Trăn trở sự tồn tại người - Gía trị nhân bản trong thơ Văn Cao
1. Lời dẫn
Không phải ngẫu nhiên khi tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật của Văn Cao (1923 – 1995), Tạ Tỵ (1921-2004) phát hiện: “Trong nỗi bơ vơ của kiếp người, lớn lên với bao nhiêu cực nhọc, chịu thiếu thốn thường xuyên về cơm ăn, áo mặc, Văn Cao mong vượt thoát bằng sự ước mơ, bằng trở lui về quá khứ thơ mộng, bằng đam mê với suy tư trong ảo ảnh xa lìa. Văn Cao muốn tự giải thoát bằng sáng tác” (1). Nhận định trên của Tạ Tỵ đã khẳng định yếu tố quan trọng nhất để làm nên Văn Cao – một trong những nhạc sĩ xuất sắc nhất của tân nhạc Việt Nam, đồng thời là một họa sĩ, thi sĩ tài hoa của dân tộc đó là bản lĩnh vượt lên mọi giới hạn, mọi rào cản của thực tại khách quan để khẳng định nhân vị nghệ sĩ, để sáng tạo những tác phẩm văn nghệ đích thực, mang giá trị sâu sắc dâng tặng cuộc đời. Bên cạnh âm nhạc, hội họa, Văn Cao đã để lại cho đời sau những áng thi ca độc đáo. Những vần thơ cất lên từ trái tim chưa bao giờ yên ổn vì tình yêu thương con người của Văn Cao như một bản giao hưởng nhiều nốt lặng, trầm buồn, vang ngân xuyên thấu thời gian, khởi lên trong tâm thức bạn đọc những tái tê, da diết sẻ chia… Song, trên tất cả, đó chính là khát vọng, sự trăn trở của thi nhân về sự tồn tại Người – một giá trị nhân bản độc đáo của thơ Văn Cao mà thiết nghĩ cần được luận giải với một tinh thần khách quan, khoa học để tiếp tục góp phần khám phá và khẳng định những đóng góp của Văn Cao cho văn học nghệ thuật nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung.
2. Nội dung
Tư duy của nhân loại tiến
bộ đã khẳng định thế giới này chỉ có thể tồn tại nếu mỗi cá nhân đều được tôn
trọng, được sống, được trải nghiệm, suy tư về cuộc đời. Thế giới của một người
chỉ có thể tồn tại nếu bản thân anh ta tồn tại. Chính những suy nghĩ, nhận biết,
khám phá về thế giới sẽ làm nên thế giới của “con người bên trong con người” của
mỗi cá nhân. Trong văn học nói chung và thi ca nói riêng, con người được ý thức
trên cấp độ cá thể, con người tự nhận ra, cảm thấy mình qua những thể nghiệm của
mình trong cuộc sống và con người được hiện ra trước hết như một tồn tại.
Sự tồn tại ấy chỉ được nhận ra bằng trạng thái phi lý tính của con người, tức
là thông qua những thể nghiệm nội tâm: buồn khổ, đau đớn, lo âu, hoang mang, mà
thậm chí nói như Sartre: “Tôi kinh hãi là tôi tồn tại”. Theo các nhà khoa học
hiện sinh, sự kinh hãi xã hội xuất hiện “như một cấp độ đầy ắp của sự phát
triển tinh thần, để bảo vệ thế giới tinh thần con người khỏi bị phá huỷ, và mặt
khác, điều tiết sự phát triển từng hình thức tinh thần riêng biệt, dường như bắt
nó tự soi mình vào tấm gương của trạng thái tràn đầy của chính mình” (2). Như vậy,
đồng thời, khi con người ở trạng thái kinh hoàng là thấy mình không an toàn, là
nỗi niềm của kẻ lưu đày, cô đơn, bị ruồng bỏ.
Đọc thơ Văn Cao, ở nhiều
thi phẩm như: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Những người trên cửa biển,
Khuôn mặt em, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, Lá, Trôi, Thời gian, Cánh cửa,
Thu cô liêu, Năm buổi sáng không có trong sự thật, Ba biến khúc tuổi 65, Linh cầm
tiến… bạn đọc cũng có thể thấy sự đa dạng cung bậc cảm xúc, có xôn xao, có sâu
lắng bâng khuâng… nhưng dường như chủ đạo vẫn là những thì thầm tự vấn, suy tư
trăn trở, đau buồn và thậm chí nhiều khi hoang mang, kinh hãi, lo âu. Phải
chăng, tất cả những thể nghiệm cảm xúc nội tâm ấy bắt nguồn sâu xa từ những “chấn
thương” tinh thần của tác giả bởi tác động của hoàn cảnh sống? Và dưới tầng sâu
lớp ngôn từ của mỗi thi phẩm ẩn giấu bao mỹ cảm mà chúng ta cần suy ngẫm“giải
mã”?
Thật vậy, cuộc đời Văn Cao gắn bó cùng dân tộc trong giai đoạn lịch sử đất nước khi nô lệ, lầm than, lúc chiến tranh khốc liệt. Do đó cũng như nhiều người cùng thời, Văn Cao nếm trải sự khắc nghiệt của cuộc sống “giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tủy (…)/ Đêm đêm, dài canh tan tác/ Bốn vực nhạc động, vẫy người/ Giãy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời/ Ta về gác chiếu chăn gào tự tử (Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc); hoặc: Có tuổi thanh niên/ Như cây mùa xuân mới mọc/ Bị tước dần vỏ non/ Mất chim mất bướm mất chân trời/ Lòng không biết nghĩ điều gì/ Như con sơn ca bị bẫy/ Thấy mắt lưới sáng nào cũng nhảy/ Đâm lên khoảng không giữa tỉnh/ Tháp chuông nhà thờ/ An ủi những người khổ sở/ Chung quanh hỏa lò trại lính/ Cha tôi nghe tiếng chuông đổ đầu tiên/ Giữa buổi chiều không cơm cháo/ Bàn tay mẹ tôi quờ trong thạp gạo…” Trong tâm thức của mình, Văn Cao thấm thía nỗi đớn đau của con người sống trong thời loạn, đổ vỡ hy vọng, đói nghèo túng quẫn phải vật lộn mưu sinh, hoang mang, mất phương hướng, thậm chí là nỗi cô đơn đến cực điểm của thân phận nghệ sĩ “bị chối bỏ” trong những biến động của thời cuộc. Phải chăng, đó là cơ sở để bạn đọc có thể “giải mã” thơ Văn Cao và thấu hiểu hơn: tất cả những ám ảnh đen tối của cuộc sống đã hắt bóng lên những câu thơ ẩn chứa bao mỹ cảm văn chương, vọng lên những thông điệp nhân văn, nhân bản mà hôm nay đọc lại và ngẫm ngợi chúng ta nhận ra trong những thử thách nghiệt ngã, bi đát của hoàn cảnh, Văn Cao đã bản lĩnh lựa chọn hành động, vượt thoát khỏi sự bất lực và tuyệt vọng, sự hữu hạn của thời gian, sự cô độc để sống một cuộc đời ung dung, tự tại đầy ý nghĩa – đó cũng chính là hành trình gian khổ để khẳng định nhân vị, cá tính sáng tạo, nhân cách nghệ sĩ của Văn Cao.
Trong lĩnh vực thi ca,
Văn Cao là một trong những thi sĩ sớm tiên phong đổi mới tư duy thơ. Sau thời kỳ
Phong trào Thơ mới đã kết thúc sứ mệnh lịch sử mở đường của nó, trong bài viết Một
vài ý nghĩ về thơ, Văn Cao nêu quan điểm của ông về phương hướng phát triển của
thơ Việt Nam hiện đại: “Chúng ta đã đi qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và
một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu
không?”(3). Ngược dòng chảy của thi ca du dương “một giọng”, thiên về tả, kể biểu
đạt cảm xúc và cảm giác, Văn Cao đã nhận ra tính tư tưởng là vấn đề cốt
yếu nhất để thơ có thể trường tồn theo thời gian và thực hiện sứ mệnh thiêng
liêng: “Thơ làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử”
(Shelly). Có lẽ sớm thức nhận sáng tạo thơ khác với nhiều người cầm bút đương
thời, cho nên mặc dù Văn Cao viết không nhiều nhưng thơ ông luôn ấn tượng trong
lòng bạn đọc với những nét riêng, mới lạ. Văn Cao thường kiến tạo một thi giới
bằng tất cả những gì nhà thơ “tự cảm thấy” – đó là một thi giới được tạo nên bằng
trí tưởng tượng phong phú và sự sắp đặt ngôn từ một cách tài hoa, đạt đến độ
cao của sự hấp dẫn, đánh thức mọi giác quan của bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm.
Trong bài thơ Chiếc
xe xác qua phường Dạ Lạc, không – thời gian nghệ thuật được đặt trong thảm họa
nạn đói lịch sử năm 1945. Một bức tranh với lớp lớp xếp chồng những cảnh tượng
não nùng, thê thảm. Bài thơ quả thật “là một bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm”
(Leonardo DeVinci). Lấy hình ảnh tương phản giữa chiếc xe xác chở thi hài của
những kẻ nghèo đói đi ngang qua một xóm ăn chơi sa đọa rác rưởi ở Hà Nội làm
tâm điểm quan sát, từ đó nhìn rộng ra nhiều góc khác nhau, thi nhân tái hiện cuộc
sống của con người bị phân cắt thành nhiều mảnh lạnh lùng, u tối rã rời: Ai
hủy đời trên tang trống nhỉ? Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya! Đảo điên… mê
say…Thể phách chia lìa/ Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo! Tiền rơi! Tiền
rơi! chùm sao huyền diệu/ Lấp lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!
….Tàn xuân nhễ nhại mưa
cô tịch/ Đầm đìa rả rích phương Đông/ Mang mang thở dài hồn đất trích/ Lưỡi
thép trùng trùng khép cố đô/ Cửa ô đau khổ/ Bốn ngả âm u (Nhà ta thuê mái gục tự
mùa thu/Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)
Đêm đêm, dài canh tan
tác/ Bốn vực nhạc động, vẫy người/ Dãy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời/ Ta về
gác chiếu chăn gào tự tử/ Trên đường tối đêm khỏa thân khiêu vũ/ Kèn nhịp xa điệu
múa vô luân/ Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm/ Hun hút gió nâng cầm ca nặng
nhọc/ Kiếp người tang tóc/ Loạn lạc đòi xương chất lên xương/ Một nửa kêu than,
ma đói sa trường/ Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc/ Ngã tư nghiêng nghiêng
xe xác/ Đi vào ngõ khói công yên/ Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền/ Hương nha
phiến chập chờn mộng ảo/ Bánh nghiến nhựa đường nghe sào sạo/ Ai vạc xương đổ sọ
xuống lòng xe/ Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề/ Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực/
Mưa, mưa hằng thao thức/ Trong phố lội đìu hiu/ Mưa, mưa tràn trên vực/ Hang tối
gục tiêu điều/ Mang linh hồn cô liêu/ Tiếng xe càng ám ảnh/ Tiếng xa dần xa
lánh/ Khi gà đầu ô kêu (Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc).
Ánh sáng, bóng tối, sắc
màu, âm thanh, hành vi cử chỉ của con người, những chuyển động của sự vật, hiện
tượng… tất cả khiến tính chất hiện thực trong thơ Văn Cao trộn lẫn với huyền hoặc
trở thành một bức họa siêu thực ma quái. Bạn đọc như bị dẫn dụ, lôi cuốn, chìm
vào dòng chảy buồn khôn dứt của bài thơ. Văn Cao đã khắc họa vô cùng sinh động
những vật vã, giãy giụa, bất lực của cả người chết và kẻ sống. Cuộc sống của
con người ủ rũ thảm hại, hoang tàn, đầy tử khí. Con người tồn tại vật vờ giữa
cõi dương gian mà tối tăm, mù mịt, nghẹt thở như ở chín tầng địa ngục. Có cái
gì như uất nghẹn trong lồng ngực… Cảm xúc thẩm mỹ được đẩy lên đến cao trào, ào
ạt, triền miên dồn dập, đầy ắp hình ảnh pha trộn giữa ảo và thực… Có cảm giác
nhà thơ như đắm đuối chìm trong một cơn ác mộng. Thi giới Văn Cao là thi giới của
tưởng tượng phong phú, điệp điệp lớp lớp hình ảnh sống dậy từ tiềm thức… Dường
như lắng sâu dưới lớp vỏ ngôn từ, chúng ta cảm nhận rõ thi nhân kinh sợ, đau đớn
khi chứng kiến những bi kịch chất chồng bi kịch của cõi nhân sinh, suy tư về
thân phận con người, và trên hết là sự cảm thương về những bất hạnh của kiếp
người trong xã hội lầm than tăm tối, đắm chìm trong kiếp đời nô lệ. Từ
góc nhìn tích cực, nhân bản của chủ nghĩa hiện sinh có thể thấy bài
thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc của Văn Cao đã truyền được sang
người đọc nỗi khiếp đảm, bàng hoàng, đau đớn tột cùng, niềm day dứt khôn nguôi
khi ngẫm về những điều phi lý đổ xuống những kiếp người bé nhỏ, đáng thương. Và
phải chăng mượn cảnh tượng cụ thể Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, đằng sau
những nét phác họa sắc sảo khiến người tiếp nhận lạnh gáy “kinh hoàng” trước bức
tranh với nhiều đường nét tương phản, hỗn loạn, Văn Cao muốn khái quát một chân
lý: chừng nào trên thế giới này, con người còn đối xử tàn độc với nhau, con người
đẩy con người chìm trong chiến tranh, đói nghèo, ham hố tham lam, tăm tối, trụy
lạc thì chừng đó cuộc sống trở thành vô nghĩa, dẫu chết hay sống cũng chẳng
khác nhau. Và xúc động từ nỗi đọa đày của thân phận con người, tiếp nhận thơ Văn
Cao, chúng ta có quyền suy ngẫm và khát vọng cần đổi thay để thế giới tiến bộ
hơn, để con người được sống hạnh phúc và cõi dương gian không còn xảy ra bi kịch
bị biến thành của cõi ma quỷ lạnh lùng ghê rợn. Thiết nghĩ, đây là một giá trị
nhân văn, nhân bản có giá trị vượt thời gian cần được ghi nhận trong thơ Văn
Cao.
Thơ Văn Cao mang nội dung
biểu hiện nội tâm tan nát của con người thời loạn, con người hoang mang, lo âu
trước sự tàn phá tàn khốc liệt của chiến tranh.
Những ngã tư đời đau khổ
bê tha/ Nơi lầy lụa rác kinh thành chất đống/ Nơi sa sục hôi tanh vùi cửa cống/
Chảy lớp người nghèo khổ lẫn lưu manh/ Gái đĩ bồi tiêm cặn bã đô thành/ Nơi xưa
tối đèn, trăng che lấp rãnh…Dư mấy vườn hoa lạnh/ Vẫn lối xanh trúc dằng/ Phố
cũ giờ hẳn đã chết rồi chăng? Trở lại dăm hàng chiến lũy/ Dòng ngõ lầy ca kĩ/ Gạch
đá đã ngập đầy/ Trên chiến hào, đổ gục mấy hình cây/ Phố chết rồi mảnh rêu ngơ
ngác/ The thé thất thanh giọng kêu tàn ác/ Quạ dăm con, chập choạng cánh dơi
xa/ Lơ láo tường vôi, than bụi rui nhà/ Với dáng cỏ khô dấu chìm xe ngựa (…)
Một dãy phố nghiêng cả thành Hà Nội/ Dòng ngõ chợ xưa máu dâng ngập lối/ Mấy
xác quân thù bên cống tanh hôi/ Sọ nứt toang óc chảy lẫn với giòi/ Có tiếng rú
cười vang trong lửa đạn/ Xác anh vùi lửa đạn/ Xác em vùi bên anh/ Khói súng mờ
bay nhạt cả xóm xanh/ Lửa bừng cháy lên rực phía đô thành/ Nhà đổ thép quằn
rung/ Xóm âm u/ Thành khối đen đặc quánh… (Ngoại ô mùa đông 1946).
Bức tranh ngoại ô Hà Nội
mùa đông năm 1946 đầy máu lửa, tang thương. Chiến tranh với những cái chết kinh
hoàng, thương tâm, ai oán, chiến tranh cuốn phăng tất cả mọi giá trị của đời sống,
không những về kinh tế làm cuộc sống con người chìm sâu trong đói nghèo, cơ cực,
tha hóa, tội lỗi, tàn ác… mà chiến tranh còn tàn phá các công trình, di sản văn
hóa quý giá vốn là kết tinh của văn minh nhân loại đã trường tồn theo bao năm
tháng:
Xác gỗ thân trơ và bóng tối
nghĩ gì/ Nghe đồ đạc đụng kêu trên đất lạnh/ Đây một tượng Đức Bà/ Đã gãy lăn từng
mảnh/ Đây tử thi bậc thánh/ Đã tan tành sau cuộc đấu tranh qua/ Nirvana mờ nhạt
bóng Thích Ca/ Mắt truyền giáo trên Hằng Hà cũng tắt/ Chữ Phạn, La tinh nhường
màu tô diệt Pháp/ Gió lạnh lùng khi qua viện tàng thư/ Cháy cong queo, bìa giữa
chút di từ Kierkegaard, Heideger và Nietzsche/ Sách Lão Trang và mùi Thiền Kinh
Phật/ Anh chủ kho tàng trôi nổi nơi nao? (…) Trên ngõ lầy hiu quạnh/ Lều vắng dựng
chơ vơ… (Ngoại ô mùa đông 1946).
Rõ ràng, không phải ngẫu
nhiên mà Văn Cao nhắc đến trong thơ tên những nhân vật thuộc về chuẩn mực văn
hóa nhân văn của nhân loại như Đức Bà, Thích Ca và tên của những nhà hiện sinh
nổi tiếng thế giới Kierkegaard, Heideger và Nietzsche mà quan điểm triết thuyết
tiến bộ, dân chủ của họ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho bao người mở rộng
tư duy để hướng đến tương lai tươi sáng. Với độ lùi của thời gian hôm nay nhìn
lại, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, Văn Cao đã lựa chọn cho ông một con đường
tiếp nhận văn hóa nhân loại riêng. Ông trân trọng bao nhiêu thì lại càng xót xa
cho những giá trị cao quý đó đã bị chiến tranh và những giới hạn nhận thức của
con người thời đại chà đạp, tàn phá bấy nhiêu. Cái nhìn của Văn Cao đối với chiến
tranh và hiện thực cuộc sống thật sâu sắc, bởi lẽ, sau chiến tranh người ta có
thể nhanh chóng xây dựng lại những ngôi nhà, những cây cầu đổ nát nhưng để lấp
đầy một khoảng trống văn hóa thì khó khăn gấp muôn vạn lần, và đó cũng chính là
nỗi buồn hơn tất cả mọi nỗi buồn mà chúng ta bắt gặp trong thi phẩm của Văn
Cao.
Trong những bài thơ
như Linh cầm tiến, Ly khách Văn Cao bộc lộ rõ trạng thái cay đắng, thấu
rõ cuộc đời nơi cõi tạm chứa chất đầy những phi lý. Ông chia sẻ, thương cảm một
cô gái chơi đàn tài hoa, nhân hậu nhưng phải làm nghề “bán hoa” để tồn tại: Em
quỳ lạy dâng cầm/ Tạ lòng người sương gió/ Sau giờ phút giao thân/ Đầm đìa hàng
lệ nhỏ/ Nhạc công ơi!(…) Đời em phải lúc Rợn âm ba/ Dây nhỏ máu loan hoàng/
Tình đàn chung thủy/ Lời đàn rồi an ủi lúc chàng đau/ Tuy phận đàn mỏng mảnh
cũng đừng sầu/ Ai giữ nổi được chiếc bình phỉ thúy? Khách chơi đàn lụy Kẻ dâng
đàn tri kỉ một ngày vui/ Rồi mai sau thế kỉ khác ngậm ngùi/ Tấu nhạc điệu của
chàng cung số mệnh (Linh cầm tiến). Thi nhân xót xa cho người lính vùi
thân nơi sa trường:
Lắng nghe dòng máu ta đang sôi/ Say nữa, say lên, tráng sĩ ơi! Lòng thép vang rền
xương gãy rạn/ Sa trường, than ơi là tơi bời!
Chuyện thê nhi? – Bẻ trâm vàng đi! Khăn lụa người cho? – Lau máu đi! Ảnh tặng?
– Giấu vào trong ngực áo! Trở về? – Không! Chỉ có ra đi.
Xót đời lính thú không tên tuổi/ Cả một nghìn thây đổi lấy thành/ Nói đến cuộc
đời còn chẳng tiếc/ Tiếc gì nước mắt đón đưa anh (Ly khách)
Trên hành trình thức nhận
của mình, Văn Cao hòa mình vào cách mạng và kháng chiến trong sự ý thức sâu sắc
về nỗi đau thân phận của riêng mình và nỗi đau chung của dân tộc lầm than, nô lệ
thời thuộc Pháp. Trường ca Những người trên cửa biển được viết vào
năm 1956, trong trường ca có nhiều đoạn như lời tự bạch chân thành về chính tác
giả. Câu thơ: “Tôi không có quê hương/ Nghe đâu như Thái Bình, Hà Nam Phủ Lí/
Như Nam Định” hé lộ cho thấy lịch sử gia đình Văn Cao, trong quá trình phiêu bạt
mưu sinh cũng không xác định được rõ đâu là quê gốc của mình. Nhưng Hải Phòng
là nơi Văn Cao chôn nhau cắt rốn, là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ, “đi
hết cuộc đời cùng khổ”, trên hành trình cuộc sống lênh đênh có thể nay đây, mai
đó nhưng tình cảm gắn bó nồng nàn da diết với quê hương Hải Phòng chưa khi nào
nguôi ngoai trong trái tim ông. Quê hương trong ký ức thẳm sâu của thi nhân là
“tiếng mẹ hát bên nôi”, “tiếng người trong xóm”, “tiếng con sông, mảnh đất viên
đá”, là tuổi trẻ trải nghiệm nhiều gian khổ, có những tháng gia đình gặp biến cố,
rơi vào cơn bĩ cực, tuổi trẻ mới bước vào đời đã bị những đòn đau số phận, mất
phương hướng, hoang mang: Lòng không biết nghĩ điều gì/ Như con sơn ca bị
bẫy… Chung quanh hỏa lò trại lính/ Cha tôi nghe tiếng chuông đổ đầu tiên/ Giữa
buổi chiều không cơm cháo/ Bàn tay mẹ tôi quờ trong thạp gạo… Xóm tôi nghe tiếng
kinh chiều văng vẳng/ Từ những khoang thuyền những gian nhà tối lạnh/ Đêm đêm cầu
nguyện bên đèn/ Chưa thấy ngày mai hửng sáng/ Chỉ thấy những xác thiêu than/ Chết
trên mặt bìa những cuốn thánh kinh/ Những pho tượng không bao giờ nói… Và
chính vì gắn bó với quê hương bằng tình yêu máu thịt nên trong Văn Cao, những nỗi
đau thương, mất mát của quê hương trong cuộc bể dâu triền miên cũng nhức nhối
như vết thương trên chính thân thể con người ông vậy:
Những năm tháng Hải Phòng
đầy biến động/ Đời tôi như cái phao trên mặt biển… Bạn cha tôi về chết bên cây
mận/ Có năm xóm bạc trắng màu vôi/ Những bó chiếu kìn kìn đi ngoài ngõ/ Chỉ thấy
bàn chân người chết dịch… Có năm bão từ biển dạt vào/ Những cây bưởi vừa trổ
hoa đã chết/ Hàng trăm thuyền không về/ Giêsu/ Sao người chết mãi không thôi…
Có năm Hỏa Lò dựng lên máy chém/ Cả Hải Phòng sau những án đau thương/ Không ai
dám nhìn một con gà bị giết… Có năm những đoàn ngựa Nhật đi vào tỉnh/ Xóm tôi
không còn một buồng chuối chín/Có năm bom Mĩ đổ xuống quanh nhà/ Chỉ còn tiếng
kêu trời khóc ra máu / Xóm tôi càng nghèo xơ xác/ Đàn gà cũng không kiếm ăn được
trên đống rác/ Hàng trăm ngàn người lại theo tàu ra biển/ Ai biết cao su đất đỏ
là đâu/ Thỉnh thoảng một xác trôi về bến/ Bà con không nhìn rõ mặt/ Những năm
tháng bồng bế nhau lũ lượt… Trong ngục tối âm u… Hải Phòng thành một đống sắt/
Hòm đạn vỏ chai vỏ hộp/ Một đống quần áo lính/ Một cái chợ buôn người/ Chúng nó
đi như đàn bọ hung/ Rũi vào lòng đất nước chúng ta/ Chúng nó đi/ Như đàn châu
chấu năm nào/ Về phá lúa mùa sắp gặt/ Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến/ Một
vết đạn giữa trán em bé lên năm/ Một vết dao trên ngực người con gái đương thì/
Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến/ Một nền nhà máy một hố bom sâu/ Một mồ
chôn chung/ Một dãy người bị bắn/ Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến/ Mất cả
mùa xuân mất cả tình yêu/ Mất đôi mắt thật rất nhiều rung cảm…
Đúng như Văn Cao khẳng định:
“Dĩ vãng sống với tôi/ Sâu như lòng sông khúc biển”, như một thước phim đen trắng,
những sự kiện diễn ra trên quê hương trong năm tháng nhiều biến động lịch sử hiện
về chồng chồng lớp lớp… bao nhiêu cảnh đời là bấy nhiêu nỗi nhớ, niềm thương và
nhức nhối khôn nguôi. Số phận quê hương, dân tộc phải gánh chịu quá nhiều tai
ương, bi kịch, tưởng chừng như không thể còn sức lực để gượng dậy. Văn Cao đã cố
gắng vui, cố gắng lạc quan đây đó: “Tâm hồn ta tràn theo sóng ra khơi/ Đến
chân trời vào các bến xa xôi…” Nhưng trái tim nhạy cảm và sự trải đời đã
giúp nhà thơ sớm phát hiện ra một nguy cơ nguy hiểm khác đang đe dọa đối với
tương lai của quê hương, đất nước:
Đất nước đang lên da lên
thịt/ Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày/ Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như
trái vải/ Đã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống/ Chúng muốn các em nhỏ mới biết
đi phải rụng/ Mòn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang/ Làm rỗng những con người, lùi
dần niềm hi vọng/ Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người/ Chúng nó ở bên
ta, trong ta, lẻn lút/ Đào rỗng từng kho tiền gạo, thuốc men/ Tôi đã thấy từng
mặt từng tên xâu chuỗi/ Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt/ Hãy dừng lại/ Những tên
muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc/ Những tên muốn làm cây to che cớm mầm non
(Những người trên cửa biển).
Những năm tháng gian khổ,
khó khăn đó, trong hoàn cảnh xã hội còn rất nhiều giới hạn về tư duy nhận thức,
Văn Cao – người nghệ sĩ chân chính và bản lĩnh đã sớm dám cất lên tiếng nói
thành thực của lòng mình trước sự tha hóa, băng hoại đạo đức, phẩm giá của con
người, cảnh báo sự xuất hiện những “loài sâu” cản trở bước tiến của dân tộc. Tất
nhiên, sự khởi đầu tuyên chiến với cái xấu, cái ác là điều không dễ dàng gì,
nhiều khi sự bất công lại đổ xuống thân phận nghệ sĩ. Nhưng Văn Cao đã lựa chọn
và chấp nhận tiếp tục dấn thân trên hành trình nghệ thuật để xác lập nhân vị và
khẳng định giá trị tồn tại Con Người của chính mình. Quả đúng như Song Thao đã
nhận định: “Ở những người tài hoa chân chính, tư tưởng và tình cảm trong họ rất
dễ biến thành hành động cao cả khi phải đứng trước một hoàn cảnh đau thương
chung của quê hương đất nước. Đặc biệt ở các nghệ sĩ đích thực, cảm xúc nơi họ
thường rất nhạy bén với những cảnh đời lầm than cơ cực của quần chúng, trước những
nỗi thống khổ đọa đày của nhân dân để từ cơ sở xúc động ấy mà tiến lên phấn đấu
không ngừng cho sự thắng lợi của chính nghĩa”(4).
Tiếp nhận thơ Văn Cao,
chúng ta còn nhận thấy, một trong những ám ảnh sâu sắc là bi kịch thân phận nghệ
sĩ cô đơn. Văn Cao là nhà thơ luôn nhận thức và khám phá chính bản thể mình.
Thơ ông như tấm gương phản chiếu thân phận con người nghệ sĩ của chính ông. Các
bài thơ Thu cô liêu, Cánh cửa, Trôi, Biến khúc tuổi 65, Thời gian, Một đêm
đàn lạnh trên sông Huế… ít nhiều đều cho chúng ta hình dung dáng hình lặng
lẽ, âm thầm, đơn độc của nhà thơ hoặc đang suy tư hoài niệm muốn níu giữ lại những
vẻ đẹp đang phôi phai, đang “trôi” theo thời gian mà con người cảm thấy bất lực
và tuyệt vọng “Tôi thả con thuyền giấy/ con thuyền giấy trôi/ tôi thả một bông
hoa/ bông hoa trôi/ tôi thả một chiếc lá/ chiếc lá trôi/ tôi ôm em trong tay/
em vẫn trôi” (Trôi)”, hoặc bắt gặp một chân dung con người trong không gian
tĩnh tại tuyệt đối: “Một chiếc cầu thang nhà trên gác/ Và ánh sáng/ Không động
đậy/ Một giọt mồ hôi/ Lăn trên trán (Cánh cửa)”; và có những khoảnh khắc chúng
ta thương cảm và xót xa cùng thi nhân khi rơi vào sự tuyệt vọng và bế tắc nhưng
chỉ một mình loay hoay trong sự bủa vây, giăng mắc: “Tôi rơi vào mạng nhện/ Mạng
nhện cuốn lấy tôi/ Không còn cách gì gỡ được/ Tôi như con sâu tằm/ Cuộc đời cứ
như thế/ Muốn phá cái mạng nhện/ Tôi không đủ tay (Ba biến khúc tuổi 65).”
Sự thất vọng và đổ vỡ niềm
tin khiến con người dễ rơi vào trạng thái cô đơn. Cảm thức cô đơn, nhiều ưu tư,
trăn trở thậm chí có lúc u uất đến nghẹn ngào đau đớn trở đi trở lại trong thơ
Văn Cao. Tư duy nhân loại đã khẳng định cô đơn là một yếu tính của thân phận
con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là đã vô tình tước bỏ
những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Cô đơn như người bạn đồng hành mang
đến một sức mạnh nội tâm để hướng tới sự thông giao mầu nhiệm với thế giới xung
quanh. Do đó, thực chất của cô đơn là tập trung năng lực để sáng tạo, cô đơn được
coi như một giá trị tinh thần. Dường như nỗi buồn, sự cô đơn đã đánh thức tiềm
năng sáng tạo của Văn Cao. Trái tim nhạy cảm dễ “vỡ” của thi sĩ đã không thể ngủ
yên trước cuộc đời vốn dĩ tồn tại nhiều điều phi lý, và bi kịch cô đơn xuất hiện
cũng là bởi thi nhân với tất cả trách nhiệm và sự trân quý cuộc sống đã không
thừa nhận cái xấu, cái ác làm tổn thương giá trị Người, và ông lựa chọn chấp nhận
cô đơn để đối đầu với những phi lý đó.
Bài thơ Năm buổi
sáng không có trong sự thật là năm buổi sáng của những ác mộng mà nhà thơ
tưởng tượng bỗng nhiên con người bị cô lập, bị bỏ rơi, bỏ quên: “Ngủ dậy một
sáng/ Cả phố biến đâu mất/ Không một bóng người đi/ Im lặng hồ nước sâu thăm thẳm
(…) Buổi sáng nay không nghe tiếng chim hót/ Một buổi sáng không thực/ Tôi bước
đi không thấy tiếng chân đi/ Cả thành phố cùng tôi im lặng/ Tất cả những con
người/ Chỉ thấy mắt đen lay láy/ Cả tiếng xe không thành tiếng/ Tại sao? Tại
sao?/ Không ai nhìn miệng tôi/ Gào thét không ra tiếng/ Trong kinh hoàng tôi chạy
trên đất/ Một mình/ Giữa thành phố mọi người im lặng/ Tại sao? Tại sao? Không
tiếng nói/ Không tiếng động, không sự sống/ Tại sao thành phố sa mạc/ Không
nghe gió thổi/ Những hình người như bị đẩy/ Qua nhanh/ Hình như nơi đây/ Bị đày
trong im lặng (…) Những cánh cửa đều khóa chặt/ Trong gian phòng trong suốt thủy
tinh…”
Không – thời gian dường
như không có sự tồn tại của hơi ấm tình người và vạn vật, tất cả đều chuyển động
rời rạc, không có bất kỳ sự kết nối nào. Những câu hỏi: Tại sao? thảng thốt
vang lên, lặp đi lặp lại và tự chìm sâu vào im lặng không có câu trả lời. Chúng
ta có thể nhận ra sự cuống quýt, vật vã, hoang hoải trong nội tâm của nhà thơ
khi sống trong bi kịch bị cô lập, tách biệt khỏi môi trường cuộc sống bình thường.
Tồn tại trong thế giới lạnh lùng, vô cảm, con người bị rơi vào trạng thái hụt hẫng,
hoang mang, lo sợ, trơ trọi, cô đơn tột độ. Phải chăng, sau những “thét gào” dữ
dội, đó là một thông điệp khẩn thiết Văn Cao muốn gửi đến cuộc đời: trong
muôn vàn hoàn cảnh của cuộc sống, con người thường ích kỷ, không chịu thấu hiểu
nhau, xa lánh buông bỏ nhau, cho nên con người hãy giao hòa nhân ái, nói lời
yêu thương để cứu lấy sự tồn tại Người? Bởi lẽ, sự tồn tại Người hay nói một
cách đúng hơn là nhân tính của con người chỉ có thể nảy mầm và phát triển trong
tình yêu thương, bao dung, mối gắn kết chia sẻ giữa con người với con người.
Thiết nghĩ, triết luận nhân sinh sâu sắc này của thơ Văn Cao chính là một giá
trị cơ bản khiến thi phẩm của ông mang giá trị vượt thời gian.
Từ lâu nhân loại đã nhận
ra: “Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà
tư tưởng” (Bêlinxki). Nhưng tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là
những biểu hiện các mối quan hệ giữa con người với những vấn đề về thế giới
xung quanh của nhà thơ. Tư tưởng trong thơ không phải những cái có sẵn, đóng
khung từ trước. Nó được nảy sinh trên một nền tảng triết học đã thấm sâu trong
tâm thức nhà thơ, nó phát sinh trong quá trình nhà thơ suy tư về cuộc sống và
con người, được ẩn giấu sau lớp ngôn ngữ mà phải những người có chiều sâu suy
tư về cõi nhân sinh mới có thể phát hiện và sáng tạo những sản phẩm nghệ thuật
đa thanh, nhiều sắc màu. Có lẽ bởi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, Văn Cao
đã ý niệm rõ tính tư tưởng chính là nhân tố quan trọng nhất để thi ca còn lại với
mai sau, và vì vậy những thi phẩm để đời của ông đã chạm đến những giá trị thuộc
về hằng số văn hóa mang tầm nhân loại.
3. Lời kết:
Như một quy luật hiện
sinh, thời gian qua đi là vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Sự nghiệt ngã ấy
chính là bi kịch của phận người, con người không thể nào nắm giữ, níu kéo được
được thời gian. Sinh thời, trong bài thơ Thời gian Văn Cao đã ý thức
sức mạnh tàn phá của thời gian với vạn vật, “thời gian làm khô những chiếc
lá/ Kỷ niệm trong tôi/ Rơi/ như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn”. Trong dòng chảy
vô định của thời gian, mọi sự vật, hiện tượng có thể lụi tàn và tan biến vào hư
không. Nhưng Văn Cao cũng khẳng định: “Riêng những câu thơ/ còn xanh/
Riêng những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em/ như hai giếng nước”. Ông cho rằng
Nghệ thuật và Tình yêu luôn khác biệt và luôn vượt lên mọi thứ tầm thường, tự
thân nó luôn mang một sức mạnh trường tồn, vĩnh cửu bởi nó là hiện thân của cái
Đẹp. Điều này quả đúng như Cyprian Norwid đã nói: “Thế giới này rốt cuộc chỉ
còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác”.
Cùng nhân loại trên con
đường khám phá những giá trị vĩnh hằng để vượt qua sự khắc nghiệt của thời
gian, “Thi sĩ chọn con đường thi ca tưới bằng mồ hôi và máu tươi cách mạng, là
một đóng góp một hiến dâng cho cuộc đấu tranh chung, giải phóng con người khỏi
những áp bức bị động”(5). Văn Cao đã đi đến đích trong sự tôn vinh và kính trọng
của nhân dân. Cả cuộc đời sống và viết của Văn Cao là cuộc dấn thân trải nghiệm
không ngừng những cảm xúc, suy tư, trăn trở về sự tồn tại Người – đó là những
khát vọng hướng về phía ánh sáng của thiên lương, khát vọng đạt đến những ý niệm
thuộc về Chân lý vĩnh hằng. Với bản lĩnh kiên cường cùng trí tuệ mẫn tiệp và một
trái tim nhân hậu yêu thương, Văn Cao đã tự mình thoát khỏi mọi giới hạn hoàn cảnh
thời đại để khẳng định nhân vị của một nghệ sĩ lớn. Thi ca nói riêng và sự nghiệp
nghệ thuật nói chung mà Văn Cao đã dâng hiến với mục tiêu cho con người và vì
con người mãi mãi dâng tràn sức sống, mang lại niềm tin, khích lệ con người hướng
về Chân – Thiện – Mỹ, và mãi mãi âm vang giai điệu “một trưa nắng cho bao tâm hồn”
như bài ca Mùa xuân đầu tiên mà sinh thời Văn Cao từng khát vọng.
Chú thích:
(1). Tạ Tỵ, “Văn Cao, một
tinh cầu giá lạnh”, Mười khuôn mặt văn nghệ, tác giả xuất bản, Sài Gòn
1970, tr.179.
(2). Trần Đình Sử, Cái buồn
như phạm trù hiện sinh, https://trandinhsu.wordpress.com/.
(3).https://vi.wikipedia.org/.
(4). Song Thao, “Văn Cao,
một nghệ sĩ tài hoa đang bị cuộc đời ruồng bỏ”, Văn học số 114 (1/11/
1970), tr.35
(5). Huỳnh Hữu Ủy “Thi ca
trước tình cảnh cực đoan”, Ý Thức số11(15/3/1971), tr.13,14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thái Đỉnh
(2008), Triết học hiện sinh, Nxb.Văn học, Hà Nội
2. Tạ Tỵ (1970), Mười
khuôn mặt văn nghệ, tác giả xuất bản, Sài Gòn.
3. Song Thao, Văn học
số 114 (1/11/ 1970)
4. Huỳnh Hữu Ủy, Ý
Thức số 11(15/3/1971).
5. Jean Paul Sartre
(2016), Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản, Nxb. Tri thức, Hà Nội.
6. https://www.thica.net/.
15/6/2024
Cao Thị Hồng
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét