút thít trong đêm khuya.
Một hôm nhớ mẹ quá, Ánh
nói với bà cô:
- Thưa cô, con xin phép
cô con về thăm má con một ngày.
- Ừ, con cũng nên về thăm
chị Tư, rồi dạo nầy nhà cửa ra sao. Chắc con đi lâu, chị cũng nhớ con chờ.
Ánh định 7 giờ sáng về An
bình, ở đấy một ngày với mẹ, đến 5 giờ chiều lại đi.
Vừa bước chân vô nhà, Ánh
thấy mẹ đang dọn dẹp sau bếp, Ánh mừng rỡ chạy đến nắm tay mẹ:
- Má ơi, má có nhớ con
không, má?
Nhưng chị Tư sầm mặt xuống
liền, giận dỗi bảo:
- Mẹ con gì nữa, mầy!
Rồi chị làm thinh tiếp tục
dọn dẹp, không hỏi han gì. Ánh ngồi xuống ngạch cửa, khóc.
Chị Tư Rỗ động lòng, và
có lẽ ăn năn lời nói vô tình vừa thốt ra, chị dịu dàng bảo:
- Nếu mày biết thương
tao, thì mầy đâu có bỏ tao ở nhà một mình. Ba mầy chết rồi, Thì còn có hai mẹ
con mà mầy đành đoạn dứt ra đi, mầy nghĩ coi, vậy có phải là con có hiếu không?
Ánh khóc ấm ức:
- Con không có hiếu mà bữa
nay con nhớ má quá, con về thăm má.
Chị Tư cũng ngồi xuống ghế
bố khóc. Ánh nói tiếp:
- Con vô phước vô phần
cho nên ba con mới chết sớm! Trong lúc gia đình tuy là nghèo, nhưng vẫn được
đoàn tụ vui vầy, con được ba má chiều chuộng cho ăn học. Bây giờ con phải đành
đoạn ra đi, xa mẹ xa con, đem thân ra làm tôi mọi cho người, bưng thuê gánh mướn,
đó là cái số của con bạc phận, chớ đâu phải lỗi tại con?
Chị Tư Rỗ lau nước mắt, dịu
dàng với con gái:
- Má có đuổi con đi sao?
- Má không đuổi con đi,
nhưng má nghĩ coi, con có ở nhà này thì chỉ tủi nhục cho má chớ hay ho gì!
- Má làm gì mà tủi nhục?
- Má còn hỏi nữa!
Hai mẹ con làm thinh, rồi
chị Tư Rỗ hỏi:
- Từ hồi con đi, con ở
nhà ai?
- Con ở trọ nhà người
quen.
- Ở đâu?
- Ở Gò-vấp.
- Con làm gì?
- Con đi ở mướn cho người
ta.
Chị Tư Rỗ đứng dậy, lại gần
Ánh:
- Thôi con đừng đi đâu nữa.
Con ở nhà với má.
Ánh khẽ đáp:
- Thưa má, con thương Má
lắm, nhưng con không ở đây được nữa đâu, má à.
- Dạo nầy má hay đau ốm
luôn, không làm ăn gì được. Con ở nhà đỡ đần vơi má. Nói thiệt con nghe, từ
ngày con đi má buồn hết sức vậy đó. Má nhớ con, má cứ khóc hoài. Nay con về, má
giận con mà má cũng mừng chớ đâu phải má ghét bỏ gì con.
Ánh hỏi:
- Ông Cai Mão còn ở đây với
má không?
Chị Tư lặng thinh một lúc
mới trả lời:
- Còn.
- Con nói thiệt với má,
con thương má lắm. Nhưng ngày nào cái ông ấy còn ở trong nhà nầy, thì con không
bao giờ về ở chung với má được.
- Con đừng có nói vậy.
Tuy ổng là ba ghẻ của con...
- Con xin lỗi má, chớ con
không có bà con gì với ông đó hết.
- Ông cũng thương con, chớ
có gì đâu. Tại gặp hồi ổng say rượu, ổng hay nói bậy bạ đó thôi. Con ở lâu mới
biết tánh ổng tốt.
Ánh nhoẻn một nụ cười
chua chát:
- Trời ơi!..
Rồi Ánh nghiêm nét mặt
nói tiếp:
- Thưa má, vì con nhớ má
quá nên con mới về thăm má, chớ con không ở nhà nầy nữa đâu. Má cho con ở với
má một ngày rồi con lại đi. Con đi làm, chừng nào dành dụm được chút ít tiền,
con sẽ đem về giúp má. Bữa nay má có mệt thì con đi chợ về nấu cơm cho má. Con
có tiền đây rồi.
Ánh đứng dậy đi quét nhà,
lau dọn bàn ghế và làm công việc y như còn hồi ở nhà. Nàng coi ngó lại các vật
dụng còn y nguyên từ lúc nàng ra đi, mỗi vật là bao nhiêu kỷ niệm! Nàng sắp đặt
lại những đồ đạc mà má nàng để bừa bãi trên bàn hay các xó kẹt. Nàng lấy chổi
lông gà quét bụi trên bàn thờ ông Tư, ba của nàng, và chạy ra chợ mua một bó
bông huệ đem về cắm trong bình và một nãi chuối chín đặt trên dĩa, bên cạnh bát
nhang. Nàng đốt đèn cầy, thắp nén hương, đứng cung kính trước bàn thờ, vừa vái
vừa lẩm bẩm:
- Con lạy vong linh ba
phù hộ cho má con bình yên mạnh giỏi và con gái của ba đừng gặp cảnh đau khổ.
Ba thương con đừng để con bơ vơ, tội nghiệp con...
Nàng lau một ngấn lệ rưng
rưng trên mi mắt, rồi xuống bếp đun nước, pha một bình trà, rót vào một chén đặt
trên bàn thờ. Ánh đứng dựa vào cột nhà, ngước mắt lên chăm chú nhìn bức ảnh của
ba và khóc nức nở. Nàng quỳ xuống lạy bốn lạy.
Bà Tư ngồi lặt rau, nói:
- Ổng biểu tao dẹp cái
bàn thờ của ba mầy, tao không dẹp mới còn đó.
Ánh tức giận ngó mẹ:
- Dẹp cái bàn thờ của ba
con thì con về con đốt nhà! Con nói trước cho biết.
Khói trà bay thoang thỏang
một mùi thơm dịu. Ánh cúi lạy một lần nữa. Xong nàng xuống bếp lấy cái rỗ, và bảo
mẹ:
- Thưa má, con đi chợ
đây, má. Bữa nay má thích ăn gì, má nói con mua.
- Con muốn mua gì thì
mua.
- Con biết má ưa ăn canh
chua cá lóc, con mua cá lóc về nấu canh, nghe má?
- Ừ, lâu quá má không ăn
canh chua cá lóc.
Ánh đội nón xách rỗ bước
ra đường.
Chị Tư đứng trong bếp
nhìn theo đứa con gái, yêu kiều, duyên dáng, mà chị đã vắng bóng lâu ngày. Tuy
là lâu ngày, nhưng tính lại cũng mới có bảy tám tháng thôi; thế mà bây giờ
trông thấy Ánh như lớn hơn trước nhiều. Chị Tư không dè đứa con gái của chị mới
hồi nào hãy còn như con nít mà bây giờ đã có điệu bộ thướt tha dịu dàng, coi
thiệt dễ ưa.
10 giờ Ánh đi chợ về, ngạc
nhiên thấy má đi vắng, cửa khép không có ai coi nhà. Ánh ra sau bếp, đứng trong
hàng rào phên hỏi qua hàng xóm:
- Thím Năm ơi, má cháu đi
đâu thím có biết không?
Chị Năm Béo ở trong nhà
nghe tiếng Ánh, liền cất lời hỏi:
- Cô Ánh về hồi nào đó?
Chị lật đật chạy ra sân,
vui mừng hỏi han:
- Cô Anh mới về hả cô? Bà
Tư đi chợ Ông Lãnh có dặn tôi khi nào cô về thì cô nấu cơm rồi trưa Bà Tư về.
- Dạ, cám ơn thím Năm!
Ánh nói chuyện vui vẻ với
chị Năm bên hàng rào, nhưng vẫn giấu không cho chị biết Ánh ở đâu và làm gì
trong thời gian qua. Một lúc, Ánh vào bếp lo cơm nước.
Bỗng có tiếng người cha
ghẻ về. Không ngờ gặp Ánh, Cai Mão trông thấy cô đã niềm nở:
- Ủa, Ánh về đó hả?
Ánh chau mày làm thinh,
cúi đầu làm cá. Cai Mão đến gần hỏi:
- Ánh đi đâu lâu quá vậy
con?
Ánh nhất định không trả lời.
Người cha ghẻ tiếp tục hỏi dồn, giọng nói thân mật đểu giả:
- Ánh ở đâu, ở nhà ai,
tôi biết rồi, nhưng tôi muốn chờ Ánh về đây tôi nói chuyện cho Ánh nghe. Ánh đừng
tưởng rằng tôi ghét Ánh đâu nghe. Tôi thấy Ánh cực khổ tôi có lòng thương, tôi
muốn giúp đỡ cho Ánh đó chớ!
Ánh vẫn làm thinh. Cai
Mão ngồi thụp xuống bên cạnh để tay lên vai nàng:
- Ánh ơi I
Ánh hất tay người cha ghẻ
ra. Cai Mão lì lợm, càng ngồi sát vào Ánh:
- Ánh ở nhà đừng đi đâu nữa
nhé. Dạo nầy tôi nhảy dù được mấy món đem bán được bộn tiền, Ánh muốn đồ nữ
trang gì tôi sắm cho, quần áo đẹp muốn may mấy cái tôi may cho,
Ánh chừ bự cái mặt không
thèm trả lời một câu, nhưng Cai Mão cứ dỗ dành:
- Ánh muốn đi ở riêng
không, tôi mướn một căn nhà lá ở bên Khánh hội cho Ánh ở?...
Người cha ghẻ khốn nạn bỗng
dưng đưa tay ôm choàng lấy Ánh. Ánh đẩy mạnh ra, đứng dậy la lớn:
- Cái ông nầy làm gì kỳ cục
vậy?
Ánh chạy ra cửa bếp,
nhưng Cai Mão chạy theo chụp lấy nàng, một tay khép cửa, một tay lôi nàng lại
ghế bố, Ánh giẫy giụa la lớn:
- Ối làng xóm ơi! ối làng
xóm ơi!
Cai Mão rút khăn tay toan
bịt miệng nàng, nhưng Ánt đã cắn được một vết đau điếng trên bàn tay vũ phu,
Cai Mão phải buông ra, Ánh thoát được, nhưng liền bị y kéo lại và đánh một bạt
tay nẩy lửa. Ánh chạy lảo đảo ra đến sau bếp, vừa khóc vừa la: ‘‘Ối làng xóm
ơi!’’ Cai Mão chạy theo tay cầm một thanh củi đập túi bụi lên đầu Ánh đổ máu,
Ánh ngã gục xuống sân, cạnh lu nước, còn bị Cai Mão sấn lại đạp vào hông.
Bên hàng xóm có chị Năm
Béo và bốn năm thiếu nữ kẹp tóc, đổ xô ra coi, thấy Cai Mão đã bỏ đi ra khỏi
nhà và cô Ánh nằm bất tỉnh trên sân, máu chảy một dòng trên trán, mấy người liền
leo rào nhảy qua, chị Năm Béo bảo một thiếu nữ kẹp tóc chạy đi kêu xe rồi chị với
mấy người khác xốc cô Ánh ra xe để chị đưa Ánh đi nhà thương.
Gần 12 giờ trưa, chị Tư Rỗ
về nhà không biết chuyện chi hết. Chị không thấy con gái đâu, đã hấm hứ:
- Cái con nầy thiệt... Lại
đi nữa rồi!
Nhưng chị thấy trên bếp
đã bắc nồi cơm, lửa tắt mà cơm chưa chín. Trên thớt còn con cá lóc làm dở dang
mới cạo sạch vảy. Chị ngó quanh quất không thấy gì lạ bước ra cửa bếp ngó ngoài
sân sau, cũng không thấy Ánh. Chị Tư liền kêu vói, sang nhà chị Năm Béo:
- Ánh ơi, có ở bên nhà chị
Năm Béo hông?
Không nghe Ánh đáp. Chỉ
có cô Lộc, một thiếu nữ kẹp tóc ở cạnh nhà chị Năm, kéo guốc lẹp xẹp ra hè, đứng
sau hàng rào phên, nói vọng qua:
- Chị Ánh đi nhà thương rồi,
bà Tư à.
Chị Tư hốt hoảng:
- Ủa, nó sao mà đi nhà
thương?
- Chị bị ông Cai Mão đánh
lỗ đầu chảy máu, chỉ nằm chết giấc, bà Năm phải khiêng chỉ ra xe đem đi nhà
thương.
Cô Lộc kể đầu đuôi tự sự
cho bà Tư nghe những chuyện đã xẩy ra mà cô với bà Năm Béo và mấy người khác đã
nghe thấy từ khi Cai Mão bước vô nhà. Chị Tư Rỗ ngồi xuống đất khóc nức nở. Tiếng
chị khóc rất thảm thiết, tưởng như Ánh đã chết rồi!...
Hỏi cô Lộc chị Năm đưa
Ánh đi nhà thương nào, Lộc không biết, chị Tư lại khóc than kể lể rùm beng cả
xóm. Một lát sau chị Năm Béo về. Chị đi thẳng vô nhà chị Tư, chưa thấy chị nầy,
chị Năm nói bô bô lên một mình:
- Cũng thiệt là may! Gặp
cái ông Đốc tơ nhơn đức, chớ không có thì con nhỏ cũng bỏ mạng tám mươi đời.
Chị Năm đi chưn không, bước
thùi thụi, vừa hỏi trống rỗng:
- Có đôi guốc cùn của tôi
để trong nầy hông nè? May đủ thứ may! Cái anh tài xế tác xi cũng tử tế, mình
kêu xe chở đại cô Ánh tới nhà thương, mà trong túi hổng có tiền trả tiền xe, ảnh
thấy cô Ánh bị đổ máu ướt nhẹp cái đầu, ảnh cũng hổng nỡ đòi tiền... ủa đôi guốc
của tôi đâu cà?
Chị vừa kiếm đôi guốc, vừa
ra đến cửa bếp, thấy chị Tư ngồi khóc sướt mướt, chị la lên ;
- Chị Tư biết hông? Tui hỏng
đem con Ánh vô nhà thương kịp sáng nay thì đừng nói nó sống! Trời ơi, chị biết
hông máu chảy tua tủa ra dễ sợ quá, tưởng nó chết trên xe rồi chớ! Ông nội ơi,
nó sưng vù trên đầu trên trán ba bốn cục vầy nè! Chị biết hông, tới nhà thương
thì ông Đốc tơ đã ra xe hơi đi về, tụi tui phải năn nĩ ổng, nói con Ánh bị chảy
máu nhiều quá sá, sợ nó chết lịm mất..
Tội nghiệp ông, chị biết
hông, ông thấy con Ánh như vậy, ổng lật đật biểu đem vô buồng thuốc, ông băng
bó cho nó, rồi ổng chích cho nó hai mũi thuốc, hổng biết thuốc gì... Nghe ông Đốc
tơ nói hổng sao đâu, tui mới hết lo, chớ chị biết hông, hồi chở nó đi trên xe,
tui cứ sợ nó chết lịm trên xe thì thấy mồ tổ! Chèng đéc ông nội ơi, từ hồi khai
thiên lập địa tới giờ, tui mới thấy ông Cai Mão đó là một đa, chị Tư ơi! Chị biết
hông, chị mà thấy ổng cầm cây cũi to bằng cổ tay tui đây nè.., kia cà, cây củi ổng
đánh con Ánh ổng quăng ra kìa, chị mà thấy ông đánh con nhỏ, chị cũng đứt từng
đoạn ruột chớ đừng nói là lũ tui... Đàn ông gì mà dữ quá xá là dữ!... Coi có
đôi guốc tao ở bền hông Thẹo?
Chị Năm hỏi con Thẹo, là
cháu kêu bằng dì mà chị vừa thấy đứng bên hàng rào phên, với cô Lộc và ba bốn
thiếu nữ ở hàng xóm. Con Thẹo chạy kiếm một lát, trả lời:
- Hổng thấy đôi guốc của
dì đâu hết.
- Vậy chớ tao bỏ quên nó ở
trên tắc xi rồi sao, mầy? Ủa mà có một chiềc đây rồi nè! Phải guốc của tao
hông?
Chị Năm chợt thấy một chiếc
guốc ở cạnh lu nước, trong kẹt hàng rào. Chị chạy lại lấy, đúng là của chị. Chị
đập chiếc guốc cùn xuống gạch kêu một cái ‘‘đốp’’, hình như chị tức giận nó lắm:
- Mẹ cha mày, nằm đây mà
để tao kiếm ứ hơi!
Chị ngó quanh quẩn trong
sân:
- Còn một chiếc nữa đâu
Một tay cầm chiếc guốc,
chị Năm còn quay lại chị Tư:
- Chị Tư biết hông, con
Ánh có dặn tôi đừng nói cho chị biết là nó nằm nhà thương! Tui đỡ nó nằm xong
xuôi rồi hết tui mới đi bộ về đây nè. Người ta băng bó cho nó kín hết trọi cái
đầu, còn chừa một cái mặt thôi hè!
Chị Năm Béo kêu con Thẹo
qua tìm một chiếc guốc nữa của chị, rồi chị ngồi bệt xuống đất, đối diện chị Tư
Rỗ. Chị kể hết đầu đuôi câu chuyện vừa xẩy ra trong lúc chị Tư đi vắng. Chị kể
đi kể lại hai ba lần một đoạn, và bình phẩm hành động của Cai Mão với những lời
tục tĩu, thô kịch nhưng rất là nghiêm khắc. Nếu có một máy thu thanh đặt gần đó
để ghi lại tất cả những lời nói của chị không sót một tiếng nào, thì chúng ta sẽ
có một áng văn bình dân kiệt tác, thú vị đặc biệt, với tất cả các danh từ tả
chân mà một nhà đại văn sĩ có tài đến đâu cũng không thế nào viết được. Chị Năm
Béo thuộc về hạng môm loa mép đải ở các xóm lao động, chuyên môn ngồi lê đôi
mách, và rất hay tọc mạch những chuyện riêng của người ta, nhưng lại rất vui vẻ,
thành thật, ngay thẳng và công bình, không thiên vị bên nào. Chị bình phẩm gắt
gao mỗi hành vi của Cai Mão mà chị không sợ mích lòng chị Tư Rỗ. Chị bênh vực
Ánh. Chị rất thương hại cho Ánh và khen ngợi Ánh từng một cử chỉ nhỏ mọn. Chị tỏ
cho chị Tư thấy Cai Mão là một tên vô lại khả ố, khả bỉ, còn Ánh là một cô gái
rất đáng khen, đáng phục, đáng thương. Chị Tư Rỗ ngồi nghe, khóc ròng rã, không
dám binh chồng mà cũng không dám hùa theo chửi chồng. Chửi Cai Mão thì sợ anh
ta nghe được sẽ đánh chị nhừ thây. Còn binh Cai Mão thì chắc là chị Năm Béo và
bà con hàng xóm sẽ cười chị là sợ ‘‘thằng chả’’ và không biết thương con. Chị
Tư làm thinh không hề có lời cám ơn chị Năm Béo đã đưa Ánh đi nhà thương. Trong
thâm tâm của chị vẫn thương con gái lắm, nhưng vì chị nghèo quá, và thấy câu
chuyện đã lỡ ra như thế rồi, chị không biết làm cách gì để cứu vớt đứa con gái
độc nhất thân yêu của chị. Chị tức giận người ‘‘chồng’’ tàn nhẫn và vô liêm sĩ,
mà không dám nói ra, sợ chị Năm cười. Chị định đợi chiều tối hắn về chị sẽ hỏi
chuyện.
Ánh nằm nhà thương gần một
tháng trời, chẳng có ai thăm viếng cả. Ánh buồn tủi cho thân phạn mình và oán
trách mẹ.
Nàng không thèm nghĩ đến
người cha ghẻ khốn nạn. Nghĩ đến làm chi cho thêm nhục, cho thêm hận? Ánh chỉ
thề với mình rằng từ nay nhất định không bước chân về nhà mẹ nữa. Ánh tự coi
mình như một đứa con hoang, và tự an ủi: ‘‘Trên đời còn có biết bao nhiêu những
con mồ côi không mẹ không cha đó thì sao? Mình đã lớn rồi, lo tự lập lấy thân
là hơn.’’
Ra khỏi nhà thương, Ánh về
thẳng nhà bà cô ở Bàn cờ, rồi viết một bức thơ cho mẹ:
Thưa má,
Con đau đớn lắm mới phải
viết mấy lời thơ nầy về kính thăm má và thưa với má rằng từ nay má không còn thấy
mặt con nữa đâu. Con xin chịu làm đứa con bất hiếu, nhưng trong lòng con vẫn
yêu thương má và kinh má vì con không quên được công lao má đã nuôi con và tình
má thương con hồi ba của con còn sống. Con chỉ thương cho ba con thiệt là vô
phước! Thôi con lạy má ba lạy và từ giã má vĩnh viễn.
Con bất hiếu của má
Lê thị Ánh
Ánh xé một tờ giấy trắng
trong một quyển tập cũ hồi còn đi học mà Ánh vẫn cất âu yếm trong giỏ áo quần của
Ánh, Ánh lấy kéo cắt giấy làm một phong bì bỏ thơ vào trong rồi lấy cơm dán lại,
Ánh đề ngoài bao thơ:
‘‘Kính gởi Má’’. Sáng thật sớm, Ánh đi với em Nhung, con của bà cô, đến An
bình, Ánh đứng ngoài đầu đườrg, bảo Nhung chạy vô ngõ đưa cho Năm Béo, nhờ chị
trao cho má Ánh.
Vài hôm sau, Ánh sực nhớ
Cai Mão có bảo với Ánh rằng y đã biết chỗ ở của Ánh rồi. Chẳng biết là y nói thật
hay nói dóc, nhưng muốn đề phòng cho chắc chắn, Ánh nhờ bà cô kiếm cho Ánh một
chỗ làm tạm, để xa lánh xóm Bàn cờ.
Chính Ánh cũng đã thân
hành đến nhờ ba tờ báo hằng ngày đăng giùm trong mục ‘‘tìm việc’’ mấy dòng sau
đây:
‘‘Thiếu nữ học lực Đệ Tứ
T. H. Đ. N. C. Hiền lành, tận tụy với công việc. Muốn kiếm việc làm không cần
lương nhiều, có thể đi xa, Xin biên thư cho cô Nhàn, 216/7/2A, Phan đình Phùng,
nhờ chuyển giao.’’
Nhà báo có hảo tâm đăng
giùm, nhưng Ánh buồn bã thấy mấy dòng của Ánh được đăng lên lẫn lộn vào một cột
đầy nghẹt những lời rao khác cũng tìm việc như Ánh, cũng toàn là những thanh
niên thiếu nữ đỗ T. H. Đ. N, C, Tú Tài phần I, phần II, sinh viên Đại Học Văn
Khoa, Luật Khoa,.. v. v... Ánh thất vọng, không tin tưởng nhiều vào sự may mắn
quá hão huyền, Tờ báo chỉ đăng cho được một kỳ, Trong số báo hôm sau, nơi mục
‘‘tìm việc’’ Ánh không còn thấy lời rao của nàng nữa, nhưng vẫn đầy nghẹt những
lời rao khác, kế tiếp nhau của những bạn trẻ thất nghiệp, hầu hết là học sinh
và sinh viên. Ba hôm sau khi đăng báo, Ánh có nhận được bức thư của một nhà
buôn ở Biên Hòa gọi Ánh làm thư ký. Nhưng phải có bằng cấp đánh máy chữ. Ánh
không biết đánh máy vì không có tiền để học nghề này, đành bỏ qua cơ hội.
Một buổi trưa, Ánh sửa soạn
đi gánh nước, thì người cô của Ánh đi chợ Bến Thành về, hỏi Ánh có bằng lòng
làm thuê cho một nhà ở đường Hiền Vương không? Chủ nhà là một công chức sarg trọng,
công việc là đi chợ, làm bếp, giặt đồ, ủi đồ, rảnh thì giữ em, một đứa con trai
5 tưổi. Lương mỗi tháng 600$.
Ánh buồn bã hỏi:
- Nghĩa là đầy tớ, phải
không cô?
- Ừ, cũng như làm thuê vậy.
Ánh suy nghĩ một lúc rồi
cương quyết trả lời:
- Dạ, con bằng lòng.
Nhưng vừa dứt lời, Ánh chạy
đến ghế bố, gục đầu xuống gối khóc nức nở...
Ánh than van một mình:
- Ba ơi. Ba!... Đứa con
gái của Ba ngày nay phải đi ở mướn để độ thân, Ba ơi! Nhục nhã con quá, Ba ơi!
Má ơi!...
Ánh nằm ghế bố, khóc cả
buổi trưa, không ăn cơm, Đến 2 giờ chiều. Ánh sửa soạn ra đi, bỏ giỏ mây lại
cho em Nhung, chỉ ôm một gói áo quần, đi theo người cô đến một biệt thự xinh đẹp
rộng lớn, ở đường Hiền Vương.
Đấy là nhà của ông giáo
sư Ngọc Minh ở chung với vợ chồng người em gái của ổng.
Chương 2
Bạn đọc đã biết ông Ngọc
Minh rất yêu cô đầy tớ gái đứng đắn và thùy mị mà ổng muốn cưới làm vợ chính thức.
Bạn đã biết vì lẽ gì Ánh cương quyết từ chối, và ông Ngọc Minh lại càng say mê
‘‘con nhỏ’’ đến đỗi em gái của ông là bà Năm và người em rể đã phải để ý và
nghi ngờ.
Nhưng bạn chưa biết rõ
ông giáo sư Ngọc Minh là thế nào, ông có thật lòng yêu Ánh không? Và tình yêu
chênh lệch ấy giữa chủ nhà là một bậc trí thức giàu sang với đứa đầy tớ hèn hạ
kia sẽ đi đến đâu?
Phải nói ngay rằng ông Ngọc
Minh quả thật là yêu Ánh một mối tình thiết tha duy nhất, còn Ánh thì không yêu
ông, nói đúng hơn là không dám yêu ông.
- Vì Ánh cho rằng ông chủ
nhà thấy Ánh có nhan sắc ‘‘mùi mẫn’’ và tính nết nhu mì thật thà, nên ông lợi dụng
địa vị để quyến rủ đứa gái nghèo, chứ một người đàn ông giàu sang và làm chức lớn,
có lý nào lại hạ mình xuống để yêu một con đầy tớ? Ánh nghĩ như thế và cương
quyết từ chối tình yêu của ông Ngọc Minh, ấy là Ánh giữ giá trị của một thiếu nữ
biết tự trọng. Điều đó, thật đáng khen Ánh vậy. Nhưng Ánh đâu có dò được lòng dạ
của ông Ngọc Minh và đâu có hiểu được lý tưởng khác thường của ông?
Ông Ngọc Minh dạy văn
chương Việt và Pháp tại các trường Trung học lớn ở Sàigòn. Ông đã 30 tuổi, góa
vợ. Em gái độc nhứt của ông là Minh Tú, 25 tuổi, lấy chồng làm công chức cao cấp
ở Bộ Kinh tế và đã có hai con. Ngôi nhà ở đường Hiền Vương là của ba má ông Ngọc
Minh để lại cho hai anh em ông, một biệt thự lớn, trên lầu chia ra hai căn rộng,
một căn ông Ngọc Minh ở, một căn để hai vợ chồng cô Minh Tú mà bà con quen thuộc
thường gọi là cô Năm.
Dưới nhà là một phòng
khách, một phòng ăn, một phòng chơi cho trẻ con, kho, nhà bếp, ga-ra.
Ánh, con đầy tớ, ở một
phòng riêng kế nhà bếp. Ánh đến ở thay thế cho chị bếp trước đã bị bà Năm đuổi
vì tội ăn cắp vặt trong nhà.
Ông Ngọc Minh thuộc vào hạng
trí thức đã tiêm nhiễm nhiều các môn triết học Đông Tây, xa đời sống thực tế của
hiện tại. Ông ham đọc sách từ thuở nhỏ, cho đến khi thi đỗ ra trường đại học
ông vẫn không hề biết chơi bời, trai gái, hay cờ bạc, rượu chè. Ông không có lần
nào thí nghiệm các thú vui vật chất thường lệ của người đàn ông đã quá tuổi trưởng
thành.
Ông sống toàn bằng lý tưởng,
ông xây dựng quan niệm đời sống của ông trên những nguyên tắc triết học mà ông
đã cho là xác đáng. Trong những môn triết lý mà ông thường đem ra giảng giải
cho sinh viên và học sinh của ông, có một lý tưởng mà ông bênh vực hăng hái nhất,
và ông tuyên bố sẽ thực hiện cho kỳ được, là ‘‘loài người bình đẳng’’ và ‘‘ái
tình không có giai cấp’’ ông chưa thí nghiệm xem thuyết ấy có thật đứng vững
hay không, vì ông chưa có cơ hội nào đem ra thí nghiệm. Nhưng ông thấy rằng
quan điểm triết lý của ông nhất định phải đúng, và ông cứ tự hỏi tại sao loài
người phân chia giai cấp làm chi? Ông thường giảng giải cho học sinh của ông, gồm
toàn các thanh niên nam nữ 18,19 tuổi, rằng nghèo với giàu không khác nhau gì cả
về phương diện giá trị tinh thần và luân lý, và nên đánh đổ thành kiến hủ lậu rằng
một người giàu sang không thể lấy một có gái nghèo hèn làm vợ. Thỉnh thoảng, một
học sinh tinh nghịch hỏi ông:
- Thưa Thầy, thí dụ như một
ông giáo sư có địa vị giàu sang như thầy, có thể lấy con gái một anh phu xe về
làm vợ được không ạ?
Ông Ngọc-Minh trả lời liền:
- Sao lại không? Tại sao
tôi phải khinh người con gái của một anh phu xe? cô ấy không phải là một người
con gái như muôn vạn các cô gái khác hay sao?
Chỉ ngay một cô nữ sinh
ngồi ở bàn đầu, mà ông biết là con một trạng sư danh tiếng ở Sàigòn, ông giáo
Ngọc Minh hỏi:
- Cô Vân, con gái của một
anh phu xe với cô có khác gì nhau không, xin cô cho tôi biết?
Cô Vân đứng dậy đáp:
- Thưa Thầy khác ạ.
Cả lớp nhôn nhao cười rồ
lên. Ông Ngọc Minh nghiêm nghị ‘‘xuỵt’’ một tiếng để học sinh im lặng, rồi ông
hỏi tiếp cô Vân:
- Khác ở chỗ nào?
- Thưa Thầy khác ở chỗ một
anh cu li xe không phải là một ông Trạng sư, thì con gái của anh cu li không thể
như con gái một ông Trạng sư được.
Lớp học xôn xao trở lại.
Vài ba cậu con nhà giàu
la lớn lên: ‘‘Hoan hô!’’. nhưng nhiều trò khác, nhất là nữ sinh lại trề môi
‘‘Xí! Xí’’ ông, Ngọc Minh đập thước xuống bàn:
- Im! Mọi người phải im lặng!
Ai có ý kiến gì muốn trình bày, tôi cho phép trình bày, nhưng phải có lễ độ và
trật tự, không được ồn ào náo động.
Cô Vân vừa ngồi xuống,
ông Ngọc Minh nói tiếp:
- Câu trả lời của cô Vân
chưa phải là một câu trả lời, mà chỉ là một nhận xét, không dựa trên một chân
lý nào cả. Muốn thấu triệt vấn đề, tôi sẽ hỏi các em một vài câu về chi tiết,
Tôi không biết mấy chị em mà tôi đang được hân hạnh dạy bài triết lý xã hội hôm
nay là con nhà giàu hay nhà nghèo, nhưng tôi biết một điều chắc chắn là chị em
đều duyên dáng và diễm kiều, không ai kém ai. ‘‘Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn
mười’’...
Học trò trai cười rộ lên,
các cô gái thì cô nào cũng ửng đỏ đôi má. Ông Ngọc Minh nói tiếp:
- Bây giờ tôi thí dụ, con
gái một anh phu xe, hay là đứa con gái đi ở mướn chẳng hạn, cũng có nhan sắc diễm
kiều và duyên dáng như các em, thì cô ấy có khác gì các em VỀ PHƯƠNG DIỆN SẮC ĐẸP
không?
Một cậu học trò ngồi tận
cuối lớp đứng dậy đáp:
- Dạ thưa thầy, không
khác gì cả ạ!
Ông Ngọc Minh hỏi:
- Mọi người đều đồng ý với
cậu Mẫn?
Cả Iớp tủm tỉm cười: ‘‘Dạ,
đồng ý’’. Ông giáo hỏi các cô nữ sinh:
- Các cô không phản đối
chứ?
Cô Vân cũng như các chị
em khác đều mỉm cười:
- Thưa thầy chúng em đồng
ý về điểm đó.
- Được rồi. Bây giờ tôi hỏi
câu thứ hai.
Nếu cô con gái của anh
phu xe, hay cô đầy tớ kia cũng có tính nết thùy mị như chị em, và có tư cách
đàng hoàng như chị em, thì có khác gì nhau về PHƯƠNG DIỆN HẠNH KIỂM không?
Mấy cô nữ sinh cuối đầu
xuống, có vẻ thắc mắc trước một câu hỏi hơi bất ngờ như thế, nhưng một cậu nam
sinh đứng dậy đáp, cậu nầy có tiếng là mồm mép nhất trong lớp:
- Thưa thầy, con gái nhà
nghèo mà có hạnh kiểm tốt, có tư cách đàng hoàng, thì còn hơn là con gái nhà
giàu mà mất dạy ạ!
Cả lớp cười rộ lên một loạt,
ông Ngọc Minh đập thước xuống bàn:
- Yêu cầu các em đừng làm
ơn.
Ông Ngọc Minh thấy trong
đám nữ sinh có cô Phi Điệp cứ cúi xuống bàn, vì có lẽ cô này thường bị học trò
trai gán cho cái tiếng là ‘‘dữ nhất lớp’’ và cô tưởng cậu học trò kia ám chỉ
cô.
Ông Ngọc Minh liền gọi
cô:
- Cô Phi Điệp cho biết ý
kiến.
- Thưa thầy, cái đó còn
tùy theo trường hợp ạ!
- Thí dụ?
- Dạ, thí dụ, với người
nào tử tế đứng đắn, thì mình tử tế đứng đắn với người ta, còn với tụi du côn,
cao bồi, thì cũng phải cho chúng ăn thoi ạ.
Cả lớp xôn xao. Một tiếng
nói ở dãy bàn giữa, không biết do miệng nào thốt ra!
- Nữ Chúa đảng Đầu lâu!
Ông Ngọc Minh nghiêm nét
mặt, ngó xuống dãy bàn giữa:
- Phải nói đứng đắn một
chút chứ!
Ông hỏi tiếp:
- Cô Phi Điệp nói rất
đúng. Nhưng cô ra ngoài đề. Tôi có ý muốn nói chung rằng một thiếu nữ giàu và một
thiếu nữ nghèo mà tính tình và tư cách cũng đường hoàng, có gia giáo, có nhiều
đức tính tốt của phụ nữ, thì cả hai đều như nhau, không khác gì nhau cả. Có phải
không các em?
Toàn thể nam nữ học sinh
đều vui vẻ đáp:
- Thưa Thầy, phải ạ!
- Được rồi. Nếu thế thì
con gái nhà giàu và con gái nhà nghèo có khác nhau chỗ nào nữa đâu? Như thế thì
chủ trương giai cấp giàu nghèo, nhất là trong phạm vi tình ái và hôn nhân, có
phải là một chủ trương sai lầm không?
Một cậu học sinh có mái
tóc chấm xuống ngang tai, có lẽ hai tháng chưa hớt, nhưng cặp mắt ranh mãnh, nhấp
nháy hoài không ngớt, là cậu Bình, đứng dậy nói:
- Thưa Thầy giàu với
nghèo khác nhau lắm ạ! Giàu có tiền rừng bạc bể, còn nghèo không có xu ten dính
túi ạ. Giàu có dư phương tiện học làm Đốc tờ, Luật sư, còn nghèo như con chỉ học
đến kỳ nghỉ hè nầy thi đậu hay rớt gì rồi cũng phải ở nhà đi làm mướn!
Cô Trâm mà bạn bè thường
gán cho biệt danh ‘‘Cô kiếng trắng’’, vì cô đeo đôi kính cận thị, và luôn luôn
chỉ mặt một màu trắng không hề thay đổi đứng dậy, thỏ thẻ:
- Thưa Thầy, chúng em
công nhận rằng về nữ dung và nữ hạnh nghèo hay giàu không có phân biệt được,
nhưng về tiền tài thì hai đàng xa cách nhau như một trời một vực. Nhứt là thời
buổi kim tiền nầy, người nghèo nói chung, người con gái nghèo nói riêng, bao giờ
cũng bị khinh khi rẻ rúng. Chúng em thiết tưởng đó là điểm quan trọng nhứt, và
cũng do đó mà sinh ra giai cấp giàu nghèo cách biệt nhau rất rõ ràng trong thực
tế.
Ông giáo sư Ngọc Minh gật
đầu tủm tỉm cười, như được đi sát vào trung tâm vấn đề. Ông nói:
- Tôi khen hai anh em
Trâm và Bình đã nêu ra quan điểm thực tế của xã hội. Lúc nãy tôi đã đặt vài câu
hỏi chi tiết chính là để đưa các em đến khía cạnh tế nhị này, đó là điểm trọng
yếu của vấn đề giai cấp. Tạo Hóa sinh chúng ta ra trên đời không có giai cấp.
Ai ai cũng bình đẳng với nhau cả, mọi người đều như nhau cả: ấy là luật thiên
nhiên không thể chối cãi được. Giai cấp, chỉ là một sự kiện giả tạo do tổ chức
xã hội của loài người chủ trương. Mà chủ trương như thế là sai lầm vì nó ích kỷ,
bất công, nó không hợp với lương tâm của loài người. Nó ích kỷ bởi vì một số ít
người muốn sống đầy đủ, dư dã, riêng biệt, trong lúc đại đa số người khác phải
sống thiếu thốn. Nó bất công bởi vì đại đa số người nghèo khổ có đủ khả năng và
đức tính thông minh mà bị bức tường giai cấp của xã hội ngăn cản không cho phát
triển được. Vậy thì bổn phận của chúng ta là phá bỏ giai cấp, để cho toàn thể
loài người được bình đẳng theo luật thiên nhiên, để cho những kẻ nghèo khổ được
có phương tiện phát triển khả năng và đức thông minh, hầu xây dựng một xã hội
loài người tốt đẹp hơn, công bằng hơn, hợp với thiên nhiên hơn. Tôi mong muốn
các em ngày sau ra khỏi ngưỡng cửa học đường, góp phần sống với xã hội, mỗi người
áp dụng lý tưởng nhân loại bình đẳng của chúng ta. Được như thế, là mỗi người
trong chúng ta đã đặt đuợc nền móng căn bản của xã hội tương lai, xã hội của tự
do, công bình, tiến bộ xã hội không có người giàu người nghèo, xã hội mà những
người nào tài hoa đức hạnh đều có điều kiện phát triển được.
Ông giáo sư Ngọc Minh ngó
đồng hồ thấy còn hai phút nữa mãn lớp. Ông đứng dậy bỏ sách vở vào cặp da, và
đưa cặp mắt hiền từ của ông nhìn khắp lớp học, nói tiếp:
- Các em, tôi không
khuyên các em áp dụng chủ trương giai cấp đấu tranh. Không! Một cuộc đấu tranh
như thế gây ra hỗn loạn trong xã hội, có thể đưa đến những cuộc quá khích ghê tởm
và căm hờn không thích hợp với tinh thần nhân đạo. Tôi chỉ khuyên các em mỗi
người trong lĩnh vực sinh hoạt của mình, thực hiện lý tưởng tự do, dân chủ, tiến
bộ. Các em tin chắc rằng trên con đường tiến thủ mai sau, cùng chung chí hướng ấy,
các em và tôi, chúng ta không những sẽ là bạn đồng chí, mà còn là anh em như ruột
thịt nữa vậy.
Toàn thể lớp học vỗ tay
hoan nghênh bài giảng của ông giáo sư Ngọc Minh, ông mỉm cười: ‘‘Chào các em!’’
Rồi ôm cặp ra về. Ông còn nghe vang dội bên tay những tiếng: ‘‘Chào thầy ạ!’’ của
một lớp thanh niên nam nữ đã có óc suy xét mà ông vừa truyền bá những tư tưởng
bình đẳng nhân đạo của ông.
Ngồi trong chiếc Traction
đen mà ông tự lái lấy, ông Ngọc Minh vui vẻ về nhà, nhưng cứ tư tưởng đến mối
tình của ôug với Ánh.
Ông quyết giữ mối tình
xinh đẹp và cao quý của người đầy tớ gái, mặc dầu Ánh vì thành kiến giai cấp và
lự ti mặc cảm, không dám nhận lời và còn cương quyết từ chối. Ánh tưởng lầm ông
có thể là một ông chủ nhà lợi dụng quyến rủ gái nghèo rồi khinh bỏ sau khi thỏa
mãn nhục dục đê hèn. Ông nhất địah sẽ thuyết phục Ánh cho Ánh hiểu rõ lòng ông.
Ông Ngọc Minh không phải
muốn lập dị đâu. Càng không phải ông yêu mù quáng một con ở. Ông đâu có điên rồ,
nhắm mắt mê bừa một đứa con gái nghèo khó, hiện ở một địa vị thấp hèn, mà ông
biết trước rằng Minh Tú, em gái của ông, chủ sự, em rễ của ông, và bạn bè quen
thuộc của ông, đều sẽ đồng thanh phản đối hay chê cười. Nhưng ông quả quyết đi
ngược lại thành kiến sai lầm mà ông đã nhiều phen đánh đổ trong các bài giảng dạy
về triết lý xã hội cho học trò của ông, và trong các câu chuyện ông thường trao
đổi với bạn bè của giới trưởng giả và quý phái ở Sàigòn, giáo sư, công chức cao
cấp, trí thức gọi là thượng lưu… v.v... đã gán cho ông biệt danh mai mỉa là ‘‘Xừ
chiết’’! Trước mặt vì kính nể ông là người đức hạnh và tài cao học rộng, ông
nói sao cũng gật đầu khen phải cả. Vả lại, nói đúng ra, những lý lẽ của ông, họ
không bắt bẻ vào đâu được. Nhưng sau lưng ông, mỗi khi nhắc đến giáo sư Ngọc
Minh thì họ tủm tỉm cười bảo nhau: ‘‘À, xừ chiết đấy hả’’ hay là ‘‘xừ gàn đấy
mà’’.
Mặc kệ! ông Ngọc Minh
khăng khăng giữ chủ trương bình đẳng nhân đạo. Ông quyết thực hành lý tưởng
‘‘vô giai cấp’’ và ông càng say mê Ánh, ông càng quyết định cưới cho được cô đầy
tớ làm bạn trăm năm của ông.
Một hôm Minh Tú, em gái của
ông, nói với ông:
- Anh Hai à, anh có biết
hiện giờ có một cô thiếu nữ đang chết mê chết mệt vì anh không?
Ông Ngọc Minh cười:
- Cái gì lạ vậy, em?
- Thiệt mà anh Hai.
- Cô nào mà kỳ cục vậy?
Minh Tú bật cười vì những
câu hỏi khôi hài của anh, cô hỏi:
- Nội đất Sàigòn nầy, em
không thấy có ai đẹp bằng cố ấy. Tên cũng đẹp, người cũng đẹp, nết cũng đẹp,
không có cái gì ở cô ấy mà không đẹp!
- Rồi sao nữa?
- Tên cô ấy là Thanh Kiều
năm nay 20 tuổi.
- Cô Thanh Kiều, con ông
Bộ trưởng gì đó phải không?
- Té ra anh cũng đã để cặp
mắt xanh vào cô Thanh Kiều rồi sao? Thế mà em không biết chớ. Anh Hai của em
ghê thật!
- Anh đâu có để ý đến người
ta. Cái tên ấy, và con người ấy, đối với anh chẳng có nghĩa lý gì cả.
Minh Tú ngạc nhiên:
- Sao lạ vậy anh Hai?
- Có chi lạ đâu em. Riêng
gì ông Bộ trưởng ấy mới có một cô gái đẹp tên là Thanh Kiều! Ở Sàigòn nầy có biết
bao nhiêu là cô Thanh Kiều. Cứ chiều thứ bảy hay sáng chủ nhật, đi dạo đường Bô
na mà xem: nhan nhãn cô Thanh Kiều đấy! Hết thảy đều đẹp. Mỗi người một vẻ đẹp,
muôn nghìn người có muôn nghìn vẻ đẹp như nhau. Nhưng ngày nay thì đẹp như thế
đấy, rồi vài mươi năm sau hết thảy đều lan dần úa héo, chẳng sắc đẹp nào còn.
Cho nên đối với anh, cô Thanh Kiều của em cũng như muôn nghìn cô Thanh Kiều
khác, dù cô là con gái ông Vua, ông Quốc trưởng, ông Bộ trưởng, ông Luật sư,
ông Bác sĩ, hay con gái của ông phu xe, anh thợ nề, cô gái bán rong, con đầy tớ,
có khác gì nhau về sắc đẹp? Sắc đẹp đâu có giai cấp!
Minh Tú cười:
- Anh chỉ ưa triết lý
thôi! Nhưng em nhớ câu tục ngữ La tinh mà anh giảng cho nhà em với em hôm nọ:
Primo Vivere: đời sống trước đã!... Như anh Hai, anh nên lo đời sống thực tế
trước, anh phải có vợ có con, rồi thong thả hãy triết lý sau cũng được vậy chứ!
- Không phải anh triết
lý. Nhưng anh muốn đời sống thực tế của anh phải dựa lên trên một căn bản lý tưởng.
Lý tưởng của anh, như anh thường nói với em, là phải sống công bình, nhân đức,
bình đẳng, không ham người giàu, không khinh người nghèo, và xây dựng hạnh phúc
của mình trên một ý nghĩa cao rộng của cuộc đời.
- Thì anh cưới cô Thanh
Kiều, anh sẽ có hạnh phúc. Anh sẽ thấy cuộc đời có ý nghĩa cao rộng.
- Em tin tưởng vào đâu mà
nói thế?
- Cô Thanh Kiều đẹp.
Ông Ngọc Minh tủm tỉm cười
ngắt lời:
- Đẹp bằng Ánh không?
Minh Tú trố mắt ngó anh:
- Ánh nào đó, anh hai?
- Ánh giúp việc cho nhà
mình, đó.
- Con ở đó hả?
- Coi bộ em ngạc nhiên lắm
sao?
Nhưng Minh Tú chau mày:
- Anh Hai cứ nói chuyện
tào lao, em của anh không bằng lòng đâu đấy. Em đang nói chuyện cô Thanh Kiều
cho anh nghe. Cô ấy xứng đáng làm vợ anh, sao anh không chịu? Cổ đẹp lộng lẫy
ít người bằng, cổ lại yêu anh, cổ là con gái một ông Bộ trưởng, cổ lái xe hơi
Huê Kỳ, cổ đánh đàn Piano hay, cổ khiêu vũ giỏi, cổ …
- Thôi, thôi! Bấy nhiêu
đó đủ rồi!
- Nhưng anh chưa nghe cô
Thanh Kiều ca tụng tài năng và tính nết của anh. Cổ là học trò cũ của anh hồi
năm kia đó...
- Anh biết.
- Anh biết cổ thường đến
chơi với em, và tỏ ý yêu anh lắm không? Em thấy cổ mê anh lắm đó.
Minh Tú mở bóp:
- Nè, em cho anh Hai coi
cái này...
Minh Tú rút ra tấm ảnh,
khen lấy khen để: ‘‘mặc áo may dô tối tân, rất khêu gợi, đứng trên bờ biển Vũng
Tàu, nhoẻn nụ cười tình. Cặp mắt cổ hấp dẫn như mắt của Liz Taylor. Ngực nở
không thua ngực của MariLyn Monroe. Hai cặp đùi tròn trịa, đều đặn, trắng nõn
nà, như bộ giò của Brigitte Bardot. Tóc loăn quăn trước trán giống kiểu tóc của
Gina Lollobrigida. Thanh Kiều rất ăn ảnh, toàn thân rất ‘‘Sexy’’ ‘‘exciting’’
không chê được. Ngọc Minh nhìn tấm ảnh với một nụ cười hỏm hỉnh:
- Thật xứng đáng là con
gái ông Bộ trưởng nhỉ!
Rồi ông trả ảnh lại cho
Minh Tú. Cô em gái của ông lấy trong bóp ra một tấm ảnh khác cũng của Thanh Kiều
tặng cô, nhưng chiếc ảnh nầy tình tự một lối khác: Thanh Kiều mặc áo hoa đứng cạnh
chiếc xe hơi Huê kỳ, với nụ cười duyên dáng. Ông Ngọc Minh vẫn khôi hài với em:
- Anh nhớ có thấy ảnh nầy
trong một trang quảng cáo xe hơi đăng trong một tạp báo hình ảnh của Pháp...
hình như là tập ‘‘Revue du Sud- Est’’ thì phải.
Minh Tú cải chính:
- Làm gì có. Thanh Kiều mới
chụp hôm chúa nhựt tuần rồi ở Cấp đây mà.
- Anh biết, ảnh quảng cáo
xe hơi trong ‘‘Revue Sud- Est’’ không phải là cô Thanh Kiều, nhưng cũng như cô
Thanh Kiều, có gì lạ!
- Anh Hai sao mà... khó
chịu quá!
- Nhưng anh Hai nói thiệt
với em phứt cho rồi để em cứ làm quảng cáo cho cô Thanh Kiều hoài. Nè, anh Hai
không mê Thanh Kiều của em đâu nhé! Nếu em là đàn ông, em không mê ai hơn là
Thanh Kiều.
Minh Tú đứng dậy, lại gần
kề miệng vào tai anh, nói nhỏ:
- Anh Hai à, Thanh Kiều hứa
‘‘ca đô’’ cho em một chiếc xe hơi Huê kỳ, anh biết không?
Minh Tú cười khoái trá lắm,
rồi nói tiếp:
- Ba của mấy đứa nhỏ cũng
muốn anh Hai cưới Thanh Kiều. Ông bà Bộ trưởng chỉ có cô là con gái cho nên
cưng cổ lắm. Nè, em hỏi anh, nghe: Anh muốn làm ông Tổng Giám đốc không? Hay là
ông Đổng lý văn phòng không? Anh Hai nghe lời em: lấy Thanh Kiều đi! Rồi anh
Hai sẽ thấy công danh phú quý lên vùn vụt trên mây xanh! Anh Hai sẽ không còn
đi chiếc xe traction lỗi thời kia nữa. Anh Hai sẽ ở riêng một biệt thự của nhà
nước...
- Chừng nào anh Hai muốn
lấy vợ, anh Hai sẽ lấy một người con gái nghèo.
- Thôi đi ông, ông cứ triết
lý hoài!
Minh Tú tức mình rầy anh,
rồi vùng vằng giận dỗi, bỏ hai tấm ảnh thiệt lẹ vào bóp, quăng bóp trên bàn,
nét mặt quạu cọ muốn cãi lộn với anh!
- Anh tưởng đâu anh nói
như vậy là hay lắm đó! Anh đừng để chúng bạn của anh, và các nhà tri thức ở
Sàigòn này họ ngạo anh là ‘‘Xừ Triết’’ chớ! Người như anh mà đi lấy con gái nhà
nghèo sao! Anh tưởng đâu em để cho anh lấy một con ở hả?
Minh Tú giận đỏ mặt, liền
gọi con ở, cố tình làm nhục nó trước mặt anh, xem anh có dám làm gì không, cô gọi
thật to:
- Ánh!
Không nghe tiếng trả lời,
Minh Tú chạy ra cửa sổ phía sau ngó xuống sân bếp thấy con ở đang ngồi giặt đồ.
Cô gọi
- Ánh lên tao biểu.
- Dạ.
Ông Ngọc Minh ngồi lặng lẽ,
nghe tiếng Ánh: ‘‘Dạ’’ thật nhỏ nhẹ dễ thương. Minh Tú đã trở vào phòng khách.
Đây là trên lầu. phòng giấy ở giữa là nơi để dành riêng cho Minh Tú tiếp các bạn
gái thân nhất của cô và cũng là nơi vợ chồng cô và ông Ngọc Minh thường ngồi
chuyện vãn những lúc nhàn rỗi. Phòng này tuy hẹp, nhưng bày trí xinh xắn, gọn
gàng, ngăn cách phòng ông Ngọc Minh và phòng của vợ chồng Minh Tú.
Minh Tú vào ngồi lại trên
ghế, đối diện anh và nét mặt hầm hầm, làm thinh. Ông Ngọc Minh cũng làm thinh,
châm điếu thuốc hút. Ánh từ dưới nhà, đi chân không nhẹ nhàng bước lên cầu
thang, vào phòng:
- Thưa bà kêu con?
- Ừ. Mầy làm gì dưới mà
tao gọi mầy không nghe?
- Dạ, thưa bà, con giặt đồ.
- Ai biểu mầy giặt đồ?
Tao dặn mầy xay cà phê, mầy đã xay chưa?
- Dạ thưa bà, con giặt đồ
rồi con xay cà phê.
- Tại sao mầy không xay
cà phê trước rồi hãy giặt đồ?
- Thưa bà, đồ dơ nhiều
quá, con giặt cho kịp phơi để chiều khô, tối con ủi, Con giặt cũng gần xong,
Con định giặt xong, con đi nấu cơm, rồi trưa con xay cà phê cũng kịp, vì cà phê
còn đủ pha buổi trưa,
- Nhưng tao muốn mầy xay
cà phê trước, sao mầy cãi lời tao? Mầy là đầy tớ, mầy đi ở mướn cho tao, chớ mầy
là chủ tao hả? Đồ khốn nạn! Mầy coi chừng tao, nghe hông mầy! Bộ nầy, tao thấy
mầy muốn sanh tật rồi đó! Mầy liệu hồn! Thôi đi xuống! Giặt gì thì giặt lẹ đi,
rồi làm cơm. Giặt từ sáng giờ chưa rồi mấy cái đồ!
- Thưa bà, con vừa đi chợ
về,
- Câm đi. Còn cãi nữa hả?
Đi xuống cho rồi. Đồ mắc dịch!
Ánh lặng lẽ đi xuống.
Trong phòng im phăng phắc. Ông Ngọc Minh ngồi điềm nhiên, hút thuốc. Ánh xuống
một lát, rồi Minh Tú ngó anh:
- Anh Hai coi con ở nó hỗn
không?
Ngọc Minh nhìn chòng chọc
vào em:
- Anh Hai có thấy nó hỗn
gì với em đâu?
- Chớ anh Hai không thấy
nó cứng đầu muốn cãi lại em đó sao?
- Anh thấy em rầy nó một
cách vô lý.
- Em vô lý cái gì? Sao
anh lại binh con ở, anh mắng em?
- Anh đâu có mắng em? Anh
chỉ thấy rằng công việc nó làm không đáng để em rầy la. Nó siêng năng, chăm
làm, và nó biết xếp đặt chia công việc của nó, cái nào làm trước, cái nào làm
sau, cho kịp thời giờ. Như vậy em mắng nó là oan cho nó.
- Anh Hai binh nó hả? Trời,
em không ngờ, anh binh con đầy tớ khốn nạn, mà anh hất hủi em của anh!
Minh Tú chạy vô buồng
riêng của cô, nằm lăn trên giường khóc nức nở.
Ông Ngọc Minh vẫn điềm
nhiên ngồi hút thuốc. Nhưng
ông trầm ngâm nghĩ ngợi.
❊ ❊ ❊
Tối thứ bảy, Hội Chống Nạn
Mù Chữ tổ chức một buổi ca nhạc kịch để lấy tiền lập cây mùa Xuân cho các em học
sinh nghèo của Hội. Hai vợ chồng cô Minh Tú đều đã mua vé trước, còn ông Ngọc
Minh là một cố vấn của Hội, có giấy mời riêng. Tuy có giấy mời nhưng chính ông
đã tặng riêng Hội một số tiền năm ngàn đồng để mua quà bánh và đồ chơi cho các
em nghèo. Theo chương trình khai diễn đúng 9 giờ tối cho đến 12 giờ khuya.
Tám giờ rưỡi, cơm nước
xong, gia đình ông Ngọc Minh đã sẵn sàng. Ông lái xe cho vợ chồng Minh Tú và
hai đứa con đến rạp. Mấy người nầy tuy là mua vé hạng nhứt, nhưng được xếp chỗ
ngồi dãy ghế chữ C, vì mấy dãy ghế danh dự đã đầy chật các quan khách có giấy mời
riêng, ông Ngọc Minh nhường chỗ của ông ở dãy ghế chữ A cho một người nhà báo
ngoại quốc đến thình lình. Ông vào buồng riêng của tài tử, toàn là nhân viên của
hội, để giúp đỡ anh chị em một phần trong việc sửa soạn các màn kịch.
Đúng 9 giờ mở màn, ông
giáo sư Ngọc Minh, đại diện Hội, ra trước máy micro ứng khẩu mấy lời khai mạc.
Thính giả nhiệt liệt vỗ
tay hoan hô ông, vì ông là một vị giáo sư, vừa là một văn sĩ, có nhiều uy tín với
các giới đồng bào nghèo. Ông cũng được hầu hết các giới lao động thanh niên và
trí thức mến phục, vì ông đã có tài, lại có đức.
Nhưng nửa giờ sau khi
khai diễn, ông Ngọc Minh đi đâu mất.
Mọi người chăm chú vào buổi
ca nhạc kịch tưng bừng rộn rịp, không ai để ý đến sự vắng mặt bất ngờ của ông.
Ông đi đâu? Các bạn đã theo dõi bộ chuyện này chắc đoán được. Phải rồi, ông Ngọc
Minh chỉ có lén về nhà để nói chuyện với Ánh chứ không đi đâu cả.
Ánh đang ủi đồ, nghe tiếng
gõ cửa, còn do dự chưa dám mở. Nghe gõ cửa lần thứ hai, Ánh bật đèn phòng
khách, và đứng trong cửa, hỏi:
- Ai đó?
Tiếng phía ngoài đáp:
- Ánh mở cửa cho tôi.
Ánh rất ngạc nhiên, và sợ
sệt khi nghe rõ tiếng ông Ngọc Minh. Nhưng Ánh không thể không mở.
Ông Ngọc Minh bước vào, tự
đóng cửa lại. Ánh đã đi lẹ vào nhà trong, ông kéo một chiếc ghế mây nhỏ của con
nít, để ngồi gần Ánh. Ánh lặng lẽ cúi mặt xuống, làm công việc, ông Ngọc Minh
khẽ nói:
- Ánh à ; Ánh đã suy nghĩ
về những lời tôi đã nói với Ánh hôm trước chứ?
- Thưa ông có gì mà suy
nghĩ?
- Tôi đã thú thật với Ánh
rằng tôi đã yêu Ánh, và tôi nhứt định cưới Ánh làm vợ.
Ánh thẹn đỏ mặt, không trả
lời được, ông Ngọc Minh hỏi tiếp:
- Ánh cho tôi biết ý nghĩ
của Ánh như thế nào? Đây là tôi nói thiệt, câu chuyện đứng đắn, chớ không phải
tôi kiếm cách chọc ghẹo Ánh đâu. Tôi nói ý nguyện của tôi với Ánh từ lâu rồi,
nay tôi mong Ánh hiểu rõ lòng tôi, và nhận lời tôi.
- Thưa ông, về chuyện ông
nói đó, tôi đã trả lời ông bữa trước rồi. Nay ông hỏi lại thì tôi cũng trả lời
như bữa trước thôi.
- Tại sao vậy, Ánh?
- Dạ, thưa ông, tại vì
tôi không xứng đáng một chút nào hết.
- Tôi nghĩ khác. Tôi nhận
thấy Ánh có đủ hai đức tánh quý nhứt của người thiếu nữ: nhan sắc và tính hạnh.
Ánh còn đẹp hơn nhiều cô gái khác nữa. Nói về sắc đẹp thì tôi yêu nhan sắc lộng
lẫy, duyên dáng và thùy mị của Ánh. Nói về nữ hạnh thì tôi yêu tính nết dịu hiền,
đoan trang, và chân thật của Ánh. Tôi chỉ cần một người vợ có bấy nhiêu đó
thôi, về mặt trí thức, Ánh ở gần tôi sẽ học hỏi thêm chút ít có thể trở thành một
phụ nữ trí thức có trình độ văn hóa tạm đầy đủ được. Tôi tin rằng với thiện chí
và bẩm chất thông minh đã sẵn có, Ánh sẽ là người vợ rất xứng đáng của tôi, rất
hợp với lý tưởng đời sống của tôi.
- Thưa ông, ông tử tế,
ông khen quá lời, tôi xin cảm ơn ông. Nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi nhìn
lên cao xa như thế. Tôi chỉ là một con ở. Tôi chỉ làm kẻ tôi tớ cho ông được mà
thôi.
- Không, Ánh sẽ không phải
là kẻ tôi tớ nữa.
- Thưa ông, đã biết qua đời
thiếu nữ hèn hạ của tôi. Ông đã biết tôi đau khổ như thế nào rồi. Ông nên
thương hại tôi nếu ông không khinh tôi.
- Không, Ánh à, Ánh sẽ
không đau khổ nữa đâu. Nếu tôi khinh Ánh thì tôi đã không yêu Ánh.
Hình như ông Ngọc Minh
xúc động vì những lời chân thật của Ánh, nên ông xích ghế lại gần sát cạnh Ánh,
và nắm tay Ánh, Ánh đăm đăm nhìn ông Ngọc Minh, như cầu khẩn van lơn:
- Ông nên buông tôi ra.
Ông đừng làm như thế, tội nghiệp tôi lắm!
Giọng nói run run, chân
thành, đau khổ, và đôi mắt sầu mơ, hiền dịu của Ánh gần như muốn rưng rưng lên,
khiến ông Ngọc Minh xao xuyến, rạo rực cả tâm hồn. Ông bị tia mắt khổ não của
Ánh như rọi thắm vào tận đáy lòng, ông bỏ ghế mây, ngồi xuống đất, ngay bên
chân Ánh. Ông ôm lấy Ánh vào lòng và lẩm bẩm, như say mê cuồng loạn:
- Ánh tha lỗi cho tôi!...
Tôi yêu Ánh!... tôi yêu Ánh lắm...
Ánh khẽ xô ông ra, trừng
mắt ngó ông, nhưng yếu đuối quá, Ánh không làm sao chống cự nổi. Ông Ngọc Minh
kề mặt sát mặt Ánh, áp môi vào môi Ánh, và tặng Ánh một nụ hôn say đắm đê mê.
Ánh nhận lãnh nụ hôn nồng cháy, như một nhiệt độ mê ly chạy khắp trong cơ thể
rung động của nàng bị xáo loạn.
Nhưng Ánh đẩy mạnh ông Ngọc
Minh ra, nàng chạy lẹ xuống buồng ngủ của nàng, khóa chặt cửa, rồi lăn lên giường
khóc nức nở.
Ông Ngọc Minh ngồi cúi mặt
xuống gạch hoa, có vẻ hối hận.
Ông cố tự chủ, bước xuống
bếp, đứng ngoài cửa buồng của Ánh, nói:
- Ánh tha lỗi cho tôi
nhé...
Đứng yên một lát, nghe
Ánh vẫn khóc thổn thức, ông khẽ bảo:
- Ánh đừng khóc nữa nhé.
Tôi đi đây. Ánh ra đóng giùm cửa nhà ngoài,
Ngọc Minh đi thẳng ra
phòng khách, mở cửa ra đường; Đi một quãng xa, ông quay lại thấy cánh cửa từ từ
đóng, và đèn phòng khách tắt.
Ông trở lại rạp hát. Ngó
đồng hồ, kém 15 phút đầy 11 giờ. Ông ở nhà với Ánh gần hai tiếng đồng hồ. Ông
không vào rạp. Đến chiếc xe Citroën của ông đậu bên kia đường, trong bóng tối,
ông mở cửa xe, vào ngồi chỗ tay lái, châm điếu thuốc hút. Ông ngồi yên lặng, ôn
lại trong ý nghĩ những lời nói thành thật đau khổ của Ánh những cử chỉ rất hiền
lành và nhã nhặn của nàng, tư cách nghiêm trang và cao quý của nàng, và ông ăn
năn hành động quá bồng bột của ông. Nhưng ông tự nhũ; ‘‘Ta nhứt định cưới Ánh
làm vợ. Ta có thể cưới một người thiếu nữ nghèo nàn, đau khổ và dịu hiền đoan
trang như Ánh! Ta yêu Ánh lắm. Ánh là tình yêu đầu tiên của ta rất say mê, chân
thật. Đây là một tình yêu lý tưởng, xinh đẹp, cao cả. Ta sẽ giẫm trên dư luận,
để thực hiện tư tưởng nhơn đạo, công bằng và tiến bộ của ta.
Vừa tan rạp. Sóng người ồ
ạt từ trong hi viện chay ra, tràn lan trên lề đường, ông Ngọc Minh ngỏ lơ đễnh,
không lưu tâm đến họ. Ông đang say sưa với lý tưởng triết học bình đẳng, vô
giai cắp của ông.
Vợ chồng cô Minh Tú và 2
đứa nhỏ cũng vừa băng qua đường, đi vội vàng đến chiếc xe Citroën. Minh Tú ngạc
nhiên hỏi:
- Anh Hai ra hồi nào mà sớm
thế vậy, anh Hai?
Ông Ngọc Minh nhếch một nụ
cười:
- Anh ra từ lâu.
Gia đình cô Minh Tú lên
xe xong, ông Ngọc Minh lái về nhà.
Hai đứa nhỏ đập cửa gọi:
- Chị Ánh mở cửa!
Tiếng Ánh trong nhà đáp:
- Dạ
Cửa mở, cô Minh Tú thấy đầu
tóc Ánn rối bù và đôi mắt đỏ hoe, liền hỏi:
- Mầy làm sao vậy Ánh?
Ánh cúi mặt không dám ngó
cô chủ, bẻn lẻn:
- Dạ, có sao đâu!
Ánh đợi cho mọi người vào
hết để đóng cửa. Ông Ngọc Minh bước vô sau cùng, nét mặt ngượng ngịu, cũng như
Ánh. Hai người không ngó nhau.
Nhưng Minh Tú hình như có
linh tính rằng ở nhà vừa xẩy ra một việc gì làm cho Ánh xáo động tinh thần, và
cô thắc mắc về sự vắng mặt của anh cô trong buổi dạ hội. Sau khi anh nói mấy lời
cảm ơn khán giả. Im lặng cô đi thẳng xuống bếp, ngó qua nhà cửa xem có gì thay
đổi không, rồi đi lên lầu, vẻ mặt hằm hằm khó chịu.
Sáng hôm sau là chúa nhật,
lại có Thanh Kiều đến chơi. Cô gái của ông Bộ trưởng đi xồng xộc vào phòng
khách, rất tự nhiên. Gặp Ánh từ trong bếp ra chào, Thanh Kiều bảo với giọng
kiêu hãnh:
- Nói với bà chủ có tôi đến
chơi.
- Dạ.
Ánh lên lầu, một lúc xuống
liền:
- Thưa có bà chủ mời cô
ngồi chơi, bà chủ xuống ngay.
Thanh Kiều đã ngồi trên
ghế phòng khách, chỉ gật đầu không đáp. Minh Tú xuống. Hai người cười dòn dã, nắm
tay rất thân mặt. Thanh Kiều vui vẻ nói:
- Mình đã hẹn với Tú thì
mình đến, chớ tụi con Lộc, con Chung, rủ minh đi Cấp sáng nay đấy.
- Sao không đi với tụi
nó?
- Thôi, thích chơi với Tú
hơn. Tú đi Cấp không! Hôm nay chúng mình đi Cấp chơi, đi!
Nói thầm vào tai Tú,
Thanh Kiều tiếp:
- Rủ anh Năm và anh Ngọc
Minh cùng đi cho vui nhé!
Hai người cười toe toét.
Minh Tú bảo:
- Thanh Kiều ngồi chơi một
chút xíu, anh của Tú đi có chút việc sắp về bây gìờ.
Một lát sau, Ngọc Minh về.
Ông đi Charner mua hoa lê đơn trắng, là thứ hoa ông thích nhất, đem về chưng
phòng khách. Minh Tú khen:
- Chà! Anh Hai mua hoa đẹp
quá xá!
Trông thấy Thanh Kiều ông
rất tự nhiên:
- Chào cô.
Con gái ông Bộ trưởng mà
cũng là học trò cũ của ông. Ngọc Minh, nhoẻn một nụ cười rất là tình tứ:
- Ông giáo yêu hoa
Glaïeul lắm nhỉ?
Ngọc Minh chỉ mỉm cười
nhã nhặn, không đáp.
Minh Tú kéo tay bảo anh
ngồi xuống ghế, gần cô Thanh Kiều. Xong cô gọi xuống bếp:
- Ánh ơi!
- Dạ.
- Đem nước sôi lên pha
trà.
- Dạ.
Ánh đủng đỉnh lên phòng
khách, bưng một mâm chén dĩa và bình trà, đặt trên bàn. Xong Ánh trở xuống bếp.
Một lát sau Minh Tú lại gọi:
- Ánh!
- Dạ.
Ánh trở lên. Minh Tú nhìn
chòng chọc Ánh:
- Mầy để cái ấm đó chớ
không châm trà hả?
- Dạ thưa bà, con để cho
ra trà,
- Bây giờ châm được rồi.
- Dạ
Ánh rót trà ra ba chén nhỏ,
xong nàng xuống bếp. Ánh đi chưn không, dịu dàng lễ phép. Toàn thân của nàng
thướt tha yêu kiều tuy là giản dị, nghèo nàn, không một chút điểm trang nào.
Thanh Kiều ngó theo nàng và khẽ hỏi Minh Tú:
- Con ở này hồi trước làm
gì? Tú thuê nó ở đâu?
Minh-Tú trề môi:
- Trước nó đi bán hàng
rong và đi gánh nước mướn.
- Coi mùi đó chứ!
Thanh Kiều nói tiếp:
- Nè, đứa ở có nhiều đứa
coi cũng ngộ đó chớ hả?
Minh Tú nghiêm nghị đáp:
- Ngộ thì cũng là đứa ở!
Thấy ông Ngọc Minh ngồi
hút thuốc hình như không chú ý đến câu chuyện của hai cô, Thanh Kiều tủm tỉm cười
hỏi ông:
- Ông giáo thấy con ở như
thế nào ạ?
Ngọc Minh nhún vai đáp:
- Nó cũng là một cô gái đẹp
như các cô gái đẹp khác.
Minh Tú châu mày làm
thinh, nhưng Thanh Kiều cười rũ rượi:
- Hèn chi mấy có nữ sinh
đồn rằng ông giáo ưa bênh vực tụi con ở có đôi chút nhan sắc!
Ngọc Minh không trả lời.
Minh Tú vùng đứng dậy:
- Ối nói làm chi những
chuyện ấy! Tụi em mời anh Hai đi Cấp chơi chiều về. Sửa soạn đi, anh Hai!
- Anh ở nhà.
- Ở nhà làm gì, anh Hai.
Đi Cấp chơi có vui hơn không? Anh với nhà em đi bên xe anh, còn em với hai cháu
đi xe Thanh Kiều. Em muốn coi Thanh Kiều lái xe có giỏi không. Xuống Cấp, tụi
mình tắm biển và chụp hình chơi rồi 6 giờ về.
- Anh ở nhà.
- Anh Hai không chìu em
chút nào hết! Chúa nhựt cứ cu rú ở nhà hoài! Em ghét quá!
- Thì em cứ đi với cô
Thanh Kiều không được sao?
- Đi có anh mới vui chớ,
nói gì tụi em!
- Đi với anh không vui
đâu.
- Có cả nhà em với mấy
cháu nữa mà!
- Có dượng Năm với hai
cháu đi với em đủ rồi. Anh ở nhà coi nhà.
Minh Tú tức giận anh lắm.
Nhưng không biết nói sao cô bèn gọi lên lầu:
- Mình ơi!
Chồng Minh Tú từ trên lầu
mặc áo pyjama, tay cầm quyển sách, bước xuống mấy bực cầu thang, hỏi:
- Em gọi anh hả? À, cô
Thanh Kiều, chào cô.
Thanh Kiều cười:
- Em đến mời anh chị và
các cháu đi Cấp. Em mời ông giáo từ chối không đi, em buồn quá đây nè.
Minh Tú tiếp lời:
- Anh sửa soạn lẹ rồi xuống
đi. Tụi em chờ.
Chồng cô Minh Tú lại hỏi:
- Anh Hai đi không, anh
Hai? Ở nhà buồn chết!
Ngọc Minh cười:
- Buồn thì chắc là buồn rồi
đấy, nhưng chết thì chưa chắc! Dượng cứ đi đi, để tôi ở nhà coi nhà cho.
- Ồ, coi nhà thì đã có
con Ánh.
Hai tiếng ‘‘con Ánh’’ do
chồng cô Minh Tú vô tình quăng xuống phòng khách trong lúc này, chẳng khác nào
một hòn đá quăng xuống mặt nước ao hồ còn đang dợn sóng. Ai nấy đều im lặng,
khó chịu.
Ngọc Minh đứng dậy, nói một
mình:
- Tôi đi dạo phố... Chào
cô Thanh Kiều nhé.
Ông ra khỏi phòng khách,
đi thẳng. Ông đi một lát thì Minh Tú cùng đứng dậy, ngó lên cầu thang, chồng cô
đã lên lầu. Cô gọi:
- Rồi chưa anh? Xuống đi.
Cô lại gọi xuống bếp:
- Ánh! Lên tao biểu.
Từ dưới bếp, Ánh: ‘‘Dạ’’
Ánh vẫn đi chân không, điềm
nhiên và dịu dàng, lên phòng khách. Minh Tú với giọng cáu kỉnh, bảo:
- Hôm nay cả nhà đi vắng,
mầy ở nhà phải lau nhà, lau bàn ghế, tủ, giường, rửa bếp, lau sạch cầu thang, rồi
giặt, ủi, soạn hết các đồ đạc của mấy đứa nhỏ, coi cái nào đứt khuy và rách thì
khâu vá lại, nghe chưa?
- Dạ.
- Với lại chùi hết các đồ
đồng đồ sứ ở phòng khách và trên lầu. Lau sạch các cửa kiếng trên lầu và dưới
nhà nghe hông?
- Dạ.
- Nhớ xay càphê, nghe
hông?
- Dạ.
- Mầy đã cọ sạch bể nước
chưa?
- Dạ thưa bà, con đã cọ
hôm qua rồi.
- Bữa nay có thì giờ rảnh
nhiều đó, thì tháo lù ra, ‘‘cọ’’ lại cho thiệt sạch nghe hông? Mầy nói cọ sạch
rồi sao sáng nay tao còn thấy có mấy con bọ quăng?
- Dạ thưa bà...
- Thôi đừng có chối bây bẩy!
Mầy làm biếng lắm! Dạo này tao thấy mầy mê tiểu thuyết lắm đa! Liệu hồn mày!
- Thưa bà, con có bao giờ
coi tiểu thuyết đâu.
- Thôi, câm cái miệng đi
mầy. Không coi tiểu thuyết sao coi bộ mầy mơ mộng quá xá vậy? Tao gặp mầy mấy lần
ngồi mơ mộng ở dưới bếp, mày còn chối gì! Hay bây gìờ mầy muốn theo phong trào
làm tài tử xi nê, vũ nữ, ca sĩ, chớ không muốn rửa bát nữa?
Chồng cô vừa bước xuống cầu
thang, hai tay dắt hai đứa con:
- Đi chưa?
Thanh Kiều nắm tay Minh
Tú
- Thôi anh và hai cháu đã
xuống kìa.
Minh Tú lấy bóp trên bàn
khách, còn ngó chòng chọc vào mắt Ánh:
- Chiều tao về nhà mầy
không làm hết những công việc tao đã dặn, thì mầy đừng có trách tao, nghe hông?
Làm cơm sẵn, 7 giờ tao về hẳn dọn cơm.
Quay lại Thanh Kiều, Minh
Tú bảo:
- Chiều về thẳng đây,
Thanh Kiều dùng cơm với Tú nhé? Có anh Hai của Tú tụi mình ăn cơm nói chuyện
cho vui.
Thanh Kiều gật đầu:
- Cũng được.
Quay lại Ánh, Minh Tú bảo:
- Chiều nay có cô Thanh
Kiều dùng cơm nữa đó? Nè tao đưa tiền chợ, chút nữa đi chợ mua 1 ký thịt
filet,1 bắp cải choux fleur, nửa ký đậu petit pois, 1 con gà về làm gỏi, với lại
bún tàu, mộc nhỉ, nấm, để nấu canh, nhớ hông?
- Thưa bà...
- Mua một ký củ cái trắng
và một trái đu đủ về rửa sạch sẽ, gọt ra phơi để mai mốt tao làm dưa. À quên,
nhớ mua cà rốt và củ hành nữa nghe?
- Dạ.
Chồng có vỗ vai, bảo:
- Thôi, đi kẻo trưa, 10
giờ hơn rồi.
Minh Tú còn bảo thêm Ánh:
- Tao đi vắng, mầy ở nhà
không làm hết các công việc tao dặn, mà ngồi ở bếp mơ mộng, thì chiều tao về, mầy
biết tao. Chút trưa ông Hai đi chơi về, mầy phải dọn cơm đàng hoàng, lễ phép
nghe hông? Mầy mà nhí nha nhí nhảnh, tao đánh bề mặt! Coi chừng tao đa!
Hình như cô Minh Tú còn
muốn nói nữa với Ánh nhưng chồng cô và Thanh Kiều nắm kéo cô. Hai đứa nhỏ đã hí
hởn ra chiếc xe Huê Kỳ từ trước, ngồi trong xe gọi ầm ĩ:
- Đi má! Đi cho rồi, má!
Ra xe, ông Năm ngồi sau với 2 con, Minh Tú ngồi trước, cạnh Thanh Kiều. Con gái
của ông Bộ Trưởng có vẻ hãnh diện, mở contact, kéo démarreur, rồi đưa cánh tay
mềm mại ra làm dấu hiệu cho xe từ lăn bánh ra đường...
- 2 -
Ánh đi chợ về làm cơm,
xong lui cui làm các việc bà chủ đã dặn.
Ánh vừa làm vừa khóc.
Ánh buồn vì thân phận cô
gái nghèo phải đi ở mướn, bị chủ nhà đay nghiến và hạch sách đủ điều. Ánh càng
buồn vì chuyện ông giáo muốn dan díu với nàng, sanh ra nhiều chuyện nghi ngờ
lôi thôi trong nhà, mà chính nàng không muốn. Bây giờ Ánh biết chắc rằng ông
giáo không phải là người xảo trá điếm đàng cố ý lợi dụng hoàn cảnh, nghèo khổ
cô đơn của Ánh. Những lời lẽ ông nói với Ánh, nhiều lần đã để cho Ánh tin tưởng
nơi ông, Ánh nhận thấy ông có ý nghĩ đứng đắn, cao thượng và quả quyết muốn cưới
Ánh làm vợ, chứ không phải chọc ghẹo vẩn vơ như nhiều người đàn ông háo sắc.
Ông không có thành kiến phân chia giai cấp, ông thật lòng yêu Ánh và tha thiết
với Ánh lắm. Đã nhiều lần, ông tỏ ra thái độ thành thật, rất lịch sự, khiêm tốn,
không bao giờ có ý khinh khi Ánh, hoặc đùa bỡn cợt nhả, hời hợt bề ngoài. Ánh
đã nghe được những mẫu chuyện cãi lẫy giữa cô em gái của ông và ông, và do đó
Ánh càng thấy rõ mối tình đậm đà của ông Ngọc Minh đối với Ánh. Nhưng Ánh vẫn
thấy mối tình mai mỉa làm sao! Chua chát làm sao! Vô lý làm sao! Ánh không ngờ
ông giáo có thể yêu Ánh đến như thế và Ánh không thể nào tin tưởng rằng cuộc
tình duyên chênh lệch ấy có thể thực hiện được. Dù thực hiện được cũng chưa chắc
sẽ lâu bền!
Ánh không có tham vọng
cao xa. Ánh không ham danh lợi, tiền tài. Con nhà lao động, quen sống bằng mồ
hôi nước mắt từ thuở bé đến giờ, đã chịu bao nhiêu cam khổ, cực nhọc, Ánh có
bao giờ mơ màng đến cảnh xa hoa tráng lệ đâu. Biết thân phận nghèo, và côi cút
nhưng cố giữ lấy tiết hạnh trong trắng của người con gái Việt Nam, Ánh đã thoát
được những cám dỗ bỉ ổi của người cha ghẻ tồi bại. Nay Ánh mong sao làm thuê ở
mướn dành dụm chút ít tiền để đi học lớp đánh máy chữ, và sau nầy sẽ tìm việc
làm, một chức vụ thư ký tầm thường. Tất cả ước vọng của Ánh chỉ có thế thôi.
Lấy chồng? Ánh chỉ mong
được người chồng nghèo và tử tế như Hoàng, hiền lành như Hoàng, và thành thật
yêu Ánh, Ánh nhớ Hoàng, muốn gặp lại Hoàng, muốn đáp lại mối tình thầm kín từ
lâu, e dè nhưng tha thiết của chàng trai thông minh tuấn tú với Ánh cùng chung
một cảnh ngộ. Nhưng Ánh không biết Hoàng ở đâu? Và hiện đang làm gì? Ánh nán chờ
người bạn tâm phúc ấy, tin tưởng rằng ngày tái ngộ sẽ không xa. Hoàn cảnh xui
khiến nàng, gặp ông giáo sư Ngọc Minh, nhưng than ôi, cả một mối tình cao thượng
tốt đẹp của người đàn ông ấy đã thố lộ với nàngtrong một trường hợp éo le, biết
bao nhiêu ngang trái!
Nàng không dám nhận. Nàng
không muốn nhận. Nhưng dù sao nàng không thể không thấy lòng nàng rung động trước
cử chỉ chân thật, đắm say của một bậc trí thức thượng lưu, giàu sang, danh giá,
đã vì yêu nàng mà gây ra trong gia đình có em gái một không khí bất hòa, tẻ lạnh.
Cũng vì tình yêu chênh lệcn ấy, mà nàng phải chịu bao nhiêu dày vò đay nghiến của
cô chủ nhà mỗi ngày càng ghét nàng. Nàng thấy ông Ngọc Minh dạo nầy hay buồn
bã, ít nói, ít cười, thường lén lút kiếm cơ hội để tỏ riêng cùng nàng tình yêu
xót xa, thầm vụng của ông. Ánh thành thật cảm động và thương mến ông Ngọc Minh
nhiều lắm.
Nhưng Ánh tự cho rằng chẳng
qua số phận của nàng phải cam chịu hẩm hiu đau đớn. Ánh không thể nhận lãnh
tình yêu quá tốt đẹp của ông Ngọc Minh. Địa vị và hoàn cảnh của Ánh không cho
phép Ánh được hưởng hạnh phúc tuyệt vời mà ông Ngọc Minh đã muốn tặng Ánh. Ánh
phải cương quyết từ chối ngay để khỏi phải đi sâu vào một con đường tình duyên
muôn phần trắc trở. Tốt hơn là Ánh nên ra khỏi gia đình nầy. Ánh chờ ông giáo về
dùng cơm trưa để thưa rõ câu chuyện với ông. Hôm nay gia đình cô Năm đi Vũng
Tàu là một cơ hội tốt để Ánh được thố lộ hết tâm sự của mình để ông Ngọc Minh
thông cảm. Nếu ông khẩn khoản thiết tha với Ánh nữa, Ánh sẽ thú thật với ông ý
nghĩ của Ánh và cho ông biết quyết định của Ánh đợi đến cuối tháng sẽ xin thôi
việc.
Ánh vừa giặt đồ, vừa suy
nghĩ, buồn tủi cho thân phận mình. Hai dòng lệ cứ chảy ràn rụa trên đôi gò má hồng
mơn mởn. Quá đau khổ, Ánh bỏ chạy vào buồng, nằm gục đầu xuống gối khóc nức nở…
Mãi đến 1 giờ, ông Ngọc
Minh mới về. Nghe tiếng gõ cửa, Ánh vội vàng lau nước mắt, lấy khăn ướt lau mặt,
đợi ông gọi cửa ba lần Ánh mới ra mở. Ánh tưởng ông Giáo không trông thấy những
vết lệ trên mắt nàng. Nhưng vừa buớc vào, ngó Ánh, ông hỏi ngay với giọng hiền
lành và xúc cảm của ông:
- Sao Ánh khóc vậy, Ánh?
Mắc cỡ, Ánh không trả lời,
đi thẳng xuống bếp, sửa soạn dọn cơm, Nhưng ông Ngọc Minh đi theo sau. Đến bếp
ông bảo:
- Tôi ăn cơm ngoài tiệm rồi,
Ánh ạ. Tôi chỉ về nhà lấy một quyển sách rồi tôi đến nhà một người bạn ở Thủ
Thiêm, sáng sớm mai tôi mới về. Chiều nay tôi cũng không ăn cơm nhà. Cô Năm và
gia đình đã đi Vũng Tàu rồi hả Ánh?
- Dạ,
Ông Ngọc Minh do dự một
phút rồi tiếp:
- Ánh khóc vì Ánh buồn
phiền lắm phải không? Đầu tháng này tôi đi ở riêng nhà khác, Ánh à. Tôi thấy
tôi ở trong nhà nầy chỉ thêm đau khổ cho Ánh thôi, Tôi cũng không vui gì. Nếu từ
trước đến giờ tôi đã làm phiền lòng Ánh, thì tôi mong Ánh quên hết đi, đừng
nghĩ tới nữa. Ánh nên coi như không có chnyện gì xẩy ra.
Ánh rưng rưng nước mắt,
không nói lại được một lời. Ông Ngọc Minh bảo:
- Tôi xin lỗi Ánh nhé.
Ông đi lên lầu. Ánh đứng
một mình dưới bếp, lấy khăn ướt lau mặt một lần nữa, cố nén lòng và giữ điềm
tĩnh không để ông giáo thấy sự xúc động của nàng,
Ông Ngọc Minh trở xuống,
tay cầm một quyển sách. Nét mặt buồn, ông đứng nơi phòng khách gọi Ánh:
- Tôi đi đây! Ánh ra đóng
cửa giùm.
Ông đi thẳng ra cửa. Ánh
chạy theo gọi:
- Thưa ông...
Ông giáo quay lại, thì
Ánh đã đứng trước mặt ông. Ánh lau nước mắt, bẽn lẽn cúi mặt xuống, ông Ngọc
Minh bảo:
- Ánh nói đi. Tôi biết
tôi đã làm cho Ánh buồn nhiều lắm, và tôi rất hối hận. Tôi xin lỗi Ánh.
- Thưa ông cuối tháng
này, tôi xin thôi việc... Chắc ông cũng hiểu tôi không thể ở đây được nữa.
- Ánh sẽ ở đâu? Đi đâu?
Làm gì?
-... Dạ, tôi cũng vẫn đi ở
mướn... cho một chủ khác nhưng chưa biết ở đâu.
Ông Ngọc Minh muốn nói
chuyện nhiều, nhưng ông bối rối trước quyết định bất ngờ của Ánh. Ông không biết
nói sao? Suy nghĩ một lát, ông bảo:
- Tôi mong rằng chúng ta
sẽ còn gặp nhau lại, và Ánh sẽ hiểu tôi nhiều hơn. Tôi luôn luôn yêu Ánh và sẽ
không bao giờ không yêu Ánh... Chào Ánh nhé!
Ông bước ra xe lái đi.
Ánh tần ngần ngó theo, một
lúc lâu mới đóng cửa trở vào bếp. Thái độ của ông giáo sư hôm nay khiến Ánh thật
hoang mang. Tại sao ông giáo quyết định dọn ở chỗ khác? Biệt thự này là của
ông, sao ông không ở, lại đi thuê nhà riêng? Ánh đoán chừng có lẽ tại vì mấy
lúc sau nầy ông thường bị cô em gái công kích về thành kiến vô giai cấp của
ông, và hai anh em không còn hòa thuận với nhau như trước nữa. Minh Tú đã nghi
ngờ ông Ngọc Minh đem lòng yêu Ánh cho nên Minh Tú thường cãi lẫy với ông, giận
dỗi ông, và đồng thời nàng dày vò đay nghiến Ánh, chửi bới khinh miệt Ánh hằng
ngày, làm nhục Ánh trước mặt cô Thanh Kiều. Ánh cũng biết Minh Tú tìm cách gán
con gái ông Bộ trưởng cho anh nàng nhưng ông Ngọc Minh không ưng thuận. Thái độ
của ông Ngọc Minh sáng hôm nay từ chối đi Vũng Tàu với Thanh Kiều cũng đã chứng
tỏ rằng ông không có mảy may cảm tình với cô nầy. Dù sao, đối với ông Ngọc
Minh, Ánh rất cảm phục nhưng không thể yêu được. Ánh không thể nào xen vào gia
đình của ông, không những vì địa vị hèn hạ của Ánh mà còn vì lý do Ánh không muốn
gây chia rẽ giữa hai anh em cô Minh Tú.
Ánh nhất định đến cuối
tháng lấy tiền lương 600 đồng rồi thôi việc luôn. Ánh sẽ nói trước cho cô Minh
Tú biết, và sẽ không vì một lẽ gì Ánh ở lại trong nhà nầy lâu nữa.
Ánh đi làm các công việc
theo lời cô Năm đã dặn. Ánh thấy cô chủ nhà thật là tàn nhẫn và độc ác. Trước
khi đi nghỉ mát ngày chủ nhật cô đã giao Ánh một lô công việc không thể nào làm
hết được trong một ngày. Cũng có lẽ vì cô Năm sợ Ánh ở nhà giỡn cợt với anh cô
nên cô đã sai Ánh làm những công việc mà ít nhất cũng hai ba người mới làm hết
được trong một buổi chúa nhật.
Cô Năm không muốn để cho
Ánh một phút thì giờ nhàn rỗi, là có thâm ý ngăn cản con đầy tớ không cho nó
trò chuyện vẩn vơ với anh cô. Ánh không ngần ngại, rán làm tận tâm tận lực được
việc nào hay việc ấy. Đến 4 giờ, Ánh lại phải đi làm cơm cho kịp 6 giờ cô Minh
Tú về.
Lau nhà lau cửa xong, Ánh
mệt lả người, lên giường nằm nghỉ tạm một lúc. Nàng gác tay lên trán, suy nghĩ.
Ánh không dè cuộc đời một
nữ sinh có ‘‘tương lai đầy hứa hẹn’’ như các thầy giáo đã ghi trong học bạ, lại
gặp nhiều cảnh éo le, đau khổ. Chỉ vì tội nghèo! Phải, chỉ vì Ánh nghèo thôi!
Thí dụ Ánh là con nhà khá giả, như một số đông bạn gái khác cùng lứa và cùng lớp
với Ánh, thì Ánh đâu phải đi làm con ở bị trái ngược chua xót như ngày nay! Chỉ
vì Ánh là đầy tớ, cho nên một thiếu phụ mà chưa chắc học lực đã giỏi gì hơn
Ánh, sắc đẹp đã chẳng hơn gì nhờ hoàn cảnh được làm địa vị bà chủ, có quyền
khinh khi ngược đãi Ánh! Chỉ vì Ánh là đầy tớ cho nên gặp một ông giáo sư danh
giá, giàu sang, tỏ tình yêu Ánh mà Ánh không dám đáp lại mối tình tha thiết và
chân thành của ông. Ánh nghĩ buồn duyên phận bẽ bàng và số kiếp hẩm hiu tủi nhục
của mình. Ánh nhớ lại một hôm, tay xách giỏ, chưn mang đôi guốc cùn Ánh đi chợ
với Minh Tú giữa đường ngẫu nhiên gặp Túy Phượng... Túy Phượng là bạn gái thân
nhứt của Ánh hồi còn học Gia Long, học kém thua Ánh nhiều, nhưng ngày nay hãnh
diện được vào Đại Học Văn Khoa. Túy Phượng mặc đồ đầm, cỡi xe Vélosolex bóng
loáng. Chợt trông thấy Phượng, Ánh vội vàng tìm cách lánh mặt, nhưng không kịp.
Túy Phượng đã trông thấy Ánh, trân trân nhìn Ánh, Ánh phải gượng cười xã giao gọi:
- Chị Phượng.
Túy Phượng ngó ngơ chỗ
khác không thèm chào lại.
Ánh mắc cỡ quá. Một hôm
khác, sáng chúa nhựt, Ánh đi chợ về một mình, tay ôm một cái chổi tàu cau để
đem về quét dọn sân bếp. Tay khác xách một giỏ vật thực, còn đèo thêm một hủ mắm.
Hôm ấy Ánh mặc đồ bà ba bằng vải đen, đi chưn không. Bỗng dưng một chiếc xe hơi
Huê kỳ ghé đậu bên lề đường, trước mặt Ánh. Ánh ngó vào xe ngạc nhiên trông thấy
một thiếu nữ đang mở cửa xe bước ra, giống hệt ‘‘con Minh Thẹo’’. Mà ‘‘con Minh
Thẹo’’ thật. Nó trông thấy Ánh vừa bước tới thì Ánh cúi mặt xuống đi luôn nhưng
Minh Thẹo cất tiếng gọi:
- Ánh!
Ánh thẹn đỏ mặt, đành ngó
lên chào:
- Chị Minh phải không?
Minh Thẹo chỉ gật đầu, rồi
hỏi với giọng nghiêm trang không còn thân mật vồn vã như hồi còn học trò:
- Ánh bây giờ làm gì?
- Tôi không làm gì hết chị
Minh à.
Vừa lúc đó, người đàn ông
cũng đã từ trong xe mở cửa bước ra đến nắm tay Minh Thẹo, dắt vào tiệm kem ngay
đấy. Minh bước theo chàng, không chào Ánh, Ánh còn nghe rõ tiếng Minh nói với
chàng:
- Con Ánh hồi trước học ở
Chợ Quán với em đó.
Người đàn ông nói:
- Con này, anh thấy nó
hình như là...con ở...ừ phải rồi, con ở của chị Minh Tú đó mà!
- Vậy hả? Thế sao em đến
Minh Tú hai lần không thấy?
- Nó làm ở dưới bếp, em
làm sao thấy được.
Ánh xấu hổ đi thật mau.
Ánh còn lạ gi Minh Thẹo! Tên thật của cô ả là Nguyễn thị Minh. Bạn cùng lớp đặt
cho nó cái biệt danh là Minh Thẹo, vì nó có cái thẹo ở mép tai, Minh là con nhà
thầu khoán có biệt thự lớn ở xóm Nancy, học dở nhất lớp nhưng diện thì không ai
bằng. Ngay hồi còn đi học, cô ả đã thích bôi móng tay và móng chân đỏ chói. Thi
tiểu học một lượt với Ánh, Ánh đậu nhì, còn Minh trượt vỏ chuối. Lúc bấy giờ
Minh 16 tuổi, mà làm giấy khai sanh chỉ có 14. Năm sau, Ánh đã nghe tin Minh lấy
chồng làm chủ nhà máy cưa ở Biên Hòa.
Ánh còn nhớ lại thời kỳ
đi học ở Chợ Quán mới năm sáu năm nay chớ lâu lắc gì! Minh Thẹo vừa dốt toán, vừa
dốt cả chính tả. Ngồi cùng bàn với Ánh và cạnh Ánh nó cứ theo hỏi lải nhải:
- Chị Ánh ơi, chị Ánh, chữ
‘‘dĩ vãng’’ viết d-đ phải hôn Chị Ánh ơi, 1250 đồng bạc viết mấy con số
không?... Chị Ánh ơi chị vẽ giùm em cái bán đồ xứ Việt nam Cộng hòa đi chị, em
vẽ hoài mà nó cứ trật lất đây nè, hong giống chút nào hết!
Ấy thế mà bây giờ nó có
chồng làm chủ nhà máy cưa, nó có xe hơi Huê kỳ coi bộ tịch như bà Hoàng, đố ai
biết là nó dốt đặc cán mai! Còn Ánh... Than ôi! Ánh học giỏi thi đỗ cao thì nay
lại đi ở, đầy tớ rửa chén rửa bát cho người ta! Đôi guốc cùn đã gần đứt quai
hai hôm nay, Ánh chưa có tiền mua đôi guốc mới!
Ánh thở than cho những cảnh
đời trái ngược, mỉa mai chua chát làm sao! Tủi nhục làm sao! Ánh dè đâu ở xã hội
ngày nay số kiếp đứa gái nghèo có thể tàn nhẫn đến thế được?
6 giờ, vợ chồng Minh Tú,
cô Thanh Kiều và hai đứa nhỏ đi Cấp đã về. Ánh đã sửa soạn dọn cơm nước đàng
hoàng tươm tất cả. Nhưng Ánh cũng bị Mính Tú tìm đủ cách để rầy la mắng nhiếc,
trước mặt Thanh Kiều.
Cô gái ông Bộ Trưởng thì
cứ ngồi làm thinh, trân trân nhìn con ở bận đồ bà ba đen, đi chưn không, cúi đầu
không đáp lại một lời, mặc dầu Minh Tú mắng xối xả vào mặt nó. Thanh Kiều cũng
nhận thấy Ánh hiền lành và tuyệt đẹp. Khuôn mặt trái xoan, hình vóc đều dặn, uyển
chuyển, tay Ánh phục sức rất đơn sơ nghèo nàn, nhưng Thanh Kiều phải nhận thấy
Ánh đẹp hơn cô nhiều và gương mặt của Ánh hiền từ thùy mị rất hấp dẫn. Nhưng cô
vẫn khinh Ánh là con gái nghèo đi ở mướn! Cô nhìn Ánh với đôi mắt tự cao tự đại.
Còn Minh Tú thì rõ ràng là ghen ghét ‘‘con nhỏ ở’’ ghét cay ghét độc, như một kẻ
thù. Sắc đẹp của Minh Tú đối với Ánh không khác nào ngọn đèn sánh với ngôi sao,
Minh Tú ngạc nhiên không
thấy Ngọc Minh ở nhà. Nàng rất bực mình vì ‘‘Anh Hai’’ không chìu theo những dự
tính tham lam của nàng. Không rủ được anh đi vũng Tàu với Thanh Kiều, thì nàng
định tối nay nơi bàn cơm nàng sẽ sắp đặt chỗ ngồi gần con gái ông Bộ Trưởng.
Nàng sẽ tìm cách để cho Ngọc Minh và Thanh Kiều chuyện trò thân mật và hy vọng
Thanh Kiều có đủ sức cám dỗ được người anh ‘‘triết học’’ và mơ mộng của nàng.
Cơm đã dọn lên bàn, nhưng
ông giáo sư Ngọc Minh vẫn chưa về. Minh Tú gọi con ở:
- Ánh!
- Dạ.
- Cả ngày nay, ông Hai ở
nhà hay đi đâu?
- Dạ thưa bà, ông Hai đi
từ lúc sáng, đến trưa ông về độ 15 phút rồi lại đi liền. Ông Hai có dặn con
thưa với bà rằng tối nay ông không dùng cơm. Ông sang bên Thủ Thiêm.
Minh Tú tức giận, trợn mắt
khảo Ánh:
- Ông Hai đi Thủ Thiêm
làm gì?
- Dạ thưa bà, con không
biết.
- Ông Hai ở nhà đến mấy
giờ ông mới đi?
- Thưa bà, ông Hai về lấy
một quyển sách rồi đi ngay, ông Hai cũng không dùng cơm trưa.
- Sau mầy không dọn cơm mời
ông Hai?
- Thưa bà con có dọn cơm
trên bàn, nhưng ông Hai đi liền. Ông Hai có nói ông Hai đã ăn cơm tiệm rồi.
Minh Tú lớn tiếng mắng
Ánh:
- Mầy nói láo chớ sao ông
Hai không ăn cơm nhà, lại đi ăn tiệm?
Ánh làm thinh. Minh Tú
quát nó:
- Thôi đi xuống bếp! Chút
nữa, mầy coi tao!
Ánh lặng lẽ đi xuống bếp.
Bữa cơm tối ấy không vui
chút nào. Mặc dầu ông Năm, chồng cô Minh Tú, tìm cách pha trò và nhắc lại những
chuyện vui vui trong cuộc đi nghỉ mát ở Vũng Tàu, Minh Tú vẫn không cười, và
không chuyện trò giỡn cợt như thường lệ. Con gái ông Bộ trưởng cũng không còn
nhí nha nhí nhảnh như mọi khi. Thấy vợ và Thanh Kiều ngậm câm như hến, ông Năm
quay lại cười giỡn với hai đứa con.
Cơm xong, Thanh Kiều vặn
radio nghe âm nhạc có ý chờ ông Ngọc Minh về, Nhưng 9 giờ, thấy không khi chán
nản, cô đứng dậy cầm xắc:
- Thôi, moa về!
Minh Tú còn mời gượng:
- Ô chơi chút nữa đã,
toa.
- Thôi
Thanh Kiều bắt tay Minh
Tú, bắt tay ông Năm, cúi hôn hai đứa bé và nói với chúng:
- Tata về nhé.
Con gái ông Bộ trưởng đi
thật lẹ ra xe, bộ mặt buồn hiu.
Minh Tú bảo chồng đi ngủ
và dắt hai con lên lầu. Sau một ngày đi chơi mệt mỏi, ông Năm thay đồ xong, đặt
lưng lên giường một lúc là ngủ ngay.
Đồng hồ đã điểm 10 giờ.
Ông Năm ngáy khò khò. Tiếng gáy cao lên rồi hạ xuống, hai đứa nhỏ cũng nằm ngủ
say sưa trong hai chiếc giường con kê nơi góc tường.
Duy có Minh Tú hãy còn thức.
Nàng lắng tai nghe.
Trong ý nàng nghi rằng có
lẽ anh nàng chờ đến khuya cho gia đình ngủ cả, ông sẽ về gõ cửa nhè nhẹ, hoặc
là ông đã dặn Ánh khép cửa để lúc về ông khẽ đẩy cửa bước vào, không làm tiếng
động. Rồi ông sẽ đi nhè nhẹ xuống buồng con ở, để tình tự với nó.
Minh Tú đoán chừng như thế,
nên nàng lắng tai nghe để rình. Nếu chuyện sẽ xẩy ra đúng như nàng nghi ngờ,
thì nàng sẽ... thế nầy.. nàng sẽ... thế kia... Nàng đã sắp đặt cả một chương
trình trinh thám tỉ mỉ, kín đáo, không để cho ai biết. Rồi sáng ngày, chờ anh
và chồng nàng đi làm việc và hai đứa nhỏ đến trường Mẫu giáo,ở nhà một mình
nàng sẽ đánh cho con ở một trận nên thân! Nàng tự nhủ thầm: ‘‘Có thế nó mới chừa!...
Giỏi nó mét với anh Hai thử coi anh Hai làm gì mình?. Hử! Dám mét!... Nhưng đây
rồi con nhỏ có chửa mới khổ cho mình chứ! Thật là tức mình cho anh Hai quá! Sao
ảnh mê con nhỏ dữ vậy kìa? Con Ánh mà có chửa thì… thì... thì làm sao nhỉ? Ối,
kệ nó, hơi đâu mình lo cho mệt xác. Nhưng để con nhỏ nầy mang bầu ở trong gia
đình mình, thì nhứt thiết là không được! Mình sẽ đập cho nó một trận rồi tống cổ
ra khỏi nhà. Vậy là êm! Còn anh Hai, thì mình phải làm sao gán lẹ Thanh Kiều
cho ảnh, chớ cứ để ảnh bông lông mãi, thế nào cũng có ngày lộn xộn!’’.
Minh Tú vừa nghĩ đến đó
thì nàng nghe có tiếng động. Ủa lạ, sao từ nãy giờ nàng không nghe tiếng mở cửa
ngoài phòng khách?... Nàng lắng tai nghe thật kỹ, rõ ràng là có tiếng chưn bước
dưới nhà bếp... Nàng đoán: ‘‘Chắc anh Hai đã lẻn về từ nãy giờ. Anh ấy đang vô
buồng con Ánh... Cái anh nầy thiệt quá chừng!...’’
Minh Tú khẽ đứng dậy, đi
chưn không, nhón gót bước nhè nhẹ. Nhưng nàng chưa dám bước xuống cầu thang. Sợ
có tiếng động sẽ hỏng việc rình mò của nàng. Nàng nghĩ thầm: ‘‘Chắc là anh Hai
đang ở trong buồng con Ánh, nhưng chưa làm gì... Hai người còn đang thầm thì
tình tứ... mình xuống bếp nghe thử...’’
Nàng rón rén bước xuống mấy
bực cầu thang... Bỗng nàng nghe tiếng một vật gì ở dưới bếp như cái ly nước rớt
xuống đất kêu ‘‘choảng!’’ Nàng lại tự nhủ ‘‘ Thôi đích thị rồi, chắc là anh Hai
đã mò vô buồng Ánh, làm gì đây rồi khát nước. Nó rót nước vào ly cho ảnh uống,
vì phòng tối nên hai người mò mẫm làm rớt cái ly xuống đất... chắc chắn như thế
chứ không sai..’’
Nhưng Minh Tú không thực
hành đúng kế hoạch trinh thám mà nàng đã sắp đặt. Lúc nằm trên lầu, thì nàng
tính khác. Nàng định lén rình bí mật, đừng cho anh nàng và con ở biết... Nhưng
bây giờ, nghe chiếc ly rớt vỡ, nghi chắc là nàng sẽ bắt được tại trận anh nàng ở
trong buồng Ánh, nàng mất hết bình tĩnh và khôn ngoan, máu tức nổi dậy sùng sục,
nàng liền sờ trên vách tường tìm nút điện, bật đèn lên sáng choang cả nhà.
Tuy vậy nàng cũng sợ rằng
nếu đi thẳng xuống buồng con ở thì thế nào cũng chạm mặt anh cô, nên đứng nơi cửa
nhà giữa gọi xuống bếp:
- Ánh!
Không có tiếng trả lời,
Minh Tú run hẳn cả người gọi to:
- Ánh Ánh!...
Vẫn không có tiếng đáp.
Nàng la lên:
- Ánh! mầy làm gì ở dưới?
Bây giờ mới nghe Ánh khẽ
đáp:
- Dạ
- Mầy làm cái gì ở dưới?
- Dạ.
Minh Tú tức mình hét lên:
- Tao hỏi mày làm gì ở
trong buồng mầy?
- Thưa bà, con ngủ.
Minh Tú cho rằng con ở sợ
quýnh nên nói dối.
Nàng lại hỏi dằn từng tiếng:
- Hứ! mầy ngủ à? Mầy ngủ
sao mầy làm rớt cái ly nước?
- Thưa bà, không có.
- Thật không có không?
Tao biết mà mầy còn dám chối hả? Tao đang ngủ trên lầu nghe tiếng cái ly rớt
‘‘choảng’’ trong buồng mầy, tao giựt mình xuống coi, mà mầy nói không có hả?
- Thưa bà, con ngủ con
không hay gì cả. Con không có làm rớt ly.
Minh Tú càng tức gìận:
- Mầy còn dám che mắt tao
hả?
Chưn không, nàng đi thùi
thụi xuống bếp. Ánh ở trong buồng cũng vừa mở cửa bước ra. Một con mèo vá đứng
trên nắp lu nước ở ngoài sân bếp, trố hai con mắt sáng ngời nhìn Ánh kêu
‘‘ngoao... ngoao»... Ba bốn mảnh chén vỡ tan nát trên nền gạch. Ánh trông thấy
hiểu ngay.
- Thưa bà, chắc là con
mèo đuổi chuột, nhảy làm rớt cái chén...
Con mèo uống cong mình,
nhẹ nhàng phóng xuống sân gạch, bước đủng đỉnh đến bên chưn Ánh cọ sát vào ống
quần của Ánh và khẽ kêu: ‘‘ngoao...’’
Minh Tú mắc cỡ. Nhưng
nàng cũng mắng Ánh:
- Mầy ngủ gì mà như chết
vậy? Cái chén rớt, mầy không nghe?
Nàng giả vờ đi xuống bếp,
mở toang cửa buồng của Ánh để ngó vào. Không thấy bóng dáng của giáo sư Ngọc
Minh nàng quay lưng ra, hỏi Ánh:
- Cái chén gì rớt đó?
- Thưa bà, lúc nãy con nhức
đầu và nóng lạnh, con giã gừng trong cái chén mẻ để con thoa. Xong rồi, con để
chén trên bàn nầy, định sáng con rửa. Chắc là con mèo nhảy làm rớt đó.
Minh Tú còn la Ánh:
- Mầy cứ đập bể chén dĩa
của tao đi! Rồi không còn một cái để ăn cơm nữa đó.
- Dạ con dùng cái chén mẻ
đã bỏ, chứ không phải chén lành.
Minh Tú làm thinh, một lần
nữa ngó kỹ trong buồng Ánh trong bếp, trong sân, không thấy gì lạ. Nàng quay
ra, ngó khắp nhà giữa, phòng khách, cũng không co gì đáng nghi. Nàng ra xem cửa,
thì cửa vẫn khóa chặt. Nàng nói lẩm bẩm một mình:
- Lạ nhỉ! Anh Hai đi chơi
đâu mà đêm nay không về nhà ngủ?
8 giờ sáng hôm sau, ông
Ngọc Minh lái xe traction về thay áo quần để đi làm.
Minh Tú chưa dậy. Tại đêm
qua nàng thức khuya để rình gần ba giờ mới nhắm mắt, nên sáng nay 8 giờ nàng
còn ngủ.
Cuối tháng, Ánh lãnh tiền
lương rồi xin nghỉ việc, Ánh đã bảo trước cho Minh Tú biết, nhưng Minh Tú không
ngờ. Nàng tưởng Ánh nói lẫy, không dè Ánh thôi thật.
Minh Tú bảo Ánh ở lại, vì
dù sao Minh Tú cũng nhận thấy Ánh làm việc giỏi dắn, siêng năng, và tính nết thật
hiền lành. Tuy nàng giận và ghét Ánh về vụ anh nàng cứ hay binh Ánh và nàng
nghi là ông có tình tự lén lút với Ánh, nhưng nàng vẫn sợ rằng sẽ khó tìm được
một đứa đầy tớ hiền lành và tận tụy như con nhỏ nầy. Nhờ nó trước kia là nữ
sinh, nên tính nết và tư cách có hơn những đứa ở thất học. Nàng cố dụ dỗ Ánh ở
lại, nàng sẳn sàng tăng lương nếu Ánh đòi hỏi, nhưng Ánh lễ phép từ chối.
Tám giờ tối cơm nước
xong, ông Ngọc Minh đã đi chơi.
Chín giờ, Ánh dọn dẹp bếp
núc đâu vào đấy, rồi ôm một gói quần áo cũ và các đồ dùng vặt vạnh của Ánh, tay
xách chiếc nón lá, ra đi chưn không. Ánh buồn bã chào từ giã bà Năm, ông Năm,
và hun trên má hai đứa nhỏ đang ngồi chơi ở phòng khách.
Bé Ái ngó Ánh, hỏi:
- Chị Ánh đi đâu đó, chị
Ánh?
Ánh rưng rưng hai hàng
châu lệ. Bây giờ Minh Tú mới thương tiếc Ánh, ông Năm cũng muốn giữ Ánh ở lại,
nhưng Ánh nhất định ra đi.
- 3 -
Ánh ra đi thật,
ông Ngọc Minh cũng không ngờ. Mặc dầu Ánh đã cho ông biết trước ý định ấy, ông
vẫn tưởng Ánh chưa cần phải đi vội. Chính ông cũng đã cho Ánh biết ông sẽ dọn
nhà đi ở riêng, chắc sẽ không phiền hà gì cho Ánh nữa. Vả lại, suốt tuần lễ vừa
qua, trong gia đình được êm ấm, không nghe Minh Tú nói gì về việc Ánh xin thôi
việc.
12 giờ khuya đi
coi chớp bóng về,- Ông Ngọc Minh thích đi chơi một mình, không muốn rủ ai - ông
bấm chuông gọi cửa, ngạc nhiên thấy một đứa ở khác ra mở. Cũng lại là một đứa ở
gái! Con nhỏ nào đây mới lạ, có lẽ đã được Minh Tú dặn trước rồi, nên lễ phép
cúi đầu chào lúc ông Giáo bước vào: ‘‘ Thưa ông!’’. Nó cũng chạc 19, 20 tuổi.
Ông Giáo ngạc nhiên, nhưng không hỏi han gì cả, đi thẳng lên lầu. Sự thay đổi bất
ngờ xẩy ra tối nay trong lúc ông đi coi xi nê, khiến ông buồn rầu, hoang mang.
Té ra Ánh đã đi thật rồi ư? Sao Ánh không đợi sáng ngày mai có mặt ông ở nhà, để
từ giã ông? Hay là lúc nãy Ánh có bị Minh Tú chửi mắng sao đó chăng? Ánh đi
đâu? Ánh sẽ ở đâu? Ánh sẽ làm gì? Đời Ánh sẽ ra sao? Ông Ngọc Minh cứ tự hỏi lần
vần mấy câu thắc mắc ấy, và tự trách mình sao mấy hôm nay không hỏi Ánh, lại thằm
trách Ánh sao không nói gì cho ông biết trước rõ ràng.
Minh Tú cũng tuyệt
nhiên không nói gì cho ông biết.
Sáng dậy, lúc ăn
điểm tâm và uống cà phê có đông đủ cả nhà, Ngọc Minh hỏi cô em gái:
- Ánh xin thôi rồi
hả, em?
- Dạ,
Minh Tú chỉ trả lời
gọn lỏn có bấy nhiêu, Ngọc Minh cũng không hỏi gì hơn.
Chúa nhựt tuần ấy,
ông dọn đi ở riêng. Trước đó mấy hôm, ông đã bảo với vợ chồng Minh Tú về ý định
của ông và có cho biết ông đã sang một căn nhà mát mẻ, xinh xắn, có tiện nghi ở
một khu phố yên tĩnh ngoài châu thành Sàigòn, có sân ở vườn khá rộng, có cả ga
ra để xe. Ông bảo Minh Tú:
- Ánh để chiếc xe
hơi của anh cho em và dượng Năm dùng.
- Còn anh Hai?
- Anh mua chiếc xe
khác. Cũng một chiếc traction của một người quen bán lại. Tất cả đồ đạc trong
nhà, anh để lại hết cho vợ chồng em. Anh chỉ đem đi vài ba món cần thiết thôi.
- Nhưng tại sao
anh Hai cứ nhứt định dọn đi ở riêng? Nhà này là nhà của anh, sao anh không ở?
Vợ chồng em có điều
gì khiến anh bất mãn chăng? Các cháu làm ồn ào hay phá phách chăng? Hay anh Hai
giận em về chuyện chi?
- Không. Tại tính
anh thích ở riêng biệt một mình, em cũng biết.
- Em biết tính
anh. Nhưng anh cứ ở đây có được không? Để chúng em dọn đi vậy.
- Anh muốn ở một
nơi mát mẻ yên tịnh hơn.
Mặc dù vợ chồng
Minh Tú năn nỉ hết lời, Ngọc Minh cũng nhất định dọn đi, và sáng chủ nhật ấy vợ
chồng Minh Tú và hai đứa con cùng đi với ông Ngọc Minh đến nhà mới của ông, ở tận
bên Thị Nghè.
Tại đây, ông Giáo
Sư Văn chương và Triết học tự sắp đặt một cuộc đời giản dị hợp theo sở thích của
ông. Ngày hai buổi ông đi dạy học, và ăn cơm tiệm tại một nhà hàng lớn ở Đakao.
Ông nuôi một đứa con trai chạc 14 tuổi con nhà nghèo, bà con xa gọi ông bằng
anh. Thằng bé coi bộ rất hiền lành, sạch sẽ, lễ phép, do ông xuống tận quê nó ở
Bến Tre đem về nuôi để giữ nhà cho ông. Mỗi tháng ông cho nó 800 đồng, tự nó nấu
cơm lấy ăn một mình và tiêu xài gì tùy thích. Ông may sắm áo quần cho nó. Công
việc của nó là giữ nhà, quét dọn, làm các việc lặt vặt, nhẹ nhàng, tưới nước
cho mấy bồn hoa trước sân và trong vườn với một ống cao su. Thỉnh thoảng ông
sai đi chỗ nầy chỗ nọ.
Ông nuôi chim bồ
câu, một bầy gà năm sáu con, một cặp ngỗng và một con chó Nhật rất dễ thương.
Mỗi tuần lễ, ông để
dành một buổi chiều thứ bảy tiếp các bạn hữu. Ngoài ra, ông thích sống yên tĩnh
một mình, ông xem sách báo Việt nam và ngoại ngữ, và ông viết văn.
Nhưng ông không
quên Ánh. Thật thế, ông đã yêu, yêu rất nhiều cô nữ sinh nghèo khổ kia vì hoàn
cảnh gia đình mà phải đi ở mướn, làm thuê. Ông yêu rất nhiều cô nữ sinh thủy mị
diễm kiều của ‘‘giai cấp’’ lao động, thông minh không kém một thiếu nữ nào
khác, hiền dịu và đứng đắn hơn nhiều cô tiểu thư trưởng giả, quý phái của tầng
lớp được gọi là thượng lưu. Ông yêu rất nhiều cô gái ‘‘hèn hạ’’ nhưng tính tình
trong trắng thanh cao, đã không may sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó,
đem tấm thân côi cút đi làm tôi tớ cho người, chịu số kiếp đày đọa, ôm duyên phận
hẩm hiu, bị mọi người khinh rẽ.
Ông muốn gặp Ánh,
ông muốn Ánh về chung sống với ông, để ông đem hết cả mối tình tha thiết an ủi
tâm hồn đau khổ ấy. Hơn nữa, ông muốn giúp Ánh đủ phương tiện để phát triển và
trở nên một bậc nữ lưu gương mẫu của Việt Nam.
Trong số trăm
nghìn cô thiếu nữ mà ông đã quen biết, ông muốn lựa chọn một người nào vừa đẹp,
vừa dịu hiền, vừa đã đau khổ nhiều, để làm bạn trăm năm với ông. Vì ông cho rằng
chỉ có người nào đã đau khổ mới biết đánh giá được tình yêu và cuộc đời đúng
theo giá trị của nó. Chỉ có người bị hất hủi khinh khi, mới có lòng thương sâu
rộng đối với người và vạn vật. Chỉ có hạng người ấy mới hiểu đời với tấm lòng
nhân đạo chân chính và lòng bác ái vô biên, với những đức tính quý báu nhất của
tâm hồn cao thượng.
Ngọc Minh thuộc
vào hạng đàn ông coi thường những lòe loẹt bên ngoài, có lẽ vì ông đã giao thiệp
rộng rãi, thường tiếp xúc với đủ hạng người và đã nhận xét chân giá trị đáng
khinh hay đáng trọng của mọi từng lớp, và mọi cả nhân.
Cho nên sánh với một
thiếu nữ nghèo nàn như Ánh cùng một tiểu thư khuê các, như Thanh Kiều, con gái
ông Bộ trưởng, ông nhận thấy đứng về cấp bậc gỉa tạo của thành kiến sai lầm thì
có phân biệt người sang kẻ hèn, nhưng đứng về phương diện chân giá trị của cá
nhân thì Ánh cao quý hơn Thanh Kiều nhiều lắm.
Bỏ lớp vỏ lòe loẹt
sơn quét bên ngoài, chỉ nhìn vào bẩm chất tinh thần và tâm trạng của người thiếu
nữ, thì Ánh đáng được chú ý hơn Thanh Kiều, và đáng yêu hơn.
Không phải ông
giáo sư Ngọc Minh có thành kiến không tốt đối với các thiếu nữ quý phái đâu, vì
chính ông cũng là người của giai cấp quý phái, ông là con một vị cựu Đốc Phủ Sứ
có uy danh lừng lẫy ở Lục tỉnh, có nhiều vàng bạc ruộng đất, nhà lầu, xe hơi.
Chính ông lại là bậc trí thức thượng lưu ở Sàigòn, đã sống trong giới trưởng giả
giàu sang hơn là các giới cần lao hạ cấp.
Nhưng có lẽ vì ông
đã có sẵn một tâm hồn thanh cao, lại được hấp thụ nhiều các tư tưởng hiền triết
nhân đạo của Đông Tây kim cổ, đã mục kích bao nhiêu trò giả dối bất công của xã
hội, nên chi ông Giáo sư văn chương và triết học của chúng ta đã tìm thấy được
lý tưởng tốt đẹp của nhân sinh mà ông muốn áp dụng trong đời sống của ông.
Trong khi ông đang
tìm một thiếu nữ hợp với lý tưởng hạnh phúc và quan niệm ái tình của ông, ông
đã gặp cô Thanh Kiều, con gái ông Bộ trưởng, loè loẹt xa hoa nhưng tính nết
không đẹp, tâm hồn rỗng không rồi ông lại gặp Ánh, một nữ sinh nghèo đi làm
thuê ở mướn, con gái một gia đình lao động, tự nhiên ông so sánh hai người...
Cho nên chúng ta
không lấy làm lạ khi thấy giáo sư Trần ngọc Minh thương xót cô Ánh rồi dần dần
yêu cô, không quản ngại đến địa vị hèn hạ thấp kém của người thiếu nữ ấy.
Dọn về căn nhà
riêng biệt nầy, và tự do thong thả sống theo lý tưởng của ông, ông giáo sư Ngọc
Minh muốn có Ánh ở bên cạnh. Ông muốn dắt dẫn Ánh lên một địa vị xã hội xứng
đáng hơn đối với tư cách và chân giá trị của cô. Ông muốn huấn luyện Ánh đến một
trình độ văn hóa thích hợp hơn với phẩm giá tinh thần của cô. Ông muốn thử một
cuộc luân lý và xã hội, thực hiện lý tưởng nhân đạo công bằng của ông, để nêu một
gương sáng cho thế hệ thanh niên hiện đại, và đánh đổ thành kiến giai cấp, nguồn
gốc của bao nhiêu bất công và bao nhiêu tranh đấu nguy hại hơn nữa.
Ông thành thật yêu
Ánh, đối với ông là người đàn bà lý tưởng, ông cương quyết khinh thường mọi trở
lực của xã hội, mọi phản đối của gia đình, nhất là của em gái ông.
Nhưng ông rất tiếc
Ánh không hiểu như thế. Ánh vẫn có mặc cảm về giai cấp thấp hèn.
Ánh vẫn tự cho
thân phận thấp kém của mình không xứng đáng với tình yêu quá tốt đẹp mà không
bao giờ Ánh dám mơ tưởng đến. Sự Ánh âm thầm ra đi, càng khiến ông Ngọc Minh mến
phục cô nữ sinh nghèo khổ, biết tự trọng và bùi ngùi thương nhớ cô.
Ông muốn gặp Ánh.
Nhưng làm sao? ông không biết chỗ ở của Ánh. Hiện nay Ánh là một cô gái lạc
loài, một, chiếc bóng đìu hiu đơn độc, không biết vất vưởng nơi nào... Một cánh
bèo mong manh trôi giạt đi đâu trên biển đời giông tố.
Ông Ngọc Minh
không ngờ tình yêu lý tưởng của ông đối với cô nữ sinh nghèo kia đã gây ra bao
nhiêu sóng gió trong tâm hồn ông. Ông không ngờ nó có mãnh lực xáo động say mê
đến thế. Ánh càng dè dặt xa cách, ông càng muốn gần Ánh. Ánh càng tự hạ xuống
thấp hèn, ông càng muốn nâng đỡ Ánh lên cao. Ông nhớ Ánh, thương Ánh, buồn bã
âu sầu vì không còn cách nào tìm Ánh lại được nữa. Ông đã tỏ với Ánh lòng mong
ước sẽ còn gặp nhau, nhưng hình như cố tình Ánh muốn trốn tránh sự gặp gỡ ấy.
Dù sao, ông đã nhất quyết, ông còn hy vọng...
Một hôm, ông Ngọc
Minh ngồi trong văn phòng ông Hiệu trưởng một tư thục lớn ở Sàigòn, quen thân với
ông, một nữ sinh ôm cặp bước vào. Ông Hiệu trưởng đang nói chuyện vui vẻ với
ông Ngọc Minh, vừa trông thấy cô học trò, liền chau mày gắt gỏng:
- Cô muốn gì nữa
cô Toàn?
Nữ sinh rưng rưng
nước mắt, đáp:
- Thưa thầy em còn
bốn tháng nữa đi thi, em xin thầy rộng lượng cho em được tiếp tục học cho đến kỳ
thi. May ra em đỗ, em sẽ rán kiếm việc làm, em xin cam đoan sẽ trả tiền học
phí, em mắc nợ nhà trường... Nay, thầy đuổi em, tội nghiệp em...
Ông Hiệu trưởng trừng
mắt ngó cô:
- Cô thiếu nhà trường
3 tháng tiền học rồi, chưa trả được xu nào. Nay cô muốn học cho tới kỳ thi nữa
sao? Hừ!... Đâu có được! Cô muốn tiếp tục học cho đến kỳ thi cô về nói với ba
má cô phải đóng đủ 3 tháng tiền cũ cho nhà trường đã. Tôi đã tử tế cho cô thiếu
ba tháng, nay tôi không thể nào cho cô thiếu được nữa. Nếu cô không có tiền
thanh toán dứt khoát ba tháng nợ cũ, buộc lòng tôi phải đuỗi cô ra khỏi trường
sáng nay, cho đến khi nào cô trả đủ sẽ được trở lại học. Chỉ có thế thôi.
- Thưa thầy, em
xin thầy cứ cho em học, rồi cuối tháng nầy má em hốt được hụi, má em sẽ đến trả
thầy.
- Không được. Cô
thiếu ba tháng là 900đ. Chừng nào má cô hốt hụi trả đủ số tiền đó cho nhà trường
thì tôi cho cô học lại. Nếu trò nào cũng không trả học phí như cô thì tiền đâu
tôi trả lương cho các giáo sư?
Cô nữ sinh khóc
lóc, van xin:
- Thưa thầy...
Ông Hiệu trưởng cắt
ngang:
- Không có thưa gởi
gì hết ráo. Cô đừng có năn nỉ khóc lóc vô ích. Cô không có tiền đóng tiền trường
thì cô đừng đi học, chớ có gì mà khóc lóc? Thôi, đi về biểu ba má cô vay mượn
làm sao cho có tiền trả học phí, thì tôi cho học lại. Còn không thì thôi!
Cô nữ sinh không
còn biết năn nỉ cách nào được nữa, đành chào ông Hiệu trưởng và ông khách lạ, rồi
xách nón ra về. Ông Hiệu trưởng quay lại ông Ngọc Minh:
- Đó, anh coi. Ba
tháng nay không đóng học phí mà muốn trây cho đến kỳ thi nữa, để quịt cho dễ.
Ông Ngọc Minh bảo:
- Kể cũng tội nghiệp,
tại nhà người ta nghèo.
- Nghèo thì ai biểu
đi học? Trường mình có phải mở ra để dạy bố thí cho nhà nghèo đâu? Tháng nầy
tôi đã đuổi ba đứa như thế rồi.
- Cô ấy học có khá
không?
Hình như ông chủ
trường nầy không có theo dõi tình hình học tập của học sinh, nên ông không trả
lời được. Ông chỉ nhún vai:
- Tụi nó học khá
hay không, cái đó không quan hệ gì đến nhà trường cả. Tôi chỉ cần đến tháng
chúng nó đóng đủ tiền học cho tôi thôi. Đứa nào chăm học thì thi đỗ. Lười biếng
thì thi rớt, mặc kệ chúng nó, hơi đâu mình quan tâm anh!
- Nhưng tôi tưởng
mình cũng nên săn sóc và cổ võ sự học của các em học sinh. Nhà trường có nhiều
em thi đậu thì mới có danh tiếng chớ. Đó là một quảng cáo có lợi cho anh.
- Tống cổ năm ba đứa
cũng không hại gì đâu, anh à.
Ông Chủ trường gọi
thầy thư ký:
- Con nhỏ đó học lớp
nào?
Thầy ký lấy sổ ra
coi:
- Dạ thưa Đệ tứ A,
tháng 6 nầy thi.
- Tên là gì?
- Dạ, Phạm thị
Toàn.
- Mấy tuổi?
- Dạ, mười tám tuổi.
- Nhà nó ở đâu?
- Dạ, ở 158/28/6D
đường Nguyễn bĩnh Khiêm.
- Nó học có khá
không?
Thầy ký lấy quyển
sổ khác lật qua lật lại vài trang, dò các danh sách, rồi chậm rãi đáp:
- Dạ tháng chín cô
ấy đứng thứ 4, tháng 12 tây đứng thứ 3, tháng 3 vừa rồi cũng đứng thứ 3... Pháp
văn và Anh văn cô ấy giỏi, Toán, Lý hóa, cô cũng được vào hạng khá...
- Nó còn thiếu tiền
học từ tháng nào?
- Dạ... từ tháng
giêng.
Ông chủ trường lắc
đầu ngó ông Ngọc Minh:
- Đó, anh coi!
Rồi ông đếm trên
lóng tay: Janvier, Février, Mars... Avril... 4 tháng.
Quay lại thư ký,
ông trợn mắt bảo:
- Thế là 4 tháng,
sao nó bảo có 3 tháng?
- Dạ, tháng Avril
mới bắt đầu.
- Anh này thật lẩm
cẩm! Tiền học trả đầu tháng à? Nay là 10 Avril, phải tính cả tháng chớ? Nghĩa
là nó còn thiếu 4 tháng học phí, 1200$. Phải không?
- Dạ, phải.
- Chiều nay cậu
tìm đến nhà nó đòi món nợ đó cho tôi nghe? Biểu ba má nó phải trả đủ tiền nhà
trường mới có thể để nó tiếp tục học cho đủ chương trình để đi thi: 1 tháng
300, là vị chi 1200 đồng!
- Dạ thưa ông,
cháu đánh mấy cái thư để ông ký, rồi chiều nay cháu mang thư đến nhà cô ấy.
- Không cần thư từ
gì cả cậu cầm 4 cái biên lai đến đòi tiền, là đủ rồi. Nghe?
- Dạ.
Ông Ngọc Minh đứng
dậy, bắt tay ông Hiệu trưởng:
- Thôi xin phép
anh nhé.
- Anh ngồi chơi
đã.
- Hôm khác. Gần đến
giờ tôi phải về trường Đại học kẻo trễ.
Ông Ngọc Minh ra
xe, mở cửa xe vào ngồi chỗ tay lái. Nhưng trước khi lái xe đi, ông móc túi lấy
một quyển sổ con và cây bút máy, chăm chỉ ghi mấy dòng sau đây:
Phạm thị Toàn
158/28/6D. Nguyễn
bĩnh Khiêm.
Trưa về nhà, ông
liền lấy giấy viết bức thư sau đây:
Thị Nghè, 10 – 4
-1965
Cô Phạm thị Toàn
Mời cô vui lòng
quá bộ đến nhà tôi vào khoảng 2 giờ chiều nay về vụ tiền học phí cô thiếu trường
Đạo Đức. Cô có thể đi với cậu nhỏ này để khỏi mất thì giờ kiếm nhà.
Thành thật chào cô
NGỌC-MINH
Giáo sư Đại Học
T.B.- Giấy này xem
xong yêu cầu cô xé đốt ngay đừng để ai coi, bất cứ ai.
Ông bỏ thư vào
phong bì, đề tên và địa chỉ, xong gọi cậu em nuôi 14 tuổi:
- Chút ơi!
Chút đang ngồi giỡn
với con chó Nhật ở ngoài sân, lên tiếng:
- Dạ.
Chút vào. Ông đưa
thư:
- Em ra Dakao, tìm
địa chỉ nầy, đưa thư cho cô nầy.
- Dạ.
- Cô sẽ hỏi em:
‘‘Ông Ngọc Minh là ai, mà tôi không
Biết’’, thì em nói
sáng nay lúc cô vào Văn phòng ông Hiệu trưởng trường Đạo Đức, để nói về tiền học
phí, thì có anh đang ngồi nói chuyện với ông Hiệu trưởng, Anh quen với ông Hiệu
trưởng.
- Dạ,
- Cô xem thư xong,
nếu cô muốn đến ngay thì em bảo cô đi với em.
- Dạ.
- Em đi lẹ, về kịp
2 giờ, để 2 giờ 30 anh còn đi dạy học nhé.
- Dạ.
Ông đưa 20 đồng
cho Chút đi taxi hai chuyến.
Ông Ngọc Minh có
tính quen buổi trưa không ngủ. Ông nằm võng - ông thích nằm võng lắm - hoặc nằm
ghế xích đu bằng mây, đọc báo.
Đọc hết 3 tờ báo hằng
ngày, Việt, Anh, Pháp, ông ngó lên đồng hồ vừa đúng 2 giờ. Như thường lệ, ông
đi tắm 15 phút sau ông trở vào phòng thay đồ để sửa soạn đến trường. Ông sốt ruột
vì Chút chưa về. Mãi đến gần 2 giờ rưỡi ông mới nghe tiếng xe taxi đổ trước
ngõ, rồi Chút chạy vào:
- Thưa anh, em kiếm
không được nhà cô ấy, Ern có tìm thấy đường Nguyễn bĩnh Khiêm. Nơi số nhà 158
có cái ngõ hẻm, em vô trong nhưng tìm hết một dãy nhà lụp xụp ở đó người ta để
số lung tung beng, mà không có số 28. Rồi vô trong một khúc nữa lại có hai ba
đường hẻm khác, có số nhà 28 là tiệm thợ giặt nhưng không có số 28/6D.
- Em đã đi hết các
đường hẻm đó chưa?
- Dạ chưa, vì em
ngó đồng hồ trong nhà người ta, thấy đã hai giờ em lật đật trở về.
- Thôi được. Đưa
cái thư lại, anh sửa một chữ.
Chút rút thư trong
túi ra đưa ông Ngọc Minh. Ông lấy bút sửa lại con số 2,(2 giờ chiều), thành ra
5 giờ, rồi bảo Chút:
- Anh đi dạy học,
em khóa cửa ngõ thật kỹ, rồi đi tìm lại nhà cô Toàn; Mời cô 5 giờ đến. Thế nào
em cũng phải tìm ra.
Gần 4 giờ, Chút
tìm thấy trong một xó kẹt, sau một dẫy nhà không số, có một căn nhà thấp lè tè
lợp tôn vách ván, trên vách có viết nguệch ngoạc bằng hắc ín mấy con số
158/28/6D. Nó dò từng con số, đúng y như trên bao thư. Nhưng nó còn do dự,
không hiểu tại sao căn nhà nầy lại ghi con số dài lê thê và rắc rối như vậy?
Chút đi qua đi lại
hai ba vòng, dòm vào nhà hơi tối tăm, không thấy ai. Chút đánh bạo bước vào, gõ
trên bàn hai tiếng nho nhỏ. Không nghe ai trả lời. Sau bàn có treo một bức mành
mành cũ rích lại còn che thêm một màn vãi, ngăn cách nhà sau.
Chút sợ sệt, rón
rén bước vào nhà sau. Nó trông thấy hai đứa nhỏ, một đứa chị chừng 8 tuổi và một
đứa em mới sanh chừng sáu bảy tháng, nằm ngủ ngon lành trong một chiếc võng
treo giữa nhà.
Chiếc võng đã rách
hai ba nơi, lại lót một mớ tả rớt lòng thòng và ướt nhẹp, cạnh một vũng nước
đái ngay dưới đáy võng.
Chút bịt mũi vì
mùi nước đái của con nít xông lên khai ngòm. Bên cạnh võng, sát vào vách ván hở
những đường dài từ trên xuống dưới, và dán một lớp giấy nhựt trình cũ đã rách
tét nhiều nơi, kê một chiếc giường và một cái bàn để đầy sách vở. Trên giường một
cô thiếu nữ mặc áo cánh trắng, quần đen đang nằm xây mặt vô vách, khóc thút
thít.
Chút đứng từ nãy
giờ nơi cạnh đầu võng mà cô không hay biết gì cả. Chút không biết có phải cô học
trò tên là Phạm thị Toàn đó không? Nghe tiếng cô khóc, Chút không dám gọi.
Nhưng thấy lâu quá, Chút gọi đại:
- Chị ơi, chị!
Thiếu nữ giựt mình
quay mặt ra. Thấy cậu nhỏ nào lại lật đật ngồi dậy lấy khăn lau nước mắt hỏi:
- Em là ai?
Chút ngượng nghịu
đáp:
- Em tên là thằng
Chút.
Thiếu nữ ngơ ngác,
hỏi:
- Em hỏi ai?
- Dạ, chị có phải
là chị Phạm thị Toàn không?
- Nhưng em ở đâu?
Hỏi tôi có việc chi?
- Dạ có cái thư.
- Cái thư của ai?
Nhìn thấy cậu nhỏ
cầm một cái thư trong tay, thiếu nữ liền đứng xuống đất, đi chưn không, đến gần
cậu. Cậu đưa thư, những mắt ngó cô trân trân:
- Chị có phải là
chị Phạm thị Toàn không?
- Phải.
Thiếu nữ cầm thư,
xé ra coi. Coi xong, cô rất ngạc nhiên, hỏi:
- Ông Ngọc Minh
nào đây?
- Anh của tui. Anh
làm Giáo sư dạy trường Đại học.
- Tôi đâu có quen
biết ông?
- Anh tui nói hồi
sáng này chị vô trong văn phòng ông chủ trường Đạo Đức nói về tiền học phí, thì
có anh tui ngồi với ông Đốc. Anh tui có thấy chị.
Cô Toàn đứng tần
ngần một lúc lâu. Cô nhớ lại lúc sáng, trong văn phòng Hiệu trưởng cô có thấy
ruột người khách lạ. Có phải đó là ông giáo sư Ngọc Minh, người viết bức thư
này chăng? Nhưng ông giáo sư Ngọc Minh mời cô 5 giờ chiều nay đến nhà ông có
chuyện chi? Sao lại nói về tiền học phí? Thật là một chuyện lạ, cô không hiểu.
Cô hỏi cậu bé:
- Sao ông biết nhà
tôi ở đây mà gửi thư?
- Em đâu có hiểu
chuyện đó. Em cứ theo địa chỉ đi kiếm nhà chị từ hồi trưa đến giờ.
- Ông giáo có dặn
gì em nữa không?
- Dạ không. Anh
giáo em biểu nếu chị đi liền bây giờ thì em đưa chị đi.
Toàn suy nghĩ một
lúc khá lâu. Xong, cô ngó đồng hồ, chiếc đồng hồ cũ kỹ để trên bàn, tiếng kêu cạch
cạch thật to. Đã 4 giờ 25.
Cô hỏi cậu bé:
- Nhà ông Giáo sư ở
xa không em?
- Dạ, ở Thị Nghè.
- Nhà ổng có ai
không?
- Dạ không có một
mình em.
- Chớ bà Giáo ở
đâu?
Chút lắc đầu:
- Anh Giáo chưa có
vợ mà.
Cô Toàn lại do dự,
không muốn đi. Ai lại mình là con gái mà bỗng dưng đến nhà một người đàn ông lạ
và chưa có vợ?
Cô thật không hiểu
ông giáo sư Ngọc Minh này là ai và ông mời cô đến làm gì? Chắc là ông biết cô
thiếu bốn tháng tiền học của trường Đạo Đức, vì nếu đích là ông ngồi trong văn
phòng ông Đốc trường sáng nay thì ông đã nghe rõ hết câu chuyện rồi. Hay là...
ông thấy mình khóc lóc năn nỉ ông Đốc, rồi ông thương hại, xin giùm cho mình được
học đến kỳ thi? Có lẽ vậy chăng? Nhưng nếu ông có lòng tốt, sao hồi sáng ông
không xin giùm, để bây giờ ông kêu mình tới nhà ông?
Toàn đọc đi đọc lại
bức thư năm bảy lần. Cô nhận thấy lời thư rất là nhã nhặn, đứng đắn. Giọng nói
thành thật, cô có thể tin được. Vả chăng ông là một ông giáo sư Đại học theo lời
cậu em này nói, thì tức nhiên là một người đàng hoàng, cũng như bậc thầy của
minh, chẳng lẽ ông phỉnh gạt mình điều chi?
Với tin tưởng ấy,
và ở trong hoàn cảnh của cô, Phạm thị Toàn nhất định đi thử coi ông giáo sư Ngọc
Minh nói chuyện chi. Biết đâu ông xin giùm cho cô được tiếp tục đi học cho đến
kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp thì may phước cho cô biết mấy! Cô bảo cậu bé:
- Em chờ tôi mặc
áo rồi tôi đi với em.
- Dạ.
Cô Phạm thị Toàn
ra sân sau rửa mặt, trở vào chải tóc lại đàng hoàng, kéo tấm màn che giữa bàn học
và chiếc giường của cô, để thay áo xong. Một lúc, cô vén màn bước ra.
Cô mặc quần vải trắng,
áo dài trắng, đơn sơ, sạch sẽ. Mái tóc huyền uốn gọn gàng, không kiểu cách,
khuôn mặt trái xoan, diễm kiều thùy mị, đôi má ửng hồng và một làn sóng mũi dọc
dừa đều đặn. Đôi mắt hơi buồn, đẹp lạ lùng. Ngực nở tròn trịa, vun vén, dưới
làn áo tinh khiết ôm dịu dàng vào thân mình với những đường cong điều hòa tuyệt
mỹ. Cô khẽ cúi xuống giường lấy ra đôi guốc mà cô cất riêng để mang đi học, vì ở
nhà cô đi chưn không.
Cô xỏ vào đôi guốc
hai bàn chân mũm mỉm. Cô đặt năm ngón tay búp măng nõn nà và dịu dàng trên đầu
võng, gọi em:
- Mùi ơi! Mùi!
Em bé 8 tuổi giựt
mình, tỉnh dậy. Cô bảo:
- Dậy coi nhà, chị
đi đây, em. Chút nữa má vồ, em nói chị đến trường, nghe em?
- Dạ.
Cô Toàn lấy chiếc
nón lá treo trên vách ván, nhưng thấy nắng ngoài đường đã dịu, cô treo nón lại,
đi đầu trần.
Ra đường lớn vừa
có taxi. Chút vẫy gọi Cô Toàn không ngờ từ nhà cô đến nhà ông Giáo ở Thị Nghè,
chỉ có 6 đồng bạc xe không đầy 5 phút. Chút móc túi lấy ra chìa khóa mở ngõ,
hai cánh cửa sắt quấn lại ba vòng, với một ổ khóa bự móc chặt vào mối dây. Cặp
ngỗng đang đi đủng đỉnh kiếm ăn trong vườn, cất tiếng oác oác. Con chó Nhật bổn
trong nhà cũng sủa lên gâu gấu, Chút đưa cô Toàn vào sân, rồi lấy chìa khóa
khác mở cửa, mời cô vào phòng khách.
Cô Toàn do dự
không vào. Cô khẽ hỏi nó:
- Ông Giáo đâu?
- Dạ, anh Giáo dạy
họa, 5 giờ mới về,
Tò mò, cô Phạm thị
Toàn đứng ngoài hè ngó vào nhà thấy bộ xa lông bằng mây kiểu tối tân, giản dị
nhưng có mỹ thuật, trang hoàng. Vách tường phòng được quét vôi xanh nhạt, một
màu xanh mát dịu, treo hai bức hình lớn lồng kiến, đóng khung vàng. Cô ngó dòng
chữ để dưới mỗi bức là chân dung vua Duy Tân và cụ Phan Bội Châu.
Một bình hoa lay
dơn trắng độ mười cành xoè ra trên mặt một chiếc tủ thấp kê sát vách tường
trong. Một tấm màn nhung xanh, che cửa thông ra phòng sau.
Chút để cô Toàn đứng
đấy. Nó đi tưới hoa. Đứng một lúc buồn, và lo lắng hoang mang, cô Toàn bước ra
sân, lân la gần cậu bé tưới nước, coi bộ cậu ấy lanh lợi, và hiền lành dễ
thương. Cô hỏi:
- Em có bà con gì
với ông giáo sư không?
- Em là em của ảnh.
- Em ruột hay em
thế nào?
- Em con bà cô.
- Sao em không đi
học?
- Em ở Bến Tre lên
ở nhà coi nhà cho ảnh.
- Em còn nhỏ tuổi,
sao ông giáo sư không cho em đi học?
- Anh dạy em học ở
nhà, em cũng biết chữ vậy chớ bộ!
- Ông Giáo sư ở
đây một mình với em, hay có ai nữa không?
- Dạ, không.
- Ông không có gia
đình sao?
- Ông có em gái lấy
chồng ở trên Sàigòn,
- Ai nấu cơm cho ổng
ăn?
- Anh giáo em ăn
cơm tháng ngoài tiệm. Em cũng ăn với ảnh...
Một lúc sau, có tiếng
xe hơi bóp còi. Chút bỏ ống cao su xuống, khóa vòi nước, chạy ra mở rộng hai
cánh cửa ngỏ để xe ông Ngọc Minh lái vào thẳng ga ra. Cô Toàn thấy đúng là ông
khách lạ ngồi trong văn phòng ông Đốc trường của cô ban sáng.
Ông Ngọc Minh cho
xe vào ga-ra, tắt máy xong, mở cửa xe thong thả ra sân. Ông tiến đến cô nữ sinh
đứng khép nép dưới dàn hoa antigone, cạnh một bụi hoa sim gần bực tam cấp lên cửa,
Cô khẽ cúi đầu chào, bẽn lẽn, sợ sệt. Với giọng nói lúc nào cũng dịu dàng và chậm
rãi, ông hỏi cô:
- Chào cô Toàn. Cô
đến đấy đã lâu chưa?
Toàn ngượng nghịu:
- Dạ thưa ông, em
mới đến.
- Mời cô vào.
Rất nhã nhặn, theo
phép lịch sự Âu Mỹ, ông nhường bước để cô đi trước. Nhưng cô Toàn, một nữ sinh
18 tuổi ít giao thiệp với người lớn, nên chưa quen với phép xã giao ấy. Cô tưởng
ông giáo đứng lại nhìn cô. Mắc cỡ, cô cúi mặt xuống. Ông Ngọc Minh bảo:
- Mời cô đi trước.
Toàn sợ mình đi
trước như thế thì vô lễ. Ông Ngọc Minh đành nhã nhặn nói:
- Xin lỗi cô...
Ông bước lên bực
tam cấp, vào phòng khách. Cô Toàn rụt rè đi theo sau. Ông mời cô ngồi ghế.
Ông vào ngay câu
chuyện:
- Xin lỗi cô, tôi
mời cô đến đây e làm phiền cô.. Nhưng vì sáng nay, ngẫu nhiên tôi thấy cô là một
nữ sinh chăm học, lỡ thiếu mấy tháng tiền trường mà bị đuổi... Cô học ở trường
Đạo Đức đã lâu chưa?
- Dạ thưa ông, em
học từ lớp đệ thất đến năm nay là đệ tứ.
- Bốn năm, cô vẫn
trả đủ tiền học phí?
- Dạ, thưa ông,
nhà ba má em nghèo, nhưng ba má em cũng rán cho em đi học cho hết Đệ nhứt cấp.
Nhưng bây giờ em phải thôi,
- Ba má cô làm nghề
gì?
- Dạ thưa ông, Ba
em làm phu xe cyclo máy. Má em bán cháo lòng ở chợ Đakao. Mấy tháng nay ba em
hay đau ốm hoài, má em không đi làm được nên nhà em túng tiền.
- Bao nhiêu công
lao đèn sách nay đã sắp đến kỳ thi không lẽ cô đành bỏ dở dang việc học?
Toàn cúi mặt làm
thinh, hai ngón tay mân mê tà áo trắng,
Ông Ngọc Minh nói
tiếp:
- Sáng nay, do sự
ngẫu nhiên, tôi có dịp thấy rõ hoàn cảnh của cô như thế, tôi muốn nói với ông
Hiệu trưởng để cô tiếp tục việc học cho đến ngày thi. Nhưng... rất tiếc, tôi
không thể nói được, vì ông Hiệu trưởng với tôi chỉ là bạn sơ giao, chưa quen
nhau nhiều. Vì thế nên tôi rất ái ngại cho cô... Tôi thấy cô chăm học lắm, và
theo sổ sách nhà trường như tôi được biết sáng nay, thì cô rất thông minh, cô
thuộc hạng học giỏi nhất trong lớp. Chỉ tại cô thiếu mấy tháng tiền học phí...
Nay tôi mời cô đến để tôi giúp cô. Sáng ngày mai cô đến trả cho nhà trường 4
tháng tiền cô còn thiếu, và cô cứ tiếp tục học. Tôi giúp cô mỗi tháng các tiền
phí tổn để cô yên trí mà đeo đuổi việc học cho đến ngày cô đi thi Trung học. Cô
khỏi phải bận tâm đến chuyện tiền nong nữa.
Toàn ngồi lặng lẽ,
cứ cúi mặt xuống, Nhưng cô không nén được cơn bùi ngùi xúc động, bỗng dưng hai
ngấn lệ rưng rưng trên mi mắt cô, từ từ rơi xuống má.
Thấy thế ông Ngọc
Minh đứng dậy, vào nhà trong, Ông muốn tránh đi, cho cô Toàn khỏi ngượng.
Toàn ngồi một
mình, lấy khăn mu soa khẽ lau mấy dòng nước mắt. Nhưng cô không nén được lòng
cô bâng khuâng xao xuyến. Cô không ngờ ông giáo sư Ngọc Minh mà cô chưa hề quen
biết, có lòng nhân từ độ lượng, giúp đỡ cô như thế.
Cô trầm ngâm suy
nghĩ. Thật trong thâm tâm cô rất vui mừng vì đã có người giúp cô ăn học đến nơi
đến chốn, trong lúc sáng nay bị đuổi ở trường về, cô đã thối chí, tuyệt vọng rồi.
Cô đã khóc gần suốt ngày hôm nay từ sáng đến chiều, buồn bực, chán nản, bỏ cả
buổi cơm trưa! Bỗng dưng sao lại có một người tử tế, hiền lành, gọi cô đến để
giúp cô! Nghe những lời nói thương xót thành thật, và xét cử chỉ khiêm tốn tao
nhã của ông giáo sư Ngọc Minh, cô cảm động lắm. Nhớ lại thái độ của ông chủ
Trường Đạo Đức lúc
sáng nầy, cô lại càng tủi nhục đau đớn.
Cô đã lau mấy ngấn
lệ, nhưng ở đâu trong đôi mắt sầu mơ nọ lại trào ra, chảy trên đôi má, một giọt,
hai giọt, lặng lẽ từng dòng rơi xuống áo.
Cô Phạm thị Toàn
không còn ngượng nữa. Ông giáo sư Ngọc Minh tuy mới biết cô chưa đầy một tiếng
đồng hồ, nhưng đã hiểu rõ nỗi lòng cô rồi. Cô còn che giấu sao đựợc nữa?
Bây giờ đây cô coi
ông Ngọc Minh như một bậc ân nhân ngẫu nhiên mà gặp, cô không biết nói một lời
gì để tỏ hết nỗi lòng biết ơn sâu xa thành kính của cô. Không nén được cơn xúc
động quá mạnh, Toàn gục đầu xuống thành ghế, khóc nức nở...
Nghe tiếng giày của
ông giáo sư từ nhà trong bước ra, cô Toàn lau nước mắt. Ông Ngọc Minh đến gần,
trao cô một bức thư:
- Có cầm lấy, và
sáng ngày mai cô cứ vui vẻ đi học lại như thường. Tôi chỉ yêu cầu cô có một điều
thôi. Việc tôi giúp đỡ cô không cô gì lợi dụng cả, và tôi mong cô đừng cho một
người nào hay biết. Số tiền trong bao thư nầy, đủ để cô trả hết 4 tháng học phí
mà cô còn nợ nhà trường, thêm chút ít để cô mua sắm sách vở hoặc các món chi
tiêu cần thiết hằng ngày. Từ nay cho đến kỳ thi, cứ mỗi tháng tôi sẽ gởi giúp
cô đủ số tiền cô cần dùng để đi học. Nếu cô ngại đến đây, thì tôi gởi em nhỏ của
tôi cầm đến nhà cô...
Cô nữ sinh Phạm thị
Toàn không dám cầm bao thư. Cô ái ngại, vì sự giúp đỡ của ông Ngọc Minh là một
việc cô thật không ngờ. Cô không biết cô có nên nhận lãnh, hay không, và nếu nhận
lãnh thì sao?
Toàn cúi mặt xuống,
suy nghĩ rất lâu. Ông Ngọc Minh, nói tiếp:
- Nếu cô có thắc mắc
điều chi, cô cứ nói thiệt tôi nghe. Cô sợ tôi sẽ lợi dụng cô về phương diện nào
chăng?
Toàn khẽ đáp:
- Dạ, thưa ông,
không.
- Có ngại rằng tôi
sẽ đòi lại số tiền nầy chăng?
- Dạ không.
- Hay là cô sợ
mang ơn tôi, rồi sau nầy cô khó xử cách nào với tôi chăng?
Toàn làm thinh,
ông Ngọc Minh nói tiếp:
- Số tiền nầy
không có là bao. Cô đừng nghĩ rằng đây là một ân huệ. Chỉ là một sự giúp đỡ rất
thường, không có chi đáng để cô phải ái ngại. Tôi không đòi hỏi hoặc bắt buộc
cô phải hứa hẹn hay cam kết một điều chi. Sự giúp đỡ của tôi hoàn toàn vô điều
kiện. Đến tháng sáu cô thi đỗ, ấy là tôi vui mừng. Cô thi đỗ ấy là cô sẽ trả ơn
cho tôi đó. Nói cho cùng, dù cô sẽ thi rớt chăng nữa, tôi cũng không buồn, vì
cô đã cố gắng học hành, đó là xứng đáng với sự giúp đỡ của tôi rồi. Cô nên tin
rằng tôi không bao giờ tiếc sự giúp đỡ của tôi đâu.
Toàn ngửng mặt lên
nhìn ông Ngọc Minh. Ông hơi bối rối, vì đôi mắt còn rớm lệ của cô trông như hai
viên ngọc huyền lóng lánh. Nỗi buồn và đau đớn của cô càng làm tăng thêm vẻ đẹp
thùy mị diễm kiều của cô nữ sinh 18 tuổi. Ông Ngọc Minh muốn tránh những cảm
xúc mạnh trong phút hội kiến, ông quay lại bàn xa lông lấy gói thuốc, rút ra một
điếu chăm hút. Ông quay lại cô nữ sinh đưa cô bao thư. Toàn vẫn chưa dám cầm và
lễ phép nói:
- Thưa ông, ông có
lòng cao thượng giúp đỡ em, em xin cảm tạ lòng ông... Nhưng em ngại...
- Cô ngại điều
chi?
- Ông chưa biết
em... Em cũng lần đầu tiên được hân hạnh đến đây, em không dám đường đột...làm
phiền ông,
- Cô không làm phiền
gì tôi cả. Miễn là cô đừng nghi ngờ lòng thành thật của tôi thôi.
- Dạ em dâu dám
nghi ngờ... Ông quá tốt với em như thế nầy, em chỉ ngại là không xứng đáng với
tấm lòng nhơn từ cao quý của ông thôi.
- Cô đừng ngại gì
hết. Cô nghe lời tôi, cầm bao thư nầy, rồi cứ vui vẻ tiếp tục việc học.
Ông Ngọc Minh trao
bao thư tận tay cô Toàn, cô không thể từ chối được nữa, Cô bẽn lẽn cầm lấy:
- Dạ thưa ông, em
xin cảm tạ tấm lòng độ lượng của ông. Em tiếp tục đi học được là nhờ ơn của
ông, em không bao giờ dám quên.
- Cô cố gắng học tập,
thế là tôi mừng.
Phạm thị Toàn tay
cầm bao thư, cúi đầu từ giã ông Ngọc Minh, ông nhã nhặn và vui vẻ đưa cô ra đến
tận cổng.
Đi bộ từ Thị Nghè
về, cô Phạm thị Toàn, suy nghĩ lung lắm. Lên cầu Thị Nghè, cô vừa đi vừa mở bao
thư ra coi: hai ghim giấy hai ngàn đồng và một xấp lẻ năm trăm đồng. Cô cất lại
trong bao thư, bỏ vào túi. Cô mừng như trúng số độc đắc. Từ trước đến giờ, chưa
lần nào tự nhiên cô đuợc số tiền lớn lao như thế. Cô tính thầm: 4 tháng tiền học
còn thiếu là 1.2008$ Dư 1300$, cô mua mấy quyển sách đang cần. Vẫn còn dư hơn
1000$. Cô may vài áo trắng để đi học vì áo cô đã cũ hết. Lòng thơ lai láng bồi
hồi, cô nữ sinh mong về mau đến nhà để viết bức thư tỏ hết cả nỗi lòng tri ân
sâu xa của cô mà lúc nãy trước mặt ông Ngọc Minh, cô quá xúc cảm nghẹn ngào
không nói được nên lời. Cô vẫn miên man nghĩ ngợi không hiểu sao ông Ngọc Minh
lại rất tử tế với cô như thế. Cô cho rằng trên đời không làm gì có được hai người
như ông giáo sư Ngọc Minh. Thật ra, ông không biết cô là ai, gia đình của có,
ông cũng hoàn toàn không biết một tí gì. Ông chỉ mới thấy cô lần đầu tiên trong
văn phòng ông Hiệu trưởng trường Đạo Đức và cũng lần đầu tiên ông biết cô là
con gái nhà nghèo thiếu trường bốn tháng tiền học. Thế thôi. Còn đối với ông cô
cũng chẳng biết gì hơn!
Dù sao, cô không một
chút nghi ngờ lòng thương người của ông. Tiếp xúc với ông đầu tiên, cô đã nhận
thấy nơi cử chỉ của ông hoàn toàn là một người đứng đắn, và cao thượng. Nhớ lại
đôi mắt của ông nhìn cô với một vẻ hiền lành và giọng nói của ông rất dịu dàng,
chân thật, cô nữ sinh thấy lòng mình hồi hộp nao nao...
Cô tin rằng sự gặp
gỡ ngẫu nhiên nầy là một may mắn, đẹp đẽ nhất đời cô... Không có gì khiến cô phải
lo ngại nó bất ngờ quá, nên cô bồi hồi tấc dạ. Cô vui sướng không siết kể.
Trong tuổi thiếu nữ bần hàn khổ nhục của cô, chưa có lần nào cô cảm thấy đời sống
vui tươi tưng bừng như bây giờ, cô hân hoan lắm.
Về đến nhà, cô vội
viết bức thư sau đây:
Đakao, ngày
10-5-1956,
Kính thưa ông Ngọc
Minh,
Giáo sư Đại học,
Saigon.
Em rất cảm động về
sự giúp đỡ vô cùng quí báu của ông. Em xin nguyện với ông rằng em sẽ hết sức cố
gắng học hỏi mong thi đậu T. H. Đ.N.C. kỳ nầy, để xứng đáng với lòng thương xót
cao thượng của Ông. Sự nâng đỡ của Ông là một an ủi lớn lao không siết kể cho kẻ
nữ sinh gần tuyệt vọng. Em không biết nói gì hơn để tỏ lòng tri ân sâu rộng của
em đối với bậc ân nhân cao quí, nhưng em sẽ chăm lo trau dồi học vấn và tính nết,
để không phụ lòng quảng đại của Ông.
Kính xin Ông nhận
nơi đây chút lòng tôn kính chơn thành và, vô cùng cảm kíck của em.
Kính thư
Phạm Thị Toàn
Chương 3
ÁNH thôi giúp việc cho
gia đình em gái ông Ngọc Minh, về ở tạm nhà bà cô ở xóm Bàn cờ. Ngay buổi tối ấy
thấy Ánh ôm gói về, bà rất ngạc nhiên. Ánh bảo:
- Ở đấy, người ta tử tế,
nhưng công việc nhiều quá, con làm không nổi.
- Con đã kiếm được chỗ
làm khác chưa?
- Thưa cô, chưa.
- Thời buổi bây giờ biết
bao nhiêu thanh niên thiếu nữ thất nghiệp, đi xin làm đầy tớ cho người ta cũng
khó chớ không dễ đâu, nghe con! Được chỗ làm giàu sang như vậy sao con không
rán làm cho bền?
- Chuyện gì rồi cũng do số
phận hết cô à. Không lẽ đời của con cứ đi làm đứa ở hoài sao?
- Không làm đứa ở thì làm
đứa gì bây giờ? Thời buổi này ai mà không đi làm thuê làm mướn? Những con gái
như con, ăn rồi nằm không cả đống đó, con không thấy hay sao?
- Con đâu có phải con nhà
giàu mà ăn không ngồi rồi! Sáng mai con đi kiếm việc làm chớ.
- Cô biết. Nhưng mình là
phận nghèo, làm ở đâu cũng phải rán chìu chuộng chủ, thì được lâu bền hơn. Con ở
nhà nghỉ ít bữa, sáng mai cô ra chợ Bến thành kiếm việc cho con. Ở bùng binh,
cô gặp nhiều mối quen.
Nằm gối đầu trên gói áo
quần, Ánh nghĩ ngợi liên mlên, tới khuya chưa ngủ được. Làm ở nhà cô Minh Tú mấy
tháng, Ánh dành dụm tiền lương được trên hai ngàn đồng Ánh giấu xấp bạc ấy
trong một túi áo cánh nhét ở dưới đáy gối. Lần đầu tiên, Ánh đã đem mồ hôi nước
mắt để đổi lấy chén cơm và dành dụm được ngần ấy tiền kể cũng đã nhiều lắm đối
với Ánh. Ánh có hai quyết định về việc xử dụng món tiền trên: Trước hết Ánh sẽ
học đánh máy. Muốn thành người đánh máy giỏi phải học ba tháng tốn vào khoảng
600 đồng tại một trường ở đường Phạm ngũ Lão.
Thứ hai là đi may hai áo
dài trắng, hai quần trắng, và một bộ đồ đen để thay đổi. Ánh cho rằng hàng màu
mà rẻ tiền mặc coi xấu lắm, thà mặc toàn màu trắng hay màu đen, thanh nhã hơn
và thích hợp với Ánh hơn.
Nhớ đến Hoàng, Ánh buồn
rười rượi trong lòng, ông Giáo sư Ngọc Minh thì Ánh muốn quên, và chắc Ánh sẽ
quên được trong vài ba ngày. Chớ Hoàng, Ánh quên làm sao được? Hình ảnh của người
bạn học cũ đã nghèo mà còn đến giúp cho Ánh được 150 đồng bạc trong lúc Ánh đau
nằm li bì, không ai săn sóc thuốc men, hình ảnh của người bạn trai nết na hiền
lành ấy làm sao phai mờ được trong trí nhớ? Ánh biết Hoàng yêu Ánh nhiều lắm mới
lo lắng cho Ánh được như thế.
Tuy Hoàng chưa bao giờ
nói ra, có lẽ vì tính nhút nhát, có lẽ vì sợ Ánh không bằng lòng, nhưng Ánh đã
thấy rõ tình yêu âm thầm của người bạn nghèo trong đôi mắt âu yếm nhìn Ánh,
trong giọng nói bỡ ngỡ vì cảm động, thiết tha vì chân thật, và trong từng cử chỉ
săn đón ân cần. Ánh muốn biết số tiền 150 đồng trước kia Hoàng làm gì mà có?
Hay Hoàng mượn của ai? Ánh muốn gặp Hoàng để tạ ơn tấm lòng thành của bạn. Hai
năm xa cách Hoàng, từ hôm Ánh đau dậy và bỏ nhà ra đi, trốn người cha ghẻ khốn
nạn, hai năm không được gặp Hoàng. Ánh buồn chen thương nhớ. Hai năm, bao nhiêu
lần Ánh đi ngoài đường cố ý tìm xem có bóng chàng đâu không? Mỗi lần có dịp đi
ra phố, bất cứ nơi nào, Ánh cũng đưa mắt ngó quanh quẩn, nhìn tận ra xa, kiếm
cùng các ngả đường họa may có thấy Hoàng đi lang thang đâu đó không? Nhà lầu
cao đồ sộ, cửa sổ tô điểm đủ màu, xe hơi bóng loáng chạy vùn vụt như thoi đưa,
người ta đi qua lại đủ các hạng giàu sang, các đám người nghèo khổ, rộn rịp giữa
Sàigòn hoạ lệ. Nhưng Ánh không quan tâm đến gì cả, không để ý đến ai cả. Chỉ có
Hoàng thôi. Chỉ một bóng người thất thển mà nàng tìm khắp nơi, mỏi mòn con mắt,
đau đớn tấc lòng.
Sáng nay, Ánh quyết về
thăm xóm cũ nơi đây đôi bạn trẻ đã từng gặp nhau lúc nàng còn đi bán hàng rong:
cầu Muối, cầu Ông Lãnh, Arras, Nancy, Tân Kiển...
Ánh đi rảo khắp các phố,
các xóm mong gặp một người quen cũ, để dò hỏi tin tức. Bạn học chung trường
ngày trước nay cũng biến đâu mất cả..,
Tìm lại Hoàng là cả một sự
khó khăn. Ánh hối tiếc trước kia không hỏi địa chỉ của Hoàng, và bây giờ muốn gặp
Hoàng để trả lại số tiền 150 đồng, không biết làm sao gặp được. Chiều thứ bảy,
Ánh đến tiệm may để lấy áo, tình cờ gặp một người bạn cùng học một lớp, cậu Định.
Trông thấy Ánh, Định đang đi vespa liền thắng xe, chào vồn vã:
- Ô cô Ánh! lâu quá bây
giờ mới lại gặp!
Ánh cũng vui vẻ:
- Anh Định! Dạo nầy anh
làm gì?
- Tôi làm ở nhà thuốc
Tây.
- Hèn chi đi Vespa, sang
quá xá!
- Còn Ánh bây giờ làm ở
đâu?
- Tôi làm việc nhà.
Định nhìn Ánh với đôi mắt
ranh mãnh:
- Nhà ở đâu? Mình đến
thăm được không?
Ánh hiểu liền giọng nói
và nụ cười có tình ý của người bạn học cũ, nên thản nhiên đáp:
- Tôi ở xa lắm,
Định nhìn Ánh ra chiều
thân mật:
- Ánh đẹp hơn hồi đi học
nhiều. Nhớ Ánh quá mà không biết Ánh ở đâu để tới thăm. Ánh có chồng chưa, nói
cho mình mừng?
- Cảm ơn anh, nhưng tôi
không nghĩ tới chuyện đó.. Còn nhỏ mà, lo làm ăn giúp đỡ cha mẹ đã chớ.
- Còn mình, nói thiệt với
Ánh là mình chưa có vợ. Đời buồn lắm, Ánh à.
- Có chi mà buồn? Sao anh
không cưới vợ?
- Đang kiếm đây. Bây giờ
làm có lương tháng đủ xài nhưng được nhà ba má mình có tiền, ổng hứa hễ chừng
nào mình có vợ thì ổng bả cho cái vốn để vợ chồng ở riêng, chồng đi làm, vợ
buôn bán. Kể như vậy cũng sướng đó, nhưng mình muốn tự ý kiếm người nào thích
thì mình cưới, chớ người ta làm mối hai ba đám rồi mình không ưng đứa nào hết.
- Sao vậy?
- Tại không thích chớ
sao. Mình muốn kiếm người bạn gái nào thiệt đẹp và mình đã quen biết tính nết...
À, Ánh à... Ánh ở nhà chớ không làm đâu thiệt hả?
- Thiệt.
- Ánh à.,. Ánh tuổi con
gì nhỉ?
Ánh cười, bông lơn:
- Tuổi con Cọp!
- Thôi, giỡn hoài. Năm
nay Ánh bao nhiêu tuổi, mình hỏi thiệt đó mà.
- Nói chơi, chớ tuổi
con... con Gấu!
Hai người cùng cười.
Nhưng Ánh hỏi:
- Anh em chị em học trường
Chợ Quán hồi đó, bây giờ đi đâu mất cả sao tôi không gặp ai hết như Mai nè, Tuyết
nè, Cúc nè. Hoàng nè.., Ờ anh Hoàng, bây giờ ảnh làm gì, anh Định?
- Thằng Hoàng hả... Ờ mà
lâu lắm tôi không gặp nó. Coi bộ nhà cậu ấy nghèo xơ xác, cách đây lâu quá rồi,
nó đem bán cho tôi cái đồng hồ tôi còn đeo đây nè...
Định chỉ chiếc đồng hồ
đeo tay, nói tiếp:
- Nó thi đậu, chú nó cho
nó chiếc đồng hồ, rồi nó túng tiền đem bán cho tôi có 200 đồng.
Ánh lặng thinh nghe. Định
nói tiếp:
- Đáng lý mình không dám
mua, sợ của nó ăn cắp thì bỏ mẹ! Nhưng rồi sao nó trở lại đưa hóa đơn cho mình,
trong hóa đơn đề tên chú nó, giá mua 400$- Nó bán có 200$. Thấy rẻ mình mua
chơi. Nó nói em gái nó đau nặng nó cần tiền, chớ của chú nó cho, nó sợ bán đi
chú nó giận.
- Sao anh ấy điên thế!
Cái đồng hồ của người chú cho làm kỷ niệm, có cô em đau nặng, lại đem bán để
mua thuốc cho em!
- Mình cho là nói dóc.
- Bây giờ Hoàng làm gì?
- Ai mà biết! Ánh hỏi chi
vậy?
- Tôi có mượn một quyển
sách của Hoàng còn mới tinh. Tôi muốn trả lại Hoàng mà không biết nhà Hoàng ở
đâu. Anh có biết nhà Hoàng ở đâu, chỉ giùm tôi.
- Thằng Hoàng ở xóm nhà
lá Bầu Sen, Ánh muốn kiếm nhà nó thì lên xe vespa tôi chở đi... Ờ mà quên, xóm
nhà của nó cháy mất tiêu rồi còn gì!
- Vậy hả? Nhà Hoàng cũng
bị cháy sao?
- Cháy rụi cả xóm.
- Trời ơi! Vậy bây giờ
Hoàng ở đâu?
- Lâu, mình không gặp nó.
Còn nhà Ánh ở đâu, cho mình biết để sáng mai chúa nhựt mình đến thăm.
- Đã nói xa lắm, anh kiếm
không được đâu.
- Ánh đi đâu bây giờ, đã
về chưa tôi chở Ánh về?
- Cám ơn anh Định. Tôi mắc
đi có việc.
- Ánh đi đâu, lên xe
vespa mình chở đi.
- Khỏi! Tôi đến nhà người
bà con gần đây. Thôi chào anh Định nhé.
Ánh đi thẳng. Định còn gọi
vói:
- Ánh ơi, Ánh!... Mình hỏi
câu nầy.
Ánh giả vờ không nghe, đi
thẳng. Định lên xe vespa, đi chậm chậm theo kèm một bên, tán tỉnh:
- Ánh bây giờ lớn lên đẹp
hơn hồi trước nhiều. Đẹp lộng lẫy... Sao Ánh chưa lấy chồng?
- Thôi đi anh ngạo tôi, tội
chết! Tôi mà đẹp cái thá gì!
- Mình nói thiệt chớ
không phải mình nịnh Ánh đâu nghe! Ánh cho mình biết nhà, để sáng mai mình đến
thăm...
- Chắc không được đâu,
anh ơi. Anh có lòng tốt, tôi xin cảm ơn, nhưng má tôi khó lắm chớ không phải
như người ta đâu. Thôi chào anh nhé.
Ánh rẽ vào một đường hẻm
để khỏi bị Định đi theo nữa. Ánh tủm tỉm cười vì đã bịa ra câu chuyện mượn quyển
tự điển để hỏi cho biết địa chỉ của Hoàng. Nhưng nghe Định nói xóm nhà lá của
Hoàng bị cháy, Ánh thất vọng và lo sợ cho Hoàng lắm, Ánh càng thương Hoàng và
nhất định đi kiếm Hoàng cho kỳ được.
Sáng chúa nhựt, Ánh đi
tìm Hoàng, Ánh mặc áo dài trắng mảnh khảnh thướt tha, đội nón lá ‘‘bài thơ’’,
trông đẹp lạ! Y như hồi còn đi học. Bộ ngực nở vun vén, đều đặn, nổi bậc lên
trên thân hình duyên dáng với những đường cong điều hòa tuyệt mỹ. Trước khi Ánh
ra đi, cô của Ánh ngồi võng nhai trầu, ngắm nghía, và tủm tỉm cười bảo Ánh:
- Mới hồi nào mầy còn bằng
con Nhung. Bây giờ đã lớn đại!
- 21 tuổi rồi còn nhỏ gì
nữa, hả cô!
- Ừ liệu mà lấy chồng đi,
để chồng nó nuôi chứ tội gì thân gái ngộ nghĩnh như vậy mà đi ở mướn hoài?
- Thưa cô xóm Bầu Sen ở
đâu?
- Bầu Sen... ở về miệt
Tân Kiển, chớ đâu.
- Đình Tân Kiển... có phải
ở lối nhà thương Chợ Quán không cô?
- Ừ, con có quen ai ở đó?
- Dạ có. Một người bạn
trai của con,
- Con đi, trưa con có về
không?
- Dạ, về chớ.
Ánh đi bộ lên miệt làng
Tân Kiển, hy vọng tìm đựợc Hoàng. Nếu nhà Hoàng bị cháy, thì chắc đã làm lại
nhà mới.
Đến nơi, Ánh đi lang
thang trên mấy con đường nhỏ hẹp và bẩn thỉu trong xóm nhà mới cất lại bằng
ngói, hoặc lợp tôn, nhưng không biết nhà Hoàng ở đâu. Đi quanh quẩn hàng giờ,
Ánh không dám hỏi thăm ai. Toàn là người lạ. Gặp một em nhỏ, Ánh hỏi đại:
- Em ơi em, nhà anh Hoàng
ở đâu?
- Anh Hoàng nào?
- Anh Hoàng đã đỗ Trung học
Đệ nhứt Cấp, con ông tùy phái ở Bộ Công chánh đó.
Đứa bé lắc đầu:
- Em hỏng biết.
Đã trưa, Ánh đói bụng,
ghé lại xe mì của một chú Chệt, ngồi ăn một tô mì, nhân tiện ngồi chờ thử xem,
Ánh nghĩ rằng sáng nay là chúa nhật, chắc thế nào Hoàng cũng đi chơi. Ánh ngồi
nán lại may gặp Hoàng chăng? Vài ba chàng thanh niên trông thấy cô gái xinh đẹp,
cứ lảng vảng, thầm thì, tới chọc ghẹo. Ánh mặc kệ không thèm để ý đến. Ánh bỏ
đi tụi họ đi theo. Họ nghi ngờ cô gái xa lạ từ đâu đến đây, lang thang tìm ai,
ngồi nơi xe mì đợi ai gần hai tiếng đồng hồ?
Nhưng ra đến đường lớn,
Ánh biết có tụi cao bồi đi theo mình, liền đón cyclo máy về Bàn cờ.
Ánh thất vọng vô cùng, buồn
rầu không muốn nói chuyện gì với bà cô nữa. Luôn mấy ngày Ánh lẩn quẩn trong
rhà như nguời mất trí, chán nản bơ phờ, chẳng thích ăn làm gì cả.
Cô của Ánh muốn gả Ánh
cho một người đàn ông quen, làm Trung úy trong quân đội. Chàng còn trẻ tuổi, ở
cùng xóm, đã để ý đến Ánh từ lúc Ánh còn làm nghề gánh nước mướn. Chàng chưa có
vợ, người ở miền Trung, coi bộ tính nết cũng hiền lành. Nhưng khi nghe cô nói
chuyện ấy, Ánh thãn nhiên đáp:
- Con không lấy chồng cô ạ.
Bà cô cứ khen ngợi chàng
Trung úy có nhiều đức tính tốt và hòan cảnh thuận tiện, có địa vị có tương lai,
nhưng Anh ngắt lời:
- Vợ chồng là duyên tiền
định. Một khi con không thích, ấy là tại con không có duyên nợ với người ta. Cô
trả lời với người ta là con không chịu.
- Không lẽ con cứ ở vậy
hoài không lấy chồng?
- Chừng nào con thích ai
thì con lấy người ấy.
Bà cô ngồi nhai trầu lẻm
bẻm, làm thinh tỏ vẻ không bằng lòng đứa cháu ương gàn. Bà chậm rãi bảo:
- Già kén kẹn hom, con à!
Các cô gái ‘‘đợt sống mới’’ đời nay tranh đua nhau lấy chồng Trung úy, Thiếu
úy, hoặc lấy người ngoại quốc, mà con thì kén chọn, cô không biết con kén chọn
ai nữa?
Ánh không trả lời. Ánh chỉ
nhớ lại câu chuyện của Định với Ánh chiều hôm qua về chiếc đồng hồ chàng đeo
trên tay. Không dè đó là chiếc đồng hồ của Hoàng đã bán lại cho Định để lấy
200$. Hoàng năn nỉ Định mua dùm để Hoàng lấy tiền mua thuốc cho ‘‘cô em gái’’.
Nhưng Ánh biết Hoàng không có em gái. Chắc chắn là số tiền 150 đồng của Hoàng
đưa cho má Ánh với mấy gói thuốc nóng lạnh đáng giá gần 50 đồng nữa, là tiền của
Hoàng đã bán rẻ chiếc đồng hồ cho Định. Bây giờ Anh đã hiểu số tiền 200 đồng
Hoàng đã gởi cho Ánh hôm Ánh đau nặng, do ở đâu mà Hoàng có, Ánh nghĩ thầm: ‘‘Tội
nghiệp Hoàng! Hoàng yêu Ánh lắm mới hy sinh cho Ánh như thế? Trong lúc Ánh bị
gia đinh ruồng bỏ, trên đời Ánh cô đơn không còn ai thương xót mình, thì có
Hoàng, một bạn nghèo, hoàn cảnh không khá gì hơn mình mà lại tận tụy lo cho
mình, săn sóc sức khoẻ của mình, Hoàng bán chiếc đồng hồ mới tinh của ông chú
cho, để lấy 200 đồng đem đến cho Ánh, trong lúc Ánh đau nằm liệt giường liệt
chiếu, má Ánh cũng không có được vài chục bạc để mua thuốc cảm hàn cho Ánh! Mối
tình sâu đậm của Hoàng thật là cảm động. Ánh phải làm sao tỏ lòng tri ân của
Ánh với người bạn trai độc nhất của đời mình. Ánh quyết không yêu ai, Ánh đã từ
chối ông giáo sư Ngọc Minh cũng vì Ánh yêu Hoàng, nhớ Hoàng, Ánh muốn gìn giữ tấm
thân trong sạch nầy để dành riêng cho Hoàng, hiến cả cho Hoàng đến mãn đời mãn
kiếp. Nếu Ánh không tìm lại được Hoàng, Ánh cũng nhứt định đợi chờ vài ba năm nữa.
Ánh tin rằng Ánh sẽ gặp lại người bạn cũ, và
nếu Hoàng cũng đang tìm
kiếm Ánh thì thế nào đôi bạn lòng cũng sẽ có ngày tái ngộ’’.
Thật ra Ánh và Hoàng chưa
phải là một đôi tình nhân chánh thức, hoặc lén lút hồi nào. Cặp thanh niên nầy
chưa hề cùng nhau trao đổi một lời thề nguyện, chưa có lần nào gắn bó với nhau
trong một nụ hôn nồng nàn say đắm trên môi. Nhưng, hồn nhiên, chân thật họ đã
cùng nhau thông cảm mối tình ngấm ngầm sâu xa, trong khóe mắt âu yếm của chàng,
trong lời nói dịu dàng, mơn trớn của nàng đáp lại, nhưng đã tự thú nhận với
nhau rồi, gần như dĩ nhiên rồi, như đã được sắp đặt trước từ lâu trong một kiếp
xưa...
Thế mới biết tâm lý của
phụ nữ khó hiểu thật! Một cô gái nghèo như Ánh, nghèo đến nỗi phải đi làm đầy tớ
cho người ta mà gặp một người yêu như ông giáo sư Ngọc Minh, có nhà lầu xe hơi,
có chức vị quan trọng, có tư cách đường hoàng đứng đắn, chưa chắc cô đã ham mê!
Gặp một anh Trung úy trai trẻ, có tương lai đầy hứa hẹn, có bộ nhung phục bảnh
bao hào nháng, chưa chắc gì cô đã yêu! Vậy mà cô lại bùi ngùi thương nhớ một
người bạn học cũ nghèo xơ xác như cô, chỉ vì chàng đã bán chiếc đồng hồ 200 đồng
để giúp cô trong lúc cô đau gần chết! Ánh chỉ quý tấm lòng hào hiệp của Hoàng
mà yêu Hoàng, mà tự hứa sẽ gìn giữ tấm thân trong sạch, đợi một ngày kia đem hiến
cả cho chàng để đền đáp ơn xưa, mặc dầu chỉ một chút ơn nhỏ mọn!
Với ý định đã cương quyết
như thế. Ánh từ chối tất cả mọi cảm dỗ. Ánh chỉ lo đi tìm việc làm, để tự lập lấy
thân. Ánh nghĩ rằng không lẽ một nữ sinh như Ánh có học đến bậc Trung học, nhan
sắc không đến đỗi tệ lắm, lại không tìm được một chỗ làm đường hoàng đủ sống
ngày hai bữa hay sao? Ấy thế mà gần một tháng trời, từ ngày thôi việc ở nhà cô
Minh Tú, Ánh đã cố công tìm hỏi vẫn chưa được nơi nào.
Một buổi tối, Ánh đi gánh
nước ngoài phong tên. Trong khi để đôi thùng chờ đợi đến phiên mình, Ánh đứng dựa
cột đèn, băn khoăn nhớ Hoàng. Tình cờ một người bạn gái quen biết từ lâu đi
ngang qua. Trông thấy Ánh, cô bạn vui mừng đến gần, nắm tay thân mật:
- Chị Ánh, chu cboa! Sao
bây giờ chị đẹp quá vậy chị. Lâu quá xá bữa nay mới gặp chị!
Ánh cũng vồn vã, cười:
- Chớ Hoa không đẹp à?
Hoa còn đẹp bằng mấy Ánh nữa đó! Dạo nầy Hoa còn làm nhà in không?
- Còn Ánh à, Ánh muốn làm
không, Hoa giới thiệu cho vô làm?
- Làm công chuyện có khó
không?
- Có gì đâu mà khó. Mình
làm thợ đóng sách, chỉ có việc xếp sách và xép báo thôi.
- Xếp cách nào?
- Ở nhà in chỗ Hoa làm có
in một tờ tạp chí, nguyên tờ giấy khổ lớn, thợ in xong hai mặt rồi thì mình gấp
lại thành khổ tạp chí 32 trang.
- Có vậy thôi à?
- Ừ, xếp rồi vô bìa.
- Công việc có nhiều
không?
- Nhiều chớ, nhà in lớn
mà chị. Hiện bây giờ ngoài quyển tạp chí đó mỗi tháng ra hai kỳ, nhà in còn
lãnh in bốn quyển sách và một tờ báo hằng tuần. Còn in đồ của chánh phủ thì
không kể. Tụi mình làm ngập mặt!
- Họ trả lương khá không?
- Lương công nhựt, mỗi
ngày 30$ làm việc 8 giớ. Bữa nào nghỉ ở nhà thì không có lương.
- Thợ làm có đông không?
- Đông lắm. Ê kíp đóng
sách làm riêng một phòng, có 20 chị.
- Toàn phụ nữ à?
- Ừ. Tụi con gái như cỡ
mình. Hiện giờ công việc dồn lại nhiều quá, ông Quản lý đang kêu thêm thợ. Nếu
Ánh muốn làm thì sáng mai Ánh đến mình đưa vô giới thiệu với Thầy Tư, không khó
gì đâu.
- Thầy Tư là ai?
- Là Quản lý, em ông chủ.
Thầy tử tế lắm, có lúc cộc bỏ xừ, nhưng thường cũng thấy dễ chịu.
- Ừ, sáng mai Ánh đến nhờ
Hoa giới thiệu giùm nghe? Có phải lo lót gì không, cứ nói thiệt đi?
Đôi bạn gái nói cười rất
thân thiện, vui vẻ.
Hoa có cặp mắt lương, mỗi
lúc cô cười cặp mắt híp lại, mà cái miệng thì rộng toe toét, xinh đáo để, Hoa kề
vào tai Ánh nói nhỏ:
- Cái thầy Tư đó 35 lắm,
nghen! Thầy có bốn vợ, 12 đứa con gái, hổng có đứa con trai nào. Mà ngộ quá, 12
đứa nhỏ cùng một khuôn mặt. Như một cái Cliché mà in ra 12 bản, vậy đó.
Ánh cười:
- Cliché là cái gì?
- Cái bản kẻm để in hình
trong sách báo... Thôi, Hoa phải về, kẻo bà già ở nhà chờ. Bữa nay làm việc về
trễ, sợ bả đợi.
- Sao làm việc về trễ vậy?
- Bữa nay có công việc gấp,
phải làm súp lê măng, Sáng mai 1 giờ, Ánh tới sở nghen, Hoa chờ ngoài cửa
nghen?
- Ừ, cám ơn Hoa nhé!.
7/10/1965
Nguyễn Vỹ
Theo https://vnthuquan.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét