Xuân Diệu,
trong những năm 1954-1958
Thời gian gần đây trên báo chí đôi lúc xuất hiện những bài viết
về cuộc đời các nhà văn nhà thơ nổi tiếng với những thông tin có vẻ lần đầu được
đưa ra với công chúng; tác giả những thông tin ấy thường bảo rằng đây là chuyện
của chính tôi, hoặc chuyện của danh nhân người nhà tôi, nghĩa là rất đáng tin cậy!
Thế nhưng nghĩ kỹ lại, người ta vẫn thấy những bất ổn kèm theo các thông tin ấy.
Vậy làm sao có thể biết được rằng các thông tin về quá khứ kia là đúng hay là sai?
Theo lẽ thường, để có thể tin cậy được, ngay các “chuyện
thật ngày xưa” do chính người trong cuộc kể lại cũng cần được kiểm chứng. Vì
sao ư? Vì sự kiện của quá khứ được kể lại chậm dăm bảy năm, thậm chí vài chục
năm, là loại sự kiện mà trí nhớ con người vừa khôi phục nó vừa làm méo nó. Trí
nhớ không giống như chiếc thẻ ghi hình hay ghi tiếng ta biết hiện giờ. Cơ chế của
trí nhớ thường là vừa giữ lại vừa làm khúc xạ cái mà nó lưu giữ; và mỗi khi cần
tái công bố một dữ liệu của quá khứ, trí nhớ người ta sẽ diễn đạt theo cách vừa
phục hoạt nó lại vừa hư cấu nó. Tóm lại, cái dữ kiện quá khứ mà người ta được
biết qua những “hồi ức kể muộn” là khá ít đáng tin cậy; muốn tin được tình tiết
nào cần phải kiểm tra tình tiết ấy. Kiểm tra bằng cách nào? Bằng đối chiếu với
tư liệu nguồn (là tư liệu đương thời của những “ngày xưa” ấy) hoặc với các tư
liệu thứ sinh (ví dụ hồi ức của những người cùng thời khác).
Để cụ thể hoá những điều nói trên, xin đi vào một vài trường
hợp, tốt nhất là chọn được những trường hợp có liên quan đến một vài nhân vật
mà nhiều người nghe biết. Xin nói đến nhà thơ Xuân Diệu (1916-85).
Vừa năm ngoái, người tự thông báo là “thừa kế duy nhất của
nhà thơ Xuân Diệu”, ông Cù Huy Hà Vũ, trong bài Có một Xuân Diệu nhà báo (www.tintuconline.com.vn/vn/vanhoa
12/8/2007), bên cạnh những tài liệu mà chỉ “người trong nhà” (thân nhân) mới
có thể có để công bố, như một số bức ảnh quý hiếm chụp bộ đôi Huy-Xuân cùng
Xuân Như em gái Xuân Diệu (cũng có thể gọi đó là ảnh vợ chồng Huy Cận-Xuân Như
chụp cùng ông anh vợ là Xuân Diệu), ảnh Xuân Diệu chụp cùng mấy thành viên Tự Lực
văn đoàn, ảnh tấm thẻ nhà báo của Xuân Diệu với tư cách phóng viên tờ “Tiên
phong” (chữ TIÊN không có dấu huyền) của Hội Văn hoá Cứu quốc năm 1945, v.v…
Vâng, các tư liệu ấy rất quý; nhưng bên cạnh đó trong bài lại có những thông
tin rất … khó tin, chẳng hạn:
− …”lúc đó (?) với tư cách là thư ký của
báo Văn, tiền thân của báo Văn nghệ, Xuân Diệu đã cho đăng các tác phẩm
của Phan Khôi, Thụy An” …. kết quả là Xuân Diệu bị “cách” khỏi ban
phụ trách tờ Văn bằng cách được cử làm trưởng đoàn nhà văn đi thăm nước
bạn Hungary;
− … năm 1970, Xuân Diệu được cử phụ trách tờ Tác
phẩm mới của Hội nhà văn, đã bị phê bình vì cho đăng bài tuỳ bút “Phở” của
Nguyễn Tuân”; v.v…
Lại vừa đây trên báo Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 162
(tháng 7/2008) cũng Cù Huy Hà Vũ với bài Có một Xuân Diệu – nhà báo cách mạng (tr.
45-47), tương tự bài trên báo điện tử tintuconline kể trên (chỉ bỏ
qua phần Xuân Diệu làm báo trước 1945), tuy đã không còn giữ lại chi tiết cho rằng
Xuân Diệu là người cho đăng tuỳ bút Phở của Nguyễn Tuân, nhưng tác giả
bài báo lại đưa ra như khẳng định một sự kiện: cho rằng khi phụ trách tờ Tác
phẩm mới, Xuân Diệu “lại bị chỉ trích vì cho đăng những bài không thật “lập
trường” cho lắm”, và để cách chức ông, đưa ông về quy chế “viết văn chuyên nghiệp”,
người ta đã “tạm ngừng xuất bản” tạp chí Tác phẩm mới từ số tháng
2/1976, mãi đến tận tháng 1/1987, tức 2 năm sau khi Xuân Diệu mất (18/12/1985)
mới tục bản dưới tên gọi Tác phẩm văn học (về sau đổi lại
là Tác phẩm mới và nay là tạp chí Nhà văn)!
Về mấy thông tin này, những ai bây giờ đang ở trạc 60 tuổi hẳn
đều thấy việc cho rằng “báo Văn là tiền thân của báo Văn nghệ “
− đã là chuyện sai lầm quá rõ.
Tuần báo Văn chỉ mới ra số đầu vào ngày 20/5/1957,
với tư cách cơ quan của Hội Nhà văn khi đó vừa được thành lập; làm sao có thể
là tiền thân của tờ Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam, vốn ra mắt
từ năm 1948 ở Việt Bắc?
Bài tuỳ bút nhan đề Phở của Nguyễn Tuân được đăng lần
đầu ngay ở số 1 và số 2 của tuần báo Văn, đâu cần đợi chờ hơn 10 năm sau nữa
mới được Xuân Diệu cho đăng lênTác phẩm mới để “bị phê bình”?
Và tiếp theo, người ta có thể ngờ vực các chi tiết “hồi ức”
(2007-8) khác nữa của Cù Huy Hà Vũ, như chuyện liệu có phải Xuân Diệu đã là người
đưa đăng tác phẩm của Phan Khôi, Thụy An (hồi nào? 1956 chăng?)… Còn việc Hội
Nhà Văn VN vào năm 1976, ngừng Tác phẩm mới dưới dạng tạp chí để
chuyển đổi nó thành nhà xuất bản, lại được Cù Huy Hà Vũ giải thích như chỉ là
nhằm cách chức tổng biên tập của Xuân Diệu, thì quả là một hư cấu quá quy mô!
Quá quy mô ở chỗ nó bao trùm cả 2 sự việc: việc ngừng Tác phẩm mới dạng
tạp chí để chuyển thành nhà xuất bản vào năm 1976 vốn được nhiều người biết tới
như cách “qua mặt” ông Như Phong - chủ NXB Văn học lúc đó đang tỏ ra “xấu chơi”
không chịu in sách cho mấy nhà văn vai vế; còn việc lập ra tạp chí Tác phẩm
văn học vào năm 1987 vốn được nhiều người biết tới như cách mà Nguyễn Đình
Thi tạo ra phương tiện(a) để đối phó với tuần báo Văn nghệ lúc
ấy đang nằm trong tay Nguyên Ngọc. Hãy thử hỏi những người đã cao tuổi mà đến
lúc này (tháng 8/2008) còn khoẻ mạnh tỉnh táo như Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Nguyễn
Quang Sáng, v.v… và cả Nguyên Ngọc nữa, xem sự thể những chuyện đó ra
sao?
Tất nhiên, chạy theo để “đính chính” các chi tiết lẻ tẻ như
nêu trên,(b) có thể sẽ mãi mãi làm không hết những
việc… vặt! Tôi nghĩ có một cách làm khả thủ hơn, là hãy để công tìm hiểu xem,
trong một đoạn thời gian nhất định, Xuân Diệu như một tác gia, một nhà hoạt động
trong giới văn nghệ, đã làm những gì. Tài liệu để tìm hiểu có thể là cả những hồi
ức sớm hoặc muộn khác nhau của những người cùng thời hoặc hậu thế có liên quan,
nhưng không thể bỏ qua nguồn tài liệu là sách báo xuất bản trong chính thời
gian ấy, − một loại bằng chứng có từ đương thời mà nay vẫn còn lại đó, ít khả
năng phản phúc hơn bất cứ loại nhân chứng nào khác. Nói đúng ra, cách làm này
là một hướng rất nên theo, khi người làm nghiên cứu văn học tiếp cận một tác
gia cụ thể, hoặc người làm nghiên cứu sử học tiếp cận một nhân vật lịch sử cụ
thể.
Theo cách này, tôi sẽ thực hiện một ví dụ là tìm hiểu hoạt động
của Xuân Diệu trong những năm 1954-58.
*
1. Xuân Diệu làm việc trong toà soạn tạp chí Văn
nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam ở Việt Bắc từ 1948, bên cạnh những thành
viên khác của toà soạn là Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô
Hoài, Nguyễn Tuân. Ở số tạp chí Văn nghệ sau cùng trước khi các văn
nghệ sĩ cùng hầu hết các lực lượng kháng chiến cấp trung ương đóng ở Việt Bắc
trở về thủ đô Hà Nội, tức là ở tạp chí Văn nghệ số 56 (tháng
10/1954), Xuân Diệu đứng tên dưới bức thư (1) gửi giới nhà văn nhà thơ đang sống
trong Hà Nội từ thời tạm chiếm, bên cạnh thư đứng tên Trần Văn Cẩn gửi các hoạ
sĩ, thư đứng tên Nguyễn Cao Luyện gửi giới kiến trúc sư.
Trở về Hà Nội, tạp chí Văn nghệ đổi thể tài, từ dạng
tạp chí chuyển sang dạng báo (mỗi số khoảng từ 8 đến 12 trang khổ 34x45 cm, nay
gọi là khổ A3). Ban đầu, từ 1/11/1954, định kỳ dạng bán nguyệt san, đánh số từ
số 57 (tiếp tục 56 số đã ra từ 1948 đến 10/1954), ra vào các ngày 1 và 15 hàng
tháng; từ đầu tháng 2/1955 Văn nghệ ra 3 kỳ/1 tháng; từ đầu
tháng 7/1955, Văn nghệ ra hàng tuần.
Toà soạn báo ban đầu đóng ở 51 Trần Hưng Đạo, từ số 76
(7/7/1955) chuyển đến số 6 Quang Trung. Thành phần toà soạn (ghi trên manchette
mỗi số báo) gồm: Trần Văn Cẩn, Xuân Diệu, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Xuân Khoát,
Nguyễn Cao Luyện, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi. Thư
ký toà soạn từ số 57 đến số 80 (4/8/1955) là Xuân Diệu.
Từ số 81 (11/8/1955) thành phần toà soạn, ngoài số người như
trên, còn có ghi thêm tên Tú Mỡ; thư ký toà soạn là Nguyễn Đình Thi.
Chỗ này cần ghi chú thêm rằng, theo cách cấu tạo thành phần
chủ trì một tờ báo “đoàn thể” như tạp chí Văn nghệ từ hồi ở Việt Bắc
thì cơ quan này không có các chức danh chủ nhiệm hay chủ bút; vì vậy, thư ký
toà soạn giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chuyên môn của một cơ quan
báo chí, tương tự chức danh Tổng biên tập hiện nay.
Từ số 121 (17/5/1956) Văn nghệ thay đổi thành phần
toà soạn; các thành viên của toà soạn mới gồm: Văn Cao, Xuân Diệu, Tế Hanh, Bùi
Hiển, Nguyên Hồng, Tú Mỡ, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc; thư ký toà soạn: Nguyễn Đình Thi;
thành phần này được giữ nguyên cho đến tận sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần
thứ hai (từ 20 đến 28/2/1957), khi Văn nghệ dạng tuần báo tạm dừng lại
ở số 162 (1/3/1957) để chuyển đổi tổ chức (sẽ trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Việt Nam vừa thành lập) và thể tài (sẽ chuyển sang thể tạp chí từ
tháng 6/1957).
Như vậy, với tờ báo Văn nghệ thời đầu khi mới trở về
Hà Nội (tháng 11/1954 – tháng 3/1957), Xuân Diệu có một thời gian ngắn tiếp tục
làm thư ký toà soạn, sau được thay bằng Nguyễn Đình Thi, nhưng Xuân Diệu luôn
luôn là thành viên toà soạn. Sau khi Nguyễn Đình Thi thay thế Xuân Diệu ở vai
trò thư ký toà soạn, quả là báo Văn nghệ (số 82, ngày 18/8/1955) có
đưa tin “nhà thơ Xuân Diệu cùng nhạc sĩ Tạ Phước lên đường đi Hungary hôm
15/8/1955 để dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Việt Nam ở Budapest và nghiên cứu
văn học nghệ thuật nước bạn”. Ngoài ra, cũng đừng nên quên rằng thời gian này
Xuân Diệu vẫn đang là đại biểu quốc hội khoá 1, cho đến năm 1960 mới mãn nhiệm.
Trong thời gian Xuân Diệu giữ vai trò thư ký toà soạn Văn
nghệ nói trên (từ 1/11/1954 đến 4/8/1955), có thể thấy báo đã đăng bài vở
sáng tác của rất nhiều tác giả, kể cả những tác giả sau đó ít lâu sẽ can dự Nhân
văn – Giai phẩm, nhưng ngoại trừ một số bài viết tham gia thảo luận về tập
thơ Việt Bắc của Tố Hữu có thể cho là “có vấn đề”, còn lại, những bài
viết khác hầu như không “có vấn đề” gì cả; khó có thể nhận định rằng thư ký toà
soạn Xuân Diệu đã bị khiển trách vì cho đăng các bài vở đó.
Chính trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký toà soạn Văn
nghệ, cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc và tiểu thuyết Vượt Côn
Đảo đã làm sôi nổi không khí văn nghệ miền Bắc ngay sau hoà bình lập lại.
Tập thơ của Tố Hữu phát hành vào giữa tháng 12/1954 thì ngay
đầu năm mới, Xuân Diệu đã cho đăng bài viết khá dài của mình liền trong 2 kỳ
báo Văn nghệ (số 62 ra ngày 15/2/1955 và số 63 ra ngày
28/2/1955) nhan đề Đọc tập thơ Việt Bắc. Có lẽ trong việc lên tiếng chào
đón tập Việt Bắc thì bài của Xuân Diệu chỉ chậm hơn duy nhất so với
bài của Xuân Trường đăng báo Nhân dân số Tết. Theo dõi kỹ tin tức, ta
còn biết trong thời gian này, Xuân Diệu ít nhất có 2 lần đi nói chuyện về thơ Tố
Hữu với sinh viên. Nhân tập Việt Bắc, Xuân Diệu điểm lại cả đời
thơ Tố Hữu tính đến lúc đó,
“Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh
quang kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng và nhà cách mạng
làm thơ, và thơ rất thành công” ….. “Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng
to lớn, đồng thời càng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng
lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương mà Tố Hữu là điển
hình đẹp nhất.”
Tất nhiên Xuân Diệu không quên chỉ ra những nhược điểm của
tác giả tập thơ Việt Bắc như “nặng về tình cảm xã hội mà hầu
như không nói đến những tình cảm của cá nhân”, “con người cán bộ trong Tố Hữu
bao trùm con người thường”, “nặng về tổng hợp”… “bỏ mất những nỗi niềm của mỗi
một con người, của mỗi cá nhân trong quần chúng”.(2)
Ngoài vai trò một nhà phê bình như trên, Xuân Diệu trong vai
trò thư ký toà soạn báo Văn nghệ hẳn cũng đã giữ vai trò chính trong
việc cho đăng hầu hết các bài tham gia thảo luận về tập thơ Việt Bắc. Nếu
nói đến phần trách nhiệm (cần phải đưa ra để kiểm điểm chẳng hạn), thì trong số
những bài đó có lẽ cần lưu ý trước hết là những bài đánh giá tiêu cực về tập
thơ, ví dụ của Hoàng Yến (Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không? // Văn nghệ số
65, ngày 11/3/1955; bài này vốn đăng tập san Sinh hoạt văn nghệ, tiền thân
tạp chí Văn nghệ quân đội, đồng thời cũng đã đăng báo Nhân
dân trong các ngày 3, 4, và 5/4/1955), của Hoàng Cầm (Tập thơ Việt Bắc ít
chất sống thực tế // Văn nghệ số 67, ngày 1/4/1955; Bổ sung ý kiến
của tôi về tập thơ Việt Bắc // Văn nghệ số 70, ngày 1/5/1955), của Lê Đạt
(Giai cấp tính trong thơ Tố Hữu // Văn nghệ số 68, ngày 11/4/1955); của
Nguyễn Văn Phú (Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc // Văn nghệ số
69, ngày 21/4/1955).
Tất nhiên, số bài đánh giá tích cực, đánh giá cao và rất cao
tập thơ của Tố Hữu mà toà soạn Văn nghệ cho đăng vẫn nhiều hơn hẳn,
trong đó có bài viết của các nhà văn có tên tuổi và cũng đang có thế lực như
Xuân Diệu, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Nguyễn Đình Thi, v.v…, của các nhà văn có tên tuổi
nhưng ít thế lực như Nguyễn Viết Lãm, Vũ Đình Liên, Đông Hoài, của các cán bộ
chính trị như Xuân Trường, Trần Độ, Minh Tranh,… của những bạn đọc vô danh mà
mà về sau sẽ có người thành danh (Phan Cự Đệ, Hoài Việt, Thẩm Lăng, Trọng Anh);
điển hình về sự nhiệt tình đến mức gần như cuồng tín trong số đó là một cây bút
mà về sau, khi trở nên hữu danh, sẽ được ghi nhận như cây bút “rắn” nhất, như
gương mặt thô bạo hạng nhất, và, − nhờ những ứng xử trong sự kiện này chăng − về
sau sẽ trở thành một quan chức có thế lực trong bộ máy quản lý ngành khoa học
xã hội: Vũ Đức Phúc.
Việc báo Văn nghệ thay Xuân Diệu ở vị trí thư ký
toà soạn bằng Nguyễn Đình Thi xảy ra khi Văn nghệ đăng đến kỳ thứ 3
bài của Nguyễn Đình Thi viết về tập Việt Bắc (Thơ Tố Hữu đi vào thực tế quần
chúng // Văn nghệ số 77, ngày 14/7/1955; Lập trường giai cấp và đảng
tính, vấn đề hiện thực và lãng mạn // Văn nghệ số 78, ngày 21/7/1955; Nhà
thơ lớn lên với thời đại // Văn nghệ số 79, ngày 28/7/1955); và Văn
nghệ ở thời bắt đầu với thư ký toà soạn Nguyễn Đình Thi sẽ đăng bài Ý
kiến kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc của Hoàng Trung
Thông (Văn nghệ số 81, ngày 11/8/1955; Nhân dân, ngày 11/8 và 12/8/1955).
Như vậy, nhân điều nói trong bài của Cù Huy Hà Vũ (2007), người
ta nếu muốn cũng chỉ có quyền suy luận ở mức độ như sau: việc Xuân Diệu thôi
(hoặc bị thay) chức thư ký toà soạn báo Văn nghệ hồi tháng 8/1955 có
thể có liên quan đến việc thư ký toà soạn Xuân Diệu đã cho đăng những bài đánh
giá tiêu cực tập thơ Việt Bắc (đã dẫn trên). Nhưng nhìn rộng
hơn, cần thấy rằng việc đó liên quan đến việc báo Văn nghệ − và các
cán bộ phụ trách ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam khi đó − chỉnh sửa
cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc, can thiệp vào tiến trình thảo luận.
Việc thảo luận về tập thơ này của Tố Hữu vốn xuất phát từ những
buổi thảo luận mang tính chất “câu lạc bộ” tại Phòng Văn nghệ quân đội hồi đầu
năm 1955 về hai tác phẩm vừa xuất bản: một là tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của
Phùng Quán, một nữa là tập thơ Việt Bắc cuả Tố Hữu. Các
báo Văn nghệ và báo Nhân dân xem đây là dịp tốt để đẩy mạnh
phong trào phê bình văn nghệ, đã chọn một bài tại cuộc thảo luận ở văn nghệ
quân đội (bài của Hoàng Yến, đăng lần đầu trên tờ Sinh hoạt văn nghệ số
35) đăng lại ở báo nhà và lên tiếng mời bạn đọc tham gia thảo luận, do đó đã tạo
nên một sinh hoạt văn nghệ tương đối sôi nổi tại thành phố mới tiếp quản. Rất
có thể vì báo Văn nghệ đăng một số bài thiên về chê thơ Việt Bắc của
Tố Hữu (nhất là các bài của Hoàng Cầm, Lê Đạt) nên những người đứng đầu Hội Văn
nghệ và ban Văn của Hội đã nhận ra cuộc thảo luận đã hơi quá đà và vội ra tay
chỉnh hướng thảo luận: đăng nhiều bài khen ngợi, nhất là loạt bài của Nguyễn
Đình Thi, rồi nhanh chóng đăng bài của Hoàng Trung Thông, coi như ý kiến kết
thúc chung cho cả hai báo Văn nghệ và Nhân dân về cuộc
thảo luận này.
Khoảng 4 tháng sau, nhân kiểm điểm tình hình văn nghệ năm
1955, Hoài Thanh trong vai trò một người “lãnh đạo văn nghệ” (lúc này ông đang
là Vụ trưởng vụ nghệ thuật, bộ Văn hóa, đồng thời là ủy viên thường vụ Hội Văn
nghệ VN), nhận xét: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công
tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình
tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu
mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng”
(Hoài Thanh: Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua // Nhân dân, ngày
29/1/1956, tr.3).
Ý kiến trên là nhận định từ phía người quản lý; còn ý kiến nhận
xét về cuộc thảo luận ấy từ phía những người bị quản lý thì ta thấy bộc lộ muộn
hơn. Trong không khí góp ý kiến phê bình lãnh đạo văn nghệ và chuẩn bị cho Đại
hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2, tức là từ cuối tháng 8/1956, trong dư luận
đăng báo mới có những lời ta thán rằng những người chủ trì báo Văn nghệ đã
kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc một cách “quá vội vã”,
“chưa thoả mãn quần chúng” (lời Nguyễn Bính, sẽ dẫn thêm ở phần sau).
Nói như Cù Huy Hà Vũ (2007) rằng lý do bị thôi chức thư ký
tòa soạn là vì Xuân Diệu đã cho đăng các bài của Thụy An, Phan Khôi, − là điều
hoàn toàn không phù hợp với thực tế. Văn nghệ từ số 57 đến số 80 (thời
kỳ Xuân Diệu làm thư ký toà soạn) hầu như không đăng gì của nữ tác giả Thụy An,
chỉ đăng của Phan Khôi duy nhất một bài viết nhân 60 năm sinh Lý Cơ Vĩnh, nhà
văn Triều Tiên (Văn nghệ số 74, ngày 10/6/1955), bài viết này không
mang dấu hiệu nào để có thể “làm án” bất cứ ai, − người viết bài (là Phan Khôi)
hay người cho đăng bài (là thư ký tòa soạn Xuân Diệu)!
2a. Bước sang năm 1956, xã hội và văn hoá văn nghệ ở miền Bắc
chứng kiến những diễn biến phức tạp, có lúc đang ở hướng này đột ngột rẽ sang
hướng khác.
Ngay vào dịp Tết nguyên đán, tập sách Giai phẩm mùa Xuân
1956 của Nhà xuất bản Minh Đức vừa ra mắt đã bị tịch thu, nhưng có lẽ cũng
đã lọt ra ngoài một ít cuốn, và ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam đã tổ chức một
cuộc họp do Hoài Thanh chủ trì nhằm phê phán bài thơ Nhất định thắng của
Trần Dần, − một trong những tác phẩm đăng trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956 kể
trên. Báo Văn nghệ đăng bài của Hoài Thanh:Vạch tính chất phản động của
bài “Nhất định thắng” của Trần Dần (VN s. 110, ngày 1/3/1956), tiếp đó
đăng bài dài 3 kỳ của Nguyễn Đình Thi Những sai lầm về tư tưởng trong tập
sách Giai phẩm (VN s. 117, ngày 19/4/1956; VN s. 118, ngày 26/4/1956; VN
s. 119. ngày 3/5/1956). Cũng dịp này, báo chọn dịch đăng các bài hỗ trợ công việc
phê bình nêu trên, ví dụ bài Vai trò lãnh đạo của Đảng, trích văn kiện ĐH
20 ĐCS Liên Xô, do Xuân Diệu dịch (VN s. 110, ngày 1/3/1956),
bài Văn nghệ là sự nghiệp của nhân dân, cũng rút từ báo Văn học Liên
Xô nói về văn nghệ Hungary, do Vũ Thông dịch (VN s. 111, ngày 15/3/1956),
bài Nguyên tắc của chủ nghĩa Lê-nin về Đảng tính trong văn học của
Lê-xuy-sép-ski do Việt Lam trích dịch (VN s. 118, ngày 26/4/1956). Nhưng việc
phê phán sách Giai phẩm mùa Xuân bỗng đột ngột dừng lại.
Vì sao? Có lẽ vì những diễn biến bên ngoài.
Người ta biết, tháng 2/1956, Đảng Cộng sản Liên Xô họp đại hội
lần thứ 20, trong đó, phần báo cáo về những tổn thất do tệ sùng bái cá nhân của
Stalin gây ra tuy không được trình bày công khai, nhưng hẳn đã được thông báo tới
các đảng cộng sản và công nhân có đoàn đại biểu đến dự, trong đó, có đoàn của Đảng
Lao động Việt Nam (gồm Tổng bí thư Trường Chinh và Ủy viên bộ chính trị Lê Đức
Thọ). Đảng Lao động Việt Nam đã triệu tập hội nghị Ban chấp hành trung ương mở
rộng từ 19 đến 24/4/1956 để nghe báo cáo về ĐH 20 ĐCS LX, ra nghị quyết trong
đó nhấn mạnh nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân, thực hiện phương thức lãnh đạo tập
thể, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt đảng;(3) đó là nghị quyết 9 (nhiệm kỳ 2). Vấn
đề nêu ra trong nghị quyết 9 nói trên càng trở nên rõ ràng khi tin tức về việc
Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô ngày 30/6/1956 thông qua nghị quyết chống sùng
bái cá nhân được đăng tải khá kỹ càng trên nhật báo Nhân dân của Đảng
Lao động Việt Nam.(4)
Với việc Đảng LĐVN ra nghị quyết 9 (khoá 2) nhắc trên, bản
nghị quyết này cũng yêu cầu phổ biến tinh thần “chống sùng bái cá nhân, thực hiện
lãnh đạo tập thể, phê bình và tự phê bình” đến các cấp các ngành; vì vậy, hội
Văn nghệ Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ trên bằng việc tổ chức cuộc học tập
nghiên cứu lý luận cho trên 200 văn nghệ sĩ từ 1/8 đến 18/8/1956.
Cũng chính từ tinh thần học tập các văn kiện ĐH 20 ĐCS
LX mà BCH TƯ ĐLĐ VN đã phát hiện ra những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất,
nhất là sau kết quả CCRĐ đợt 5, triệu tập hội nghị trung ương mở rộng lần thứ
10 và ra nghị quyết sửa sai. “Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10 đã
đi đến nhận định nhất trí rằng chỉnh đốn tổ chức ở các cấp tỉnh, huyện là một
thất bại, chỉnh đốn chi bộ ở xã đã gây những tổn thất rất nặng nề cho Đảng”.(5) Sự kiện này, xin sẽ vắn tắt đề cập
ở một đoạn sau.
2b. Tuy nhiên, liên quan đến Xuân Diệu, ta hãy tạm dừng lại ở
đời sống văn nghệ trong đoạn thời gian trước khi có các diễn biến chính trị kể
trên, tức là từ sau cuộc thảo luận về tập thơ “Việt Bắc” đến trước
tháng 8/1956.
Ngay từ đầu năm 1956, dư luận trong giới văn nghệ có ít nhiều
chấn động vì kết quả giải thưởng văn học 1954-55 của Hội Văn nghệ Việt
Nam (công bố trên báo Văn nghệ số 112, ngày 15/3/1956), theo đó về
thơ, ngoài giải nhất được trao cho tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, còn
có 3 giải nhì: Giải nhì A trao cho 2 tập Đồng tháng tám và Dặn
con, thơ và ca dao về nông dân kháng chiến và phát động quần chúng của Trần
Hữu Thung; giải nhì B trao cho Ngôi sao, tập thơ của Xuân Diệu;
giải nhì C trao cho Nụ cười chính nghĩa, tập thơ đả kích của Tú Mỡ;
giải ba trao cho tập Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại; và một số tác phẩm
khác được trao giải khuyến khích (bên cạnh đó còn có các giải về tiểu thuyết, kịch,
ký sự, dịch văn học).
Việc tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu ở vị trí giải
nhì gây phản ứng trong một số không ít văn nghệ sĩ, tiêu biểu là sự phê bình của
báo Trăm hoa. (Các bài phê bình của báoTrăm hoa, [đây là Trăm
hoa loại cũ, ra từ tháng 9/1955 đến tháng 6/1956] khi giải thưởng
văn học 1954-55 vừa công bố, hiện nay tôi chưa tìm lại được; nhưng đã thấy một
khung quảng cáo “Báo mới” trên trang 3 của tờ “Hà Nội hàng ngày” số
280 ra ngày 25/4/1956 cho biết:Trăm hoa số 28 có bài phê bình của Trần Lê
Văn nhan đề “Đọc ‘Ngôi sao’, thơ của Xuân Diệu”; một nguồn gián tiếp
khác là trên chính báo Văn nghệ, Trần Lê Văn [VN. s. 136, ngày
30/8/1956] và Nguyễn Bính [VN. s. 125, ngày 14/6/1956] nói rõ tuần báo Trăm
hoa (loại cũ) đã đăng liền 3 bài phê phán việc trao giải nhì cho tập Ngôi
sao).
Dù luồng ý kiến ấy có bị một số người cho là ác ý đi nữa, thì
một trong những người giữ trọng trách trong ban chấm giải là Hoài Thanh cũng đã
phải lên tiếng, chủ yếu để bênh vực ban chấm giải, nhưng bằng cách khẳng định
giá trị tập thơ của Xuân Diệu (Một vài ý kiến về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu
// VN. s. 122, ngày 24/5/1955).
“…Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần
chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về
nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như
gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong
thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh
gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn
nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều.
Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn,
chân thành trong thơ Xuân Diệu”…
Như vậy, tuy giành phần lớn bài viết để nói về chỗ khả thủ ở
tập thơ Ngôi sao, Hoài Thanh vẫn mặc nhiên thừa nhận phương diện chưa
thành công, “sống sượng, lệch lạc, giả tạo” ở tập thơ này của Xuân Diệu.
Song, bài viết trên của Hoài Thanh bị xem là chỉ nhằm xoa dịu
dư luận, − nhà thơ Nguyễn Bính lên tiếng như vậy (Hội cần phải mạnh dạn tự phê
bình // VN. s. 125, ngày 14/6/1956) và nói rõ sự thắc mắc của dư luận
trong ngoài giới văn nghệ về việc trao giải nhì cho tập Ngôi sao:
“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi sao thực là nhiều và
sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi
trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có những thắc
mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng,
ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau.
Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập
thơ Ngôi sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng.(5) Ngay khi chưa biết nó được giải cũng
đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm
dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha
thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng. Sự định đoạt giá trị và thứ
bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi
phân tách của một số nhỏ người.
[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải
không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc
của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa
của Hoài Thanh trong Văn nghệ số 122. Một vài anh em còn không bằng
lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi sao trên báo Trăm hoa,
cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có
những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình
Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để
túi trước, lỗi mình để túi sau”? Chính vì vậy mà có tình trạng nhiều bạn nêu
lên thắc mắc muốn thành khẩn xây dựng cho cơ quan lãnh đạo Hội, song lại sợ bị
thành kiến. Dĩ nhiên những thái độ của mấy bạn đó cũng cần được kiểm điểm lại,
nhưng do đấy mà thành một vấn đề: những người lãnh đạo và phụ trách công tác Hội
đã làm thế nào để anh em dè dặt đến như vậy?”
Một cây bút phê bình khác là Huy Phương (Phát biểu về tập thơ
“Ngôi sao” của Xuân Diệu // VN. s. 126, ngày 21/6/1955) cũng đánh giá không khả
quan về tập thơ này của Xuân Diệu.
“… những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi vào thực tế, được chất
chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết
được những bài thơ thành công”… “Nhưng những khi Xuân Diệu trở về với “hồn thơ”
của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc
trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.
[...] Nói đến sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ, Xuân Diệu viết
những câu này:
Giữa
xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy
máu tuỷ đổ ra đời bát ngát
Ngừng
tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ
máu thêm cho đến lúc toàn hồng
Đọc những câu thơ nhễ nhại những máu huyết ấy, người đọc thật
là thấy giận cái bệnh “khoái cảm” của tác giả. Những câu thơ như vậy không phải
là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một
thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả. […]
trong nghệ thuật, nhất là trong thơ, không thể nào gạt bỏ được phần cảm giác nó
là một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế.
Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ, thậm
chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc
và cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản.
[…] Tập Ngôi sao đánh dấu một quá trình dài trong
bước đường làm thơ của Xuân Diệu. […] Nhưng cái mức chung của Xuân Diệu
trong Ngôi sao vẫn là còn thấy mình bé nhỏ, là kẻ chịu ơn và được hưởng
thụ nhiều hơn là thấy mình là người chiến đấu có một trách nhiệm nặng nề và
vinh quang. Chính vì thế mà thơ Xuân Diệu không đi sâu được vào lòng chúng ta”.
Có thể nói, đó là những lời bình luận không hề dễ lọt tai tác
giả; nhưng không thấy Xuân Diệu trả lời, cũng giống như Xuân Diệu đã không lên
tiếng trả lời 3 bài viết về tập Ngôi sao của báo Trăm hoa. Về
chuyện này, hậu thế đừng nên nhận xét là nhà thơ đã tỏ ra “học phiệt” với dư luận
(theo chữ “học phiệt” mà Phan Khôi đã dùng vào năm 1930 để xác định thái độ Phạm
Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế năm 1925). Trong đời sống văn nghệ những
năm 1950-60 ở miền Bắc, một tờ báo “của đoàn thể” (không phải báo tư nhân)
như Văn nghệ rất ít khi dành trang cho tác giả lên tiếng trả lời các
bài phê bình tác phẩm của mình, khi thật cần trả lời, phải được phép, thậm chí
phải trở thành chủ trương của ban lãnh đạo tờ báo.
Không lên tiếng trả lời, nhưng hẳn Xuân Diệu sẽ không quên những
món nợ loại như vậy trong giới của mình. Tạp chí Tác phẩm mới (1969-1976)
mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không
nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như thể không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ
Việt thế kỷ XX, − đó có lẽ là cách “trả đũa” của Xuân Diệu, cố nhiên là có sự đồng
tình của một số tên tuổi khác. Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc
nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986.
***
3a. Chúng ta tiếp tục theo dõi đời sống văn nghệ miền
Bắc từ giữa năm 1956. Việc Hội Văn nghệ Việt Nam mở lớp nghiên cứu lý luận văn
nghệ (từ 1/8 đến 18/8/1956) cho trên 200 văn nghệ sĩ và người công tác văn nghệ,
trên thực tế, đã mở đầu cho một thời điểm bộc phát nhiều vấn đề tiềm ẩn chất chứa.
Bản dịch bài báo “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” của
Lục Định Nhất, được báo Văn nghệ trích dịch đăng tải (số 134, ngày
16/8/1956) sớm hơn báo Nhân dân (báo này đưa tin bằng “Thư Bắc
Kinh” của Lê Hào từ 5/8/1956, nhưng chỉ cho đăng bản dịch toàn
văn ở số ra ngày 30/9/1956), cùng lúc với những ý kiến văn nghệ sĩ tham gia diễn
đàn “Tiến tới Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, trong đó nhiều
ý kiến nêu lên những hiện tượng gò bó, máy móc, áp đặt từ phía những người quản
lý văn hoá văn nghệ mà đương thời gọi chung bằng mấy từ “lãnh đạo văn nghệ”.
Những người thuộc thành phần “lãnh đạo văn nghệ” ấy là những
ai? Trong mắt văn nghệ sĩ đương thời, đó có khi là các cơ chế, cơ quan, ví dụ
phòng văn nghệ quân đội, hội Văn nghệ Việt Nam, có khi là những quan chức cụ thể,
chẳng hạn như Nguyễn Tuân, tổng thư ký Hội Văn nghệ, như Hoài Thanh, giám đốc Vụ
nghệ thuật Bộ văn hoá, như Tố Hữu, uỷ viên trung ương Đảng phụ trách tuyên huấn,
v.v…
Các ý kiến phê bình và thảo luận đó khá nhiều; mỗi tuần
báo Văn nghệ dành ít nhất là 2 trang để đăng tải; tính từ lúc Văn
nghệ (số 122, ngày 24/5/1956) đăng thông báo của ban trù bị Đại hội
Văn nghệ toàn quốc đến ngày họp Đại hội (20/2/1957), việc thảo luận trải ra
trong suốt 7 – 8 tháng. Người ta bàn đến nhiều chuyện: quan hệ giữa văn nghệ và
chính trị với những quan niệm khác nhau xung quanh vấn đề sáng tác phục vụ
chính sách; quan niệm về tự do sáng tác, về “trăm hoa đua nở”; quan niệm hiện
thực xã hội chủ nghĩa; vấn đề khai thác và phát triển các hình thức nghệ thuật
dân tộc, v.v… nhưng sôi nổi hơn cả vẫn là những chuyện chống công thức sơ lược,
“phê bình lãnh đạo văn nghệ” tức là nhận xét phê bình về việc chỉ đạo và quản
lý hoạt động văn hoá văn nghệ của các cơ quan quản lý “đoàn thể” (= hội Văn nghệ)
hoặc chính quyền (= vụ nghệ thuật, bộ văn hoá…).
Trong không khí ấy, một số “lãnh đạo văn nghệ” đã lên tiếng tự
phê bình, ví dụ Hoài Thanh (Tôi đã sai lầm như thế nào trong việc phê bình bài
“Nhất định thắng” của anh Trần Dần // Văn nghệ số 139, ngày
20/9/1956), Nguyễn Tuân (Về giải thưởng văn học 1954-55 // Văn nghệ số
140, ngày 27/9/1956). Nguyễn Đình Thi cũng khởi đăng bài Một vài sai lầm
trong sự lãnh đạo văn nghệ (Văn nghệ số 140 đã dẫn), hứa hẹn sẽ là
bài đăng nhiều kỳ, nhưng sau kỳ đầu rồi không thấy đăng tiếp. Cũng dịp này, Ban
thường vụ Hội Văn nghệ ra thông cáo (đăng Văn nghệ số 141, ngày
4/10/1956) “thừa nhận những sai lầm của mình trong cách tổ chức và lãnh đạo cuộc
phê bình bài Nhất định thắng của Trần Dần”, thừa nhận những thiếu sót
khuyết điểm trong việc chấm giải thưởng văn học 1954-55 (trong đó thừa nhận tập Ngôi
sao của Xuân Diệu chỉ đáng giải ba đã được nể nang đưa lên giải nhì). Tuy
nhiên, sự thành khẩn tự phê bình từ phía lãnh đạo hội Văn nghệ hầu như chỉ dừng
lại ở đấy. Có thể là vì tiếp đó họ phải tập trung đối phó với nhiều sóng gió mới,
nặng nề hơn.
Người ta biết, sau thời điểm lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ
kết thúc không lâu, một loạt ấn phẩm có giọng điệu phê bình mạnh mẽ hơn đã liên
tiếp xuất hiện, − những ấn phẩm mà chỉ vài năm sau sẽ bị dư luận chính thống
làm cho vĩnh viễn ô danh bằng định ngữ “phản động” và bằng các mệnh lệnh “cấm đọc,
cấm phổ biến” được thực thi rất chặt chẽ.
Tháng 8/1956 tập sách Giai phẩm mùa thu 1956 tập I
(Nxb. Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất là bài của Phan Khôi Phê
bình lãnh đạo văn nghệ.
Tháng 9/1956 sách Giai phẩm mùa thu tập II (Nxb.
Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất có lẽ là bài của Trương Tửu Bệnh
sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ.
Ngày 20/9/1956 tờ báo tư nhân mang tên Nhân văn (chủ
nhiệm Phan Khôi, thư ký tòa soạn Trần Duy) ra mắt số 1 trong đó có các
bài Tiến tới xét lại một vụ án văn học: Con người Trần Dần của Hoàng
Cầm, Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, Chống bè phái
trong văn nghệ của Trần Công, Phỏng vấn giáo sư Nguyễn Mạnh Tường về
vấn đề mở rộng tự do dân chủ, v.v…
Ngày 30/9/1956 báo Nhân văn ra số 2 với những
bài: Phấn đấu cho trăm hoa đua nở của Trần Duy, Không sợ địch lợi
dụng của Trần Lê Văn, phỏng vấn học giả Đào Duy Anh về mở rộng tự do
dân chủ, bài trả lời tác giả Nguyễn Chương của báo Nhân dân, cho rằng ký
giả này đã “vu cáo chính trị” đối với báo Nhân văn, v.v…
Ngày 15/10/1956 báo Nhân văn ra số 3 với những
bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo, phỏng vấn bác
sĩ Đặng Văn Ngữ về mở rộng tự do dân chủ, các ý kiến phản hồi về sự tự phê
bình của Hoài Thanh đối với vụ phê phán bài thơ “Nhất định thắng”, v.v…
Ngày 20/10/1956, tuần báoTrăm hoa do Nguyễn Bính chủ trì
đã tục bản sau nửa năm vắng mặt, lại mạnh mẽ đặt vấn đề: phải sửa sai đối với
giải thưởng văn học 1954-55, − một việc mà lãnh đạo Hội Văn nghệ tuy đã thừa nhận
có khuyết điểm song không hề sửa chữa trên thực tế (và sau đó mãi mãi không
thay đổi). Trăm hoa cũng thường nêu lên những hiện tượng áp đặt máy
móc của chính quyền trong sinh hoạt thường ngày ở đô thị (ví dụ quy chế khai
báo hộ khẩu khiến chồng không thể về ở nhà mình qua đêm) và nhất là hiện tượng
bè phái trong văn nghệ (những văn nghệ sĩ hồi kháng chiến cùng ở Việt Bắc đến
lúc này thường ưu tiên ưu đãi nhau, từ việc xét giải thưởng và đi nước ngoài đến
việc đăng bài vở, tác phẩm; một số văn nghệ sĩ miền Nam tập kết thiếu chỗ đăng
bài, đã đến với với Trăm hoa hoặc một số báo tư nhân khác).
Trong tháng 10/1956 tập sách Giai phẩm mùa xuân 1956 từng
bị thu hồi đầu năm, được in lại và phát hành.
Ngày 5/11/1956 báo Nhân văn ra số 4, với những bài
của Nguyễn Hữu Đang (Cần phải chính quy hơn nữa), Trần Duy (Thành thật đấu
tranh cho tự do dân chủ), truyện ngắn của Phùng Cung (Con ngựa già của chúa Trịnh),
rồi bài nêu vụ việc một cán bộ sở báo chí trung ương đến toà báo Trăm hoa gây
gổ xúc phạm thi sĩ Nguyễn Bính, bài của Bùi Quang Đoài đáp lại bài viết về chủ
nghiã nhân văn của Hoàng Xuân Nhị trên báo Nhân dân, v.v…
Số báo Nhân văn này gần như ra cùng lúc với quyển mới Giai
phẩm mùa thu tập III của nhà Minh Đức, trong đó có phần đầu bài Văn
nghệ và chính trị của Trương Tửu, bài Muốn phát triển học thuật của
Đào Duy Anh, thơ của Phan Khôi, Mai Hanh, bài Chủ nghĩa xã hội và nhà nước của
một tác giả Nam Tư do Bùi Quang Đoài dịch, v.v…
Ngày 20/11/1956, báo Nhân văn ra số 5, với những
bài phản đối sở báo chí trung ương thi hành kỷ luật báo Nhân văn, các bài
của H.L. (Không có lý gì mà không tán thành trăm hoa đua nở), Nguyễn Hữu Đang (Hiến
pháp Việt Nam 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào?), Trần
Duy (Góp ý kiến về phần tự do dân chủ trong nghị quyết TƯ lần thứ mười), N.Q.S.
(Bài học Ba-lan và Hung-ga-ri), Châm Văn Biếm (Thi sĩ máy), Hoàng Tố Nguyên (Tiếng
hát quê hương), v.v…
Cuối tháng 11/1956 Giai phẩm mùa đông 1956 tập I của
nhà Minh Đức ra mắt với những bài của Trương Tửu (Tự do tư tưởng của văn nghệ
sĩ và sự lãnh đạo của đảng cộng sản bôn-sê-vích), Trần Đức Thảo (Nội dung xã hội
và hình thức tự do), Sỹ Ngọc (Làm cho hoa nở bốn mùa), Nguyễn Mạnh Tường (Hai
câu chuyện), Hữu Loan (truyện ngắn Lộn sòng), Trần Dần (dịch
thơ Mai-a-kốp-ski), Hoàng Cầm (kịch thơ Hướng đi lên bắc), Phùng Quán
(thơ Ai người hiểu rõ nhất?), v.v…
Cùng thời gian ấy, loại sách “Đất mới” của Nhà xuất
bản Minh Đức ra tập I nhan đề “Chuyện sinh viên” với bài của
các tác giả Nguyễn Bao, Bùi Quang Đoài, Thúc Hà, Dương Viết Á, Văn Tâm, v.v…
Khuynh hướng thể hiện trong các ấn phẩm trên, tất nhiên bị phản
đối dữ dội từ phía các tờ báo chính thống. Trước hết là báo Nhân dân với
các tác giả Nguyễn Chương, Quang Đạm, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, và những bạn
đọc của báo ấy, v.v… Tuần báo Văn nghệ thì vừa tiếp tục vai trò làm
diễn đàn chuẩn bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc để cho đăng những bài góp ý phê
bình lãnh đạo văn nghệ, vừa dành trang phê bình của báo (kể từ số 141, ngày
4/10/1956) cho những bài phê phán các số Nhân văn và các tập Giai
phẩm, thậm chí dành trang cho cuộc thảo luận giữa Nguyễn Hữu Đang và Hồng Vân
(Hoàng Trung Thông) xung quanh khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, khi báo Nhân
văn và các tập Giai phẩm đã thôi không còn được ra thêm nữa.
Sự phức tạp của tình hình là ở những động thái đột xuất tạm
thời cắt ngang dòng ý kiến phê phán báo Nhân văn và các tập Giai
phẩm: ấy là ngày 30/10/1956 với việc công bố nghị quyết hội nghị trung ương Đảng
lần thứ 10 (mở rộng) nêu lên những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn
tổ chức, đồng thời nêu quyết tâm sửa chữa những sai lầm ấy, công bố những việc
lớn như cử lại chức Tổng bí thư Đảng LĐ VN (Trường Chinh thôi chức này, Hồ Chí
Minh kiêm nhiệm), cách chức những quan chức cao cấp của Ủy ban CCRĐ TƯ (chỉ thấy
nêu 2 trường hợp Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), tuyên bố vô hiệu hóa lập tức
quyền hạn của UBCCRĐ từ trung ương đến các cấp (các ủy ban này vốn có quyền xét
duyệt các quyết nghị về quy thành phần gia cấp các hộ gia đình tại các địa
phương, ký duyệt việc trưng thu trưng mua ruộng đất và tài sản những hộ địa chủ
phú nông, xét duyệt các mức án tù hoặc tử hình đối với người bị quy là địa chủ
phản động, v.v…; các ủy ban này từ đây trở thành những cơ quan chỉ còn chức
năng nghiên cứu, ít lâu sau sẽ bị giải tán), giải tán ngay các tòa án nhân dân
đặc biệt các cấp do các UBCCRĐ lập ra, nêu ra hàng loạt biện pháp sửa sai, từ
các tiêu chuẩn để hạ thành phần cho những người bị quy vào các thành phần bóc lột
đến việc minh oan cho những cán bộ đảng viên bị quy vào thành phần phản động
các loại.(6)
Sự kiện chấn động đời sống chính trị miền Bắc này, tuy vậy,
chỉ làm gián đoạn chốc lát chứ không làm thay đổi chiều hướng phê phán nhằm vào
5 số báo Nhân văn và 5 tập Giai phẩm; tất nhiên trên một số
vấn đề sẽ xuất hiện một vài khía cạnh sẽ được biện luận thêm, ví dụ sự “phê
bình” được phân chia thành “phê bình xây dựng” và “phê bình phá hoại”.
Ngày 8/11/1956, báo Nhân văn bị Sở báo chí trung
ương cảnh cáo vì vi phạm quy chế lưu chiểu.
Ngày 15/11/1956, Ủy ban hành chính TP Hà Nội ra quyết định
đình bản báo Nhân văn đồng thời cấm lưu hành tất cả 5 số Nhân
văn đã phát hành trước đó.
Các tập Giai phẩm cũng không được cấp giấy phép để
ra tiếp, nhà Minh Đức chỉ ra thêm được một tập sách cũng có dạng “giai phẩm” (gồm
các sáng tác thơ văn của nhiều tác giả, chỉ không có bài nào là nghị luận) tuy
mang tên Sách Tết 1957, với kích cỡ gần như một số báo (32 trang 30 x 40
cm).
(a) “Năm 1976 [….] tạp chí Tác
phẩm mới ngừng phát hành và Nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam ra
đời. Cho đến năm 1987, do yêu cầu phát triển của văn học, tạp chí lại xuất bản
với tên ‘Tác phẩm văn học’ khuôn khổ 13x19cm, ra hàng tháng; Tổng biên tập là
nhà văn Nguyễn Đình Thi.” (sách: Nhà văn việt Nam hiện đại (nhân
kỷ niệm 35 năm thành lập Hội nhà văn Việt Nam). Hà Nội: Hội nhà văn Việt Nam xb.,
1992, tr. 237.)
(b) Bài đính chính những nội dung
trên đã đăng nhật báo “Thể thao & Văn hoá” 19/8/2008
(1) Xem: Sưu tập Văn nghệ
1948-1954, tập 7: 1954, (Hữu Nhuận và Lại Nguyên Ân sưu tầm), Hà Nội, 2006:
Nxb. Hội Nhà Văn, tr. 575-577.
(2) Xem trong cuốn: Tư liệu
thảo luận 1955 về tập thơ “Việt Bắc” (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn),
Hà Nội: Nxb. VHTT, 2005, tr. 27, 46, 48.
(3) Xem: tin về ĐH 20 ĐCSLX, lời
chào mừng ĐH 20 ĐCS LX của Trường Chinh trong tạp chí Học tập, s. 3 (tháng
2/1956); bản dịch toàn văn các văn kiện và một số tham luận chính tại ĐH 20 ĐCS
LX trong tạp chí Học tập số 4 (tháng 3/1956), s. 5 (tháng 4/1956) và
s. 6 (tháng 5/1956); các văn kiện hội nghị BCHTƯ ĐLĐ VN lần thứ 9 (mở rộng) gồm
nghị quyết, lời bế mạc hội nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo chính tại hội
nghị của Tổng bí thư Trường Chinh: Đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản
Liên Xô, một cuộc Đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại trên tạp
chí Học tập số 6 (tháng 5/1956); các bài trao đổi về vấn đề phương thức
lãnh đạo tập thể, chống sùng bái cá nhân trên tạp chí Học tập các số
7 (tháng 6/1956), số 8 (tháng 7/1956), số 1 (tháng 1/1957), v.v…
(4) Sự kiện BCH TƯ ĐCS Liên Xô
thông qua nghị quyết về chống sùng bái cá nhân được đăng trên Nhân dân ngày
3/7/1956, tr. 1; bài tóm tắt nội dung nghị quyết này được đăng trên Nhân
dân ngày 5/7/1956, tr.3-4.
(5) Xã luận tạp chí Học tập số
8 (tháng 7/1956), tr. 3.
(5) Có lẽ ý Nguyễn Bính muốn nói là
tập thơ Ngôi sao đã xuất bản trước khi công bố kết quả giải thưởng
văn học của Hội Văn nghệ (đăng Văn nghệ s. 112, ngày
15/3/1956). Nên chú ý là trong thể lệ dự giải văn học, tác phẩm gửi về tham dự
giải có thể ở dạng bản thảo chưa in, có thể ở dạng sách đã xuất bản trong thời
hạn được quy định.
(6) Xem trên nhật báo Nhân
dân ngày 30/10/1956: 1/Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 (mở rộng) của
Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam; 2/Thông cáo của Hội nghị
lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc cử lại Tổng bí thư BCH TƯ; 3/ Thông cáo của Hội
nghị lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc thi hành kỷ luật đối với những đồng chí ủy
viên trung ương phạm sai lầm trong việc chỉ đạo công tác cải cách ruộng đất và
chỉnh đốn tổ chức. 4/Tin tối 29/10/1956 hơn 10.000 đại biểu nhân dân thủ
đô họp mặt tại Nhà hát nhân dân nghe thông báo về Nghị quyết Hội nghị trung
ương Đảng lần thứ 10, nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện về nghị quyết hội
nghị lần thứ 10 trung ương Đảng.
- Xem trên Nhân dân ngày 31/10/1956: Bài nói
chuyện của đồng chí Võ Nguyên Giáp ủy viên bộ chính trị trung ương Đảng, về nghị
quyết Hội nghị trung ương lần thứ 10, tr. 1, 2-3, 4.
- Xem trên Nhân dân ngày 2/11/1956: Thông cáo
của Hội đồng chính phủ;
- Xem trên Nhân dân ngày 7/11/1956: Nghị quyết
của Hội đồng chính phủ về mấy chính sách cụ thể để sửa chữa sai lầm về CCRĐ và
chỉnh đốn tổ chức.
- Xem trên Nhân dân ngày 8/11/1956: Trích Nghị
quyết của HĐCP về việc chấp hành chính sách cụ thể đối với phú nông, đối với những
người bị vạch là thành phần bóc lột khác và những người có ít ruộng đất phát
canh hoặc thuê người làm; Chính sách đối với địa chủ sau cải cách ruộng đất.
Ngày 14/12/1956, Chủ tịch nước VNDCCH ban hành sắc lệnh về chế
độ báo chí; văn kiện này đã đề ra những nội dung mà sau này người ta sẽ gọi là
“vùng cấm” trong hoạt động thông tin ngôn luận của báo chí:
“a/ Không được tuyên truyền chống pháp luật của nhà nước.
Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những
đường lối, chính sách của nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại
chế độ dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội.
Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự
của xã hội.
b/ Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hòa
bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam,
làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.
c/ Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa
nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân
các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được
tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền cho chiến tranh.
d/ Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc
phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách
nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà tòa án không cho
phép công bố, những tài liệu, số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài
chính mà ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.
e/ Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại.”
(Sắc lệnh về chế độ báo chí // Nhân dân, 15/12/1956, tr.
1)
Giữa tháng 12/1956, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị đảng
viên văn nghệ, thống nhất nhận thức tư tưởng trước khi bước vào đại hội văn nghệ,
tại đó hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm đã bị lên án.
Tại kỳ họp lần thứ 6 của Quốc hội (khoá I), ngày 18/1/1957,
dân biểu Nguyễn Đình Thi đã chính thức phát biểu trước Quốc hội: “Trong khi
chúng ta phê bình những sai lầm khuyết điểm, đã có một vài khuynh hướng xấu len
vào vu khống chế độ của ta, đả kích sự lãnh đạo của đảng và chính phủ, đối với
những người trí thức, tìm cách gây hoang mang chia rẽ. Những khuynh hướng xấu
đó gần đây đã được vạch ra, cuộc đấu tranh tư tưởng chung quanh vấn đề văn nghệ
hiện nay đang làm cho những người trí thức nước ta trưởng thành lớn thêm một bước
nữa”…(7)
Ngày 20/2/1957, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai khai mạc
và tiếp diễn trong 8 ngày; đại hội này đã quyết định chấm dứt Hội Văn nghệ Việt
Nam để thành lập Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, khuyến khích các
ngành văn nghệ thành lập Hội của ngành mình, đặt trong khuôn khổ Hội Liên hiệp
VHNTVN. Trong thời gian đại hội, với tư cách đại diện Đảng Lao động Việt
Nam, ông Trường Chinh, được Ban chấp hành hội Văn nghệ giới thiệu như “người bạn
thân mến của văn nghệ sĩ Việt Nam” và mời đến nói chuyện tại Nhà hát Lớn trong
ngày nghỉ của đại hội (chủ nhật 24/2/1957), với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền
văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội”;
trong bài nói chuyện này có những đoạn nhận định và lên án Nhân văn – Giai
phẩm rất gay gắt; văn bản bài nói chuyện này của Trường Chinh, khoảng 4-5
tháng sau mới được công bố (trên 2 kỳ đầu Tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội
LHVHNTVN, xuất bản từ tháng 6/1957). (8)
***
3b. Suốt thời gian kể trên, từ 1/8/1956 đến đại
hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Xuân Diệu hầu như ít đăng đàn; ông rất ít đăng
thơ, hình như chỉ một lần, với bài Gieo mùa ở báo Văn nghệ số
Tết Đinh Dậu (số kép 156&157, ra ngày 18/1/1957); loại ông viết nhiều hơn ở
thời gian này là một số bút ký hoặc giới thiệu, điểm sách, chẳng hạn, bút
ký Những tâm hồn đổi mới (báo Độc lập, s. 152, ngày 14/1/1956)
viết về trường đại học nhân dân, mở cho giới trí thức từng sống và làm việc dưới
chế độ cũ trong thành Hà Nội thời tạm chiếm; bút ký Thăm một làng miền bắc
Hung-ga-ri (Nhân dân, 30/3/1956), bút ký Một thành phố xã hội chủ
nghĩa ở Hung (tạp chí Tổ quốc, s. 32, ngày 5/4/1956), bút
ký Cảm tưởng Mat-scơ-va (Nhân dân, 10/11/1956), bút ký Mùa xuân
thắng (Nhân dân, 3/2/1957), giới thiệu Vài hình ảnh văn học
Hung-ga-ry (Văn nghệ số 115, ngày 5/4/1956), đọc sách Những mẩu chuyện
về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Văn nghệ số 121, ngày 17/5/1956), giới
thiệu và dịch thơ Nazim Hitmet (Văn nghệ số 150, ngày 7/12/1956), đưa tin
về hội nghị các nhà văn châu Á (Văn nghệ số 153, ngày 27/12/1956). Đáng kể
nhất có lẽ là lần Xuân Diệu xuất hiện trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ ở ngày họp
thứ sáu, 26/2/1957, với tham luận về bệnh sơ lược trong văn nghệ (trích
đăng Văn nghệ số 162, ngày 1/3/1957). Tại đại hội này, Xuân Diệu là một
trong số 15 nhà văn (Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn
Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh,
Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung), cùng với
nhiều văn nghệ sĩ thuộc các ngành khác, được bầu vào BCH Hội Liên hiệp VHNTVN.
Xin dừng lại đôi chút ở bài tham luận của Xuân Diệu; đây là lần
duy nhất ông bộc lộ ý kiến trong suốt thời gian trên dưới nửa năm (tháng 8/1956
– tháng 2/1957), giữa một đời sống văn nghệ sôi động, đầy những va chạm về tư
tưởng và quan niệm văn nghệ.
Về căn bệnh trong sáng tác đang được nêu ra và phân tích,
Xuân Diệu cho rằng:
“Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người
ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu
lý tưởng”.
Song, theo Xuân Diệu:
“bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng
ta”,
… “chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ
kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có”.
… “Số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ cũng thường
trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những
con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn
tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu nói đến những cái mà nhiều người gọi là “khuôn”
trong đời sống mới:
“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng?(9) Bế
Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe XHCN,
liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov,
cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống
nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng
dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho cho quyền lợi dân tộc,
[…..] Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại,
phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Đối với những cái “sáo” hình thành trong văn nghệ cách mạng,
thái độ của Xuân Diệu là bảo vệ:
“Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là
muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ
sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn cái công thức cuả tư sản phản động, của
văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng…”
“Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ
non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới
nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ
của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào
khác!”
Về cách chữa bệnh sơ lược, Xuân Diệu cho là có “cách chữa
chân chính” và “cách chữa giả tạo”, cách thứ hai này, ông chống kịch
liệt:
“Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh
sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế
khách quan [….] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người
văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời
đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị
cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo
thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”
Cách chữa chân chính, theo Xuân Diệu, là “nghiên cứu sâu thực
tế cách mạng”, vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”, “ta phải nói
được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm
những cá tính lập dị nào”.
“Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một
bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì
Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến
tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động
hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của
Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”
Đọc lại những lời lẽ trên đây, không khó để thấy thành phần
nghị luận chủ yếu trong đó là ngụy biện, tuy được phát ngôn một cách không kém
nồng nhiệt nhưng vẫn là kết quả những suy tính kỹ lưỡng, − không nhiều suy tư về
chân lý, nhưng chắc chắn là ngầm chứa rất nhiều suy tính về cách ứng xử, cách
“diễn ngôn” (discours, như cách gọi sau này) ra sao để tồn tại; đối với tác giả Thơ
thơ đến lúc này thì vấn đề không chỉ là cần sống sót mà là
cần được sống tốt, bất kể thời thế ra sao.
***
4a. Chúng ta tiếp tục dõi theo những nét chính trong đời
sống văn nghệ từ đầu năm 1957, sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai. Đối
với giới nhà văn, đây là một năm đáng nhớ với sự ra đời lần đầu tiên ở Việt Nam một
hội mang tên Hội Nhà Văn Việt Nam với những cơ sở trực thuộc nó sẽ dần
dần hình thành: câu lạc bộ, tờ tuần báo, nhà xuất bản, quỹ văn học…
Việc thành lập các hội chuyên ngành cho các giới: nhà văn, hoạ
sĩ và nhà điêu khắc, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nghệ sĩ sân khấu, nghệ sĩ điện ảnh,
− là chủ trương được thông qua tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần II. Hội nhà
văn được xúc tiến sớm nhất.
Tất nhiên đặt trong đời sống tinh thần ở miền Bắc đương thời,
Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN hoặc Hội nhà văn VN và các hội chuyên ngành
cùng loại, đều là những tổ chức được thành lập theo chủ trương của Đảng cầm quyền,
đều là những hội được hưởng quy chế tương đương cơ quan nhà nước (biên chế và
lương cán bộ nhân viên đều do nhà nước đảm bảo), − nói bằng ngôn ngữ của thời
“hậu bao cấp” thì đó là những hội “quốc doanh”, hội “độc quyền”, hội “bao cấp”…
Hội nghị thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ ngày 1 đến
ngày 4/4/1957, có 278 đại biểu tham dự, thảo luận và thông qua bản điều lệ
trong đó nói rõ: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà
văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc,
tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật” (điều III).(10) Đại
hội bầu ra ban chấp hành khoá đầu gồm 25 nhà văn, và nhất trí coi 25 nhà văn
trong ban chấp hành này là những hội viên sáng lập và sau đấy sẽ bắt tay vào việc
kết nạp hội viên vào Hội.(11) 25
nhà văn đó gồm: Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh
Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao
Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm
Huy Thông, Tế Hanh, Nam Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài,
Nguyễn Tuân.
Ngày 10/4/1957, hội nghị BCH lần 1 cử ra ban thường vụ gồm:
chủ tịch Hội: Nguyễn Công Hoan, phó chủ tịch: Tú Mỡ, tổng thư ký: Tô Hoài, phó
tổng thư ký: Nguyễn Xuân Sanh, và 3 uỷ viên: Nguyên Hồng, Tế Hanh, Đoàn Giỏi.
Ngày 25 và 26/4/1957, hội nghị BCH lần 2 thông qua đề án xuất
bản báo Văn và lập Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Tuần báo Văn với
Chủ nhiệm Nguyễn Công Hoan, Thư ký toà soạn Nguyên Hồng và 2 uỷ viên ban biên tập
là Tú Mỡ và Tế Hanh. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn với Giám đốc Tô Hoài và
3 uỷ viên ban biên tập: Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Hội nghị này cũng
quyết định lập ra ban kết nạp hội viên (trưởng: Tú Mỡ, phó: Nguyên Hồng, có một
tiểu ban giúp việc), ban chế độ công tác sáng tác (trưởng: Nguyễn Công Hoan,
phó: Nguyễn Xuân Sanh, có một số uỷ viên), ban nghiên cứu sáng tác (trưởng: Tô
Hoài), ban văn học nước ngoài (trưởng: Nguyễn Xuân Sanh, uỷ viên: Nguyễn Tuân,
Phạm Huy Thông). Ban thường vụ Hội quyết định lập cơ quan Hội, quy định biên chế
cơ quan gồm một số nhà văn và một số cán bộ hành chính.
Tuần báo Văn xuất bản vào ngày thứ sáu hằng tuần, số
1 ra ngày 10/5/1957, và, − ngoài mong muốn và dự liệu của giới lãnh đạo văn nghệ
hay chăng (hay vẫn nằm trong số những dự liệu ấy?), − chính tờ báo này đã làm
nên một đoạn phiêu lưu nữa, như giọt nước không mấy to hoặc nặng, nhưng lại là
giọt nước làm tràn ly: với nó và sau nó, sự đấu tranh giữa những khác biệt
trong nội bộ nền “văn nghệ cách mạng” này được công nhiên chuyển thành đấu
tranh giữa “ta” với “địch”, một số “đồng chí” trong hàng ngũ được chuyển thành
những “kẻ thù” và bị trừng phạt, bị trục xuất khỏi hàng ngũ, bị làm cho ô nhục
bằng ngôn từ và bằng áp đặt sự phân biệt đối xử.
Ta hãy quan sát kỹ hơn những gì xảy ra với tuần báo Văn.
Văn là tuần báo ra ngày thứ sáu, chuyên về “sáng tác,
phê bình, giới thiệu, sinh hoạt văn học, tin văn thơ”. Thành phần bài vở chính
trong mỗi số là đăng sáng tác thơ văn, phê bình tiểu luận, chuyện nghề văn, thời
sự văn hóa văn nghệ; một phương diện phục vụ chính trị không thể thiếu của báo
là mảng hoạt kê và châm biếm chính trị: tranh đả kích, thơ trào phúng trong các
mục “mũi nhọn”, “bia miệng”, đối tượng luôn luôn là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay
sai Ngô Đình Diệm”.
Văn có nét thông thường ở hầu hết các tờ báo của giới
nhà văn: phần trang nhiều nhất dành đăng sáng tác thơ văn, dư luận văn nghệ. Có
lẽ nét mới thấy rõ ở nó so với tuần báo Văn nghệ trước đấy là
việc phản ánh sinh hoạt câu lạc bộ Hội nhà văn, hoặc những thông tin khá hồ hởi
xung quanh những ngày đầu hoạt động của Hội nhà văn, nhất là những động thái
triển khai việc xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên…
Tuy nhiên, vào lúc đã ra được 10 số đầu, tờ tuần báo của Hội
Nhà văn như bị dội nước lạnh khi trên tạp chí Học tập, cơ quan lý luận
chính trị của trung ương Đảng Lao động VN, số 7/1957, xuất hiện bài Tuần
báo Văn và con người thời đại của tác giả Thế Toàn (Trịnh
Xuân An), theo đó, những sáng tác đăng tải trên 10 số Văn đầu tiên được
đánh giá khá tiêu cực: chủ đề của nhiều văn, thơ đăng ở đây “toàn là những thứ
lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng
gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta”; tóm lại, theo
Thế Toàn, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm
vụ trung tâm của cách mạng”.
Trước sự phê bình của tạp chí Học tập, ban
biên tập tuần báo Văn và không ít nhà văn đã có phản ứng khá
gay gắt. Lần lượt, các ý kiến của thư ký tòa soạn Nguyên Hồng (Tuần báo Văn và
một số bài của báo cần được nhận định như thế nào? // Văn số 15, ngày
16/8/1957), của Nguyễn Văn Bổng (Nhận lại phương hướng qua việc phê bình tuần
báo Văn // Văn số 20, ngày 20/9/1957), Lê Minh (Xây dựng con người thời đại
// Văn số 21, ngày 27/9/1957), Tô Hoài (Góp thêm vài ý kiến về con người
thời đại // Văn số 22, ngày 4/10/1957), Nguyễn Tuân (Phê bình nhất định là
khó // Văn số 23, ngày 11/10/1957), Tế Hanh (Cùng đặt một số vấn đề // Văn số
26, ngày 1/11/1957), ở những mức độ khác nhau, hầu hết (đúng ra, trừ một số ý
trong bài của Nguyễn Văn Bổng) đều bộc lộ thái độ không tán đồng sự phê bình của
tạp chí Học tập.
Việc những người chủ trì báo Văn coi sự góp ý của tạp
chí Học tập chỉ như sự phê bình của tờ “báo bạn”, của “đồng nghiệp” −
có lẽ đặc biệt gây tự ái nơi tâm lý những người nhân danh báo chí của Đảng cầm
quyền. Dưới dạng một bài đọc sách, − đây là bài nói chuyện của Trường Chinh tại
Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II được in thành sách riêng, − hai nhà báo của tạp
chí Học tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An, lên tiếng nhắc nhở các nhà
văn và Ban biên tập tuần báo Văn; nhan đề bài viết (Học tập, số 8,
tháng 8/1957) được hai ông này đặt bằng mệnh lệnh thức: Phải thấu suốt đường
lối văn nghệ của Đảng. Bút ký sau khi đọc cuốn “Phấn đấu cho một nền văn nghệ
dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” của
đồng chí Trường Chinh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc cần phê phán ảnh
hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ. Ý nghĩa cảnh cáo lộ rõ trong
đoạn kết:
“Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những thiên hướng lệch
lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản
đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai
lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm
tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng.
Thái độ đó rõ ràng là không lợi cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt
trận văn nghệ.”
Nhận xét về cách phê bình của hai ký giả trên tạp chí Học
tập, Nguyễn Tuân (báo Văn số 23) nhắc lại mấy câu hỏi của Nguyên Hồng
(thư ký tòa soạn báo “Văn” ): “Có phải vì giáo điều, sơ lược, công thức,
nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế? Có phải vì tác phong quan liêu, trịch
thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới có sự nhận xét như thế?”, và Nguyễn
Tuân tỏ rõ ý kiến mình:
“Trong việc đánh giá, đặc biệt nhất là ba ông Thế Toàn, Hồng
Chương và Trịnh Xuân An đã có những “thái độ trịch thượng và cái lối nói đao to
búa lớn”. Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn báo Văn về cái nhận
xét này. Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy ông đó đã làm cho người đọc
phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa” anh em viết bài báo”.
Đáp lại sự nhận xét trịch thượng cho rằng giới nhà văn chưa
biểu hiện được “con người thời đại”, Nguyễn Tuân lên tiếng như là tiếng nói
chung của giới mình:
“Theo chỗ tôi biết thì đã có một số hiện tượng hách dịch đối
với văn nghệ phẩm, xuất phát từ một số người phê bình cũng như từ một số cán bộ
chính trị. Tôi rất đồng ý là văn nghệ sĩ, mà nhất là văn nghệ sĩ có tài, càng cần
phải khiêm tốn. Nhưng chung quanh, nhất là những người có trách nhiệm về phán
đoán cái này cái kia, đề nghị cũng làm như vậy cho. Tôi tán thành cái ý kiến là
những “sĩ” của các ngành văn nghệ chúng ta chưa có gì là ghê gớm lắm đâu, về
trình độ tư tưởng trình độ văn hóa trình độ nghề nghiệp còn phải học cho nát
xương lòi da ra, học cho đến chết mà chắc gì đã nắm hết được quy luật của sự sống.
Nhưng cũng không nên vì nó chỉ là “sĩ” của Việt Nam mà đánh giá nó quá thấp quá
tồi về khả năng nhạy cảm đối với thực tế khách quan, cho nó là mít là xoài tất
trong mọi cảm xúc phiền toái và vĩ đại của thời đại vừa gieo neo vừa lớn lao hiện
nay của chúng ta. Trong mọi thực tiễn Việt Nam nói chung các mặt, nếu
đã có những tác giả còn non nớt, nếu đã có những tác phẩm yếu xoàng, thì cũng
đã có một số cán bộ thực hiện chính trị một cách cũng không được cao tay gì lắm.
Đối với nghệ phẩm, anh đến với nó (nhất là thứ tạo ra ở bản xứ) mà anh tham lam
quá đáng hoặc hung hăng một cách không cần thiết, thì nó biến mất….”
Lúc này, đến lượt Tạp chí Văn nghệ vào cuộc. Tạp
chí này, chủ nhiệm là Đặng Thai Mai, thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi, đã tái
xuất hiện từ tháng 6/1957 với tư cách cơ quan của Hội Liên hiêp Văn học nghệ
thuật Việt Nam, ra hàng tháng, đánh số từ số 1 nhưng ghi rõ trên manchette là tờ
tạp chí “xuất bản từ 1948 trong kháng chiến”. Chính trên tạp chí này, dù chỉ vừa
mới xuất hiện trở lại, cũng đã kịp có những bài phê phán những sáng tác bị coi
là có những lệch lạc về tư tưởng, ví dụ Thao thức của Đoàn Giỏi (bài
phê bình của Nguyễn Văn Bổng, TCVN s. 5, th. 10/1957), Một ngày
chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng (bài phê bình của Vũ Đức Phúc, TCVN s.
7, th. 12/1957).
Bài báo dài Tuần báo Văn với phương hướng sáng tác và
phê bình hiện nay (Tạp chí Văn nghệ số 5, tháng 10/1957, tr. 113-136) của
nhà phê bình Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ, tất nhiên
là không tách rời tư cách Tổng thư ký Hội LHVHNTVN của ông khi đó (cũng như
Nguyễn Tuân khi lên tiếng ủng hộ Nguyên Hồng thì ông Tuân vẫn đang là Phó chủ tịch
Hội LHVHNTVN).
Có phần tán thành nhận định của Thế Toàn và Nguyễn Văn Bổng,
đề cập đến các sáng tác đăng 10 số đầu báo Văn, Nguyễn Đình Thi cho rằng
“Chúng ta chưa nhìn rõ cái thực tế tiến dần lên chủ nghĩa xã hội của đời sống
chung quanh ta được báo Văn phản ánh lên thế nào” … “Tình hình đó
không thể coi là bình thường được”. Nguyễn Đình Thi còn phân tích
đánh giá về một số bài đăng trên các số Văn, trong đó đặc biệt tỏ rõ dị ứng
với các bài thơ Một giọng đàn, một dòng sông (Hoàng Yến, s.
5), In dấu chân (Hoàng Cầm, s. 15), Lời mẹ dặn (Phùng Quán,
s. 21), hoặc ý kiến của Trần Dần Nhìn lướt qua thơ văn gần đây (s.
12). Tuy vậy, cũng có phần chia sẻ với Nguyên Hồng trong phản ứng trước sự phê
bình đầy công thức và máy móc của tạp chí “Học tập”; Nguyễn Đình Thi
viết:
(7) Nguyễn
Đình Thi: Mấy việc làm để xây dựng nền văn hoá văn nghệ của nhân dân ta
(phát biểu trong phiên họp Quốc hội khoá thứ 6 ngày 18/1/1957) // Văn nghệ, s.
158 (1/2/1957), tr. 1, 2. Lưu ý: báo chí đương thời gọi đây là “khoá họp” (QH)
thứ 6”; theo cách gọi ngày nay, phải là “kỳ họp thứ 6” mới đúng; vì khi đó QH vẫn
đang trong nhiệm kỳ I (nay cũng gọi là khoá I), được bầu cử từ 1946.
(8) Theo các bài tường thuật của Huyền Kiêu (VN. s. 161)
và Bàng Sĩ Nguyên (VN. s. 162), có thể tóm tắt tiến trình Đại hội Văn nghệ toàn
quốc lần thứ hai, họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ 20/2/1957 đến 28/2/1957 như
sau:
Chiều 19/2/1957: Họp trù bị, bầu Chủ tịch đoàn Đại hội,
25 người: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Hoài
Thanh, Nguyễn Xuân Khoát, Lương Xuân Nhị, Phan Thao, Thế Lữ, Nguyễn Phương Danh
(Tám Danh), Nông Quốc Chấn, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Cao Luyện, Văn Cao, Ái Liên,
Thái Thị Liên, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Tỵ, Y Dơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Nho
Tuý (Đội Tảo), Trần Văn Lắm, Lưu Hữu Phước, Trần Huyền Trân
20/2/1957: phiên khai mạc; ngày họp thứ nhất
- Chủ tịch đoàn giới thiệu Đặng Thai Mai chủ toạ phiên họp đầu
tiên. Chủ tịch đoàn giới thiệu bổ sung nhạc sĩ quân đội Đỗ Nhuận vào chủ tịch
đoàn, đại hội biểu quyết bằng vỗ tay thông qua.
- Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân giới thiệu thành phần
đại hội và khách của đại hội: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên
Giáp, ông Trường Chinh đại diện Đảng Lao động VN; trên 600 văn nghệ sĩ; các vị
khách Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Quân đội nhân dân, đảng xã hội,
đảng dân chủ, bộ văn hoá, các sứ quán, các phóng viên…
- Tổng thư ký Nguyễn Tuân đọc diễn văn khai mạc.
- Lời chào mừng của Mặt trận tổ quốc, của anh em văn nghệ sĩ
đang công tác ở giới tuyến, nhà văn và trí thức Ru-ma-ni.
- Nguyễn Đình Thi thay mặt Ban chấp hành Hội đọc báo cáo
chính: Văn học và nghệ thuật Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.
- Chiều: Nguyễn Đình Thi đọc tiếp báo cáo
- Ô. Trường Chinh đọc Thư của BCH TƯ ĐLĐ VN gửi đại hội.
21/2/1957: ngày họp thứ hai
- Lưu Quý Kỳ đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ miền Nam trong
chín năm qua và nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
- Nông Quốc Chấn đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ
các dân tộc miền núi.
- Nguyễn Xuân Sanh đọc báo cáo bổ sung về: Dự thảo điều lệ Hội
Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
22/2/1957: ngày họp thứ ba
các đại biểu thảo luận theo ngành tại Nhà hát Lớn, CLB Đoàn Kết,
CLB Thống Nhất; tối: đoàn bình kịch Cáp-nhĩ-tân (Trung Quốc) biểu diễn chào mừng
đại hội với vở Đào hoa nhân diện.
23/2/1957: ngày họp thứ tư
- họp chung tại Nhà hát Lớn nghe các tham luận
- Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND VN Nguyễn Chí Thanh phát
biểu, mời văn nghệ sĩ sáng tác về các đề tài quân đội.
- Đại diện Ban liên lạc nông dân toàn quốc phát biểu hoan
nghênh những sáng tác về nông thôn.
- Tham luận: Vũ Ngọc Phan về dân ca VN; Cầm Biêu về thơ dân tộc
Thái; Tú Mỡ về trào phúng; Tô Vũ về vốn nhạc cổ; Cù Huy Cận về học tập vốn cũ
dân tộc; Đào Duy Anh về vốn cũ dân tộc; Nguyễn Văn Tỵ về phổ biến tranh dân tộc;
ngoài ra còn tham luận của Hoàng Châu Ký, Lã Văn Lô, Nhật Lai, Chi Lăng…
24/2/1957: chủ nhật, đại hội nghỉ,
Ban chấp hành hội Văn nghệ VN “mời đồng chí Trường Chinh, người
bạn thân mến của văn nghệ sĩ VN” nói chuyện tại Nhà hát Lớn, với đầu đề: “Phấn
đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa xã hội” .
25/2/1957: ngày họp thứ năm
- đại diện Tổng Liên đoàn lao động VN Nguyễn Duy Tính, đại diện
Hội LH Phụ nữ VN Đinh Thị Cẩn, đại diện Hội LH Thanh niên VN Hồ Trúc phát biểu
những ước mong của giới mình với văn nghệ.
- đại hội thảo luận về kinh nghiệm sáng tác và biểu diễn. Phạm
Văn Đôn: về kết quả triển lãm hội hoạ VN tại Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên;
Đào Duy Kỳ: Khai thác vốn dân tộc; Nguyễn Công Hoan: kinh nghiệm viết tiểu thuyết;
Nguyên Hồng: ý thức nhà văn; Bàn Tài Đoàn: tôi học làm thơ như thế nào; Hồ Dzếnh:
một ý nghĩ về sáng tác; Y Dơn: tôi làm văn nghệ; Đội Tảo: Người diễn tuồng cổ;
hoạ sĩ Nguyễn Hiêm: đi vào quần chúng; Nông Quốc Chấn: thơ và đời sống; Thuý Ngần:
tâm sự diễn viên…
26/2/1957: ngày họp thứ sáu
- Thứ trưởng bộ văn hoá Đỗ Đức Dục nói về trách nhiệm văn nghệ
sĩ với việc nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân; Nguyễn Khánh Toàn (bộ giáo
dục) nói về mối quan hệ của ngành giáo dục và văn nghệ sĩ.
- Các tham luận: Nguyễn Xuân Khoát: những khuyết điểm trong
phê bình và tự phê bình; Lưu Công Nhân: chống lối phê bình thiếu nâng đỡ đối với
hoạ sĩ trẻ; Nguyễn Đình Phúc: sáng tác lâu dài; Phùng Quán: nhận biết “mùi”
trăm hoa là khó; Đỗ Nhuận bác lại ý Phùng Quán: “trăm hoa đua nở” không có
nghĩa người trồng hoa có thể không có chủ định gì cả…; Xuân Diệu: về bệnh sơ lược
trong văn nghệ; Lưu Trọng Lư: về con người mới; Bửu Tiến: tư tưởng tính trong
sáng tác; Nguyễn Thành Long: vấn đề phê bình; Lan Sơn: tâm trạng người văn nghệ
sĩ tiểu tư sản; Trần Thanh Mại: Đảng, sự thật và văn học.
27/2/1957: ngày họp thứ bảy
- Tham luận và thảo luận về các nhiệm vụ. Phan Thị Nga: văn
nghệ với phụ nữ; Phạm Hổ: văn nghệ với thiếu nhi; Trần Hoàn: lực lượng văn nghệ
trẻ; Thái Thị Liên và Bích Được: hoàn cảnh khó khăn của diễn viên…
- Buổi chiều, đại biểu các ngành nghệ thuật trẻ: điện ảnh,
nhiếp ảnh, múa rối, xiếc…đọc tham luận; Phan Thao: bàn về đâu tranh cho thống
nhất nươc nhà.
28/2/1957: ngày họp thứ tám
- điện mừng đại hội của nhà văn Pháp André Still và Pierre
Courtade
- Các tiểu ban báo cáo: Hoàng Như Tiếp báo cáo công việc của
tiểu ban điều lệ; Đặng Thai Mai: công việc của tiểu ban nghị quyết; Nguyễn Đình
Thi: nghị quyết của đại hội; Tú Mỡ (tiểu ban hiệu triệu): thư đại hội gửi các
nhà văn nghệ miền Nam, thư đại hội gửi nhà văn trong nước và ngoài nước, thư gửi
Trung ương Đảng LĐVN.
- Thông qua nghị quyết của đại hội. Nguyễn Tuân tuyên bố Hội
Văn nghệ VN hết nhiệm kỳ. Đại hội bầu cử (bằng bỏ phiếu kín) Ban Chấp hành chính
thức của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Chiều, công bố kết quả:
có 45 văn nghệ sĩ trúng cử. BCH ra mắt.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mừng thành công của đại hội và nói
chuyện với văn nghệ sĩ.
- Tố Hữu trong đoàn chủ tịch đại hội đọc diễn văn bế mạc.
Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
(do đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai bầu ra)
ngành văn: Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, (bà) Vân Đài, Bảo
Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách,
Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần
Hữu Thung
ngành mỹ thuật: Trần Văn Cẩn, (bà) Nguyễn Thị Kim, Trần
Văn Lắm, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận
ngành kiến trúc: Nguyễn Cao Luyện
ngành nhạc: Văn Cao, Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, (bà)
Thương Huyền, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước
ngành múa: Hoàng Châu
ngành sân khấu: Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), (bà) Ái
Liên, Thế Lữ, Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ), Nguyễn Thị Lan (bà Cả Tam), Nguyễn Nho
Tuý (bác Tảo), Sĩ Tiến
ngành múa rối: Huỳnh Văn Cát
ngành xiếc: Phạm Xuân Thư
ngành điện ảnh: Phạm Văn Khoa, Mai Lộc
ngành nhiếp ảnh: Nguyễn Văn Phú
văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số: Cầm Biêu, Nông Quốc Chấn,
Y Dơn
(ngoài ra còn 10 ghế dành cho anh chị em văn nghệ hiện ở miền Nam).
Phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn
học Nghệ thuật Việt Nam, ngày 1/3/1957 tại trụ sở Hội số 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội,
dưới sự chủ toạ của nguyên Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân, có mặt 39 uỷ
viên chấp hành, đã bầu:
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật VN: Đặng
Thai Mai
- 8 Phó chủ tịch: Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khoát,
Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cao Luyện, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh),
Thế Lữ
- Tổng thư ký: Nguyễn Đình Thi
- 3 phó tổng thư ký: Văn Cao, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn
Bổng
- 13 vị trên đây họp thành Ban Thường vụ của Hội.
(9) “người
phá kho bom Tân Sơn Nhất” ở đây ý nói nhân vật thiếu niên họ tên Lê Văn Tám,
theo báo chí từ 1946 và nhiều năm về sau, là người đã tẩm xăng vào mình xông
vào đốt kho bom ở địa điểm trên; do đây đã có một số truyện ký và kịch viết về
đề tài này, trong số đó có kịch “Lửa cháy lên rồi” của Phan Vũ, được
giải nhì về kịch trong giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ VN 1954-55. Sau này
đã xác minh đây không phải là sự kiện và con người có thực, nhưng điều này cũng
chưa hề được thông tin chính thức.
(10) Nội
dung điều III trong Điều lệ Hội Nhà văn 1957 nói trên là dẫn theo tường thuật của
Đào Vũ, Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đăng Tạp chí
Văn nghệ, số 1, tháng 6/1957, tr. 109-118.
(11) Về
các chi tiết liên quan đến Đại hội I Hội nhà văn VN và những người được coi là
“hội viên sáng lập”, tôi căn cứ vào tường thuật của báo Văn và Tạp
chí Văn nghệ đương thời, theo đó số người tham dự đại hội I là 278;
còn chuyện tư cách hội viên thì tại đại hội đã được bàn thảo và đi tới nhất
trí: chỉ 25 nhà văn được bầu vào ban chấp hành khoá I được coi là “hội viên
sáng lập” mà thôi. Sau đại hội, ban chấp hành đã tiến hành xét kết nạp hội viên
trong một thời gian dài; một tiểu ban được lập ra để giúp việc này; phiên họp
BCH từ 15 đến 18/8/1957 đã xét (bằng bỏ phiếu kín, lấy các trường hợp 50% +
1phiếu) được 127 người, sau đó xét kết nạp thêm 6 trường hợp là nhà văn các dân
tộc thiểu số, cộng với 25 nhà văn là uỷ viên chấp hành; như vậy có 158 hội viên
dự định được kết nạp. Phiên họp thứ 3 trong tháng 7/1957, Ban thường vụ xét kết
nạp thêm 14 tác giả kịch bản cải lương tuồng chèo, đưa tổng số hội viên được kết
nạp lần thứ nhất lên con số 172 người (“Văn” s. 22, ngày 4/10/1957, tr.
7). Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn
sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2
cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông
tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”.
Điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số
165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A 1 đến A 165 trong
cuốn sách trên, bản in 1992) có xuất xứ từ đâu?
“Nguyên Hồng phản ứng mạnh với cái khuynh hướng máy móc, giáo
điều nó quan niệm con người mới trong văn học nghệ thuật như một thứ người gỗ,
mà không hiểu nổi cái phức tạp phong phú của đời sống và tâm hồn con người, nó
cũng không hiểu văn học nghệ thuật và không nắm được cái thực tế đang chuyển biến
của sự sáng tác. Cái khuynh hướng cứng nhắc ấy, chúng ta đã phê phán nó khá nhiều
trong thời gian vừa qua, nhưng không phải đã hết. Nó duy trì những bệnh sơ lược,
khái niệm, những thái độ đơn giản và độc đoán trong vấn đề tư tưởng và nghệ thuật.
Cái khuynh hướng máy móc đơn giản ấy đã có biểu hiện trong bài của Thế Toàn, rõ
rệt nhất là trong những nhận xét của Thế Toàn về mấy bài như Phở, Gió,
Bích-xu-ra, v.v… Và cái thái độ gò ép, áp đảo ấy cũng thấy trong một bài của Hồng
Chương và Trịnh Xuân An tiếp theo bài của Thế Toàn trên tạp chí Học tập số
8. Tôi cho thái độ đó là không đúng”.(12)
Chỉ tìm hiểu qua những gì đăng báo còn lại đến hôm nay thì hẳn
là khó có thể biết hết những gì đã thực sự diễn ra trong đời sống thực của văn
nghệ một thời đã qua. Nhưng người đang viết những dòng này chưa có thêm phương
tiện gì khác hơn là tài liệu in công khai còn lại trên giấy báo. Dù sao cũng có
thể thấy những thị uy và uốn nắn đối với tuần báo Văn đã không gây được
hiệu quả cụ thể. Nói như Tế Hanh, trong số bài vở đăng trên tuần báo “Văn”,
“những bài Nguyễn Đình Thi cho tốt không phải ít hơn những bài xấu, kể cả trong
10 số đầu. Thế thì nên kết luận thế nào?”
Rất có thể vì vậy, tuần báo Văn cứ đi tiếp nhịp đi
của mình. Trong số những tác phẩm được đăng trên tờ này sẽ có thêm khá nhiều những
thảo luận về các vấn đề của thơ, thảo luận về việc nên hay không nên tái bản
các tác phẩm ra đời trước cách mạng, sẽ đăng thơ của Xuân Diệu, Quang Dũng, Hữu
Loan, Hoàng Trung Thông, Trần Dần, Lê Đạt…, văn của Nguyễn Huy Tưởng, Bùi Hiển,
Hồ Dzếnh, Thụy An, Nguyễn Dậu, Trần Dũng Tiến,…, tiểu luận phê bình của Nguyễn
Tuân, Trương Chính, Trần Thanh Mại, v.v… Trong số những tác phẩm
đăng lần đầu ở đây, sẽ được nhắc nhở sau này là các tác phẩm như thơ Hãy
đi mãi (Trần Dần, s. 28, ngày 15/11/1957), Lời mẹ dặn (Phùng
Quán, s. 21, ngày 27/9/1957), Bão (Tế Hanh, s. 32, ngày 13/12/1957),
văn: Đống máy (Minh Hoàng, s. 34, ngày 27/12/1957), Ông Năm Chuột (Phan
Khôi, s. 36, ngày 10/1/1958), là truyện dịch Phòng số 6 của Chékhov
đăng liền hơn 10 số đầu, là các tiểu luận Nguyễn Tuân viết về văn Thạch Lam, về Kim
tiền của Vi Huyền Đắc, v.v…
Tất nhiên không khó để trừng trị những nhà văn cứng đầu ở tuần
báo “Văn”; và trong việc này, tờ Học tập ra hàng tháng
không thể thuận lợi so với tờ Nhân dân ra hàng ngày. Từ cuối tháng
11/1957, hàng loạt bài vở các loại từ tờ nhật báo lớn nhất miền Bắc lúc ấy chĩa
mũi nhọn vào báo Văn. Ban đầu nhắm vào từng tác phẩm cụ thể, ví dụ
thơ Lời mẹ dặn (bài của Trúc Chi, Nhân dân, 24/11/1957), tranh
biếm họa “Phương pháp xây dựng văn nghệ” của Trần Duy (bài của Phượng
Kim, Nhân dân 8/12/1957), truyện ngắn “Đống máy” (bài của Đặng
Phò, Nhân dân 12/1/1957), gợi cho dư luận sự gắn nối “Văn” với “Nhân
văn” (Chiến Kỳ: Chặn ngay những quan điểm nghệ thuật của nhóm
“Nhân văn” đang định sống lại trên báo “Văn”, Quân đội nhân dân, 21/1 và
24/1/1958; Vũ Đức Phúc: Từ “Con người Trần Dần” đến “Đống máy”, Nhân
dân 2/2 và 3/2/1958). Lại còn mượn đến những tên tuổi nào đó, nói rằng đó
là của “anh em ở miền Nam” (Một bức thư của anh em từ Sài Gòn gửi cho
chúng ta: D. và T.: Chúng tôi không đồng ý với báo “Văn”/ Nhân dân 17/1
và 18/1/1958). Rồi tiến tới nhận định bao quát (bài của Như Phong: Góp ý
kiến với các đồng chí có trách nhiệm ở báo “Văn”/ Nhân dân, 9/2, 10/2, 11/2 và
12/2/1958). Sau nữa là đăng tự kiểm điểm của một số “yếu nhân” của báo “Văn” dưới
tiêu đề Các đồng chí ở báo “Văn” bắt đầu tự phê bình, lần lượt là
Nguyên Hồng (Nhân dân 2/3/1958), Tô Hoài (Nhân dân 12/3/1958), Tế
Hanh (Nhân dân 14/3/1958); lại nữa, không kiềm chế lời mạ lỵ nếu sự tự phê
bình của họ chưa được coi là thành khẩn (câu viết sau đây cho thấy sự hạ nhục
người bị phê bình:“trường hợp Nguyên Hồng, vì thái độ chưa thật thà thành khẩn
và cũng vì trình độ nhận thức quá thấp nên mức tiếp thu rất hời hợt” −
N.D., Để chuẩn bị một thời kỳ văn học nghệ thuật phát triển tươi tốt hơn nữa/
Nhân dân 9/3/1958).
Bên cạnh báo Nhân dân, tham gia phê bình báo “Văn” còn
có nhiều báo khác: báo Quân đội nhân dân với các bài của Hồng Cương,
Chiến Kỳ; báo Cứu quốc với các bài của Đông Hoài, Bùi Huy Phồn, Đặng
Vũ Khiêu, Tú Mỡ, Nguyễn Mạnh Hào, Nguyễn Kiến Giang, v.v…; báo Tổ quốc với
các bài của Ngô Linh Ngọc, Thiếu Khanh, Bảo Nguyên, Phi Trưởng, v.v…; báo Thống
nhất với các bài của Trịnh Xuân An, Hồng Chương, Vũ Đức Phúc, Lê Xuân Vũ,
v.v…
Trên thực tế, việc phê bình tuần báo “Văn” chuyển dần
hòa dần vào đợt đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm diễn ra liền sau
đó.
Ở tuần báo “Văn” số 37 (ngày 17/1/1958), tòa soạn
có lời “kính gửi các bạn yêu quý của báo Văn”, theo đó, “sau 8
tháng làm việc, báo Văn thấy cần phải kiểm điểm công tác trong thời
gian qua, rút kinh nghiệm cho công việc mới, chấn chỉnh mọi mặt,… vì lẽ đó, báo
sẽ nghỉ 2 kỳ ….” Trên thực tế, đấy chính là lời cáo chung của tờ tuần
báo này; lời hẹn của báo về tờ “Văn” số tết cũng không thành sự thực
vì BCH Hội nhà văn không cho phép thực hiện.(12b)
Ngày 6/1/1958, Bộ chính trị trung ương Đảng Lao động Việt Nam
ra nghị quyết Về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ, phát động một chiến dịch
đấu tranh tư tưởng “quét sạch tư tưởng “Nhân văn” là biểu hiện của tư tưởng thù
địch về mặt chính trị, đồng thời cũng là biểu hiện nghiêm trọng của quan điểm
văn nghệ tư sản”.(13) Những
đợt học tập tập trung dài ngày cho văn nghệ sĩ được tổ chức sau đó, − mà về sự
việc này người ta chỉ được biết qua một vài hàng tin vắn trên một số tờ báo, −
có thể đã là diễn trường chính của cuộc đấu tranh theo chủ trương nói trên; thật
ra, người ta chỉ có thể biết đến chúng thông qua phần nổi là những phê phán rầm
rộ trên báo chí miền Bắc từ khoảng giữa tháng 2/1958 đến tháng 6/1958.
Sự phê phán, rủa sả và đấu tố rầm rộ này là sự tiếp tục
những phê phán đã có từ vài năm trước, nhất là vào cuối năm 1956; song, suốt thời
kỳ đó dù sao vẫn nằm trong quy ước của sự phê bình “trong nội bộ nhân dân”, tức
là ít nhiều còn tôn trọng đối tượng bị phê phán, thậm chí ít nhiều chấp nhận có
ý kiến trao đổi qua lại. Nhưng đến lúc này, khi mà người ta đã tuyên bố gạt
phía bị phê phán sang hàng ngũ kẻ thù thì chỉ còn sự biểu dương lực lượng của một
phía: phía những người phê phán, với số lượng hết sức đông đảo. Trong hàng loạt
những ý kiến bày tỏ một phẫn nộ đại chúng này rất khó thẩm định sự thật của những
nội dung tố giác, dù nó hệ trọng đến đâu; sự kiện thấy được chỉ là sự tố giác.
Riêng ở giới văn nghệ, có thể hình dung cuộc phê phán này
trên Tạp chí Văn nghệ các số 10 (tháng 3/1958), 11 (tháng 4/1958), 12
(tháng 5/1958), 13 (tháng 6/1958), mở đầu bằng bài của Đặng Thai Mai: Căn
bản vẫn là vấn đề lập trường tư tưởng, và tạm kết bằng báo cáo của Tố Hữu đọc tại
cuộc họp tổng kết hôm 5/6/1958. Trên các bài đấu tranh ấy, những thành viên bị
coi là đầu sỏ của nhóm Nhân văn như Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi,
Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Trần Duy, Thụy
An, Trần Thiếu Bảo bị phê phán như đấu tố kẻ thù, những cây bút liên quan như
Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Tích Linh, Đặng Đình Hưng, Trần Lê Văn,
v. v… cũng không được đối xử tốt hơn.
Như đã biết, sau sự kiện này, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần
Thiếu Bảo,(13b) Phùng
Cung bị ngồi tù nhiều năm (có nguồn tin cho rằng những người bị tù này là thuộc
một vụ án khác, không gắn trực tiếp với các hoạt động Nhân văn, Giai phẩm, song
cho đến nay vẫn chưa có sự công khai hóa các tài liệu an ninh và tư pháp liên
quan nên chưa thể xác nhận điều này). Riêng trong Hội nhà văn: 3 người gồm
Trương Tửu, Thụy An, Phan Khôi “bị khai trừ hẳn ra khỏi hội”; 2 người gồm Trần
Dần, Lê Đạt bị khai trừ khỏi hội trong thời hạn 3 năm; Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi
Ban chấp hành; Hoàng Tích Linh bị cảnh cáo và được rút khỏi Ban chấp hành; Trần
Duy bị khai trừ (vĩnh viễn?) ra khỏi hội Mỹ thuật; Tử Phác, Đặng Đình Hưng bị
khai trừ 3 năm ra khỏi hội Nhạc sỹ sáng tác; các hội viên khác từng tham gia
các số Nhân văn và các tập Giai phẩm (các văn bản thường
không nêu tên) bị cảnh cáo.(14) Tuy
nhiên, những hình phạt mà ban đầu hoặc mang dạng án phạt của luật pháp, hoặc có
khi chỉ là kỷ luật trong nội bộ đoàn thể (khai trừ, treo bút,…) kết hợp với xử
lý hành chính (buộc cư trú xa thủ đô, bị theo dõi bí mật, buộc theo các nhóm
văn nghệ sĩ đi lao động thực tế xuống các địa phương …) trong thực tế đời sống
miền Bắc những năm về sau (1958-85) sẽ trở thành những trừng phạt vĩnh viễn về
mặt xã hội và công dân. Ấy là chưa nói đến không ít những người khác, vốn không
dính líu gì tới sự kiện này, về sau sẽ vô tình trở thành liên lụy, bị tù đày hoặc
phân biệt đối xử.(15)
Một vài diễn biến bề sâu của cuộc đấu tranh ấy, từ khoảng những
năm 1990 cũng đôi khi được hé lộ lẻ tẻ qua một vài hồi ức.
Sau đợt đấu tranh này, từ 25/5/1958, Hội Nhà văn Việt Nam xuất
bản báo Văn học với thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi (chức thư ký
tòa soạn Tạp chí Văn nghệ từ tháng 6/1958 chuyển sang cho Hoài
Thanh), tự coi là tờ báo hoàn toàn mới “với tinh thần mới và tên mới”; khẩu hiệu
“Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” được gắn lên manchette tờ báo của Hội Nhà văn
VN kể từ thời điểm ấy. Trong lời ra mắt của mình, báo Văn học tuyên bố
rằng tuần báo Văn trước đây đã “bị tư tưởng Nhân văn lũng
đoạn” nên đã xa rời đường lối văn nghệ của Đảng, rằng các trang báo Văn “đã
bị hoen ố vì những bài của nhóm Nhân văn” mà sự độc hại của
chúng còn cần tiếp tục diệt trừ! Nghĩa là tuần báo Văn không xứng
đáng để được kế tục!
Có lẽ, trong lịch sử các cơ quan báo chí của Hội Nhà văn Việt
Nam, nếu hầu hết các cơ quan đều được vinh danh, thì chỉ có riêng tuần
báo Văn là bị nguyền rủa ngay cả khi nó đã không còn tồn tại.
4b. Bước vào năm 1957, ngòi bút Xuân Diệu
hoạt động hăng hái hơn năm trước, với thiên hướng nghiêng hẳn về văn xuôi bút
ký, tiểu luận. Bài bút ký Mùa xuân thắng đăng dịp tết (Nhân dân 3/2/1957),
một bút ký chính luận, chất ký thua chất luận, in rõ nếp nghĩ của một người sống
ở một phe nhìn vào cái thế giới hai phe đối đầu nhau, một người sống ở nửa nước
chia cắt nhìn sang nửa nước bên kia theo tầm mắt chính thống của phía bên này,
giữa thời chiến tranh lạnh, có lẽ báo trước điều đó.
Xuân Diệu đã dự hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đọc
tham luận Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật (đăng Nhân dân,
21/4/1957), được bầu vào ban chấp hành đầu tiên, và như vậy Xuân Diệu là một
trong 25 hội viên sáng lập. Nhưng Xuân Diệu không tham gia ban biên tập tuần
báo Văn, cũng không tham gia ban phụ trách nhà xuất bản Hội nhà văn. Ông
có cộng tác gửi một số bài đăng tuần báo Văn, nhưng nơi ông cộng tác chặt
chẽ hơn lại là Tạp chí Văn nghệ của trung ương Hội LHVHNTVN mà Tổng
thư ký Hội LHVHNTVN Nguyễn Đình Thi kiêm chức Thư ký tòa soạn, bắt đầu hoạt động
chỉ sau tuần báo Văn khoảng nửa tháng.
Trong năm mới này ông vẫn có ít thơ đăng báo, trên tuần
báo Văn hầu như chỉ thấy 3 bài: Gió (s. 3), Chuyên
chính (s. 26), Hỏi (s. 32) trong đó Chuyên chính là
bài thơ nghị luận (… Mặc những kêu rêu lá rụng hoa tàn / Tôi thẳng thắn ngợi
ca nền chuyên chính!); trên Tạp chí Văn nghệ cũng thấy có các
bài Gửi sông Hiền Lương (s. 2, th. 7/1957), Đi với giòng
người (s. 9, th. 2/1958). Một bài như Lệ (Nhân dân, 3/11/1957)
có lời đề từ “Tặng Cách mạng tháng Tám và Cách mạng tháng Mười” cho
thấy rõ cái tứ chính luận của nó. Trên tờ Văn học mà Hội Nhà văn Việt Nam mới
lập ra từ 25/5/1958, Xuân Diệu đã kịp đăng thơ sáng tác (Bia Việt Nam, s.
12, ngày 15/9/58) hoặc thơ dịch (Người vô sản, dịch thơ Ch. Smirnenski, nhà thơ
Bulgary, s. 16, ngày 25/10/58). Nhưng chiếm số lượng nhiều nhất trong thời gian
này vẫn là các bài bút ký, tiểu luận.
Xin kể các bài chính.
− Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật (Nhân dân,
21/4/1957),
− Tuyển tập “Thơ Việt Nam” đối với phong trào thơ
(Tạp chí Văn nghệ, s. 1, th. 6/1957),
− Mùa đông 1919, mùa hè 1957 (Văn, s. 8, ngày
28/6/1957),
− Nguyễn Trãi, nhà thơ mở đầu nền văn học cổ điển Việt Nam (Tạp
chí Văn nghệ, s. 3, th. 8/1957; bài này đứng tên chung với Huy Cận),
− Cảm tình với Ấn Độ (bút ký, Nhân dân,
14/9/1957),
− Thế nào là cái mới (Tạp chí Văn nghệ, s. 4, th.
9/1957),
− Những bước đường tư tưởng của tôi (Tạp chí Văn nghệ,
s. 6, th. 11/1957),
− Nhà thi hào Pháp A-ra-gông sáu mươi tuổi (Tạp chí Văn
nghệ, s. 7, th. 12/1957),
− Cái mới của văn học chúng ta (Tạp chí Văn nghệ, s. 8,
th. 1/1958),
− Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ (Tạp chí
Văn nghệ, s. 10, th. 3/1958),
− Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê
Đạt (Tạp chí Văn nghệ, s. 13, th. 6/1958),
− Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao (Tạp chí Văn nghệ, s.
14, th. 7/1958),
−13 tuổi Tiếng nói Việt Nam (Tạp chí Văn nghệ, s.
17, th. 9/1958).
− Kỷ niệm nhà thơ thiên tài dân tộc Nguyễn Du (nói
chuyện tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 26/9/1958 trong lễ kỷ niệm 138 năm ngày mất
Nguyễn Du; đăng Tạp chí Văn nghệ, s. 18, tháng 11/1958)
Phần lớn các bài viết này đến giữa năm 1958 sẽ được in thành
cuốn Những bước đường tư tưởng của tôi (tiểu luận phê bình văn học của
Xuân Diệu, Nxb. Văn hóa, 159 tr. 13x19cm; in xong ngày 8/5/1958), nằm trong loại
sách thời sự, phục vụ cuộc đấu tranh tư tưởng thời gian ấy.
Hãy đọc lướt những điều được đề cập trong loạt bài này.
−Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật là tham luận tại hội
nghị thành lập Hội nhà văn.
“Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm
công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh
tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo
cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những
thơ văn nào chúng ta viết ra đều là máu là huyết của ta, đều là thiết tha,
thành thật, mà có thiết tha thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải những
tình cảm nào thiết tha thành thật đều nên đưa vào thơ văn.”
Vì sao vậy? Vì, theo Xuân Diệu, nhà văn không chỉ cần phải là
“kỹ sư tâm hồn” mà còn cần phải là “bác sĩ tâm hồn” nữa, cho nên không được để
những buồn rầu, tan rã trong hồn mình lây nhiễm sang người đọc.
“Nhà văn hiện nay nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn
đề ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng
giải quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì
chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm
tính của mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm
thường, như lập trường, như đảng tính, v.v…, thì càng tưởng rằng viết
theo sự thật lại càng sai lạc.”
Trong một bài rất ngắn, Xuân Diệu đã làm bật được một số ý niệm
vốn là chủ trương của cấp trên, lại kết hợp liên hệ phê bình được tư tưởng của
Nguyễn Tuân “nhà văn chỉ cần nêu vấn đề”, “nhà văn có thể là bác sĩ gọi ra bệnh
của bệnh nhân, không nhất thiết phải kê đơn bốc thuốc”, mỉa mai được “tiếng sáo
tiền kiếp” của Trần Duy, đả kích được Nhân câu chuyện mấy người tự tử của
Lê Đạt, chê trách được Một trò chơi nguy hiểm của Nguyễn Thành Long,
− những hiện tượng do những người khác phát giác và đã trở thành đối tượng phê
phán chung.
−Tuyển tập “Thơ Việt Nam” đối với phong trào thơ là
bài nhận xét tuyển tập “Thơ Việt Nam 1945-56”; cách làm của ban tuyển thơ này dựa
vào đơn vị tác giả, theo Xuân Diệu nhận định, là không hợp với sự phát triển
thơ ca thời kỳ 1945-1956; vì thế ông cho cuốn tuyển này không phản ánh được
phong trào thơ của quần chúng, theo ông, là nét nổi trội của thơ Việt Nam thời
kỳ 1945-56.
“Ban làm tuyển tập cố nhấn mạnh vào các tài tử đơn ca, trong
khi đơn ca chưa nổi bật, mà cái hay, cái đặc điểm của phong trào thì lại là một
cuộc hòa tấu phong phú hơn nhiều. Tuyển tập “Thơ Việt Nam” là một cái
gương chưa thật đúng và bẻ một nửa của phong trào thơ.”
Xuân Diệu dẫn khá nhiều thơ ca ngoài tuyển tập trên để cho thấy
là đừng nên vướng vì quan niệm ‘tác giả’ như ban tuyển này đã mắc, mà nên lấy
trọng tâm là phản ánh phong trào thơ; thậm chí ông đưa ra một ý tưởng
cực đoan về cách làm tuyển thơ:
“Đến việc sắp xếp các người thơ, tưởng không nên xếp theo
a,b,c, mời họ ngồi bàn tròn như thế. Làm như vậy cầu an, tắc trách. Mà phải cố
gắng xếp các bài thơ và tác giả theo khuynh hướng, theo thời kỳ, theo nội
dung….”
Sau cuốn tuyển mà Xuân Diệu điểm sách như trên, người ta biết,“Tuyển
tập thơ Việt Nam 1945-1960” (Hà Nội: Nxb. Văn học, 1960) mà Xuân
Diệu tham gia tuyển chọn và chính ông viết lời nói đầu, thì thơ trong tuyển ấy
vẫn sắp xếp theo thứ tự a,b,c tên tác giả. Như thế, những đề xuất Xuân Diệu nêu
ra ở bài này, in ra vào năm 1957, có lẽ chỉ là một ý thoáng qua nhằm thỏa mãn
cái tư tưởng thời thượng vốn đề cao các từ ngữ “quần chúng”, “công nông binh”,
cốt nói sao cho gây được ấn tượng, chứ không phải ý kiến có giá trị chỉ dẫn
thao tác làm sách tuyển thơ thực sự.
− Mùa đông 1919, mùa hè 1957 là bài dịch đồng thời
nói về việc dịch thơ Maiakovski; tựu trung là: bài Mùa đông 1919 của
nhà thơ Nga được Xuân Diệu dịch vào mùa hè 1957, thế thôi. Nhưng đây là chỗ để
Xuân Diệu phê phán Trần Dần, Lê Đạt. Ông lên lớp Trần Dần:
“Nếu Mai-a sống ở đất nước Việt Nam khi hòa bình vừa lập lại,
khi khu vực ba trăm ngày quân Pháp chưa rút hết, còn đóng sát nách tại Hải
Phòng, tôi quả quyết rằng, giả sử như Mai-a có trong hoàn cảnh chưa tìm được việc
cho vợ làm, cũng không bao giờ Mai-a nỡ như Trần Dần, hạ những câu:
Tôi
bước đi
không
thấy phố
không
thấy nhà
Chỉ
thấy mưa sa
trên
màu cờ đỏ …
Những câu thơ như vậy học tập Mai-a-kốp-ski ở chỗ nào?”
Và Xuân Diệu nhắc nhở cả Trần Dần, Lê Đạt lẫn số đông người
làm thơ:
“Vâng, không nên học tập Mai-a-kốp-ski một cách giáo điều! Mà
trước tiên, phải học cái hồn thơ, cái lòng yêu nước, cái lập trường cách mạng
không gì lay chuyển nổi của Mai-a-kốp-ski”
Ông nhắc lại lời K. Simonov:
“Truyền thống của Mai-a-kốp-ski không phải là ở chỗ bài
thơ Lê-nin hoặc bài thơ Được! [có lẽ định nói đến bài Tốt
lắm − LNA chú] viết bằng lối ‘leo thang’ hay không ‘leo thang’, mà là ở chỗ
Mai-a-kốp-ski đã viết bài thơ về Lê-nin, về Đảng và Tổ quốc!”
− Thế nào là cái mới thực chất là bài trao đổi
với quan niệm nghệ thuật của Văn Cao, từng được tác giả này bộc lộ trong
bài Một vài ý nghĩ về thơ (Tạp chí Văn nghệ, s. 3, th. 8/1957). Ý tưởng của
Văn Cao “chủ động thành lập nên sự thẩm mỹ mới”, theo sự phân tích vòng vo của
Xuân Diệu, chứa đựng cái “tự huyễn diệu của sự kiêu căng cá nhân”; tình cảm của
Văn Cao “Yêu những người biết thất bại mà dám mở đường”, được Xuân Diệu khuyên
nhủ là đừng mở đường liều, đừng “anh hùng chủ nghĩa rẻ tiền mà ta không dung thứ”!
Điều được Xuân Diệu cho in nghiêng để nhấn mạnh là câu khẳng định sẽ mau chóng
biến thành công thức như sau:
“Cái mới vô cùng, không văn nghệ cũ nào, không văn nghệ tư sản
nào bì nổi, của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa chúng ta, là đấu tranh cho
Đảng kiểu mới, chính quyền kiểu mới, con người kiểu mới, và lao động kiểu mới.”
− Những bước đường tư tưởng của tôi là một bản
tự kiểm thảo về nhân sinh quan và thẩm mỹ quan của tác giả Thơ thơ, Gửi
hương cho gió… Thật ra thì từ năm 1953 ở Việt Bắc kháng chiến, Xuân Diệu đã có
một lần dự chỉnh huấn và làm kiểm thảo (xem bài văn xuôi Dứt khoát và
bài thơ Trước đây bốn tháng của Xuân Diệu đăng tạp chí Văn nghệ số
41, tháng 7/1953, số về chỉnh huấn) nên, có thể nói, Xuân Diệu đã biết phép ứng
xử. Là người đã thành danh trong văn chương tiền chiến, Xuân Diệu có “thi pháp”
kiểm thảo riêng, tựu trung là nói cho thật đậm hai ý, một là “chúng tôi” đã ngụp
lặn quá sâu vào vũng bùn nghệ thuật tư sản, rất khó sửa chữa, trước ma lực của
hào quang cá nhân chủ nghĩa, chúng tôi rất dễ bỏ con đường sáng, “lại tìm những
chốn đoạn trường mà đi”; hai là ơn của Đảng đối với chúng tôi là ơn cứu mạng,
“càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông”, tình cảm chúng tôi với Đảng là “từ phen
đá biết tuổi vàng, tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ”! Nhưng cái phía
láu cá tự biện hộ của Xuân Diệu thì không qua được con mắt bạn văn đương thời;
chẳng hạn, đây là nhận xét ngay trong năm 1958 của Nguyễn Bao: “Thực ra cách mạng
đã cứu vớt cái tôi của Xuân Diệu khỏi chết chìm chứ không phải là cái tôi ấy đủ
sức mà bơi tới cách mạng. Qua sự trình bày ấy ta thấy Xuân Diệu chưa nhận rõ được
mọi cạnh khía tinh vi của cái tôi cũ và ở một điểm nào đấy còn bào chữa cho nó
nữa!” (16)
− Cái mới của văn học chúng ta thảo luận với
đồng nghiệp quanh câu hỏi: vì sao văn học cách mạng chưa có tác phẩm lớn? Theo
Xuân Diệu, lý do là “Các nhà văn thời đại của ta chưa chín, và vì thế, các tác
phẩm của ta chưa chín”. Lớp nhà văn cũ thì đang tiếp tục tự cải tạo mình để
thành nhà văn mới, tức là chưa chín; lớp nhà văn vào nghề cùng với cách mạng
thì còn đang cần học tập nhiều về nghề nghiệp, tức là tài năng chưa chín; còn lớp
nhà văn sẽ xuất hiện trong chế độ mới thì “họ lại thuộc những giai cấp từ xưa
chưa bao giờ được rèn luyện để viết văn”, đào tạo họ thành nhà văn sẽ tốn nhiều
thời gian hơn.
Một phần đáng kể của bài này, Xuân Diệu giành để thảo luận với
ý kiến Nguyễn Tuân trong lời nói đầu tập truyện dịch của Sê-khốp. Xuân Diệu
không chỉ nhắc lại cái quan niệm đã hơn một lần ông đem bàn với Nguyễn Tuân:
nhà văn cần phải như người bác sĩ, “gọi ra được bệnh và đề ra được cách chữa,
ít nhất là hướng chữa”, chứ không thể chỉ gọi ra bệnh mà thôi.
“Nhà văn ta có thể đặt vấn đề có tệ quan liêu, chứ không thể
đặt vấn đề chính quyền dân chủ nhân dân là một bộ máy quan liêu, có thể hỏi là:
Đảng làm thế nào lãnh đạo văn nghệ cho tốt?, chứ không thể hỏi là: Đảng có thể
lãnh đạo văn nghệ được không? Nghĩa là nhà văn có thể đặt những vấn đề ra để
cho nhân dân càng tăng cường cảnh giác, càng tự nghiêm khắc với những tệ lậu
còn lại, càng thấy làm cách mạng không phải là đi ngao du, v.v… chứ không phải
là buông thõng ra rất nhiều câu hỏi đặt rất sai để gieo rắc hoang mang vào quần
chúng!”
Với những nỗ lực như trên này, có thể thấy vào thời điểm này
nhà thơ đang góp phần đặt ra những quan niệm quy phạm nhằm thu hẹp quyền nhận
xét và suy nghĩ về đời sống thực tế đương thời của giới văn nghệ sĩ và trí thức
nói chung. Có lẽ, qua trường hợp Xuân Diệu, người ta lại thấy rõ, mỗi hạn chế,
mỗi trói buộc mà ba chục năm sau mới được thừa nhận, đã định hình theo cung
cách như thế nào, và lịch sử của sự đánh mất tự do cũng đồng thời là lịch sử của
sự tự nguyện từ bỏ từng phần tự do ra sao.
Xuân Diệu còn giành một phần nữa của bài này để thuyết phục
Nguyễn Tuân: không nên xem Sê-khốp như mẫu mực mà phải thấy Sê-khốp chỉ dừng lại
ở hiện thực phê bình, không hữu ích bằng Gorki với Người mẹ, tức là Gorki
đã đi tới hiện thực xã hội chủ nghĩa, đi xa hơn Sê-khốp! Cố nhiên, đây là điều
không chỉ để nói với Nguyễn Tuân mà chủ yếu là điều cần khẳng định như một định
đề lớn về nền nghệ thuật mới, lớn lao, đang được xây dựng.
− Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ là
bài báo được công bố khi các hiện tượng Nhân văn, Giai phẩm đã được
tuyên bố công nhiên trên công luận như là hoạt động chống Đảng chống chế độ,
khi những người tham gia các ấn phẩm đó đã bị tuyên bố là kẻ thù ở bên kia chiến
tuyến. Bài này của Xuân Diệu và các bài khác của ông như Những suy nghĩ
chung quanh vấn đề chỉnh huấn, Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua
thơ Lê Đạt, Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao, − đều thuộc phần đóng
góp của Xuân Diệu vào đợt tổng công kích Nhân văn – Giai phẩm, diễn ra
trên nhiều tờ báo ở miền Bắc trong quý II/1958.
Bằng vào loạt bài viết này của Xuân Diệu, có thể dự đoán rằng,
trong cuộc tổng công kích này, Xuân Diệu được phân công, − hay là
ông tự chọn lấy cũng vậy, − mấy mục tiêu chính: khu vực thơ như một chiến trận
tư tưởng, với các cứ điểm cần công kích là Lê Đạt, Văn Cao, bên cạnh đó là Nguyễn
Tuân với tùy bút Phở và với quan niệm bị coi là sai lầm nghiêm
trọng: coi viết văn giống như bác sĩ, chỉ cần gọi ra đúng bệnh, không cần kê
đơn bốc thuốc.
Phải sòng phẳng nhận rằng, Xuân Diệu đã tham dự cuộc tấn công
này một cách hết sức hăng hái. Ông không phải người phát hiện nhưng là người
phác họa lại rõ nét “một luồng thơ chống Đảng, chống chế độ”, là người đã đem tất
cả uy tín của một nhà “thơ mới” hàng đầu hồi những năm 1940 để kết tội những cây
bút vào giữa những năm 1950, theo ông nhận xét, đã “cố nặn ra một chất
thơ ác, đập vào giác quan bằng mọi cách, cố giật gân người đọc như Trần Dần,
huênh hoang như Lê Đạt, trá hình nhiều cách lập lờ giả trá như Hoàng Cầm”.
Xuân Diệu dành cho hai tác giả Lê Đạt và Văn Cao mỗi người một
bài viết riêng. Nếu bài về Lê Đạt thiên về chửi bới sỉ nhục, thì bài viết về
Văn Cao lại thiên về giọng điệu mỉa mai cay độc. Dưới ngòi bút Xuân Diệu, Lê Đạt
chỉ là một nhà thơ cao bồi:
“Một anh cán bộ văn hóa đã bộc lộ rằng khi anh đọc thơ Lê Đạt
cho một số thanh niên cao bồi ở Hà Nội thì họ mới nghe thoáng qua, chưa cần hiểu
rõ từng câu, họ đã thích ngay. Cái máu cá nhân anh hùng rẻ tiền càn quấy ngổ
ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là kẻ phát ngôn của họ”.
Nhưng trong mắt Xuân Diệu, Văn Cao lại như một “đại ca” nằm
vùng, “giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện
trinh thám”, “lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt”, “hiểm độc”, “một cái giọng cao
đạo, ra vẻ bác học, thông thái”, “giọng tiên tri”, v.v… Tất nhiên, điều chính yếu
mà Xuân Diệu phải vạch ra bằng được ở Văn Cao là “cái duy tâm chủ quan, cái cá
nhân chủ nghĩa bế tắc, cái tìm tòi lập dị, cái khinh thường quần chúng, một mớ
cặn bã tư tưởng cũ rích”! Xuân Diệu cảnh tỉnh Văn Cao mà như có ý đồng thời tự
căn dặn mình:
“Nhà văn trước tiên phải ôm lấy tư tưởng đúng, phải ôm lấy quần
chúng vạn năng, phải ôm lấy Đảng vĩ đại, chứ nếu chỉ ôm lấy một mớ chữ, theo lối
Văn Cao tán thưởng, thì chỉ là ôm lấy tro tàn thuốc lá hay cặn rượu mà thôi. Huống
chi mớ chữ đó lại còn phản động, thì nhất định tiêu ma sự nghiệp.”
Tất nhiên, con người Xuân Diệu vốn không ham đấu đá, đấu tố,
dù khi bị cuốn vào, khi được phân công viết phê phán những người và việc cụ thể,
ông không thể không thực hiện, hơn thế, ông còn phải tỏ rõ sự nhất trí với
chính thống cả về quan niệm lẫn thái độ, nên đã tỏ rõ nhiệt tình khi đang trong
cuộc. Nhưng khi đợt đấu tranh đã chấm dứt, khi Xuân Diệu được bắt tay vào viết
về thi hào dân tộc Nguyễn Du, ông đã không dấu nổi cái thở phào ngay ở phần đầu
bài viết. Công việc làm thơ và tìm lại các giá trị thơ cổ điển dân tộc của ông,
vài năm sau, sẽ thành tựu trong tập thơ Riêng chung, trong tập tiểu luận Ba
thi hào dân tộc, v.v…
4c. Điều cần thiết sau cùng của bài này, theo đề tài tôi
đã chọn, là cần kiểm điểm lại các xuất bản phẩm của Xuân Diệu trong những năm
1954-58.
Dưới đây là theo nguồn của Thư viện Quốc gia ở Hà Nội.
Các sách in riêng:
- Tiếng thơ, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ, in lần thứ hai, 1954,
112 tr. 19cm.
- Ngôi sao, tập thơ 1945-1954, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ,
1956, 97 tr. 19cm.
- Ký sự thăm nước Hung, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ, 1956, 67
tr. 19cm.
- Mẹ con, thơ ca phát động, Hà Nội: Nxb. Văn nghệ, 1957,
36 tr. 18cm.
- Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam, bút
ký, Hà Nội: Nxb. Xây dựng in lần thứ tư, 1957, 30 tr. 19cm. (in lần đầu: 1945)
- Triều lên, tập văn 1945-1957, Hà Nội, Nxb. Hội
Nhà Văn, 1957, 161 tr. 19cm.
- Những bước đường tư tưởng của tôi, tiểu luận phê bình
văn học, Hà Nội: Nxb. Văn hóa, 1958, 158 tr. 18cm.
Các sách in chung:
- Truyện bảy anh hùng / tập truyện anh hùng của
Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, v.v../ Hà Nội: Nxb Văn nghệ, in lần
thứ hai, 1954, 144 tr. 19cm.
- Chúng tôi thăm Liên Xô / tập thơ văn của Nguyễn
Tuân, Tú Mỡ, Xuân Diệu, v.v../ Hà Nội: Nxb. Văn nghệ, 1956, 47 tr. 26 cm.
- Nhìn sang bên kia, / tập thơ văn của Xuân Diệu,
Lương An, Vĩnh Mai…/, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 1957, 65 tr. 23 cm.
Nhìn vào danh mục trên, ta thấy rõ, trong những năm này, Xuân
Diệu vẫn đang là một tác gia văn học sung sức, tuy rằng sự đóng góp cho văn học
của ông không còn chủ yếu là ở lĩnh vực sáng tác thơ nữa./.
Tháng 8 – tháng 10/2008
(12) Bài
viết này khi đưa vào cuốn Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ
hiện nay (Hà Nội: Nxb. Văn hóa, 1957, tr. 55-94) Nguyễn Đình Thi đã xóa bỏ
những câu phê bình 2 ký giả tạp chí Học tập (trong đó có câu dẫn
trên), đồng thời xóa bỏ những đoạn đồng tình với các nhà văn khác của tuần
báo Văn khi họ bênh vực nội dung lành mạnh ở truyện ngắn Bích-xu-ra của
Thụy An, − một trong những tác phẩm đăng báo Văn bị ký giả Thế Toàn
nêu đích danh để phân tích chỉ trích trên tạp chí Học tập.
(12b) Ví
dụ ít ra có 2 lần, những nội dung của tuần báo Văn số Tết Mậu Tuất
1958 (tức số 38+39) được quảng cáo trên báo Quân đội nhân dân (số
416, ngày 24/1/1958, tr. 5, và số 419, ngày 4/2/1958, tr. 4); thế nhưng trên thực
tế thì số báo ấy đã không được xuất bản.
(13) Đảng
cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19: 1958. Hà Nội: Nxb.
Chính trị quốc gia, 2002, tr. 6-7.
(13b) Phiên
tòa liên quan đến vụ việc này được gọi là vụ án gián điệp, xử tại Tòa án nhân
dân Hà Nội ngày 19/01/1960, tuyên phạt 5 người: Nguyễn Hữu Đang: 15 năm tù giam
cộng thêm 5 năm mất quyền công dân; Lưu Thị Yến tức Thụy An: 15 năm tù giam cộng
thêm 5 năm mất quyền công dân; Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức: 10 năm tù giam cộng
5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm tù giam cộng thêm 3 năm mất quyền
công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm tù giam cộng 3 năm mất quyền công dân. (Xem tường
thuật của báo Nhân dân, 21/01/1960, tr. 1, 6; của báo Thời mới, 21/01/1960,
tr. 4; bài của Hồng Chương, tuần báo Văn học, số 80, ngày 5/2/1960,
tr. 11, 14). Như vậy, có lẽ Phùng Cung và một số người khác bị xử trong một vụ
khác chăng?
(14) Từ
nguồn báo chí đương thời, các thông tin xử phạt cụ thể này khá mờ nhạt, rất ít
rõ ràng, và hoàn toàn không đầy đủ. Điều đáng kể nữa là thường có sự mâu thuẫn
lẫn nhau giữa các nguồn tin. Chẳng hạn, sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (biên
soạn và in năm 1992 đã dẫn trên) không ghi tên Thụy An và Trương Tửu trong danh
sách hội viên, nhưng thông báo của Hội nghị BCH HNV khóa I ngày 2&3/7/1958
(đăng báo Văn học số 5, ngày 5/7/1958) lại cho biết Thụy An và Trương
Tửu bị khai trừ; – vậy điều hiển nhiên là 2 người ấy đã từng là hội
viên Hội nhà văn Việt Nam!
(15) Những
trường hợp loại này, xảy ra ở các địa phương khác nhau, là không ít; ví dụ sinh
viên Trần Niêm của khoa ngữ văn ĐHTH Hà Nội, nhà báo Tuân Nguyễn (1933-83; xem
cuốn Nhớ Tuân Nguyễn, Hà Nội, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008); hoặc một trường
hợp theo lời kể của nhà thơ Tế Hanh: người thợ đã may complet cho Phan Khôi và
Tế Hanh đi Trung Quốc dự lễ kỷ niệm Lỗ Tấn năm 1956, sau này nhân lúc tình cờ gặp
lại Tế Hanh đã cho biết ông ta bị đưa đi cải tạo gần 10 năm chỉ với lý do: đã từng
may quần áo cho Phan Khôi, một phần tử Nhân văn – Giai phẩm! Tế Hanh đã kể chuyện
này nhiều lần với nhiều người, trong số đó có tôi; và tôi được biết, có cả nhà
thơ Thanh Thảo (Hồ Thành Công).
(16) Nguyễn
Bao: Đọc sách: “Những bước đường tư tưởng của tôi” của Xuân Diệu, Nxb. Văn
hóa // Tổ quốc, Hà Nội, s. 106 (1/7/1958), tr. 23.
26/7/2010 Lại Nguyên Ân
26/7/2010
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét