Những bài báo của
Vũ Bằng trong năm 1945
Dưới đây tôi giới thiệu lại trên một chục bài Vũ Bằng viết và
đăng tuần báo ‘Trung Bắc Chủ Nhật’ ở Hà Nội từ tháng 3 đến tháng
9/1945. Đó là thời gian của những sự kiện quốc tế như tin Hitler tự tử, nước Đức
quốc xã sụp đổ, phe Đồng Minh thắng lợi và kết thúc thế chiến thứ hai; cũng là
thời gian của những sự kiện ở ngay trên đất Việt Nam như quân Nhật ở Đông Dương
làm đảo chính, quân Pháp thua chạy, vua Bảo Đại lập nội các “Việt Nam Đế quốc”,
rồi Việt Minh làm cách mạng tháng Tám và thành lập nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà, − bấy nhiêu sự kiện đều hoặc được ghi nhận bằng kiểu ký sự, phóng
sự, hoặc bằng kiểu tùy bút, bình luận, tóm lại ít nhiều đều có hồi âm trong các
bài báo viết và in ngay đương thời của Vũ Bằng.
Những ai có quan tâm đều biết, từ rất lâu rồi, để minh chứng
phản xạ của giới nhà văn Việt Nam đối với các biến cố xã hội 1945-46 trong và
ngoài nước, giới nghiên cứu mới chỉ có được trong tay rất ít, nói đúng ra là
quá ít tài liệu cụ thể. Trong những cuốn giáo trình văn học sử của Đại học sư
phạm Hà Nội hoặc Đại học tổng hợp Hà Nội soạn hồi những năm 1960-70, chỉ thấy
người ta dẫn ra được tuỳ bút Vô đề của Nguyễn Tuân hoặc bút ký Đường
vô Nam của Nam Cao. Mà ở cả hai bài ký ấy người ta chỉ đọc thấy thái độ của nhà
văn chứ hầu như không thấy bóng dáng đời sống sự kiện hiện thực đương thời.
Vậy mà, như kết quả sưu tầm của tôi cho thấy, trên Trung
Bắc chủ nhật, chỉ trong năm 1945, Vũ Bằng có trên một chục bài thuộc loại
đề tài nói trên.
Ngày nay, bằng vào đó, chúng ta có thể coi ông như một trong
những nhân chứng của các biến cố lớn trong năm 1945, hơn nữa, là một trong những
nhân chứng hiếm hoi và nặng ký.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
L.N.Â.
GÁNH CHUNG VIỆC NGHĨA LIỀU RA MẶT
Họ làm việc nghĩa và chúng tôi đã thấy mặt họ đêm thứ bảy vừa
rồi. Không phải ai xa lạ. Toàn là các bà nổi tiếng về cung đàn nhịp phách. Vạn
Thái, Khâm Thiên, Ngã Tư. Bà Hồ, bà Hậu, bà Phúc, bà Năm, bà Sen, bà Liên, bà
Bích. Những mặt quen biết cả. Thưa các ngài, muốn gặp mặt các bà để nói một câu
chuyện văn chương hay nghe một bài cung bắc, các ngài cứ việc xuống chơi nhà.
Nhưng gặp mặt được đủ các bà ở một nơi, cùng một giờ, cùng làm chung một việc,
này, xin thú thực là chưa bao giờ tôi được thấy.
Thấy được hôm vừa rồi, ấy là vì các bà “liều” (1). Liều ra mặt. Liều ra mặt trên sân khấu
Nhà hát Lớn. Cái công việc đã hội họp tất cả các bà lại ở đây có một mục đích
đáng yêu và đáng phục: cứu giúp đồng bào đói rách và mua quà tặng quân lính Nhật
bị thương.
Ý kiến của ban tổ chức: tuyệt.
Quả phúc của các bà: to.
Các ông đi xem: hả.
Xin thành thực mừng các bà. Thử một keo, thành công ngay lập
tức. Thì chúng ta vẫn biết rằng các bà từ xưa vẫn có tài tổ chức hơn đàn ông
chúng mình.
Thôi, im đi, đừng cười. Màn mở đây kia. Mười sáu cô tố nữ đứng
ở sau một cái quạt to, ló mặt ra chào các quan. Áo voan lóng lánh trang kim.
Hoa trắng quàng tóc. Bít tất trắng. Quạt, một mặt vàng, một mặt chấm đỏ, cầm
tay. Các cô múa, các cô hát, các cô vừa múa vừa hát, các cô vừa hát lại vừa múa
nữa.
Vé hạng nhất, nghe như bán có năm mươi đồng. Ông nào có nhân
tình trong bọn mười sáu cô này, phải trả một ngàn đồng để xem cuộc bắt bài này,
chắc không cũng tiếc, rên.
Cứ múa nữa đi các em. Bắt bài lối mới, trông tình lắm. Trước
bắt mười sáu cô như thế này, chỉ có vua xem. Thường chỉ có tám. Các người bắt
bài phải đội mũ vận xiêm, đeo hai đèn hai bên vai. Phiền lắm. Bắt lối tân thời,
có vẻ bình dân, nhẹ nhàng. Ánh sáng đổi màu. Tà áo rung rinh. Thật chả khác mười
sáu con bướm con ra ràng. Đáng tiếc một điều là các cô hát hơi nhỏ. Không. Các
cô hát không nhỏ đâu. Ấy là tại tiếng trống cầm khí to. Nhỏ đi một chút, không
ra răm thì tốt. Giá tiêu lại lên tí nữa, còn hay đáo để. Tuy vậy, không sao. Cứ
trông thấy các cô múa hát người ta cũng đã muốn rồi. Muốn xem hết buổi diễn từ
đầu đến cuối.
Sau khi bà Bạch Liên dạo mọt bản đàn tỳ và bà Quách Thị Hồ
ngâm một bài thơ bát cú giáo đầu, đến vở chính: Lưu Bình – Dương Lễ.
Tại sao lại Dương Lễ – Lưu Bình? Ta
phải tìm ban tổ chức.
Bà Hồ, để râu theo lối MacDonald, uốn tấm thân “liễu bồ”
thành cái thế võ “lường sà pát pảo”, bảo tôi:
– Tôi đố ông biết đấy.
– Tôi cam đoan rằng nếu có ai bắt tôi đoản hai mươi năm
thọ thì đành, chứ đoán những cái bí mật của các bà ra thì chịu.
Bà nói:
– Vậy thì được, tôi bảo cho mà biết. Chọn diễn vở chèo cổ Lưu
Bình – Dương Lễ chúng tôi không phải là làm một việc cao hứng nhất thời
đâu. Nguyên bà Năm và bà Phúc ở nhà vẫn thường đóng hai vai Dương Lễ và Châu
Long. Chị em tôi nghĩ ngợi. Và một ý tưởng này đã xuất hiện ở trong đầu óc
chúng tôi: Ừ phải, tại sao nhà xuất bản sách bán sách để cứu dân nghèo đói, nhà
làm thuốc quyên thuốc để phân phát đi các trại, nhà làm báo viết báo để hô hào
người ta quyên tiền, mà chúng tôi hi sinh cho nghề hát lại không thể lấy tiếng
hát ra làm việc nghĩa? Chúng tôi nhất định chơi vở Lưu Bình – Dương Lễ.
Tôi xin cái vai hề của Dương Lễ là vai tôi ưa nhất cũng như bà Hậu xưa nay
thích cười cợt đứng nhận vai tiểu đồng của ông Lưu Bình. Tiên sinh tính, nếu
người ta không cười cho vui thì cuộc đời này buồn biết bao nhiêu.
Bà Hồ vẫn đẹp và vui như ngày trước.
Nghe câu bình phẩm về cái vui, cái buồn của cuộc đời, tôi chợt
nhớ đến một đêm thu xanh ở một kỹ viện V.T. vào quãng bảy tám năm về trước:
chán ngấy tỳ bà, cung bắc, Hồ thủ vai Đào Hiếu và chúng tôi đã lăn cả ra mà cười.
Bà này cười khoẻ mà làm cho người ta cười dễ. Thủ cái vai tiểu đồng chắc khá.
Vai này quả đã làm nổi tối hát đêm thứ bảy vừa rồi. Tự nhiên, pha trò khá. Duy
có một điều hơi tiếc là giọng bà là giọng kim, bà không làm bật được bài Trấn
thủ lưu đồn xưa nay tôi vốn thích. Bài này hát to lên mà làm cho toàn thể
đượm một vẻ buồn xa vắng, thì còn thú biết bao nhiêu!
Bà Hậu sắm cũng tài. Bà Liên, bà Bích, bà Phúc, bà Sen, bộ
nào ra bộ ấy, lịch sự lắm, được nhiều phen tán thưởng. Bà Phúc hát yếu. Bà Năm
hát công phu. Giọng hai bà vẫn tốt, hát nhiều điệu lạ và hay. Kể trong chị em,
lấy hai người khác để hát thay những giọng rất khó như vai Lưu Bình và Châu
Long, dễ không bà nào hơn được. Kể cả bà Sen nữa.
Hoa sen, độ này đương mùa nực, tha hồ mà phô sắc khoe hương. Ở
gần bùn, không chịu hôi tanh mùi bùn. Cứ vượt lên, nghĩa là cứ cố ngoi lên mặt
nước để đứng cho thật thẳng. Ở trên sân khấu cũng vậy, bà Sen đứng lúc nào cũng
thẳng tắp, rõ ra một ông quan lớn. Xưa nay một số quan vẫn thế mà. Ngày
thì quan lớn như thần, đêm thì quan lớn tầm ngầm như ma. Bà Sen đã lột được tâm
lý một ông quan vậy. Cái tiếng của bà chọn để đóng cũng khéo. Trịnh trọng mà
chua. Gắt mà lại như mơn trớn. Giá có vở Kiều để đóng Hoạn Thư thì có
lẽ không ai ăn được bà.
Có cần phải nói thêm rằng hai bà Liên và Bích đóng vai vợ cả
và vợ hai Lưu Bình, từ bộ điệu đến giọng hát, đều vững chắc như thành? Bà Bích
hát có vẻ “buôn giọng”, bà Liên thì lười nhưng ta phải thành thực khen rằng chững
chạc. Hai bà đã hát to nhất trong cả đoàn. Các bà khác hát hơi nhỏ, nghe không
được rõ. Đó không phải là một điều chê. Trái lại. Các bà là đàn bà kia mà, ăn
nói mềm mỏng chứ có phải sinh ra để làm những việc xấu xí như hét vào tai người
ta đâu. Đóng cửa lại, êm ấm với nhau để cho các bà rỉ tai ta mà hát, đó mới thật
là sở trường của các bà. Vả lại, nghĩ đi phải có nghĩ lại. Các bà không phải là
voi. Các bà mệt chứ. Nghe lời ban tổ chức kể lại, tự lúc tập cho đến lúc diễn,
có ngót hai tháng trời. Nay diễn thử mai đóng thử, này học vở cho thật chứ, này
chơi cái vai của mình cho thật đúng, rồi lại ông dàn cảnh này bắt bẻ, rồi lại
nhà hoá trang kia làm tội làm tình trong khi kẻ một cái lông mi, ngài đã thấy mệt
chưa? Mà hàng ngày lại còn phải làm ăn buôn bán nữa, sai bảo kẻ ăn người làm nữa,
nói chuyện nói trò, bán vé bán viếc nữa, tôi bảo thật, nếu phải địa vị các ông
thì đã mệt lử thở chả ra hơi rồi!
Vâng thật thế! Đứng trước tấm lòng quý hoá của các bà, tôi nhận
thấy rằng tất cả mọi người đều quy phục. Việc bán đấu giá theo lối Mỹ một bó
hoa la-dơn và cái lọ cổ (chưa vỡ) được đến hai vạn đồng là một bằng
chứng thành thực tỏ rằng người ta hoan nghênh hết sức công việc và tối hát của
các bà. Ước ao rằng các bà vì việc nghĩa sẽ còn đứng ra tổ chức những cuộc vui
hứng thú như thế nữa để tỏ rằng trong những đêm sung sướng người ta bao giờ
cũng biết nghĩ đến những kiếp vận buồn rầu, trong những lúc đàm đạo với những
ông no đủ, các bà vẫn không quên những đồng bào nghèo khó.
Thưa các bà, bao giờ các bà cho chúng tôi xem vở Đào Huế,
Tuần Ty?
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 243 (6/5/1945)
HITLER ĐÃ NGÃ![a]
Đó mới thực là một điều ít thấy.
Một người ở Âu chết mà bên này Á không vui. Tôi không biết
tin thế giới đón cái chết của vị Quốc trưởng Đức thế nào; riêng mắt tôi thấy có
nhiều người Việt Nam không để ý đến chuyện quốc tế, đọc cái thời sự
trên, cũng không được bình tâm lắm.
Người ta tiếc một đấng anh hùng.
Không. Tôi không nghĩ ngợi về chủ nghĩa này hay chủ nghĩa nọ ở
đây. Mà cũng chẳng nói chuyện về chủng tộc. Tôi muốn nói về người. Người đội trời
đạp đất. Người với tất cả sự lớn lao của sức sống. Người với một nghệ thuật chết
cao siêu.
Đến bây giờ ai lại còn không biết rằng người ta sinh ra ở đời
không phải để sinh ra rồi bệnh rồi già rồi chết. Sống là một cái gì khác thế.
Làm trai đứng ở trong giời đất, ta phải “làm được một việc gì” với núi sông. Tiền
bạc, hạnh phúc, ấm no đều là những đám phù vân đến rồi đi. Chỉ có cái gì dài,
chậm và trường cửu mới chính là đời, là sống. D.H. Lawren có chỗ đã nói rằng:
“Chỉ có cái gì kéo dài ra trong cuộc sống mới là đáng kể. Tôi coi trọng chính
cái sự sống của tôi, sự bất tận của nó và sức bành trướng vô cùng của nó”.
Biết nghệ thuật sống không phải là một việc làm vừa sức của mọi
người. Lý Thái Bạch, thi sĩ, có một nghệ thuật sống phong phú vô cùng, nhưng
Hitler cũng là một thi sĩ vô cùng phong phú. Ông là thi sĩ của mạo hiểm, và một
nhà thi sĩ dũng mãnh làm sao! Sống như Lý Thái Bạch là thuận theo lẽ trời, sống
như Hitler là thi gan với trời. Trời có xếp đặt những bước gay go cho mấy, cũng
cứ tiến lên không cản. Đẹp đẽ nhường nào, anh hùng xiết bao. Sự bền gan cố chí
của ông là một bài học mà thanh niên học hết cả một đời không xuể. Học cả cái sống
và cả cái chết của ông.
Ai lại còn không biết từ lúc hãy còn làm tên thợ ngoã, ông đã
biết hy sinh cho chủ nghĩa? Rồi đến những cuộc diễn thuyết cho đảng Quốc xã, rồi
đến những ngày đảo chính, rồi đến những công cuộc cải tạo nước Đức thành một nước
mới và mạnh. Bao nhiêu công việc, Hitler sở dĩ làm được, là nhờ cái tài làm thủ
lĩnh, đã đành; nhưng chính do ông đã biết tin tưởng vào sức mình, vào tương lai
quốc gia, vào “giòng giống của những đấng thiên thần” vậy.
Tôi không có đủ sự bao súc và óc kinh nghiệm để bảo rằng chủ
nghĩa quốc xã của Hitler là lầm lạc, nhưng không ai giấu được rằng từ khi ông
làm Quốc trưởng Đức, quả thực là thế giới đã bị nhiều lúc thất điên bát đảo. Đừng
nói rằng thời thế tạo anh hùng. Hitler chính đã tạo ra thời thế. Nói một câu được
một nước. Sar, Autriche, Tchécoslovaquie. Đánh chỗ nào cầm chắc cái thắng ở
trong tay: Pologne, Danmark, Norvège, France, Yougoslavie, Roumanie,
Hongrie, Bulgarie. Nhưng mà thua được ở đời này có nghĩa gì đâu. Chiến tranh chỉ
là một món thể thao vĩ đại. Cái sướng của Hitler có lẽ chính ở chỗ đã thấy mình
sống cho nghĩa vụ, cho chính kiến, cho lý tưởng, chứ không phải để thoả lòng
tham bỗ bã của mình. Ngày mà lòng ông thoả mãn nhất, có lẽ chính là ngày ông đã
cứu được người cùng chủ nghĩa là Mussolini ra khỏi tay quân Anh Mỹ. Cứ chỉ đó,
ngay hồi ấy tôi đã viết rằng ít khi có thấy ở phương Tây.
Có ai biết sự phản động của Anh Mỹ trước cái cử động đó thế
nào không? Riêng tôi thấy rằng ở nước ta hồi đó những người không ưa Hitler mấy
cũng không nói vào đâu được. Cho mới biết những cử chỉ anh hùng thì bao giờ
cũng ở trên hẳn những tư tưởng ươn hèn; người ta có thể ghét một chủ nghĩa một
cá nhân một đảng phái, nhưng đến những ý nghĩ nhân nghĩa quân tử, những hành vi
khảng khái anh hùng thì ai cũng sợ ai cũng phục.
Cái chết của Hitler bây giờ cũng vậy.
Trung thành với lý tưởng muốn cứu các dân tộc Âu châu khỏi
vòng cộng sản, − đây là nói theo lời vị quốc trưởng mới của Đức là Kurt Domitz,
− Hitler đã không ngần ngại mạo hiểm, hi sinh cả tính mệnh đi và đã ngã một
cách vô cùng oanh liệt. “Vị anh hùng lớn nhất trong lịch sử Đức” từ giã cõi đời
ở đại bản doanh đóng ở Berlin, chết với đất nước của mình, chết với quân
lính và bè bạn của mình. Chết như thế thật là đẹp quá. Bác sĩ Goebbels phải đi
theo ông sang cả thế giới bên kia; sau cái tin Hitler mất, hãng thông tấn ở
Moscou chính thức báo tin bác sĩ Goebbels, bạn thiết của Hitler, tổng trưởng bộ
tuyên truyền Đức cũng tự tử, bỏ rồi đời. Phương Đông ta những chuyện liều mình
với nước như thế xưa nay không hiếm. Ta không thể kể hết những thí dụ như thế ở
thời Chiến Quốc Xuân Thu nước Tàu. Ở Ấn Độ giống thực dân Hoà Lan đánh lấy
Baty, hơn ba vạn dân thấy cái thế vong quốc đã rõ ràng, mặc áo trắng xếp hàng
theo vị rajah ra trận. Vị rajah cười mà chết cho nước, dân
chúng đi theo lấy những cái kiss sắc bén đâm vào cổ, mổ bụng ra tự tử.
Nước ta có ai không nhớ chuyện các ông Võ Tính, Ngô Tùng Chu, Hoàng Diệu tuẫn
tiết theo thành! Thật là những tấm gương sáng cho ngàn đời soi chung vậy.
Quốc trưởng Hitler không tự tử nhưng mà chiến đấu tới cùng ở
bên cạnh quân lính, chiến đấu tới cùng để bênh vực lý tưởng của mình. Một nước
có một người con như thế, không bao giờ chết được. Nước Đức đang thua, nước Đức
có thể tan nát hết, nhưng Hitler vẫn còn trên sử sách; vạn tuế Hitler, tên quân
anh hùng của Đức. Mussolini ở bên kia cõi đời, sẽ phải ghen số phận với ông. Có
người bảo rằng Mussolini bị bắt trong khi chạy trốn với nhân tình, lại có tin bảo
ông bị bắt trên giường bệnh. Thanh niên Milan đem phanh thây ông và
bêu xác ông trong một ngày. Ý chừng cũng như người xưa bêu xác Ngũ Viên ở trên
cửa Bàn Môn. Nhưng có một điều khác là người xưa dã man hơn nhiều nên chỉ bêu
cái đầu Ngũ Viên thôi, còn thi thể thì đem bỏ vào cái chiếu làm bằng da ngựa,
sai người quẳng xuống sông Tiền Đường. Ngày nay người ta văn minh hơn nhiều nên
bêu cả cái xác chết của Mussolini lên mặt thành Milan.
Danh vọng về chiều. Chỉ có sự nghiệp là cần. Cái chết đâu
đáng kể. Nhưng Mussolini vẫn có thể cứ ghen cái chết của Hitler, chết ở hàng
ngũ, chết trên mặt trận. Có bao nhiêu người ở đời này muốn chết như thế mà
không được? Chứng cớ: trong ba năm nước Pháp bị mất nước tới hai lần, mà ta có
nghe thấy một ông tổng thống hay một vị tổng trưởng, thứ trưởng nào chết ở trận
như Hitler hoặc tuẫn tiết như Ngô Tùng Chu, Hoàng Diệu và Goebbels?
Có chăng ta chỉ nghe thấy tên cao ly bán sâm Reynaud vác
va-li vàng quàng chân lên cổ chạy trốn, tên bán thịt người Daladier bắt cóc
nhân tình phới cho nhanh và ông tổng thống khóc thuê là Lebrun vuốt cặp bộ râu
quặp rông đi cho sớm.
Ngày xưa, cái phép nước Sở, kẻ sai đánh giặc thua thì phải chết,
nhưng ngày nay thì cần gì! Chỉ người anh hùng mới được phép chết anh hùng. Tôi
lại muốn nói chỉ có người anh hùng mới biết quý cái chết của người anh hùng mà
thôi. Thời Chiến Quốc, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ, quân sĩ xúm vào định giết Yêu
Ly. Khánh Kỵ cố sức gạt đi mà bảo rằng: “Người này là dũng sĩ, chớ nên để cho
trong một ngày mà làm chết hai kẻ dũng sĩ trong thiên hạ”. Yêu Ly trả lời:
“Công tử tha ta, ta cũng không tham sống làm gì. Ta đã giết mất một người dũng
sĩ”. Nói rồi chặt bỏ châm đi, tự đâm cổ mà chết theo Khánh Kỵ. Lại như Dự Nhượng,
báo thù cho Tri Bá, đi tìm Triệu Vô Tuất để giết hai lần không được và bị quân
của Triệu bắt. Triệu Vô Tuất bảo rằng: “Người này là nghĩa sĩ, ta không nên giết
kẻ nghĩa sĩ”. Đến lần thứ ba, Triệu Vô Tuất lại bắt được Dự Nhượng, cởi thanh
kiếm để cho Dự Nhượng tự tử. Dự Nhượng xin với Triệu Vô Tuất cho phép đánh vào
cái áo bào của Tuất rồi có chết cũng hả; Tuất chiều theo ý muốn. Dự Nhượng nhảy
lên ba lần đánh ba roi vào áo bào của Tuất rồi cầm gươm tự tử. Vô Tuất rất
thương xót Nhượng, một kẻ đã toan ám sát mình ba bận, và truyền thu táng cho tử
tế. Đến đời Tam Quốc hỏi có cái chết nào làm cho ta cảm động hơn cái chết của
Chu Du? Quân lính đem ma Chu Du về Sa Kỳ, Quyền khóc vang lên: Khổng Minh và
Chu Du là hai kẻ địch, mà Khổng Minh cũng tìm về Sa Kỳ viếng tang. Đến nửa đường,
nghe tin Lỗ Túc đã rước ma Chu Du về Sài Tang, Khổng Minh lại đến ngay tại đó,
sai thiết linh vị, thân rót rượu quý xuống mà khóc “thương người có tài, văn võ
kiên toàn, trăm thảm nghìn sầu kể sao cho xiết” và lại phàn nàn rằng từ rày
thiên hạ ai kẻ tri âm?
Từ xưa vẫn thế, giời đã sinh Du vẫn thường sinh ra Lượng.
Nhưng ở thế kỷ này có còn ai là Khánh Kỵ nữa không? Có còn ai là Triệu Vô Tuất
nữa không? Có còn ai là Gia Cát Lượng nữa không?
Ngoài cái tin của hãng Reuteurs báo tin rằng: “Cái chết của
Hitler chỉ là cái mưu mẹo dùng để lẩn trốn khỏi sân khấu xã hội”, tôi chưa nghe
thấy có một tin gì báo rằng Anh Mỹ Nga gửi điện tín chia buồn cùng nước Đức hay
tạm nghỉ đánh nhau trong nửa giờ…
Chỉ có ở nước Đức, trong một giờ, tất cả dân chúng đã lặng im
khóc vị anh hùng lớn nhất trong lịch sử của họ. Khóc bằng một bài đàn Buổi
hoàng hôn của những vị thiên thần.
Lấy tư cách là người chúng ta ở bên này châu Á cũng muốn cúi
đầu trước anh hồn của Ngài với một lòng kính mến sâu xa!
… Như Hitler, lúc mới vào được nước Pháp, đứng cúi đầu trước
mộ Nã Phá Luân đệ nhất…
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 244 (13/5/1945)
QUỐC KỲ
Ba việc mà Nội các bắt tay vào làm ngay là chọn quốc hiệu,
nghĩ quốc kỳ, tìm quốc ca.[a]
Quốc hiệu ta là Việt Nam. Quốc ca đang đặt. Còn quốc kỳ,
theo một tin trước, toàn một màu vàng. Nhưng theo một tin Domei mới đây
thì đức Bảo Đại vẫn chưa ưng chuẩn.
Ai lại còn không biết rằng quốc kỳ là biểu hiện tinh thần một
dân tộc, một quốc gia, vậy ta không thể cẩu thả được.
Có người cho rằng màu vàng, theo luật quốc tế, là màu bệnh tật.
Sự thực, màu vàng và hai ô đen mới là màu báo bệnh tật truyền nhiễm; cờ toàn
màu vàng là một dấu hiệu tỏ ra rằng tàu phải đỗ bốn mươi ngày mới được vào bờ.
Nghĩa là phải đợi.
Nước ta muốn tiến, không muốn đứng, − bởi vì đứng là lùi, −
không thể dùng được sắc toàn vàng làm quốc kỳ.
Có người, trái lại, lại cho rằng theo luật hướng đạo quốc tế,
thì màu vàng tỏ sự chớm nở, sự bắt đầu của một cuộc đời, sự sinh sống, cũng như
màu xanh biểu hiện thiên nhiên và màu đỏ là màu hy sinh quyết liệt. Vậy dùng
màu vàng cũng được không sao.
Bên nào hữu lý? Gác chuyện ý nghĩa của màu sắc theo luật quốc
tế, ta để ý nhìn vào thực sự xem sao. Đối với nhà mỹ thuật, màu vàng là màu quảng
cáo, nhưng cứ mắt nhiều người trông thấy thì những lá cờ vàng treo trong các phố
gần đây gợi cho ta một ý buồn tẻ phẳng lặng không được vui mắt hứng khởi lòng
cho lắm. Màu vàng không “thực thà”. Những cờ đó, dãi dầu mưa nắng, sẽ phai đi
và thành ra màu gì? Màu trắng. Có ai lại muốn rằng khắp nước ta sẽ treo cờ màu
trắng cả không? Đó là màu cờ hàng. Buồn lắm. Xét về phương diện nhiếp ảnh, những
lá cờ màu vàng, dù là vàng thẫm, một khi lên ảnh, cũng không có gì làm vui mắt
ta hơn. Bởi vì lên ảnh màu vàng hoá ra màu xám. Ta muốn vui mà sống, mạnh bạo
mà hy sinh cho tổ quốc chứ có muốn quanh năm suốt đời buồn thảm đâu.
Vì những lẽ đó, nhiều người bàn rằng không nên dùng cờ sắc
toàn vàng, cũng như ta không nên dùng cờ giữa đỏ hai bên vàng của Pháp chế ra hồi
trước đây. Cờ vàng có tua chung quanh, viền hai chỉ đỏ, giữa có mây và rồng
xanh là cờ cúng lễ, không thể dùng làm quốc kỳ được.
Theo chỗ biết của chúng tôi thì hiện nay chánh phủ Việt Nam đang
nghĩ về chuyện đó và có nhiều người gom góp nhiều ý kiến khá hay. Người thì chủ
trương dùng màu đỏ viền vàng, lấy cớ dân tộc Việt Nam quyết liệt hy
sinh mà vẫn giữ được cái tiêu biểu tinh thần của nước Việt Nam từ hai
ngàn năm trước. Người thì chủ trương cờ đỏ ba sao vàng, lấy cớ rằng ba sao là
ba kỳ, ba kỳ hợp nhất để quyết liệt hy sinh cho đất nước.
Đáng để ý, còn ý kiến của ông tá lý Nguyễn Đình Lân, tòng sự
tại viện bảo tàng Khải Định (Huế). Ông Nguyễn lấy bốn câu thơ “Nam quốc
sơn hà nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai
xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” của Lý Thường Kiệt làm đích và
chủ trương rằng quốc kỳ nên đặt theo ý nghĩa hai câu thơ đó. Thụ mệnh nơi trời.
Hy sinh cho nước. Và ông chủ trương nên lấy màu đỏ và màu xanh làm quốc kỳ, ý rằng
màu xanh là màu thiên nhiên, màu trời, còn màu đỏ, màu máu, là màu hy sinh cách
mệnh.
Ý nghĩa cũng hay, nhưng màu xanh đi với màu đỏ “giết nhau”,
dưới con mắt nhà mỹ thuật. Không biết các nhà cầm quyền đối với ý kiến của ông
Nguyễn Đình Lân ra thế nào?
Quốc kỳ nên dùng màu sắc gì? Đỏ, sao vàng; đỏ viền vàng; xanh
và đỏ hay xanh, đỏ viền vàng?
Đã đành việc đó là việc của chánh phủ giải quyết, nhưng các tầng
lớp dân chúng, nhất là các nhà mỹ thuật, cũng nên góp gom ý kiến vào. Quốc kỳ
phải có ý nghĩa, đã đành; nhưng việc chọn lựa xếp đặt màu sắc cho nhịp nhàng,
cũng cần phải để ý cho đẹp mắt, để cho người ngoại quốc có một cảm tưởng tốt về
dân tộc mình.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s.245 (20/5/1945)
TỪ VIỆC DÙNG VIỆT NGỮ TRONG KỲ THI SƠ HỌC BỔ TÚC ĐẾN VIỆC SOẠN
SÁCH GIÁO KHOA CHO CÁC TRƯỜNG
Câu chuyện cửa miệng của mọi tầng lớp dân chúng lúc này là việc
dùng Việt ngữ trong kỳ thi sơ học bổ túc từ trong Nội các đưa ra. Không ai có
thể tưởng tượng được tin đó đã làm yên lòng dân thế nào. Từ hôm đảo chính đến
nay, nhà nào có con em đi học cũng băn khoăn về việc đó. Cho học tiếng gì? Để
thi cái gì?
Tin dùng Việt ngữ để học và thi lan ra chưa được mấy hôm thì
trong thành phố đồn đi rằng có một bọn người lén lút vận động cho cứ phải thi
chữ Pháp. Có hay không? Sự hoài nghi nặng nề thêm, cái sống mù mịt quá, người
ta chán nản và buông tay chờ đợi.
Nhưng ngay từ bây giờ người ta đã biết rằng phải làm thế nào
rồi. Tôi vừa đi sáu tỉnh vùng xuôi về và tôi đã lượm lặt được rất nhiều ý kiến
của các bậc phụ huynh có con em đi học. Không một người nào lại có thể tưởng tượng
được rằng các nhà đương chức lại ưng chuẩn được lời yêu cầu của bọn vận động
lén lút kia. Không một người nào bằng lòng việc dùng chữ Pháp trong kỳ thi Sơ học
bổ túc. Không một người nào bằng lòng cho con em họ dự kỳ thi đó, nếu không cho
thi bằng Việt ngữ.
Ai cũng biết rằng nền độc lập của nước ta chưa hoàn toàn. Ta
còn phải làm việc nhiều để củng cố nó. Nhưng người Việt Nam, trong tất cả
các tầng lớp, đã biết rõ lắm rồi. Biết rằng người Việt thì phải dùng Việt ngữ
chứ không thể lấy lẽ gì mà bắt học tiếng Pháp nữa, bởi vì đó là cái học mất nước.
Hồi mồ ma chính phủ Pháp, họ chia việc học ở nước ta làm bốn
bậc: ban Sơ học, ban Cao đẳng Tiểu học, ban Trung học và ban Cao đẳng đại học.
Mục đích không có gì khác hơn là kéo dài niên khoá ra để làm tê liệt sức phát
triển của học sinh. Thế rồi thì bó buộc những thí sinh bằng tú tài phải học đủ
ba năm! Thế rồi thì bó buộc những thí sinh Cao đẳng tiểu học phải bốn năm học
khoá! Thế rồi chia ban Sơ học làm tiểu học và sơ cấp, chương trình không khác
gì nhau!
Tuy vậy bao nhiêu cái ác ý đó đều không thấm vào đâu với cái
mưu thâm họ dùng để làm mất hết cái bản chất của dân mình. Chưa học hết Việt ngữ
đã bắt học chữ Pháp. Chưa học sõi chữ Pháp đã học thuộc lòng “Tổ tiên ta là người
Gô-loa” và yên trí thế rồi ra sức mà học về những kỳ công của người Pháp đã ban
cho dân bảo hộ!
Thật là đau đớn ê chề.
Một người biết tự trọng, đi ngoài đường, gặp một người bị đè
nén áp bách thấy có bổn phận phải ra tay can thiệp mà không mong có lợi lộc gì.
Một nước cũng vậy!
Tôi không thể tưởng tượng được rằng một nước mạnh, thấy tình
cảnh nước ta như thế mà lại đành làm lơ hay là giúp cho kẻ bóc lột làm hại ta
thêm tầng nữa.
Người ngoại quốc đối với ta còn thế, huống chi chính ta đối với
ta. Phải hăng hái đánh đổ sự vận động lén lút kia, phải chiến đấu cho Việt ngữ,
phải đòi cho được thi bằng Việt ngữ, đó là khẩu hiệu chung của nước Việt Nam hiện
giờ. Khẩu hiệu đó, các tầng lớp dân chúng đã hô rồi, còn đang hô và sẽ hô mãi
mãi.
Tôi không bao giờ lại chủ trương không nên học tiếng Pháp. Tiếng
gì cũng nên học, học tiếng Pháp, học tiếng Anh, học tiếng Nhật, học tiếng Đức,
học tiếng Tàu. Nhưng bao nhiêu tiếng đó chỉ có thể dùng làm sinh ngữ. Tiếng
chính của nước ta dùng để học để thi cần là Việt ngữ, phải là Việt ngữ.
Còn dùng chữ Pháp trong các kỳ thi tức là còn nuôi cái óc nô
lệ cho bọn thiếu niên, còn muốn cho nước này bị diệt vong. Còn dùng chữ Pháp
trong các kỳ thi tức là còn mong nước Pháp sẽ chiếm cứ tinh thần dân tộc này,
còn muốn dân tộc này quý bọn thực dân Pháp hơn bọn thực dân khác.
Người Việt Nam biết lắm rồi: Việt ngữ còn thì Việt Nam mới
còn. Còn nước Việt Nam thì phải học và thi bằng Việt ngữ. Đã đành rằng
những học sinh các ban cao đẳng như trường Luật trường thuốc phải học và thi tiếng
Pháp nốt cho xong, nhưng ở các khoá dưới, còn cho con em học và thi tiếng Pháp
tức là còn muốn cho con em mình làm tôi tớ, làm trâu ngựa, làm nô lệ.
Không. Dân không muốn, nhà đương chức nên tiên liệu. Tôi tin
rằng không ai lại muốn mất lòng dân trong lúc này.
Việc học và thi bằng Việt ngữ không thể khác được. Nhưng bổn
phận của chúng ta không phải chỉ chiến đấu có đến thế mà thôi. Lúc này hơn lúc
nào hết, chúng ta phải làm việc rất nhiều cho Việt ngữ.
Chúng tôi đã nói: việc soạn sách giáo khoa là việc mà chúng
ta phải nên làm trước nhất.
Tôi muốn nói thêm rằng: Đừng bao giờ nên để cho ý kiến đó chỉ
là một ý kiến suông. Chúng ta cần phải bắt tay ngay vào việc vì công việc bây
giờ cần cấp lắm. Đã biết rằng ông Tổng trưởng bộ Giáo dục hiện giờ đương chuyên
chú vào việc soạn chương trình giáo dục mới; đã biết rằng ban Văn học hội Khai
Trí phải đảm nhận lấy công việc trước tác tu thư bằng Việt ngữ; nhưng thiết tưởng
các nhà giáo dục cũng nên gom góp nhiều ý kiến vào; và trong khi đó, các nhà
trí thức hằng lưu tâm đến việc học của con em cũng nên bắt đầu soạn ngay sách để
học khoá sắp tới đây, thiếu niên còn tàm tạm một ít sách bằng Việt ngữ để dùng
trong sự học.
Theo ý chúng tôi, ở trong các công sở hiện nay có nhiều ông
tham ông đốc đậu cử nhân luật, cử nhân văn chương, kỹ sư canh nông, kỹ sư cầu cống,
v.v… không đem dùng cái học cái biết của mình được một phần nào. Người thực dân
Pháp ở đây cho họ làm những “công việc máy”: tính toán, vẽ kiểu, đánh máy hay viết
những thư từ đã có sẵn kiểu mẫu rồi. Bây giờ chữ Pháp ở các công sở không cần đến
nữa, ta chỉ phải một ít kiểu mẫu thư từ bằng Việt ngữ để sẵn đấy, rồi thì cho
những người có bằng Cao đẳng tiểu học thay làm cũng được. Những ông đỗ bằng cao
cấp có thì giờ rộng rãi, sẽ tìm những sách chuyên khoa của Âu Mỹ và theo sở trường
sở đoản mà phiên dịch ra Việt ngữ để giúp cho cái thư viện các sách giáo khoa của
nước ta. Ban Văn học hội Khai Trí Tiến Đức sẽ đệ lên bộ Giáo dục để lựa chọn cuốn
nào nên in sau cuốn nào nên in trước.
Có một điều này tưởng cũng nên nói rõ: nhiều người lo rằng
lúc này giấy đương kham, làm gì ra cho đủ giấy để in đủ sách giáo khoa cho học
trò.
Có thế cũng phải, nhưng điều đó tưởng không đáng để cho chúng
ta thắc mắc. Nếu giấy không đủ, ta có thể hãy cứ tạm in lấy mỗi thứ độ dăm
trăm, một ngày cuốn cho các ông giáo dùng mà thôi. Các ông giáo sẽ giảng cho học
trò và nếu cần thì học trò học đến bài nào sẽ chép lại bài đó tưởng cũng không
sao cả.
Bây giờ tôi xin mời các nhà có trách nhiệm về việc giáo dục bắt
tay vào làm việc ngay đi.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 246 (27/5/1945)
SẴN SÀNG ĐỂ ĐỢI
Tôi không ưa những cái tin như thế mà không có đôi ba câu phê
bình ở dưới.
Năm trăm quân Pháp đổ bộ lên Syrie và Liban! Raymond Offroy,
phát ngôn nhân đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị San Francisco tuyên bố
tại sao Pháp lại phải chiếm hai xứ đó!
Những tin như thế, vứt trống trơn vào giữa nước ta lúc này,
đã làm hại gân cốt của người mình.
“Chao ôi là những lời hứa nhân hứa nghĩa của những kẻ chống
cường quyền, hô công lý!”
Thật buồn. Sao lại có thể như thế được? Đến tận bây giờ người
mình vẫn chưa hết trông vào người khác!
Trông vào người khác mà được thì mừng.
Trông vào người khác mà hỏng thì “xì hơi” ra.
Triết lý của kẻ yếu.
Triết lý của bọn người bạc nhược.
Thế rồi thì chán nản! Thế rồi thì yếm thế! Thế rồi thì bỏ cái
việc bổn phận của mình phải làm gấp lúc này, khoanh tay lại, ngồi đợi một cái
gì không bao giờ đến, ngồi đợi một lời tuyên bố nào đó của một trong bốn cường
quốc không bao giờ tuyên bố ra!
Có ai còn nhớ chuyện nàng Tô Thị bế con lên đỉnh núi trông chồng
rồi hoá đá đấy không? Ấy chính vì đợi đấy.
“Đợi thì cái gì mà không đến?” − Louis Bromfield nói thế.
Nhưng lần này ông đã nói sai. Dù ta đợi một trăm năm nữa một ngàn năm nữa quân
Pháp cũng không thể nhảy lên cái dải đất này được nữa.
Cuộc chiến tranh thế giới lần này không có mục đích giết giống
người chết hết đâu. Không. Cứu cánh của nó phải là sự phá đổ những chế độ mục
nát đã giết chết giống người chúng ta. Nước mà làm được công việc đó mới là nước
có thể nói tiếng nói sau cùng vậy.
Còn sự áp bức thì còn có sự chống cường quyền. Còn thế giới
thì còn có nước biết tôn thờ công lý.
Tôi tin rằng trong thế giới hiện nay, thể nào cũng có một cường
quốc dự vào cuộc chiến vì mục đích muốn phá hoại những chương trình của các nước
muốn phân chia đất đai không thuộc về họ. Tin như thế nhưng tôi không đợi bởi
vì tôi nghĩ rằng không phải cứ ngồi đợi thì tự do độc lập sẽ rơi xuống trước mắt
ta như một quả sung.
Không đợi ai! Không đợi người nào giúp cả!
Bực hiền giả ngày xưa khuyên ta đừng nhanh quá đừng chậm quá
nhưng cần biết đợi. Tôi muốn nói về cái “nghệ thuật biết đợi” ở đây. Tôi không
muốn đợi người ngoại quốc cứu mình. Tôi không muốn đợi một cái gì không thể đến.
Sung sướng thay là những kẻ chỉ biết tin ở mình, chỉ biết trông đợi ở mình,
trông đợi ở đồng bào mình, ở nước mình!
Tôi muốn đợi cách đó. Tôi muốn tranh đấu, tôi muốn làm việc,
nhưng trong khi đó tôi vẫn sẵn sàng đợi một cái gì để thi gan.
Đợi mà sợ trước, là hèn.
Đợi mà hết sức làm việc, hết sức tranh đấu để khi việc xảy đến,
mình phải cầm phần thắng, chỉ làm cho tinh thần mạnh hơn lên.
Người Việt Nam ta thấm nhuần cái triết lý mạnh của Khổng
Khâu, của Nietzsche, từ xưa đến nay vẫn biết đợi có nghệ thuật, nhưng hơn cả
lúc nào hết, lúc này cần phải biết đợi có phương châm, nhất là sau khi có cái
tin quân Pháp đổ bộ lên Syrie và Liban.
Tôi nhắc lại rằng việc đó không thể nào tái bản được ở đây.
Nhất định không. Nhưng chúng ta chớ nên vì thế mà không sửa soạn. Ta sửa
soạn đợi bất cứ một trở lực gì khác đến làm hại nền độc lập của ta. Ta sửa
soạn tinh thần để đợi bất cứ một việc gì phạm đến quyền lợi nòi giống ta.
Thanh niên Syrie và Liban có sửa soạn để đợi cuộc đổ bộ của
Pháp không? Dân Bắc Phi có sửa soạn để đợi cuộc nội loạn ở xứ Algérie của Pháp
không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết rằng hai cuộc xâm phạm đến nền tự do đó
là hai điểm báo trước cho ta: nếu không biết sửa soạn trước thì không thể tồn tại
được.
Nước ta là một nước đàn em yếu thế, − việc đó ai cũng biết.
Nước ta không có một bộ binh và cả một đội quân chính thức; − điều đó ai cũng
biết nữa. Nhưng dân ta, hai mươi triệu người như một, có một thứ mà ta gọi là tấm
lòng: chúng ta rất có thể sửa soạn ngay từ bây giờ để đợi bất cứ một trở lực gì
xâm phạm đến quyền độc lập của ta.
Ta biết hy sinh khi cần đến sự hy sinh. Ta biết liều khi gặp
bước phải liều. Ta biết chết khi cần phải chết.
Các tầng lớp dân chúng Việt Nam! Lúc này là lúc ta phải
đoàn kết hay là không bao giờ. Lúc này là lúc phải tự tạo lấy một tinh thần sẵn
sàng chờ đợi. Lúc này là lúc phải coi cái chết như lông hồng, cổ động nhau chết,
rủ nhau mà chết để giữ chặt lấy đất đai, để ném bọn thực dân xuống biển, để bảo
vệ nền độc lập Việt Nam.
Hai vạn thanh niên Syrie và Liban đã nhảy ra giết quân ngoại
quốc xâm lăng. Toàn dân Algérie đã đứng lên tổ chức thành dân quân dũng mãnh giết
chết hàng ngàn quân Pháp. Chết! Chỉ có chết mà thôi. Một dân tộc biết chết không
bao giờ chết được. Vẫn biết rằng xương thịt không thể chọi được cùng đại bác,
nhưng đến lúc thật cần thì hai mươi triệu đồng bào như một, chúng ta phải biết
rằng một con dao một lưỡi gươm của một kẻ tin ở mình, của một kẻ có tinh thần
dũng mãnh còn giúp ích hơn là một bộ súng cối xay do một kẻ gian ác có một tâm
hồn rối loạn (vì đầy tội ác) chỉ huy.
Sống cũng như chết, cần phải có nghệ thuật. Chết vì nước, chết
chính vào lúc cần, chính là biết chết theo nghệ thuật.
Chúng ta phải biết rằng, nếu có một cuộc xâm phạm đến nền tự
do độc lập của nước ta mà chúng ta không đổ ra mà chết thì quân tàn bạo cũng
không để cho chúng ta được sống.
Kinh Thánh há chẳng có câu rằng: “Nếu hạt lúa không chết
đi…”
Những nước sống được đến ngày nay đều là những nước có những
người dân biết chết. Nước Tàu còn ghi chuyện năm trăm nghĩa sĩ chết theo tướng
Điền Hoàng của nhà Tề, chuyện Lục Tú Phu ẵm vua Tường Hưng nhảy xuống bể, hơn
mười vạn người cũng nhảy xuống tự trầm theo; chuyện vua Minh thắt cổ ở Môi Sơn,
ba ngàn người đâm vợ giết con rồi cùng tự tử theo để khỏi bị nhục về quân giặc.
Ai quên được những cái chết im lặng của dân Ấn Độ về chuyện Đền
Bạc, Đền Vàng? Quân thuộc dân Anh muốn chia rẽ dân Ấn, gây chuyện để cho họ
xích mích nhau; họ biểu tình, và quân Anh bắn giết họ như sâu bọ. Nhưng dân Ấn
sẵn sàng chờ chết; họ im lặng, mỗi ngày họp một trăm người, đi từ Đền Vàng đến
Đền Bạc để cho quân Anh giết. Và kết cục quân Anh giết mãi gớm tay đành nhượng
bộ ông Cam Địa.
Đảo Bali bị Hoà Lan chinh phục còn treo một tấm
gương sáng cho những dân bị trị. Ở Bandoung, ở Kloung Kloung, ở Taman Sari, ở
khắp các nơi trên đảo, dân gian sẵn sàng đều chờ chết, vui cười mà làm một
cái poupoulan, một cái chết “công cộng”, chết say sưa, đeo vàng bạc,
ngậm hương hoa mà chết, chết cho nước, chết cho nhà, chết oanh liệt một cách gớm
ghê. “Không có một cái gì ở đời này ngăn được họ nhảy vào cái chết”. Ba lần,
người Hoà Lan phải ngừng tay súng lại, như để cho những người hoá dại kia tỉnh
ngộ ra để cứu họ, để cho họ đừng chết nữa. Vị quan võ Hoà Lan chỉ huy việc này
nhìn thấy quân Balinais chết mà rùng mình, phải quay đi, bịt mắt lại để cho khỏi
phải nhìn cái cảnh tượng gớm ghê. Bởi vì họ liều chết không biết đến thế nào mà
kể; họ chỉ có gươm dao nhưng cứ nhảy vào miệng súng để cố đâm quân lính Hoà
Lan, họ đâm vào cổ họ; đàn bà, trẻ con, bà già, nông nô, cài hoa trên tóc, xức
nước hoa trên áo, nhảy lên mà chết một cách sung sướng, chồng giết vợ, mẹ giết
con, để cho khỏi làm nô lệ cho quân giặc.
Nhà lịch sử tiểu thuyết bàn về việc đó có câu rằng: “Cùng với
bác sĩ Fabius tôi nghĩ rằng sự hy sinh của bao nhiêu dân Balinais ngày trước có
một ý nghĩa thâm trầm và đã dạy cho dân Hoà Lan nhiều điều tốt”.
Những chuyện biết chết như thế hiện nay vẫn còn nhiều vô
cùng, những cường quốc lại càng có nhiều dân biết hy sinh cho đất nước, biết chết
cho đất nước.
Lúc quân Đức tiến vào gần Moscou, dân quân chống giữ từng tấc
đất; một đứa trẻ con từ đống gạch ra đâm chết kẻ thù; một ông cụ nhảy lên mái nhà
bắn xuống đầu quân giặc; một người đàn bà chửa ẵm con điều khiển một cỗ súng cối
xay.
Quân Nga tiến đến Berlin, dân Đức liều chết để chống
đánh một cách anh hùng không kém. Ai đã quên được thế nào những chuyện mới đây
của bao vị anh hùng quốc xã tuẫn tiết vì nước, rồi sau đó, sau khi Berlin đã thất
thủ rồi, không một người dân Đức nào không cố chết đánh đến kỳ cùng. Họ xông ra
chống quân địch như hổ đó, và, xem chừng cơ thất bại đã rõ ràng, bắn súng vào đầu
tự tử, chồng giết vợ, mẹ giết con, cùng chết chứ không chịu sống nhục để làm
tôi mọi cho Anh Mỹ.
Vẻ vang thay là một nước có những người dân như Nhật như Đức
như Nga như Tàu như Ấn Độ và Bali!
Muốn được sống như người, dân ta cần biết chết.
Lịch sử ta còn để lại rất nhiều cái chết vì nước vì nhà như
thế.
Duy ở lần này, sự vinh thân phì gia với phong trào cá nhân tư
kỷ đã làm cho ta có một lúc sợ chết và ham sống.
Không thể như thế nữa.
Ngay bây giờ chúng ta phải sẵn sàng chỉnh bị lấy tâm hồn,
chúng ta phải gây lại cái tinh thần cố hữu, chúng ta phải sửa soạn chết để đi
tìm cái sống cho mai hậu.
Cái sống từ ở trong cái chết đi ra.
Nếu hạt lúa không chết thì không thể có bông lúa được.
Phải chiến đấu, phải liều chết với bọn xâm lăng, phải là một
trong đoàn dân quân anh dũng tiền phong!
Tự nó, cái sống cũng như cái chết không nghĩa gì hết cả! Cái
nghĩa, ta phải tạo cho nó, và chỉ có cái sống và cái chết có nghĩa mới làm cho
người đời kính trọng mà thôi.
“Bực hiền giả không khóc người sống mà cũng chả khóc người chết
bao giờ. Phàm cái gì có sinh mệnh đều vô cùng. Phàm cái gì đã có, không bao giờ
tuyệt diệt. Không có sức gì phá hoại được sự sống. Làm gì có thọ, yểu? Mà muốn
thọ hay muốn yểu cũng không được nào. Chỉ có thể phách chết thôi. Tinh anh thì
bất diệt, trường tồn và không thể tiêu tan được”.
Câu sách đó ở trong kinh Bhagavad Gita của Ấn Độ,
tôi xin mượn làm câu kết bài này.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s.247 (3/6/1945)
Xem tiếp phần 2
© 2010 Lại Nguyên Ân sưu tầm
(1) Theo bài thơ của bà Quách Thị Hồ
ngâm giáo đầu. (nguyên chú của Vũ Bằng)
[a] Lưu ý: Bài viết này thể hiện
khá nhiều suy nghĩ mà ngày nay chúng ta không thể đồng tình, ví dụ quan niệm về
người hùng, về anh hùng nói chung, nhất là về việc đánh giá con người Adolphe
Hitler, trùm phát-xít, một trong những tội phạm diệt chủng lớn trong lịch sử
nhân loại. Tuy vậy, cũng nên hiểu rằng ngay khi đó, những thông tin về tội ác
diệt chủng của chủ nghĩa phát-xít hầu như chưa bộc lộ trên báo chí thế giới
đương thời; và những người viết báo ở nước ta khi ấy thường vẫn bàn về các phía
tham gia thế chiến II theo những quan niệm cũ về thời thế, về những con người
anh hùng cái thế, “được làm vua thua làm giặc”. Chúng tôi để bài này trong sưu
tập này như một tư liệu, giúp người đọc, nhất là giới nghiên cứu, hiểu thêm về
những mặt thiếu chín chắn thậm chí nhận thức sai lệch ở một cây bút tầm cỡ như
Vũ Bằng. (Ghi chú của người sưu tầm).
[a] Lưu ý: Sau sự kiện ngày
9/3/1945 (quân Nhật làm đảo chính để nắm toàn bộ chủ quyền quân sự và chính trị
ở Đông Dương, loại bỏ vai trò của Pháp), một tin được loan đi khắp nơi trong nước
là phía Nhật sẽ trao trả chủ quyền cho Việt Nam; trên các báo người ta đọc thấy
những giọng điệu phấn khởi về việc “vì một sự tình cờ may mắn, nước ta được
quân đội Nhật giúp thoát khỏi ách đô hộ của Pháp”; có tin nội các Trần Trọng
Kim, “nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” đang chuẩn bị “trưng cầu ý kiến
về việc tổ chức chính thể Việt Nam”, v.v…Bài viết này và nhiều bài tiếp sau của
Vũ Bằng trên T.B.C.N. là nằm trong dòng của các diễn biến ấy.
LẤY MÁU TRONG TIM RA ĐỂ VẼ TRANH
Hoạ sĩ Việt Nam đã trưng bày ngót 200 hoạ phẩm “cổ động nền độc
lập” ở Nhà hát Lớn từ 2 đến 11/6/45 và được hoan nghênh đặc biệt.
Tôi không nói diễu. Nhưng quả thực là nhà văn ta mơ màng.
Này, cuộc đảo chính vừa xong, hoạ sĩ thi sĩ nghệ sĩ họp hội nghị mấy lần để
tính chuyện tham gia công cuộc này, ủng hộ phong trào khác, mà đến bây giờ văn
sĩ và thi sĩ vẫn chưa làm gì cả. Súng bắn vào tai cũng chả cần. Nhưng hoạ sĩ
thì đã bắt tay ngay vào việc. Có lẽ vì ít nói chăng? Điều đó tôi chưa có dịp hỏi
một ông nào cả.
Vì hoạ sĩ nào cũng bận. Bận vẽ tranh cổ động cho nền độc lập
Việt Nam. Và những tranh đó, từ chiều 2-6-45 đã trưng bày tại tầng gác thứ
hai Nhà Hát Lớn cho công chúng vào xem không lấy tiền.
Tôi đã đi dạo nhiều lần ở trong phòng triển lãm đầy một vẻ
“nghệ thuật vị nhân sinh” đó. Không. Ngót hai trăm bức vẽ đều thực cả. Mơ màng
thì sống thế nào được vào cái lúc này.
À, bức nào mầu cũng ít mà trông toàn thể thì rực rỡ vô cùng.
Ta xem loại nào trước nhỉ? Cứ thứ tự là hơn. Đi xem từ lúc hãy còn đeo cái ách
của bọn thực dân Pháp đã. Bức tranh “Lịch sử cuộc khai hoá dân Việt Nam”
có thể tóm tắt được hết cả công cuộc của người Pháp ở đây. Một ông tây gầy như
con mắm, quần loè xoè kiểu Sác-lô vác một cái va-li lép kẹp trèo lên
đất Đông Dương. Đấy là ông ấy “đến”. Đến đoạn “ở” thì ra tuồng: mặt phị gẫy gục,
có vẻ dâm ác, miệng hút xì-gà, hai chân vắt lên bàn, có con chó nằm mèo trước mặt.
Thế rồi thì “đi”: béo tướng, va-li đầy tràn, có viết ba chữ “Vàng, Bạc và Máu”.
Sướng lắm. Ác lắm. Ý quay lại bảo một người Tây khác: − Thôi, anh ở lại mà
làm việc, chúng nó còn béo lắm.
Dưới đất, một người Việt Nam chết đói nằm nhe răng…
Nhe răng thì mặc nhe răng. Không biết. Những người Pháp ở
Đông Dương không trông thấy những quân chết đói của ông Trần Văn Cẩn. Xem bức
tranh kia thì biết: tây đầm thì vẫn cứ ôm nhau mà nhảy hát ở “đăng-xinh”. Ta
cũng nhảy: hai thằng bé đầu to bằng cái sành mà thân thể róc hết thịt, chỉ còn
bộ xương thảm hại nhảy xuống ao… tự tử vì khổ quá. Bên cạnh đó, một bức tranh
thần tình: một viên đội xếp béo, cái lưng to bằng cả một cái giường, dắt súng lục,
giơ gân bò lôi một người Nam sắp chết, mặt mày xanh lét như đít con
đom đóm:
TA – Văn minh đâu? Sắp đến chưa hở ông?
TÂY – Làm gì mà vội thế? Đây kia rồi.
Đó là một cái nghĩa địa chồng chất những mồ con mả lớn.
Tự do! Bình đẳng! Bác ái! Làm cho dân các tiểu quốc chết cả
đi: bác ái đấy mà! Bức tranh này làm cho ta buồn rã rời và căm giận vô cùng cho
cái óc của bọn thực dân giả nhân bỏ nghĩa. Cột tam tài, tranh thống chế
Pê-tanh, Pháp Việt phục hưng. Một người Tây dắt một người Nam đi trên
đường tiến bộ… tối như hũ nút.
TÂY: Đấy, ngài cứ tha hồ tự do muốn nói gì thì
nói, muốn đi đâu thì đi.
Nhìn lại ông Việt Nam thì mắt có băng buộc mà chân
thì bị xích!
Bị bịt mắt, bị xích chân, như thế phải cách mệnh. Đúng đấy.
Nhưng coi chừng. Một bức tranh vẽ một căn buồng khám bệnh của ông bác sĩ Pháp.
Đủ các thứ lọ thuốc: thuốc trị bệnh thông minh, thuốc trị bệnh đòi bình đẳng,
thuốc trị bệnh đòi tự trị, thuốc trị bệnh đòi tự do ngôn luận.
BÁC SĨ PHÁP (bảo bệnh nhân Việt Nam) Anh mắc bệnh
yêu nước, phải đi nghỉ mát Côn Đảo ít ra năm mười năm mới khỏi.
Ai không muốn đi nghỉ mát thì ở nhà để cho Tây và quan đè gót
lên đầu lên cổ, như đã vẽ trong bức “Tôn ti trật tự”, hay để Tây làm trò
úm-ba-la cho mà xem. Tứ là cái trò “cải hoá người Việt Nam”. Trang nhất:
ông Tây gầy, ông Ta béo. Tranh nhì: Hai ông làm xiếc, che một cái vải.
Úm-ba-la… ba ta cùng hoá. Hoá ra cái gì? Ông Tây hoá ra béo xù, đội cái mũ lệch
một cách hỗn xược, hút xì-gà, mũi đỏ như một con tôm rim; còn ông Nam thì hoá
ra một cái xác chết nhe răng ra vì đói!
Tại sao đương béo lại chết như thế được? Một ông đi với tôi
xem thứ tự những bức tranh giấy này. Một ông Tây diễn thuyết: “Người Pháp
tốt vô cùng. Người Pháp tặng quà người Việt Nam luôn luôn”. Nhìn
lại thì ra quà đó là thuốc phiện, rượu, báo Lire à
deux, Paris magazine, Séduction, nhảy đầm, phòng cho thuê. Nhà hoạ sĩ
chua: “Kết quả đem lại cho đất nước ta là một hạng thanh niên trụy lạc, ăn bám
vào xã hội, làm cản trở cuộc tiến hoá của đất nước”.
Rượu họ làm quà cho mình cũng là một câu chuyện tức… cười. Một
ông Tây béo, mặt đanh ác, − báo Gringoire vẽ mặt Vincent Auriol cũng
chỉ ác được đến thế là cùng! − ngồi vắt hai chân lên bàn. Chung quanh: bơ, phó-mát,
sâm-banh và một cái biển “độc quyền Phông-ten”. Mỗi suất đinh phải uống mỗi
ngày một lít rượu. Một tên Pháp nhà đoan giơ một chai rượu bố đổ vào mồm vào
mũi một người nhà quê mặt đỏ:
NGƯỜI NHÀ QUÊ: Lạy ông, con chết sặc mất.
TÂY ĐOAN: Được tự do… uống rượu, mày lại còn kêu ca gì?
Trong khi đó, ở nhà trường, thằng con xã Bỉnh vẫn ê a học:
“Rượu là thuốc độc, thuốc phiện là thuốc độc”.
Thuốc phiện độc? À, Tây mong cho mình hút rất nhiều. Tiệm mở
đầy như nấm, cổ động truỵ lạc, cổ động cá nhân chủ nghĩa. Chơi cho thích vào,
cô ơi và cậu ơi! Mệt, đã có thuốc phiện kia trợ lực. Nhà hoạ sĩ đề dưới bức
tranh vẽ một bọn thanh niên ta hút thuốc phiện dưới quyền chỉ huy của một người
Pháp (có phải Ducoroy không?) và đề: “Những người bỏ đi”.
Những chuyện đó, bọn thực dân Pháp làm công nhiên ở nước ta,
nhưng không lúc nào quên hò “Tự do, Bác ái và Bình đẳng”.
Tự do? Một người Nam sắp chết bị ba người Pháp bịt
miệng. Tự do… giết người?
Bác ái? Ba người Pháp bóp cổ lè lưỡi một người Nam,
trong khi con chó tây được ngự lên bàn ăn súp. Bác ái với vật chứ không bác ái
với dân thuộc địa.
Còn Bình đẳng? Một ông Tây béo trương béo nứt ngồi vắt chân
chữ ngũ trên xe do một người Nam lè cổ ra mà kéo. Cái bình đẳng lạ
lùng! Bức tranh đó còn có thể lấy đề là: “Nghĩa chữ cần lao ở dưới thời
Pháp thuộc”.
Tự do, Bác ái và Bình đẳng vạn tuế!
Quân giả dối đó không lúc nào quên hô to ba chữ thiêng liêng
kia, mà càng làm việc tàn ác thì lại càng hô dữ.
Bốn bức tranh. Bức tranh thứ nhất vẽ một ông Tây tiến đến gần
một ông Nam: “An Nam tốt”. Bức thứ nhì, lôi mũi:
“An Nam tốt nhiều”. Bức thứ ba, lấy gân bò đánh túi bụi người Nam:
“An Nam tốt lắm”. Bức thứ tư: “An Nam tốt quá.
Pháp Nam phải đoàn kết chặt chẽ với nhau”. Thì ra đoàn kết chặt chẽ
thật: Ông Pháp mắm môi mắm lợi bóp cổ ông Nam thật chặt, chặt lè cả
lưỡi và trợn tròn cả mắt! Tự do, Bác ái và Bình đẳng vạn tuế!
Một cái nhà to, cửa sắt, có lính canh rất ác. Đó là nhà pha
Hoả Lò? Không. Đó là nhà Bảo hộ. Cửa mở, người ta trông thấy có những kiện hàng
“Tự do, Bác ái và Bình đẳng” chồng đống lên. Một người dân Nam bước
vào. Cửa khoá lại 61 năm. Đến năm 62 cửa mở rộng ra, thì, ông đoán đúng đấy có
một cái xác chết còng queo trong đó. Xác người Việt Nam chết vì Tự
do, Bác ái và Bình đẳng của người Tây. Tự do, Bác ái và Bình đẳng vạn tuế!
Một triệu người gầy trơ còn có bộ xương, đứng ngửa lên nhìn một
tên thực dân Pháp ngồi trên những bì gạo, giơ lên một cái biển đề mấy chữ:
“Défense de donner à manger”. Tự do chết đói.
Bình đẳng? Một tên thực dân khác lấy tay móc họng một người Nam có
“nốt” đàn nhảy nhót chung quanh: bình đẳng mà bị coi khinh hơn con vật.
Còn Bác ái? Nhà tù đầy rẫy kia, chánh trị phạm đợi hàng lũ để
chờ đem bắn. Người ta có thể lẩy câu Kiều này của Quang Phòng để đề ở
dưới bức tranh Tây giết chánh trị phạm Việt Nam:
Hoành hành hơn sáu mươi niên
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng
Văn và hoạ xưa nay vẫn đi với nhau. Ở trong cuộc triển lãm
này có những bức hoạ lẩy Kiều được nhiều người chú ý.
Để mỉa quan lại Việt Nam ăn lễ dân đen để đút cho
Tây:
Mười anh quan lại cả mười
Bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng
Để mỉa mai bọn thực dân ăn hết xương tuỷ dân Việt Nam. Một
bên thì chết đói, một bên thì dắt tay nhau nhảy nhót:
Quần là áo lượt rong chơi,
Tiền An Nam đã cung rồi lo chi!
Để mỉa mai bọn người quên thù mất nước, đi với Tây để hại người
mình (tranh vẽ một người Nam bị nhốt vào chuồng chim, Tây ngồi giữa,
có hòm súng dao, bên cạnh có một cô gái Việt Nam):
Trong vòng súng dựng gươm trần
Kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi.
Đề dưới bức vẽ một người Tây đếm vàng:
Lừa dân dối nước hết đường
Quý hồ có ngọc có vàng thì thôi.
Đề dưới bức vẽ Tây béo đứng trước mấy người chết đói:
Bao người chết đói vì tôi
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?
Đề dưới bức vẽ Tây đeo mặt nạ cười mà tay thì bóp cổ người
dân Nam:
Mưu ma chước quỷ có thừa
Mượn màu đạo đức đánh lừa dân đen!
Kể cho hết những mưu thâm độc của người Pháp và những câu Kiều
lẩy, cung oán lẩy của ông Quang Phòng chế riễu họ ra đây, còn dài. Thôi, ta
không nói đến họ nữa. Cho đi về, cũng như người Nhật đã cho họ đi về nhà bò vậy.
Cái chính sách thực dân tàn ác, thâm thiểm, nguy hại đến như thế, tồn tại làm
sao cho được? Không nước này can thiệp thì cũng phải có nước kia lên tiếng. Chả
nhẽ thế giới này chỉ toàn là bọn ăn người cả hay sao?
Ta có thể tin rằng một tương lai tốt đẹp đã mở rộng ở trước mắt
ta. Quân tàn bạo không thể nào trở về đây được nữa. Bổn phận của người dân lúc
này là phải rèn đúc lấy một tinh thần tự trị, gột rửa các nô lệ, phải hy sinh
dũng mãnh để bảo vệ tự do như trong những bức vẽ của các ông Lê Văn Đệ, Lương
Xuân Nhị, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Tỵ, Trần Văn Cẩn… Phải yêu
thương giống nòi, đừng chia rẽ, nhưng phải tìm cách để đoàn kết thân mật lại với
nhau hơn. Làm gì có ba kỳ? Làm gì có năm xứ? Chỉ có nước Việt Nam thôi.
Nước Việt Nam, qua cái ách Pháp thuộc nặng nề, bây giờ bắt
đầu bước vào một kỷ nguyên mới tràn trề ánh sáng. Từ nghệ sĩ đến người thợ, từ
bác nông phu đến một chị học sinh, ai ai cũng phải góp sức lại để làm việc cho
nhà cho nước cường mạnh hơn. Mà muốn thế, bổn phận cần cấp của ta phải thế nào?
Một bức tranh đã trả lời: Chính quyền của người Pháp ở đây như cái cây bị long
rễ trồi gốc kia, không thể hồi sinh được nữa. Nhưng cây đó còn rất nhiều rễ
con, còn để còn nguy hại. Vậy người Việt Nam kiếm củi phải làm ngay
công việc này. Chặt bới cho hết tuyệt những cái rễ con của nó đi: rễ Việt gian,
rễ vong bản, rễ xu thời nịnh thế, rễ ham chuộng hư danh, rễ bán nước cầu vinh,
rễ thực dân, rễ tham quan ô lại, rễ cường hào nhũng lạm, rễ lý dịch sâu mọt, rễ
nghèo, rễ đói, rễ rét, rễ ngu và rễ dốt.
Một trăm một nghìn thứ rễ đó, một người không thể trừ bỏ được,
mà một chánh phủ cũng không thể nào làm được nốt, nếu không có dân làm hậu thuẫn.
Vậy tất cả dân nước cần phải bắt tay vào công việc phá hoại
này để xây đắp một nền móng quốc gia mới lên trên.
Không phải nói ta cũng biết rằng việc cổ động này không thể
làm trong một phạm vi nhất định để cho một thiểu số người xem, nhưng phải làm
trong toàn quốc, từ thành thị đến thôn quê, để cho toàn thể dân chúng cùng xem
cùng sốt sắng và cùng cắn răng lại để mà làm việc cho xã hội.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 248 (10/6/1945)
NGHỆ SĨ TRƯỚC NHỮNG
SỰ CẢI CÁCH CỦA ĐẤT NƯỚC
CẦN PHẢI LÀM GÌ NGAY?
Một vài ý nghĩ nhỏ về việc cải cách chương trình trường mỹ
thuật,
Nhân đi xem trưng bày tranh ảnh cổ động nền độc lập Việt Nam
Từ ngày quyền xếp đặt nước Nam không ở tay người
Pháp nữa, hầu hết các ngành đều đã có sự cải cách để cho hợp với tình thế và
cũng là để giúp ích cho sự tiến bộ bị cản trở trong ngót một thế kỷ nay.
Sự cải cách đầu tiên có liên lạc với mỹ thuật, ta thấy ở trên
những tấm biển hãng quảng cáo. Ngoài những lý do chính đáng khác, sự cải cách
đó còn đem cho ta một điều lợi là đỡ được hàng chữ tây: tấm biển sáng sủa hơn.
Những sự cải cách khác hoặc do nhiệt huyết của người mình, hoặc
vì trước kia bị bắt buộc phải theo một đường khác, đều lục tục xuất hiện để trở
nên công việc hàng ngày.
Nhất là ở các trường, những món nhồi sọ để hãm sức tiến hoá của
học trò đều được thay bằng những món thiết thực có ích hơn. Cái hại của món nhồi
sọ đó càng to, sự cải cách càng nhanh chóng. Có ai biết chuyện cải cách ở một
trường công nghệ nó mới đây không? Trường có ba giáo sư, cả ba đều không phải
là nhà nghề; sở dĩ họ giữ chức đó là vì… thế lực. Muốn tắc trách, họ mua sách
công nghệ để học đến đâu dạy học trò đến đó. Sau vì chỉ xem không, không có thực
hành, họ bị học trò vượt hẳn. Làm thế nào? Họ kiếm các cách ghìm sức học của học
trò lại để thầy có thể theo kịp được trò. Và việc đó cũng đã kéo dài ra cho mãi
đến tận hôm xảy ra cuộc chính biến ở đây: học trò đã xin truất ba vị giáo sư bất
lực và bất chính kia, và từ đó, sự học ở trường này đã được hoàn toàn cải cách.
Nói đến đây người ta không thể không nhớ đến trường Cao đẳng
Mỹ thuật. Ta hãy xét kỹ lưỡng xem ở trường này có điều gì cần phải cải cách
không?
Ta nên nhớ rằng trường Cao đẳng Mỹ thuật đào tạo nên những
nghệ sĩ. Mà trong lúc quốc gia cần đến hay sắp cần đến kiến thiết thì bổn phận
nghệ sĩ là phải sửa soạn để dìu dắt nền công nghệ về phương diện mỹ thuật. Muốn
dìu dắt nền công nghệ cho hiệu quả, nghệ sĩ cần phải liên lạc với những ngành
đó và phải am hiểu đến những chi tiết nhỏ của mọi nghề. Mà nghề, nào có phải là
ít, ấy là chỉ nói riêng về công nghệ có liên lạc đến mỹ thuật thôi.
Ta hãy kể thử ít nghề: nghề thêu, dệt, đan, khảm, chạm, trổ,
sơn, nghề đồ gốm, đồ sứ, đồ gỗ, thuỷ tinh, nghề in, nghề đóng sách, nghề làm đồ
chơi trẻ con, nghề làm mũ, đóng giầy, nghề đúc đồng, hàng thiếc, nghề làm quạt,
nghề rèn sắt, xây nhà, nghề thợ may, nghề diễn kịch, và còn bao nhiêu nghề nữa!
Những nghề đó đều có liên lạc mật thiết với mỹ thuật, một nghệ
sĩ tự trọng phải hiểu thấu đến cả những chi tiết cỏn con. Và đó mới là những
nghề mà trong nước đã có sẵn, chỉ cần chỉnh đốn lại và khuếch trương thêm.
Ngoài ra lại còn những nghề cũng cần mà hầu hết các nước Á Đông có rồi, chỉ
riêng nước ta chưa có, như nghề đúc sắt, đúc thuỷ tinh, in màu trên sắt tây,
nghề chế thuốc, nghề dệt len, nghề chế đồ nhựa, v.v. Tất cả những nghề đó, chỉ
có một “nghệ sĩ lý tưởng” mới hiểu biết hết, nghĩa là chỉ có nghệ sĩ nào hiểu
biết cho hết được, việc đó ra ngoài sức của một người, dù người đó là nghệ sĩ.
Vậy thì bổn phận tối thiểu của một nghệ sĩ ta bây giờ phải thế
nào? Trước hết ta phải biết rõ những nghề mà chính người làm nghề ấy cần đến
đã.
Họa sĩ cần đến những thứ đồ dùng để vẽ như giấy, phẩm, bút
lông, bút chì, than, tẩy, sơn, dao để mài sơn, bay để trát son, đó là những thứ
thiết dụng nhất. Còn những thứ như khung căng vải, đinh đóng, giá vẽ ba chân, hộp
đựng đồ dùng, có thể cứ thuê thợ làm vì vật liệu xấu hay tốt không hệ trọng gì
cho lắm.
Những thứ kể trên như bút, phẩm, giấy… là những thứ có ảnh hưởng
lớn đến công việc của nghệ sĩ. Chỉ hơi xấu một tí là nghệ sĩ có thể bực mình,
mà chỉ hơi tốt hơn một tí là họa sĩ vui mừng trông thấy. Từ trước đến nay, nghệ
sĩ vẫn đi mua giấy, phẩm, bút của nước ngoài. Được thứ nào dùng thứ đó, nhưng
cũng may mà tìm được những thứ vừa lòng cả. Từ khi xảy ra cuộc thế giới đại chiến
tàu bè khó đi lại, không còn tìm đâu được thứ tốt nữa. Có người bỏ nghề, có người
không thể sống không vẽ được thì dùng vật liệu bản địa. Người ta đã vẽ than vào
giấy bản, vẽ phấn bột vào những tờ bìa thay cho vải. Rồi vừa vẽ vừa tức, kết quả
tất nhiên là không đúng được như ý nguyện: sự tấn tới thì còn mong đợi gì?
Trung gian, nhà sản xuất giấy trong nước cứ theo khuôn sáo cũ
mà chế, miễn là tiêu thụ được, có lợi thì thôi. Cũng đã có nghệ sĩ thửa riêng hạng
giấy nhưng vẫn là hạng bột xấu, chỉ có dày hơn và mịn hơn thứ thường vẫn bán khắp
chợ thì quê.
Người thợ mộc biết chế lấy cái bào cái đục thì nhà nghệ sĩ, một
hạng người trí thức lại chả nên tự nghiên cứu để chế lấy những vật liệu mà dùng
rồi khi nào có kết quả hay, sẽ giao cho nhà công nghệ đem chế tạo để mang bán
trên thị trường ru?
Nói cho đúng thì khuyết điểm này một phần do ở sự thiếu vốn,
không hoàn toàn quy cữu vào tính chểnh mảng, lười biếng được. Nhưng đó lại là một
vấn đề khác, dù là khó, nhưng không phải là nan giải.
Để đủ tư cách dìu dắt người khác, nghệ sĩ phải cần tự phụng
cho thoả mãn. Thoả mãn trong phạm vi bổn phận về nghệ thuật, việc đó rất chính
đáng, dù một người khó tính cũng không thể chỉ trích được vào đâu.
Và muốn tự phụng cho thoả mãn, nghệ sĩ cứ việc nghiên cứu tìm
cho ra những thứ thích hợp với công việc của mình để mà dùng.
Trong hai đứa trẻ, một đứa nhặt nhạnh mảnh gỗ mảnh sắt làm lấy
đồ chơi với một đứa đem tiền đi mua đồ chơi ở hiệu, ta vẫn mến đứa tự chế lấy đồ
chơi hơn. Huống chi nghệ sĩ lại ở vào những trường hợp đặc biệt mà vật liệu
dùng hàng ngày không có không xong. Có tự mình nghiên cứu mà cải cách dần dần mới
có thể mong một ngày kia chế ra được những thứ giấy, phẩm, bút như ý mình mong
muốn.
Đó là về phần riêng nghệ sĩ.
Về việc mở những xưởng con con để chế những thứ đó, là phần
nhà trường, trường Cao đẳng Mỹ thuật. Nếu nhà trường và cả nghệ sĩ đều lãnh đạm,
chỉ đợi bao giờ ở hiệu có giấy, phẩm và bút tốt mới mua dùng, không thì thôi,
thời với tình thế này sự tiến bộ về mỹ thuật và công nghệ nước nhà, có lẽ sẽ
không được nhanh chóng như nhiều bạn hằng mong ước.
Tuy vậy, nếu nhà trường có hậu ý đặt ra xưởng mới để nghiên cứu,
mà trong nghệ sĩ không ai chịu nhận một phần việc thì cũng chỉ là phí tiền toi
thôi. Vì vậy nghệ sĩ cần phải yêu cầu trước, và cần phải thành thực yêu nghề,
yêu sự cải tạo nghề mình trước tiên.
Nói đến giấy bút tôi lại nhớ đến cách viết chữ nho.
Khác hẳn với chữ nước khác, chữ nho là một thứ chữ tượng
hình, tự nó có ý nghĩa như những hình vẽ vậy. Không do các vần ghép lại với
nhau, chữ nho có nghĩa nhất định của mỗi chữ. Trông chữ “mộc” người ta nghĩ
ngay đến cái cây; trông chữ “điểu”, người ta nghĩ ngay đến con chim, trông chữ
“vũ” người ta nghĩ ngay đến bộ lông cánh, bao nhiêu chữ là bấy nhiêu hình vẽ,
mà những hình vẽ đó đều được người ta thu xếp cho gọn, thêm bớt cho đẹp, tự mấy
nghìn năm nay. Nước ta trong ngoài ngàn năm nay vẫn theo Khổng giáo, lấy chữ nho
làm nền học quốc gia. Chữ nho du nhập vào nước ta đã thành ra chữ Nam như
nhiều người đã gọi. Gọi thế không phải là không chính đáng vì thứ chữ đó đã được
đọc theo một cách riêng của ta mà chính người Tàu nghe không hiểu. Với một nền
văn hoá rập theo đạo Khổng, nước ta đã có hồi trở nên hùng cường cả với nước
Tàu to lớn và đông dân gấp hai ba mươi lần. Xem vậy đủ biết cái sở đắc của chữ
nho đã đến một trình độ khá cao rồi vậy.
Trước đây sáu mươi năm, vì bị đè nén dưới chế độ đô hộ, ta bỏ
nền tinh thần đó mà theo đuổi một cái văn minh bề ngoài (tôi xin nói ngay rằng
tội đó không ở khoa học Tây phương mà chính là cách ta học không châu đáo), đến
nỗi tinh thần ngày càng kém mà vật chất chỉ tiến ở những phương diện xấu xa
đáng tiếc. Những chuyện cha hiền con hiếu, vợ chồng nghĩa, bạn bè tín và những
chuyện thanh cao, nghĩa khí, quân tử, hy sinh hầu như cùng biến với chữ nho vào
chỗ hư không để cho chữ Tây tràn khắp trong đất nước.
Chữ Tây, ta vẫn học, nhưng cần phải chuyên về khoa học, học
có phương châm, có mục đích tốt đẹp. Còn chữ nho, xét theo tình thế hiện thời
thì có thể nói rằng sẽ lại khôi phục được một địa vị cao quý nếu không được bằng
thì cũng chả kém lắm khi xưa.
Thực vậy, nước ta là láng giềng trực tiếp với nước Tàu và
cùng là một giống với nước Nhật ở Á Đông. Hai nước này vẫn dùng chữ nho, không
lẽ ta lại lãnh đạm được. Thêm một lẽ nữa là trong khoảng sáu mươi năm trước
đây, chữ Pháp có thay thế chữ nho cũng mới chỉ là thay thế trong nền học ở các
trường công và các nơi thành thị thôi, chứ ở chốn thôn quê, mà thôn quê là một
phần lớn của nước, chữ nho vẫn thịnh hành, duy có kém ngày xưa đôi chút. Gặp
phong trào này, cái mầm bị vùi dập bấy lâu sẽ lại trở lên với một sức mạnh lạ
lùng. Sau này chữ nho sẽ lại xuất hiện, nhưng điều cầm chắc là không đem đến
cho ta cái lối học từ chương khoa cử.
Tuy nhiên về phương diện mỹ thuật, chữ nho vẫn là những hình
tươi đẹp ngang hàng hoặc hơn những bức tranh Tàu tranh Nhật.
Thì hơn ai hết, nghệ sĩ cần phải viết được thứ chữ đó, hơn thế,
phải viết cho thực tốt.
Nay ta cứ thử tài một nghệ sĩ cách này xem: Ta chọn một nghệ
sĩ có tài trông cái gì vẽ được ngay cái đó, người giống hệt người mà con sâu
con bọ không sai một mảy lông, con mắt. Bấy giờ ta đưa nghệ sĩ đó chép một dòng
chữ nho. Nghệ sĩ sẽ chép được ngay, nhưng cả khuôn cả nét, so với bản chính sẽ
không giống nhau chút nào. Đó là chuyện chép chữ. Nay nếu để cho nghệ sĩ cứ tập
viết dăm chữ thôi, cho tập trong mười ngày, đến ngày thứ mười một viết ra vẫn
còn xấu lắm. Có giỏi chỉ cũng mới là “thành tự” thôi, chưa thể bảo là tốt được.
Muốn viết tốt, cần phải tập luôn luôn chứ không thể cậy có
tài vẽ giỏi mà tưởng rằng mình có thể viết tốt trong mươi tuần, dăm tháng.
Người viết chữ tốt thấy có sự tấn tới cũng mê mải như hoạ sĩ
đương đi trên con đường thành công. Võ luyện văn ôn. Nếu hoạ sĩ thường nói
không ngày nào là không cần đến bút vẽ, thì trong những tay bút thiếp, đây là một
tài liệu tôi lượm được trong một cuốn Revue de Shanghai, − cũng lắm
người phải viết ít ra một trăm chữ mới đỡ thèm.
Do những lẽ kể trên, thiết tưởng trường Cao đẳng Mỹ thuật
cũng nên lưu ý mở một lớp dạy và viết chữ nho cho đẹp.
Nhân nay nghệ sĩ ta chú trọng vào tranh lụa, cần được những
nét đậm đà già giặn, cách tập viết chữ nho cho đẹp và có gân cũng giúp được vào
đó một phần khả quan.
Kẻ làm nghề bút thiệt này mong rằng sẽ thấy xuất hiện ở nước
ta những sách vở, những tạp chí mỹ thuật vừa có tranh đẹp vừa có chữ tốt mà người
Tàu vẫn gọi là “thư hoạ đồng trân” − viết và vẽ cũng quý cả.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 249 (17/6/1945)
CỨ CHO HỌ UỐNG!
Câu chuyện các ngài sắp đọc đây là chuyện một tấm lòng. Tấm
lòng tốt bị vùi dập phũ phàng; tấm lòng tốt bị người ta chà xát dày xéo; tấm
lòng tốt được báo đền bằng sự bạc ác, bất nhân.
Chuyện vật trả ân, nhân trả oán.
Ngày xưa có một vị sư ngồi dựa một cụm bồ đề, xảy có một bác
thợ săn đuổi thú chạy qua. Bác ngã xuống một cái hang và một con quạ một con rắn
hoảng sợ cũng lăn theo bác. Cả ba ngó lên trời mà khóc và kêu. Khó cầm được
lòng thương, vị sư bèn kiếm một sợi dây thòng xuống đáy hang để cho cả ba cùng
bám lấy trèo lên mặt đất. Cả ba đều quỳ lạy.
Bác thợ săn nói rằng: Lúc nào ngài đi qua xin ghé vào tôi,
tôi được thết đãi theo phận thấp hèn thì vạn hạnh. Con quạ nói: Tôi tên là Bô.
Gặp việc không may, ngài cứ kêu một tiếng là tôi đến liền. Và con rắn nói: Tôi
cũng thế, ngài cứ kêu “Trăng”. Nói xong cả ba đều lạy tạ, mỗi giống đi mỗi ngả.
Và rừng cây đã đổi lá sáu lần.
Sắc đẹp, tiếng tốt, mùi thơm, mỹ vị, áo quần chải chuốt và dục
vọng, nhà sư của ta còn cho là sáu lưỡi gươm chém nát thân, cần phải quên đi,
thì còn nhớ đâu đến một buổi chiều nào ở bên gốc bồ đề cứu sống ba mạng nọ.
Nhưng một sự tình cờ xảy đến: bữa hoàng hôn kia, đi tầm đạo quá chân, ngài bị lạc
trong rừng tối và phải vào nhà bác thợ săn xin ngủ trọ. Sợ phiền hà và cũng lo
phải thết cơm đãi nước, bác thợ săn đóng cửa cài then. Cả đêm nhà tu hành phải
ngủ ở ngoài trời và sáng sớm tinh sương lại đứng dậy đi nốt con đường vô tận của
mình thì bất thình lình gặp quạ. Thấy nói bác thợ săn ăn ở tồi tàn như thế, quạ
không ngớt miệng chê bai và nói: Phần tôi, tôi không có nhà để ngài ở, không có
cơm để ngài dùng, nhưng xin rán đợi, lát nữa tôi quay lại. Nói đoạn quạ lỏn vào
cung vua, lấy một hạt kim cương đeo nơi cổ hoàng hậu, lúc đó đương thiêm thiếp
giấc nồng. Quạ đem về biếu nhà sư và nhà sư lại đem tặng cho bác thợ săn làm kỷ
niệm. Không may, hoàng hậu lúc tỉnh dậy biết rằng mất kim cương lại tâu vua;
vua bèn truyền rao trong dân chúng ai bắt được thì thưởng cho một ngàn cân
vàng, một ngàn con ngựa, một ngàn con bò; ai bắt được mà không đem nộp thì bị
tru di cả họ. Không để lỡ dịp may ít có, bác thợ săn bèn trói vị sư lại nạp vua
và tức khắc kẻ tu hành bị đem xử trượng rất nặng nề. Ngài chắp tay vào ngực tụng
kinh và tình cờ đã nói đến chữ “Trăng” tức là tên con rắn. Sau khi hỏi hết đầu
đuôi câu chuyện, rắn quyết chí báo thù. Nó nói: Nhà vua đây chỉ có một thái tử
đông cung, để tôi vào tôi cắn cho hắn chết, rồi ngài lấy thuốc của tôi mà trị
cho sống lại thì thể nào cũng được tha. Đêm đó thái tử bị rắn cắn chết, nhờ
viên thuốc của rắn cho, vị sư chữa cho thái tử hồi sinh thực. Vua bèn vái nhà
sư và xin chia nửa giang sơn, nhưng nhà tu hành nhất định khước từ. Tức thì vua
hiểu hết và phán rằng: Bạch đại đức, nếu ngài không nhận phần nửa giang sơn của
trẫm thì đâu có thể nào ngài lại ăn cắp hạt ngọc kim cương? Lúc đó vị sư mới
đem hết cả câu chuyện ra kể lại, vua thương chảy nước mắt, và lập tức truyền gọi
bác thợ săn vào hầu: Ngươi đã làm một việc ích quốc, hãy về đem hết bà con lớn
nhỏ trong chín đời lại đây để trẫm thưởng cho. Bác thợ săn đem hết cả họ hàng nội
ngoại lại trước đền; vua phán: Sự hung ác và lòng bạc bẽo là hai cái tội lớn
hơn hết. Rồi truyền lính giết chết, họ hàng nhà bác thợ săn không còn lại một
người nào sống sót.
*
“Sự hung ác và lòng bạc bẽo là hai cái tội to lớn hơn hết”.
Câu sách đó của nhà Phật, dân nước ta vẫn nhớ; bất cứ đối với ai, chúng ta như
vị sư kia, cũng đối đãi bằng cả một tấm lòng chân thật; và mặc dầu ở vào trường
hợp nào chúng ta cũng đã cư xử không có thể nào tốt hơn.
Vậy mà câu chuyện vật trả ơn, nhân trả oán, một lần nữa lại xảy
ra với chúng ta, câu chuyện não lòng, nhưng lần này thì “nhân” không là một người
nữa, mà là mười người, trăm người, cả một bọn hèn đốn đã nỡ cất miệng lên chửi
trời, đã lấy những tư cách thất phu ra chế nhạo lòng đại lượng và rũ gấu váy để
trả ơn những kẻ đã thương họ, không đâm chết họ trong khi họ ngã. Muốn cho rành
mạch, ta nên kể lại từ lúc bắt đầu thì hơn.
Trung tuần tháng ba dương lịch năm 1945, Pháp kiều ở miền Bắc
Việt Nam sực tỉnh một giấc mơ dữ dội. Đùng, vỡ sâm-banh! Đùng, tan
bí-tết! Đùng, đi đời cả pho-mát và bơ! Cái ngai thực dân cốt sắt mạ vàng tải từ
kinh đô Pháp-lan-tây sang giải đất này, tưởng là vững chắc không bao giờ đổ được,
vậy mà chỉ có một đêm, quân Nhật Bản bắn tan, bán làm sắt vụn cũng không có
hàng lông vịt đồng nát nào muốn rước. Thế là hết thời của viên cai trị mũi lõ
ký một chữ làm cho hàng ngàn người chết trong mười sáu tiếng đồng hồ; hết thời
của viên quan võ mắt xanh ngồi lên đùi gái ở trên ô-tô để chỉ huy quân lính; hết
thời của tên sát nhân người miền Nam nước Pháp đặt đèn dầu lạc lên bụng đĩ để
hút thuốc phiện với một bọn đầm trắng lôm lốp như những con lợn cạo. Hết, hết
thời của bọn mật thám Pháp bắn chết hàng chục nhà cách mệnh mà không động một
cái gân mặt nào; hết thời của những mụ đầm nếu không đi ngoại tình thì lại đú đởn
ngoài phố, chửi cả giống da vàng là bẩn; hết thời của những tây con lấc lấc chửi
cả nước người ta, ậm à ậm ệ đi hút thuốc phiện quịt tiền rồi nằm lơ mơ chửi cả
tổ tiên của chúng là người người Gô-loa nữa.
Không, cái thời của họ hết thật rồi. Văn minh quá sức đến như
thế, một trăm năm nữa cũng chưa thể cất đầu lên được, vậy thì cứ cho tự do ở ngoài
này làm cái trò gì? Một số người Pháp, vì thế, đã được trịnh trọng đem bê vào cất
trong những buồng giam. Trong khi đó, một số khác đông hơn, xét ra giam cầm
cũng chỉ được cái nghề ăn hại cơm hại gạo thôi, nên vẫn còn được buông thả ở
bên ngoài, đi lại ăn uống và… huếch cái mũi lõ lên chờ đợi bọn đờ-gôn, đờ-gôn-lit,
đờ-gôn-liên, đờ-gôn-la đem một cái tàu lông vịt đổ bộ độ một trăm quân lính,
mang súng lông ngỗng, đeo kiếm gỗ Hàng Trống, đến giải cứu và lấy lại chủ quyền
cho họ!
*
Người ta kể chuyện rằng lúc quân Nhật đổ bộ ở Phi-luật-tân, ở
Tân-gia-ba, ở Nam Dương quần đảo, thổ dân không chậm trễ một giờ, đã đi tìm
quân thực dân Anh Mỹ và Hà Lan để giết. Có kẻ bị trôi sông, có người bị đâm
chém, lại có anh bị bêu đầu.
Sau đêm 9 tháng 3 dương lịch ở nước ta, ta cũng có thể nhân
lúc quân hồi vô phèng xử sự như thế và hơn thế nữa. Bởi vì cái ách thực dân mà
họ đeo vào cổ dân ta có lẽ còn nặng nề, ác liệt gấp mấy mươi Anh Mỹ và Hoà Lan
nữa. Nhưng chúng ta không làm thế. Không phải chúng ta không biết nóng nảy đâu,
không biết thù giận đâu; mà cũng không phải chúng ta hèn nhát đâu; nhưng cái
khí hậu của xứ sở này, cái luân lý cố hữu của đất nước này, cái lòng vị tha đã
thành phương ngôn của dân tộc này đã luyện cho dân ta một tính thâm trầm, biết
suy trước nghĩ sau, một lòng tha thứ và một bụng thương người mông mênh.
Con cháu của Nguyễn Huệ, của Trưng Trắc Trưng Nhị, của Trần
Hưng Đạo, của Hoàng Diệu của Phan Đình Phùng không bao giờ lại thèm đánh những
người đã ngã.
Ảnh hưởng của những kinh truyện cũ luyện chúng ta thành những
tên lính có hai bàn tay sắt tự đứng ra giữ gìn nổi đất nước mình, nhưng không
chỉ biết lăn vào mà chết; hơn thế lại còn tạo chúng ta nên những bực anh hùng
biết lấy cái nghĩa và cái đức ra mà sống với nhân loại nữa. Ta nâng kẻ thù ở
bãi chiến trường dậy và dù nó nhắm lúc vô ý mà bắn trộm ta, ta cũng vẫn cho uống
nước như thường; ta là vua nước Trần sang đánh Thái, không tuyệt diệt nhân quốc,
trái lại, lại kính trọng nền dấu tổ tiên người Thái, lập con cháu nước Thái lên
làm vua và tự bỏ ngân quỹ ra để sửa sang tôn miếu; ta không thể làm Lã Mông
nhưng chỉ có thể là Quan Vũ đánh Hoàng Trung ngã ngựa nhất định không giết, cho
về thay ngựa khác rồi lại ra đánh lại. “Hưng diệt, kế tuyệt”. Cái chính sách của
các bậc thánh vương Hạ, Thương, Chu lấy việc làm hưng các nước đã bị diệt và
làm sống lại những dấu vết các nước đã bị tuyệt, từ xưa vẫn là phương châm sống
mạnh của tổ tiên người Việt Nam. Được thừa hưởng một gia sản tinh thần như
thế, người Việt Nam năm 1945 không bao giờ nghĩ chuyện trả thù người
Pháp. Không, không, trái lại! Lấy một tấm lòng bác ái thành thực mà ăn ở với bất
cứ ai ai, chúng ta thương những kẻ tàn ác đã giết thần xác và tinh thần dân ta,
chúng ta ghi nhớ cái thù Pháp-lan-tây đô hộ nhưng chúng ta vẫn để cho họ, đến
bây giờ vẫn cứ được phép ăn gạo của ta, hút thở một không khí với ta và đi trên
một con đường với ta.
Một mụ già, một ả đầm đẻ rơi, một đứa con tây bị xe cán,
chúng ta chạy lại đỡ dậy và an ủi, như chưa bao giờ giữa Pháp và Nam có xảy ra
chuyện gì. Hơn thế nữa. Thấy một tên Pháp cụt chân vì lửa đạn, bê cái mặt xanh
rớt đi cùng đường để ăn xin, có người mình lại còn gọi lại cho tiền; một con điếm
mắt xanh, trước chửi người Nam là “mọi rợ”, bây giờ đứng đầu đường xó chợ bán
cái coóc-xê cuối cùng để lấy tiền ăn, người mình cũng bỏ tiền ra để giúp hơn là
để vua; và thành phố hiện giờ còn bao nhiêu người Pháp ngửa tay đi ăn mày mà
người mình vẫn cho cơm ăn áo mặc, như đã cho những người không may khác cùng một
giống da vàng máu đỏ?
Đứng trước một tấm lòng vĩ đại như vậy, một người Pháp biết
nghĩ có lẽ cảm động lắm và tưởng tượng như muôn kiếp ngàn đời cũng không thể
nào ăn ở cho phu.
Thế mà… đấy, một số Pháp kiều ở đây ăn cháo ở bát và đái ngay
vào bát để đền đáp tấm lòng tốt của chúng ta như thế đấy!
Họ bao nhiêu người? Tôi cũng chưa biết rõ, nhưng quả thực từ
hôm đảo chính đến nay, không một ngày nào không nghe thấy lòng công phẫn kêu
lên trên các mái nhà trong kinh thành.
Đây, mụ đầm Boutonnel, dữ tợn hơn con mụ chủ quán Thénardier,
kẹp một người bồi nam vào bẹn chỉ vì người bồi đó đã đi dự lễ truy niệm chiến
sĩ Nhật Việt ở chùa Quán Sứ. Kia, tên Léon Grix, chứa súng lậu trong nhà bị bại
lộ, nghi cho mẹ thằng bé giúp việc tố cáo, đã rủ hai tên “Khuyển Ưng Khuyển Phệ
tây” đến tra tấn và cắt nhau canh gác cho đứa bé không được ra đến đường. Đó,
hai anh em tên Laurell không biết thế nào để tiết cái máu “Gô-loa” ra được, uống
rượu ty và khoành một cái tay ra đi sinh sự với một người phu xe già rồi đánh
cho kỳ ngã, ngã rồi còn đánh. Nọ, tên Pierre Le Maitre, anh hùng hơn Đông-ký-xuất
đánh nhau với cối xay, nhảy lên một con ngựa… sắt, vác một cái súng… cao su đi
bắn lia lịa vào những cửa hàng ở phố Cửa Nam rồi bị đánh lại kêu người Nam là
mọi rợ. Lại kia, tên Piquemal bênh bạn mũi lõ tóc quăn và mụ Le Maitre, xót đứa
con mất dạy, chửi rầm rĩ và xé áo của cảnh binh, rứt lon vứt mũ xuống đất và lấy
chân chà nát. Lại kia nữa, tên Léon Roturier béo tròn như gã Săng-xô, nằm trên
xe mà hát nhạo giống da vàng, bị cảnh cáo, lại phát khùng, gọi tất cả mọi người
là chó.
Kể hết cả kỳ công của những bực quái kiệt đó ra đây, tôi sợ sẽ
làm thương tổn đến lòng tử tế của các ngài bởi vì lòng tử tế của người ta có hạn;
nhưng dù không nói còn ai lại không biết câu chuyện gã Vignais ở hiệu bánh
Tràng Tiền, hôm 11/6 vừa đây, hôm có cuộc hội họp thứ nhất của thanh niên miền
Bắc nghe ông Bộ trưởng bộ Thanh niên diễn thuyết? Một tên bợm, xuất thân làm bếp
và hiện đương xử cái nghề ăn cắp là cô đường ta lại, vẩy nước hoa đóng hộp mà gọi
là mélasse au miel de Chapa; một con đĩ mắt vọ trước làm chủ tiệm
Elderados chuyên chứa quân giết người và mật thám ra vào bàn soạn cùng là nghe
máy truyền thanh lậu thuế, một thằng mũi lệch vẫn có tên tắt là Rudex cũng mật thám
nốt, lại kiêm nghề quấy bột pha phẩm vàng vào trộn trứng vịt rồi gọi là “crème
aux oeuf de faisans hawaiens”. Ba cái cặn bã của một xã hội đó, ba cái mẫu người
sống theo kiểu họ nhà tôm đó, các ngài nghĩ xem, nếu tất cả các dân tộc đều có
quyền tự quyết, thì liệu có xứng đáng làm ba đứa ăn mày hạng thứ mười một ở nước
ta không? Ấy vậy mà đứng trên cái gác thứ hai ngôi nhà bán bánh, chúng đã nhằm
chính lúc thanh niên ta cầm cờ vàng đi qua hát bài “Thanh niên” mà nhổ xuống ba
bãi nước bọt bẩn thỉu rồi bĩu môi, rụt cổ, vỗ tay chế diễu. À không, cái lòng
tha thứ của người ta chỉ có thể có chừng thôi. Làm thế này thì quá lắm; người
ta có thể liệt cử chỉ cục cằn của chúng vào cùng một duộc với cử chỉ khốn nạn của
ba tên Pháp nhà băng dạo nọ, − ba tên Pháp, không có cách gì để rỏ rằng mình là
đống phân của đám rác thực dân, đã xé cái quảng cáo “Việt Nam độc lập” mà di xuống
đất.
Không một người nào bảo người nào, tất cả những người Nam có
mặt hồi 6 giờ 20 ở phố Tràng Tiền hôm đó đều kêu lên một tiếng “Chớ nên làm thế!”
Nhưng cái “máu gô-loa” của họ xưa nay vẫn vậy: đã làm điều trái, mà người ta cảnh
cáo cho, không những không chịu thôi, lại cứ làm điều trái cho đến cùng. Con mụ
mắt vọ rũ gấu váy và hếch cái điểm bộ lên; thằng bợm Vignais cúi mặt xuống đường
nhổ lia lịa như trẻ con tiểu tiện và tên mật thám Rudex vòng hai tay lại làm
loa ở mồm và hô “Bande de salauds”.[a] Có
lẽ họ cho thế là chính khí, là gan dạ, nhưng người Việt Nam thì nhất định cho
thế là mất dạy, là ăn mày, là đểu cáng, là vô giáo dục, là… đồ thực dân, nên
ngàn người như một, đã nhất định cho chúng một bài học xứng đáng với tầm sức của
chúng là quả đấm và cái đá.
Các ngài có biết hai vị gà chọi anh hùng và con điếm anh thư
đó đã làm thế nào không? Cái mặt xám ngoét lại, cái mũi dài hẳn ra, đôi chân
gióng một như bam bam bắp chuối không đi được, chúng đã bò nhanh xuống đất,
khoá cửa và, trái hẳn với cái lễ phép của phương Tây, chúng đã móc cẳng lên tai
chạy trốn, không huýt sáo, không vẫy khăn mặt mà cũng không chào anh và tôi một
lời. Cái tài lủi, nhất định là giống cuốc phải tôn chúng lên làm thầy đó! Những
người Nam trèo ống máng lên từng gác thứ hai tìm chúng không thấy,
còn biết làm thế nào? Họ đành phải đập bể một vài đồ đạc của chúng đi, viết đôi
chữ lên tường cho chúng biết và sau rốt một người đã để lại ở giữa nhà chúng một
kỷ niệm lạ lùng mà kỷ niệm đó nhất định là ai cũng có, chứ không phải là thứ
crème aux oeuf de faisans hawaiens, độc quyền Rudex và Vignais!
*
Trên một căn gác con giữa Hà thành, kẻ cầm bút viết bài đến
đoạn này, vừa vặn ba giờ sáng. Lòng bình tĩnh như không bao giờ có thể bình
tĩnh hơn, tôi bỏ bút xuống và nghĩ lại lần thứ bảy mươi hai về thái độ của người
mình đối với cái hạng Pháp kiều vô lễ nói trên. Vâng, vâng! Ngay lúc những chuyện
đáng buồn này mới xảy ra, tôi xin thú là đã không có ý tưởng gì rõ rệt; nhưng đến
đêm nay ngồi viết bài này thì thực là nhất định lắm rồi, quả quyết lắm rồi và
tin chắc là phải lắm rồi.
Luôn một tuần, tôi đã đi tìm hỏi ý kiến của nhiều người trong
tất cả các giai tầng xã hội: từ một cô buôn bán ở chợ đến một cậu học sinh, từ
một thanh niên đến một bà quan phụ mẫu, từ một công chức đến một cụ già đầu bạc
răng long. Tất cả đều nói một lời: “Phải lắm!”
Phải, cái đất này vẫn là đất dung người, ai đến ở cũng được,
mà giống nào cũng được coi là anh em. Người Ấn Độ cứ buôn bán làm ăn; người Tàu
năm 1937 bị thua Nhật, chạy qua biên giới sang đây cứ ăn gạo của chúng tôi, cứ ở
nhà của chúng tôi, cứ được chúng tôi đặt lên hàng thượng tân; và chúng tôi lúc
nào cũng có ở mâm một cái bát và một đôi đũa cho khách lạ, và một cái giường
cho những kẻ lỡ chân. Nhưng cái đức thương người cũng phải có chừng có mực:
chúng tôi tốt nhưng không hèn. Người ta không thể ở đất của chúng tôi mà lại chửi
cả nước chúng tôi, không thể chịu ơn chúng tôi mà lại khinh miệt chúng tôi;
chúng tôi có bàn tay mềm dẻo để đỡ người nhưng đến lúc cần phải đánh thì đánh mạnh.
Ngay lúc người Pháp còn nắm chủ quyền ở đây, chúng tôi dù chỉ
tay không, cũng đã đánh như thế chứ không phải đợi đến bây giờ mới đánh. Đứng về
phương diện phản đối và cách mạng, chúng tôi không đánh một người, mười người
hay một trăm người Pháp, nhưng đánh tất cả giặc Pháp đế quốc, và cứ mươi mười
lăm năm lại phanh ruột dội máu ra một lần.
Bây giờ, đối với họ, chúng tôi không thèm đánh nữa bởi vì họ
đã bị thua Nhật rồi, nhưng chúng tôi phải đánh những tên giặc Pháp vẫn còn nuôi
những tư tưởng thống trị, những tên giặc Pháp vẫn còn nghĩ rằng họ có quyền bắt
dân này làm nô lệ mãi cho họ, những tên giặc Pháp không biết thân, vẫn cứ tưởng
rằng tất cả đều mọi rợ, chỉ có họ là văn minh.
Đánh như thế chính thực không phải là đánh họ, nhưng đánh vỡ
cái tư tưởng khốn nạn ở trong sọ họ đi; đánh vì công phẫn, đánh theo lối hội đả
như ở Mỹ châu, Hy Lạp.
“Thế nhưng mà dù sao ta cũng nên biết rằng kéo hàng trăm hàng
chục người đánh một tên Pháp, người ta cho là hèn”.
Ngài nào nói ra câu danh ngôn đó xin cứ yên tâm, đừng sợ. Thì
chúng tôi vẫn nói rằng ta không đánh một cá nhân Pháp kia mà! Đánh như thế là hội
đả, đánh vì lòng dân công phẫn chứ có phải là kéo bè kéo đảng để đánh một người
khác đâu, có phải là lấy sức mạnh để đánh nhau với sức mạnh đâu; đánh như thế,
thế giới gọi là lyncher [a] đó,
đánh như kiểu đánh một con chó dại.
Một con chó dại, thè lè lưỡi, chạy cùng đường cắn người ta; một
bọn người đi qua có thể cứ giương mắt ra nhìn à?
Đừng có nghi ngờ, đồ phản động! Ta phải kéo cả phố ra mà
đánh.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 250 (24/6/1945)
[a] “Bande
de salauds” (chữ Pháp): bọn đểu giả!
[a] lyncher (chữ
Pháp, từ chữ Anh lynch): kiểu hành hình của kẻ phân biệt chủng tộc đối với
người da đen.
DE GAULLE CẦN PHẢI KỂ TỘI DE GAULLE TRƯỚC!
Nếu quả thực De Gaulle kết tội Georges Claude,
nhà hoá học đã sáng chế ra bom bay. Phải chăng việc
xử giam chung thân này chỉ là một phương pháp rút ruột
nhân tài để lôi ra một phương pháp sáng chế gớm ghê?
Còn ai lại không nhớ chuyện bom bay?
Hồi đầu năm nay, nước Anh đã bị khốn khổ vì chuyện đó: cảnh
đương tốt đẹp, tự nhiên ba mươi mốt quả bom, không do phi công ở trên thả xuống
mà cũng không phải người ngồi trong điều khiển như kiểu nhân ngư lôi, lừ lừ bay
đến giữa kinh thành reo sự khủng bố và làm chết người, đổ nhà… Bom ấy tự Đức
bay sang và gọi là V1, V2 và V3.
Ba thứ bom, ba tên, nhưng tựu trung cũng từa tựa nhau, chỉ
khác một đôi chút về tiểu tiết, nhưng đến sự tàn hại thì thực đã ghê gớm mà định
đánh ở chỗ nào thì quả đã không lầm. Hàng triệu nhà bị phá, hàng mươi vạn người
bị chết. Trước khi ngã, Đức làm cho thế giới thất kinh. Và riêng ở nước ta, người
mình đã có lúc nghĩ đến thần thánh trong truyện Phong thần phi kiếm ở
trong lò thái cực sang bên địch.
Cái khí giới lạ lùng! Người ta đã khảo cứu và tính chuyện
phân chất để cũng làm bom bay đánh Đức. Nhưng chưa kết quả. Bỗng Đức thua. Và
chuyện bom bay gần như chỉ còn là một giấc mơ hãi hùng, thì hôm mới đây có tin
báo nhà hoá học kiêm lý học Georges Claude, sáng chế ra bom bay, đã bị đem ra
toà. Mà ai mang ra? Không, cái nước hại vì bom bay nhất là Anh thì không nghĩ đến
chuyện bắt Georges Claude làm tội. Nhưng là bọn “gô-lít” nước Pháp: họ buộc
Georges Claude vào tội tại sao lại bán phương pháp sáng chế và xưởng làm bom
bay cho Đức? Đã đành sau mỗi cuộc chiến tranh người ta thường hay có thói kết tội
những kẻ sáng chế ra những khí cụ giết người, mà những nhà sáng chế đó cũng
không cần phải đợi có ai bào chữa hộ… Nhưng chúng ta cũng nên biết qua tình cảnh
của nước Pháp trước cuộc chiến tranh này ra thế nào.
Nói cho đúng, rất nhiều cái sáng kiến hay về khoa học đều do
Pháp đẻ ra, nhưng nước Pháp đã do một bọn chính khách sâu mọt cầm đầu nên hầu hết
những sáng kiến đó phải mai một cả. Những nhà sáng chế có tiền lễ cho các nhà cầm
quyền thì mẫu phi cơ, kiểu chiến hạm hay phương pháp chế tạo thuỷ lôi của mình
được công nhận; bằng không có tiền thì cứ việc mà chết đói nhăn răng.
Cái ý làm phi cơ vĩ đại kiểu B-29 bắt đầu từ ở Pháp mà Mỹ thực
hành, thì ta cũng không nên lấy làm lạ bom bay của người Pháp nghĩ ra mà lại
đem làm ở Đức để đánh Anh và Pháp.
Việc này rất đáng để cho ta suy nghĩ về sự sử dụng nhân tài của
nước Việt Nam độc lập sau này.
Riêng về trường hợp Georges Claude thì đời ông ta cũng nên biết
rằng nó bí mật cũng chẳng khác gì chuyện bom bay. Ông nguyên là người Pháp,
sinh ở Paris vào một năm lịch sử: 1870, năm xảy ra cuộc Pháp-Đức chiến
tranh tính đến nay vừa được 75 tuổi. Năm 1922, ông đã nổi danh khắp hoàn cầu về
hai sự phát minh: ép không khí thành chất lỏng và chế “a-mô-ni-ắc” bằng cách tổ
hợp. Ông lại còn […][a] người
sáng nghĩ ra đèn “néon”. Cách đây chín năm, Georges Claude đã bắt đầu phát sinh
ra cái ý niệm làm bom bay. Cái ý niệm này, một nhà văn nước Pháp đã viết trong
một cuốn dự tưởng tiểu thuyết theo kiểu Đi chơi cung trăng của Jules
Verne, tôi đã được đọc hồi hãy còn đi học. Hồi đó ai dám tưởng rằng sự phát
minh dự tưởng đó lại có thể là một sự thực của ngày mai? Một quả bom có tính
cách phá tan nhà cửa thành ra bụi cát, do một người điều khiển từ xứ Ái Nhĩ
Lan, tự nhiên bay vù vù như một con chim khổng lồ sang đánh đúng Paris…
Nước Pháp lúc đó đang hoan hô cái tục khoả thân và uống hàng
triệu triệu thùng rượu “vit-ky” đâu lại có để ý đến câu chuyện điên rồ đó? Vì vậy
nhà sáng chế dự tưởng kia đã lọt vào trong con mắt của người Anh và ban trinh
thám Intelligence Service đã nhận thấy ông ta ở trong con người thực của
Georges Claude. Và họ đã đem Claude sang đảo Ái Nhĩ Lan thực.
Có ai còn nhớ chuyện Hitler cướp Mussolini ở trong tay Anh, Mỹ
hay không?
Ở Ái Nhĩ Lan, cách đây tám năm, một vụ cướp tương tự thế cũng
đã xảy ra, mà kẻ bị bắt chính là nhà hoá học kiêm lý học đã sáng nghĩ ra bom
bay vậy. Georges Claude, được chính phủ Anh săn sóc, lập một phòng thí nghiệm
bí mật ở trên một cái đồi khuất nẻo. Goá vợ, ông ta sống với con gái và con rể
(cũng là một nhà bác học nổi danh) để ngày đêm nghiên cứu về bom bay. Thì bỗng
một hôm kia, cả gia quyến Georges Claude đều mất tích. Và từ đó không bao giờ
người ta còn biết hành tung của Claude…
… Trừ ban trinh thám Intelligence Service. Họ biết rằng
Claude đã bị mấy nhân viên trong ban tiền tuyến của Đức bắt đem về một cái lâu
đài gần biệt thự của Tổng thống Hitler ở Bersteinghaden, nhưng làm thế nào được?
Đảng quốc xã, đang mạnh, lúc đó canh gác nhà hoá học như thể chăng lưới sắt…
Nhưng rồi việc đó cũng qua đi.
Cho đến một ngày đầu năm nay, giữa một buổi trưa trong đẹp,
ba mươi mốt quả bom trắng hếu, không do phi công ở trên trời thả xuống mà cũng
chả phải người ngồi ở trong điều khiển như kiểu nhân ngư lôi, bay đến gieo sự
khủng bố ở giữa kinh thành Luân Đôn.
À không, đến cái khí giới này thì ông Churchill đã phải nhận
là đã làm hại đất nước Anh nhiều lắm.
*
Ta không ca tụng Đức làm gì nữa, bởi vì về phương diện khoa học,
Đức vẫn được liệt vào hạng nhất. Nhưng tại sao lại không rút ở trong việc này
ra một bài học cho ta?
Những khối óc lớn, ở vào một nước nhỏ, không bao giờ mưu được
một công cuộc gì khả thủ. Cái việc cần nhất của một chánh phủ là phải biết tìm
nhân tài và đem ra trọng dụng. Chuyện vua Tự Đức hồi phong trào duy tân không
nghe lời Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ là một chuyện thê thảm
của nước ta đã bỏ phí nhân tài vậy.
Trước cuộc chiến này, Pháp cũng thế. Dưới quyền một ông tổng
thống “ngủ nhè” bị Đức đánh vào gần đến Paris rồi mà vẫn còn khóc vì không biết
mình nên trốn hay nên chạy, bọn chính khách mọt dân đã bóp bẹp những khối óc vĩ
đại vì đã đuổi những kẻ có thực tài đi tản mác trong thế giới. Bọn chính khách
đó muốn sống yên thân với tiền bạc ăn đút của ngoại quốc và cuộn tròn mình ở
trên bụng những con điếm quốc tế làm nghề rút ruột bạn lòng và rút luôn cả những
sự bí mật trong quốc gia của họ.
Vì vậy, ta mới thấy chuyện ông tổng trưởng này bỏ tù một nhà
văn vì đã dám nói thực ý tưởng của mình ra; kia một ông phó giám đốc bộ ngoại
giao đánh cắp bức điện “Indifférent” cổ kính; lại nọ, một ông xã trưởng giam giữ
người ta lại vì một người đã có can đảm nhạo một cuộc thi bay quốc tế.
Có ai còn nhớ chuyện một ông tổng trưởng bộ hàng không làm
gãy cánh máy bay Pháp thế nào chăng? Một nhà sáng chế nghĩ ra được một kiểu phi
cơ trận, nhưng chết một nỗi là không có tiền để “vi thiềng” cho kẻ cầm đầu: kiểu
máy bay đứng tên đó không được bộ hàng không công nhận. Một tháng sau, người ta
công nhận một kiểu máy bay khác tồi hơn, chỉ bởi một lẽ nhà sáng chế thứ hai
này có tiền nhiều. Chánh phủ đặt làm hàng vạn chiếc. Nhưng chưa xong được một
ngàn thì một nhà sáng chế thứ ba lại hiện ra, − một nhà sáng chế không những có
nhiều tiền mà lại còn có cả nhiều gái để dâng lên Ngài ngự… Tất nhiên một ngàn
chiếc phi cơ đã làm xong đó lại huỷ đi, để bộ hàng không công nhận một mẫu thứ
ba… Cứ thế, cứ thế mãi…
… Cho đến khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới, Pháp kêu rát
cổ bỏng họng xin Anh đem máy bay sang cứu, bởi vì nước Pháp thiếu máy bay dùng
về quân sự!
Thật cũng là một sự đáng buồn cho nước Pháp, cho một nước thật
mạnh mà cũng thật văn minh, bị sụp đổ trong phút chốc chỉ vì lẽ sâu mọt đục
khoét mà không làm thế nào chữa được.
Trận thế giới chiến tranh này, nói cho thực, có mấy thứ chiến
cụ lạ nhất? Có ba thứ: bom bay, chiến xa khổng lồ và phi cơ vĩ đại.
Như chúng ta đã biết, phi cơ vĩ đại kiểu B-29 chính là điều
sáng nghĩ của Pháp mà Mỹ đem thực hành. Ta cũng đã biết rằng bom bay cũng là một
sự phát minh của Pháp. Nhưng có một điều này mà ít người để ý: chính cái sáng
kiến đem chiến xa khổng lồ áp dụng vào chiến tranh khoa học tối tân cũng lại là
một sáng kiến của Pháp nữa, và báo Gringoire đã có nói đến từ 1938.
Ai là người đã có cái sáng kiến thứ ba? Đó là tướng De Gaulle
vậy.
Đối với việc trên này, chúng ta có cảm tưởng gì?
Một cảm tưởng rất nhàm. Một triết lý rất sáo. Thiên hạ thường
nói một cách, mà làm một cách. Nói mà làm được, càng hay; nhưng nói mà không
làm được thì thà làm mà không nói. Thảm thay là một nước có người nói mà không
làm! Nhưng có người nói mà không xét xem lời nói của người ta có thể làm được
không, để đem lợi dụng mà làm, thì cũng là một sự thiệt thòi ghê gớm!
Lỗi đó ai là người chịu trách nhiệm nếu không phải là chánh
phủ cầm đầu? Đã đành chánh phủ cần phải nghĩ những việc thiết thực, đừng nên mơ
mộng những chuyện bắt mặt trăng. Nhưng ta cũng chớ nên vì thế mà chỉ dám nghĩ đến
những chuyện thấp hẹp quá, phàm những chuyện gì hơi to lên một chút, nhất thiết
đều cho là dồ dại, viển vông.
Từ một nước mà thu hẹp phạm vi đến một cá nhân, ta vẫn thấy rằng
cái nghệ thuật cao siêu nhất là biết và dám. Biết trông, biết
nghe, biết tìm và dám nghĩ những chuyện vĩ đại và dám thực hành những chuyện
đó thành sự thực.
Nga đã đem thực hành cái sáng kiến chế chiến xa khổng lồ.
Đức đã đem thực hành cái sáng kiến chế bom bay.
Mỹ đã đem thực hành cái sáng kiến chế phi cơ vĩ đại.
Nga, Đức và Mỹ là ba nước đã dám nghĩ dám làm dám sống,
và sống mạnh.
Vậy, theo tin Domei, nhà hoá học kiêm lý học Georges Claude,
người sáng chế ra bom bay, đã bị chánh phủ “gô-lit” mang ra toà và kết án xử
giam chung thân vì đã bán xưởng hoá học của ông ta cho Đức.
Tôi tưởng nếu cần phải kết án thì kết án nước Pháp trước đã
thì hơn. Tại sao nước Pháp lại không biết sử dụng nhân tài? Tại sao nước Pháp lại
để cho sâu mọt đục khoét? Tại sao nước Pháp lại không đem những cái sáng kiến
vĩ đại kia ra thực hành?
Tôi không tưởng rằng tướng De Gaulle lại dồ dại thế đâu, bởi
vì nếu thật là người ta kết tội Georges Claude thì chính De Gaulle lại cần phải
kết tội De Gaulle trước: ông đã có sáng kiến đem chiến xa khổng lồ áp dụng vào
chiến tranh khoa học mà lại để cho Nga đem thực hành.
Không, đó chỉ là một cái cớ, đó chỉ là một cái dịp, theo thiển
kiến của tôi.
Cứ công bình mà nói, De Gaulle chưa chắc đã là một tướng vô
tài vô trí. Bây giờ không phải là lúc ngồi kể tài của ông ra, nhưng dù là ghét
nước Pháp thực dân đến bực nào, tôi vẫn cứ phải nhận rằng De Gaulle phải
có một cái gì cho nên mới giữ được cho nước Pháp được một địa vị như ngày
nay vậy.
Việc Syrie - Liban là một sự thất bại của De Gaulle trong
công cuộc đấu trí với Anh, nhưng trong công việc xử giam chung thân Georges
Claude, ông không thể là một người ngu dốt.
Biết đâu trong việc xử giam này lại không là một thâm ý của
ông? Tôi không thể tưởng tượng được một nước như nước Pháp lại chịu thua một
cách nhục nhã để mà không có một ý niệm gì về sự phục thù…, không có một ý niệm
gì về sự phục hưng…
Tôi nghĩ rằng bây giờ có lẽ chính là lúc De Gaulle ra tay sửa
lại những điều lầm lỗi của nước Pháp trước kia; tôi nghĩ rằng có lẽ chính lúc
này là lúc De Gaulle dụng kế để gọi nhân tài về nước; tôi nghĩ rằng lúc này có
lẽ chính là lúc De Gaulle muốn sửa soạn để lấy lại cái địa vị ưu thắng của nước
Pháp cũ… và biết đâu… chẳng là để sửa soạn đối phó với các nước địch, nếu Nga
và Pháp thoả thuận đi với nhau trên một con đường.
Sinh vào thời buổi này, nhân tài cũng như đồ vật quý, bị cướp
giật như chơi mà ban Intelligence Service của Anh thì lại có tiếng là tài về
khoa… ám sát.
Chả biết có phải tướng De Gaulle xử giam chung thân Georges
Claude là vì cái thâm ý bảo toàn cho Claude để rút cái phương pháp sáng chế bom
bay ở trong ruột Claude ra và lợi dụng khối óc khổng lồ của Claude để quăng vào
mặt nhân loại một ít sự phát minh kỳ quái mới?
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s.252 (8/7/1945)
HÀ NỘI CÓ GÌ LẠ?
Ông Tổng trưởng Nội các Trần Trọng Kim tiếp đại biểu các nhà
báo tại phủ Khâm sai
“Công việc thì nhiều, nhưng không thể nhất thiết làm xong
ngay một lúc. Ta hãy biết rằng: chủ quyền lĩnh thổ ba thành phố Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng hoàn toàn phục hồi về Việt Nam Đế quốc,[a] từ
ngày 20 tháng bảy, dương lịch hồi 12 giờ trưa (giờ mùa nực hiện hành trong nước)”
(Lời ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim tuyên bố với đại biểu các báo ở phủ Khâm
sai, chiếu thứ năm 19/7/45).
Năm giờ hai mươi phút thì ngài ở trên phòng làm việc phủ Khâm
sai bước xuống phòng khách. Ở đây, mười bốn nhà báo Hà Nội đã ngồi đợi. Cửa sổ
đều đóng vì trời còn nắng. Phòng lặng tờ tờ. Một ánh sáng mờ mờ. Ông Tổng trưởng
Trần Trọng Kim lặng lẽ bước vào, chân dận đôi giầy vải trắng. Không khí gian
phòng và những đồ trần thiết đơn giản thật hợp với ông Tổng trưởng vừa bước
vào, bình dị như một bức tranh vẽ chì. Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim cúi đầu
chào mọi người và chọn một cái ghế bên phải ngồi, không có một tiếng động con.
Ông xoa tay, cười và nói mấy câu cảm tạ. Giọng nói tự nhiên như cử chỉ. Quần áo
mặc, toàn là đồ trắng hạng thường, y như hồi hãy còn làm Thanh tra các trường
sơ học Hà Nội. Ông vẫn giữ cái vẻ bình tĩnh thanh thản, nhưng so với lúc trước
thì cử chỉ có vẻ dễ dàng và nhanh nhẹn hơn nhiều. Người có sút đi đôi chút,
nhưng da dẻ hồng hào, trông có bộ mạnh hơn. Ông nói nhỏ nhưng dễ dãi; ông chọn
chữ chọn câu nhưng thao thao bất tuyệt. Ta có cảm tưởng ngồi nghe một ông bạn
già kể chuyện tâm sự một cách thành thực. Nói như nói chơi mà làm cảm động lòng
người lắm.
− Tôi ra Bắc chuyến này là để điều đình với các nhà đương chức
Nhật mấy việc. Trong những việc đó, có một việc đã có kết quả hay: người Nhật bằng
lòng giao trả nước ta ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Mai, thứ sáu
20 tháng bảy năm 1945, hồi 12 giờ trưa sẽ cử lễ phục hồi ba tỉnh đó về đế quốc
Việt Nam. Chả nói thì ai cũng đã biết, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng từ 57 năm
nay bị cắt nhượng cho nước Pháp; nay nước Nhật giao trả cho ta, ba thành phố kể
trên sẽ cứ giữ địa vị nguyên như cũ. Quyền quản trị trong mỗi thành phố sẽ giao
cho một ông Thị trưởng do Chánh phủ Việt Nam cử ra. Hà Nội thì là ông
Trần Văn Lai, Hải Phòng ông Vũ Trọng Khánh, và Đà Nẵng là ông Nguyễn Khoa
Phong.
Đó là một trong những công việc mà tôi có trách nhiệm ra đây
điều đình vậy. Tôi còn điều đình nhiều việc khác nữa, và hầu hết được các nhà
đương cục Nhật, vốn có trí óc sáng suốt, đã vui lòng để ý xem xét rồi… Tôi mong
rằng chúng ta sẽ được toại nguyện; nhưng bao nhiêu công việc đó không phải chỉ
trong một ít ngày mà giải quyết hết cả đâu. Ta phải đợi chờ và cần làm việc cho
thứ tự, chứ bây giờ quốc dân muốn cái gì cũng phải giải quyết ngay thì không thể
làm được. Bởi vì tình cảnh hiện đại nước ta thật có như một mối tơ vò: phải
kiên tâm ngồi gỡ từng nút, nếu nóng ruột thì chỉ thêm rối nát.
Nói cho thực, ai là người Việt Nam lúc này mà lại
chả sốt sắng muốn cho nước nhà mạnh ngay, giàu ngay, tự lập ngay? Nhưng cái thế
chưa làm được ngay thì làm thế nào được? Tôi tin rằng nước Việt Nam ta
sẽ có một tương lai tốt đẹp, nhưng công việc đó phải làm từ từ và tôi xin thề với
thanh thiên bạch nhật rằng cái sức tôi có thể làm thế nào được cho nước thì tôi
đem ra làm cả. Nếu có người nào xét rằng có thể làm được hơn thế để đưa nước Việt
Nam đến chỗ tốt đẹp mau hơn, thì tôi rất sẵn lòng giao trả lại để mà đi về nhà,
dưỡng cái tuổi già đa bệnh và đọc sách. Chính thực ra, lúc về đây, tôi không ngờ
lại còn được mạnh khoẻ như thế này. Đau lắm. Tôi bị bệnh cương mạch máu, lắm
khi phải nằm mà làm việc. Nhưng may ít lâu nay được ở bên cạnh hai bác sĩ Hồ Tá
Khanh và Vũ Ngọc Anh nên sức khoẻ đã khá và tôi lấy thế làm mừng lằm. Công việc
thì nhiều, nếu không có sức khoẻ không làm gì được cả. Tôi sẽ ở đây ít bữa rồi
trở về Thuận Hoá để rồi lại đi ngay, có lẽ đi Nam Bộ, bởi vì ở đó tôi cũng có
nhiều công chuyện cần làm gấp.
Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim còn nói nhiều chuyện về ngoại
giao, về tiếp tế, cho chúng ta biết một ít chuyện về tài làm việc và đức trầm
tĩnh của vua Bảo Đại; đoạn, mời anh em uống nước chè, những chén nước chè nguội
nhưng làm mát lòng người không biết bao nhiêu, và hồn nhiên lấy ra một cái bật
lửa hạng năm xu ngày xưa, cái hạng bật lửa có bùi nhùi đỏ, bật lên đưa cho mọi
người châm thuốc hút, một thứ thuốc hạng thường.
Trong hơn một tiếng đồng hồ hầu chuyện, người ta có cảm tưởng
ông Trần Trọng Kim thành thực về tất cả mọi phương diện và quả là một người xứng
đáng để cho quốc dân tin tưởng và hy vọng.
Sáu giờ bốn mươi nhăm phút thì bắt tay từ giã. Đại biểu các
báo ra về với những cảm tưởng tốt trong lòng. Tôi lui ra sau cùng, sau khi đã hỏi
ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim về công việc trước tác của ông hồi trước khi làm
Tổng trưởng.
Ông Trần Trọng Kim lấy tay vuốt mái tóc điểm bạc, gật đầu, trả
lời tôi:
− Có. Ngoài một cuốn sách khảo về thiên văn, tôi có soạn một
cuốn Việt Nam sử lược mới, hoàn toàn hơn và có phần nói rõ ràng hơn về
hồi Pháp thuộc, nhưng hiện nay, vẫn chưa xong. Tôi không biết bản thảo hiện để ở
đâu; tôi đương bảo cháu ở nhà tìm kiếm; nhưng chắc lúc này, bận rộn thế, tôi
cũng chưa thể tiếp tục mà làm cho xong ngay được. Âu cũng là một điều đáng tiếc.
Lễ phục hồi thành phố Hà Nội.
Ông Trần Văn Lai nhận chức Thị trưởng
Theo chương trình thì mười hai giờ đúng làm lễ phục hồi thành
phố Hà Nội, cùng một giờ với Hải Phòng và Đà Nẵng. Nhưng mười hai giờ kém mười
lăm, báo động. Mãi tới gần một giờ trưa, cuộc lễ mới bắt đầu. Đúng ra thì thành
phố đã dự bị một cuộc đón tiếp ông Thị trưởng Trần Văn Lai rất xứng đáng, nhưng
vì ông yêu cầu đừng làm gì, nên mọi công việc đón rước đều hoãn lại.
Cuộc đón rước vì thế rất giản dị, nhưng do đó lại hàm nhiều ý
nghĩa tốt đẹp hơn. Về phần quan chức Nhật ta nhận thấy ông phó Toàn quyền, ông
trưởng bộ tham mưu, cả ông tối cao cố vấn Yokoyama và Nishimura, ông quyền đốc
lý Konagaya và các võ quan đại diện lục quân, hiến binh… Về phần các quan chức
Việt Nam có ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim, ông Vũ Ngọc Anh, ông Phan Anh, ông
Hoàng Xuân Hãn, ông Phan Kế Toại và các ông giám đốc các công sở, các ông chủ sự,
các công chức. Giờ hành lễ, các quan chức Nhật và Việt đứng yên trên hành lang
toà Đốc lý hướng về phía vườn hoa Pôn Be làm lễ chào cờ. Phường nhạc Bảo an
binh cử bài “Đăng đàn”. Thanh niên hát. Và cuộc lễ cử hành ở trong phòng giấy
ông thị trưởng, trang hoàng rất giản dị nhưng sạch sẽ và sáng sủa, dưới bốn
chân tường có đặt những chậu cây lá xanh làm dịu mắt vô cùng. Ánh đèn dìu dịu. Ở
ngoài kia không khí rung động một cách hiền hoà. Hàng trăm người đứng trên bãi
cỏ trước Kho Bạc chờ xem.
Lúc phường nhạc Bảo an binh nghỉ, tức là lúc bắt đầu cuộc lễ.
Giữa là một cái bàn giấy. Quan chức Nhật đứng một bên. Quan chức Nam đứng
một bên. Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim tiến lại phía bàn, nhanh nhẹn nhưng vẫn
không thiếu vẻ ung dung, lấy bản chiếu nói về việc thống nhất lãnh thổ Việt Nam tuyên
đọc. Từ giờ này, ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng sẽ hoàn toàn phục hồi
về Đế quốc Việt Nam. Mỗi thành phố sẽ có một ông thị trưởng Việt Nam.
Hà Nội, Hải Phòng sẽ thuộc quyền Bắc Bộ Khâm sai đại thần, còn ở Đà Nẵng sẽ thuộc
quyền Nội vụ Bộ trưởng đại thần.
Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim cảm ơn Hoàng quân Đại Nhật Bản
đã giải phóng cho nước ta và các nhà đương chức Nhật Bản đã tạm đảm nhận các
công việc cai trị Hà Nội cho dân cư Hà Nội vẫn được an cư lạc nghiệp như thường.
Nay việc thống nhất lĩnh thổ đã thực hiện gần xong, bổn phận của dân nước là phải
lo đến việc duy nhất dân tâm, cùng với khẩu hiệu “quốc gia thống nhất” còn phải
hô khẩu hiệu “quốc dân hợp nhất”. Ông Bùi Như Uyên dịch hai bản diễn văn ra tiếng
Nhật xong thì ông thị trưởng mới Trần Văn Lai ra nói mấy lời cảm ơn quân đội Nhật
dầu khó khăn thế nào cũng giữ lời hứa giúp và ủng hộ nền độc lập các nước ở khu
đại Á Đông, và cuối cùng, ông mong rằng dân chúng Hà Nội sẽ không chia đảng
phái, đồng tâm hiệp lực làm cho Hà Nội to, đẹp, mạnh, giàu như kinh đô các đại
cường quốc.
Ông nguyên quyền thị trưởng Konagaya đáp lại mấy lời nhã nhặn
và ước rằng nhờ sự gắng sức, sự tận tâm và những đức tính tốt của ông thị trưởng
mới, một người bạn mà ông vẫn có bụng yêu, việc cai trị kinh đô Bắc Bộ Việt Nam
sẽ có kết quả tốt đẹp hơn và nền thịnh vượng của thành phố cùng sự sinh hoạt của
dân chúng mỗi ngày một tăng tiến hơn.
Sau hết, ông Trần Văn Lai mời các người Nam có mặt tại lúc đó
xuống đền Trung Liệt truy niệm hai vị anh hùng Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương,
khi xưa cố giữ thành phố Hà Nội đến lúc cuối cùng không được, đã đành tuẫn tiết
theo thành, lưu lại một trang oanh liệt trong Việt sử.
Lễ truy niệm hai vị trung liệt Hoàng Diệu và Nguyễn Tri
Phương
Còn nhắc lại các đoạn lịch sử ai oán đó làm gì nữa?
Nói cho đúng ra cái lòng địch khái của quốc dân ta, lúc người
Pháp mới sang xâm chiếm ở đây, cũng hăng hái lắm; nếu những người có quyền vị
có thanh thế biết đứng ra cổ lệ kích dương lòng ái quốc thì người Pháp cũng còn
lâu mới lấy được thành Hà Nội.
Tiếc thay những người đó lại sẵn lòng bán nước, táng tâm
không còn chịu biết tiết nghĩa là gì: nào Lê Trinh làm đề đốc bỏ binh quyền chạy
trốn; nào Thông Phong làm chim mồi cho Tây; nào Tôn Thất Bá leo tường chạy trốn;
nào Bố chánh Phan Văn Tuyển co giò lên tai, chạy về làng Mọc Quan Nhân; nào
lãnh binh Hồ Như Lễ, Nguyễn Đình Dương ném gươm quăng giáp để lạy Tây cầu sống…
Hỡi ôi, cái tinh thần nòi giống của người mình còn gì nữa nếu trong đó lại
không xuất hiện ra những liệt sĩ anh hùng như Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương,
thà can tâm chịu chết với thành chứ không chịu ôm đầu chạy trốn.
Cái chết oanh liệt của hai vị anh hùng đó, ngàn vạn năm sau vẫn
còn chói lọi ở trong Việt sử, và có quyền hưởng sự thành kính cho hai mươi nhăm
triệu đồng bào hàng năm vẫn đến chiêm bái ở Thái Hà Ấp, đền Trung Liệt. Đền
Trung Liệt, lúc mới lập, lấy tên là đền Tam Trung, vì đền thờ ba vị anh hùng
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và Đoàn Thọ, cả ba đều bỏ mình vì nạn nước, trong
khi giặc Pháp đến xâm lăng. Trung tức là một lòng ngay thẳng; Liệt là
“sức lửa nóng dư, không ai dám phạm”, lại có nghĩa “người có tâm chí cương quyết,
không chịu khuất phục một thế lực hay một sức mạnh nào”.
Xem vậy, hai chữ trung liệt dùng để gọi tên đền thờ
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và Đoàn Thọ thực là xứng đáng; vậy mà trước đây
ít năm, có kẻ lại dám lấy cớ trùng tu, đem đổi Trung Liệt ra làm “Trung Lương”,
lấy cái ý “lương” là tốt là hiền, không có gì đáng để ghi cái dấu thơm của ba vị
anh hùng tuẫn quốc, và đem luôn bài vị của mười người khác nữa bày luôn vào đó
để tính chuyện “ăn chực” phần hương khói.
Nhưng quốc dân ta đâu lại có chịu để cho người ta lừa dối như
thế được? Mà anh hồn của ba vị Đoàn, Hoàng và Nguyễn, khi nào lại chịu để cho
mười mấy kẻ kia được dự vào cùng một nơi cúng lễ với mình?
Báo giới quốc văn đã hết lời trách móc và lòng công phẫn của
quốc dân không một lúc nào thôi bốc cháy, nhưng vì có người Pháp che chở cho lũ
quyền gian nên cái Trung Lương vẫn cứ trơ trơ ra đó.
Nhưng trong có một đêm, chính quyền Pháp bị lật nhào. Những kẻ
bán nước rồi sẽ có chỗ ngồi riêng của chúng, nhưng việc đầu tiên người ta thấy
cần phải làm ngay là phá nát ngay hai chữ “Trung Lương” đi, đắp hai chữ “Trung
Liệt” cũ vào, và soạn lại bài vị xem cái nào nên để cái nào nên huỷ, và sau
cùng ban khám xét bài vị chỉ giữ lại nguyên hai cái: một của Hoàng Diệu và một
của Nguyễn Tri Phương.
Lúc ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim, ba ông bộ trưởng, ông
Khâm sai, ông thị trưởng và thanh niên nam nữ Việt Nam xuống đền Trung Liệt
truy niệm các bậc trung liệt, hồi ba giờ chiều thì ba chữ “Trung Liệt miếu” đã
đắp xong và kẻ sơn đen rất đẹp. Cây cối xanh tươi ôm lấy quả đồi có một vị trí
nên thơ. Chim nói, chim hót. Ánh nắng rực rỡ chiếu theo khe lá và lọt vào trong
đền làm rực rỡ thêm những hoa lá và hương nến bày ở trên ban thờ. Những vị đại
biểu của chính phủ Việt Nam kính cẩn đứng trước ban thờ làm lễ tam khấu. Một
không khí cảm động toả ra khắp đền và khắp quả đồi. Người ta muốn khóc vì sung
sướng, sung sướng vì thấy tinh thần đoàn kết chặt chẽ của quốc dân Việt Nam,
không những ở thế hệ này mà thôi mà lại còn với cả các thế hệ trước ta nữa và
sau ta nữa. Tinh thần đoàn kết đó sẽ là bất diệt, và dù là thiên công thử thách
ta đến bậc nào, ta cũng phải thấy rằng nước ta không diệt được, tinh thần ái quốc
của chúng ta không tuyệt được.
Nghiến răng căm tức quân Pháp trong bảy chục năm nay và giận
bọn quyền gian đã lừa dối đồng bào, hai vị anh hùng Nguyễn Tri Phương và Hoàng
Diệu từ nay hẳn được mỉm cười dưới suối vàng mà phù hộ cho nòi giống Việt Nam.
Nhưng còn ông Đoàn Thọ, một trong tam trung, không biết rõ là
ban xem xét bài vị đền Trung Liệt đã khảo kỹ càng chưa, mà việc bỏ bài vị đi
như thế là phải hay không phải? Tôi không được biết rõ. Chỉ xin nhắc lại để cho
các vị có trách nhiệm, các sử gia, các học giả xem xét kỹ càng hơn. Bởi vì nếu
từ trước đến nay đền Trung Liệt không thờ ông Đoàn Thọ thì không nói làm gì;
nhưng đằng này lại đã có thờ rồi, thờ vì có công cùng với hai ông Hoàng Diệu và
Nguyễn Tri Phương cố giữ thành Hà Nội, nay nếu không xem xét cho thực kỹ, nhất
thiết bỏ đi thì e rằng chẳng những đắc tội với tiền nhân mà lại còn làm tủi anh
hồn một vị liệt sĩ đã hy sinh thân thế cho đất nước.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 255 (29/7/1945).
BA BỨC THƯ THƯỢNG KHẨN
TA LẠI GỬI CHO TA
BỨC THƯ THỨ NHẤT
Tôi thấy cái bổn phận cấp tốc phải gửi cho anh bức thư này là
bởi vì tôi hiểu biết anh hơn ai hết. Anh hiện đương đứng ở trước hai cái cửa: cửa
sống và cửa chết. Khỏi phải nói, anh cũng biết ngay rằng cửa sống rộng thênh
thang nhưng đưa người ta đến sự hư mất đời đời; còn cửa chết thì dẫn ta đến sự
sống, nhưng lại hẹp hòi, chật chội.
Anh sẽ vào cửa nào? Tôi biết chắc là anh sẽ rẽ sang tay phải.
Bởi vì anh là người Việt Nam. Cái lịch sử, cái văn hoá của
nước chúng ta không cho phép ta được nghĩ đến những điều ty tiện. Ông cha ta đã
đem xương máu ra mở một con đường sống cho chúng ta thì chúng ta không được
phép quên mất linh hồn vô giá, quên mất sự giữ gìn nền độc lập hoàn toàn, quên
mất bổn phận bảo vệ hương hoả của ông cha để lại.
Chúng ta không thể đi vào cửa rộng để mà tìm cái chết.
*
Giờ phút này đây, anh đã thấy việc bảo vệ hương hoả của ông
cha ta cấp bách thế nào chưa? Cái nạn ngoại xâm chưa hết hăm doạ người ta, thì việc
nội trị lại như hét vào tai ta kêu đòi thêm cố gắng. Anh phải sống để mà đền nợ
nước. Nếu anh biết nghĩ, anh sẽ thấy rằng ví anh cố sống đến mười kiếp nữa thì
cái nợ nước đó đền cũng chưa phu: anh bỏ cả vợ, cả con, cả nhà, cả cửa để tranh
đấu cho nền độc lập cũng vẫn là chưa xứng đáng. Vậy mà anh đã làm những gì
trong giờ phút nghiêm trọng này? Anh ngồi đấy để mà xem những người khác chiến
đấu cho anh; anh giương đôi mắt hèn hạ nhìn thời cuộc và mong rằng sự may mắn sẽ
tự nhiên rơi xuống như sung để cho anh sống “tiếp theo và hết” cái đời ỷ lại
như con lợn. Hôm nay, vô tuyến điện có một chính khách kia tuyên bố sẽ ủng hộ nền
độc lập của nước nhà, anh sung sướng đi kháo cho khắp thảy mọi người được biết,
tuồng như chính sự độc lập đó đã do chính anh “phát minh” ra; nhưng ngày mai, nếu
tướng Đờ Gôn có phét lác kêu rêu tàu Richelieu đã quay mũi đi Đông Dương, − à,
xin anh yên chí cho rằng tôi đã biết trước là thể nào anh cũng phờ phạc, chán đời,
lo sợ như chó chết.
Thế thì còn ai biết anh là cái quái gì, hở anh ơi?!
Nước nhà đương qua một cái nạn lửa cháy này. Chắc chắn là
chúng ta phải nhìn thấy những sự sụp đổ của nền văn minh cũ. Theo luật tiến hoá
của thời gian, những lâu đài dinh quách mới sẽ do sự sụp đổ đó nẩy nở ra. Một
tương lai tốt đẹp hơn không cho phép một người nào bi quan cả. Vậy thì được bắt
tay vào một công cuộc kiến thiết vĩ đại như thế, tôi tưởng anh phải lấy làm vẻ
vang tự phụ, anh phải tranh đấu lấy một phần công việc của mình, anh phải lấy
làm sỉ nhục nếu không được góp sức trong cái bãi chiến trường cần lao đó; thế
mà anh lại dửng dưng là nghĩa làm sao? Tôi không hiểu. Ông cha ta ưa văn học cử
tử và yêu thích sự nhàn nhã, sự trầm lặng, sự lặng im. Anh phải chủ trương sự
tiến hoá, anh phải luyện lấy óc khoa học, anh phải tỏ ra là tên lính hăng hái
nhất trong đoàn quân chiến đấu với một sự đau khổ của nhân loại do sự dật lạc
gây ra. Anh phải tình nguyện làm một thanh niên đắc lực để làm trẻ lại cái quan
niệm giao kèo hoài nghi, phải chống lại sự bất bình đẳng làm cho nhân loại lầm
than khổ sở, phải xông ra trước nhất với toàn thể quốc dân tranh lấy quyền tự
do dân chủ: tự do đi lại, tự do hội họp, phổ thông đầu phiếu… Còn bao nhiêu việc
anh phải cùng với quốc dân phải đòi, còn bao nhiêu sự phản tuyên truyền của một
số ít Việt gian mà anh có bổn phận, trong phạm vi của anh, hét lên mà chống lại,
hầu có thống nhất quốc gia dân tộc!
Tiến lên! Phải tiến lên xung phong mà hiệp cùng dân chúng để
giết kỳ hết bọn sài lang cướp nước, để giải phóng cho giống nòi, để tranh đấu
cho tinh thần anh dũng, thích nguy khinh chết.
*
Tất cả những kết quả tốt đẹp của nền tân dân chủ anh đều ham
muốn cả, bởi vì anh là người. Đã là người thì ai cũng muốn bình đẳng cả, ai
cũng phải tranh giành lấy một chỗ đứng trong nhân loại. Nhưng anh lại không muốn
bắt tay vào tranh đấu, anh ỳ cái thân cụ ra không muốn tranh đòi gì hết; anh chỉ
rình người ta làm cỗ sẵn cho anh. Cái óc đó là óc ti tiện, óc khốn nạn, óc bẩn
thỉu, óc dê óc chó. Thảm hại, anh làm cho Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu,
Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Đạo đã chết rồi mà còn phải khóc vì đã có những
con cháu ươn hèn như anh đó!
Anh trả lời tôi thế nào?
À, anh tưởng là anh treo một cái cờ ra cửa, anh đi dự vào những
cuộc biểu tình, hô lên mấy câu “ủng hộ” rõ to, anh học được mấy bài Diệt
phát xít, Tiến quân ca để hát vang lên không suy nghĩ, thế là anh đã
làm bổn phận một công dân cứu quốc rồi ư?
Chưa đủ. Chưa đủ. Chưa đủ.
Mà tôi lại còn nói rằng như thế chưa là cái nghĩa lý gì. Như
thế, chưa phải là tranh đấu, chưa phải là đoàn kết. Đoàn kết và tranh đấu, anh
cần phải tranh đấu và đoàn kết cả khi không biểu tình, cả khi không hát, cả khi
không vẫy cờ. Anh phải coi sự đoàn kết như một tôn giáo, lúc nào cũng chỉ nghĩ
đến đoàn kết mà thôi, nghĩ đến đoàn kết khi ăn, nghĩ đến đoàn kết khi ngủ, nghĩ
đến đoàn kết khi làm việc. Đoàn kết lúc thắng cũng như lúc bại, đoàn kết lúc
vui cũng như lúc buồn, đoàn kết lúc dễ cũng như lúc khó.
Đoàn kết để cho thành một khối bền chặt như uy-ra-ni-om làm
cho bọn sài lang không chia rẽ được, đoàn kết để một là chết hết cả, hai là
hoàn toàn độc lập, đoàn kết để thương xót lấy nhau, nâng đỡ lấy nhau, bởi vì hỡi
hỡi anh ơi, nếu chúng ta không thương xót nhau, nâng đỡ nhau thì chả có ai nâng
đỡ, thương xót ta hết.
“Hãy tự cứu lấy”. Lời của đức giáo tổ còn ghi ở trong óc mọi
người. Mà xin anh nhớ cho rằng ở đời này không có gì không phải mua bằng sự nỗ
lực đấu tranh. Hạt lúa không chết thì cây lúa không mọc được. Đức chúa Giê-su
không chết để làm trọn thánh ý của đức chúa Cha, không thể cứu chúng ta khỏi tội.
Mà tổ tiên ta không dội máu đào, phơi xương trắng, thì đâu có chúng ta bây giờ?
*
Vậy thì tranh đấu, cũng như đoàn kết, anh cũng phải coi như một
tôn giáo nữa: “Không đổ máu không thể có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9.22) thì
không tranh đấu không thể có một tương lai được. Người trước anh và người đương
thời với anh, kẻ thì đã chết vì hi sinh, kẻ thì bỏ hạnh phúc quyết nằm gai nếm
mật không ngoài cái ý muốn cướp lại nền độc lập cho đất nước. Đất nước mà được
như ngày nay là do sự tranh đấu, sự hi sinh tột bậc của họ. Anh đã tranh đấu
chưa? Anh đã hi sinh một ít công lao, một ít của cải, một ít hạnh phúc chưa?
Hay là trong khi đồng bào anh nặng một lòng thương nước thương nòi thì anh ăn
cho trệ rồi đi tán láo chuyện đời, anh chỉ ròng nghĩ đến phong y túc thực và
anh lim dim con mắt nằm như một con bò trên cái sập gụ để chán đời và triền
miên suy nghĩ về dĩ vãng.
Giết chết ngay cái cuộc đời ấy đi cho ta, bởi vì còn kịp lúc!
Sự tranh đấu, anh phải hoà vào với không khí để anh hít thở,
anh phải coi như là một cuộc chạy thi, ai hơn thì vẻ vang, ai thua thì phải
luôn luôn tâm niệm: “Ta phải làm hơn mọi người”.
Anh ơi, sự chiến đấu trong năm sáu năm nay của quốc dân ta đã
gian nan vất vả lắm nhưng anh nên biết rằng cái kết quả hãy còn ít oi quá lắm.
Ngừng lại thì nguy ngay. Phấn khởi lên! Hăng hái lên! Nghiến răng lại mà tiến
lên! Cuộc tranh đấu còn dài, và tôi xin nói ngay rằng, − bởi vì tôi biết anh
không sợ sự thử thách − rằng giờ phút này đây, sự tranh đấu gian nan không kém
và có khi còn khó khăn hơn.
Vậy, khá khá đứng lên ngay, chuẩn bị lại tinh thần tranh đấu
để vượt qua những sự khó khăn sắp gặp đi! Thế hệ này là thế hệ can đảm. Quân Đức
vào được đến Moscou mà lại bị thua là bởi vì dân Nga biết tranh đấu đến người
cuối cùng, đến phút cuối cùng. Anh cũng sẽ tranh đấu như người dân Nga đó,
tranh đấu đến chết thì thôi, và anh sẽ thấy rằng tranh đấu mãi và đoàn kết đến
chết không bao giờ thua được. Nước Pháp chết vì những nhân tài của nước đó đã
không biết tranh đấu và đoàn kết. Nhất định quân Pháp xâm lăng sẽ bị chúng ta
giết chết hết ở đây, nhất định tất cả các quân xâm lăng sẽ bị chúng ta giết chết
hết ở đây!
*
Chúng ta hiện đang sống trong một cuộc đời cực khó. Trong lịch
sử của loài người, − mà ở nước ta thì ngay mới ngày hôm qua đây chứ đã xa đâu?
− thường có những ngọn trào trôi xiết, mang phăng phăng những người bơi lội yếu
đuối nhất đến cái đích vinh quang. Anh với các bạn anh không thế: các anh bắt
buộc phải bơi ngược dòng. Vất vả lắm gian lao lắm. Nhưng nếu thật anh là người
xứng đáng với cái danh hiệu “người” thực, nếu anh là người của thế kỷ thể thao
hai mươi này thực, anh phải nhận là anh lấy thế làm sướng lắm, sướng bởi vì gặp
gian lao, vất vả và nguy hiểm mà sự thành công nguy hiểm gian lao vất vả chỉ
làm cho người ta có giá trị hơn.
Bao nhiêu đức tốt nết hay mà hiện giờ ta cần phải có, chính
đã cứu sống cha ông ta. Luật tạo hoá không bao giờ thay đổi. Chưa bơi thì ta tưởng
như không bao giờ có thể tới được bờ, nhưng đã quăng mình xuống nước rồi thì lại
thích bơi mà tưởng tượng như bơi mãi không bao giờ mệt. Nhưng điều cần nhất, ta
phải tập bơi trước đã. Nghĩa là ta phải muốn, phải cương quyết muốn. Cương quyết
muốn tức là chuẩn bị tinh thần đó, và cái bí mật của sự chuẩn bị tinh thần đó
chính là sự tin tưởng đó, hỡi anh! Ở đời này chưa có ai từng làm xong được một
việc gì mà ngay lúc đầu lại không tin rằng mình có thể làm xong được. Một nhà
tiểu thuyết cầm bút viết một cuốn sách đầu tiên thường tưởng tượng không bao giờ
kết liễu. Thế mà rồi sách cũng xong đấy; đến quyển thứ năm, đến quyển thứ sáu,
người ta thấy rằng rất có thể viết quyển thứ mười một, thứ mười hai và người đó
viết cuốn mười lăm, mười sáu nhẹ nhàng lắm, thư thái lắm. Cái điều đã đúng với
những cuốn sách, đúng cả với bất cứ công việc gì ở đời này: muốn sống thì phải
sống, muốn độc lập thì phải độc lập, cả nước muốn giết chết bọn sài lang cướp
nước thì bọn sài lang cướp nước phải chết, không thể nào sống được ở trên giải
non sông này.
Muốn! Đó là tất cả cái chìa khoá của sự sống. Anh ơi, hãy tin
tưởng ở nòi giống, ở tinh thần, ở sự thắng lợi cuối cùng. Nghiến răng lại mà
cùng gắng sức, mà kiên quyết tiến lên, mà can đảm đi cho kỳ được đến thành
công. Lịch sử thế giới từ trước đến nay chưa hề chép chuyện một nước nào trọng
đạo lý và hoà bình mà lại có thể bị một nước khác làm cho tiêu diệt được! Trái
lại, qua những sự thử thách, nước đó chỉ có thể lớn hơn và mạnh hơn, bởi vì, được
khổ, được gian lao, và lại được thoát khỏi sự gian lao, à, xin anh biết cho rằng
không có một phúc phận nào vĩ đại hơn, rực rỡ hơn và đáng kính hơn thế vậy.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 261 (9/9/1945)
BỨC THƯ THƯỢNG KHẨN THỨ HAI
TA LẠI GỬI CHO TA
Bây giờ nói anh nghe chuỵên ngoại giao của nước ta
Câu chuyện này, sự thực, không phải đến bây giờ anh mới quan
tâm đến. Ngay từ hôm cuộc nhân dân cách mạng nổi lên, cái mặt anh đã méo đi rồi.
Anh đi dự hết các cuộc biểu tình; anh hát bài Tiến quân ca, đến đoạn “Tiến
lên, cùng thét lên” thì hò hét to hơn ai hết; anh không sắm 1 lá cờ để treo trước
cửa nhưng sắm một lúc luôn 5 lá và thành thực không tiếc tiền. Ai cũng tưởng
anh là một người cương quyết, một người can đảm, một người có lòng tin như một
thứ sắt tốt, nung dưới hai ngàn độ, không thể nào chảy được. Ấy vậy mà thành đoảng
vị! Tôi muốn củng vào sọ anh bởi vì tôi đã biết tỏng ra là nó nghĩ gì rồi. Những
khi bạn bè lui gót, anh nằm như cái xác tây chết trên giường, những khi trằn trọc
trong đêm, anh vắt tay lên trán nghĩ đến nỗi quốc gia trăm mối; những khi đi
nghe chõ truyện, anh thấy đồn quân Pháp thực dân định do các ngả đường Lào, Đồng
Đăng và Lạng Sơn cất lẻn vào biên giới Việt Nam, anh đã lo sợ vô cùng, hỡi hỡi
người bạn của tôi! Không phải lo sợ quốc dân không thừa sức phanh thây bọn cướp
nước và vứt xác họ xuống biển cho cá rỉa. Không phải lo sợ những thử thách
đương chờ người ta để thử xem gan dạ ta thế nào. Không phải, không phải cả. Anh
đã lo sợ một điều khác, một điều gần như viển vông: Anh lo sợ rằng “Không biết
ban ngoại giao thường trực của ta vẫn tiến hành công việc hay đình trệ; mà nếu
vẫn tiến hành thì hiện lúc này đang thắng lợi hay thất bại?”
Thế thì có đáng chán nản cho cái khối óc của anh không hở đời?
Tôi không bảo rằng phàm người ta lo nghĩ thì đều có hại. Tôi biết rằng bất cứ sự
quyết định quan trọng nào cũng là kết quả của sự trầm mặc, của sự lo xa nghĩ
sâu; nhưng ta nên biết rằng tất cả những sự trầm mặc đó, những sự lo xa nghĩ
sâu đó đều có một đối tượng nhất định và vô hại. Nhưng mà lo sợ những cái vẩn
vơ, “sáng tạo” ra những tai nạn xa xôi, vô hình để mình lại tự làm hại sự bình
tĩnh của mình, thì nhất định tôi chủ trương là không được. Một kiến trúc sư phải
nghĩ đến tương lai cái nhà của mình làm; một người thợ phải nghĩ sao cho lúc mặt
trời bóng xế khỏi phải đi hành khất; một ông bộ trưởng phải nghĩ đến những kết
quả sau khi mình ký một sắc lệnh gì. Nhưng ta chớ nên đi qua cái tâm của chúng
ta. Chúng ta đừng nên thắc mắc về chuyện đổ trời nối kiếp ngày mai thì cũng chớ
nên lo rằng chánh phủ nhân dân lâm thời không lo nghĩ tiến hành về công việc
ngoại giao với Nga, Tàu, Anh, Mỹ.
Cũng như anh, tôi biết rằng vấn đề ngoại giao hiện giờ là vấn
đề sinh tử của nước nhà. Bổn phận ta là phải nghĩ đến lo đến, nhưng ta không
nên vì thế mà tự cho ta cái quyền được nghi ngờ, bởi vì chánh phủ này do dân
chúng cất lên thì chính dân chúng tất đã thấy họ có thẩm quyền như thế nào rồi.
Mà nếu họ đã có thẩm quyền như thế nào rồi thì anh yên trí với tôi rằng ông bộ
trưởng ngoại giao tất phải hiểu biết hơn anh và tôi về việc ngoại giao. Mà nếu
anh và tôi đã băn khoăn lo nghĩ về việc ngoại giao như thế thì chánh phủ nhân
dân lâm thời còn lo nghĩ một vạn, một triệu lần gấp bội. Chỉ có một điều là vấn
đề ngoại giao, − khác hẳn vấn đề văn hoá, vấn đề xã hội hay vấn đề kinh tế, −
không thể mỗi lúc mà tiết lộ ra ngoài để cho mọi người cùng hay. Vậy thì anh
nên biết thế mà cũng đừng băn khoăn nữa, mà cũng đừng hỏi nữa. Mà hỏi làm sao
được? Bởi vì vấn đề ngoại giao, − anh đã biết thừa rồi đấy, − nó như một cái
chong chóng đặt ở trước một ngã tư, bây giờ thì thế này, chốc nữa thì thế khác,
quy tụ không ngừng, chả biết bắt đầu từ đâu mà cũng chả biết đến đâu là hết. Vậy
thì tuyên bố làm sao cho được? Nhất là nếu tuyên bố ra thì cái hại lại nhiều
hơn cái lợi; nhất là nếu tuyên bố ra thì được lòng nước nọ mà lại mất lòng nước
kia; nhất là nếu tuyên bố ra thì có khi lại có thế làm hại cả đến vấn đề quân sự
nữa, − nếu có một trận chiến tranh thứ ba lại nảy nở ngay từ bây giờ ở cái mầm
mà người ta gọi là cái mầm đại hoà bình thế giới! Nền đại hoà bình thế giới
phen này có thật vững vàng không?
*
Này, tôi xin nói thật: cái việc ngồi tiên tri thời sự, xưa cũng
vậy mà nay cũng vậy, không bao giờ hay hớm. Bởi vì thời sự, do nghìn vạn nguyên
nhân kích thích, thường vẫn ra ngoài phạm vi sự tính toán của tâm hồn nhân loại.
Năm 1793, Nã Phá Luân có thể tưởng tượng được một người Pháp như thế nào, ở đảo
Sainte Hélene năm 1807? Anh ơi, ta vẫn chủ trương rằng người ta phải lo đến
tương lai nhưng chỉ lo đến tương lai khi nào người ta hành động được mà thôi.
Cái việc anh phải lo nghĩ bây giờ chính là nền độc lập hoàn
toàn vậy. Mà muốn độc lập hoàn toàn thì phải có điều kiện cốt yếu gì? Phải
tranh đấu, phải đoàn kết, phải có thực lực. Cái việc ngoại giao mà anh băn
khoăn thắc mắc đó thắng lợi hay thất bại chính là xây dựng ở trên ba
cái nền tảng thiết yếu trên kia vậy. Thế thì cớ sao lại làm khổ tâm hồn mình
mãi về công việc ngoại giao? Hãy cày cái thửa ruộng của anh, anh bạn của tôi!
Anh nên nghĩ đến cái thực lực của nước anh, anh nên nghĩ đến sự đoàn kết của đồng
bào, anh nên nghĩ đến sự tranh đấu của quốc dân.
Ba cái đó mà mạnh thì ngoại giao mạnh đó. Ba cái đó mà vững
thì ngoại giao vững đó. Ba cái đó mà cứng thì ngoại giao cứng đó. Cũng như một
người, một nước, dù mạnh dù vững dù cứng đến thế nào cũng không thể sống biệt lập
một mình. Sống vui vẻ với các nước khác để mà thành một khối mạnh hơn, đó là
công việc của ngoại giao. Nhưng ngoại giao dù giỏi đến đâu, dù có Tô Tần,
Trương Nghi, Mao Toại sống lại đi nữa, thì cũng không có ai có tài gì mà biện
thuyết cho một nước yếu đứng ngang hàng với một nước mạnh được, nhất là trong
cái thế kỷ hai người này. Kẻ mạnh bao giờ cũng nói to. Kẻ yếu bao giờ nói cũng
nhỏ. Có phải nhà tư tưởng biện rằng: “Một người khoẻ mạnh về vật chất rất ít
khi có một tinh thần bạc nhược đấy không”? (“Parce que l’homme qui est
physiquement fort est parcement un homme craintif”. – André
Maurois).
Hãy khoan, tôi biết là anh sắp nói với tôi thế nào rồi.
Anh nói với tôi rằng anh sầu khổ cho nhân loại quá. Cái nỡm
gì cũng vật chất, cũng sức khoẻ, cũng mạnh. Tuồng như sức khoẻ này quản trị được
cả thế giới chứ người ta không biết thế nào là khối óc nữa à? thế nào là tinh
thần nữa à? thế nào là cao thượng thi vị nữa à? Không biết bao nhiêu lần, anh
và các bạn “đồng chí” anh vẫn cứ giở cái giọng gàn bát sách ra như thế! Ai bảo
anh rằng một cái nhà đúc súng không thi vị? Ai bảo anh rằng tinh thần thể thao
lại không phải là một tinh thần thanh cao? Ai bảo anh rằng một cái bắp thịt
thép lại không phải là một bài thơ tuyệt tác? Đốt đi, những bài thơ ca tụng cái
kim ngân thời đại; đập đi những khối óc triền miên về dĩ vãng; tàn đi cái tinh
thần sa đoạ lúc nào cũng tưởng tượng rằng thế kỷ này không được cao thượng bằng
thế kỷ trước, − một thế kỷ có những ông cụ sài đẹn uống rượu chén hạt mít ngâm
thơ nịnh trời già, công kích xe chạy điện, chửi rủa tàu bay cao.
Nhưng mà thôi, tôi hãy khoan tranh luận với anh xem những tiếng
than chết dở đó đúng hay là không đúng, bởi xét ra là vô ích. Tôi chỉ biết rằng
anh và tôi, chúng ta đương sinh tồn ở cõi đời này, cuộc sống bắt đầu hôm nay,
và đời nó như thế bởi vì nó thế. Có phải là chúng ta cứ ngồi than thở mà đời sẽ
tốt đẹp hơn đâu. Mà nếu anh không phải là ma, tất anh phải biết rằng nhất định
bây giờ không phải là lúc xét xem có đích thực là chúng ta sẽ sướng hơn nếu
không có một nền tân văn minh, không có máy móc, không có những sự phát minh
khoa học? Xét xem như thế để làm cái khỉ gì? Anh không vì thế mà no được kia
mà! Anh không vì thế mà đuổi kẻ thù đã giết hại ông cha anh kia mà! Anh không
vì thế mà được hoàn toàn độc lập kia mà! Cuộc đời khoa học cơ khí đã nhảy lên
sân khấu mà hoạt động trước mắt anh kia, không phải là đến cái thứ hạng anh huỷ
bỏ nó tiêu diệt nó. Mà cách giải quyết cũng không phải là xem nên công kích hay
hoan nghênh nó. Xe tăng, súng trường, súng liên thanh, đại bác, phi cơ đã có rồi,
chỉ có một cách giải quyết mà thôi: xét xem ta nên tổ chức cuộc đời chúng ta ra
thế nào, xếp đặt tư tưởng của ta ra thế nào, xây dựng chiến công của chúng ta
ra thế nào để rút lấy ở hiện tại tất cả hạnh phúc tất cả sự đẹp đẽ mà nó có thể
mang ban cho đất nước chúng ta.
Nết ưa chuộng hoà bình là một cái nết mà hình như trời biệt
đãi chúng ta, nhưng nếu có kẻ xâm lăng thì nhất định ta phải dùng đến cánh tay
thép để đập họ xuống như đàn bọ. Chúng ta đoàn kết, chúng ta tranh đấu nhưng
chúng ta không nói chuyện nhảm với quân Pháp xâm lăng; chúng ta có một khối dân
thương nước hơn thương mẹ, biết cách lấy sắt và máu ra nói chuyện với bọn sài
lang phát xít.
Anh ơi, tôi cũng nghĩ như anh vậy: khí giới nhiều và mạnh
chưa chắc đã giết được ai, nếu mà người ta không có một tấm lòng. Nhưng trái lại?
Nếu mà người ta có một tấm lòng, nếu mà người ta đoàn kết hai mươi triệu người
như một, nếu hai mươi triệu người như một đều có một tinh thần vững chắc như
uy-ra-ni-om rồi mà lại thiếu khí giới thì anh có nghĩ rằng đó cũng là một sự
thiếu sót ru?
Chánh phủ nhân dân có nhiều khí giới để bảo vệ đất đai rồi;
nhưng có bao nhiêu khí giới cũng vẫn là chưa đủ. Anh có bổn phận cấp tốc phải tặng
súng, phải tặng bất cứ súng hạng gì cho chánh phủ nếu anh có; anh phải cổ động
cho người chung quanh anh cũng làm như anh; anh phải cổ động cho người ta bỏ
vàng ra, bỏ tất cả vàng ra để chánh phủ đứng ra mua súng để dùng và phân phát
cho nhân dân mỗi khi cần dùng đến; anh phải gào lên, thét lên, khóc lên để tỏ
cho mọi người biết rõ rằng “có súng để bảo vệ đất đai thì ngày mai mới có thể cầm
lấy bát cơm mà nuốt cho cho trôi được”. Cái việc thượng khẩn của chúng ta bây
giờ là không nghĩ gì cả, không chia rẽ gì cả, không làm gì khác cả ngoài
cái việc nhìn thẳng vào “Người Mẹ Chung” để giữ gìn lấy và cắn răng bảo vệ cho
kỳ được nền độc lập hoàn toàn.
Đừng e thẹn đừng rụt rè đừng suy tính. Chạy lên thét lên gào
lên để đòi lấy một công việc của chánh phủ trong công cuộc cứu quốc; để mà thi
hành tài trí và hoài bão của mình; để sau này đến lúc thịnh trị khỏi phải hối hận
với lương tâm: “Tôi đã không làm gì cho nước”.
Một kẻ đại lãn bao giờ cũng là một thí sinh thi lấy bằng “sầu
khổ”. Trong lúc không ngủ được, bất cứ người nào cũng sầu khổ bởi vì không có
cách trốn tránh những tư tưởng của mình. Thi sĩ Byron, bẩm sinh là một người sầu
khổ, đã tìm thấy hạnh phúc ở Hi Lạp trong cuộc chiến tranh đòi độc lập. Ở đó
nhà thi sĩ có sướng đâu có vui vẻ khoái lạc gì đâu, nhưng ông bận rộn và ông
quên việc đời, tựa như đứa trẻ trong khi chơi quên khóc. Tôi chưa thấy một người
nào sầu khổ trong khi chiến đấu.
Anh bạn của tôi! Trong lúc quốc gia đang đòi hỏi tất cả sự gắng
sức của các con, anh cũng sẽ chiến đấu như Byron vậy. Nếu anh biết bắn súng,
anh phải dạy người ta bắn; nếu anh có tài biện thuyết, anh phải đem tin tưởng
nuôi lòng người ta; nếu anh biết võ nghệ, anh phải dạy người ta học võ. Anh thấy
một sự gì thiếu sót chưa làm? Chạy ngay đến những phòng thường trực mà chỉ bảo.
Thấy chỗ nào quân Pháp âm mưu, tức tốc chạy ngay đi mà báo. Thấy Việt gian chỗ
nào, trình ngay và đứng sau bảo an binh để bắt cho nó không chạy thoát thân.
Anh làm tất cả, anh làm tất cả. Nếu anh sung vào Cứu quốc quân rồi, em anh sẽ
là Thanh niên tự vệ; nếu vợ anh đã là Phụ nữ cứu quốc rồi, con anh sẽ sung vào
Nhi đồng cứu vong đoàn. Những người quen anh làm tất cả, những người quen anh
làm tất cả. Và nếu anh không làm được tất cả, nếu những người quen anh không
làm được tất cả, thì anh cổ động bạn anh làm, cổ động gia quyến anh làm, cổ động
những người đi đường làm. Làm người giữ trật tự, làm người cứu thương, làm người
phất cờ, làm người kẻ biển, làm người đứng gác đêm ở ngoài đường để đề phòng những
bất trắc xảy ra, làm bất cứ cái gì có ích cho đất nước lúc này. Ai cũng làm tất
cả, ai cũng làm tất cả.
Nhà triết học Bertrand Russel kể chuyện rằng trong đời ông đã
từng gặp một người sung sướng. Đó là một người thợ đào giếng. Y khoẻ mạnh, y
đào hòn đá chuyền từ bên nọ sang bên kia, và y biết rằng y làm được. Đó là một
phương diện của hạnh phúc. Đó là hạnh phúc của người hùng.
Nghĩ rằng nếu anh nỗ lực tranh đấu thì cũng sẽ được hưởng hạnh
phúc đó cho riêng anh, mà rộng ra, đối với đất nước lại còn làm tròn được bổn
phận là một dân con; anh có chết cũng nhắm được mắt mà không bị nhục với ông
cha nơi chín suối [1].
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 262 (16/9/1945).
Chú thích:
[a] chỗ
này sưu tập T.B.C.N. tôi dùng có chỗ bị rách, mất chừng
1-2 từ. (L.N.Â.)
[a] Lưu
ý: “Việt Nam Đế quốc” là quốc hiệu mới lúc này. Một số giấy tờ cũ còn
lưu lại của thời này cũng thấy dấu triện có quốc hiệu này; (có thể tạm
hiểu “đế quốc” = nước của Hoàng đế).
[1] Đây
là bài cuối cùng, tức là không có bức thư thứ 3 như đầu đề chung cho biết; ‘Trung
Bắc Chủ Nhật’ s. 262 ra ngày 16/9/1945 là số cuối cùng của tờ tuần báo này.
(L.N.Â).
6/9/2010Lại Nguyên Ân


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét