Mùa xuân với thơ rượu
Đời có nhiều thú vui để hưởng thụ: tình yêu, thi ca, nghệ thuật,
du lịch... đều là nhịp sống của nhân loại tương quan từ tinh thần đến vật chất,
như vẻ đẹp của thiên nhiên mây nước. Sự cảm thông của tâm hồn với những thú vui
tùy theo sở thích của từng người. Theo Tô Đông Pha "sự như xuân mộng
liễu vô ngấn/ đời qua mau như một giấc mơ xuân, không lưu lại một vết
nào", nhà thơ Xuân Diệu quan niệm đời người ngắn ngủi mà thời gian khắc
nghiệt trôi qua phải nhanh lên vui hưởng nếu không thời gian sẽ xóa hết những
nét xuân, trong bài giục giã "mau với chứ thời gian không đứng đợi"
Thời gian không dừng lại với chúng ta, khi những cánh én
không còn bay lượn ở lưng trời thì tiếng ve sầu ngâm vang mùa hè rực rở lá hoa,
rồi thu về trời se lạnh gió thu mang theo những chiếc lá vàng rơi... Mùa xuân với
nai vàng, hoa anh đào, hoa cúc, hoa vạn thọ nở đẹp ở bên quê nhà, trong lúc Âu
Châu là mùa đông ảm đạm thời tiết đang giá lạnh cây trơ cành trên màu trắng của
tuyết, chúng ta ngậm ngùi hướng về Tết cổ truyền Việt Nam, hằng năm vào cuối
đông Cộng Đồng Việt Nam sống lưu vong khắp nơi trên thế giới, lo chuẩn bị vui Tết
hướng về quê hương, mỗi lần xuân về chúng ta thường nghe nhạc phẩm bất hủ
"Ly Rượu Mừng" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Rót thêm tràn đầy chén quan san,
Chúc người binh sĩ lên đường..
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người vì nước quên mình
Dù nơi đây không có tiếng pháo giao thừa, nhưng chúng ta cùng
nâng ly rượu mừng xuân nhớ về cố quốc...
Giao thừa hàng xóm sao im tiếng
Lần nữa ta mừng Xuân biệt hương
Nâng ly như trút vào trong dạ
Tràng pháo đầu Xuân, đứt đoạn trường
Cao Yên Tuấn
Rượu có hàng chục ngàn năm, từ non cao đến thành thị người ta
đều biết biến chế và uống rượu, theo thời gian và mỗi nơi có những công thức
khác nhau. Rượu thường chế bằng các thứ hạt ngũ cốc với bột men. Người Pháp có
truyền thống chế rượu mạnh và rượu vang bằng các loại nho tùy theo phong thổ,
bên sông hay đồi núi nổi tiếng như: Châuteau, Charente, Bordeaux. Eau-de-Vie de
Cognac hay Eau-de-Vie des Charentes. Người Đức chế rượu bia với nguyên liệu
chính là Mễ cốc (Getreide), Mạch nha (Malz) hạt ngô (Mais).Không thể thiếu hoa
Hopfen (Đường hoa thảo) làm xúc tác lên men tên khoa học Humulus - Lupulus
Cannabincaceen, nguồn gốc nước giếng cũng là yếu tố làm bia ngon.
Người Việt Nam cất rượu với nguyên liệu: đường với ngũ cốc,
có rượu đế (Reisschnaps) rượu lúa mới, Hà Nội có rượu nếp Cẩm, Sài gòn có rượu
nếp Thang, Đà lạt có rượu dâu.. Mỗi gia đình có thể cất rượu cho ngày tết hay
các lễ cưới hỏi... gạo lức hay nếp nấu chín đổ ra nong trải rộng để nguội rắc bột
men đều trên mặt ủ lại bằng lá chuối vài ba đêm lên men, trên mặt có men màu
vàng hay hơi xám, cho vào hủ đổ nước vừa dung tích đậy nắp kín để chỗ mát thích
hợp thời gian ngắn, bỏ đường vào hòa tan trong dung dịch đó gọi là hèm, đem cất
lấy rượu.. (men tự biến chế từ rễ, củ, cây lá, theo gia truyền bí quyết làm rượu
thơm ngon) Người Thượng dùng các thứ lá, rễ cây trên núi để ủ men, những thứ
này cùng với củ gừng, riềng xắt nhỏ, phơi khô, giã mịn, trộn với bột gạo và vỏ
trấu, viên tròn phơi khô để biến chế rượu Cần, loại rượu nầy làm với chất liệu:
Hạt cào (một thứ cỏ mọc ở núi), hạt bo bo, kê, gạo, bắp (ngô), khoai mì (sắn).
Mỗi loại có hương vị ngọt ngào riêng, tuy nhiên được yêu chuộng nhất theo thứ tự
vẫn là rượu cào, bo bo, kê, rồi mới đến gạo, bắp. Chất liệu được nấu chín, trải
ra cho nguội. Men giã nhỏ, trộn đều. Sau khi ủ qua một đêm, mở ra bốc hơi thơm
ngào ngạt, để có độ thoáng cho rượu lên men. Sau đó cho vào những chiếc chóe nhỏ
to bằng gốm, bịt kín miệng bằng lá chuối. Chóe ủ rượu có nơi còn gọi là ghè,
nên rượu Cần còn được người Thượng gọi là rượu Ghè, dân tộc thiểu số đều có bí
quyết biến chế rượu.
Rượu không thể thiếu trong các lễ nghi giao tế "vô
tửu bất thành lễ" Người Việt thờ cúng ông bà những ngày giỗ kỵ thường
có rượu, trầu cúng ở bàn thờ để tưởng nhớ, đầu năm mừng tuổi, hoặc đi ăn giỗ,
các lễ cưới, hỏi, hội hè đình đám không thể thiếu rượu. Thiên Chúa Giáo dùng rượu
trong Thánh lễ, nhưng Phật Giáo Việt Nam, Trung Hoa thì cấm uống rượu, ngược lại
ở Nhật Bản tu sĩ có thể uống rượu?, các quốc gia Hồi giáo cấm rượu, nhưng được
đa thê!! Thổ Nhỉ Kỳ (Hồi Giáo) được uống rượu, ngoại trừ thành phố Konya không
bán rượu.
Uống rượu trở thành thói quen trong sinh hoạt, cuộc tri ngộ của
Nguyễn Khuyến và Dương Khuê trong văn học sử Việt Nam là một tình bạn tâm giao
thắm thiết khi Dương Khuê tạ thế, Nguyễn Khuyến đã cảm thấy mất đi hầu hết hứng
thú của cuộc đời và khóc bạn:
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia có gảy, ngẩn ngơ tiếng đàn...
Ngày xưa thi nhân xem thú uống rượu đứng thứ tư sau thú chơi
đàn, đánh cờ, ngâm thơ
Đàn năm cung réo rắt tính tình đây
Cờ đôi nước, rập rình xe ngựa đó
Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà
Nguyễn Công Trứ
Người Á Châu có thể dạy người Tây phương về cách uống trà,
nhưng chúng ta phải học họ cách uống rượu, tuy nhiên người Trung Hoa biết thưởng
lãm nghệ thuật trà, rượu,"trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ./ Rượu để kết bạn,
trà để hưởng tĩnh", ở huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang nổi danh thứ rượu
hoàng tửu, nhà nào sinh con gái thì cha mẹ làm một hủ rượu cất giữ, khi con gái
xuất giá cho mang theo món rượu quý với những tư trang. Uống rượu là thú vui trợ
hứng trong khi tán ngẫu chuyện đời, đẹp nhất mùa xuân uống rượu bên cây mai
vàng nở rộ và ban đêm uống dưới bóng nguyệt. Uống rượu phải có nghệ thuật nên lựa
lúc và nơi để say, "Say với hoa thì nên vào ban ngày để hưởng hết màu
sắc, ánh sáng; say với tuyết với trăng sao thì nên lựa ban đêm để tâm tư được
thanh tĩnh" Các cụ ngày xưa quan niệm "không có rượu thì
sơn thủy cũng vô nghĩa; nếu không có đàn bà đẹp thì trăng hoa cũng vô
ích..." hay "nam vô tửu như kỳ vô phong" ngoài niềm
vui với thi phú, ngâm thơ vịnh nguyệt, say với đời, người sành rượu phải biết "tri
kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh" (biết vị của rượu, biết
hương thơm rượu, biết sự huyền ảo, biết linh hồn của rượu)...
Ở Âu Châu nghệ thuật uống rượu phải phù hợp thời gian và
không gian, rượu nào ly đó, nhiệt độ tùy theo loại rượu trắng hay đỏ, không bỏ
nước đá vào bia hay rượu. Rượu phải thích hợp với món ăn, uống để thưởng thức
và tâm sự, tiệc tùng các bà ngồi chung bàn, không thấy rượu nào nói đến chuyện
cường dương. Bên Việt Nam các bà ngồi riêng, các ông thì "dô dô" chai
nầy đến chai kia, uống cho sỉn không thấy trời trăng mây nước. Người giàu uống
các loại Cognac, Champagne, Bia, giới bình dân uống rượu Đế quốc doanh sáng
trưa chiều tối (ở Hoa Kỳ không phải chỗ nào cũng được phép uống bia rượu, ở Đức
thì tự do không bị cấm, nhưng trong tuần bận làm việc, không có thì giờ ngồi nhậu,
bàn rượu không phải là nơi giải quyết giao tế việc làm hàng ngày). Người không
uống được rượu, nhưng ngồi với bạn trong cái thú vui bàn rượu. Đã ba mươi
(1975-2005) mùa xuân đi qua lặng lẽ, ngày Tết gợi lại những kỷ niệm xa xưa.
Ba mươi chưa đủ mùa Xuân lớn
Chỉ thấm giòng châu, nặng bước đường
Hồ trường ai rót mà sao cạn?
Nhớ rót giùm ta về một phương
Cao Yên Tuấn
Rượu giúp vui và giải sầu say sỉn một vài lần không sao, nếu
uống rượu nhiều sanh bệnh nghiện thì hại sức khỏe, uống nhiều rượu thì bất lợi
rượu tác dụng không tốt vì có chất ethyl alcohol. Có thống kê: 50% tội phạm
trong nhà lao, 40% tai nạn giao thông, 25% người bệnh có liên quan đến rượu.
Các nhà khoa học cho biết bệnh nhân từng trải qua phẫu thuật
tim nếu uống một lượng vừa phải rượu hoặc bia hằng ngày sẽ làm giảm được nguy
cơ hẹp tĩnh mạch trở lại. Mọi người đều biết việc dùng nước uống có chất rượu hợp
lý có thể giảm nguy cơ đau tim và đột tử ở những người bị bệnh tim, các nhà
khoa học tại Đại học Heidelber, Đức chứng minh rằng ngay cả khi tổn thương ở
tim đã được khắc phục. Bác sĩ Donald Thomas, một chuyên gia về bệnh suyễn và đường
hô hấp ở Maryland, cho biết: "Với những kết quả vừa được công bố, tôi
sẽ cảm thấy vững tâm thoải mái hơn khi khuyến nghị các bệnh nhân của tôi nên uống
rượu vang một cách vừa phải và đều đặn." rượu làm giảm các tế bào gây
hẹp động mạch. Uống nhiều có thể gây ra chứng tăng huyết áp và các vấn đề sức
khỏe khác, rượu lợi hại tuỳ theo người dùng và bệnh lý phải chẩn đoán rõ ràng
tránh phản ứng ngược lại.
Rượu vang đỏ có tác dụng chống ung thư do chứa tác nhân chống
oxi hóa có tên resveratrol vốn có rất nhiều trên vỏ nho đỏ - nguyên liệu chính
để làm rượu. Các nghiên cứu trước đây cho thấy resveratrol, cũng có mặt trong
quả mâm xôi và lạc củ, có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch. Ngoài ra, chất này
rất tốt đối với những người ăn kiêng.Theo Đông y rượu làm thông huyết mạch, tán thấp khí, giúp
kích thích tiêu hoá ăn ngon "tửu vi bách dược chi trưởng/ rượu đứng
đầu trăm loại thuốc". Thị trường Việt Nam thường quảng cáo nhiều loại rượu
thuốc cường dương bổ thận, trị đau nhức, hai thứ bệnh y học gọi là chứng tiết tảo
(xuất tinh sớm) hay dương nuy (liệt dương) thì uống rượu ngâm thuốc có lộc
hươu, nhung nai, cao hổ cốt (?). Họ còn cho rằng rượu rắn tốt và ăn thịt bổ, vì
rắn là con vật hấp thụ đủ khí âm dương do cơ thể rắn sát đất (âm), đầu luôn
ngóc lên (dương) khi bò. Rượu rắn tùy theo số rắn ngâm như 3 con: tam xà, 5
con: ngũ xà, 10 con: thập xà. Các loại rắn thường dùng là hổ mang, cạp nong,
mái gầm, lục. Một bình 10 lít ngâm 10-15 con rắn các loại, thêm cá ngựa, sâm
quy, thục, táo tàu... Ngoài rắn ngâm rượu còn cả tắc kè ngọc dương v.v... Các rượu
thuốc Mỹ tửu, Trường sinh tửu, Diêu linh tửu, Minh Mạng thang...Bạn bè gặp nhau thường mời bia hay rượu, lúc rảnh việc cùng
chén thù, chén tạc đôi khi rượu gợi nhớ về thời vàng son xuân sắc, quên tất cả
buồn phiền đời sống vây quanh, lúc say quên thực tế phũ phàng đi vào giấc mộng
dễ dàng và êm ả, nhưng đôi khi quá chén bị bà xã phiền hà thì phải cầu cứu thi
sĩ Tản ĐàSay sưa nghĩ cũng hư đờiHư thì hư vậy say thời cứ sayĐất say đất cũng lăng quayTrời say mặt cũng cũng đỏ gay ai cười?Tản ĐàVua Ngô 36 tán vàngChết xuống âm phủ có mang được gìVua Chổm uống rượu tì tìThác xuống âm phủ khác gì vua Ngô!Ca daoCũng có trường hợp "tửu bất khả ép, ép bất khả từ" quá chén
sinh ra "Tửu nhập ngôn xuất/ rượu vào lời ra" nói dài, nói
dai mà không ý thức được điều mình nói gì? "đa ngôn đa quá" làm
phiền người chung quanh không ít; người uống say về nhà chưởi bới đánh đập vợ
con, làm mất niềm vui trong gia đình.Ở đời chẳng biết sợ aiSợ thằng say rượu nói dai tối ngàyCa daoNhưng người say cũng biện hộ cho việc say sưa đâu đến nỗi
nào, bởi vì men tình mà đời đã trao choSay thời say ngãi say tìnhSay chi chén rượu mà mình nói sayhoặcRượu nào rượu lại say ngườiBớ người say rượu, chớ cười rượu sayCa daoNhà thơ núi Tản sông Đà sống cuộc đời "say sưa nghĩ
cũng hư đời" nhưng thi nhân mượn thơ và rượu thoát khỏi thực tế chua
chát, đắng cayRượu thơ mình lại với mìnhKhi say quên cả tấm hình phù duTản ĐàThi hào Nguyễn Du đã diễn tả hoàn cảnh khổ đau ngang trái của
nàng Kiều, khi vui bên chén rượu để giải sầu, nỗi buồn 15 năm lưu lạc có bao giờ
tàn phai, mà người sầu muộn thường uống say để quên đời.Khi chén rượu, khi cuộc cờKhi xem hoa nở khi chờ trăng lênKiều - Nguyễn DuLư Trọng Lư thường mượn hơi men để giải sầu, đổi lấy những
giây phút say sưa chuếnh choáng hầu lãng quên và dứt khoát với dĩ vãng.Mời anh cạn chén rượu nầyTrăng vàng ở cuối non tây ngậm buồnNửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nayĐể lòng với rượu cùng sayChừ đây lời nói chua cay lạ thườngLưu Trọng LưHayNgười đi ừ nhỉ người đi thậtMẹ thà coi như chiếc lá bayChị thà coi như là hạt bụiEm thà coi như hơi rượu sayThâm TâmCa dao trữ tình trong kho tàng văn học Việt Nam, phản ảnh tâm
hồn lãng mạn và tình yêu dạt dào, tiếp xúc với thiên nhiên, đời sống gia đình
và xã hội, ca dao nhắc về rượu rất nhiều nhưng tôi chỉ trích dẫn một phần mà
thôi. Ở thôn quê người ta chỉ cần một buồng cau, khay trầu, uống chén rượu đã
trở thành suôi gia, không cần mâm cao cỗ đầy.
Rượu lưu ly chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh
Theo anh cho ấm tấm thân
Khỏi qua núi nọ, khỏi lần núi kia
Hay
Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu
cho đầy
Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây
Chàng đứng đó, thiếp đứng đây
Lẽ mô thầy với mẹ lại không kết nghĩa sum vầy cho con?
Tay ôm hũ rượu, buồng cau
Đi ngã đằng sau, thầy mẹ chê khó, đi ngã cửa ngõ chú bác chê nghèo,
Nhắm chừng duyên nợ cheo leo
Sóng to thuyền nặng, không biết chống chèo có đặng không
Về đời sống thiên nhiên và con người
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng đào chưa uống đã say
Rượu chuồn này chén trăng bơi
Uống cùng Huế với cuộc chơi sang ngày
Nét đẹp của đàn bà Việt Nam thật tuyệt vời đảm đang lo việc
nhà, giáo dục con cái, để chồng gánh vác việc ngoài xã hội, nói chung dù đời sống
thế nào cũng một lòng tiết hạnh.
Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn,
Uống một chén rượu, năm bảy lời giao
Anh chớ nghe ai sóng bổ ba đào
Em đây quyết giữ niềm tiết hạnh,
Anh chớ lãng xao em buồn
Vì quan niệm lẽ sống ảnh hưởng vào đời người, rượu được ví với
cái nết đằm thắm, yêu đương hạnh phúc gia đình, người vợ đảm đang mọi việc đều ổn
định
Rượu ngon bất luận be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu ngon nhờ để lâu ngày càng thơm ngon như rượu vang (vin)
Clos, Château, Cru. Rượu mạnh Cognac X.O (Extra Old) so sánh rượu ngon với người
vợ đoan trang, thủy chung để tình duyên thêm mặn nồng
Rượu ngon bởi vị men nồng
Người khôn bởi vị giống nòi mới khôn
Rượu say vì bởi men nồng
Vợ mà biết ở chắc chồng phải theo
Rượu sen càng nhắp càng say
Càng yêu vì nết, càng say vì tình
Đầy vơi chút một chén quỳnh
Vì duyên nên uống, vì tình nên say
Ngày xưa bà Trần Tú Xương "quanh năm buôn bán ở ven
sông" lo việc nhà để ông Tú vui chơi uống rượu giải sầu vì số phận
long đong về đường thi cử không thành đạt, nhưng những người đàn bà khác cũng
chiều chồng hiếu khách:
Cái bống là cái bống binh
Thổi cơm nấu nước một mình mồ hôi
Rạng ngày có khách đến chơi
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng
Vì trạng thái chung của xã hội ảnh hưởng vào tâm tư con người,
đời sống cần cù, chất phác, ôn hòa nhưng cũng xao động sa ngã! có thể nói ca
dao đã ghi lại các khía cạnh của tình yêu, trạng thái tình cảm trắc trở khó
khăn:
Vai mang bầu rượu nắm nem
Mảng say quên hết lời em dặn dò
Rượu nồng nem chua, quyến rũ lòng người thêm dục vọng, vào
vòng vui thú của bản ngã, tâm tình, gắn bó về nhân nghĩa bị lu mờ chăng? bởi vậy
ca dao cũng thường nhắc lại những thói hư thường tình, trong đời sống nhân
sinh. Ở Việt Nam có thêm phong trào uống "bia ôm", "rượu
ôm" làm nhiều người gia đình mất hạnh phúc.
Thế gian ba sự không chừa
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ
hoặc
Còn trời, còn nước còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa
Tuy nhiên con người phải tự kềm hãm dục vọng, nhìn chung xã hội
loài người bất kỳ ở tầng lớp nào, cũng bị cám dỗ len lỏi vào cuộc sống:
Anh ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo.
Mang bầu đến quán rượu dâu
Say hoa đắm nguyệt, quên câu ân tình
Rượu lạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm
Đời sống xã hội tập hợp như những màu sắc rực rỡ, quyến rũ vì
tình, tiền, quyền lực, dục vọng con người đang âm thầm đốt cháy từng mảnh tâm hồn,
có người xa lánh trần tục muốn tu nhưng không tránh khỏi quyến rũ vật chất của
đời sống văn minh! Đời sống trần tục chúng ta sống phải đạo làm người đó là điều
đáng quý trọng. Say sỉn nhiều khi tránh được phiền não, người sầu muộn thường uống
say. Trong những cái say của cuộc đời, cái say nào cũng nguy hiểm dù say rượu
còn có lúc tỉnh. Say tình, say tiền, say danh vọng thì triền miên, không ai muốn
ra khỏi cơn mê đó!. Làm người, có phải ai cũng phải mang một bệnh say?.
Tài liệu tham khảo:
- Bier Jenseits von Hopfen und Malz (Christian Raetsch)
- Wein& Speisen Lingen
- Ca dao trữ tình Việt Nam (nhà xuất bản Giáo Dục)
- Việt Nam thi ca tiền chiến (Nguyễn Tần Long)
- The HealthDay
- Đọc thêm tài liệu về rượu ở Trung Hoa xưa
- Ngược thời gian tìm hiểu của BS Lê Văn Lân TX
- Lịch Sử Của Những Món Ăn Trung Quốc Trong Chốn Cung Đình
- Những thứ ẩm liệu (đồ uống) trong cung đình thì chia ra thành
các loại sau: Lục thanh, Ngũ Tề, Tam tửu Lục thanh là thủy (nước), tương (tức
là dấm-tạc tương, và rượu chua - toan trấp tương), lễ (rượu nếp), thuần (rượu
pha nước lạnh), y (rượu chế bằng cháo gạo đặc ủ với men và mầm cây), di (rượu
chế bằng cháo gạo lỏng ủ men)
- Ngũ tề là năm thứ rượu có xác cặn nấu bằng ba loại như gạo,
cao lương và kê (đạo, lương, thử): phiếm tề (rượu ngọt có xác cặn nổi lềnh bềnh),
lễ tề (rượu ngọt hơi nhạt chế bằng nửa gạo nửa nước để qua đêm), áng tề (rượu
ngọt thật đục), đề tề (rượu màu đỏ giống áng tề nhưng trong hơn). trầm tề (rượu
ngọt lóng cặn rất nhiều)
- Tam tửu là rượu đã lọc cặn. Rượu tề thì dùng tế lễ còn rượu tửu
thì dùng uống. Tam tửu gồm: sự tửu là rượu làm dối uống tùy ý khi cần có
ngay; tích tửu là rượu ủ lâu hơn, ủ mùa đông đến sang xuân mới dậy mùi,
nước rượu trong nếm ngọt dịu; thanh tửu thì trong hơn, ủ mùa đông sang hè mới uống
được. Chúng ta thấy rằng rượu Trung hoa nguyên thủy còn sơ khai. Rượu thường chế
bằng các thứ hạt ngũ cốc nấu chín rồi ủ men mà thành nên rất đục vì còn xác, chỉ
khi lọc kỹ thì mới thành rượu trong - thanh tửu. Phải chờ đến đời Đường, Trung
Hoa giao lưu văn hóa với vùng Ả Rập mới biết cách cất rượu bằng nồi cất để có
rượu thật trong suốt và nồng độ cao hơn. Rượu mà Đường Minh hoàng, Dương Quý Phi và thi thánh Lý Bạch uống chính là loại thanh tửu này.
27/1/2015 Nguyễn Quý Đại
27/1/2015





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét