Đọc "Mùa xuân xanh" của Nguyễn Bính
nhớ "Mùa xuân chín" của
Hàn Mặc Tử
Ngày xuân đọc lại hai bài thơ xuân của Nguyễn Bính và Hàn Mặc
Tử ta như được thả hồn mình về với một miền quê yên vui thanh bình, chan hòa
các sắc màu tươi mát để lắng nghe những âm thanh rộn rã và hít thở hương đồng
gió nội của mùa xuân xanh - mùa xuân chín, của làn nắng ửng:
khói mơ tan… Hai bài thơ như có ma lực ám ảnh ta mãi mãi. Nó chứa chan nhựa sống
của mùa xuân và tuổi trẻ, của tình yêu và hy vọng.Nhà thơ Hàn Mặc Tử và nhà thơ Nguyễn BínhMùa xuân của thiên nhiên cứ theo quy luật tạo hóa mà đi và đến.
Mùa xuân của lòng người lại theo nhịp đập của trái tim tình yêu và tuổi trẻ, ước
mơ và khát vọng. Mùa xuân của một dân tộc là cái bản lề nối liền những thắng lợi
của năm cũ với năm mới sau 365 ngày. Nhà thơ Nguyễn Bính chào đời và ra đi đều
vào mùa xuân. Từ sáng 30 Tết năm Ất Tỵ (20/1/1966) nhà thơ đã vĩnh biệt thế giới
này. Còn nhà thơ Hàn Mặc Tử, tuy hơn Nguyễn Bính 6 tuổi, nhưng cũng đã lên
tiên từ mùa đông năm Canh Thìn (11/11/1940). Hai nhà thơ ở hai
phương trời xa lạ nhưng cảm xúc về mùa xuân lại có nét tương đồng. Cả hai thi
sĩ đều nhìn mùa xuân như một trái cây ngọt lành đang chuyển từ xanh đến chín.
Hàn Mặc Tử có cả một tập Xuân như ý với mấy chục bài thơ xuân. Nguyễn
Bính lại có Mưa xuân, Xuân về, Thơ xuân, Xuân tha hương, Xuân nhớ miền Nam…
Với mùa xuân này, tôi muốn quay về mấy hơn nửa thế kỷ trước để
tận hưởng “Mùa xuân xanh”của Nguyễn Bính. Bài thơ được in năm 1937 trong tập Một
nghìn cửa sổ và “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử cùng in năm 1937
trong tập Nắng xuân. Nguyễn Bính chân quê, dân dã. Hàn Mặc Tử tài hoa, bất
hạnh. Cảm nhận về mùa xuân của Nguyễn Bính Bắt đầu là cái thắt lưng xanh của
một cô gái vừa ra khỏi lũy tre làng. Đó là tứ thơ mộc mạc, gần gũi mà
không phải thi sĩ nào cũng phát hiện ra. Từ cái màu xanh đầy hơi ấm của sức trẻ
ấy, tầng liên tưởng được mở rộng:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng quanh.
Một màu xanh bát ngát, tràn ngập như vây quanh ta. Trên trời
cao mây xanh, dưới mặt đất lúa xanh. Cỏ cây, lá cành đều xanh. Màu xanh quấn
quít, nhiều tầng, nhiều lớp được diễn tả bởi câu thơ vắt dòng: Lúa ở đồng
tôi và lúa ở/ Đồng nàng và lúa ở đồng quanh. Bốn câu thơ mà có tới năm từ “ở”,
làm màu xanh của mùa xuân hiển hiện rõ nét ở giời, ở lá, ở cành, ở đồng nàng, ở
đồng tôi, ở đồng quanh. Nhìn phương nào ta cũng bắt gặp một màu xanh bát ngát đến
vô tận. Mùa xuân có tiết thanh minh trong sáng, thường vào cỡ tháng ba âm lịch.
Cỏ non như chờ đợi xuân đến, chờ tình yêu của đất trời ban tặng:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.
Mùa xuân là mùa của tình yêu. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã để
cho Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong ngày hội Đạp thanh của tiết thanh
minh với Cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ cây hoa lá, lòng người đều háo hức
đón xuân. Chàng trai mới ước đó mà cô gái đã xuất hiện: Khỏi lũy tre làng
tôi nhận thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh. Hóa ra mùa xuân không ở đâu xa,
không đợi con tạo xoay vần, mà mùa xuân đồng nghĩa với tình yêu. Màu xanh của
chiếc thắt lưng cô gái là biểu tượng của màu tình yêu. Nó là cái màu của
thời gian, màu của hy vọng tuổi trẻ. Nguyễn Bính rất ưa dùng màu xanh trong
thơ. Ở bài Xanh (1951) ông cũng đã để cho màu xanh chen lấn với cảnh
và người:
Xanh cây, xanh cỏ, xanh trời
Xanh rừng, xanh núi, da giời cũng xanh
Áo chàm cô Mán thanh thanh
Mắt xanh biêng biếc một mình tương tư.
Mùa xuân ở phía Bắc mang nét đặc trưng riêng. Còn ở phía Nam
thì bốn mùa không phân biệt rõ, mà ta chỉ thấy hai mùa mưa nắng tiếp nhau. Cũng
mùa xuân 1937 ấy, Hàn Mặc Tử đang ở Quy Nhơn, ông hỏi xuân Ngoài kia xuân
đến thắm duyên chưa/ Trời ở trong đây chẳng có mùa. Sau ngày giải phóng miền
Nam, nhạc sĩ Phạm Tuyên ngồi giữa Sài Gòn cũng muốn gói nắng vàng rực rỡ gởi ra
ngoài Bắc cho em: Anh ở trong này không thấy mùa Đông/ Nắng vẫn đỏ mận hồng
đào cuối vụ/ Trời Sài Gòn xanh trong như quyến rũ/ Thật diệu kỳ là mùa đông
phương Nam. Có lẽ nhìn ánh nắng vàng chan hòa ấy mà Hàn Mặc Tử mới tưởng tượng
ra là Mùa xuân chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.
Mùa xuân của Hàn Mặc Tử lại gắn với màu vàng tràn đầy nơi
thôn dã, thật thơ mộng và đáng yêu. Lòng người, lòng xuân bừng nở, hân hoan,
ngân vang và tỏa hương sắc với đất trời. Một buổi mai có nắng nhẹ lơ lững làm
tan màn sương khói mờ ảo. Nắng xuân như rắc vàng lấm tấm lên cảnh vật, lên mái
nhà tranh. Gió xuân vô tình hay hữu ý trêu tà áo biếc của cô gái. Và
bóng hình mùa xuân đã làm giàn thiên lý đẹp hơn. Nhà thơ nói bóng xuân
sang, nghĩa là mùa xuân mới bắt đầu chớm tới. Thi sĩ đi từ những hình ảnh cụ thể
của nắng, khói, sương, gió của giàn thiên lý để chào nàng xuân. Còn Nguyễn Bính
đi từ khái quát: Mùa xuân là cả một mùa xanh đến các chi tiết cụ thể.
Các cô gái của Hàn Mặc Tử trong “Mùa xuân chín” hiện lên như sờ thấy được,
chứ không như cô gái e lệ, thấp thoáng sau lũy tre làng trong “Mùa xuân xanh” của
Nguyễn Bính, chỉ ló ra cái thắt lưng xanh. Trên cái nền xanh của cỏ gợn
tới trời, các cô thôn nữ đùa vui hồn nhiên, nhí nhảnh và pha một chút nghịch ngợm:
Sóng cỏ xanh tươi gợi tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Đang vui xum họp, các cô đã nghĩ tới sự xa cách của cái ngày
mai ấy. Tiếng hát du xuân như chững lại, như ngậm ngùi khi cuộc vui đến hồi
kết thúc. Tuổi trẻ rồi sẽ trôi qua như đời người không ai tắm hai lần trên một
dòng sông. Các cô thôn nữ vui hết mình, vui bất tận. Ta như nghe rõ từng tiếng
ca vắt vẻo tiếng thở hổn hển, tiếng tâm sự thầm thĩ bên những
khóm trúc. Theo nhịp đập của con tim, từng đôi trai gái đang đắm đuối, tận hưởng
mùa xuân. Trong thơ hiện đại Việt Nam, hiếm có những khổ thơ đẹp như thế. Một
loạt từ láy gợi âm, gợi hình càng làm sống động hơn bức tranh xuân tràn trề sức
trẻ. Lúc này Hàn Mặc Tử đang ở trong nhà thương Quy Hòa, nhưng hồn thở vẫn thả
theo gió mây, theo tiếng ca xuân để viết nên những dòng tuyệt bút. Trở về với
thực tại cay đắng của số phận, ông ôm một mối sầu buồn: nhớ quê, nhớ làng, nhớ
tới một mối tình không thành:
Khách xa gặp lúc mùa xuân đến
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Nhân vật trữ tình đến đây có sự đổi vai. Từ cô thôn
nữ tới có kẻ rồi tới ai, và sau cùng là chị ấy. Chị
ấy là ai ta không cần biết. Đó có thể là một Mộng Cầm, hay một Hoàng Cúc
chăng? Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả như nhà thơ đã viết trong “Đây thôn Vĩ Dạ”: Ở
đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà? Với “Mùa xuân chín” hình
bóng người con gái ấy tưởng như xa vời nhưng lại rất gần gũi thân thương. Nhà
thơ vẫn tôn thờ người tình trong tâm tưởng và nâng lên ở mức cung kính qua cách
xưng chị ấy, để rồi vĩnh viễn lìa xa. Câu thơ cuối cùng khép lại ý tưởng
mà âm hưởng cứ lan tỏa với vần điệu quấn quít được chứa đựng trong một câu hỏi
tu từ: Chị ấy năm này còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Ngày xuân đọc lại hai bài thơ xuân của Nguyễn Bính và Hàn Mặc
Tử ta như được thả hồn mình về với một miền quê yên vui thanh bình, chan hòa
các sắc màu tươi mát để lắng nghe những âm thanh rộn rã và hít thở hương đồng
gió nội của mùa xuân xanh – mùa xuân chín, của làn nắng ửng:
khói mơ tan… Hai bài thơ như có ma lực ám ảnh ta mãi mãi. Nó chứa chan nhựa sống
của mùa xuân và tuổi trẻ, của tình yêu và hy vọng.
30/1/2020 Lê Xuân
30/1/2020
.jpg)

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét