“Mơ cùng tháng chạp” với Phạm Đào
Phạm Đào sinh năm 1980 là một trong số ít những nhà thơ nữ ở Lai Châu sớm định hình được phong cách sáng tác. Chị sinh ra tại một miền quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng phần lớn cuộc đời và hành trình sáng tác lại gắn bó với mảnh đất Lai Châu. Chính không gian sống ấy đã góp phần tạo nên phong cách riêng cho thơ Phạm Đào: trữ tình, sâu lắng, luôn thấm đẫm nỗi nhớ như một trạng thái cảm xúc thường trực, tự nhiên.
“Mơ cùng tháng chạp” (xuất
bản năm 2022) là tập thơ in riêng đầu tiên của Phạm Đào, sau 3 tập thơ in chung
năm 2017 (Mùa yêu thương, Mùa yêu và Những áng mây chiều). Tập thơ gồm có 78
bài thơ, ở các thể loại khác nhau, trong đó, chủ yếu là sử dụng thể thơ tự do để
thể hiện cảm xúc về tình yêu, tình cảm gia đình và quê hương gắn liền với những
trải nghiệm về đời sống trên hành trình “đi và viết” của nhà thơ.
Nhà thơ Tố Hữu từng khẳng
định: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn”. Quả đúng như vậy, thơ là
tiếng lòng, là tâm tư tình cảm của con người, là phương thức để người viết bộc
lộ thế giới nội tâm của mình. Cho nên, khi bước vào thế giới thơ của Phạm Đào,
người đọc như được đắm chìm trong hệ thống câu chữ giản dị, mộc mạc, giàu hình ảnh
và cảm xúc nhớ thương, da diết của một người con xa nhà dành cho cha mẹ, của một
người vợ dành cho chồng, của một người mẹ dành cho cho con… và đâu đó là tình cảm
chân thành của những người bạn dành cho nhau.
Ở phương diện nội dung tư tưởng, tự thân những sáng tác trong tập thơ đã hướng người đọc đến cái Đẹp của cuộc đời. Đó là, biết trân trọng hơn những khoảnh khắc bên gia đình, biết trân quý những giây phút bên nhau cùng bạn bè, biết yêu hơn những vùng đất ta đã đi qua và hơn hết là biết nâng niu, gìn giữ vẻ đẹp của một tâm hồn đã yêu, đã sống trọn vẹn từng khoảnh khắc trong cuộc đời.
Với “Mơ cùng tháng
chạp”, nhà thơ Phạm Đào nhẹ nhàng khắc vào trong tim người đọc một nỗi nhớ
thương sâu lắng chất chứa trong tâm thức. Nỗi nhớ ấy chính là trạng thái tinh
thần thường trực của cái Tôi trữ tình từng trải, ý thức sâu sắc về giá trị của
gia đình, của tình yêu trong nhịp sống hiện đại. Vì thế, tập thơ dường như đã
chạm đến cảm xúc chung của rất nhiều phận người xa quê lập nghiệp trong thời khắc
cuối năm – tháng chạp – khi mà những đứa con, dù “ăn đâu làm đâu” cũng nao nao
hướng về gia đình, về quê hương với niềm khao khát được sum họp, đoàn tụ.
Vẫn mạch cảm xúc ấy, tập
thơ đã dành hơn nửa số tác phẩm để viết về mẹ, về quê hương, về gia đình. Đây
không phải là sự lặp lại về mặt cảm xúc mà là sự lựa chọn có chủ ý của nhà thơ,
biến thơ ca thành không gian đối thoại với nguồn cội: “Ba mươi tết thêm củi
hồng bếp lửa/ Sưởi ấm lòng an ủi đứa xa quê/ Con nhớ mẹ chẳng thể về bên mẹ/
Khi phút giao thừa tích tắc gọi ngày sang” (Nhớ mẹ).
“Nhớ mẹ” nhưng “Con
không thể chạy về bên mẹ” nên “Ngân ngấn mắt đỏ chiều gọi mẹ/ Quặn thắt
lòng/độc thoại/chỉ mình con”. Dù tháng năm kia có đổi thay thì tình cảm gia
đình vẫn là thứ tình cảm thiêng liêng nhất, thứ khiến con người ta phải trùng lại,
nhìn lại chính mình trên hành trình mưu sinh vất vả. Niềm khao khát được trở về
bên mẹ, nhất là khi mẹ đã tuổi già sức yếu lại trở nên thao thiết trong lòng
hơn bao giờ hết: “Con lại xa nhà tết nữa mẹ ơi/Thấp thỏm lo âu mẹ một mình
cô quạnh”. Có phải vì cuộc mưu sinh vẫn đầy những mệt nhọc, mà con nén
lòng để mẹ vò võ chờ trông? “Vẫn ngày đêm mẹ ngồi bên bậc cửa/ Mỏi mòn
trông ngóng cháu con” (Tết xa quê).
Dường như, Phạm Đào đã
nói hộ tiếng lòng của rất nhiều người con xa quê lập nghiệp xứ người – như chị,
cho nên giọng thơ chị trở nên xót xa, nghẹn ngào, nức nở khi chị viết về mẹ, nhất
là trong những ngày tết đang đến gần. Và từ hình ảnh người mẹ, người đọc đã có
liên tưởng về gia đình, về những khát khao mà mỗi người đang tìm kiếm trong cuộc
đời. Đặc biệt là sự cảm nhận về “vị tết” đang thấm dần trong không gian của những
ngày tháng chạp. “Vị tết” ấy nhắc nhở mỗi chúng ta, hãy tạm gác những lo toan để
gia đình thực sự trở thành nơi để trở về. Đó là cách mỗi chúng ta, giữ gìn truyền
thống và những giá trị tốt đẹp của gia đình.
Truyền thống và các giá
trị gia đình đã trở thành mạch nguồn, bồi đắp tâm hồn cũng như thế giới thơ của
Phạm Đào. Nếu những bài thơ đầu của tập thơ, tác giả dành để thể hiện hình ảnh
người mẹ già chờ đợi đứa con xa quê trở về thì cũng có không ít những bài thơ
Phạm Đào lại dành để nói tiếng lòng của mình với các con. Ở bài thơ “Ngày của mẹ”,
chị dịu dàng: “Một năm có bao ngày/ Đều là ngày của mẹ/ Nếu như “chàng
trai trẻ”/Ngoan, chăm chỉ học hành”. Tình mẫu tử thiêng liêng ấy, còn là nỗi
lo lắng đến mất ngủ trong những ngày “Xa con”: “Xa con mẹ không ngủ
được/ Giờ này con đã ngủ chưa/ Vũng Tàu biển trời trắng xóa/ Phố dài mẹ đếm mưa
rơi”. Qua cảm xúc về mẹ và tình yêu dành cho con, Phạm Đào muốn khẳng định
tình mẫu tử thiêng liêng được nuôi dưỡng qua các thế hệ trở thành vẻ đẹp của
truyền thống của mỗi gia đình Việt Nam. Chính nền tảng ấy, đã góp phần hình
thành nên hồn thơ giàu yêu thương, biết lắng nghe, biết gìn giữ và trân trọng
những giá trị bền vững của gia đình trong nhịp sống hôm nay.
Trong thơ Phạm Đào, tình yêu hiện lên một cách kín đáo, sâu lắng được thể hiện tập trung qua việc xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình em. Với “Mơ cùng tháng chạp”, hình tượng nhân vật em mang dáng dấp của người phụ nữ giàu tình yêu thương, biết thấu hiểu và sẻ chia, gắn bó với gia đình, bè bạn và những miền đất tác giả đã đi qua, đặc biệt là Lai Châu.
Tình yêu mà Phạm Đào thể
hiện ở đây rất đời thường, nhẹ nhàng, lặng lẽ mà ấm áp như chính con người đời
thực của chị: “Em thương em một thuở/ Nặng lòng với mong manh/ Cỏ may tàn
sắc úa/ Đắng đót một bờ mi…” (Thương). Còn có một tình yêu thầm lặng,
nhưng rất mãnh liệt trong thơ mà Phạm Đào muốn dành cho “người tình trăm năm” của
mình: “Chén rượu ngô nâng lên rồi đặt xuống/ Ánh lửa hồng thiêu cháy cả
tình em/ Sao cứ thấy trong lòng bao tê tái/ Khau Vai ơi sao chỉ họp một lần” (Lỡ
hẹn Khau Vai).
Cũng có khi tình yêu ấy lại
là sự hi sinh trong “Tháng mười một” mà chị “Viết tặng Nguyên” –
chồng chị: “Tháng mười một giấu nỗi buồn đáy mắt/ Miên man xanh tán phượng
sân trường/ Lời thơ ấy vang trên bục giảng/ Chạm giấc mơ em viết mãi chưa
thành” để rồi “nửa kia” lại chính là người thực hiện những mơ ước dở dang
của chị “Thì anh hãy giùm em viết nốt/ Màu quê hương qua trang sách học
trò”. Tình yêu có muôn vàn cung bậc nhưng trong thơ Phạm Đào dù là mối tình “lỡ
hẹn” hay một tình yêu trọn vẹn cũng khiến người đọc nhận ra được vẻ đẹp trong
tâm hồn của một người phụ nữ giàu cảm xúc: “Tháng Tám ạ em ngồi nghe trăng
khóc/ Úp mặt vào mây hoang lạnh đêm dài/ Tìm nơi đâu những lưng chừng mùa cũ/
Giữa ngập ngừng nhớ nhớ quên quên…” (Dỗi hơn tháng tám).
Lục Du – một thi sĩ nổi
tiếng thời Nam Tống ở Trung Quốc từng khẳng định: “Công phu của thơ là ở ngoài
thơ”, ý rằng, sức sống và hơi thở (những cái “ở ngoài thơ”) vẫn luôn được người
nghệ sĩ gây dựng qua những hành trình sáng tạo, để những “đứa con tinh thần” của
mình chứa đựng những “công phu” như một sự “nối dài sinh mệnh cho thi phẩm”.
Hay nói cách khác, ông muốn nhấn mạnh mối quan hệ của nghệ thuật với trải nghiệm
cuộc sống là căn cốt để tạo nên những bài thơ hay. “Mơ cùng tháng chạp”,
có phân nửa số tác phẩm Phạm Đào viết về những vùng quê, những miền đất, những
địa chỉ văn hóa hoặc là gắn liền với nơi chị sống, hoặc là chị đã từng đến thực
tế, trải nghiệm trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình.
Trước hết, là dấu ấn của
Than Uyên – nơi nhà thơ sinh sống đã trở thành một “tọa độ cảm xúc” trong đời sống
nội tâm: “Gọi tên miền đất gió/ Xanh lúa cánh đồng mường/ Gió lao xao bản
Chát/ Gọi mùa hoa Mường Cang” (Với Than Uyên). Không chỉ thế, thơ Phạm Đào
còn là một “chỉ dẫn địa lí” hấp dẫn đối với người đọc khi đến vùng đất nào chị
cũng ghi lại cảm xúc về vùng đất ấy. Đó lá “Lỡ hẹn với Mường Tè” nên “Rưng
rưng nhớ trắng biển trời Tà Tổng/ Cúc quỳ vàng chưa ong bướm đã tìm về/ Mù Cả gọi
những hạt vàng no ấm/ Vương trong tim ánh mắt bé Hà Nhì”; có khi đó
là “Đêm Nậm Mu”: “Đêm Nậm Mu tôi như kẻ đi hoang/ Hương ký ức dập dìu
trong lời hát cũ/ Cỏ may úa tàn khi mùa đông trú ngụ/ Ý thơ ban chiều lạc lõng
chốn mù khơi”; có khi là “Thương nhớ Sìn Hồ”: “Đã xa rồi Sìn Hồ thương nhớ/
Xa Hồng Thu cỏ xanh ngọt lưng trời/ Suối róc rách bốn mùa gọi nhớ/ Lao Lử Đề mướt
đá rêu xanh”. Vì yêu mà đến, vì yêu mà ở lại, với Phạm Đào, Lai Châu thực sự là
một miền quê như thế!
Ngoài những miền đất nhớ
của Lai Châu, thơ Phạm Đào còn đong đầy cảm xúc với những vùng đất khác nhau
trên đất nước: Vũng Tàu, Thành cổ (Quảng Trị), Mỹ Sơn, Côn Đảo… Chính những trải
nghiệm thực tế này cho thấy sự nhạy cảm tinh tế trong tâm hồn của nhà thơ. Những
trải nghiệm ấy đã được trữ tình hóa, lắng đọng thành nỗi nhớ, suy tư về thân phận
và sự gắn bó của con người với không gian sống. Sự đan cài giữa cảm xúc cá nhân
và cảm thức vùng miền đã tạo nên độ mở cho thế giới quan trong thơ Phạm Đào. Vì
thế, mỗi một lần đọc “Mơ cùng tháng chạp” là thêm một lần người đọc
thấu cảm hơn với những rung động mãnh liệt của nhà thơ. Sự thấu cảm ấy chính là
“cái nhụy của cuộc sống” (Phạm Văn Đồng) mà người cầm bút muốn dâng cho cuộc đời.
Có thể nhận thấy, với tập
thơ “Mơ cùng tháng chạp”, Phạm Đào đã kiến tạo được một thế giới thơ giàu
chất trữ tình, chinh phục người đọc bằng độ lắng cảm xúc, bằng sự chân thành và
ý thức gìn giữ các giá trị truyền thống trong nhịp sống hiện đại. Bằng giọng
thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, giàu yêu thương, Phạm Đào gửi gắm niềm tin vào sức mạnh
của tình mẫu tử, của ký ức quê nhà và của những tình cảm gắn bó chân thành trở
thành điểm tựa tinh thần giúp con người đi xa mà không lạc hướng, hội nhập mà
không đánh mất chính mình.
27/1/2026
Châm Võ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét