Ân tình xứ Nghệ
Những giấc mơ quê
Trong cái rét ngọt cuối năm, chúng tôi ngồi quây quần bên nồi
bánh chưng sùng sục trên bếp củi giữa sân. “Nhân vật chính” của buổi họp mặt
này là một Thứ trưởng, anh đã nghỉ hưu nhưng vẫn giữ được bên mình bao nhiêu bạn
bè tri âm, tri kỷ qua tháng năm dời đổi. Anh là một “quan chức” độc đáo mà tôi
biết, nhưng ở bài viết này, xin không dài dòng thêm về nét độc đáo của anh, mà
tôi muốn bắt đầu từ câu chuyện anh kể, câu chuyện của cậu bé con nhà nghèo đã
mang theo cả tuổi thơ khốn khó của mình để lớn lên, để biết ơn mẹ, ơn quê, để mỗi
cái Tết về lại có một nhịp dừng hoài nhớ…Nghệ An non xanh nước biếc, đậm tình ngườiĐể rồi trước mắt chúng tôi hôm nay, người đàn ông chững chạc
hơn 60 mùa xuân qua vẫn chỉ là cậu bé năm nào. Cậu bé mò mẫm những bước chân
không dép đến trường trên con đường gập ghềnh mùa đông. Cậu bé lén đi giặt thuê
cho những người đàn bà kỳ sinh nở, chợt sững người khi gặp ánh trăng như rắc bạc
trên sóng nước dòng sông mà chỉ một quãng thôi nó sẽ hòa ra với biển cả, để
chưa bao giờ thấy cái công việc của mình là “dơ bẩn” như người ta vẫn nghĩ. Cậu
bé thương người đàn bà quê “nghèo đến tận cùng của cái nghèo, đến nỗi cái váy đụp
của bà được tạo thành từ hàng trăm mảnh vá chằng chịt, và cũng chỉ có duy nhất
một chiếc váy đó để mặc” để rồi khi đã thành danh, mỗi tết về quê anh đều ghé
thăm người đàn bà ấy để gửi cho bà một món quà. Cậu bé ấy, cũng vì nhớ thương mẹ,
mà khi đi xa, bắt gặp bất cứ bóng dáng tảo tần nào cũng nghĩ, ấy là mẹ mình…“Quê, nghèo là thế, nhưng cũng là nơi đã cho anh tất cả”- anh
nói như vậy về xứ Nghệ của anh, về vùng cửa sông của anh. Đúng, “nếu không lớn
lên cùng những tận cùng khốn khó ấy, sao anh biết trắc ẩn, sao anh biết yêu
thương, sao anh biết rộng lượng, sao biết mình đã cố gắng và đã vượt qua được
những gì?” - anh khẽ khàng nói với tôi, mà như tự nhủ với chính mình.Nhạc sĩ Nguyễn Tài TuệCâu chuyện với anh khiến tôi nhớ lại lần gặp gỡ với nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ chừng mươi năm về trước trong căn gác nhỏ ở Hà Nội của ông. Bữa
đó, cũng một ngày cuối năm, cái thời khắc ấy như khiến ông dễ xúc động hơn thì
phải, nên ông đã kể với tôi những điều mà ông bảo là “những điều gan ruột”. Ông
nói rằng, đã xa quê gần một đời (ông rời quê từ năm 18, 19 tuổi), nhưng có một
giấc mơ luôn thường trực trong ông, cũng là “giấc mơ đẹp nhất đời người”, ấy
chính là “mơ quê”. Là nhạc sĩ của bao nhiêu ca khúc nổi tiếng, nhưng Nguyễn Tài
Tuệ lại dành cho ca khúc “Mơ quê” của ông một tình yêu đặc biệt. Ông nói rằng, ở
đó, ông gần như đã bày tỏ được những riêng tư nhất, sâu kín nhất của mình - một
người con tha hương lưu lạc. Bao lần, người trai ấy “hỏi mây, mây bay xa tắp”
mà chẳng hay có bay về phía quê nhà.Quê nhà của ông trong “Mơ quê” là quê của sông Lam, chợ Rạng,
của “ước hẹn còn lưa”. Ông đã đưa được cả tiếng địa phương Thanh Chương quê
mình vào âm nhạc như vậy. Quê nhà ấy còn vẳng đến ông tiếng trống trường ven đồi,
tiếng sáo diều trên đê, tiếng gà gáy tan dần trong màn sương sớm, cái mênh mang
của trăng nước sông Lam. Ông kể về lần ông đi đò trên sông Lam trong đêm trăng,
ông đã rơi nước mắt trong cái khoang chật chội, rồi ngủ chìm trong tiếng hát
ví, hát giặm trên những con đò ngược xuôi, đi như trôi, như bay. Trời ơi, mặt
sông Lam chính là sân khấu lộng lẫy nhất, và những dân quê mộc mạc, áo nâu nhuộm
bùn đất đang chèo đò với nỗi hân hoan và tâm hồn rộng mở, phóng khoáng kia,
chính là những nghệ sĩ tài năng nhất… “Những điều ấy đã nuôi tôi lớn lên, và
mãi mãi, nó ở trong âm nhạc của tôi”.
Buổi gặp ấy, nhạc sĩ đã chép tay bài hát “Mơ quê” để gửi tặng
cho bố tôi - một bệnh nhân mang trọng bệnh, yêu vô cùng âm nhạc của ông và đặc
biệt yêu bài hát “Mơ quê”. Cho đến giờ, tôi vẫn giữ bản chép tay bài hát với những
nét chữ rất cẩn thận, nắn nót và gửi gắm nhiều tình cảm của ông…Câu chuyện của vị Thứ trưởng bên bếp ấm cuối năm, câu chuyện
với nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ trong căn gác 2 của ông chìm khuất giữa vô vàn bụi bặm,
náo nhiệt Hà Thành… cũng là để tôi giải thích về những sâu nặng của mảnh đất mà
tôi chọn gắn bó, dù rằng tôi vẫn biết, ai cũng có một miền quê trong mình, một
nơi để gửi gắm và nương tựa, một nơi để người ta nói 2 chữ “trở về” khi vấp
ngã, khi thất thế, khi nằm xuống. Nhưng xứ Nghệ, cái dải đất nắng gió bão bùng
của khúc ruột miền Trung này, có điều gì đó từ thẳm sâu cay gừng mặn muối
để nhà thơ Huy Cận đã khái quát rằng: “Tình xứ Nghệ không mau/ Nhưng bén rồi
sâu lắng/ Quen xứ Nghệ quen lâu/ Càng tình sâu nghĩa nặng”.
Những người xứ Nghệ mà tôi gặp kể trên đã cho tôi thấy rằng,
giữa tận cùng những tháng ngày khốn khó, giữa muôn trùng vất vả gian nan đời
thường, nhưng họ vẫn nhận thấy, vẫn tận hưởng cái đẹp đẽ, tinh túy nhất của
trời đất quê hương. Họ luôn dành cho mảnh đất này niềm biết ơn, và quê với họ
là tiếng gọi thiêng liêng nhất.
Một chốn để “nương về”
Tôi là người xứ Bắc với những cơ duyên may mắn mà nương về xứ
Nghệ. Bắt đầu từ tình yêu một người để rồi yêu thương cả một vùng đất, để có
đôi lúc vẫn buông lời rằng “xứ Nghệ quê tôi, xứ Nghệ của tôi”. Tôi “chạm mặt xứ
Nghệ” trong một sớm tinh mơ của ngày cuối năm. Đón tôi hôm đó trên ga Vinh là
màn mưa bụi và nhưng bóng đèn vàng tỏa sáng cần mẫn. Trong một ô cửa nào đó tôi
qua, đã vẳng đưa một câu hát ví: “Muối ba năm muối đang còn mặn/ Gừng chín
tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta tình nặng nghĩa dày/ Dù có xa nhau
chăng nữa, ba vạn sáu ngàn ngày cũng nỏ xa”. Có thể bởi tình yêu nồng
nàn của tuổi trẻ, có thể bởi tôi mến đất, mến người, nhưng có một linh cảm khó
có thể lý giải khi tôi đã tin câu ví ấy, để nương về xứ Nghệ. Tin câu ví đã trả
lời cho tôi về những đằm sâu, thủy chung, mạnh mẽ, can trường ở người tôi yêu
và những người xứ Nghệ tôi gặp. Và, nhờ thế, những “cát bỏng, gió Lào”, những
“đất cằn đá sỏi”, những “xa ngái dặm trường”…, đối với tôi bỗng thành niềm
thương chứ không còn là cách trở.Hát dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh trên sông Lam.Tự bao giờ, tôi âm thầm kiêu hãnh mình đã là một phần của quê
Nghệ. Chẳng phải ư, tôi uống nước dòng Lam, ăn miếng cơm trắng từ hạt gạo nảy mầm
trên đất bỏng? Chẳng phải ư, mọi buồn vui của riêng mình, tôi đều tìm thấy ở
trong câu ví, giặm. Những tâm tình sâu kín, những than thở ngậm ngùi, những mối
tình dang dở, những ước hẹn lứa đôi… Bấy nhiêu yêu thương, bấy nhiêu đau khổ,
bấy nhiêu mệt nhọc âu lo, bấy nhiêu chạnh lòng… đều được cất lên bằng lời hát,
lời ngâm, nhiều khi nhẹ như một làn gió thoảng thôi, nhưng day dứt, ám ảnh lòng
người. Những câu hát khiến tôi thấy sông Lam dài rộng hơn nhưng cũng gần gũi
hơn với lòng mình, thấy xứ Nghệ ân tình như chính nhịp đập trong trái tim tôi,
thấy mỗi nhịp đò, cơn gió, rặng cây, mỗi giọng nói đều nên thơ, như sẵn sàng cất
lên giai điệu. Và kể cả khi thấy mình nông nổi, sai lầm, tôi vẫn nhìn thấy ánh
nhìn bao dung trong lời hát, rằng giận thì giận mà thương lại nhiều hơn…
Tôi đã tới “rú Bờng, rú Bể”, tới “đất cày bừa”, tới “nơi bông
vải hát hò thâu canh”, để như thấy đất thật ấm, sóng thật êm dưới chân mình. Chẳng
phải rằng, tôi đã bước chân trên những hạt cát rộn rã bước chân người xưa tìm về
phường vải Trường Lưu, phường vải Kim Liên. Chẳng phải ư, tôi vẫn đang hưởng
ánh trăng đêm mùa trồng bông, dệt vải. Chẳng phải con sông Lam, dẫu sóng có chảy
trôi vẫn đã ấm những nhịp chèo?.Nghệ sĩ nhân dân Hồng Lựu đã từng kể với tôi kỷ niệm của đời
chị nhưng cũng khiến tôi mãi nhớ. Rằng chị đã không biết đến cái sâu nặng “máu
thịt” của ví giặm quê hương, cho đến một ngày kia, khi chị đến biểu diễn ở
Thành phố Hồ Chí Minh. Khi cất lên giai điệu quê hương, cả ngàn người đã im lặng.
Chị cảm thấy tiếng khóc lan dần. Kết thúc buổi diễn, tất cả đã ào lên sân khấu
ôm lấy diễn viên của Đoàn trong nước mắt. Cho đến khi, đoàn Dân ca Nghệ An lên
xe để ra về, một bác già còn níu lấy bàn tay Hồng Lựu: “Hồng Lựu ơi, cho bác về
quê với. Nghe con hát, bác muốn về quê lắm con ơi!”. Hồng Lựu nói rằng, chính
nhân dân đã cho chị tiếng hát, cũng chính họ đã cho chị hiểu “dân ca là máu thịt”.
Tự bao giờ, tôi cũng đã là một phần máu thịt của nơi này? Của
sông Lam, sông La chảy chậm “bao thuở vui sầu”, của cam xã Đoài “càng chín lại
càng tươi”, của chè xanh “càng chát lại càng thơm”, của thứ cà “càng mặn lại càng
giòn”? Để mỗi lần xa, nghe câu ví giặm là muốn níu quay về, bắt đầu từ cái buổi
mưa giăng năm ấy?.Một góc trung tâm huyện Nghĩa ĐànCũng là ngày cuối năm xưa ấy, lần đầu tiên tôi về Nghĩa Đàn
(Nghĩa Đàn ngày ấy bao gồm cả Thái Hòa và Nghĩa Đàn bây giờ), đặt chân lên những
con đường hun hút bụi đỏ, ngất ngây với mùi hương hoa cà phê, đi dưới những
tán cao su xạc xào lá đổ dưới mỗi vết xe qua, trầm ngâm trước hàng me cổ
thụ làng Quang Tiến, và chậm rãi đếm những chuyến xe trâu đang nhẫn nại chở sỏi
đi lên từ lòng sông Hiếu mùa cạn nước… Tôi đã nhớ bao nhiêu ngã ba Tuần, những
truông Rếp, truông Vên, câu chuyện người xưa ở làng Vạc, câu chuyện về những cô
gái làng Đong, cả câu chuyện mà người trai vùng đất ấy đã kể cho tôi nghe về tuổi
thơ của anh. Của cậu bé nhớ mẹ chạy chân trần trên những mảnh đồi xác xơ, câu
chuyện anh đã ngắt những bông hoa dại bên con đường ray tàu hỏa - những đường ray
có từ thời thuộc Pháp, khi thực dân chở từ nơi này ra đi bao nhiêu sản vật quý
giá trong lòng sông, lòng đất, - để đặt trên mộ mẹ mình những ngày chông
chênh gió…
Và tôi, cũng như bao nhiêu người Nghệ khác, đã thầm một lời
biết ơn những cay gừng mặn muối xứ sở này, đã cho tôi được là một phần máu thịt
của quê hương.
18/2/2023Phạm Thùy VinhNguồn: https://dbndnghean.vn/








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét