Tùy bút Đà Lạt
và Lê Uyên Phương
Tôi như nhiều người rất yêu thích thành phố mù
sương Đà Lạt, cũng như yêu thích những dòng nhạc của Lê Uyên Phương (LUP), nhạc
của ông tạo cho tôi những kỷ niệm, dù là ở Sài Gòn hay Đà Lạt, tại sân trường
Luật khoa, trên đường Duy Tân ngày nào, hay bên ly cà phê nóng ngồi trong quán
Cà phê Tùng ở khu Hòa Bình của Đà Lạt, khi mà trời lạnh về khuya bên ngoài và
bên trong ấm áp với nhạc của LUP:
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/mot-ngay-vui-mua-dong-le-uyen-phuong.8Vnr2aNsvO.html
Đà lạt trong ký ức của tôi khi đưa tâm trí quay về những ngày
tháng xa xưa, với những buổi họp mặt bạn bè, ôm đàn guitare trên những bãi cỏ
xanh mướt của Đồi Cù, xa xa là cái tháp chuông nhà thờ với dáng hình con gà đặc
thù xuôi hướng Nam, và tháp bút của Lycée Yersin nhìn trên cao trời xanh ở
hướng Đông Đà Lạt, các bạn tôi ca hát nhạc bên ngoài thiên nhiên quang đãng,
hẵn phải có nhạc LUP.
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/loi-goi-chan-may-le-uyen-phuong.S62nhvkqNz.html
Còn nhớ chăng buổi picnic ở gần Suối Cam Ly, rồi ngoài Vườn Bích Câu? Rồi có
lần viếng foire église tại Domaine de Marie trên đồi Mai Anh, trên đường Ngô
Quyền, kỷ niệm nào tản bộ vào những buổi chiều tà bên Hồ Xuân Hương, hồ đưa ta
theo đến Đồi Cù và Séminaire Pontifical (Seminarium Pontificale hay Giáo hoàng
Chủng viện Piô X) kéo dài đến tận Ngã Năm Đại học, một con đường thật thơ mộng
của thị xã của Đà Lạt, từ đây quá bộ sang Khu Hòa Bình, nơi có ngôi chợ nhộn
nhịp và tấp nập của sức sống thương mại Đà Lạt, ghé qua nhà hàng Mekong hay
Shanghai, một buổi điểm tâm, ăn trưa hay ăn chiều, cái thú vui nhìn xuyên qua
màn kiếng trong vắt ngó những ông đi qua bà đi lại khi tán gẫu với partenaire
ngày nào. Lê gót bên nhau xơi chung những chiếc bánh éclair hay choux à la
cream khi bước ra từ cửa hiệu Thanh Nhàn, hay chia chung khúc bánh mì baguette
còn nóng hổi và thơm hương bánh mới của lò bánh Vĩnh Chấn ngày xưa.
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/tinh-khuc-cho-em-le-uyen-phuong.1v2O9cpLj8.html
Đà lạt trong ký ức như những ngày ngồi quán cà phê, thưởng ngoạn những tách cà
phê thơm lừng của vùng cao nguyên núi đồi Đà Lạt, cà phê Thủy Tạ hoặc Thanh
Thủy với hướng nhìn ra mặt hồ Xuân Hương im lìm phẳng lặng, ôi sao thật thơ
mộng! Cà phê Thủy Tạ mang vẻ ấm cúng thân mật loại "café réel" thú vị
nghe nhạc vào những buổi chiều đông khách, còn quán cà phê Thanh Thủy có nét
đẹp như loại thanh lịch "café occidentale" mới mẻ hơn. Đà Lạt có nhạc
LUP:
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/cho-lan-cuoi-le-uyen-phuong.ZPrdAHv3W4.html
Nhà chú tôi trên dốc cao của con đường Duy Tân. Đến xứ sương mù
khi ngắm nhìn mưa phùn rơi nhẹ vào buổi ban mai hay chút se lạnh của màn sương
chiều thả nhẹ xuống những khu phố Đà Lạt. Những con đường của phố xá Đà Lạt
nghe như thân quen với những Hoàng Diệu, Chi Lăng, Tăng Bạt Hổ, Duy Tân, Hai Bà
Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Pasteur, Phan Đình Phùng, và từ Khu Hòa Bình thả xuôi
dốc Trương Công Định xuống phố đi ăn hàng... Đà Lạt của những ngày vui.
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/hay-ngoi-xuong-day-le-uyen-phuong.LtkBsNO4Cb.html
Thời gian như ngái ngủ trong những ngày vui qua mau của dĩ vãng xa
xưa tưởng chừng đã quên, nhưng hôm nay nhân đọc bài viết của nhà văn Song Thao
viết về Lê Uyên Phương và Đà Lạt, khiến Đà Lạt vực dậy mãnh liệt từ trong trí
nhớ cũ.
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/bai-ca-hanh-ngo-le-uyen-phuong.FOaPIh6wYQ.html
Hình như những ngày xưa chưa thật đã xa xưa, tôi vẫn còn nhớ rõ, rõ lắm. Những
lữ khách đến thăm viếng Đà Lạt, nghe hát rồi ngợi ca về Đà Lạt. Đà Lạt
của LUP, và của nhiều người yêu nó. Vâng, phải nói như thế: Đà Lạt rất "dễ
yêu", như cái từ ngữ của cô xướng ngôn viên Ngọc Ân đã dùng. Khi quay lại
với kỷ niệm cũ, miên man rong ruổi tâm tư về những buổi chiều lãng đãng mù
sương trên vùng đất cao nguyên Lâm Viên, nơi đã tạo cho LUP những xúc cảm sáng
tác âm nhạc "dễ yêu" và đặc thù của ông. Và rằng hôm nay dường như
tôi đang bừng sống lại với cái hoài niệm về dòng nhạc LUP trong dư âm của những
giai điệu với nhiều xúc cảm và thật đáng nhớ, rất "dễ yêu" trong tâm
tư tôi. Đúng vậy.
http://ninh-hoa.com/VietHai-BanTinhCaMuaXuan.htm
(Viết tặng: Thanh Thanh, Thanh Lan, Ngọc Loan
SJ, Lê Minh Tâm, Ngọc Ân, Vanessa Hồng Vân, Thụy Trinh, Djane Ngọc Trang, Sophie
Hồng Mai, Ngọc Quỳnh, Christine Lan Anh, Lê Khánh Trang, Thúy Quỳnh, Vân Khanh,
Phương Oanh, Thùy Liêm, Hồng Ngọc, SND, Minh Boyle, Phương Lan, Cát Ngọc, Lan
Nhi, Quỳnh Giao, Ngọc Hà, Diana Diễm Hạnh, Ái Hoa, Thụy Vi Paris, Ngọc Mai,
Christina Lâm Dung, Lê Thúy Vinh, Ngọc Bích, Hà Trúc Mai, Lâm Mai Thy, Lan
Hương, Marie Mỹ Hạnh, Yvonne Vân Hà, Yến Sơn, Vũ Minh Phương, Quỳnh Châu, Lý
Văn Quý, Dương Viết Điền, Hồ Nôi, Phi Loan, Nguyệt Lê, UPMN, Đỗ Trọng Thái, Phạm
Gia Cổn, Lưu Anh Tuấn, Lê Chiếu, Tiểu Thu, Đường Sơn, Lý Tòng Tôn, Việt Loan,
Lê Hân, Phan Anh Dũng, Hạnh Cư, Ben Trương, và Cao Minh Hưng)
http://www.nhaccuatui.com/mv/mot-ngay-vui-mua-dong-le-uyen-phuong-1996-le-uyen-phuong.FGNqTozJr1.html
http://www.nhaccuatui.com/mv/lien-khuc-le-uyen-phuong-le-uyen-phuong.L7u9vVYJzB.html
Nhạc sĩ Lê Uyên PhươngĐoạn viết thêm, 36 năm
sau: Bài “Với Lê Uyên Phương
và Đà Lạt” dưới đây đã được đăng trên bán nguyệt san Thời Nay, số 266, phát
hành ngày 15 tháng 11 năm 1970 tại Sài gòn. Khi sinh thời, nhạc sĩ Lê Uyên
Phương đã nhiều lần nói với tôi là anh rất thích bài này và vẫn nhớ từng chi
tiết trong bài viết. Tôi nghe anh nói vậy mà hết sức thẹn thùng vì chính tôi
không còn nhớ một chút gì về nội dung bài do chính mình viết. Mới đây, ca sĩ Lê
Uyên đã điện thoại cho tôi hỏi xin bài này để dùng trong một cuốn hồi ký. Tôi
đã cố công tìm kiếm bằng cách nhờ nhiều người tại Việt Nam cũng như tại hải
ngoại. Và tôi hết sức vui mừng khi Bác Sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc, tức nhà văn
Ngọc, hiện sống tại New York, một độc giả nhiệt thành của Thời Nay, sau rất
nhiều công phu vất vả, đã tìm ra được bài này và gửi nguyên bản cho tôi. Nhân
dịp phổ biến bài báo xưa này tại hải ngoại, tôi xin cám ơn nhà văn Ngọc về
thịnh tình của cô.
Căn gác xép rộng nhưng
thấp. Muốn đi phải cúi đầu xuống. Bên ngoài, những bông hoa trạng nguyên màu đỏ
đung đưa lả lơi. Sàn gỗ bóng loáng. Vách và trần được sơn đều màu tím hồng. Một
chiếc màn voan trắng mỏng treo giữa hai cây cột. Chiếc nệm đặt ngay trên sàn.
Tủ sách gồm những cuốn tiếng Anh, Pháp và Việt. Bàn viết nhỏ bừa bộn những
dòng nhạc viết dở dang. Đó là nơi Lê Uyên Phương trở về sau những tháng ngày
mệt mỏi ở Sài Gòn. Anh như một con thú trốn chạy ánh đèn màu. Không bao
giờ quen được không khí phòng trà mặc dù trước đây đã từng chơi nhạc cho các
hộp đêm. Đà lạt đối với anh như một chốn nghỉ ngơi. Đúng hơn như một
thánh địa. Cái xứ sở có một khí hậu kỳ quái mang mang làm khắng khít tình yêu
và làm xót xa những tâm hồn đơn lẻ. Trời cuối tháng mười lành lạnh. Phi cảng Liên
Khương âm u trong bóng chiều tà. Lê Uyên Phương, với cây đàn trong tay, như
muốn ôm lấy Đà Lạt sau vài tháng cách xa. Anh ngửa mặt suýt soa. Dễ
chịu quá! Đang hát mỗi đêm tại Queen Bee và Ritz, mỗi nơi bốn ngàn
đồng một đêm trình diễn, anh đã bỏ hết để trở lại Đà Lạt thần bí. Sống
ở Sài Gòn tôi chịu không được. Không viết được một dòng nhạc nào cả. Tôi gần
điên lên. Kiếm được chút tiền về sống vài tháng đã.
Chuyến này anh về Đà Lạt
một mình để hoàn tất tập nhạc Thở Hơi Dã Thú. Người nữ của anh
ở lại Sài Gòn. Một giờ trước đây hai vợ chồng đã bịn rịn chia tay nhau như
không muốn rời tại cửa ra phi đạo Tân Sơn Nhất. Tình yêu của họ chất ngất ngút
ngàn. Họ chia nhau cả cái tên. Lê Uyên Phương là biệt hiệu của Lê Văn Lộc. Nay
anh chia bớt cho người yêu một nửa. Nàng nhận hai chữ đầu Lê Uyên. Chàng dùng
chữ cuối Phương. Tôi hỏi đùa anh cho mượn hay cho đứt. Cho đứt chứ!
Cuộc đời mình còn cho nữa là cái tên. Lê Uyên tên trong khai sanh là
Lâm Phi Anh. Thời hát ở Đà Lạt lấy tên Cẩm Thúy. Chuyện tình của họ cũng dài và
rắc rối không kém gì câu chuyện của những cái tên.
Trước hai ly trà nóng,
người thanh niên có mái tóc chải ép sát xuống trán, chiếc miệng rộng hơi nhô
ra, hàng râu mép lưa thưa, ngồi kể lại chuyện đời mình. Sinh trưởng tại Đà Lạt,
năm nay anh đã 29 tuổi. Năm 20 tuổi anh bắt đầu đặt nhạc. Những ngày lưu lạc từ
Pleiku, Ban Mê Thuộc, Quy Nhơn tới Nha Trang, anh đã sống một đời cực nhọc
thiếu thốn. Dạy học, làm dinh điền, đi hát để kiếm sống. Năm 1965 anh mới thực
sự trờ lại sống luôn ở Đà Lạt. Một năm sau, chuyện tình của họ bắt đầu. Phương
có trí nhớ thật ngắn ngủi. Tôi không nhớ được lời nhạc do chính mình
sáng tác nhưng bà xã thì thuộc lời lắm. Khi hát anh phải hát theo vợ.
Và đến câu chuyện tình của chính mình cũng chỉ nhớ loáng thoáng. Anh với tôi phải
tìm những cái mốc thời gian một hồi mới xác định được là họ đã chính thức thành
hôn vào tháng 11 năm 1968. Bậy quá hà! Sao mình không nhớ được gì
hết! Anh vỗ trán than trách. Hồi đó Phi Anh từ Sài Gòn lên Đà Lạt học.
Ở nội trú tại trường Virgo Maria. Nàng có người bà con ở gần nhà anh. Anh chỉ
chỉ tay nói. Ở bên đây này. Căn phòng của anh ở đường Võ Tánh
và tay anh chỉ về phía hồ Xuân Hương. Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn
lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn”
của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít.
Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi !
Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít. Một
chiều xuân đê mê gối chăn còn ấm da nồng. Tình dài đâu anh ơi đứt dây hững hờ.
Một lần vui cho nhau để sầu muôn kiếp gối đầu trên bờ vực sâu đớn đau (Ngồi
Lại Trên Đồi).
Chuyện tình của họ đòi
đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Hồi
Việt Cộng tấn công đợt hai vào tháng 5 năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ
không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài
Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của
hãng Hàng Không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu
bánh mì nhỏ trong bụng. Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được
kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là
thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi
người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai
bài trong tập Khi Loài Thú Xa Nhau được viết trong thời kỳ
này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và
thật huyền diệu như mười bài trong tập Yêu Nhau Khi Còn Thơ được
sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên.
Tiếng Lê Uyên và Phương
từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra. Giờ này
còn gần nhau. Gần thắm thiết trong mối sầu. Gần bối rối biên giới từ lòng đau.
Giờ này còn cầm tay. Cầm chắc mối duyên bẽ bàng. Cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng.
Cầm giá buốt thương đau. Ngày mai ta không còn thấy nhau… Lệ ngập ngừng bờ mi.
Giọt nước mắt lăn nỗi buồn. Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông. Giờ này còn
nhìn nhau. Nhìn đắm đuối như suối bền. Nhìn suốt kiếp như chết mòn. Nhìn hấp
hối thương đau. Ngày mai ta không còn thấy nhau (Cho Lần Cuối). Anh
khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh
đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa.
Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Tôi đã định hỏi về những chuyện này
từ lâu nhưng thật khó bắt đầu. Lợi dụng cơ hội này tôi hỏi kỹ càng. Anh đưa bàn
tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua
nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. Bác sĩ
cũng chưa thể định là bệnh gì. Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một
vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi
chưa muốn cắt. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không
phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách
của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ
hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc
sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và đã nghĩ nhiều về cái
chết. Dân Đà Lạt vẫn chưa quên vụ án mạng vì tình ở quán Tình Nhớ. Người con
gái duyên dáng đã nằm xuống với những viên đạn trên người. Phương đã nhìn thấy
đám tang, nghĩ về cái chết. Cuộc đời đó qua như ngày đông. Phòng lạnh
giá môi xô nụ hôn. Người nằm đó xin cho được yên. Còn tìm đâu áo mát thanh xuân
ấp hơi nồng trên da thịt đầy. Còn tìm đâu gối thắm đê mê, còn gì đâu. Tình tình
ơi đã chết trong mơ, sống bên ngoài như qua mộng hờ. Đành vùi sâu số kiếp không
đâu, còn lại đây khối trơ tình sầu (Đưa Người Tuyệt Vọng). Người con
gái khiến anh sáng tác bản Tình Khúc Cho Em chỉ là mối tình mê
đắm của cô nàng với bạn anh mà anh chỉ tham dự như một vai trò bất đắc
dĩ. Cho em môi hôn vội vàng. Cho em quen ân tình sâu. Dù em không mong
dài lâu. Xin cất lấy ước mơ đầu. Xin cho yêu em nồng nàn dù tháng năm buồn vui
bàng hoàng. Vì đâu mê say phồn hoa, như áo gấm sáng lóng lánh, ôm rách nát
không tâm linh, ôm tiếng hát không hơi rung nghèo nàn. Còn yêu chi hoa ngày
xanh héo hon vì mong manh bỏ quên lại người sau ngỡ ngàng. Thương em khi yêu
lần đầu. thương em lo ân tình sau, dù gương xưa không được lau, soi lấy bóng
mối duyên sầu. Cho tôi yêu em nồng nàn dù biết yêu tình yêu muộn màng (Tình
Khúc Cho Em).
Bệnh tật đối với anh
phải là một nỗi ám ảnh không rời nhưng chính cái ngón tay tội nghiệp đó đã cản
trở nhiều cho nghề nghiệp của anh. Năm 11 tuổi anh đã học vĩ cầm với Giáo sư
Francois Régor, người Ý, lúc đó đã 80 tuổi. Anh chơi vĩ cầm rất khá nhưng nay
đã phải bỏ hoàn toàn. Tôi nhìn hộp vĩ cầm đóng bụi nằm trên giá sách. Anh ngồi
cúi mặt trầm ngâm. Tôi phá vỡ sự im lặng nặng nề bằng cách hỏi về số lợi tức
kiếm được khi cho thâu cuộn băng 12 Tình Khúc Lê Uyên Phương. Tôi được
chia 50% tiền lời. Tới bây giờ đã thu được 100 ngàn đồng. Tôi với tay
lấy cuốn sách hình trẻ con nhỏ xíu và ngạc nhiên khi thấy nhiều cuốn sách loại
này trên chiếc giá bằng sắt xinh xắn. Tôi có một cháu bé hai tuổi nhưng
sách hình này để cho bà xã coi. Bà ấy thích coi hình lắm. Người nữ ca
sĩ 20 tuổi nhưng có khuôn mặt từng trải lại mang một tâm hồn hết sức trẻ thơ.
Nghe cái giọng khàn khàn khắc khoải của Lê Uyên không ai nghĩ tới cái sở thích
vô tội như vậy. Bà xã mình hát nhạc của mình hợp ghê hả? Kỳ vậy
chứ! Nhạc của anh đến trong đầu anh thật bất ngờ. Anh cố gắng tả cho
tôi thấy là có những lúc tự nhiên anh nghe thấy rõ ràng cả một câu nhạc trong
đầu. Như lần anh đi hội chợ Domaine de Marie. Mỗi năm hội chợ này được tổ chức
trên một ngọn đồi đẹp dễ sợ. Khi anh đang đứng trong hội chợ vào một đêm mùa
đông thì anh nghe được điệu nhạc và vội chạy về ghi lại. Tới hai giờ sáng,
nghĩa là 5 tiếng đồng hồ sau, anh hoàn thành bản Đêm Chợ Phiên Mùa
Đông. Tập nhạc Thở Hơi
Dã Thú mà anh định hoàn tất trong chuyến trở về Đà Lạt lần này sẽ bắt
đầu bằng bài Vũng Lầy Của Chúng ta. Đây là bản nhạc anh đã
thai nghén trong nhiều năm trời. Anh nghĩ về trách nhiệm khi đón nhận hôn nhân.
Anh tự hứa là phải viết nhưng nhiều năm trôi qua bản nhạc mới được ghi những
dòng cuối cùng. Theo em xuống phố trưa nay, đang còn ngất ngất cơn say.
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau. Cho nhau hết cả mê say.
Cho nhau hết cả chua cay. Cho nhau chắt hết thơ ngây, trên cánh môi say, trên
những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn tình buồn… Qua đi qua đi dứt cơn
mê, tình buồn chồng chất lê thê. Qua đi qua đi dứt cơn say, tình này tình rồi
thay. Ta sống trong vũng lầy một ngày vùi dần còn vùi sâu, còn vùi sâu trong
ngao ngán không dứt hết cơn ê chề. Ta sống trong vũng lầy, một ngày vùi dần,
còn vùi sâu, còn vùi sâu trong ngao ngán không dứt hết một lần đau.Đà Lạt hoang sơ quyến rũ
đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà
Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ
sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ.
Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng. Anh
sẽ trở lại Sài Gòn khi Thở Hơi Dã Thú hoàn tất.
Trời cuối tháng mười
lành lạnh. Tôi nhìn màu xanh Đà Lạt trong cơn mê ngủ quái dị. Em yêu
dấu, anh một mình trở lại thành phố kỷ niệm này để lang thang trên những lối
mòn đồi núi bị chặn lại bằng từng gốc cây ân tình. Anh như chênh vênh trong
niềm hạnh phúc vẫn còn lãng đãng rơi rắc lại trên những ngọn cỏ non nớt. Trời
Đà Lạt lạnh tê tái.
6/2006 Việt Hải
6/2006












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét