Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Huyền Trân Công Chúa 1

Huyền Trân Công Chúa 1

CHƯƠNG 1
Nhũ mẫu đang loay hoay khíu lại đường chỉ tuột nơi mép chiếc hài nhung, bỗng bà dừng mũi kim ngửng nhìn ngọn bạch lạp. Ngọn sáp chỉ còn một đoạn ngắn chưa đầy gang tay. Bà liếc xéo về góc thư phòng, vẫn thấy Huyền Trân đang mãi mê đọc sách. Bà nhẹ nhàng đến cạnh công chúa vòng tay lễ phép: "Thưa công nương, đã tới giờ, thỉnh công nương về phòng nghỉ".
Công chúa ngước lên nhìn nhũ mẫu, hai bàn tay ngọc với những ngón thon dài vẫn giữ khư khư trên mặt cuốn sách để ngỏ. Đôi mắt tròn với hàng mi xanh đậm nhướng lên nhìn nhũ mẫu với vẻ nài nỉ -"Xin nhũ mẫu thư cho một chút, tôi đang đọc đến chỗ hay".
Nhũ mẫu nhìn cuốn sách dày, chữ nhỏ li ti, bà tự lượng, nếu để cho tiểu chủ đọc qua đêm cũng chưa chắc đã hết. Khẽ nhíu đôi mày, bà đáp lại cái nhìn của Huyền Trân với vẻ cung kính, nhưng không có chút gì tỏ ra bà chịu nhượng bộ - "Xin công nương hiểu cho già này. Nếu công nương cứ ngày đêm đắm chìm vào những cuốn sách như thế kia. Khiến vóc hạc hao gầy, tâm thần mỏi mệt thì kẻ tiện tì này thật vô cùng đắc tội với vong linh hoàng thái hậu, và phụ cả lời ủy thác của thượng hoàng". Nhìn Huyền Trân với vẻ ái ngại, nhũ mẫu lại nói - "Đêm nào cũng tới canh khuya, công nương mới chịu đi nghỉ. Sách nào công nương cũng khen hay".
Đôi má ửng hồng lên như một trái đào khoe mã, khẽ nhếch cặp môi đỏ mọng như tô son, để lộ ra hia hàm răng nhỏ, trắng muốt như những hạt ngô nếp. Công chúa nói giọng dịu ngọt tựa lời hát ru - "Lẽ nào nhũ mẫu chẳng thương tôi. Tôi đâu dám sao nhãng đạo nhà để sa vào đám yêu thư. Chẳng qua tôi mê say là mê say với đạo lý của thánh hiền. Bữa trước tôi thức trắng đêm là để nghiền ngẫm cho thấu đáo cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của đức Quốc công tiết chế, là bậc thượng phụ của tôi. Còn bữa nay, tôi đang đọc khúc Ly tao của Khuất Nguyên, một áng thơ trác việt, xin nhũ mẫu hiểu giùm cho. Tôi đâu có phải là một đứa trẻ không biết vâng lời người trên".
Với vẻ mặt đau khổ, nhũ mẫu hơi cúi thấp đầu xuống như người có lỗi, bà nói:"Xin công nương tha thứ cho sự lỗ mãng của kẻ tôi tớ của người. Song già chỉ lo ngày mai lễ thượng nguyên, công nương đã nhận lời với quan đại an phủ sứ của kinh sư, là người chủ lễ cuộc đua thuyền. Vả lại ngày mai thế nào thượng hoàng cũng về, và quan gia cũng tới. Công nương không thể với vẻ mặt mệt mỏi của người thiếu ngủ tới lễ hội được".
Bất đắc dĩ công chúa phải thuận theo lời khuyên của nhũ mẫu. Nàng với lấy chiếc lông ngỗng cắm trong giá bút, kẹp nơi trang đang đọc giở rồi đặt cuốn sách vào án thư. Đúng lúc ngoài hoàng thành dóng hồi trống sang canh. Nhũ mẫu ngước nhìn Huyền Trân vẻ lo lắng. Bà một hơi thở nhẹ và buột ra hai tiếng:"Khuya rồi!"…
Trống canh năm vừa điểm, cả kinh thành như bừng lên một sức sống khác thường. Từ trong cung cấm, đến các phủ đệ, và cả phố xá, đều rộn lên tiếng người nói í ới, tiếng chó sủa ủng oẳng, tiếng vó ngựa lốp cốp cả tiếng "hò ơ…" từ hồ Thủy quân, hồ Dâm Đàm vẳng tới. Huyền Trân đang mơ màng trong giấc ngủ muộn, bỗng choàng dậy bởi một hồi tù và báo thức của trại cấm binh. Nàng khẽ vén tấm rèm cửa sổ, thấy ngoài đường đã tấp nập ngựa xe. Nhũ mẫu bưng đồ ăn sáng vào, công chúa chỉ dùng qua loa rồi trở về phòng trang điểm.
Bích Huệ, Thúy Quỳnh, hai nàng hầu thân cận nhất của công chúa, đã chực sẵn trong phòng. Khi Huyền Trân vừa tới, hai nàng đon đả bắt tay ngày vào việc trang điểm cho cô chủ. Bích Huệ lấy lược ngà chải tóc. Công chúa có mái tóc dày và đen nhánh như hạt dền. Thúy Quỳnh lo việc thoa phấn, to son. Trước gương, công chúa lộng lẫy như một nàng tiên. Đầu cài trâm ngọc nạm hạt châu. Cổ đeo vòng ngọc bích nạm vàng, trạm hình long vân. Mình mặc áo dài bằng vóc đại hồng thêu mây ngũ sắc, tay viền chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo cừu trắng, quần nhiễu màu thiên thanh, chân dận hài tía mũi cong, dát hồng ngọc. Công chúa bước đi uyển chuyển trong dẫy xuyên đường (Xuyên đường: nhà để đi qua, bốn mặt không có tường chắn.). Mỗi bước chân nàng đi, như lóa lên một thứ ánh sáng ảo diễm bởi vàng dát, ngọc đeo. Và một mùi hương dìu dịu như toát ra từ da thịt thơm tho của nàng.
Ngoài cổng, một chiếc kiệu son đã chực sẵn. Kiệu chạm nổi hình đôi chim phượng hoàng đang bay, buông rèm nhiễu tím. Tám người phu lực lưỡng, đầu cạo trọc, trán lộ rõ ba chữ "TỌA THƯỢNG NÔ" màu chàm.(Theo chế độ nhà Trần, phàm các hạng gia nô của vua và các nhà quan đều có thích chữ vào trán. Gia nô của vua thích ba chữ: Tọa thượng nô. Gia nô của các nhà quan thích ba chữ: Quan trung khách. Ngoài ra không thích chữ gì cả.) Công chúa biết ngay là đám hầu cận của quan gia, theo lệnh của Tuyên từ thái hậu phái tới. Nàng hơi giật mình, sao có sự lạ lùng làm vậy. Bởi từ chiều hôm qua, nàng đã nhờ nhũ mẫu sang cung thái hậu, xin với kế mẫu, cho phép nàng được tự tiện dùng kiệu riêng. Thái hậu đã y lời. Cớ sao đám hầu cận của vương huynh còn đưa kiệu tới rước? Huyền Trân còn đang boăn khoăn, thì một tên trong đám nô bộc đã vòng tay cung kính nói:"Bẩm hoàng cô, chúng con được lệnh của Thái hậu, tới rước hoàng cô đi trảy hội. Thái hậu truyền chúng con thưa lại với hoàng cô rằng, hôm nay là ngày lễ thượng nguyên, dân chúng kinh kỳ và khắp các vùng lân cận đổ về đông đúc. Thái hậu ngại trong lúc xem diễn trò, dân chúng hồ hởi hò reo, xô lấn, mà đám nữ tì của hoàng cô lại chân yếu tay mềm, nên người sai chúng con tới rước hoàng cô".
Huyền Trân mỉm cười:"Mẫu hậu quá thương ta".
Bước lên kiệu, công chúa còn ngoái lại dặn hai nàng hầu:"Các em theo kiệu đi cùng ta".
Gió xuân hây hẩy, hơi xuân ấm áp, thật là một ngày tốt trời. Công chúa khẽ hé rèm nhìn quang cảnh phố phường. Đúng là từ tết nguyên đán, qua rèm còn thoảng vương mùi mật ngọt. Sức sống mùa xuân ào ạt chảy trong lòng người thiếu hôm nay trời mới hửng nắng. Sóng nắng như còn đang ngập ngừng, như còn e ngại trước uy quyền ngạo nghễ của thần băng giá, nên chưa ào ạt tuôn chảy xuống mặt đất như những ngày cuối xuân đầu hạ. Mới vậy thôi cũng đủ cho muôn vật hồi sinh. Cây cối trong các vườn nhà đã bật nảy những chồi non, lá nõn. Những búp lộc đầu cành nhựa căng ứ mọng. Đâu đây phảng phất mùi hương bưởi, hương chanh. Mấy cánh ong lao vút nữ, khiến đôi má công chúa hây hây đỏ, nom nàng rực rỡ như một đóa phù dung vừa hé nở. Kiệu ra khỏi hoàng thành, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt Huyền Trân là một biển người chen chúc. Dù đã có đội kỵ binh dẹp đường, nhưng kiệu của công chúa cũng chỉ nhích dần từng nửa bước. Đôi khi công chúng hò reo náo nhiệt, tưởng lay động cả kinh thành. Khó khăn lắm tám lực sĩ mới giữ được cho kiệu không nghiêng, đổ. Tới đây công chúa mới chịu sự phòng xa của kế mẫu là có lý. Ít lâu nay nàng vẫn cho rằng, từ khi Khâm từ hoàng thái hậu - mẹ nàng mất đi, nàng phải chịu sự giáo huấn quá nghiêm khắc của Tuyên từ thái hậu, người dì ruột và cũng là mẹ kế của nàng. Nhưng điều đó đã thấm tháp gì so với vị huynh trưởng của nàng - người đang ở ngôi chủ tể, trị vị cả một quốc gia, vẫn một lòng hiếu thuận, thờ mẹ kế như mẹ đẻ; sớm hôm phụng dưỡng không dám sai sót một ly, hơn cả Ngô Tôn Quyền thờ bà Ngô Quốc Thái (Bà Quốc Thái, mẹ kế của Ngô Tôn Quyền, vua xứ Đông Ngô thời Tam quốc phân tranh ở Trung Quốc. Tôn Quyền thờ mẹ kế như mẹ đẻ, nhất nhất vâng lời. Dù những việc quốc gia trọng sự Tôn Quyền đã quyết mà không có lợi cho gia phong, bà Quốc Thái bắt phải bãi bỏ, Tôn Quyền đều không dám trái ý.).
Kiệu của Huyền Trân đến cửa đền Trấn Võ thì dừng lại. Người trên bờ hồ Dâm Đàn ken dầy như kiến. Các phường Thụy Khê, Yên Hoa, Nghi Tàm, Trích Sài, Hồ Khẩu… đều có cử dân trong các hương, ấp đem trầu, nước đặt suốt một dải bờ hồ mời khách thập phương tới dự hội.
Từ hành cung (Nơi chùa Trấn Quốc bây giờ, xưa là hành cung của các vua nhà Trần. Con đường Cổ Ngư (đường Thanh Niên ngày nay) thu ở đó chưa có, nên hành cung ở vào vị trí như một hòn đảo.) một chiếc thuyền lao vút ra như một con cá kình. Hai chục tay chèo trải nước làm cho mặt hồ xao động. Thuyền vừa áp mạn trước của đền, một viên quan tùy phái từ trong khoang thuyền bước lên bờ. Vừa đặt chân lên mặt đất, ông ta vội sửa khăn áo chỉnh tề, rồi tiến đến trước kiệu của Huyền Trân vòng tay thi lễ. Công chúa bèn vén rèm ngó ra hỏi:
- Ông là người bên phủ Đại an hay phủ Kim ngô?
- Bẩm công nương, tôi được quan Đại an phủ sứ sai tới rước công nương vào dự lễ.
- Bao giờ cuộc lễ bắt đầu?
- Thưa công nương, lễ khai diễn đầu giờ Thìn.
- Phụ hoàng và hoàng huynh ta đã tới chưa?
- Dạ, thưa công nương, thượng hoàng ở phủ Thiên Trường về từ tối hôm qua, nhưng người nghỉ ở chùa Báo Ân, sáng nay người đã tới; còn quan gia vừa đến lúc cuối giờ Mão. Các quan ở trong kinh như quan hành khiển, tả, hữu thị lang, ngự sử, phiêu kỵ, kim ngô, điện súy, đô áp, đô thống… các quan ở các lộ kế với kinh thành cũng đã tề tựu đủ cả. Quan đại an và các quan chức sở tại chúng tôi đã sẵn sàng. Xin rước công nương xuống thuyền để vào dự trong lễ đài, kẻo ở đây e bất tiện.
Công chúa xuống kiệu, vẫy hai tì nữ theo mình.
Loáng cái thuyền đã đưa nàng tới hành cung. Một quang cảnh hoành tráng hiện ra trước mắt Huyền Trân. Ngay xế cửa hành cung là một chiếc lâu thuyền lớn, trang trí cực kỳ lộng lẫy. Xa xa là các đội thuyền đua của các phường, xã. Đội nào đội ấy xếp hàng đều tăm tắp, chờ hiệu lệnh.
Viên quan sở tại mời Huyền Trân vào trà thất.
Nàng không ghé và đòi đến ngay chỗ thượng hoàng.
Một chiếc thuyền nhỏ với bốn tay chèo thiện nghệ. Phải nói là họ chắp cánh cho con thuyền bay là là trên mặt nước, chứ không phải là họ chèo thuyền nữa. Chừng chưa nhai tàn miếng trầu, công chúa đã leo lên được tầng trên của chiếc lâu thuyền. Vừa nhác thấy thượng hoàng, Huyền Trân vội reo lên như một đứa trẻ.
Vua Nhân tôn xúng xính trong bộ áo cà sa hòa thượng, với niềm sung sướng được gặp lại con gái, nhà vua rời bỏ chiếc ghế đang ngồi cũng dễ dàng như khi ngài rời bỏ ngai vàng để xuất gia. Ngài tiến về phía Huyền Trân, giơ hai tay ra đón như đón một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi. Nhà vua dẫn con gái tới ngồi cạnh mình. Một lát sau, quan đại an phủ sứ của kinh sư Đỗ Khắc Chung - người mới được nhà vua ban quốc tính (Người có công lớn với quốc gia, được nhà vua sủng ái cho phép bỏ họ cũ, theo về họ vua. Như Khắc Chung trước họ Đỗ, nay mang họ Trần.), từ sau cuộc đại phá quân Nguyên hồi năm mậu tý (1288), đến xin thượng hoàng cho phép khai diễn cuộc lễ. Thượng hoàng bèn chỉ về phía quan gia ngồi đằng mũi thuyền.
Đúng giờ Thìn, một phát pháo hiệu nổ vang. Lập tức có tới hàng trăm thuyền từ phía gò Phượng Chủy (Đất hình mỏ con chim phượng, nay thuộc địa phận trường Chu Văn An.) dàn hàng ngang lao vút về phía lâu thuyền. Những chiếc thuyền dài thon mình trắm, mũi và lái đều cong lên và có trạm, vẽ hình đầu rồng, đuôi rồng. Mỗi bên mạn thuyền có hai chục tay trải. Mỗi trãi thủ nắm xuôi một chiếc dầm, nom tựa hình mái chèo. Trước mỗi mũi thuyền có một người chỉ huy, mặc quần lụa đỏ, quấn xà cạp đen đến tận đầu gối, áo đỏ nẹp xanh, ngang bụng thắt một dải lụa màu mỡ gà kết múi buông xuôi bên hông trái. Hai tay cầm hai lá cờ đuôi nheo đỏ và vàng phất theo nhịp trống. Người nhấp nhô cùng hai cánh tay dang rộng ra với hai lá cờ như sắp bay lên. Giữa khoang thuyền kê một chiếc trống cái. Người đánh trống vấn chiếc khăn đầu rìu màu đỏ, mình trần, vừa gõ trống vừa múa quanh tang trống, cùng với người phất cờ hòa chung một nhịp đẩy chiếc thuyền lướt nhẹ trên mặt nước. Hàng trăm thuyền đua sức đua tài. Cảnh tượng diễn ra thật là hào hùng, khiến mọi người nhớ lại trận thủy chiến oanh liệt trên sông Bạch Đằng hồi mấy năm trước.
Tất cả các thuyền khi lướt qua thuyền ngự - Các trải thủ đều lấy đà từ xa, để sao cho khi qua lâu thuyền, thuyền đua chỉ lướt đi, mọi người trên thuyền đều trong dáng dấp ngả về phía trước, như đang gắng bơi, kỳ thực tất cả đều bất động, mặt hướng về phía thuyền ngự, tạo ra một không khí tĩnh lặng và trang nghiêm đến kỳ lạ. Bỗng xuất hiện ba chiếc thuyền như từ đáy hồ vọt lên. Những chiếc thuyền này lướt như bay. Mỗi bên mạn thuyền có năm chục tay chèo. Mỗi mái chèo gắn với một cọc chèo cố định. Các thủy thủ cũng bổ chèo theo nhịp trống. Vì là thuyền chiến, nên mạn thuyền cao, chắn lút đầu thủy thủ.Trên mỗi thuyền cũng có người phất cờ, đánh trống như các thuyền dân. Ở thuyền đi trước, thấy có hiệu cờ súy, và có tá thánh thái sư thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đứng sau người phất cờ. Thuyền thứ hai có điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đeo thanh trường kiếm, dáng dấp uy nghiêm. Thuyền thứ ba có phiêu kỵ thượng tướng quân Trần Khánh Dư. Các thuyền chiến chỉ tham gia diễu hành, cho tăng thêm phần uy nghi thượng võ của ngày hội, chứ không tranh giải. Mỗi thuyền đều phải đua ba vòng hẹp trong lòng hồ, mỗi vòng ước độ mười lý. Thuyền đi theo hàng cọc thưa thớt, trên mỗi cọc đều cắm một lá cờ đỏ chỉ đường.
Khi đoàn thuyền đua vừa đi khỏi, chiếc lâu thuyền to lớn cũng đi theo. Chỉ thấy tiếng nước vỗ ì oạp và con thuyền nhè nhẹ lao đi. Không thấy một tay chèo nào, Huyền Trân lấy làm lạ lắm. Nàng khẽ ngoái đầu cúi nhìn xuống mạn thuyền tầng dưới, thấy các mái chèo hối hả bủa nhanh rầm rập. Có lần công chúa đã nghe nói đến một thứ thuyền lưỡng tính, dùng cho các bậc vua chúa, nửa là chiến thuyền, nửa là du thuyền. Chắc là loại thuyền này đây. Chiếc lâu thuyền lướt qua đầu đường Dụ tượng để tiến về phía Bãi bắn gần giữa hồ. Trần Nhân tông nhìn con gái với vẻ trìu mến. Ông thương con sống trong cảnh mồ côi mẹ. Tiếp đó, ông lại xuất gia (Theo chế độ nhà Trần, con đến tuổi trưởng thành thì vua cha nhường ngôi cho. Tuy nhường ngôi, nhưng mọi việc lớn trong triều đều do vua cha (tức thượng hoàng) quyết định. Nhân tôn nhường ngôi cho con từ năm Quý tị (1293), tới năm Ất mùi (1295) thì xuất gia ở hành cung Vũ Lâm. Đến năm Kỷ hợi (1299) thì vào Yên Tử tu khổ hạnh. Tuy nhiên, ông vẫn giám sát việc triều đình rất chặt chẽ.), thành thử mọi sự đều phó mặc cho con tự lo, phó mặc cho bà Tuyên từ thái hậu coi sóc và điều hành nếp sống của hoàng gia. Nhà vua mỉm cười hỏi công chúa:
- Có vui không con?
- Dạ, vui lắm ạ.
- Con nghĩ gì vậy?
- Thưa phụ hoàng, công chúa vừa nói vừa nhìn ra mặt hồ rợp những thuyền đua, lòng nao nao xúc cảm - Thưa phụ hoàng - Công chúa nhắc lại, con đang nghĩ về ông ngoại - Đức quốc công tiết chế đã phá giặc Thát trên sông Bạch Đằng, cảnh chiến diễn ra chắc cũng hùng tráng như thế này phải không ạ?
Mặt nhà bỗng rạng rỡ hẳn lên. Ngài nói với con bằng một giọng âu yếm:
- Cảnh diễn ra ở đây dù hùng tráng đến thế nào, cũng chỉ là cảnh vui trong ngày hội. Bì sao được với cảnh khốc liệt trên mặt sông lúc lâm chiến hả con! Con có thể thấy lại được phần nào trong bài "Phú sông Bạch Đằng của Hán Siêu". Ông ta viết bài đó khi còn là môn khách của Quốc công tiết chế. Vậy chớ con đã đọc chưa.
- Dạ, thưa phụ hoàng, con đã đọc và cũng đã thuộc. Đó là một áng văn hay. Có thể xếp vào loại kim cổ hùng văn. Rồi công chúa hạ thấp giọng chỉ còn là tiếng thì thầm: - Ôi, tiếc quá chừng. Ước gì ngày đó mình đã lớn. Đã được chứng kiến tất cả…
Nhân tôn vỗ nhẹ vào vai con gái:
- Không nên ao ước hoặc mơ đến một điều gì, mà con biết chắc chắn là nó sẽ không bao giờ đến với con. Cả những điều sức con không làm nổi, cũng đừng nên nghĩ tới. Sự viển vông đó, là phần việc của mấy anh hủ nho mặt trắng. Con chỉ nên chăm lo đến các việc dung, công, ngôn, hạnh. Rồi trau dồi thi, thu, lễ, nhạc. Ấy là phúc của nhà ta đó con. Muốn làm được các việc đó, lúc nào con cũng phải giữ cho cái tâm được tĩnh. Tâm có tĩnh, trí mới thông. Trí có thông mới thâu nhận được cái nhẽ hoằng đại mà uẩn ảo thâm sâu trong kinh sách của thánh hiền.
- Thưa phụ hoàng, người có thể rộng phép cho con được giao tiếp với những người là rường cột của nước ta và cả những con dân một lòng, một dạ thờ vua, giữ nước.
Nhà vua nhìn con gái với vẻ cảm thông sâu sắc. Dường như điều đó làm người yên tâm, rằng cô con gái út tuy không được sự giáo dưỡng nhiều lắm của người, đã sớm tỏ ra một kẻ nhân nhu hiếu thuận. Đã biết yêu quí những gì tốt đẹp do các bậc tiền bối tạo lập. Song cũng chính điều đó làm nhà vua vô cùng kinh ngạc. Ngài chỉ đáp lại con có có vài lời giản dị:
- Mong muốn của con chẳng có chút chi trở ngại.
Mặt nước hồ bỗng xao động. Sóng vỗ ì oạp bên mạn lâu thuyền. Rồi một đoàn thuyền đua rầm rập kéo nước rút, để về đích ở vòng trót. Bỗng có ba chiếc vượt hẳn lên, và bỏ cả đoàn ở lại phía sau một khoảng cách khá xa. Ba chiếc theo sát nhau thành một hàng ngang. Rồi như có phép lạ, chiếc thuyền bên tả bỗng vọt lên như một con cá măng chạm lưới. Và cứ đà ấy, chiếc thuyền lao thẳng đến nơi cắm ngọn cờ đỏ chói. Người phất cờ lệnh đứng ở đầu mũi thuyền, lao ra khỏi chỗ, nhổ lấy cây cờ giương cao lên. Mặt nước như chùng lại. Không gian im phắc. Sau một thoáng, tiếng hò reo ùa vỡ lênh láng trên mặt hồ. Chiếc thuyền giành giải nhất, quay ngoắt mũi tiến về phía chiếc lâu thuyền, dâng cây cờ lên vái hai vua.
Khi lâu thuyền quay vào bờ, Nhân tôn cúi xuống nói nhỏ với Huyền Trân:
- Đêm nay, cha làm lễ dâng sao giải hạn cho con dân cả nước Đại Việt ta ở chùa Báo Ân. Ngày mai, cha về cung thăm các con.
Công chúa khẽ "vâng" một tiếng. Dáng mặt đầy vẻ suy tư của Huyền Trân thoáng gợn một nét buồn.
CHƯƠNG 2
Thấy lá màn the sột soạt, lão bộc biết ngay là nhà vua vừa qua cửa tò vò. Lão quay vào đã thấy Nhân tôn ngồi xếp bằng ở kỷ. Lão cung kính chào. Khuôn mặt lão rạng rỡ hẳn lên. Dường như các nếp nhăn vừa giãn ra cùng với sự hoan hỉ đang bừng tỏa trong lòng lão. Điều đó không giấu nổi nhà vua. Ngài hỏi:
- Lão Dương bữa nay có gì vui mà hớn hở vậy?
- Muôn tâu thượng hoàng, lão vừa nói vừa phải nuốt nước miếng ừng ực để khỏi bật ra tiếng reo vui. - Muôn tâu thượng hoàng, lão nhắc lại - được thấy dung nhan thượng hoàng, con thật mãn nguyện. Người vẫn khang kiện là con vui. Hôm qua, quan đại an ở kinh sư mở hội đua thuyền nhân ngày lễ thượng nguyên, con chắc thế nào thượng hoàng cũng về dự. Con đã định đi để được thấy mặt rồng, ngặt vì cái lưng của con nó yếu quá. -Lão ngồi sụm xuống. Tay ngoái lại phía sau đấm lưng thùm thụp. - Đấy! Đấy… cái bệnh đau lưng nó lại làm tội làm nợ con rồi!.
- Mấy bữa nay trở trời. Ta chắc vết thương cũ lão nó lại tấy lên đấy.
- Dạ. Bẩm thượng hoàng, đúng như thế đấy ạ.
- Ái… Ái… lão nhăn nhó không dằn nổi cơn đau, nước mắt trào ra nhỏ xuống thành hai hạt lăn trên đôi gò má dăn deo.
Vua Nhân tôn bước xuống thềm vực lão Dương vào sập. Chiếc sập sơn son thếp vàng vẽ chín con rồng đang tranh nhau một viên ngọc. Bốn mặt sập trạm nổi bốn cái đầu hổ. Chiếc sập này trước vốn là giường ngủ của vua, vẫn kê trong nội tẩm.
Từ ngày nhà vua xuất gia, lão Dương xin phép bà Tuyên từ đưa ra kê ngoài nhà bái đường. Bao nhiêu năm hầu hạ nhà vua chưa một lần nào lão dám tự tiện hoặc được phép ngồi ghé vào long sàng. Thế mà giờ đây lão được chính tay thượng hoàng dìu vào. Lão đã toan nhỏm dậy phủ phục xuống mà cảm tạ nhà vua đã biệt đãi lão. Nhưng trong lòng lão lại muốn kéo dài thêm cái giây phút hiếm hoi ấy. Đôi mắt lão nhắm nghiền, làm thượng hoàng có thể tưởng là lão đang đau đớn đến mê man. Thật tình lão đang làm một việc tầy trời. Lão bấm bụng tự nhủ: "Ừ thì hãy cứ thử nán lại một tí xem sao. Xem nằm trên giường của vua nó sướng hơn nằm trên giường của nhà lão ở chỗ nào". Và cứ theo cái nhịp phiêu bồng đó, lão nghĩ: "Suốt cuộc đời ta từ lúc sức lực sung mãn tràn trề, cắp dáo theo hầu thái thượng hoàng, rồi thượng hoàng và cả quan gia bây giờ. Kế tiếp ba đời vua, lúc nào ta cũng chỉ được phép cầm ngang ngọn dáo hoặc chắp tay cung kính. Chưa bao giờ ta dám có ước vọng ngông cuồng là được ngồi vào long sàng, chứ còn nói gì đến chuyện ngả người xuống giường vua. Vì nếu điều đó xảy ra thì thật là một tai họa lớn. Một trọng tội - Tội khi quân".
Trong lúc lão Dương mải say sưa đuổi bắt những ý nghĩ miên man của lão, thì Nhân tôn nhìn lão với vẻ cảm thông có pha phần ân hận. Nhà vua dường như thấy lại đầy đủ hình ảnh người nô bộc của mình thời trai trẻ: một đô vật lừng danh, một võ sĩ thượng thặng, một cung thủ có tài bách bộ xuyên dương (Xa trăm bước bắn mũi tên xuyên qua lá liễu.). Nhà vua tự hỏi:"Có phải chính con người lúc nào cũng rên rẩm về bệnh tật này đã cứu cơ nghiệp nhà Trần, cứu sơn hà xã tắc chăng?"- "Phải". Nhà vua tự trả lời - "Chính y. Chính trong lúc giặc Thát đuổi gấp, ta và phụ hoàng trên đường rút vào châu Hoan, thì Đặng Dương khuyên phụ hoàng ta nên bỏ đường thủy đi đường bộ. Nhưng là ngược lại để về châu An Bang. Chính lúc đó Thoát-hoan lớn tiếng đe dọa cha con ta: "Lên trời" thì y "cầm cẳng kéo xuống"; "xuống đất" thì y "nắm tóc lôi lên". Ta nghe kế của Đặng Dương, nên bỏ mặc Thoát-hoan đuổi theo một cái bóng vô hình. Ta quên sao được trong tình thế gấp gáp, thuyền còn cách quá xa bờ, y đã cõng phụ hoàng ta phi thân lên bờ. Ta phải nhắm mắt lại, sợ nhìn thấy cảnh đau thương. Nhưng y đã bay, phải nói là y cõng phụ hoàng ta bay vào bờ. Ta cho rằng trên đời này khó kén được tướng khỏe như Đặng Dương. Nhưng do y đã gồng người lên quá sức, nên xương sống của y bị chấn thương tức khắc. Lòng trung dũng của Đặng Dương có được triều đình xét đến ban khen. Song chẳng có gì đền bù xứng đáng được cho y. Y đã bị tuyệt được sinh đẻ, lại suốt đời mang bệnh tật yếu đau".
Người lão bộc từ từ hé mắt vừa bắt gặp cái nhìn độ lượng của nhà vua. Lão vội nói với giọng yếu ớt:
- Xin thượng hoàng đại xá cho con. Tội con đáng muôn chết.- Vừa nói lão bộc vừa nhìn vua Nhân tôn, vừa nhìn xuống chiếc giường ông đang nằm.
Nhà vua vuốt nhẹ bàn tay lên lưng người lão bộc và nói:
- Ta thật có lỗi với lão. Ta mải mê lo chuyện trăm họ, nhưng lại bỏ mặc lão sống cô đơn. Mà thật ra không có sự tận tâm báo quốc, không có sự xả thân cứu chủ của lão thì cả tấm thân ta chắc đã còn tới ngày nay. Ta đền đáp được gì cho lão đâu. Ta nhớ, chưa một lần nào lão hé răng xin ban ân tứ. Duy chỉ có lần này và cũng chỉ có một thoáng mới đây, lão như có ý hờn dỗi với ta về thân phận nô bộc của lão. Ta đánh giá cao nhân cách của lão. Tuy lão vẫn còn ở trong hàng nô bộc, nhưng lão có phong độ người quân tử hơn chán vạn kẻ ở lầu son gác tía.
Lão Dương lạnh toát người, lão có cảm giác như đức vua nhìn thấu suốt cả tâm can lão. Và những lời nhà vua nói thật chí nghĩa chí tình, khiến lão xúc động và khóc như một đứa trẻ.
Nhà vua vẫn an nhiên ngồi nhìn lão khóc với nỗi cảm thương sâu sắc. Ngài không quở trách, cũng không dỗ dành an ủi. Bởi ngài cho rằng người dễ xúc động là người có được cái tâm tốt. Và mỗi khi khóc được, nó sẽ làm cho vơi vợi nỗi buồn đau. Con người lập tức thấy dễ chịu ngay.
Lão Dương nín bặt, nhỏm dậy và thoăn thoắt đi như lão chưa hề biết đến có sự đau lưng ở trong đời. Lão bê tới sập một bộ đồ pha trà, cung kính đặt trước thượng hoàng rồi vòng tay thưa:
- Bẩm thượng hoàng, chẳng hay người vẫn ưa dùng trà sen để con pha?.
- Từ độ xuất gia, ta thôi không dùng trà nữa, mà chỉ quen uống một thứ nước hãm bằng gỗ cây mai già. Bọn ta thường gọi nó là "Lão mai trà". Ta có đem theo vài thanh. Để ta cho lão một thanh uống thử. Khi hãm, lão phải chẽ nhỏ ra. Loại nước này uống mát, nhuận gan.
Một thoáng băn khoăn hiện lên mặt. Lão Dương ngập ngừng định nói, lại thôi.
Được cái nhìn của nhà vua cổ súy, lão mạnh dạn lên tiếng:
- Bẩm thượng hoàng, còn chỉ xin hỏi một điều, có gì tò mò mạo muội, con xin thượng hoàng đại xá cho. Dạ bẩm thượng hoàng, có đúng là người xuất gia phải kiêng khem đủ mọi thứ không ạ?.
- Không, không phải thế đâu. Phật không bắt người tu hành phải kiêng khem gì hết.
- Tâu thượng hoàng, thế còn ngũ giới thì sao ạ?
(Ngũ giới: Năm điều răn của đạo Phật. Theo Thích lão chí, ngũ giới là: 1- Không giết sinh vật. 2- Không trộm cắp. 3- Không gian dâm. 4- Không nói càn. 5- Không uống rượu, ăn thịt.)
- Ngũ giới là luật lệ do tăng chúng đặt ra, để giám sát đệ tử hướng trọn việc làm cũng như tâm thức mình vào cái thiện. Bởi chưng cái thiện nào cũng đều có tính Phật. Đặt ra ngũ giới và trụ trì tại chùa, chẳng qua là bọn nhà chùa muốn tu theo đường tắt để mau thành Phật. Nhưng có phải muốn mà được đâu. Nếu chỉ kiêng năm điều răn ấy mà thành Phật, thì bọn sư sãi thành Phật hết. Phật ở đâu mà nhiều thế?
- Tâu thượng hoàng, nếu đúng như ngài nói thì việc kiêng khem ngũ giới đó, không dính dáng gì đến việc tu Phật. Thế tại sao thượng hoàng lại kiêng không ăn thịt, không cả uống trà nữa.
- Ta không dùng những cái đó là vì ta thấy chúng sinh còn thiếu thốn khổ đau quá đỗi. Ta muốn chia sẻ lòng mình với họ, chớ đâu có phải ta mong chóng trở thành Phật. Vả lại mong cũng không được. Ai chỉ muốn được, chắc là sẽ bị mất thôi.
- Tâu thượng hoàng. Suốt cuộc đời con theo đòi hầu hạ trong cung cấm, con cảm mến cái đức của thượng hoàng. Nay thượng hoàng xuất gia, con xin người gia ân cho con lại được theo hầu. Nếu hồng phúc lớn, bệ hạ thành Phật, con sẽ là một đứa tiểu tăng mãi mãi làm nô bộc cho người. - Lão Dương vừa nói vừa khép nép nhìn xem đức vua có chấp thuận lời cầu xin của lão không. Lời lão nói là thành thực. Bởi chốn cung cấm lạnh tẻ này có cái gì hấp dẫn với lão đâu. Dù lão là kẻ nô bộc có công lớn đối với tiên đế. Không một ai dám đụng đến lão, cắt bỏ phần bổng lộc của lão, thì lão vẫn cứ là một tên "tọa thượng nô". Ba chữ đó không chỉ hằn trên trán, mà còn hằn trong tâm can tì phế của lão. Lão sẽ suốt đời giam thân trong cung cấm với cảnh cô đơn không vợ, không con, không một ai thân thích.
- Này, lão Dương! Việc đạo không hẳn như việc đời. Không phải ta là vua ta sẽ thành Phật, còn lão là nô, lão sẽ là tiểu tăng đâu. Có thể lão có duyên nghiệp từ kiếp trước, lão lại ngộ đạo trước ta thì sao? Việc tu đạo, là cốt ở tu tâm. Tâm lớn, ắt sẽ thành quả phúc. Phật là đạo. Đạo cao như nước, dung dị như nước, nhuần thấm như nước, công bằng như nước, không phân chia thứ bậc trên dưới, thấp cao, ấy là đạo. Cho nên ai tu cũng được. Ngay cả các loại vật, hễ đã có cửu khiếu (Cửu khiếu là kể các loài có chín lỗ: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, mồm; đại tiện, tiểu tiện. Đó là những động vật đã tiến hóa, theo thuyết nhà Phật, có thể tu đạo được.), đều có thể tu tạo được. Ta không ngại gì không cho lão theo. Nhưng ngặt vì ta phải đi khắp cõi để giảng kinh, thuyết pháp, mà lão thì yếu đau, bệnh tật, theo ta sao được? Vả lại, ta còn có việc phải nhờ cậy lão. Chẳng hay lão có chịu giúp ta không?.
Đức vua nói vừa bình dị, vừa đức độ, vừa cao siêu, nhưng lão Dương hiểu được. Khi nghe nhà vua nói:"Có việc phải nhờ cậy" thì tai lão đỏ lên, máu rần rật chuyển, làm cả khuôn mặt tai tái của lão cũng đỏ tía lên. Lão tự nhủ:" Tấm thân tàn như ta, còn có ích gì nữa mà nhà vua nhắc tới. Nhà vua có hảo ý giao cho ta việc gì, hay cũng chỉ là một lời an ủi thay vì giễu cợt". Lão vẫn lặng thinh.
Một lát, nhà vua lại hỏi:
- Vậy chớ lão có chịu ở lại kinh thành để giúp ta vài việc lớn không?
- Tâu thượng hoàng, người sai bảo điều gì, dù chết con cũng không từ nan. Con chỉ mong sao tấm thân tàn này, vẫn chưa phải là tấm thân vô dụng.
- Ôi, nếu một quốc gia nào mà có được những con dân như ngươi, ta chắc quốc gia đó sẽ vô địch. Tiếc thay có những kẻ mũ, đai, áo rộng, quyền cao, chức trọng, mà ta nhìn họ chẳng khác gì nhìn một cái thây ma đang rữa!.
- Ngài nói những điều cao xa quá, con không hiểu. Thân phận nô bộc, chúng con chỉ phân biệt đúng sai là ở chỗ việc làm thiện hay ác.

- Vậy là nhà ngươi đã nắm được căn cốt của đạo pháp rồi đó. Trong cõi u mê này, lòng tham cao như núi, mấy ai đã phân biệt được ác với thiện. Thôi, để ta nói thẳng vào việc. Chắc lão còn nhớ những năm giặc Thát giầy xéo non sông đất nước, dân ta trăm bề điêu háo như thế nào rồi chứ? Đấy, cho nên tất cả các việc làm của ta, đều chỉ mong sao cho nước Đại Việt ta giàu mạnh. Con dân trong nước từ nơi phường phố đô hội đông vui, đến các thôn cùng xóm vắng, đâu đâu cũng được hưởng thái bình. Từ thôn ấp đến các trấn, các lộ, các quận, các châu, con dân không bị bọn quan lại tham nhũng, cướp bóc, áp bức. Ta chỉ muốn đi tới đâu cũng chỉ nghe tiếng trẻ ê a học bài, tiếng trai gái đùa bỡn, hát ca, chứ không phải là tiếng rủa nguyền hờn oán. Muốn có cảnh ấy, thì ngay trong triều đình, các hàng quan văn võ từ chánh nhất phẩm tới thất bát phẩm phải trong sạch, tận tụy, liêm chính. Ta không muốn có một con sâu, con mọt nào lẩn chúi trong hàng quan lại của ta. Rồi ta còn phải bưng tai, bịt mắt, chặt vây cánh của đám sứ thần nhà Nguyên ở đất Thăng Long ngày nữa chứ. Ta trông cậy nơi nhà ngươi sẽ nhận ra ngay các điều phải quấy hàng ngày ở trong cung cấm, trong triều nội, trong phố phường của đất Thăng Long. Thu thập lại, rồi ngươi báo cho ta hoặc cho quan gia được biết. Việc đó, ta tưởng chẳng khó khăn gì. Ngươi cũng chẳng cần phải táy máy dò xét như một tên do thám. Chỉ cần ngươi qua lại nghe ngóng nơi chợ búa, hàng quán, là ngươi có thể biết hết các công việc triều đình, và tư cách quan lại. Là vì các việc làm của triều đình, và tư cách quan lại, có như thế nào, dân chúng biết hết. Nhất là những việc quan hệ đến vận mệnh của họ, ắt họ phải xôn xao bàn tán. Ta đã vi hành (Để nắm được thực chất tình hình trong dân chúng, và trong đám quan lại, ngày xưa những bậc vua chúa trị nước giỏi thường cải dạng làm người thường sống chung lẫn trong dân để nghe ngóng) nhiều bận, nên ta biết. Ta quả quyết rằng, dân chúng là tấm gương phản chiếu các chính sách cai trị của triều đình. Ra đường trông thấy sắc mặt người dân đói, phải nghĩ ngay đến chính sách tô thuế của triều đình hà khắc. Hoặc là do bọn quan lại địa phương bóc lột tàn nhẫn. Ra đường trông thấy người dân béo tốt, lành lặn, nhưng sắc mặt lấm lét đề phòng, hỏi điều gì cũng không nói, không biết. Ấy là trong vùng có chuyện quan lại chuyên quyền, tàn bạo. Ngươi thử ngẫm những điều ta nói có đúng không?.
- Tâu thượng hoàng, người sáng suốt lắm ạ!.
- Ta không sáng suốt, cũng không ngu tối. Những điều ta biết được, là bởi ta tìm được cách gần dân, sát dân, chứ ta không để cho bọn cận thần bịp bợm, dối lừa ta. Vậy chớ lão Dương, ngươi có giúp ta được những việc như ta nói không?.
- Muôn tâu thượng hoàng, việc đó thì con làm được ạ. Nếu thượng hoàng muốn nghe, ngay bây giờ con có thể hầu thượng hoàng vô khối chuyện. Mà chính con cũng ấm ức, bất bình.
- Nào lão kể đi. Bắt đầu từ chuyện nhà ta. Quan gia trị nước có nghiêm không? Đối với việc nhà có hiếu thuận không? Thái hậu thế nào, người có phàn nàn gì không? Công chúa út của ta có siêng năng học hành, dung công ngôn hạnh, hay chỉ chăm ngắm vuốt, chải chuốt thôi? Ừ, biết bao nhiêu là chuyện trong kinh sư, có tới nghìn mắt, nghìn tai cũng không nghe, không nhìn thấu.
Được nhà vua cổ vũ, lão Dương phấn chấn hẳn lên. Lão nhìn đức vua với ánh mắt trong sáng lạ thường.
Lão nói:
- Trình thượng hoàng, từ khi đức Khâm từ thái hậu mất đi, lại tiếp đến việc thượng hoàng xuất gia, con thấy mọi việc trong cung cấm do một mình đức Tuyên từ cai quản. Người coi sóc công việc cực kỳ cần mẫn, công minh, chính trực. Người thực sự coi quan gia và công chúa như là con ruột của mình vậy. Ngay với quan gia, người còn nghiêm khắc hơn cả sinh thời đức Khâm từ. Với công chúa, người còn răn dạy đến nơi đến chốn.Vả lại, công chúa tuy còn nhỏ tuổi, đã sớm tỏ ra là người hiếu thuận. Con chưa nghe thấy ai phàn nàn gì về công chúa. Chỉ thấy các quan khen chữ công chúa viết tốt, thơ hay, đọc nhiều, hiểu rộng. Nếu có điều gì đáng ngại, ấy là công chúa ham mải đọc sách quá. Có lần con bắt gặp mấy ả thị tì, xe ở nhà tàng thư về cho công chúa hàng xe sách. Chẳng biết đầu óc công chúa thế nào, chứ đầu con thì một chữ không nhét vào được.
- Dạ, dạ. Còn việc quan gia trị nước thế nào thì phận con sao biết được. Con cứ nghĩ đã làm vua thì phải anh minh lắm. Còn có điều gì mà xét nét nữa.
- Ngươi nói có đúng không. Giọng đức vua đanh lại với vẻ nghiêm khắc - Thiếu gì những kẻ làm vua ngu tối, tàn bạo khiến trăm họ lầm than. Kiệt, Trụ đó, Lê ngọa triều đó!.
Lão Dương có phần bối rối. Lão biết nhà vua cần lời nói thẳng. Nhưng lão cũng còn biết con vua rồi lại làm vua; xấu, tốt, ngu đần gì rồi cũng cứ là làm vua. Ba tuổi đã lên ngôi vua. Đúng ra, làm vua có cần gì học rộng, tài cao, trải gió sương trận mạc. Ôi, cáo lời nói thẳng, tức là cái sự thật sờ sờ ra đó, ai cũng biết, nhưng phải nói ra, gọi đúng tên của nó, sao khó đến rợn tóc gáy. Lão Dương tự nhủ: "Nếu ta không nói hết sự thật cho thượng hoàng biết, tức là ta đã làm mếch lòng ngài. Còn nếu ta nói hết mọi điều như ta thấy và ta nghĩ, hẳn có ngày quan gia sẽ lấy đầu ta. Cũng một lời nói như nhau, với người này ta chỉ được lòng, còn với người kia ta phải mất đầu.Thế là cái quái gì? Đời sao éo le quá đỗi! Nhưng ta tiếc cái đầu để làm gì, một khi cái đầu đó đã hèn nhát không dám nói ra sự thật hiển nhiên. Dẫu có còn sống thì ta cũng tự khinh bỉ mình, vì chính lương tâm ta sẽ giết chết ta thôi. Bởi không gì tồi tệ xấu xa hơn là những kẻ còn sống sờ sờ nhưng lương tâm đã chết. Thượng hoàng cần lời nói thẳng, là cốt để biết mọi việc còn tính toan lo liệu cho trăm họ, chứ có phải lo tính chuyện riêng tư đâu mà sợ". Nghĩ vậy, lão Dương mạnh dạn lên tiếng:
- Tâu thượng hoàng, con sợ những lời con nói sau đây sẽ không làm đẹp ý người. Nhưng nếu không nói được với người, thì con cũng uất lên mà chết. Từ ngày đánh tan giặc Thát tới nay, kể đã dư mười năm. Song dân tình nhiều nơi vẫn còn nghèo xác lắm. Điều đó cũng tức là trong chiến tranh, giặc tàn phá nặng nề, mà dân cũng phải đóng góp nuôi quân đến kiệt sức. Mới năm ngoái đây mất mùa, một số vùng đã có người chết đói. Nhưng ở kinh sư, nhà vua mở hết cung này đến viện khác. Cung nào, viện nào cũng xây cất nguy nga, thành lũy vòng trong vòng ngoài.
Còn các quan cũng lần lượt xây dinh, lập phủ. Thử hỏi các quan lớn quan bé, tước ấy, bổng ấy, lộc ấy bất quá chỉ đủ nuôi thân và báo hiếu phụ mẫu, chứ lấy đâu ra tiền của để xây cất lâu đài? Một hai nhà xây là các nhà đua nhau. Nhà này một, nhà kia phải hai, ba, năm, bẩy lần sang đẹp hơn. Con thiển nghĩ, các quan chẳng tự mình làm nổi lấy một viên gạch. Nhưng lại xây cất, chi tiêu như nước. Vậy tiền ấy lấy ở đâu ra? Ai cũng bảo, các quan móc của kho nhà nước với móc túi dân. Thượng hoàng cứ phải tốn công sức đi vi hành ở đâu đâu để xem xét lòng dân. Sao thượng hoàng không lưu tâm ở ngay kinh sư này. Con thấy lòng dân náo động lắm. Mà các quan thì đã bắt đầu một cuộc sống xa xỉ. Ra đường thì võng lọng nghênh ngang, kiệu xe cờ xí, quân lính tiền hô hậu ủng, ngay đến đức vua cũng chưa có làm thế bao giờ. Mới năm ngoái đây trước lúc lâm chung, đức Quốc công tiết chế còn dặn lại quan gia: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước". Nhưng cũng mới gần đây con về quê, thấy dân tình xơ xác. Hỏi ra mọi người đều nói bọn xã quan nhũng nhiễu quá. Tô thuế chúng thu cao quá. Đến lúc hỏi bọn xã quan thì chúng lại nói, mức thuế hàng năm đều tăng, nếu không bổ vào đầu dân thì lấy đâu ra nộp cho quan trên. Nếu hỏi lên một vài cấp quan quận, quan châu chẳng hạn, hẳn họ phải nói là do chính sách của triều đình. Vậy có đúng là triều đình đã cố kết lòng dân như thế chăng? Muôn tâu thượng hoàng, đã trải qua hai lần đánh giặc Thát, sinh tử không nề, nhưng tới bây giờ thì con nản quá. Nhiều điều bất như ý quá. Tâu thượng hoàng, giặc Thát là chuyện ở xa, chứ giặc quan nha là chuyện… Nói đến đây, lão Dương ngừng lời đột ngột. Mồ hôi hột toát ra, chảy ròng ròng hai bên thái dương. Mặt lão đỏ tía rồi tái dần đi. Không biết là lão sợ vì chợt thấy quá lời, hay bởi lão trút được nỗi hờn giận bấy lâu chất chứa.
- Ôi lão Dương, ta biết nói như thế nào về tấm lòng kiên trung của lão, vẫn vằng vặc như trăng sao tỏa sáng. Đến bây giờ ta mới thấm thía lời dạy của đức Quốc công tiết chế rằng: "Giang san là của chung, từ vua quan đến thứ dân, ai ai cũng có quyền yêu mến và có bổn phận gìn giữ như nhau". Ta sẽ lưu tâm quan gia về tất cả những điều lão nói. Vả lại, ta cũng đang có kế sách cùng với muôn dân, bồi đắp cho quốc gia Đại Việt của ta hùng cường.
Xúc động quá, nhà vua không giấu nổi, ngấn lệ đã tràn mi.
CHƯƠNG 3
Từ bữa theo vua cha về thiên trường, Huyền Trân cứ tung tăng như một con bướm. Nàng mải mê xem ngắm cảnh ly cung ngoạn mục. Cung Trùng Quang (Các vua đã nhường ngôi cho con, ở cung Trùng Quang.) với cung Trùng Hoa (Cung Trùng Hoa dành cho các tự quân ngự trong khi đến chầu thượng hoàng) cao chất ngất, tường xây bằng đá cẩm thạch, nền dát đá ngũ sắc, mái lợp ngói màu thiên thanh nguy nga soi bóng xuống mặt hồ, nom như hai viên ngọc bích khổng lồ. Hai cung cách nhau chừng nửa dặm đường và cùng nằm trong một vuông đất dài, rộng gần hút tầm nhìn. Những cây tùng, cây bách nhấp nhô như hàng trăm ngọn tháp xanh chen chúc cạnh lâu đài. Xung quanh có sông nhỏ bao bọc. Thuyền của các cung nhân du ngoạn giữa hai bờ đầy hoa thơm, cỏ mật. Đứng ngồi ở bất cứ chỗ nào cũng sực nức mùi hương. Xa xa những bãi quất bạt ngàn, hoa nở trắng xóa. Huyền Trân mường tượng ra mùa quả chín, cánh đồng kia sẽ nhuốm vàng cả bầu trời. Hèn chi có danh sĩ đã gọi vùng này là "kim quất quốc". Ngay cả vua cha cũng từng viết:
…Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt,
Thiên đàng nô bộc, quất thiên đầu…
(Dịch thơ Trần Nhân tông. Bài Chơi hành cung Thiên Trường.
Dịch nghĩa:
… Trăm tiếng chim thành trăm giọng đàn hát,
Nghìn ngọn quýt thành nghìn đội quân hầu…)
Thật là một cảnh thần tiên nơi hạ giới. Nàng bắt Thúy Quỳnh, Bích Huệ cùng mình đi dạo khắp các vườn hoa, lầu các trong cung. Chỗ nào đẹp thì dừng lại xem ngắm mãi không thôi. Có chỗ nàng còn vịnh thơ tức cảnh. Công chúa đang say sưa ngắm một cây quất có hình thù là lạ. Dáng cây khác thường, tán lá to hơn cả một chiếc lọng xòe của hàng quan chánh nhất phẩm của triều đình. Đầu tháng hai, chanh, bưởi, quất đều đã khai hoa. Riêng có cây quất này nửa phần còn trĩu trịt quả chín vàng ươm, nửa phần hoa trắng ngát thơm, ong bướm qua lại nườm nượp. Hoa quất có một vị thơm riêng không thể lẫn với mùi thơm hắc của hoa chanh, cũng không ngào ngạt như hoa bưởi, mà nó có mùi thơm ngọt, mát tinh tế. Giữa lúc công chúa đang xem hoa thì Thúy Quỳnh đã tìm được Bích Huệ và dẫn tới trước Huyền Trân, Bích Huệ vừa đi vừa lẩm nhẩm mấy câu vừa mới học:
Khoan khoan thư kiu
Tại hà đi đâu…
Vừa trông thấy công chúa, Bích Huệ đã nhăn mặt, chun mũi:
- Bẩm công nương, con giả hết chữ nghĩa cho công nương đó. Con không học được đâu. Khó lắm!.
- Các em ngồi xuống đây ta bảo. – Công chúa bá vai cả hai nữ tì cùng ngồi xuống thảm cỏ. Rồi nhẹ nhàng khuyên bảo:
- Bích Huệ nói đúng đấy. Ở đời khó nhất là sự học. Đời phân biệt người trí với người ngu cũng là bởi sự học. Ta nhỏ tuổi hơn các em, nhưng ta biết được nhiều điều hơn các em, là bởi ta có học. Thánh nhân đã dạy:"Nhân bất học bất tri lý". Tức là người không có học, không biết nghĩa lý ở đời. Nghe ta, chịu khó học đi rồi sẽ có danh, có phận. Sao Thúy Quỳnh học được, còn em cứ giẫy nẩy lên làm vậy. Ta nghĩ là tại em chưa thích học đấy thôi. Hễ em thích đọc, chữ tự nó sẽ vào nằm trong đầu em. Vừa rồi ta nghe em đọc mấy câu, ta không thể nén cười được. Nào Bích Huệ, em đọc lại ta nghe, rồi ta sửa cho, để em nhớ.
- Bẩm công nương, con để ý nghe công nương răn dạy. Con quên hết bài học rồi ạ.
Không nhịn được, công chúa cũng phì cười:
- Vừa rồi ta nghe em đọc:"Khoan khoan thư kiu. Tại hà đi đâu". Công chúa cười rũ rượi. Thúy Quỳnh cũng cười theo. Chỉ có Bích Huệ là ngơ ngác không biết hai người cười cái gì. Trận cười dịu xuống, Huyền Trân khẽ vén mấy sợi tóc mai dánh vào khóe mắt, ôn tồn nói:
- Ta đã giảng cho các em rồi. Bây giờ ta nói lại, phải nhớ lấy. Có nhớ nghĩa mới thuộc chữ. Đây là một bài thơ trong Kinh thi của Trung Quốc:
Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.
Nghĩa là con chim thư, chim cưu nó kêu "quan quan" ở ngoài bãi sông. Cũng như con chim cuốc của ta nó kêu "cuốc cuốc". Thế mà Bích Huệ lại đọc là: "Tại hà đi đâu". Học thế thì ai mà nín cười được. Còn hai câu dưới có nghĩa là:"Người con gái xinh đẹp dịu dàng, xứng đôi với chàng trai quân tử". Đại ý đây là bài thơ nói về một cuộc nhân duyên tốt đẹp qua tiếng kêu của con chim thư, chim cưu.
Đang bàn chuyện học hành nghiêm túc, Bích Huệ vụt đứng lên nói.
- Bẩm công nương, ngoài kia chợ họp đông vui lắm. Có một bà xẩm hát rất hay, người xem xúm xít như ruồi. Công nương có muốn ra đó chơi, con dẫn đi.
Thúy Quỳnh bĩu môi gièm:
- Chợ thì có gì mà xem. Học chẳng hơn à?
- Chị Thúy Quỳnh nói hay thật đấy. Chợ người ta họp một tháng có sáu phiên, không đi thì hết người, tan chợ. Còn học thì lúc nào học chả được.
Thấy Bích Huệ nói hay quá, Huyền Trân bèn hỏi:
- Chợ là cái gì?
Bích Huệ đã toan trả lời, nhưng không ghìm nổi tiếng cười. Cô cười phì phì. Rồi như chột dạ. Bích Huệ vòng tay vái công chúa ba vái:
- Xin công nương tha tội cho con.
- Em có tội gì đâu. Chắc là lời ta hỏi ngô nghê quá, làm em buồn cười. Cũng như em học Khoan khoan thư kiu chứ có khác gì đâu. Vậy em nói cho ta rõ, vì ta ở trong cung cấm chứ có được ra ngoài như các em đâu mà biết.
- Dạ thưa công nương, chợ là nơi mọi người có gì cần bán thì đem tới đó, cũng như ai cần mua cái gì thì cũng tới đó. Chợ họp năm ngày một phiên chính, ba ngày một phiên xép. Phiên chính đông vui, người tứ xứ kéo về mua bán. Còn phiên xép, chỉ có người quanh quanh trong một vài làng.
- Vậy thế họ bán những thứ gì ở chợ?
- Thưa công nương, họ bán đủ các thứ. Từ vàng đến cám, thứ gì cũng có.
- Vàng thì ta đã biết, còn cám như em nói, nó là cái gì vậy?
Suýt nữa thì Bích Huệ lại cười phá lên.Nhưng cô đã kìm được bằng cách giả vờ cúi xuống lấy tay véo thật đau vào bụng. Ngửng lên, Huệ nói:
- Bẩm công nương, cám là vỏ gạo. Khi người ta xay lúa để bỏ vỏ trấu đi, cũng giống như người ta giã gạo, là cốt để bỏ vỏ gạo. Vỏ gạo đó gọi là cám. Cám thường dùng để chăn lợn, chăn gà, vịt. Gặp những năm mất mùa đói kém, người ta phải ăn cám.
- Em nói người ta phải ăn cám là người nào?.
- Bẩm công nương, đó là những nông phu, những người chuyên trồng lúa ấy. Ngay đến cám, họ cũng không có mà ăn nữa, nhiều khi phải chết đói cả nhà. Thảm lắm.
- Ôi, sao lại có chuyện lạ vậy? Người trồng lúa lại chết đói vì không có lúa gạo ăn. Ai đã lấy mất lúa của họ? Bất công quá đáng! Vừa mới ló ra ngoài cung cấm thôi mà đã có bao nhiêu điều không lý giải được. Công nương buồn rười rượi.
- Thưa công nương, lúa gạo người nông phu trồng cấy được, phải nộp cho quan trên gần hết. Để quan trên còn phải nộp cho quan trên nữa. Quan trên nữa, nộp về đâu, con không được biết. Còn chuyện bất công, thưa công nương, con lớn lên đã thấy như thế rồi. Ví như ở làng con, nhà xã quan, nhà phú hộ, thóc lúa để hôi để mục, tiền của giàu có không kể xiết. Còn nhà chúng con, ngay ngày mùa, cơm cũng chẳng có ăn đủ no. Mùa đông chỉ co ro một manh áo mỏng. Con hỏi bố con:"Bao giờ mới hết cảnh bất công này?" Bố con bảo:" Bao giờ trên mặt đất này tận diệt thì sẽ có sự công bằng". Nhưng thôi, công nương biết đến những thứ đó làm gì cho chóng già. Nếu công nương có muốn đi chơi chợ thì phải cải dạng mau mau.
- Tại sao phải cải dạng? Ta cứ đi như thế này có được không?
- Dạ được, nhưng công nương sẽ chẳng biết được điều gì. Vả lại, nếu không cải dạng, đi đến đâu, dân chúng sẽ bu lại xem công nương, chứ họ chẳng để cho công nương đi xem chợ đâu.
Thế là Bích Huệ bèn khoác ra ngoài cho Huyền Trân một bộ đồ nâu, người hầu vẫn mặc. Ba thầy trò chủ tớ kéo nhau ra chợ.
Chợ quả là hấp dẫn với công chúa. Vì đây là lần đầu tiên nàng được đi xem chợ. Từ những con giống bằng đất nung đến những ông phỗng sành. Từ những chiếc bùa túi bằng vải màu, chỉ màu đến các con giống phòng phành làm bằng bột nhuộm màu, vừa làm đồ chơi, vừa làm đồ ăn cho trẻ. Thật là lạ mắt và ưa nhìn. Rồi các hàng mã với những tay thợ hoa man vừa trổ, vừa cắt dán làm thành những mũ, lọng, voi, ngựa, khiến công chúa vô cùng kinh ngạc. Nàng nhích sát tới gần, nhìn chăm chú vào hai bàn tay người thợ với con dao trổ, nàng cố kiếm tìm xem họ có dùng âm binh phù phép gì không mà họ biến ảo từ giấy thành đủ các thứ mà họ muốn.
Chợt ngẩng lên, công chúa thấy người xem chen chúc vòng trong vòng ngoài. Huyền Trân tưởng dân chúng cũng tò mò, xem tài nghệ mấy bác thợ hoa man như mình. Nàng vội quay phải, quay trái tìm Thúy Quỳnh, Bích Huệ. Hai cô nữ tì bị chen bật ra xa, kêu oai oái. Lạ thay, đám đông vẫn chừa ra một khoảng cách. Họ không sấn sổ đến sát công nương một cách thô bạo. Khi Bích Huệ luồn qua được đám đông, bèn quay trở lại chỗ Huyền Trân, cũng vừa lúc Thúy Quỳnh khăn áo xộc xệch chạy bổ lại phía công chúa. Hai cô nữ tì lo lắng dìu công chúa đi ra. Huyền Trân cưỡng lại:
- Các em làm gì thế, để ta xem mấy bác này làm các thứ kia kìa, đẹp lắm. Vừa nói, công chúa vừa chỉ vào mấy thằng đánh gậy trổ bằng giấy bồi gắn vào hai đầu que với một khúc chỉ. Và biết bao nhiêu thứ khác, nom đến hoa cả mắt.
Bích Huệ ghé tai công chúa nói thầm một điều gì đấy, làm nàng đỏ mặt, rồi đứng dậy đi theo hai cô nữ tì. Đám đông giãn ra. Họ thì thầm chỉ trỏ. Họ đoán già đoán non, nghĩ là con quan phủ, quan châu, hoặc con nhà quyền quý đi du ngoạn ghé qua đây. Không một ai có thể ngờ đó lại là con vua.
Tới chỗ quang, Huyền Trân hỏi nhỏ Bích Huệ:
- Em bảo có người hát xẩm, họ đâu rồi?
- Thưa công nương, chắc là bà lão đi kiếm ăn ở chỗ khác. Vì chợ đã vãn người.
Bích Huệ cứ dẫn công chúa đi dạo khắp các hàng quán trong chợ. Bất cứ một thứ gì đối với công chúa cũng đều lạ lẫm, thích thú. Có điều hơi lạ, là công chúa quen sống nơi cung cấm, đài các, cái gì cũng sạch, đẹp, sang quý và tiếp xúc với thuần một loại người hào hoa phong nhã. Nay ở nơi chợ búa, sang hèn lẫn lộn, mọi thứ đều ô hợp, vậy mà nàng không hề tỏ ra trái ý. Không thấy tởm lợm bởi những người dân quê chất phác, rách rưới. Nhiều người đến chợ bán, mua chỉ có một manh khố che nơi hạ bộ. Nhiều người đói khát, mù lòa kêu xin đến thảm thiết. Khi ba người tới gần cuối chợ, có một bà lão tóc bạc trắng như cước, da đen sạm, mặt mày hốc hác, dúm dó bởi hàng ngàn vết dăn ngang dọc.
Bà chắp hai cánh tay cụt gần đến khuỷu vái ba cô gái và nói:
- Già chúc ba cô một đời may mắn. Chúc ba cô phú quí vinh hoa. Xin ba cô mở lòng cứu giúp. Nói xong bà lão chắp hai cánh tay cụt vào nhau chìa ra phía trước, kiểu như người lành ngửa hai bàn tay. Mắt bà lão nhoèn rử, màng, mộng phủ gần kín nửa con ngươi mở trừng trừng nhìn thẳng vào mặt các cô. Dường như đây là một cuộc thách thức lòng từ thiện của mấy cô gái trẻ.
Xúc động, Huyền Trân bước tới sát bên bà lão hỏi:
- Thưa lão bà, chẳng hay tai họa nào đã đến, khiến lão bà mất cả hai bàn tay? Vả chăng con cái của lão bà đâu mà để lão bà phải đi kiếm ăn độ nhật thế này?
Bà lão giật thót hai tay lại. Mắt bà tối sầm. Nước da sạm nắng trở nên tái ngắt. Môi run run. Một lúc sau đôi môi ấy mới mấp máy. Bà lão nói thều thào:
- Già vốn làm nghề bán nước bên bến sông. Ngày nọ giặc Thát xâm lấn bờ cõi. Đức vua bố cáo từ tiểu hoàng nam đến đại hoàng nam đều phải xung vào cơ ngũ. Thân góa bụa, có hai đứa con trai đều đi đánh giặc cho vua cả. Già vẫn bán nước tại bến sông quê. Một hôm có đoàn quân thất thủ từ Thăng Long rút về qua bến sông này. Lão cứ nhìn mãi xem có thấy mấy đứa con lão không, nhưng chẳng gặp một đứa nào. Chừng nửa khắc canh thì quân Thát ầm ầm kéo đến. Phải nói là chúng nó đi như voi đi. Vườn tược, cây cối, nhà cửa chúng đốt phá, dày xéo tan hoang hết cả. Mấy đứa vào hỏi lão: "Có thấy đoàn quân chạy trốn qua đây không?". "Có đấy". Lão trả lời.
- Nó chạy hướng nào? Chúng quát.
Đáng lẽ chỉ theo hướng đoàn quân chạy, thì lão lại chỉ về hướng có gài bẫy chông, bẫy đá.
Quân Thát hùng hổ đi về hướng có giăng bẫy. Chúng bị thụt hầm, thụt hố, chết quá nửa. Chắc là chúng nó căm lắm. Khi trở lại, chúng đốt quán, trói lão lại rồi chặt hai bàn tay. Giặc Thát diệt xong rồi, nhưng các con lão không một đứa nào trở lại. Lão bị giặc đốt nhà, đốt quán, lại không có tay, nên đành phải sống như vậy. Nói ra cực đủ trăm đường. Xin các cô rủ lòng làm phúc.
Cảm thông với hoàn cảnh của bà lão, công chúa nói:
- Chị em tôi không mang tiền theo. Nhưng tôi có cái này xin giúp lão bà.
Vừa nói, Huyền Trân vừa nong hai tay vào trong cổ áo tháo chiếc vòng ngọc bích nạm vàng. Đúng lúc bà lão chìa hai cánh tay cụt ra. Bà vội rụt cánh tay lại như vừa chạm vào lửa. Chiếc vòng rơi xuống đất, lăn quay rồi đổ ngã. Bà lão thất vọng xua tay:
- Giả ơn các cô.
- Ơ kia lão bà. Tôi biếu lão bà thật mà. Công chúa ngơ ngác tưởng lão bà sợ bị đánh lừa.
- Tôi biết cô có lòng cho tôi thật. Nhưng ích gì đâu. Ví bằng tôi nhận của cô, hẳn nhiên bọn trộm cướp không để tôi yên. Dẫu bọn trộm cướp có để tôi yên, thì các quan lớn, quan bé ở đây cũng không để tôi yên. Họ lại cướp mất. Khéo không các quan còn cho ngồi tù. Bà lão ngửa mặt lên trời chắp hai cánh tay cụt, vái chơi vơi. Bà thở dài, nói tiếp:
- Tôi lấy gì chống lại họ. Bọn trộm cướp, bọn quan nha ấy. Của hại người như chơi. Nói rồi bà lão quay quắt đi, không một lời cảm tạ.
Trước đó ai cũng bảo bà lão "dở người", "dại". Ai cũng xui bà "cứ nhận chiếc vòng đi". Nhưng khi nghe bà giãi bày nông nỗi, ai cũng nhận điều bà nói là chí lý.
Bà lão bỏ đi, công chúa bàng hoàng như người bị lấy mất hồn. Vừa xúc động, vừa tủi. Huyền Trân òa khóc.
Bích Huệ dẫn Huyền Trân và Thúy Quỳnh ra khỏi chợ, thấy dòng người tuôn đổ về hướng Tức Mạc cũng đi theo. Phần đông là các cụ lão ông. Có cụ đầu bạc trắng, tay chống gậy trúc, thủng thẳng bước đi. Có cụ lưng còng rạp xuống phải bám vào chú tiểu đồng, dò dẫm từng bước. Loáng thoáng có những nhà sư vận áo cà sa dài quét đất, đầu đội mũ hoa sen, tay chống thiền trượng, uy nghi như các đức Phật sống. Các tăng, ni, phật tử, trong vùng nườm nượp đổ về. Tất cả mọi người đều kéo nhau vào chùa Phổ Minh. Họ kháo nhau đi nghe nhà vua thuyết pháp. Huyền Trân nghĩ thầm: Chắc chắn vua cha đăng đàn.
Khi mọi người đã tề tựu, Huyền Trân cùng hai nữ tì ngồi khuất sau gốc cây ngâu phía sân chùa, để nghe nhà vua giảng đạo. Một lát, Trần Nhân tôn xuất hiện. Nhà vua đi trong tiếng A di đà râm ran như tiếng cầu kinh của các phật tử. Vua Nhân tôn đăng đàn với tất cả y phục của vị tu hành. Ngài vận chiếc cà sa màu vàng, đầu đội mũ hoa sen, tay cầm thiền trượng. Ngài đứng ngay dưới chân bệ tượng Phật Thích-ca mà nói. Nhà vua có dáng người hơi nhỏ. Khuôn mặt phúc hậu, đôi mắt long lanh tỏa ra một sắc sáng xanh như người có huệ nhãn. Đôi tai to, vành tai dày và chảy xuống như tai Phật. Nhà vua nói với các tăng già và bô lão trong vùng về sự thống nhất tín ngưỡng. Nhà vua không bài xích, không cấm đoán các tín ngưỡng khác. Người chỉ nói đến tính dung tục của đa thần giáo. Và trình độ sơ khai của dâm thần và các tạp thần. Người khuyên mọi người nên hướng về đạo Phật. Có người hỏi về ý nghĩa xuất gia và tại gia của việc tu dưỡng khác nhau như thế nào. Người đáp:
- Mục đích của việc tu đạo là tu dưỡng vô dục, vô ngã. Việc làm dưỡng ấy quả là công phu lắm. Người tại gia cũng có thể đạt tới mục đích giải thoát. Khốn thay, thế gian vốn được xác lập trên nền tảng của dục. Cho nên, sống giữa thế gian mà tu dưỡng được vô dục, vô ngã là việc khó lắm, hiếm lắm. Bởi thế, người ta mới phải ỷ vào phép xuất gia, dứt bỏ ái ân phú quí, vinh hoa, trừ khử lòng ngã chấp, ngã dục để chuyên tâm tu đạo. Nhưng nếu ai ai cũng muốn xuất gia cả thì ở vào đâu mà tu. Việc xây cất chùa chiền tràn lan không phải là việc có lợi cho dân, có lợi cho đạo. Chùa là chốn để sư ở, chứ Phật đâu có ở chùa. Không ai có thể đem Phật nhốt vào chùa được. Vả lại, việc tu đạo cốt ở tu tâm. Trước hết mọi người phải chính tâm mới tu được. Ta muốn đem cái lẽ bác ái của đạo Phật để thức tỉnh nhân tâm trong toàn cõi Đại Việt. Ta muốn mọi nhà, mọi người đều tu Phật, tức là tu tâm. Tâm thiện ấy chính là Phật. Nên chỉ mỗi gia đình phải thực sự hòa thuận, kính trên nhường dưới, bảo ban nhau làm ăn. Chớ có tin vào những điều nhảm nhí, dị đoan của bọn phù thủy đem từ Trung Quốc sang. Sao cho nhà nào cũng không phải lo đói, lo rét, lại còn dư dật ra chút ít để cứu giúp những người cơ nhỡ.Tức là mỗi gia đình đều có khả năng làm điều thiện. Nhà nhà đều no ấm, thuận thảo, hiếu nghĩa thì toàn xã hội không còn nạn trộm cắp, lừa đảo, bất hiếu, bất mục nữa. Khi mọi nhà đã no ấm, sẽ đua nhau làm việc thiện. Một xã hội đủ đầy, hiếu thuận là một xã hội có sức mạnh thần thánh, không còn lo sợ sự xâm nhập của ngoại bang nữa. Vua Nhân tôn nhìn khắp lượt mọi người rồi nói tiếp: - Ta muốn các chư vị bô lão, hào trưởng cùng tăng già hãy góp sức nhau lại làm cho sự đạo phát khởi. Làm sao cho quốc gia Đại Việt ta sẽ là một Niết bàn giữa trần gian.
Nhà vua đang say sưa thuyết giảng thì quan ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài, cỡi con ngựa trạm chạy mệt sùi bọt mép, đang đứng giậm chân cồm cộp ngoài cổng chùa. Nhữ Hài được quan gia sai xuống kính báo cáo cho vua cha biết là có đoàn cống sứ Chiêm Thành sang. Họ đã tới kinh đô.
CHƯƠNG 4
Vẫn nguyên trong bộ y phục hòa thượng mặc khi thuyết pháp, vua Nhân tôn ngồi trầm ngâm trong thế tọa thiền. Mắt ngài khẽ nhắm lim dim như khi ngài nhập định. Quan trung tán Đoàn Nhữ Hài mặt còn non choẹt như một gã thư sinh. Nhưng những nét lo âu và sương gió, đã gieo lờ mờ trên vầng trán cao của vị quan nhỏ tuổi này vài vết nhăn. Đoàn Nhữ Hài vẫn chắp tay cung kính đứng phía sau nhà vua. Lâu lắm không thấy Nhân tôn dạy bảo điều gì, quan ngự sử bèn nghĩ lại những điều mình đã tâu trình với đức vua, xem có gì sai sót khiến ngài giận. Miên man, Đoàn Nhữ Hài lại nghĩ tới hai năm về trước, cũng ở phủ Thiên Trường này. Bữa đó Nhữ Hài phải quì trước sân để dâng biểu tạ tội cho vua Anh tôn, suốt từ sáng sớm tới xế chiều. Trải mưa gió, sấm chớp mãi rồi thượng hoàng mới thương tình nhận biểu. Ấy là nhân ngày tết Đoan Ngọ. Có người dâng rượu xương bồ cất đã ngót trăm năm. Nhà vua vốn là người sành rượu, nhưng chưa hề được nếm một thứ rượu nào tinh khiết, thơm tho, ngọt dịu mà đậm đà đến thế. Ngài dùng hơi quá chén. Nên khi thượng hoàng từ phủ Thiên Trường về hỏi đến, cung nhân mới vào trong đánh thức, mãi nhà vua cũng không tỉnh được. Thượng hoàng giận bỏ về Thiên Trường ngay lập tức. Người xuống chiếu cho các quan trong triều, ngày hôm sau phải có mặt ở Thiên Trường để điểm mục. Ai trái lệnh sẽ xử tội. Lúc nhà vua tỉnh dậy đã quá nửa chiều. Khi biết mọi việc xảy ra, nhà vua hốt hoảng bỏ ra ngoài cung. Cơ may run rủi thế nào, vua lại gặp Nhữ Hài ở cửa chùa Tư Phúc. Biết Nhữ Hài là học trò, nhà vua bảo làm cho bài biểu tạ tội. Làm xong, nhà vua dẫn Nhữ Hài xuôi thuyền thâu đêm về đây. Bữa đó Nhữ Hài mới được thấy dung nhan thượng hoàng. Và cũng được thấy đức nghiêm khắc của người đối với việc nước, việc nhà. Thượng hoàng thét mắng nhà vua:
- Ta còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Ta còn sống mà ngươi đã dám như thế, huống chi sau này?…
Chính từ sự việc đó mà Nhữ Hài - một anh học trò chân trắng được cất nhắc lên làm ngự sử. Cũng từ đó, Anh tôn suốt đời không bao giờ uống rượu nữa.
Chợt nhà vua mở bừng mắt ngoái lại nhìn Nhữ Hài:
- Vậy là khanh vẫn không chịu ngồi. Sao khanh không quì như năm trước dâng biểu cho quan gia. Đức vua mỉm cười vẫy Nhữ Hài ngồi xuống sập.
Nhữ Hài khép nép vái ba vái rồi mới ghé ngồi.
- Khanh có thấy thư phúc đáp của quốc vương Chiêm Thành gửi cho ta không?. – Nhà vua hỏi.
- Tâu thượng hoàng, theo như thần được biết thì có. Nhưng đường xa, lại e có con mắt của người Nguyên nom dòm, nên quan gia muốn thỉnh thượng hoàng về kinh để thượng hoàng coi xét và chỉ giáo cho. Bẩm thượng hoàng, vì thế mà đoàn cống sứ vẫn còn nghỉ ngoài dịch quán, quan gia chưa tiếp.
- Cầm đầu sứ đoàn là ai, khanh có biết không?
- Bẩm thượng hoàng, cầm đầu sứ đoàn là quan Bồ-đề (quan tể tướng), cậu ruột của quốc vương Chế Mân. Nhưng linh hồn của sứ đoàn lại ở nơi hòa thượng Du Già, chủ sự phái Phật giáo Đại thừa Chiêm quốc.
- Thế thì hay lắm! Nhà vua reo lên. Người không nén nổi niềm vui.
- Bẩm thượng hoàng, nhà sư lại cải dạng làm người thường.
- Sao khanh biết?.
- Bẩm có tá thánh thái sư dò xét trong đám tùy tùng. Và có người của ta nhận mặt được nhân chuyến sang sứ Chiêm mấy năm trước.
- Ta chắc có duyên do uẩn khúc gì đây, chứ người Chiêm sai đủ thâm sâu như người Tống, người Nguyên để lừa ta? Khanh thất sắc diện của họ ra sao?
- Trình thượng hoàng, thần không dám võ đoán. Nhưng cứ xét vẻ ngoài thì họ đến ta với ý đồ chân thực.
- Ta cũng nghĩ như khanh.
Đêm ngược thuyền về kinh, vua Nhân tôn cho Nhữ Hài đi cùng với thuyền ngự. Công chúa Huyền Trân được phép ở lại đi ngoạn cảnh vài bữa rồi thu xếp về sau. Vốn có lòng mến Nhữ Hài từ buổi y đội biểu tạ tội cho quan gia. Nhà vua muốn đàm đạo với gã thiếu niên này, xem kiến giải của y cao thấp ra sao mà được quan gia sai khiến.

Đêm hạ tuần, không trăng, không sao. Gió đông bắc tuy không gào thét như trong buổi trọng đông, nhưng cũng đủ lạnh tê tái cho những ai thiếu áo, thiếu chăn. Ngược nước lại ngược gió. Hai chục tay chèo vẫn không đẩy được con thuyền đi nhanh hơn. Người trưởng cơ hộ giá bèn phái bốn lực sĩ lên bờ kéo dây. Thấy người chèo người kéo vất vả, nhà vua bèn bảo với trưởng cơ rằng:
- Chỉ có một mình ta đi, mà hàng chục các ngươi vất vả. Hãy neo thuyền lại, cho lính ngủ, sáng mai dậy đi cũng chưa muộn. Được nhà vua tỏ lòng thương cảm, tốp lính chèo thuyền càng chèo hăng hơn. Người trưởng cơ xin với nhà vua cứ cho đi, rồi ngày mai sẽ cho lính nghỉ. Dường như chưa an tâm, nhà vua lại truyền cho trưởng cơ hay rằng:
- Ngươi nói với mọi người đi hộ giá đêm nay, ta sẽ thưởng cho mỗi người một tấm lụa đem về may cho vợ con. Trong các người ấy, có ai có cha mẹ già yếu phải phụng dưỡng, hoặc như có con nhỏ mà gia đình neo đơn, cứ thực tình tâu lên, ta sẽ cho về quê quán làm ăn.
- Người trưởng cơ và cả tốp lính hộ giá, tưởng như trước mặt mình là đức Phật hiện ra cứu khổ cứu nạn, chứ không phải đức vua nữa.
Nhà vua sai pha trà rồi gọi Nhữ Hài tới hỏi chuyện:
- Ta biết khanh không phải là kẻ xu phụ. Nên ta muốn hỏi khanh vài việc, có thế nào khanh nói vậy, không phải lựa ý tìm lời để làm đẹp lòng ta.
- Muôn tâu thượng hoàng, thần xin lĩnh ý - Nhữ Hài nói mà trong dạ vẫn chưa yên. Quan ngự sử quá trẻ so với tước vị này, tuy có học nhưng chưa qua khoa cử đỗ đạt, lại chưa từng trải việc đời mà nhiều kẻ độc miệng cứ gọi là "làm quan tắt", nên chỉ mỗi khi nhà vua hỏi đến, vẫn có ý thèn thẹn, làm khuôn mặt đỏ ửng lên.
- Trong tình thế hiện nay, khanh có nghĩ rằng người Nguyên lại có ý dòm dỏ thôn tính Đại Việt ta nữa không?
- Tâu thượng hoàng, theo thiển kiến của thần, không lúc nào người Nguyên thôi dòm dỏ nước ta. Nhưng trong lúc này thì họ chưa thể nghĩ đến chuyện khởi binh thôn tính Đại Việt ta được. Là vì các tướng soái giỏi giang đã lần lượt qua Đại Việt, kẻ bị giết, kẻ bị bắt làm tù binh, kẻ thua đại bại, cho tới nay vẫn còn ngao ngán. Lòng thì căm uất muốn phục thù, nhưng trí chùng, lực kiệt. Còn loại tướng trẻ mới lên, tuy có hung hăng nhưng chưa trải qua chiến trận, cũng chưa dám nghĩ đến việc tiến binh sang Đại Việt. Vả lại Trung nguyên tuy có tạm thời khuất phục, nhưng dễ gì người Trung Quốc cam tâm chịu làm thân chó lợn cho người Thát mãi. Tuy họ thống trị Trung Hoa, nhưng thực ra họ đang cưỡi trên lưng cọp. Sao có thể rảnh tay mà nhìn về phương nam. Tâu thượng hoàng, ấy là chưa nói đến hai lần động binh gần đây, họ hao tổn không biết bao nhiêu tiền của, lấy gì mà động binh lần nữa.
- Khanh nói rất hợp ý ta. Nhưng ta còn thấy một điều nữa khiến họ chưa thể động binh được, là các kế sách của họ đều thấp, đều lỗi thời và đã bị quân ta phá, mà kế sách mới thâm sâu, ảo diệu thì họ chưa kiến tạo được.
- Tâu thượng hoàng, quả đúng như lời thượng hoàng nói. Họ thua ta là thua về kế sách, chứ binh lực họ còn hùng hậu lắm. Kiến thức của thượng hoàng quá ư thâm viễn, kẻ tiểu sinh này còn nông cạn chưa hiểu được.
- Khanh thấy quan gia là người thế nào? Các quan đại thần văn võ từ việc cất nhắc, bổ dụng đến năng lực, tư cách của mỗi người, ngươi thấy có gì đáng nói.
- Tâu thượng hoàng, việc thẩm định năng lực và tư cách các đại thần là việc quá lớn, tiểu sinh không đủ tư cách bàn tới, xin thượng hoàng tha tội. Nhưng có một việc thần xin thượng hoàng lưu tâm. Ấy là việc mở khoa thi chọn người tài để giúp rập nhà vua. Trước đây tiên đế từ năm Bính ngọ (1246, nhà Trần định lệ thi tiến sĩ cứ bảy năm một kỳ) đã định lệ thi tiến sĩ cứ bảy năm một lần. từ đó mở được bốn khoa. Khoa cuối cùng là vào năm Ất hợi (1275), tới nay đã ngót ba chục năm. Kẻ sĩ trong nước chán nản không muốn tiếp tục đi sâu vào con đường học vấn nữa. Vì họ không có chỗ tiến thân. Một nước mà kẻ sĩ không được coi trọng, làm sao có thể khai phóng được dân trí. Dân trí không khai phóng được thì làm sao có văn hiến? Các quan đại thần thì ở cương vị quá lâu mà không có sự thay đổi.
Lệ khảo khóa đã định mà không được tiến hành, để loại bỏ bớt những kẻ bất tài vô dụng. Thành thử những người già yếu, bất lực vẫn cứ khư khư nắm giữ quyền hành, người trẻ trung tài cán không được cất nhắc, nhân tài ngày một hao mòn, thưa vắng.
Vua Nhân tôn gật gù như người nhấm nháp từng giọt mật đắng, mà viên ngự sử trẻ tuổi này đã dũng cảm hiến dâng. Không phải nhà vua không nghĩ tới những điều Đoàn Nhữ Hài nói. Số người nắm quyền bính cao nhất trong triều hiện nay là những ai? Thực chất là các bậc cao niên vào hàng cha chú của đức vua. Những người này trong quá khứ thật sự có tài, có công lao lừng lẫy đánh giặc giữ nước. Nay lấy cớ gì xô hất họ đi được. Nhà vua đủ sáng suốt nhận thấy hàng ngũ quan lại trong triều, những người giữ các cương vị chủ chốt, hầu như không còn đủ năng lực điều hành bộ máy nữa. Họ nghĩ đến tư lợi quá nhiều, đua nhau xây dinh, lập phủ, sống xa hoa, đúng như lời lão bộc Đặng Dương nói. Còn việc mở khoa thi kén người tài, cũng là chuyện làm nhà vua khổ tâm. Đúng là kẻ sĩ lâu nay không có chỗ đua tài. Nhưng nếu mở khoa thi kén được người tài, phải bổ dụng họ vào các chức xứng với học vấn, học vị của họ. Một điều làm nhà vua đau lòng không kém, là người trong hoàng tộc ít chịu học hành rèn giũa. Nếu có mở khoa thi, lại người ngoài chiếm hết tam khôi (Các chức danh cao nhất trong hàng đại khoa: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa). Nhà vua cố kìm nén những điều suy ngẫm đến lao lung. Người khẽ mỉm cười rồi thấp giọng phán:
- Các điều khanh nói, thuần là những sự thật đau lòng. Ta sẽ lưu ý quan gia. Song điều làm ta boăn khoăn nhất vẫn là việc bên ngoài. Phương bắc, như khanh đã nói, lúc này tạm thời không lo ngại lắm. Nhưng với ta, cái họa phương bắc là họa bao trùm. Họ là kẻ thù dai dẳng tiềm tàng của Đại Việt. Họ cũng là kẻ thù tri kỷ của ta nữa. Cho nên tâm lực của ta thường để vào mặt bắc. Còn mặt nam, theo ý khanh, nên như thế nào? Ta muốn mở đường hòa hiếu ở mặt nam để rảnh tay đối phó mặt bắc?.
- Bẩm thượng hoàng, thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng với kế sách: Bắc cự Tào Tháo, đông hòa Tôn Quyền, nên đã giữ được thế chia ba thiên hạ. Nhưng lực của Ba Thục không hòa được, còn lực của Đại Việt ta dư sức tiến về phương nam. Thần thường thấy các bậc lão tướng, các bậc cân quắc bàn chuyện thừa thắng Đại Việt nên tiến về phương nam để mở mang bờ cõi. Chẳng hay ý của thượng hoàng thế nào?.
Vua Nhân tôn sầm mặt lại. Người ngoảnh nhìn ra sông. Lúc này trăng hạ huyền đã soi ánh lạnh mờ mờ trên dòng nước đỏ nhờ. Những người chèo thuyền chừng như đã thấm mệt, họ chèo uể oải. Mấy sợi dây kéo thuyền chùng võng xuống. Hẳn những người ở trên bờ cũng không còn đủ sức chạy bộ nữa. Nhà vua thầm nghĩ: "Ban tối ta mới bảo những người này, ai gặp cảnh ngộ khó khăn, ta cho về quê quán làm ăn. Nhưng nếu lại có chiến tranh, chắc ta phải nuốt trôi lời hứa. Mà họ thì có tội tình gì đâu".
Một thoáng im lặng, ngọn bạch lạp cháy gần tàn, ánh sáng leo lét làm cho cảnh trong khoang thuyền lung linh huyền ảo. Đoàn Nhữ Hài không nhìn thấy nét giận dữ hiện trên khuôn mặt nhà vua. Cũng may mà Nhữ Hài không nói tiếp cái ý tiến về phương nam. Phút im lặng nặng nề khiến Đoàn Nhữ Hài lờ mờ nhận ra, mình đã làm nhà vua phật ý.
Vua Nhân tôn lại lên tiếng. Giọng nói của nhà vua như lạc đi:
- Ta không chấp nhận việc tiến về phương nam! Ngươi thử nghĩ xem, nếu bây giờ người Nguyên cũng đặt chuyện tiến xuống phía nam, tiến vào Đại Việt thì sao? Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân. Chữ Hán, nghĩa là: Điều gì mình không muốn thì đừng bắt người khác muốn). Người nhân nghĩa không thể vô cớ cất quân đi xâm lấn bờ cõi người khác. Ngừng một lát, giọng nhà vua lúc này vang lên ấm áp như lúc ngài thuyết pháp. Ngài nói với vẻ như răn dậy:
- Nhữ Hài, khanh còn trẻ mà đã được cất nhắc. Song khanh đừng sớm vội ỷ vào tài năng mình mà quên điều nhân nghĩa. Ta khuyên khanh phải tĩnh tâm lại. Phải hằng tâm suy nghĩ về điều thiện. Phải làm nhiều việc thiện. Nếu không lấy cái thiện để chính tâm, thời ở vào vị thế quan chức như khanh, dễ sa vào bể dục, để tự mình biện hộ cho mình mỗi khi làm điều ác.
Nhà vua như cảm thấy mệt mỏi, ngài tựa vào khuôn gối xếp thiu thiu ngủ. Ánh nến tắt lịm. Khoang thuyền tối om.
CHƯƠNG 5
Tỉnh giấc, vua Nhân tôn không biết mình đã thiếp ngủ đi từ lúc nào. Khoang thuyền sẩm tối như trong hang. Không gian tĩnh mịch, nghe rõ cả hơi thở của từng người nằm rải rác đó đây. Lại nghe rõ cả tiếng nước vỗ nhẹ mơn man ngoài mạn thuyền, như trẻ thơ vầy nước trong chậu tắm.
Nhà vua mở nhẹ tấm chăn bông, đoạn khoác chiếc áo ngự hàn lên tấm thân mảnh mai như thân hạc, rồi ngài ló nhìn ra ngoài trời. Ánh trăng tan loãng trong sương. Vành trăng thu nhỏ lại như một chiếc lưỡi hái. Nhìn vành trăng, nhà vua biết trời đã về sáng. Ngài cúi nhìn dòng sông đen xỉn, loáng thoáng vài đốm sao rơi trên mặt nước, khiến dòng sông như một tấm vải mầu chàm, cải lưa thưa những chấm hoa trắng li ti.
Viên quan nội hầu đang ngủ say, chợt gió xộc vào mũi y một mùi hương quen thuộc làm y choàng tỉnh, và hốt hoảng lao về phía mũi thuyền. Thấy thượng hoàng trầm ngâm ngắm cảnh trời, nước, y vội lên tiếng:
- Tâu, ngoài này sương giá, xin thượng hoàng bảo trọng.
Nhà vua miễn cưỡng quay vào.
Viên quan nội hầu đã kịp khơi bạch lạp và đặt siêu nước lên chiếc hỏa lò đang bén lửa.
Vua sai đánh thức quan ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài dậy thưởng trả.
Nhữ Hài khép nép đứng hầu:
Vua chỉ tay vào góc đệm gấm:
- Ngồi xuống! Nơi thuyền bè chật chội mà sao khanh thủ lễ một cách thái quá. Ta miễn lễ, khanh cứ tự nhiên cho thoải mái.
- Đa tạ thượng hoàng gia ân. Đoàn Nhữ Hài nói nhỏ, vừa đủ để nhà vua nghe, rồi chàng ghé ngồi nơi mép đệm.
Vua Nhân tôn đã gặp, đã trò chuyện với Đoàn Nhữ Hài đôi lần. Nhưng lần nào cũng vội vã bởi công việc chi phối. Vả lại chàng cũng khép nép giữ ý, nên không bộc lộ được tâm tính một cách hồn nhiên.
Duy lần ta gặp Nhữ Hài ở chùa Siêu Loại, có dễ đến gần hai canh giờ. Qua trò chuyện, ta biết Nhữ Hài là người có tài.Và quan gia cất nhắc như vậy cũng là một sự mạnh tay. Nay đã được vài năm, ta muốn kiểm xét lại Nhữ Hài, xem y đã tinh tấn ra sao.
Lần này Nhữ Hài ở ngay bên cạnh, gần gũi, thân mật, nhà vua muốn tự mình thăm dò ý tứ sâu nông, xem kiến văn và cả sự từng trải của một quan lớn nhỏ tuổi, được quan gia sai khiến thế nào. Không những nhà vua muốn kiểm xét tài năng và nhân cách của Đoàn Nhữ Hài, mà ngài còn muốn kiểm xét cả trí sáng suốt của Trần Anh tông trong việc dùng người. Bởi việc dùng người chính là thước đo năng lực của bộ máy cai trị. Mà bộ máy cai trị lại chính là thước đo về sự mạnh yếu của một quốc gia. Vì rằng, nếu bộ máy cai trị dùng được nhiều người tài đức nơi triều chính tới các phủ, lộ, châu, quận và cả hương ấp nữa, thì nước không mạnh là điều xưa nay chưa từng thấy. Trái lại, những kẻ bất tài, vô hạnh, tham bẩn ngự trị nơi triều chính và lẩn khuất khắp mọi nơi, thì nước không suy yếu rồi sụp đổ cũng là việc xưa nay chưa từng thấy. Thế nhưng bộ máy cai trị của một quốc gia mạnh hay yếu, tốt hay xấu, lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự anh minh và đức độ của người đứng đầu quốc gia đó, được thể hiện qua việc sử dụng nhân tài. Tuy đã trao quyền trị quốc cho Anh tông từ năm Quí mùi (1293), và ngài đã xuất gia tại hành cung Vũ Lâm từ tháng 6 năm Ất dậu (1295), nhưng ngài vẫn giám sát việc điều hành triều chính của Anh tông.
Hai cây bạch lạp thi nhau tỏa sáng. Ánh sáng soi tỏ cả một khoang thuyền đã được ngăn bằng những tấm ván thưng. Nói rằng thuyền ngự, nhưng Nhân tôn không cho phép trang hoàng xa xỉ. Chỗ ngài nằm chỉ trải tấm nệm gấm mầu huyết dụ đã cũ lắm. Mép đệm đã xơ, mặt đệm loáng thoáng có một vài lỗ thủng để lộ mầu bông trắng nhờ. Bên chồng gối xếp có mấy cuốn kinh Phật, một ống gỗ mun đen nhức cắm vài ngọn bút lông và nghiên mực cạn. Ngoài ra, còn có chiếc tráp nhỏ và bộ đồ trà.
Đoàn Nhữ Hài ngồi đối diện với nhà vua, nhưng trong lòng đang nghĩ về những công việc mà chàng đã trải từ mấy năm nay. Và cả việc chàng được cất nhắc mà chính chàng cũng khó tin. Từ một anh học trò mặt trắng, bỗng trở thành một ngự sử trung tán; ở chức chưa được vài năm lại thăng bổ Tham tri chính sự, tham dự chính phủ. Tuổi trẻ, chức quan vượt trên cả các bậc cố lão đại thần, Đoàn Nhữ Hài cảm như có một mối hiểm nguy mơ hồ, lúc nào cũng rình rập, khiến chàng canh cánh lo âu. Đôi lúc, chàng đã mạnh dạn thổ lộ với Anh tông.
Nhà vua mỉm cười độ lượng, vỗ vào vai Nhữ Hài nói lời an ủi:
- Khanh đừng lo người khác ghen tị, hoặc chọc hại khanh. Mà hãy lo làm cho thật tốt phận sự của chính mình. Theo ta, đó là cách phòng vệ tốt nhất. Có như thế mới không phụ lòng ta tin cậy, và mới bịt được miệng những kẻ xấu bụng luôn nghĩ bậy cho người khác.
Chàng cứ đuổi theo những hình ảnh từ buổi sơ ngộ với đức Trần Anh tông, tới việc chàng theo hầu nhà vua, và được cất nhắc vào quan chức triều đình trong mấy năm qua. Nhưng mắt chàng lại dừng nơi đôi bàn tay viên quan nội hầu với cách thức y chế trà.
Chao ôi, sao mà ông ta làm các việc nó ngon lành và thuần thục như vậy. Đến nỗi Nhữ Hài có cảm giác như ông ta được sinh ra cuộc đời này để chỉ làm có mỗi một việc là chế trà.
Ông ta bầy bộ đồ trà ra từ lúc siêu nước mới réo sôi. Đồ trà là một thứ đồ gốm Bát Tràng. Một chiếc ấm song ẩm mầu thúy hồng độc sắc, có một đường viền chìm bằng hoa cúc dây quanh miệng ấm. Bốn chiếc chén cũng mầu thúy hồng nhưng có trình bày một dây hoa cúc chạy chìm quanh miệng chén. Mặt trong chén được láng men trơn mầu trắng. Bốn chiếc chén bầy trên một đĩa có chân đế. Mặt ngoài đĩa láng men thúy hồng, mặt trong men trắng độc sắc có một đường viền quanh đĩa bằng dây hoa cúc chìm trong men. Một chiếc chén cái, cũng gọi là chén chuyên hình thuôn, có chân đế cao, dáng khỏe, men và hoa lá trang trí y hệt bốn chiếc chén quân bầy trong đĩa. Tất cả đều được đặt trên chiếc khay gụ trơn hình vuông. Một lọ trà to bằng hai chiếc chén cái, mầu sắc trang trí như cách trang trí chén và đĩa.
Kỳ lạ là y vừa bầy xong các thứ khay chén ra, thì siêu nước cũng réo sôi. Y khéo léo tráng ấm bằng chén nước sôi rồi lào chè ra lòng bàn tay để cho vào ấm. Lại chế nước sôi vào bình trà, rồi rót nhanh nước đó vào bát thải bã chè. Đó là nước rửa chè, để nếu như có bụi bẩn bám dính vào trong khi sao sấy trà, sẽ được khử bỏ hoàn toàn. Y pha hãm liền ba nước, đều trót vào chén cái. Còn cách chừng một hạt thóc nữa thì nước chớm vành dây hoa cúc phía trong miệng chén. Tráng lại nước sôi mấy chiếc chén con một lần nữa, viên quan nội hầu chuyên trà từ chén cái sang; mầu trà xanh sánh như mật ong, trong như hổ phách, không hề gợn một mảy cấn chè.
Đoàn Nhữ Hài đã được hầu trà ông nội, lại cũng được hầu trà quan quốc tử giám tư nghiệp, hồi theo học trong trường Giám, nhưng chàng chưa thấy có một ai pha trà khéo tới mức tinh tế như viên quan nội hầu này. Từ việc rót nước sôi vào ấm, rót trà ra chén cái, lại chuyên trà sang các chén quân, chàng không hề thấy một giọt nào trào hoặc sánh, hoặc rơi ra ngoài. Vậy mà ông ta đã già, các đường gân đã nổi chằng chịt như những con giun trên mu bàn tay, và gương mặt dăn deo những đường hằn ngang dọc. Cặp lông mi thưa, vểnh ra những sợi dài bạc trắng. Mái tóc giấu kín trong chiếc mũ bồ đài bằng gấm đỏ. Ông có khuôn hình nhỏ thó nom hao hao lão Dương ở trong cung, đã từng theo hầu thượng hoàng và thái thượng hoàng từ hồi chống giặc Thát năm Giáp thân (1284).
Viên quan nội hầu mà thực ra y là một lão bộc hết đỗi trung thành, khom lưng dâng chén trà đang bốc khói lên thượng hoàng.
Nhà vua đỡ lấy chung trà, nói:
- Ta ban cho quan Tham tri một chung trà, khanh rót đi:
Vừa bê trà cho Đoàn Nhữ Hài xong, quan nội hầu định lui ra phía mép cửa khoang thuyền chờ sai khiến. Bỗng giọng nói êm nhẹ của nhà vua lại cất lên: - Ta cũng ban cho khanh một chung. Khanh tự rót lấy. Nào, ta cùng uống cho vui. Nhân tôn vừa nói vừa đưa chung trà lên môi nhấp.
Tới lúc này Đoàn Nhữ Hài và viên quan nội hầu mới dám nâng chung trà lên tay. Mùi trà thơm bốc theo khói xộc vào mũi, khiến Nhữ Hài có cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái. Nhưng chàng không phân biệt được đấy là hương của loài hoa nào, hương của loại trà nào. Sự thật quan tham tri mới ngoài hai chục tuổi. Phần lớn tuổi trẻ của chàng đều dùng vào việc học hành, rèn trí và rèn đức. Chưa có thì giờ, và cả không có tiền bạc thưởng thức những thú vui như trà lầu, tửu quán. Vì vậy quan ngài thưởng trà, thưởng rượu cũng không khác chi đám trai nghèo lam lũ uống nước mưa bằng gáo dừa.
Đợi cho Nhữ Hài uống xong, vua Nhân tôn mới ném về phía chàng một nụ cười và hỏi:
- Khanh thấy lão Tá pha trà thế nào? Và hương vị trà của ta có làm khanh hài lòng?
- Tâu thượng hoàng, Nhữ Hài nói, gương mặt chàng ửng đỏ lên vì ngượng. - Xin thượng hoàng tha tội. Thần… Thần không biết nói thế nào. Vì ở nhà, thần chỉ có uống nước vối thôi ạ.
Vua Nhân tôn bật ra tiếng cười sảng khoái. Nhà vua phải lấy tay ôm bụng để cho cơn cười hạ xuống.
Vẻ hài lòng:
- Hay lắm, khanh không có lỗi có tội gì cả. Ta mừng vì khanh còn giữ được sự trong sáng của thời học trò, chưa bị lây nhiễm các thói tật của đám quan lớn. Ước gì bộ máy cai trị của ta, mọi người đều có được phẩm hạnh như khanh. Tệ lắm, ta biết cái đám quan lớn kia, không thiếu kẻ lê la hết trà đình, tửu điếm đến lầu ca kỹ viện, ngón nào cũng tinh rành như ma. Sau các ngón ăn chơi đó là các mưu ma chước quỉ, dối trên lừa dưới, móc mổ móc họng dân lành.
Đoàn Nhữ Hài nghe nhà vua nói, và nghiệm trong hàng các quan lại mà chàng được biết, phần đông trong số họ đều có đủ các phẩm chất hệt như vua nói.
Vẻ thân mật, thượng hoàng lại bảo:
- Ta nói để khanh biết, vì có khanh nên ta mới sai lão Tá chế trà ngon, chớ riêng ra, từ ngày xuất gia, ta chỉ dùng lão mai trà, hoặc dùng trà vối như khanh thôi.
Đoàn Nhữ Hài rưng rưng cảm động. Chàng tự nhủ: "quan gia biệt đãi ta, còn thượng hoàng lại ưu ái ta. Những trọng ân ấy biết lấy chi báo đáp ngoài sự tận lực đối với công việc và tấm lòng trung của ta đối với non sông đất nước".
- Này Nhữ Hài, khanh có nghe dân chúng và cả quan lại đàm tiếu, dị nghị về việc ta xuất gia không?
- Tâu thượng hoàng, trong dân chúng cũng như quan lại, đàm tiếu thì không, nhưng dị nghị thì có.
- Chẳng hay họ dị nghị gì về ta? Khanh nói thử ta nghe.
- Tâu, họ thường nói bệ hạ là người tài đức chói ngời, công trùm thiện hạ. Hai lần cầm quân đánh tan lũ giặc Mông - Thát có sức mạnh ngang trời đất, cứu giang sơn khỏi cái họa diệt vong. Thế mà lại bỗng dưng xuất gia.
- Mọi người nghĩ thế là phải. Bởi cái mong muốn thường tình ở cõi thế gian này, là quyền cao chức trọng và của cải. Cả hai thứ ta đều có, bỗng chốc lại buông hết. Thế gian ít kẻ hiểu được lòng ta. - Gương mặt nhà vua an nhiên tự tại, không lộ vẻ vui buồn. Đoạn nhà vua như chợt nhớ ra, liền hỏi: - Riêng khanh, khanh nghĩ thế nào về việc ta xuất gia?
Câu hỏi bất chợt của thượng hoàng khiến Đoàn Nhữ Hài lúng túng. Thật tình, đôi lúc chàng có nghĩ tới, nhưng chưa bao giờ chàng lại ngờ tới một tình thế khó xử như thế này. Đành liều! Chàng tự nhủ. Và cứ thực tình tâu bẩm, chắc thượng hoàng không vì thế mà trách phạt ta. Nghĩ vậy, chàng bèn thưa:
- Xin thượng hoàng tha tội. Chính thần cũng không hiểu, vì sao thượng hoàng xả bỏ một cách nhẹ nhàng những thứ mà cả thiên hạ khát khao kiếm tìm. Thần lại nghĩ, chắc thượng hoàng phải vì một cái gì lớn lắm, thiêng liêng lắm, không cho riêng bản thân ngài, mà cho cả trăm họ, không chỉ cho ngày nay mà cho cả muôn sau. Dạ, đó là tất cả những gì mà thần nghĩ, hiểu trong việc thượng hoàng xuất gia.
Vua Nhân tôn biết đằng sau những lời nói kia là cả một tấm lòng chân thực. Giọng nhà vua trở nên ấm áp:
- Ta phải cám ơn khanh về những điều khanh nghĩ về ta. Song, quả thực những người nghĩ được như khanh hiếm lắm. Ta biết, số đông họ nghĩ về ta khác kia. Họ cho là ta giả dối. Tu vờ. Mà tu chỉ là cái cớ để đi khắp nước dò tìm kẻ đối nghịch với triều đình. Cũng có người tin là ta đi tu thật. Nhưng họ lại nghĩ, một ông vua đi tu vẫn còn sướng hơn chán vạn người khác. Ôi cái thân tứ đại thì có gì khác nhau giữa vua chúa với chúng dân. Còn như lấy miếng ăn miếng uống ra để so bì cao thấp, thì đó là một thứ nghĩ suy hạ cấp của những loài súc sinh chưa tiến hóa.
Tuy vậy từ ngày xuất gia, ta bỏ hài nhung, hài gấm, mà chỉ đi dép cỏ, bỏ áo lông áo gấm vận xô gai, bỏ trà thơm uống nước vối, hoặc chẻ gỗ mai ra pha hãm làm nước uống thay trà; bỏ thịt cá, sơn hào hải vị dùng cơm chay. Ta không phải gò mình ép xác sống khổ làm gì. Nhưng ngay cả khi ăn nem công chả phượng, hải sâm, yến sào, ta cũng có cho nó là sang là quí đâu. Chẳng qua chúng cũng chỉ là các đồ giả thực, nuôi sống tấm thân giả hợp của ta thôi chứ có gì ghê gớm đâu.
Trầm ngâm một lát, vua Nhân tôn thả cái nhìn ra ngoài trời lúc này sương đã tan loãng, bóng sao đã lặn chìm, phương đông hơi loe lóe một ráng hồng. Bất chợt nhà vua lên tiếng:
- Này Nhữ Hài! Có phải khanh nghĩ, việc ta xuất gia vì một cái gì lớn lắm, thiêng liêng lắm, không cho riêng bản thân ta, mà cho cả trăm họ, không chỉ cho ngày nay, mà cho cả muôn sau. Có phải đúng là khanh nghĩ thế hay khanh nghe ai nói thế, hay là khanh đã đọc ở sách nào?
Nhữ Hài ngượng chín người về câu hỏi có vẻ hoài nghi của thượng hoàng. Từ nãy, chàng vẫn ngắm thượng hoàng giấu tấm thân nhỏ nhắn trong cặp áo nâu sồng nhà tu. Nơi cổ ngài đeo chuỗi hạt bồ đề, mỗi viên to bằng đầu ngón tay cái. Và trên đầu, ngài trùm chiếc mũ vải kết gút nom như đầu các vị bụt ốc. Toàn thân ngài toát lên vẻ dung dị, dẫu ta có nằm mơ cũng không nghĩ rằng đó là một vị quốc vương rất đỗi anh hùng vừa cởi áo giáp, trút hoàng bào, bỏ vương trượng, để khoác lên mình tấm áo cà sa, và nắm lấy cây thiền trượng đi thuyết giáo khắp nơi, kể cả thôn cùng xóm vắng. Chàng bẽn lẽn đáp lời:
- Tâu, điều thần nghĩ là bắt nguồn từ các việc mà thượng hoàng đã làm.
- Khanh nói thử các việc ấy ta nghe.
- Muôn tâu, đó là thượng hoàng đi khắp cõi thuyết pháp, khuyên bảo dân chúng tu tâm dưỡng tính theo yếu chỉ của đạo thiền, không tin nhảm nhí, không thờ bừa bãi các tà thần, dâm thần, tạp thần. Mỗi người hãy tự tin ở mình, khai phóng nội lực, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, không vọng tưởng, không cầu tìm tha lực. Tâu thượng hoàng, theo ngu ý của thần, thì đó là một công cuộc đại khai trí cho toàn dân, thông qua việc giáo hóa của bệ hạ về ngũ giới và thập thiện, tiến tới một ngày nào đó bệ hạ sẽ khai ngộ cho toàn dân tộc.
Vua Nhân tôn hết đỗi xúc động về những lời nói không khoa trương, không xu nịnh của Nhữ Hài. Nhà vua có cảm nhận như người này có phần nào được khai ngộ bởi cái trí vô sư đã xuất hiện nơi chàng. Nghĩ vậy, nhà vua bèn dẫn dụ để chàng hiểu thêm về các công việc ngài làm, và cũng có ý muốn khai ngộ thêm cho chàng, bởi chàng là một quan lớn chăn dân. Vua nói:
- Nếu những kẻ chăn dân vừa có trí tuệ, vừa có lòng nhân, đức thiện thì dân được nương tựa, mà đạo của ta cũng có đường vào.
Ta nhớ trong lịch sử truyền giáo, đức Thích-ca-mâu-ni đã ao ước thu nạp được nhà học giả minh triết Xá-lợi-phất như thế nào. Và khi ngài Xá-lợi-phất viên tịch, Phật đau đớn thốt lên: Ôi, đạo của ta trống rỗng!. Nghe qua ý tứ của nhà vua, Đoàn Nhữ Hài biết nỗi khát khao cháy bỏng của ngài, là muốn bộ máy cai trị của ngài tóm thâu được nhiều người trí, người tài đức. Bởi người dẫn dắt dân lành mà là kẻ bất trí, bất thiện thì y sẽ biến cả xã hội thành một tổ quỉ khổng lồ. Vả lại, trong dân gian vẫn thường nói: Một người biết lo bằng một kho người làm. Vậy đó, theo ý nhà vua, quyền dẫn dắt dân chúng không thể trao vào tay những kẻ ngu khờ, ác hiểm. Và chàng tự nhủ: Chắc ta chưa đạt được mức người trí như đức vua mong muốn. Tuy vậy, ta cũng không phải hạng ngu khờ, song ta quyết không phụ lòng ngài trông đợi.
Im lặng một lát, như để cho Đoàn Nhữ Hài kịp lãnh hội cái vi ý của ngài, nhà vua lại hỏi:
- Vậy chớ khanh có còn hoài nghi gì về những việc ta làm, những điều ta nói?
- Tâu bệ hạ, thần cứ tự hỏi, tại sao lúc này bệ hạ lại hối thúc việc rao giảng ngũ giới và thập thiện đến thế?
Thoáng gợn một chút gì đó trên gương mặt bình thản của nhà vua. Đoạn ngài chậm rãi:
- Không phải chỉ lúc này ta mới rao giảng về ngũ giới và thập thiện. Nhưng lúc này ngũ giới và thập thiện là cứu cánh cho xã hội. Khanh không thấy hiện tình xã hội ta đang mắc vướng điều gì sao? Chẳng lẽ khanh không thấy trong ba năm liền, đất nước ta phải đương đầu với hai cuộc xâm lăng tàn khốc do giặc dữ Mông - Thát tràn vào các năm Ất dậu (1285) và Đinh hợi (1287), mỗi lần tới hơn năm mươi muôn (500.000) quân sao?
Như sực nhớ ra, Nhân tôn à lên một tiếng:
- Phải rồi, ngày ấy khanh còn nhỏ quá. Mới chỉ hơn 10 tuổi. Phải, khanh có phải đi chạy giặc. Có biết khổ và cả biết hãi sợ nữa. Nhưng thức nhận về tầm nguy hại của cuộc chiến, ta chắc ngày ấy khanh chưa biết.
Khanh chưa thể hình dung ra sức mạnh của 50 muôn quân với ngựa chiến, tầu thuyền cùng khí giới tinh nhuệ nhất, với các tướng tài lừng danh của một đội quân bách chiến. Chưa cần phát tác oai lực, chỉ cần 50 muôn quân ấy đi qua nơi nào, lập tức biến nơi ấy thành vùng đất chết. Bởi nhà cửa sẽ cháy rụi hết. Cây cối đổ nát hết. Ngay cỏ trên đường đi cũng không còn một cọng. Đội quân có sức mạnh trùm sông núi ấy, với chính sách tam quang tảo đãng vô cùng tàn bạo. Nghĩa là đi đến đâu chúng đốt hết, giết hết, và cướp phá hết. Bởi thế, tất cả những nơi chúng đã đi qua đều ngợp chìm trong máu và lửa. Bước chân chúng đặt tới đâu là biến nơi đó thành vùng đất chết.
Hai cuộc chiến kinh hoàng làm vậy, ụp lên đầu một đất nước nhỏ yếu với chưa đầy bốn triệu dân, trong vòng ba năm giời. Người yếu bóng vía, chỉ nghe tiếng quân reo, tiếng ngựa hí của giặc cũng vỡ mật ra mà chết, nói chi đến việc đánh lại chúng. Ấy thế nhưng người mình đã dám kình chống, và đã thắng. Do gồng sức lên trong cuộc chiến, nên hậu chiến nảy sinh không biết bao tai họa, và cũng không biết bao nhiêu công việc phải làm. Nào bệnh tật tràn lan. Nào phải xây dựng lại nhà cửa. Nào phải khôi phục lại những đất đai hoang hóa trong những năm biến loạn. Nhưng bi thảm nhất vẫn là không khí tang tóc trùm phủ khắp non sông đất nước. Nhiều nhà, giặc tàn sát không còn sót một sinh linh. Nhiều làng, giặc triệt hạ thành bình địa. Mồ mả cha ông, giặc cuốc đào.
Có thể nói, nỗi bất hạnh do chiến tranh đem lại được chia phần một cách không đồng đều cho mỗi gia đình, mỗi thân phận trong cả nước. Nó không chừa, không tránh một ai. Ngay cả hoàng gia và hoàng tộc cũng thế thôi, cũng phải chịu tang tóc và đắng cay muôn nỗi. Trong lúc thế nước lâm nguy, buộc ta phải thuận lòng đưa hoàng cô An Tư vào nộp cho tướng giặc Thoát-hoan, để làm thư quốc nạn. Rồi hoàng cô cũng thác trong đám loạn quân. Quốc thúc Trần Ích Tắc thì đem cả nhà về hàng giặc, trong lúc thế giặc đang mạnh như vỡ đê trời. Giặc đánh vỡ mặt trận phía nam, toàn quân ta và cả triều đình đều ở trong vòng vây giặc, thì người anh em thúc bá Trần Kiện, đem cả một muôn quân đi đầu hàng giặc. Y còn tự thân dẫn đường cho giặc truy đuổi quốc thúc thượng thái sư Trần Quang Khải. Nghĩa đệ của ta, tiểu tướng quân Trần Quốc Toản thì hi sinh trên đường truy đuổi giặc, ở bờ bắc sông Như Nguyệt trước ngày quân ta toàn thắng chỉ có một hôm. Ôi, còn bao chuyện đau lòng khác, kể sao cho xiết. Lại theo đó, nảy sinh biết bao điều bất như ý khác.
Nhữ Hài, khanh biết đấy, trước chiến tranh, dân ta sống chất phác, hòa hiếu biết dường nào. Nay thì nạn cướp của giết người lan tràn từ kinh thành đến cả xóm thôn thưa vắng. Trong nhiều gia đình, kỷ cương, hiếu đễ lộn đảo: con giết cha, vợ giết chồng, cháu con hỗn láo ngược đãi ông bà, cha mẹ vì đói nghèo, vì túng quẫn. Anh chị em đánh giết nhau vì tranh đoạt một chiếc niêu đất, một bó rơm. Phải, những thứ đó là hậu quả của chiến tranh. Vì chiến tranh làm cho con người quen lờn với máu, lửa, giết chóc và tàn bạo.
Trước tình cảnh đau lòng ấy, khanh bảo ta làm cách nào để trục bỏ những thứ đó ra khỏi đời sống xã hội? Ta nghĩ, chỉ còn cách giáo hóa ngũ giới và thập thiện cho mọi người. Nếu nhà nhà đều thức nhận được về ngũ giới và thập thiện; nếu người người làm theo ngũ giới và thập thiện thì chẳng bao lâu cái ác phải lui dẹp. Làm như vậy, là ta muốn hỗ tương cho quan gia đang ráng sức lo cái ăn, cái ở và học hành cho trăm họ. Ta nghĩ, nếu chuyển xoay được cả phần thế tục và tâm linh cho bách tính, thì chí ít trong vòng từ 5 đến 10 năm nữa, nước ta mới có cơ phát khởi trở lại, cường thịnh trở lại...
(Ngũ giới: Năm điều răn cấm của Nhà Phật:Không sát sinh. Không trộm cắp. Không gian dâm. Không nói càn, bậy. Không uống rượu.
Thập thiện: Gồm ba thứ: Thân thiện nghiệp do sự hành động của thân thể gây ra. Khẩu thiện nghiệp do nơi lời nói gây ra. Ý thiện nghiệp do nơi ý nghĩ, tư tưởng gây ra.
- Ba nghiệp thuộc về thân:Không sát sinh, Không trộm cắp,Không tà dâm.
- Bốn nghiệp thuộc về lời nói: Không vọng ngữ (nói dối), Không nói hai lưỡi (vu oan giá họa), Không nói ác khẩu, Không ỷ ngữ (nói điêu, nói thêu dệt).
- Ba nghiệp thuộc về ý: Không tham lam, Không sân hận, Không ngu si, tà kiến.)
CHƯƠNG 6
Vua Nhân tôn đọc đi đọc lại tới cả chục lần bức điệp của vua Chiêm. Người rất hài lòng về lời lẽ ôn nhu của Chế Mân, một vị vua trẻ tuổi mà trong bang giao lại tỏ ra chín chắn, cao nhã đến vô cùng. Nhà vua suy nghĩ mãi về lời mời của Chế Mân:
…Tôi nghe nói đức vua đã xuất gia. Vậy tôi phái vị hòa thượng trưởng lão Phật giáo của nước tôi sang kính thỉnh nhà vua qua thăm vương quốc bé nhỏ của chúng tôi. Tôi cũng mong có dịp hầu tiếp đức vua về chuyện miền đất mà các tiên đế của chúng tôi đã cắt về cho Đại Việt. Nhưng trải mấy đời nay lại xảy ra sự tranh chấp quyết liệt giữa hai nước chúng ta, khiến cho mối hòa hiếu bị tổn thương…
… Hòa thượng của chúng tôi sẽ tâu bầy với nhà vua về phong thổ, thời tiết, sản vật và nền văn hiến của Chiêm quốc. Nước Chiêm Thành tuy bé nhỏ, nhưng dân nước chúng tôi cũng biết giữ lễ, hiếu hòa và hiếu khách. Nếu đức vua quá bộ ghé thăm vương quốc của chúng tôi, chắc hẳn con người, cảnh vật và nắng ấm của đất phương nam sẽ làm nhà vua hài lòng…
… Thư nói chẳng hết lời. Tận đáy lòng tôi kính dâng lên đức vua lời chào ngưỡng mộ, và lòng khâm phục của triều đình chúng tôi đối với chiến thắng mà nước Đại Việt hùng cường thu được, trong sự nghiệp bảo tồn nền độc lập của quí quốc…
Với ánh mắt tươi rói, vua Nhân tôn trao bức thư cho Trần Anh tôn và nói:
- Quan gia đọc đi, rồi cho ta biết đối sách của quan gia với lân quốc phương nam này?.
Đoạn nhà vua quay hỏi tá thánh thái sư Trần Nhật Duật:
- Thưa thái sư, trên mặt bắc có động tĩnh gì không ạ?
Trần Nhật Duật xòe bàn tay ra vuốt ngược mái tóc lại phía sau để lộ vầng trán cao và khuôn mặt quắc thước, rồi tươi cười, nói:
- Tâu thượng hoàng, mặt bắc tĩnh lắm. Thượng hoàng cứ an tâm. Dù người có đi thăm Chiêm quốc tới cả năm cũng chưa có gì đáng quan ngại.
- Còn mặt nam thế nào, điện súy?. Vua Nhân tôn lại quay ra phía Phạm Ngũ Lão hỏi.
Dáng người to khỏe, nhưng cử chỉ nhanh nhẹn, thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đứng phắt dậy vái Nhân tôn hai vái rồi nói:
- Trình thượng hoàng, mặt nam tĩnh. Người Chiêm từ sau khi Toa-đô đại bại, họ không đóng quân trên miền đất hai Châu nữa.(Năm 1069 vua Lý Thánh tông thân chinh đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm Rudravarman Đệ tam (Chế Củ). Để đổi lấy tự do, Chế Củ phải dâng ba châu: Đại Lý, Ma Linh và Bố Chánh (thuộc Quảng Bình, Quảng Trị). Đó là vùng đất cùng với Châu Ô, Châu Lý sau này trở thành miền đất tranh chấp kịch liệt giữa hai quốc gia Chiêm - Việt.)
Thuyền bè của dân chài lưới, thuyền buôn của hai nước trên vùng biển giao lưu không xảy ra nạn hải tặc như trước.
Để đáp lại thiện chí của họ, thần chỉ để một vài đồn canh ngoài biên ải. Quân triều đình cho rút cả về Châu Ái, Châu Hoan.
Nhân tôn tỏ vẻ hài lòng. Nhà vua gật đầu khen:
- Khanh quả là sáng suốt. Quan gia sai khanh trấn biên thùy mặt nam rất hợp ý ta.
Vua Anh tôn đọc xong bức thư rồi đưa cho mọi người truyền tay nhau đọc. Trần Khắc Chung, Đoàn Nhữ Hài là hai người đọc cuối cùng.
Vua Nhân tôn chậm rãi cất lời hỏi:
- Theo ý các khanh, vua Chiêm mời ta sang Chiêm quốc có chủ đích gì? Ta có nên đi không, hay chỉ nên cử một đoàn sứ giả sang đáp lễ?.
Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão là người am tường về biên ải phía nam, liền nói:
- Tâu thượng hoàng, cứ xem ý tứ trong thư, đủ thấy chúa Chiêm là người khôn ngoan. Ông ta thấy được cái nhẽ mạnh yếu ở đời. Đây là một người xuất, xử, tiến, thoái đều có kế sách, chứ không phải người hồ đồ. Lời lẽ trong thư tuy nhún nhường, nhưng vẫn giữ được thể diện quốc gia. Chiêm quốc hiện nay không phải là nước mạnh. Cũng chưa hẳn là một nước yếu. Theo ý thần, thượng hoàng nên đi một chuyến. Chắc chắn là vị vua Chiêm này sẽ làm thượng hoàng đẹp ý.
- Ý chú Chiêu Văn thế nào?. Vua Nhân tôn bỗng chốc quên mình đang điều hành công việc triều chính, hay nhà vua muốn tỏ ý thân mật và kính trọng đối với vị chú ruột đứng đầu tướng văn, tướng võ trải ba triều.
Thượng tướng, thái sư Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật mỉm cười đáp lại:

- Tâu thượng hoàng, ta đã xử với Chiêm Thành như một nước có nền văn hiến cao. Nhẽ ra, sau khi đã ba lần đánh bại quân Nguyên, ta chỉ cần cử một đạo binh nhỏ tới thu hồi miền đất hai châu, mà quốc vương Chiêm là Chế Củ đã dâng cho Đại Việt từ thời Lý Thánh tông. Nhưng chúng ta đã không làm thế. Chúng ta cũng không có một thông điệp nào nhắc vua Chiêm về chuyện đất đai hai bên tranh chấp. Quan điện súy còn tỏ lòng cao thượng lui hết quân triều đình về tận Hoan, Ái. Thần cho rằng vua Chiêm vì cảm mến cái đức nhân nghĩa của thượng hoàng và quan gia, nên thực tâm muốn hòa hiếu. Thượng hoàng đi chuyến này ắt thành công. Ngừng một lát, như tỏ ra cân nhắc kỹ lưỡng lắm, quan thái sư lại nói tiếp:
- Tâu thượng hoàng, còn một điều thần đang băn khoăn, không hiểu trong chuyện thông hiếu giữa hai nước này, người Nguyên có xen vào mưu đồ gì không? Thần trộm nghĩ, dù họ có mưu ma kế quỉ gì cũng không lừa nổi chúng ta.
Vua Anh tôn vốn sẵn lòng ưu ái với viên quan trẻ nhất triều, mà nhà vua cho rằng mưu lược không kém gì các vị lão thần. Quay về phía Đoàn Nhữ Hài, nhà vua hỏi:
- Chẳng hay ý quan ngự sử trung tán thế nào?
Thoáng đỏ mặt như một cậu học trò hay xấu hổ, Đoàn Nhữ Hài đứng lên chắp hai tay vái hai vua, rồi nói, giọng xúc động:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia. Theo thiển ý của thần, vua Chiêm mời thượng hoàng sang là để thương lượng trả ta miền đất hai châu. Sở dĩ Chế Mân chưa làm ngay được, là vì triều đình của ông ta còn nhiều người có thế lực chống lại. Đây mới là chỗ mà vừa rồi quan thái sư ngờ có bàn tay của người Nguyên xen vào. Nếu thượng hoàng đi chuyến này, sẽ giúp cho Chiêm quốc có thời cơ giao hảo lâu dài với ta. Dù bản chất của người Chiêm có tráo trở đi nữa, họ vẫn chưa đủ mạnh để làm điều họ muốn. Cho nên thượng hoàng cứ sang Chiêm là thượng sách.
Đến lượt quan đại an phủ sứ của kinh sư Trần Khắc Chung lên tiếng. Ông có giọng nói trầm, ấm. Lại là người khéo nói, nên ai đã nghe ông nói chuyện một lần là mến mộ ngay. Với hàng ngũ quan lại trong triều hiện nay, ông được nhiều người kính nể. Người ta nể không phải vì ông có tài lạ, chức cao. Mà nể bởi sự hiện hữu của nhân cách ông. Ví như trong lúc nhiều các quan đua nhau xây dinh, lập phủ, thì ông hầu như là một ông quan nghèo, thanh liêm. Ông không có nhà riêng. Ông làm việc và ở ngay tại công đường. Đôi khi sang giảng kinh sách bên Đông cung, ông ăn, ngủ luôn tại đó với thái tử. Bởi ngoài chức đại an phủ sứ, cai quản cả kinh thành Thăng Long, ông còn kiêm chức Trừ cung giáo thụ nữa.
(-Đông cung:Chỗ ở của một người con vua được lập làm thái tử, sau sẽ lên ngôi vua. Theo truyền thuyết Trung Hoa, ngoài biển Đông có núi Đông minh, trên núi có cung điện xây bằng đá xanh, có biển đề sáu chữ Thiên địa trưởng nam chi cung (Cung điện con trưởng của trời đất). Vì thế mới gọi thái tử là Đông cung.
-Trừ cung giáo thụ: chức của quan dạy thái tử học)
Ông là người sống hào phóng, giao du rộng. Nhưng điều làm mọi người trọng ông hơn cả là việc ông đi cầu hòa với người Nguyên. Ông nói:
- Muôn tâu thượng hoàng! Muôn tâu quan gia! Theo thiển ý của thần, qua hai lần đánh quân nguyên xâm lấn gần đây, sức quân mỏi mệt, sức dân kiệt quệ. Người dân lúc này không mong gì hơn là một cuộc sống thái bình. Cho nên, bằng mọi giá, triều đình phải lập được một nền hòa bình bền vững. Dẫu rằng trong tay ta có dư binh lực, có thể tiến sâu về phương nam, mà vẫn không lo mặt bắc, thì cũng không nên động binh. Nếu Đại Việt ta muốn thu hồi miền đất hai châu, đâu có phải là chuyện khó không thể làm được. Nhưng động binh lúc này sẽ làm cho nhân tâm ly tán. Tránh sao được sự dòm ngó của ngườii Nguyên. Động binh là hạ sách.
Có người hỏi:
- Quan đại an phủ sứ nói không động binh mà vẫn thu hồi được miền đất hai châu, vậy ngài có sẵn sàng làm một kẻ thuyết khách, đem ba tấc lưỡi của Trương Nghi, Tô Tần đi du thuyết người Chiêm chăng?(Trương Nghi,Tô Tần: Hai nhà thuyết khách nổi tiếng thời Chiến quốc ở Trung Hoa cổ đại.)
Nhìn xem đó là bạn đồng liệt nào rồi Khắc Chung mới đáp:
- Té quan tả thị lang ngờ tôi là một kẻ ngoa ngôn chăng? Tôi đã vào hang ổ giặc, trong lúc thế giặc đang cường. Tôi đâu có sợ đem ba tấc lưỡi sang Chiêm. Nếu triều đình có mệnh, dù có phải đạp chông gai đi vào nước, lửa, tôi sẵn sàng sả thân chịu mệnh, chứ không phải chỉ là một tên hủ nho nhút nhát. Nhưng tôi chắc thượng hoàng và quan gia đã có kế sách rồi.
Thấy cuộc đàm luận có chiều hơi căng, vua Anh tôn bèn vẫy tay cho tả hữu ngồi xuống rồi nói:
- Những điều các khanh bầy tỏ đều hợp ý quả nhân. Nên nhớ một điều, thượng hoàng dạy ta khi người xuất gia, bây giờ ta nhắc lại để các khanh cùng biết. Người nói: Giang san gấm vóc đã thấm không biết bao nhiêu máu, xương của tổ tiên mới có được. Nay trăm họ giao cho ta gìn giữ, một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ngẩng nhìn các quan đại thần khắp một lượt, nhà vua lại nói:
- Các khanh ăn lộc triều đình, gắng hoàn thành trách vụ cho tốt. Còn việc có vào Chiêm hay không, đó là quyền quyết định tối hậu của thượng hoàng.
Tan chầu, Anh tôn mời vua cha vào hậu điện. Anh tôn cảm thấy ấm áp tình cha con. Nhà vua tự nghĩ: Thì ra không phải vua cha xuất gia để cầu nhàn hoặc cầu đắc đạo. Mà chính vua cha xuất là để xử. Vì trong mỗi bước đi, mỗi việc làm của triều đình, vua cha đều kín đáo theo dõi và giám sát chặt chẽ. Nhà vua nói:
- Thưa phụ hoàng, con được thái sư cho biết, ông hòa thượng ấy chính là người tâm phúc của vua Chiêm. Còn quan tả bộc xạ tuy là cậu ruột Chế Mân, nhưng lại có ý tranh chấp với cháu. Ông ta vào Đại Việt, là thay mặt Chiêm quốc làm việc bang giao, nhưng cũng có ý dò tìm xem Chế Mân có ngầm liên kết với Đại Việt không.
- Ta biết. Vua Nhân tôn nói. Ta đã trò chuyện kín đáo với vị hòa thượng đó ở chùa Diên Hựu (Nay là chùa Một cột). Chế Mân thực tâm cầu hòa. Ông ta là một vị vua anh minh. Ta vào Chiêm chuyến này làm việc liên kết phía nam để rảnh tay đối phó với mặt bắc. Quan gia ở nhà xem xét việc triều chính, việc biên ải cho ngặt. Cả phía biển đông nữa cũng không được lơ là. Quan gia kíp sai Nhữ Hài viết thư phúc đáp cho quốc vương Chiêm Thành. Bố cáo trước cho họ biết, đích thân ta cầm đầu phái bộ Phật giáo Đại Việt tới thăm Chiêm quốc, để trao đổi kinh sách và về sự đạo giữa hai nước. Tùy cơ ứng biến, vào đó ta sẽ làm cả việc đạo lẫn việc đời. Người Chiêm hiện thời kiêu ngạo về đội thủy binh của họ. Họ hung hăng cướp bóc tàu buôn các nước qua lại trên biển. Quan gia nên cho cái ông tả bộc xạ Chiêm quốc ấy đi xem hải đoàn của Nhân Huệ vương. Cho ông ta tận mắt thấy cảnh chiến diễn ra trên Bạch Đằng giang như thế nào. Cũng cho ông ấy xem cả tượng binh, kỵ binh của ta nữa.
(Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Chiêm Thành có lực lượng hải quân khá mạnh. Họ thường hay tổ chức cướp biển. Tàu buôn các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha…thường bị họ cướp bóc tàn tệ. Người Pháp đã gọi họ là Pirate de mer = hải tặc.)
Có thể ta sẽ đi Chiêm trước khi sứ bộ Chiêm Thành về nước. Nhưng ta đi đường bộ, để còn xem mặt nam, quân cơ phòng vệ với dân tình ra sao. Họ về bằng đường thủy. Hẳn là họ sẽ tới Chà Bàn trước ta.
Có mấy việc khi ta đi rồi, ở nhà quan gia phải lưu tâm: Thứ nhất là tới lễ tịch điền ta chưa về, quan gia phải tiến hành như thường lệ. nhẽ ra ta phải tự tay cầy cấy lấy lúa gạo để thờ cúng tổ tiên. Ấy là tỏ lòng hiếu kính của ta với các bậc tiền bối. Ấy cũng là việc tốt để làm gương cho thiên hạ. Không làm được như vậy, ta cũng phải tỏ cái tình của ta đối với việc nông tang. Quan gia cầy một hai đường cầy, có phải là quan gia cầy ruộng đâu; chính là quan gia cầy vào lòng thiên hạ. Còn thiên hạ sẽ vì quan gia mà cầy ruộng. Đấy mới chính là cái gốc của lễ tịch điền. Cũng như ngày trước, tiên đế mở Đại hội Diên Hồng. Đánh giặc như thế nào, triều đình đã có kế sách. Đâu phải tới Diên Hồng mới bàn kế đánh. Diên Hồng chính là điểm tụ hội lòng dân, khích lệ toàn dân cố kết với triều đình đánh giặc.
Một việc quan yếu nữa, quan gia phải đích thân lo liệu. Phải cấp thời mở lại khoa thi tiến sĩ cứ bẩy năm một lần, mà tiên đế đã định lệ từ năm Bính ngọ (1246). Những năm trước không mở được còn nhiều lẽ để biện minh. Đến nay không mở nữa, sẽ làm nản lòng kẻ sĩ trong thiên hạ. Ngừng một lát, như để các lời nói của mình có âm hưởng sâu xa trong tâm trí người con đang kế nghiệp, trị vì thiên hạ, Trần Nhân tôn lại nói:
- Quan gia đã nhớ kỹ lời ta dặn rồi chứ?
- Bẩm phụ hoàng, con nhớ!
CHƯƠNG 7
Thuyền vừa cập bến đông bộ đầu, Huyền Trân đã nom thấy mấy nữ tì với chiếc kiệu chờ sẵn ở trên bờ. Đám nữ tì lao xao ríu rít như một bầy chim vỡ tổ. Họ chạy túa ra mạn thuyền, đón chiếc ván lao từ thuyền xuống đặt cho chắc chắn, để rước công chúa lên bờ. Mới xa kinh thành có nửa tuần trăng, trở về cảnh đã đổi khác rồi. Rặng muỗm ven đê hôm đi mới bật lên vài chiếc lá non tim tím, nay đã trổ trắng một trời hoa. Hương hoa muỗm có mùi thơm ngai ngái. Bãi ngô bữa trước cây còn thấp lè tè thưa thoáng, nay đã cao vổng chấm lưng người, ngăn ngắt một màu xanh. Cả Thăng Long như vừa thay áo mới. Nhìn vào đâu, nhìn về hướng nào Huyền Trân cũng thấy sức sống mùa xuân đang trỗi dậy. Công chúa còn thấy như mùa xuân đang len lỏi trong huyết quản. Dưới lớp da mịn mỡ, và cả trong lồng ngực, Huyền Trân cảm nhận mơ hồ như có tới cả ngàn ngàn con kiến gió đang bò mơn man, khiến nàng lâng lâng như chính cơ thể mình đang giãn nở - đang lớn. Ôi tạo hóa thật là kỳ diệu, thật là bí ẩn khôn lường.
Còn đang ngỡ ngàng trước cảnh vật, công chúa thoáng thấy bóng một cô bé núp dưới gốc muỗm ở chéo cung đường, như đang tìm ai, đang chờ ai. Thấy có người để ý, cô bé không dám thấp thỏm nhìn về bến nữa.
Bích Huệ, Thúy Quỳnh, hai tì nữ thân cận nhất nài nỉ mời công chúa lên kiệu về cung. Khi kiệu vừa đi hết chéo đường, có tiếng gọi giật giọng phía sau:
- Chị Gái, chị Gái ơi!
Đám nữ tì vừa đi vừa nói chuyện ầm ĩ, không ai nghe thấy tiếng cô bé gọi phía sau.
Tiếng gọi lại vang lên tha thiết như giận dỗi, như trách móc:
- Chị Gái! Chị Gái ơi! Sao chị tệ thế?
Đến lúc này đám nữ tì mới nghe thấy và dừng lại. Bích Huệ hốt hoảng ngoái nhìn về phía tiếng gọi. Thoáng thấy bóng người lấp ló sau gốc cây muỗm, Huệ chạy lại:
- Tẹo! Huệ reo lên - Em đến từ bao giờ? Sao biết chị qua đây mà chờ? Trời ơi con Tẹo, sao mày gầy thế em? Thầy ốm hử? Mẹ có ra cùng em không?
Thấy chị hỏi vồn vã, cô gái có tên là Tẹo ấy ý chừng đã bớt hờn dỗi, bèn lững thững từ sau gốc muỗm bước ra chào:
- Chị gái!.
Hai chị em đang bá vai nhau thì kiệu của công chúa quay lại. Huyền Trân xuống kiệu đi về phía hai chị em Bích Huệ. Cả đám nữ tì, đứng im phăng phắc, nhìn về phía chị em Bích Huệ, tỏ ý thương cảm, và cầu mong công chúa rủ lòng độ lượng. Họ sợ hãi thay cho Bích Huệ bởi triều đình có lệnh:”Các nô, tì đã hầu hạ trong cung vua hoặc các nhà quan, không được tự tiện gặp gỡ, hoặc tiếp đãi người thân thích ruột thịt của mình. Tội đó khép ngang với tội nô, tì bỏ chủ trốn đi. Bắt được đều xử theo ngũ hình ”. Bích Huệ tái mặt sụp lạy Huyền Trân xin tha tội.
(Ngũ hình:Năm cực hình: Xuy, trượng, đồ, lưu, tử.
1). Xuy hình: Đánh bằng roi, có 5 bực (chung cho cả đàn ông, đàn bà): 10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi.
2). Trượng hình: Đánh bằng gậy (chỉ dành cho đàn ông). Có 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng.
3) Đồ hình: Đầy làm khổ dịch. Có 3 bậc: a) Dịch đinh. b) Tượng phương binh. c) Thực điền binh.
4) Lưu hình: Đầy phát vãng, có 3 bậc: a) Lưu cận châu. b) Lưu ngoại châu. c) Lưu viễn châu.
5) Tử hình: Giết chết, có 3 bậc: a) Giảo: Thắt cổ. b) Trảm: chém đầu. Chém bêu đầu gọi là khiêu. c) Lăng trì: Chặt chân tay, xẻo thịt làm cho chết dần.)
Công chúa ngơ ngác hỏi:
- Vậy chớ em có tội gì Bích Huệ? Em bé này là em của em à?
Bích Huệ gạt nước mắt tâu lại cùng công chúa về lệ triều đình cấm đoán. Công chúa cườii cảm thông và xua tay:
- Ta là người của triều đình đây. Ta không thấy chị em em có tội tình gì hết. Thôi, hãy theo ta về cung.
Nói xong, công chúa vẫy cả bé Tẹo cùng đi theo. Khi cả đám nữ tì đã xúm xít quanh kiệu, công chúa mới căn dặn:
- Ta cấm các em không được để lọt chuyện này ra khỏi cung. Nếu đã là lệ của triều đình, ai ai cũng phải tuân phục. Riêng ta, ta muốn gia ân cho các em. Khi biết là lệ của triều đình, Huyền Trân thấy mình không được phép cưỡng lại, nên mới cấm đoán tì nữ không được phép hớt lẻo. Tuy vậy, trong thâm tâm, công chúa vẫn lấy làm hậm hực. Lệ luật gì quái ác đến nỗi con cái không được gặp lại cha mẹ, chị em không được gặp lại nhau. Nàng tự nhủ:Nếu ta có quyền lực, ta quyết bãi bỏ ngay lập tức những điều cấm kỵ bất công này.
Về phòng riêng của Bích Huệ, bé Tẹo thấy cái gì cũng lạ, cũng nhìn ngó, hỏi han. Điều làm Tẹo kinh ngạc là ở đây cái gì cũng đẹp cũng quí mà ở chốn dân dã quê mùa, Tẹo chưa bao giờ nhìn thấy.
Vừa hoàn hồn, Bích Huệ vội dặn em đôi điều. Nào không được nghịch ngợm sờ mó đồ vật. Không được tò mò đi lại. Tất cả những gì cấm kỵ, Huệ đã nhắc nhở dặn em kỹ lưỡng. Kể cả việc không được gọi cô là Gái. Cái tên cha mẹ đặt cho ấy đâu có hợp với chốn cung cấm đài các này. Lúc này Huệ mới chợt nhớ ra: Vậy chớ con bé lên đây có việc gì? Cô hỏi em:
- Ở nhà thầy bu có khỏe không em?
Dường như chỉ chờ có dịp chị hỏi đến, cô bé tủi thân òa khóc nức nở. Nó càng ấm ức khi thấy ở đây, chị nó sống sung sướng. Cái gì cũng thỏa thuê, thừa mứa. Thế mà chị nó chẳng nghĩ gì đến bố mẹ và chị em nó ở nhà, quanh năm đói rách. Bố thì từ khi quan bắt phải đi lao dịch trở về, không ngày nào không ốm. Ngã nước, bố phải hai lần nuốt giun đất, bệnh lại càng tăng. Mẹ ngày nào cũng lùi lũi đi làm ruộng cho nhà quan. Ruộng nhà, chỉ có mấy chị em bé bỏng, làm được đến đâu hay đến đó. Lúa xấu như cỏ may. Bao nhiêu nỗi đói khổ, tủi sầu, cái Tẹo định bụng gặp được chị thì phải kể lể hết mọi khúc thôi. Nhưng giờ đây, nó lại không muốn nói một tí gì. Nó cứ ôm mặt khóc tức tưởi. Cho mãi tới khuya, chị nó mới tỉ tê dỗ được nó nói. Giờ lại đến lượt chị nó khóc. Nó ngạc nhiên không hiểu tại sao chị nó lại khóc.
Nó liền hỏi:
- Chị Gái ơi, chị ở đây sướng thế, sao chị còn phải khóc?
Bích Huệ thấy tủi thẹn vô cùng. Ngay đến nỗi khổ của mình, người thân cũng đâu có hiểu để mà chia sẻ. Đúng là Huệ ở đây sung sướng thật. Nhưng đó là nỗi sung sướng của một con lợn, được người ta nhốt vào chuồng chăm sóc. Còn phận con hầu vẫn cứ là con hầu, chứ có gì thay đổi. Đến nỗi cha mẹ yếu đau đói rét, không làm sao có được lấy một xu quà bánh thăm hỏi, còn nói gì đến việc báo hiếu, phụng dưỡng. Ngay cái quyền được đi lại, thăm nom người thân thích ruột thịt của mình, cũng không có nữa. May được bà chúa này là người nhân hậu che chở cho, nếu không, cả hai chị em, cả cha mẹ lại vướng vào tội lưu đầy. Mai đây cái Tẹo về quê, lấy gì cho nó đem về kính mẹ biếu cha? Nhũ mẫu là ngườii quản lý khắt khe. Bà không cho phép ai có cái gì thừa. Quần áo, năm vài ba bộ. Khi được may bộ mới, phải trả lại bộ cũ để nhập vào kho chẩn cấp cho người nghèo. Bích Huệ cứ loay hoay không biết xử sự thế nào trong hoàn cảnh éo le này cho phải lẽ, Mãi tới gà gáy sang canh, Huệ mới chợp mắt được.
Lại tiếp đến một giấc mơ hãi hùng. Huệ mơ thấy có một người đội mũ trụ vàng, tay cầm bảo kiếm chỉ vào mặt cô, bắt cô phải xuống thuyền. Khi bước xuống thuyền đã thấy công chúa Huyền Trân ở đó, mặt rầu rầu, mắt đau đáu nhìn lại phố xá kinh thành, còn phía sau là biển cả. Thuyền giương lên chín lá buồm đỏ thắm. Những cánh buồm no gió kéo con thuyền lao đi vun vút. Bích Huệ sợ quá hét lên. Mồ hôi toát đầm người. Huệ không làm sao lý giải được, cứ trằn trọc mãi tới khi nghe tiếng tù và báo thức của trại cấm binh, cô liền vùng dậy ra cửa ngó nhìn tứ phía, xem có gì khang khác không. Thực tình Bích Huệ sợ người ta ập đến bắt chị em cô, mà giấc mơ như một điềm báo trước.
Buổi sáng, cơm nước vừa xong, công chúa cho gọi Bích Huệ lên thư phòng có việc. Huệ lo lắng vô cùng.
Thư phòng là nơi công chúa học hành, đọc sách, chỉ có nhũ mẫu được phép ra vào, hoặc giả một đôi khi có thù tiếp với khách văn chương. Cớ sao Huệ lại được gọi lên đây? Bích Huệ lo lắng đến bồn chồn.
Trước khi lên gặp công chúa, Huệ dặn em:
- Em ơi, nếu công nương có quở phạt, chị một mình chịu tội. Chị ráng xin để em được trở về nhà.
Nói rồi, nàng lủi thủi bước lên thềm. Mỗi bước đi như lê theo cả một sợi xích dài nặng trĩu.
Thấy Bích Huệ vào, công chúa tươi cười nắm lấy cánh tay Huệ lắc lắc:
- Em cảm thông cho ta nhé. Dẫu sao cũng không thể để cho em của em ở lại trong cung được. Ta e việc này lộ ra, có kẻ đàn hặc thì nguy hại cho em, chớ ta sợ gì. Mọi việc ta đã nhờ nhũ mẫu thu xếp. Em vào trong này cho nhũ mẫu căn dặn.
Bích Huệ đi vào phòng trong, thấy nhũ mẫu vẻ mặt đăm đăm đang ngồi bên một đống những gói cùng bọc. Bà chỉ cho Bích Huệ ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Bà nói:
- Thân phận ta với em chẳng có khác gì nhau cả. Ta cũng thương em như thương ta thôi. Không có việc gì em phải khép nép sợ sệt ta. Các em thấy ta nghiêm quá phải không? Ta biết vậy. Nhưng ta nghĩ lại, dù ở vị thế nào cũng phải hoàn thành trách vụ tới mức cao nhất, để không ai có thể chê trách được mình. Việc của em, công chúa trao cho ta lo liệu. Mấy bọc này là quần áo cũ sửa lại đem về cho các em. Bọc này là hai tấm lụa, đem về cho bố, mẹ em. Còn đây là hai nén vàng ròng.
Nhũ mẫu vừa nói vừa đặt mấy nén vàng vào tay Bích Huệ.
Sực nhớ đến bà lão ăn xin ngoài chợ bữa trước ở Thiên Trường, cô vội rụt tay lại. Nhũ mẫu nhìn Bích Huệ cười:
- Em cứ cầm lấy. Tất cả là của công chúa cho em. Để tránh phiền phức, công chúa còn viết cả tờ bảo chứng nữa, phòng khi ra cổng hoàng thành gặp lính canh xét hỏi. Hoặc khi về nhà, xã quan, phủ quan ra vào hoạnh họe.
Tay nắm chặt nén vàng, mắt nhìn nhũ mẫu mà Bích Huệ vẫn cứ tưởng mình nằm mơ, bay lên chín tầng trời được bà tiên cho của.
Phút mơ màng của Bích Huệ chưa qua, nhũ mẫu lại nói:
- Em còn được công nương cho phép về quê thăm cha mẹ, họ hàng mười ngày nữa. Vậy là công nương biệt đãi em nhiều lắm đó. Ráng mà tận tâm với người.
Bích Huệ vái dài nhũ mẫu hai vái rồi trở ra sụp lạy Huyền Trân. Công chúa đỡ Bích Huệ dậy, an ủi vài lời, khuyên Huệ nên thu xếp đi ngay.
Xách mấy bọc gói và hai nén vàng về phòng riêng, Bích Huệ vội gọi em:
- Tẹo! Tẹo ơi! Lại đây chị bảo.
Đang nằm quay mặt vào tường đùa với con mèo trước tấm gương, chợt nhìn thấy Bích Huệ bước vào, lại nghe giọng nói như reo của Huệ, biết là có chuyện gì vui lắm, Tẹo vùng dậy đón lấy mấy bọc gói từ tay Huệ và hỏi:
- Chị Gái!… Suỵt em quên, chị Huệ ơi, chị lấy đâu ra những thứ này.
- Đây là những váy áo cũ của người hầu như bọn chị thải ra, công chúa ban cho chị đem về quê đấy.
- Thật ư chị Huệ, chị cho em một chiếc váy lành nhá. Váy em rách hết cả rồi.
- Được! Được! Cứ đem về, cái nào em thích, em mặc vừa là của em. Vừa nói, Huệ vừa mở tay đẫy lôi ra cho Tẹo xem.
- Ối giờ, cơ man nào là váy đẹp. Mắt Tẹo bừng sáng lên. Hết ướm bộ này, Tẹo lại ướm sang bộ khác, tới cả chục bộ mầu sắc lộng lẫy làm Tẹo hoa cả mắt. Tẹo đứng ngắm đống váy áo mà không dám tin đây là sự thật, bèn quay lại hỏi chị.
- Chị Huệ ơi, có đúng là công chúa cho chị đem về nhà mình, hay đây là xiêm áo công chúa ban cho chị mặc khi hầu hạ người.
- Chị nói thật mà, đây là những thứ bọn chị thải bỏ, nhũ mẫu thu lấy để chẩn cấp cho người nghèo mỗi khi công chúa đi thăm viếng các miền quê. Chị không nói dối em đâu.
Chợt nhận ra điều gì, mặt Tẹo buồn thiu, nhìn chị với vẻ thất vọng - Cơ mà đây là những thứ xiêm y sang trọng, chỉ có thể mặc đi chơi hội hoặc mặc vào ngày tết thôi, chứ không mặc đi làm đồng được đâu chị Huệ.
Huệ khẽ tát yêu vào má em gái - Sao em ngốc thế, chỉ để lại vài bộ mặc ngày hội thôi, còn thì nhuộm nâu, nhuộm chàm, nhuộm đen đi mà mặc.
Tẹo cười hớn hở - Ừ, em ngốc thật.
- Thôi đi ngủ, Huệ bảo em - Mai chị em mình về sớm kẻo thầy u mong.
CHƯƠNG 8
Huyền Trân về tới kinh thì được tin phụ hoàng đã lên đường đi thăm Chiêm quốc từ mấy bữa trước. Vua Nhân tôn có để lại cho con gái mấy dòng viết trên nền giấy long tiên, do đích thân Đặng Dương đem từ cung Thánh Từ (Tên đặt cho cung điện, nơi thượng hoàng sau khi đã truyền ngôi cho con, lui về ở đó) sang trao tận tay cho công chúa. Huyền Trân cứ đọc đi đọc lại và ngắm nghía nét chữ của vua cha viết rất chân phương trên tờ giấy nền vàng, có điểm vết bạc lưa thưa và có vẽ hình rồng óng ánh kim nhũ.
Lão Dương dâng bức thư cho công chúa xong chắp tay đứng chờ. Không hiểu công chúa mải xem thư cha, hay còn muốn lưu lão lại hỏi chuyện, nên chưa có lệnh lui. Cũng vì chưa có lệnh nên lão Dương vẫn cứ phải chắp tay đứng hầu. Trong khi đó nơi xương sống lão cứ đau sụn xuống, như có hàng trăm con rết đốt cùng một lúc, buốt tận óc. Lão cắn răng, oằn người chịu đau, chứ lão không tự ý xin lui. Đời lão chưa mở miệng xin xỏ ai một tí gì. Công chúa mải đọc thư cha, hết suy nghĩ về những điều vua khuyên nhủ, lại tưởng tượng ra cảnh non sông thành quách của Chiêm quốc - nơi vua cha sẽ tới. Chợt công chúa quay ra thấy lão Dương vẫn đứng chắp tay với vẻ nhăn nhó. Nàng kinh ngạc hỏi:
- Lão chưa về ư? Có chuyện gì nữa đấy lão Dương?.
- Ôi ta vô ý quá. Tại ta mải đọc thư của phụ hoàng để lão phải đứng chờ mãi. Xin lão bỏ lỗi cho ta. Nếu lão không có việc gì bận lắm, mời lão hãy nán lại giây lâu. Lão ngồi vào bàn kỷ này cho đỡ mỏi.
Gượng ngồi vào mép kỷ, lão Dương chậm chạp thưa:
- Bẩm công nương, chẳng hay công nương có điều gì sai bảo?
- Lão dạy quá lời. Ta đâu dám lạm quyền. Dẫu sao lão vẫn là ân nhân của thượng phụ ta.
- Trước sau tôi cũng chỉ là một tên nô bộc. Công nương cứ tự tiện sai bảo.
- Ta chỉ phiền lão kể giùm cho nghe một vài chuyện, hồi lão và các bậc tiền bối của ta đánh giặc Thát. Về chuyện lão cõng thượng phụ ta từ thuyền phi thân vào bờ, ta đã được nghe phụ hoàng kể lại. Ta cứ cho việc ấy phải có thần giúp rập, chứ sức người làm sao nổi. Có đúng vậy không lão Dương?
- Dạ, đúng như công nương dậy đấy ạ. Sức người thường sao làm nổi. Nhưng theo ngu ý của kẻ tôi tớ này, nếu có thần linh giúp sức, sao lão còn bị sụn xương sống, hỏng cả một đời người?
- Ờ, ờ… tội nghiệp cho lão. Vậy lão kể lại chuyện ấy đi!.
- Thưa công nương, chuyện của lão, công nương đã nghe rồi. Bây giờ kể lại nó vô duyên quá. Nhưng còn nhiều chuyện khác mà lão biết, lão xin kể hầu để công nương nghe. Chẳng hạn như chuyện bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng đã thét vào mặt giặc khi chúng dụ hàng:”Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”.
- Đa tạ lão phu. Truyện đó ta đã có nghe đôi ba lần.
- Vậy chớ còn chuyện quan đương kim đại an phủ sứ của kinh sư vào trại giặc cầu hòa, công nương đã nghe chưa?.
- Dạ, chuyện đó ta mới chỉ nghe loáng thoáng, chưa có ai kể được tường tận. Có đôi lần ta nài nỉ chính quan đại an phủ sứ kể cho nghe, nhưng lần nào ông cũng tìm cớ thoái thác. May ra lần này…
Công chúa đang nói, gương mặt bỗng ửng hường, nàng có ý hơi thèn thẹn.
Lão Dương vội đỡ lời.
- Bẩm công nương, ấy là vào khoảng năm Ất dậu (1285), vua Nguyên sai thái tử là Thoát-hoan thống lĩnh năm chục vạn quân, lấy cớ là mượn đường đi đánh Chiêm Thành để xâm lấn bờ cõi bờ ta…
- Giống như chuyện đồ Ngu diệt Quắc - công chúa nói xen vào.
(Nước Sở muốn đánh nước Ngu phải qua nước Quắc. Vua Sở hẹn với nước Quắc xin mượn đường đem quân qua Quắc để diệt Ngu. Và hứa khi nào diệt xong Ngu sẽ chia đôi công quả. Quắc bằng lòng. Khi quân Sở vào đất Quắc rồi bèn diệt luôn Quắc sau đó mới diệt nốt nước Ngu. Qua chuyện này ý muốn nói đến sự tráo trở của người Nguyên.)
- Dạ, công nương nói chí phải. Sau gần ba chục năm thái bình. Ấy là kể từ khi quân Nguyên lấn vào cõi bờ ta ở quãng năm Đinh tị (1257), chúng bị bại phải rút về. Nay chúng lại sang. Sức giặc cường lắm. Quân kỵ của chúng nếu thả sức ra ngày đi tới trên trăm dặm. Chúng thoắt tiến thoắt lui chớp nhoáng, biến ảo khôn lường.
Để địch lại với chúng, triều đình ta cử đức Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương thống lĩnh chư quân sự. Vào đầu cuộc chiến, quân Nguyên tiến binh ào ạt như nước chảy, mây bay.
Thế giặc lớn lắm. Nhiều nơi quân ta bị vỡ. Tình hình nguy cấp. Ngày mồng sáu tháng giêng. Ấy là lão vẫn nói về năm Ất dậu đó. Chính cái năm đức Khâm từ sinh hạ công nương trên đường chạy loạn. Công nương sinh ra giữa gan bàn chân trái có một nốt ruồi son đỏ chót.

Thấy lão Dương nói có nốt ruồi son nơi gan bàn chân, Huyền Trân vội rút chân khỏi hài, kín đáo nhìn, quả đúng như lời lão. Nàng vẫn thấy người ta nói, nốt ruồi son ở chỗ kín, là biểu hiện của quí tướng, nên cảm thấy vui vui.
Lão Dương vẫn chậm rãi nhả ra từng tiếng chắc nịch:
- Quan thái bốc xem tử vi nói công nương có tướng cực quí. Nhưng chỉ phát ở ngoài cõi… A mà miên man quá, lão nói đến chỗ nào rồi thưa công nương?.
Công chúa lòng còn đang muốn nghe cái đoạn quan thái bốc nói về số phận mình, lão Dương đột ngột dừng. Song nàng không tiện hỏi thêm. Vả lại nàng còn muốn biết việc đi cầu hòa của Khắc Chung, nên lại vui vẻ nhắc:
- Vừa giờ lão nói đến ngày mùng sáu tháng giêng.
- Dạ, dạ, thưa công nương cái năm ấy, kể như không có tết. Vì quân Thát đánh vào ải Nội Bàng từ cuối tháng chạp. Tới mùng sáu tháng giêng Ô-mã-nhi đánh tan quan quân ở Vạn Kiếp. Ngày mười hai, giặc đã tới Vũ Ninh, Đông Ngàn, Gia Lâm. Thế ta núng lắm. Hai vua buộc phải đem An Tư công chúa, em gái út của thái thượng hoàng ta bây giờ dâng cho Thoát-hoan. Nhưng sức má hồng sao cản nổi vó ngựa quân Nguyên. Thế nước ngàn cân treo sợi tóc. Trong lúc ấy thì thượng vị Chương Hiến hầu Trần Kiện, con của Tĩnh Quốc đại vương và liêu thuộc, là bọn Lê Tắc đem cả nhà cùng với một vạn quân đầu hàng giặc. Rồi thượng vị Văn Chiêu hầu Trần Lộng tới hàng tại dinh Thoát-hoan. Ngay cả đến Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, một người văn học lẫy lừng được thái thượng hoàng yêu quí cũng hàng giặc. Tiếp đến là bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đều đem cả nhà theo giặc. Thăng Long sắp mất. Trước tình thế đó, vua cần một người đi dò la thế giặc, đưa thư xin hòa. Là cốt để làm chậm bước tiến của quân Nguyên. Vua còn đang phân vân chưa biết sai ai, thì chi hậu cục thủ là Đỗ Khắc Chung, liền chạy đến tâu rằng: “Tôi là kẻ ti tiện không có tài cán gì, xin đi”. Vua mừng lắm, nói rằng:”Biết đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại chẳng có ngựa kỳ ngựa ký”. Bèn sai Khắc Chung đem thư tới trại giặc xin giảng hòa.
Ô-mã-nhi đập án quát mắng:
- “Vua nước ngươi vô lễ, sai người thích chữ”Sát Thát”, khinh nhờn quân thiên triều, tội ấy to lắm”.
Chả là trong quân, vì lòng căm ghét giặc, thảy mọi người đều thích hai chữ “SÁT THÁT” vào cánh tay. Tỏ ý giết giặc Thát đến cùng. Khi mặt trận Đông Ngàn, Vũ Ninh vỡ, giặc bắt được quân ta, người nào trên cánh tay cũng có hai chữ đó. Chúng tức lắm, giết hại rất nhiều. Ô-mã-nhi mắt đỏ sọc hết nhìn vào mặt quan chi hậu cục lại nhìn vào thanh gươm để trước mặt, có ý hù dọa rằng “Ta sẽ cắt đầu ngươi bằng thanh gươm này”.
Quan chi hậu cục thủ mặt không biến sắc, thản nhiên đáp:
- Sự thường chó trong nhà cắn người lạ, vì không phải là chủ nó. Đây hẳn là do lòng trung thành tức giận, sĩ tốt họ tự thích mực lấy, quốc vương tôi có biết đâu.
- Ngươi còn già mồm cãi nữa, ta sẽ cắt lưỡi. Đây không phải nơi dùng lưỡi của Tô Tần, Trương Nghi mà khua khoắng. Ô-mã-nhi vẫn quát mắng thô lỗ tục tằn. Rồi y gõ ba tiếng vào chiếc chậu đồng để trên giá. Lập tức có hai tên lính khiêng vào một chục mâm thau phủ nhiễu đỏ. Chúng đặt ngay trước mặt Khắc Chung. Ô-mã-nhi đứng dậy giật tung vuông khăn phủ, lộ ra một mâm đầy những chiếc cánh tay có thích hai chữ “SÁT THÁT” màu chàm.
Quan chi hậu cục bèn đứng dậy nói:
- Tướng quân quả là tàn bạo. Tôi đã nói quốc vương tôi không biết tới việc này. Nếu không, tôi là kẻ hầu cận, sao việc ấy lại không có. Nói xong, bèn vén cả hai cánh tay áo lên.
Ô-mã-nhi đuối lý nói lảng sang chuyện khác:
- Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở ngược giáo cùng đến ra mắt, mà còn chống cự mệnh lệnh? Vua tôi nước ngươi lớn mật, dám lấy càng con bọ ngựa chống lại bánh xe. Ngươi có biết sự thể rồi sẽ ra sao không?. Ô-mã-nhi chìa hai bàn tay ra bóp vào không khí rồi nắm lại xoắn xoắn, kiểu như người bóp một quả trứng.
Vị sứ giả của nhà vua vẫn tỏ ra ôn nhu trước viên tướng giặc. Y cứ lồng lên như một con sư tử vừa vướng bẫy. Khắc Chung trả lời:
- Hiền tướng không theo kế sách của Hàn Tín bình nước Yên ngày xưa đóng quân ở địa giới, đưa thư tín trước, nếu không chịu hòa hiếu mới có lỗi; nay đem quân bức nhau, tức như người ta nói “muông cùng phải đánh lại, chim cùng phải mổ lại, huống chi là người”.(Hàn Tín là tướng của Hán Cao tổ, muốn đánh nước Yên hỏi Lý Tả Xá. Tả Xá bàn nên viết thư đưa cho nước Yên để dụ. Hàn Tín theo kế, đưa thư cho nước Yên, quả nhiên nước Yên đầu hàng không phải đánh.)
Vẫn cái giọng dọa dẫm, Ô-mã-nhi nói:
- Đại quân của ta mượn đường nước ngươi để đi đánh Chiêm Thành, vua nước ngươii nếu đến gặp nhau thì trong cõi yên ổn, không xâm phạm mảy may, nếu cứ chấp mê thì trong khoảng giây phút, núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ mục.
Khắc Chung liền đáp:
- Tướng quân lấy gì bảo đảm để chúng tôi khỏi ngờ rằng đây không phải là kế đồ Ngu diệt Quắc?
- Nói rồi Khắc Chung cáo từ ra về.
Lão Dương dừng lại giây lâu. Công chúa đang háo hức nghe như uống lấy từng lời, cảm thấy sốt ruột, bèn giục:
- Lão kể tiếp đi.
Vẫn cái giọng đều đều chắc nịch, lão tiếp:
- Nghe đâu khi quan chi hậu cục thủ về rồi. Ô-mã-nhi nói với các tì tướng rằng:”Người ấy đương lúc bị uy lực áp chế mà lời nói, sắc mặt vẫn tự nhiên, không hạ thấp chủ nó làm Chích, không nịnh hót ta làm Nghiêu, nước nó có người giỏi, chưa dễ đánh lấy được”.
Rồi Ô-mã-nhi sai người đuổi theo bắt lấy, nhưng không kịp. Quan ta ra cản, hai bên đánh nhau.
“ Quả là một vị anh hùng! Huyền Trân thầm nghĩ - Tranh biện hơn thua ở chốn muôn chết mà vẫn giữ được khí tiết, là việc không phải xưa nay ai cũng làm được”. Công chúa hít vào một hơi thở sâu, như muốn chôn chặt vào lòng các sự tích kỳ diệu của một con người, mà bấy lâu nay nàng ngưỡng mộ. Đoạn Huyền Trân quay ra nhìn lão bộc với ánh mắt dịu hiền như thầm biết ơn lão. Một lát, nàng nói:
- Cảm ơn lão phu.
- Không dám! Không dám! Lão Dương giẫy nẩy lên - Xin công nương đừng xếp nhầm tôi vào hàng các đấng bậc. Thân phận tôi suốt đời chỉ là kẻ nô bộc.
- Lão phu nhìn nhận như thế nào về phẩm cách quan đại an? Ấy là tôi muốn hỏi ý lão về ông ta ngay cả trong thời bình.
Với vẻ khó chịu, nhưng rồi lão Dương cũng ép lòng mình thuận theo những đòi hỏi tò mò của một cô bé mới mười lăm mười sáu tuổi.
- Mong công nương bỏ lỗi cho, phận nô bộc như lão, nhân danh gì để thẩm định phẩm cách một vị đại thần? Nhưng lão trộm nghĩ, con người ông ta, có gì đã bộc bạch hết cả ra ngoài rồi đấy. Lúc có giặc thì xả thân vì nước. Lúc thái bình lo giúp rập vua, chứ không đua đòi vét của dân xây dinh lập phủ. Công chúa thử xem các quan giữ chức đại an phủ sứ ở kinh này từ trước tới nay, có ai là người không có phủ đệ nguy nga, hay chỉ có quan lớn Trần Khắc Chung? Một người trong sáng như thế, còn gì nữa để phẩm bình? Nhưng thưa công nương, cuộc đời cũng như nắng sớm mưa chiều, biết thế nào mà nói trước. Có khi hôm nay là người thiện, mai đã thành kẻ ác. Cũng ví như Chiêu Quốc vương Ích Tắc, nếu không có chuyện quân Thát vào cõi, thì sao biết được bụng bán nước cầu vinh của ông ta. Ông ta đủ các điều đạo lý để răn dạy thiên hạ. Lại ví như không có quân Thát vào, thì sao Bình Trọng tỏ được cái bụng trung dũng ngất trời của một vị Bảo nghĩa vương?.
Công chúa cúi xuống với vẻ suy tư, một lát nàng ngửng nhìn lão bộc, nói:
- Cảm tạ lão lắm lắm. Chỉ nghe lão kể ít giờ, ta hiểu thêm được bao điều rõ ràng khúc triết, mà trước đây những việc ấy ta được nghe, cũng giống như ta trông vào đám sương mù dày đặc. Quả thật hơn nhiều lắm so với sách của vài nhà soạn gần đây, nói về cuộc chiến. Bởi các tác giả chỉ thiên về việc múa bút khoe văn, mà ít chú trọng đến thân phận con người, còn công trạng thì phẩm bình thiên lệch. Ta ước sao thi thoảng lão ghé qua chơi, lão lại kể cho nghe đôi điều hữu ích. Còn bây giờ ta không dám lưu lão nữa. Chắc hẳn lão đã mỏi:
Lão Dương chống hai tay vào đầu gối đứng dậy vái chào công chúa, rồi bước ra. Ông đi với cái dáng khom khom, tập tễnh.
CHƯƠNG 9
Từ buổi nghe lão bộc nói rõ lai lịch việc đi cầu hòa của Đỗ Khắc Chung. Trải đến việc Khắc Chung được ban quốc tính. Bỗng nhiên trở thành người đồng tông với mình, trong lòng Huyền Trân dấy lên sự kiêu hãnh. Lạ thay, công chúa thấy có cái gì đáng muôn ngàn lần cảm phục ở con người này. Nàng chỉ muốn gần gũi, muốn trò chuyện, muốn khám phá xem trong đầu óc con người ấy có gì khác với người thường. Như lão Dương nói, thì rõ ràng là ông ta không bon chen danh vọng, không tham lam của cải, không úy tử tham sinh. Đích thị là một anh hùng chân chính. Nếu như quan đại an phủ sứ không có được đầy đủ những đức tính đó, thì ít ra cũng là sự đắp điếm thêm vào của công chúa, để con người hùng nàng vẽ ra mà phục, mà cảm cho riêng nàng đó được toàn bích.
Đã bao lần nàng toan mượn cớ thăm đông cung thái tử, họa may có cơ hội được diện yết quan đại an phủ sứ. Đông cung thái tử với Huyền Trân là chỗ cô cháu ruột, nàng có ghé thì cũng là chuyện trong nhà, chẳng có điều chi đáng ngại. Tuy vậy, nàng cũng vẫn chưa dám đường đột xông pha. Một phần e bà kế mẫu Tuyên từ là người hết đỗi nghiêm khắc, đến quan gia cũng không dám cưỡng lời bà. Nhưng người mà công chúa cho là khó vượt qua được lại chính là nhũ mẫu. Nhũ mẫu nuôi nấng, săn sóc nàng từ khi mới lọt lòng. Về vị thế trong cung cấm, bà chỉ là một kẻ hầu hạ. Song về tình thương, bà ngầm xem công chúa như con ruột bà. Ấy là bà mạo muội nghĩ vậy. Kể cũng đúng thôi. Trong cuộc đời bà, ngoài công chúa ra, bà còn có ai để mà yêu, mà thương, mà hờn giận. Tủi cho bà là tất cả tình cảm chân thực của bà dành cho công chúa, lại chỉ được bày tỏ một cách thầm lén. Còn về phía công chúa, nàng coi sự săn sóc, tình yêu và cả lòng tôn kính của nhũ mẫu đối với nàng là bổn phận. Công chúa phải nể trọng nhũ mẫu là bởi có lời thác của bà Khâm từ thái hậu, mẹ đẻ của nàng, trước giờ lâm chung. Và cả lời ủy của thượng hoàng trước khi nhà vua xuất gia. Cũng bởi sự tin cậy đó, nhũ mẫu càng thấy mình có trách nhiệm lớn lao, đôi khi bà mơ hồ cảm thấy, dường như bà có cả chút uy quyền nào đó đối với nàng. Song chưa bao giờ bà dám vượt quá khuôn khổ cho phép của một nhũ mẫu.
Ít bữa nay nhũ mẫu thấy cô chủ của mình có gì hơi khang khác. Biếng ăn, biếng học, biếng cả đọc sách nữa. Khác hẳn với trước, không lúc nào nàng có thể dời được quyển sách ra. Đến nỗi bà phải lo sợ về sự ham mải đọc sách và học hành của công chúa. Đêm khuya, giật mình tỉnh giấc, các chuyện yêu quái nghe từ đời nảo đời nào, bỗng dưng hiện về, sợ đến lạnh buốt cả sống lưng. Lẩn thẩn, có lúc bà sợ cô chủ lại biến thành một cuốn sách, nằm lăn lóc, lẫn lộn với hàng trăm ngàn cuốn khác. Và tới một lúc nào đó, cô lại từ cuốn sách chui ra như kiểu các cô tiên trong chuyện cổ. Nhũ mẫu lấy làm lo lắng hỏi công chúa. Nàng nói là không có bệnh tật gì. Không yên tâm, nhũ mẫu thốc tháo chạy sang gặp trung quan (danh xưng của quan hoạn thời Lý-Trần) Nguyễn Hoán bên nội cung. Nhũ mẫu còn đứng ngoài rèm chưa kịp lên tiếng, đã nghe thấy giọng nói the thé:
- Ai đấy! Ai hỏi gì đấy?
Nghe cái giọng nói rất khó chịu ấy, bà cũng đã biết là ai rồi?
Một người gầy đét, có khuôn mặt choắt như mặt khỉ. Mũi quặp, sống mũi gẫy, lông mày thưa gần như trụi. Nước da xanh mét như chàm, ló ra nhìn nhìn ngó ngó. Biết trung quan vốn là người khó tính, hách dịch, lại hay đòi quà cáp. Nhưng là đối với các hàng phi, tần người ta cần cầu cạnh, chứ nhũ mẫu có cầu chi, nên bà bình tĩnh chắp tay vái:
- Bẩm trung quan!.
Nguyễn Hoán gật gật cái đầu nhỏ thó, cả chiếc mũ bình thiên khá rộng cũng gật gật xoay xoay, nom như một con rối. Trung quan tóp tép nhai trầu, vừa nhai vừa nói, nước trầu phun cả vào mặt nhũ mẫu:
- Vậy chớ ngươi có việc gì sang bẩm đấy?
- Trình quan, mấy bữa nay công chúa biếng ăn, biếng ngủ, chẳng biết bệnh tật thế nào, xin ngài bẩm giúp vào đức Tuyên từ.
- Hí, hí… Lão quan hoạn đổi giọng cười. Đột nhiên lão ngừng. Nói như gắt – Có việc gì lớn mà phải bẩm lên đức Tuyên từ. Để đó, ta báo sang viện thái y. Về đi!.
Lão nói như người đuổi. Không thêm một lời nào, nhũ mẫu quay ngoắt về cung. Bà không có cảm giác gì buồn, vui hoặc mất mát. Nhưng sao bà lại thấy trong lòng có gì như hụt hẫng.
Nhũ mẫu về cung hồi lâu thì có quan thái y đến. Công chúa nói chuyện vui vẻ với quan thái y, khiến ngài cũng phải thừa nhận rằng nàng không có bệnh tật gì. Trước khi quan thái y về viện, công chúa ngỏ lời:
- Phiền quan thái y cho ta xin vài ba đồng cân “A ngùy”. Để ta gọi tì nữ theo ông về bên đó lấy.
Quan thái y trợn tròn mắt kinh ngạc:
- Thưa công nương, chẳng hay công nương dùng vị thuốc đó làm chi?. Rồi ông mỉm cười.
Công chúa đỏ mặt, trả lời bằng một câu hỏi:
- Vậy chớ ông có biết ta dùng nó vào việc gì không?. Rồi nàng quay ra truyền Bích Huệ lên hầu.
Bích Huệ từ bữa được công chúa gia ân, lại cho tiền bạc về quê thăm nhà, tỏ ra một người mẫn cán, tận tụy hết mức. Bích Huệ thường nói với bạn bè:
- Không những công chúa cứu sống tôi mà còn cứu sống cả gia đình tôi. Ơn cứu tử đó, ngoài tấm thân tôi ra, còn biết lấy gì đền đáp.
Bích Huệ được quan thái y trao vị thuốc cho và dặn:
- Người về thưa lại với công chúa, dùng vị thuốc này phải cẩn trọng lắm, nghe chưa?.
Bích Huệ nói lại điều quan thái y dặn. Huyền Trân chỉ tủm tỉm cười:
- Ta đoán chắc là quan thái y không biết ta dùng vào việc gì, nên chỉ đoán già đoán non đó thôi. Rồi Bích Huệ và Thúy Quỳnh đem sao, tán nhỏ để dùng có việc.
Từ lúc quan thái y sang chẩn bệnh, tự nhiên công chúa nảy ra một ý nghĩ tinh nghịch. Tâm trí nàng bị hút vào một trò chơi, nên nàng hết cả buồn, hết cả ốm. Không khí trong cung lại đầm ấm trở lại. Nhũ mẫu thấy nàng tươi tỉnh, hoạt bát cũng hết lo hết buồn. Nỗi vui buồn của bà cũng hồn nhiên như công chúa, song nó phụ thuộc vào công chúa.
Bích Huệ, Thúy Quỳnh hì hụi sao sao tán tán. Bột thuốc với mùi thơm hắc của nó làm cả hai cô ho sặc sụa. Công chúa tưởng có chuyện gì do vị thuốc gây nên, bèn chạy lại. Nàng kéo ghế nhích lại gần hai tì nữ thân cận mà nàng tin yêu nhất. Mỗi đứa một tính một nết. Thúy Quỳnh thùy mị, ít nói, siêng học. Bích Huệ hoạt bát, linh lợi, gặp việc xử trí rất nhanh. Huệ có tật lười học, nhưng lại là một đứa tì nữ thông minh nhất trong đám nữ tì của công chúa.
Ngồi cạnh mấy nàng hầu, công chúa cảm thấy giữa mình với họ có gì thân thiết ràng buộc. Thực tình công chúa là người có lòng bao dung, độ lượng, không chấp nhặt, nên các nàng hầu cũng dễ ăn ở. Đột nhiên nàng hỏi Bích Huệ:
- Ngươi về nhà thế nào mà không thấy nói lại với ta điều gì nhỉ?.
- Bẩm công nương, từ hôm con lên kinh, thấy công nương có vẻ ủ ê tư lự, nên con chưa dám trình lại với công nương.
- Ngươi kể đi. Làng quê ngươi có đẹp không? So với quê ta ở Thiên Trường thế nào? Cha mẹ ngươi có mạnh khỏe không? Các em thế nào? Số tiền ta cho có chi tiêu được việc gì không? Ở quê ngươi có bị bọn xã quan nhũng nhiễu lắm không? Công chúa liên tiếp đặt ra những câu hỏi.
Bích Huệ đang sắp xếp ở trong đầu để trả lời, nhưng sao khó quá. Công chúa lại hỏi quê mình có đẹp không?Ôi, cuộc sống của ta từ đời này qua đời khác đã gắn bó với mảnh đất quê hương. Biết bao vui buồn, khổ đau, hoạn nạn cũng xảy ra trên mảnh đất quê hương. Nhưng lại so với quê hương của công nương ở nơi phủ Thiên Trường, thì sao mà so được? Dù ở nơi phủ Thiên Trường thì cũng có phải là quê mình đâu. Dẫu có đẹp cũng là cái đẹp của người, quê người. Thấy Bích Huệ băn khoăn, công chúa lại hỏi:
- Sao, ngươi không cho ta nghe được điều gì sau chuyến thăm quê ư?
- Thưa công nương, vì có nhiều điều muốn tâu với công nương quá, nó cứ bề bộn lên ở trong đầu, con phải sắp xếp lại đã. Bẩm công nương, trước hết là cha mẹ con và các em con, nếu không nhờ có số tiền của công nương ban cho, chắc là hôm nay đã chết cả.
- Sao vậy? – Công chúa ngạc nhiên hỏi.
- Dạ, bẩm công nương, chả là ở quê con mất mùa. Đói to. Làng con không mấy nhà không có người chết đói. Có nhà chết hết không còn một người nào. Khu bãi tha ma ở cánh đồng làng con, mả mới cỏ chưa kịp mọc, xếp liền nhau như bát úp. Cha mẹ con cùng mấy đứa em con đã nhịn đói trong, mất hai ngày. Cả nhà đang lả dần. May thay, đi đường con lại mua được gói xôi, hai chị em mệt quá chẳng ăn được miếng nào. Mẹ con chỉ còn thoi thóp thở, gắng gượng bảo em con đem xôi nấu cháo. Nấu xong, con đổ cho mỗi người một bát, hồi lâu mới tỉnh.
Con Tẹo, em con, bữa nó gặp công nương mới ở phủ Thiên Trường về ngoài bến Đông bộ đầu ấy, là nó liều lĩnh trốn nhà đi tìm con. Chứ ở nhà có ai biết nó đi đâu. Mẹ con thường răn dạy nó: “Không được lên kinh quấy quả công nương”. Lệ vua cũng đã cấm:”Con nhà dân không được bén mảng đến chốn kinh kỳ”. Con hỏi nó:”Sao em liều vậy?”. Nó bảo:”Đằng nào mà chẳng thế. Nếu bố mẹ cùng chúng em chết hết, chị cũng chẳng sống được. Mấy lại em nhớ chị lắm. Dẫu trước lúc chết, em được nhìn thấy chị, còn hơn ở nhà chết đói nhăn răng mà chị em vẫn muôn trùng cách biệt”.
Công chúa thở dài não nuột:
- Ôi cái đạo cốt nhục sâu dầy vậy thay! Chị em ngươi con nhà bần bách mà trọng nghĩa lắm thay! Đáng quí. Đáng quí! Công chúa không nén nổi xúc động, bèn quay mặt đi.
Bích Huệ lại dẽ dàng nói:
- Bẩm công nương, hai nén vàng công nương cho. Con để một nén lại cho cha mẹ độ thân. Còn một nén con cúng vào chùa, để nhà chùa mua gạo về bố thí cho dân làng. Sư cụ, người cũng tận tâm lắm. Con thưa thật tình với sư cụ về tấm lòng độ lượng của công nương. Con vừa được tha tội chết, lại được ban phát vàng bạc cho trở lại thăm quê. Sư cụ tỏ lòng ngưỡng mộ công nương. Người đã mở cửa chùa bố thí ba ngày liền. Lại lập một tiểu đàn tràng để làm lễ cầu mát cho công nương.
- Đa tạ - Công chúa nói với giọng cảm kích chân thành.
Ngừng tay giã. Thúy Quỳnh nhón một chút xíu bột A ngùy lên hai đầu ngón tay, rồi bóp ra xem. Bột nhuyễn mịn. Nàng đem đến trước công chúa:
- Bẩm công nương, con giã như thế này được chưa ạ? Công chúa gật, và dặn:
- Hai người bỏ bột này vào một chiếc lọ, miệng nhỏ, rót thêm một chén tống rượu, nút thật khít lại, lắc một lúc cho rượu ngấm đều vào thuốc rồi cất đi, khi nào dùng đến, ta sai lấy.
Hai tì nữ răm rắp làm theo, lòng tự hỏi: Không biết công chúa dùng thứ thuốc này làm gì?
Đoạn công chúa truyền Bích Huệ vào hầu. Nàng bảo Bích Huệ:
- Em vào xẻ lấy một ít thứ thuốc vừa rồi, tẩm trong một miếng vải, đi vào viện thái y, bôi thật kỹ lên tấm cửa thứ ba bên hữu. Nhớ phải xoa thật lâu vào một chỗ, rồi đem miếng vải về cho ta.
Bích Huệ ngẫm nghĩ: Không biết công chúa chơi trò nghịch ngợm gì đây. Từ trước, người có thế đâu.
Trong lòng Bích Huệ không khỏi lo lắng.
Huyền Trân lại hỏi:
- Em có dám làm điều ta sai bảo không?
- Dạ, con làm được. Nhưng thưa công nương làm thế để làm gì ạ?
- Hãy làm điều ta muốn. Không nên biết việc em làm.
- Dạ, thưa công nương, nếu như con đang làm mà quan thái y bắt được thì sao ạ?.
- Chính là điều ta cần hỏi em. Vì em đi làm việc đó chứ không phải ta.
Ngẫm nghĩ một lát, Bích Huệ đáp:
- Bẩm công nương, con sẽ nói:”Trình quan thái y, con trông thấy vết bẩn trên cánh cửa, con lau đấy ạ”.
- Giỏi. Em biện bác khá hay. Nhưng nếu quan thái y hỏi em tới đó có việc gì thì em nói sao?
Bích Huệ đáp luôn:
- Con sẽ nói:”Bẩm quan thái y, công nương sai con cảm tạ quan thái y đã cho vị thuốc”.
Trần Huyền Trân cười sung sướng:
- Em quả là sáng dạ hơn người. Ta chắc, em sẽ còn giúp ta được nhiều việc. Ngừng một lát, như để đắn đo cân nhắc thêm, công chúa lại nói:
- Em vào thư phòng của ta, có phong thư viết sẵn để trên án. Em đem sang bên Đông cung cho thái tử. Ta không giấu em. Đây là thư ta nói thái tử hẹn với quan giáo thụ, để ta sang nghe ngài giảng kinh sách. Em nhớ, sang Đông cung xong, lúc về mới ghé viện thái y.
- Dạ. Con xin làm tròn phận sự công nương giao phó.
CHƯƠNG 10
Sớm dậy công chúa đã vào phòng trang điểm. Nàng không dùng phấn son lòe loẹt, áo quần sặc sỡ. Công chúa mặc chiếc áo dài màu tía cổ thêu đôi chim phượng bằng chỉ kim tuyến, đai ngọc thắt hở. Hai cửa tay thụng viền chỉ bạc, quần màu xanh nõn chuối, chân giận hài cong màu cánh chả, và xức một thứ nước trầm hương lên làn tóc mây đen nhức, buông xõa tới ngang lưng.
Đầu đội chiếc mũ bằng lông điêu trắng muốt.
Công chúa có đôi mắt đen huyền, hàng mi cong như chiếc lá liễu rũ trên cành. Chiếc mũi thanh tú hòa hợp với khuôn mặt trái xoan được nước da mịn mỡ trắng hồng tôn lên, nom nàng đẹp như một cô tiên lạc bước xuống trần. Và bao giờ ra khỏi nhà, công chúa cũng ngụm một hớp nước trầm, xúc miệng thật lâu.
Huyền Trân vừa toan bước xuống bậc thềm, thì hai tì nữ ùa tới. Cả hai cùng reo lên:
- Công nương đẹp quá! Công nương đẹp quá!
Huyền Trân mỉm cười, đôi má ửng hồng như một trái đào khoe mã. Nàng dắt tì nữ ra dạo ngoài khuôn viên. Chiếc hồ bán nguyệt nước trong tới đáy. Rặng liễu quanh hồ rũ bông xuống nước buồn hiu. Mấy cây hoa lan, hoa mộc kín đáo tỏa hương dìu dịu. Lại kia khóm bạch trà nở muộn khoe sắc trắng phau. Lấp ló vài bông hải đường còn sót sau tết Nguyên tiêu, rã cánh chỉ còn trơ lại đám nhụy vàng xơ rơ. Nắng xuân tỏa sắc vàng mơ. Công chúa đi dạo quanh vườn, tà áo nhè nhẹ đung đưa theo nhịp bước khoan thai, cứ dập dờn như cánh bướm thoắt đậu thoắt bay.
Chợt có người bên Đông cung sang đệ trình công chúa một bức thư.Nàng vén tay áo mở thư đọc. Khóe mắt ánh lên như cười. Gấp thư lại, nàng ném cái nhìn bâng khuâng vào vòm trời xanh nhạt. Dạo thêm vài bước, như chợt nhớ ra, công chúa quay về phía ngườii nô bộc bên phủ Đông cung, bèn hất hàm nói:
- Ngươi về thưa lại với thái tử, ta sẽ sang ngay.
Rồi sai bọn tì nữ đi lấy kiệu, để nàng sang phủ Đông cung nghe quan giáo thụ giảng kinh sách.
Thái tử còn nhỏ, mới theo học được vài năm, phải có người phụ giúp để kèm cặp. Mấy quan giáo thụ trước đây, việc dậy, giảng nghiêm khắc, nên không hợp ý thái tử. đều phải thay cả. Nhà vua dù có tôn sư trọng đạo, dù có nghiêm đến mấy cũng vẫn là một người cha, không thể không chiều con. Thái tử được người phụ giảng dẫn ra lạy chào hoàng cô. Trần Huyền Trân hỏi han sự học hành của thái tử.Có đôi lần nàng hỏi về quan giáo thụ Trần Khắc Chung. Thái tử cười tủm tỉm, đáp:
-Thưa hoàng cô, cái ông thầy này vui tính lắm. Dể tính lắm. Ông không bắt học thuộc như mấy ông thầy trước. Ông còn kể chuyện vui cho cháu nghe nữa.
Công chúa xem sách học của thái tử, thấy quan giáo thụ dạy không chuyên theo một sách nào. Tứ thư, Ngũ kinh đều có trích dạy cả. Nàng hỏi lại thái tử đôi chỗ, xét ra sự hiểu nghĩa cũng còn lơ mơ, có khi không hiểu nghĩa hoặc quên lời thầy giảng mà nói sai. Lật trang cuối cùng trong sách học, thấy chép một đoạn trong sách Trung dung, công chúa bèn bảo thái tử đọc.
(Tứ thư: bốn pho sách kinh điển của đạo nho học: Đại học, Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung.Ngũ kinh: Tức năm bộ kinh sách cơ bản của đạo nho: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu. Vậy là sáu kinh nhưng Tần Thủy Hoàng đốt mất Kinh hạc, không sưu tầm được, chỉ còn năm Kinh lưu truyền tới tận ngày nay. Nên gọi là Ngũ kinh.)
Thái tử lấy giọng đọc to:
- Hữu phất học, học chí phất năng, phất thố giã. Hữu phất vấn, vấn chi phất tri, phất thố giã. Hữu phất tư, tư chi phất đắc, phất thố giã. Hữu phất biện, biện chi phất minh, phất thố giã. Hữu phất hành,hành chi phất độc, phất thố giã. Nhân nhất năng chi, kỷ bách chi; nhân thập năng chi, kỷ thiên chi. Quả năng thử đạo kỷ, tuy ngu tất minh, tuy nhu tất cương.
Thái tử vừa đọc dứt lời, Trần Huyền Trân mỉm cười hỏi:
- Vậy cháu có hiểu nghĩa đoạn văn trên nói gì không?
Thái tử lắc đầu:
- Ông ấy chưa giảng. Hôm nay mới bắt đầu học sách Trung dung.
Chợt có người vào bẩm:
- Quan trừ cung giáo thụ đã tới!.
Công chúa cúi đầu chào với vẻ bẽn lẽn đứng né sang một bên.
Trần Khắc Chung vòng tay đáp lễ, rồi nói:
- Thưa công nương, hôm qua tôi có được hân hạnh đọc thư công nương ngỏ ý muốn xem thái tử học hành thế nào. Tôi không dám thiện tiện trả lời công nương, bởi việc đó lại quyền ở thái tử. Còn về phần tôi, được tiếp rước công nương, tôi cho là một ân huệ.Xin công nương và thái tử bỏ lỗi cho buổi học hơi trễ này, là bởi sớm nay quan gia cho gọi tớii chầu. Tan chầu, tôi vội vã về đây ngay, kẻo công nương cùng thái tử phải đợi.
- Nếu ông giáo thụ không cho việc tôi tới đây nghe giảng là quấy rầy, thì xin ông cứ giảng cho thái tử.
Quan giáo thụ sửa lại mũ, áo ngay ngắn rồi ngồi xếp bằng trên kỷ nói:
-Thưa thái tử, buổi học bắt đầu. Xin thái tử đọc lại đoạn văn chép hôm qua, để thần được hầu giảng.
Thái tử mở sách đọc lại đoạn văn lúc trước đã đọc cho hoàng cô nghe. Vừa đọc dứt lời, quan giáo thụ cất giọng sang sảng:
- Đoạn văn trên Đức thánh dạy rằng: Có điều mình chẳng học,nhưng đã học mà chưa hay thì chẳng thôi. Có điều mình chẳng hỏi nhưng đã hỏi mà chưa biết thì chẳng thôi. Có điều mình chẳng nghĩ, nhưng đã nghĩ mà chưa ra lẽ thì chẳng thôi. Có điều mình chẳng biên bạch, nhưng đã biện bạch mà chẳng rõ ràng thì chẳng thôi. Có điều mình chẳng làm, nhưng đã làm mà chưa hết sức thì chẳng thôi. Người ta ra công một lần mà thành, mình hãy ra công đến trăm lần. Người ta ra công mười lần mà thành, mình hãy ra công đến nghìn lần. Nếu giữ vững đường lối ấy, dầu ngu độn cũng hóa ra thông minh, dẫu nhu nhược cũng hóa ra cường mạnh.
Cắt xong nghĩa đen, quan giáo thụ ngửng nhìn thái tử và công chúa. thấy mặt thái tử còn ngây ngây, ông chắc người học trò của mình chưa hiểu. Nhưng công chúa lại tươi tỉnh. Mắt nàng ánh lên những tia sáng như he hé cười. Ý như giục quan giáo thụ cứ giảng tiếp. Quan giáo thụ muốn nhân lời thầy Tử Tư nói về sự học hành mà huấn dụ cho thái tử phải động tâm, sửa mình, để cho sự học được siêng năng tấn tới. Bởi mai đây thái tử sẽ lên ngôi báu, trị vì thiên hạ. Người đứng đầu một quốc gia, phải là người thông tuệ. Phải có ý chí sắt đá, kiên cường. Phải có lòng khoan dung đức độ.Cái chí và cái tâm của vị đứng đầu thiên hạ sau này phải được rèn giũa từ bây giờ. Ông chủ tâm đường học là ở nơi rèn trí và rèn đức, bởi vậy ông không nhồi nhét, bắt trẻ nhỏ phải thuộc làm lòng những điều mà nó chưa ý thức được. Cho nên việc khai trí trước hết phải bắt đầu từ việc khai tâm. Cáii gốc vẫn là ở sự khai tâm. Quan giáo thụ cũng biết công chúa là người hiếu học,ham đọc kinh sách. Nên nhân bài học này, quan cũng muốn khích lệ lòng trọng học của nàng, để nàng thấy được cái ý thâm viễn của thánh hiền, huấn giáo cho kẻ hậu học, là học để làm người, chứ không phải học để nhuyễn văn.
Quan giáo thụ lại ném cái nhìn về phía thái tử và hỏi:
- Thưa thái tử, tôi nói thế, thái tử đã thâu nhận được cái ý của bài văn chưa ạ?
Thái tử gật đầu, nhưng mắt vẫn nhìn quan giáo thụ với vẻ ngây ngây. Biết cậu bé này chưa hiểu bài, ông lại cắt nghĩa một cách rành rọt, giản dị. thái tử chăm chú nghe, mắt cứ sáng dần lên, khuôn mặt nom lanh lợi. Kinh nghiệm cho ông biết, như vậy là học trò đã nắm được bài. Ông bắt thái tử phải tự mình cắt nghĩa. Khi cậu bé nói lại được những điều vừa nghe giảng, quan giáo thụ gật gù khen ngợi:
- Bây giờ tôi lại giảng sang nghĩa bóng của đoạn văn trên, xin thái tử lưu tâm.
Với giọng nói uyển chuyển, với lối dẫn dụ xa gần, kim cổ khiến bài giảng của ông vừa cao, sâu, vừa giản dị, làm cho người nghe tưởng như mình đang chứng kiến những cảnh có thực trong đời. Bởi vậy không những thái tử bị hấp dẫn, mà ngay cả công chúa cũng cuốn hút vào lối giảng vừa hiển lộ vừa uẩn ảo của quan giáo thụ.
Sau khi nói hết những ý sâu xa, ông lại nhấn mạnh thêm:
- Người đời thường đem chuyện ông Ngu Công dở núi, với chuyện mài sắt thành kim, để khích lệ ai đã làm việc gì phải hằng tâm hoàn tất. Chứ thật ra người đời có ngu gì mà không dời nhà mình đi chỗ khác mà lại đi dời núi. Cũng như cái công bỏ ra mài một cục sắt mà thành cây kim, nếu để làm việc khác có thể mua được tới cả ngàn cây kim. Bởi chưng việc học ở đời là việc cực khó; nên người đời mới đặt điều khuyến dụ như vậy. Ấy là nói cái học để thành nhân, chứ không phải cái học để thành danh. Các đấng minh quân từ xưa tới nay,đều là những bậc trí huệ nhân bản cả. Người trị vì cả một nước dù là nước nghèo, nếu như giữ được cái đạo thường, dân vẫn mến nghĩa nghe theo. Nước vẫn thái bình thịnh trị. Muốn giữ được kỷ cương ấy, người cầm đầu thiên hạ phải là người trí. Hóa nên dân tuy có tạm bị mất mùa mà thiếu đói, nhưng nước vẫn có rường mối, ổn định, Còn như nước giàu, mà người cầm đầu thiên hạ lại không phải là người trí, thì mọi kỷ cương đều xáo trộn. người dân không còn biết tin và nghe cái gì nữa. Thành thử nước tuy có giàu, mà vẫn không có lễ luật, khiến cho nhân tâm biến loạn. Nước ấy sẽ nát như tương. Thái tử là người sau này giữ gìn ngôi báu chăn dắt trăm họ, không thể không lưu tâm đến điều có quan hệ tới việc trị nước, an dân. Nói tới điều này hẳn nhiên Trần Khắc Chung đứng trên cương vị của quan đại an phủ sứ mà thẩm định. Tan học, quan phụ giảng ra mời quan giáo thụ, thái tử và công chúa vào trà thất.
Sau hai tuần trà rồi, mà đầu óc công chúa vẫn còn vương theo những lời huấn giảng của quan trừ cung giáo thụ. Rõ ràng là từ trước, nàng chưa được nghe một buổi giảng kinh sách nào vừa nghiêm trang lại vừa hấp dẫn, vừa hiểu được nghĩa của sách, vừa biết được cái nhẽ ở đời. Lời lời như thúc giục người nghe phải hành động, chứ không phải chỉ nhấm nháp thụ hưởng văn chương.
Quan giáo thụ là người thông bác cả dịch lý, nên ông thừa biết tâm trạng của công chúa thế nào. Tuy vậy, ông vẫn nhũn nhặn hỏi cái điều ông đã biết:
- Thưa công nương, chẳng hay việc hầu giảng của tôi bữa nay có gì khiếm khuyết, xin công nương phủ chính cho.
- Ông giáo thụ quá khiêm nhường. Tôi trộm nghĩ, nếu được ông chỉ giáo, hẳn là đá cũng phải trở thành hiền nhân quân tử.
Trần Khắc Chung cười, mọi người cười theo.
Huyền Trân lại hỏi:
- Bữa nay quan giáo thụ tan chầu muộn. Chẳng hay vương huynh ta cùng các trọng thần luận bàn điều chi. Ông có hay tin phụ hoàng ta vào Chiêm đã có hồi âm chưa?
- Thưa công nương, việc thượng hoàng vào Chiêm thì sáng nay quan gia đã bố cáo nơii triều hội. Rằng theo như lời biểu của quan điện súy thượng tướng quân, từ biên thùy phía nan gửi về, thì thượng hoàng vào Chiêm được tiếp rước nồng hậu. Sức khỏe của thượng hoàng và đoàn tùy tùng vẫn bình thường. Người vẫn chưa ấn định ngày về. Ngừng một lát, quan đại an phủ sứ tủm tỉm cười, nói tiếp:
- Có một điều lẽ ra tôi không có quyền nói ở đây, nhưng đều là người trong hoàng gia cả nên tôi cứ mạo muội… Bỗng quan an phủ sứ ngừng lời khiến mọi người càng háo hức muốn nghe. Phút yên lặng tưởng dài đến vô tận.
Không nén nổi tính tò mò con trẻ, thái tử lên tiếng giục:
- Xin ông giáo thụ kể tiếp đi. Kể tiếp đi.
Quan giáo thụ cố giấu đi nụ cười, làm ra vẻ nghiêm trang, ông nói:
- Chả là sớm nay, quan thái y lật đật vào triều tâu trình một việc hơi lạ. Cứ như lời quan thái y thì suốt đêm qua, đám lính canh không dám ngủ. Họ nói là có ma đập vào cửa.
Nghe nói tới đây, Huyền Trân công chúa bưng miệng để tránh một tiếng cười phì. Còn hoàng tử thì tròn xoe mắt ngơ ngác, nửa phần như sợ hãi, nửa phần như muốn quan giáo thụ kể tiếp. Quan giáo thụ lại nói:

- Kỳ lạ là cứ mỗi khi đám lính canh thắp đèn đuốc soi tìm thì không thấy một dấu vết gì. Nhưng vừa tắt đèn vào nhà, tiếng đập cửa lại vang lên. Cứ thế tới cả chục lần, sau đám lính sợ quá chạy dạt ra ngoài. Nghe đâu việc ấy xảy ra ngay lúc chập tối. Đêm khuya thì ắng lắm, nhưng mọi người vẫn sợ.
Sự việc chỉ có thế. Qua gia truyền quan thái bốc đoán xem là điềm gì.
Sau một hồi suy đoán tính toán, quan thái bốc bèn tâu rằng:
- Đó là các oan hồn chết vì thuốc của thái y viện, nay chúng kéo nhau về đòi giải oan để chúng được thoát sang kiếp khác. Việc này không lập đàn chay cúng tế là không xong.
Làm ra vẻ bình thường có pha chút tò mò, công chúa hỏi quan giáo thụ:
- Thưa ông, việc đó theo ông nên hiểu như thế nào? Có đúng là có ma như quan thái y nói không? Có đúng như quan thái bốc nói là lập đàn chay cúng tế là giải thoát được không? Nhưng nếu cúng tế rồi mà vẫn không yên thì sao?
- Thưa công nương, tôi vốn không tin vào những điều dị đoan, nhảm nhí. Bởi vậy, tôi không tin vào lời của quan thái y và thái bốc. Tôi nghĩ rằng “linh tại ngã bất linh tại ngã”. Nghĩa là thiêng hay không thiêng đều ở nơi mình mà ra.
- Quan giáo thụ nói chí lý lắm. Tôi cũng tin rằng linh tại ngã bất linh tại ngã. Công chúa nói thêm ma quỷ thần thánh gì thì cũng ở nơi con người mà ra cả.
Nói rồi công chúa cáo lui.
CHƯƠNG 11
Kiệu vừa hạ xuống trước cửa cung. Cả đoàn tì nữ ùa ra đón công chúa. Nàng chưa kịp thay áo, Bích Huệ đã lén vào phòng hỏi:
- Thưa công nương, người đã biết bên viện thái y có chuyện gì chưa ạ?
Làm ra vẻ không lưu tâm, công chúa lại hỏi:
- Ngươi bảo có chuyện gì. Ta chỉ thấy nói bên thái y viện hoặc phủ kim ngô, để quân lính canh phòng thế nào mà kẻ gian lọt được vào yểm đảo bùa chú. Phủ kim ngô đe sẽ tìm ra bọn phù thủy dùng tà thuật làm náo loạn nhân tâm để trị tội. Nói đến đây giọng công chúa tỏ vẻ nghẹn ngào nhìn về phía Bích Huệ. Ngừng một lát, công chúa lại hỏi:
- Vậy chớ em biết chuyện gì xảy ra ở bên đó?.
- Thưa công nương, con nghe người ta đồn ầm lên rằng đêm qua có ma về đập cửa viện thái y.
- Thế em có biết vì đâu ma đập cửa không?
- Dạ thưa công nương, con không biết ạ.
- Em khéo vờ quá. Chính bữa qua em đã làm bùa phép gọi ma về. Ta nghe nói có ngườii thấy em di di cái gì trên cửa viện thái y. Từ lúc nghe thấy thế, ta đau lòng quá.Ta đang nghĩ cách cho em đây. Chỉ sợ lúc ta chưa nghĩ được kế, họ đã ập tới bắt em. Rồi đòn đau khảo đả, không chịu nổi, em lại xưng vấy cho ta. Thế là cả ta, cả em… ôi biết đâu lại tớii nông nỗi này? Bích Huệ mặt mày tái xanh, tái xám. Nhưng chỉ một thoáng, cô nữ tì này đã lấy lại được vẻ bình tĩnh. Nước mắt lã chã, cô sụp lạy công chúa:
- Xin công nương, người cứ an tâm. Thân con coi như đã chết, nếu như không có công nương ra tay cứu vớt. Vạn nhất họ có đến bắt con ngay bây giờ thì con sẽ cắn lưỡi tự tử, chứ không khi nào con để lụy đến công nương. Nói xong, Bích Huệ lại òa khóc thảm thiết.
Sợ bên ngoài nghe thấy, công chúa khép cửa lại rồi lấy khăn lau nước mắt cho Bích Huệ và dỗ:
- Nín đi em. Em làm lòng dạ ta xao xuyến cả lên. Ta không ngờ em lại trung thành với ta đến độ không tiếc cả tấm thân cha mẹ sinh ra nữa. Em bỏ lỗi cho ta. Những điều ta vừa nói với em là nói đùa đấy. Ta nói đùa, em lại tưởng thật.
Bích Huệ lại càng khóc to:
- Con chắc công nương thương con nên nói thế. Thề có trời đất, quỷ thần chứng giám, con không bao giờ phản bội công nương.
Công chúa bật cười vì sự ngây thơ hốt hoảng của Bích Huệ. Nàng đang nghĩ cách làm thế nào để chấm dứt cái trò đùa nguy hiểm này thì Thúy Quỳnh ló đầu vào. Công chúa reo lên:
- Ôi, Thúy Quỳnh, ta đang mong em tới.
Nhìn thấy cảnh Bích Huệ đang quỳ, nước mắt lã chã. Thúy Quỳnh sửng sốt ngỡ là Huệ phải đòn. Nhưng thấy khuôn mặt công chúa vẫn tươi tỉnh, hồn nhiên, Thúy Quỳnh liền nói:
- Bẩm công nương có chuyện gì thế ạ?.
Công chúa tươi cười nói:
- Em đỡ Bích Huệ lên để ta bày tỏ đôi điều.
Cả hai thị tì cũng không biết công chúa sẽ phán dậy điều gì. Lành hay dữ?
Họ lo lắng ngồi nép vào nhau chờ. Công chúa lên tiếng:
- Thúy Quỳnh, em có nghe người ta nói tới chuyện bên viện thái y không?
- Dạ bẩm công nương thuần những chuyện ma quái rùng rợn. Chuyện còn lan ra cả tới phố phường, con thấy nhà nào cũng bầy hương án ngoài sân cúng trời, bàn tán xôn xao lắm ạ.
- Họ nói thế nào?. Công chúa hỏi:
- Bẩm công nương, họ bảo trong hoàng thành, quân canh tứ phía, uy nghiêm là thế ma còn dám tới đập cửa. Thưa công nương họ còn dựng lên cả một câu chuyện thật là kỳ cục. Ví như họ nói: “Có một đoàn ma già, ma trẻ kéo tới viện thái y. Bắt quan thái y đem dìm xuống nước mãi mới chịu buông ra. Quan thái y rét run cầm cập, mặt cắt không được một giọt máu chạy về phục trước sân rồng, nom ông như một đống rạ mục… Ôi, thưa công nương, miệng thế gian biết thế nào mà tin được. Nhưng con vẫn ngờ dân chúng họ thính lắm, sự thể có thế nào chẳng giấu được họ đâu.Con bèn ghé qua bên viện thái y. Bên ấy vắng tanh vắng ngắt. Con sợ quá, phải chạy té về ngay”. Công chúa nghe xong câu chuyện cũng có vẻ động dao. Nàng tự xem xét lại cái trò nghịch ngợm của mình, không ngờ sự thể lại xảy ra oái oăm đến thế. Nhìn thẳng vào mắt hai ả thị tỳ, công chúa tủm tỉm cười, rồi chậm rãi:
- Các em có nhớ hôm ở chùa Phổ Minh, phụ hoàng ta đã nói, khi người khuyên các vị trưởng lão, các tăng già hãy răn dạy dân chúng, đừng tin vào những điều dị đoan nhảm nhí, Nhất là những phương sách bịp bợm, ma giáo của lũ phù thủy người Tống. Họ chạy sang ta từ khi nước họ bị người Thát lấy mất. Họ đem theo cả một số tà thuật sang để làm sinh kế. Dân ta đôn hậu, cứ cắm cổ nghe theo. Thành thử tổn hại không biết bao nhiêu mà kể. Tiền của mất. Bệnh tật thêm. Mà thần nọ thánh kia, miếu này phủ nọ, nó mọc lên nhan nhản. Chỗ nào cũng thờ, cũng hương khói, cúng vái. Hóa ra chúng dân đâm nhát sợ, thờ từ một hòn đá đến gốc cây, bụi cỏ. Cứ hễ cái gì dị dạng dị hình, chúng bảo đó là thần linh, hoặc yêu quái. Chính thần, tạp thần, dâm thần cứ gặp gì thờ ấy… Có đúng phụ hoàng ta đã nói như thế không các em? Ừ phải, ta nhớ không sai. Phụ hoàng ta còn vạch một số tà thuật của bọn người Tống để các bậc trưởng lão, nếu chưa tin thì cứ việc làm thử. Chỗ ấy các em có nhớ không? Không nhớ à? Ta cũng tin là các em không nhớ. Ngay từ khi ta sai các em đi xin các vị thuốc A ngùy rồi về sao tán, không thấy các em cật vấn điều gì, ta biết ngay là các em đã quên. Chính quan thái y cũng không biết, huống chi các em. Thật ra ta không muốn đem đến thái y viện mà làm thử. Nhưng vì quan thái y bữa đó, trước khi ra về còn dặn một điều lấp lửng: “Công nương phải rất cẩn thận trong khi dùng vị thuốc này”. Làm như ông ta biết chắc chắn rằng ta dùng vào việc gì. Ta lại cho rằng, ông ta chẳng biết gì hết. Vậy nên ta trêu tức, mới sai Bích Huệ đem sang bôi vào cánh cửa viện thái y. Bây giờ sự thể nó bùng ra như các em thấy đấy.
Cả hai cô thị tì đều ngơ ngác gần như kinh ngạc. Rằng tại sao chỉ bôi có vị thuốc A ngùy hòa với rượu lại gọi được ma quỷ về.
Huyền Trân nhìn hai thị tỳ với vẻ thương hại:
- Các em tưởng ta cũng như phù thủy có phép gọi ma về phải không? Láo hết, chẳng có phép tắc nào cả. Tiếng ma đập cửa ấy chính là tiếng va đập của những con dơi đụng vào cánh cửa. Chả là thế này, A ngùy sao tán lên rồi tẩm với rượu, nó toát ra một thứ mùi thơm thơm, hắc hắc, loài dơi rất thích. Một con thích gọi cả bầy đàn. Hết đàn ấy, đến đàn khác. Chúng cứ thay nhau lao vào cánh cửa. Mỗi con lao lại gây ra một tiếng đập, kiểu như tiếng người đập cửa. Sự việc xảy ra bên viện thái y là như vậy. Cũng đúng như ta xét đoán, quan thái y chẳng hiểu gì về cái vị thuốc này cả. Còn hàng trăm vị thuốc khác nằm trong các hộp để bào chế, ta không hiểu quan thái y biết đến mức nào?
- Dạ bẩm công nương, thế có cách nào giải được cái nạn dơi đập cửa này không ạ?… Thúy Quỳnh lễ phép hỏi. Nàng nói thêm:
- Thưa công nương, con nghe nói lính canh đã dùng đèn đuốc soi, sao lại không biết có dơi là thế nào ạ. Chuyện này con chưa được tường lắm, xin công nương dạy cho.
- Ta cũng đang muốn chấm dứt cái trò chơi này với quan thái y. Lại phải nhờ đến hai em đây. Chiều nay các em nấu lấy một ít nước ngũ vị thật đặc, xong rồi tẩm vào vải, đem sang bôi đè lên chỗ bữa nọ Bích Huệ đã bôi nước A ngùy. Hết mùi A ngùy, dơi không tới nữa. Vừa rồi, Thúy Quỳnh có hỏi ta: “Lính soi đèn sao không biết có dơi”. Bí quyết lừa bịp của bọn phù thủy là ở chỗ đó, dân sợ cũng ở chỗ đó. Vì đêm tối bất chợt có tiếng đập cửa râm ran, hỏi không có ai trả lời. Người trong nhà đâm sợ. Nổi đèn đuốc lên, hô hoán lên, xóm giềng kéo đến. Không tìm thấy một dấu vết nào. Chán rồi mọi người ai về nhà nấy. Chủ nhà cũng đi ngủ. Cửa vừa gài, đèn vừa tắt, tiếng đập cửa lại vang lên. Cứ như thế ai mà không sợ. Kéo dài mãi, người trong nhà có thể bị điên. Thế là phải tìm đến thầy cúng, cầu xin lễ vái. Còn khi thắp đèn, đuốc, dơi không tới nữa là do dơi sợ ánh sáng. Đây có một câu chuyện để ta kể cho các em nghe…
Với vẻ lim dim thư thái, công chúa như cố nhớ, cố chắp nối lại những mảnh lẻ rời rạc trong ký ức tuổi thơ. Hai tì nữ mắt hau háu nhìn Huyền Trân, vẻ như van lơn, như nài xin công chúa nói cho nghe.
Một thoáng sau, công chúa khẽ cất lên giọng trầm trầm, ấm áp:
- … Ngày xưa, có một cuộc thi tài đọ sức giữa hai loài thú và chim. Dơi có nước da đen mốc, bộ mặt choắt, dăn deo như một cụ già trăm tuổi. Lại có vóc dáng đạo mạo uyên nguyên như một nhà hiền triết, nên được cả hai loài chim thú cử làm giám thí. Chiêng trống nổi lên, đàn sáo nổi lên, Lại có cả những giọng hót hay của loài chim sơn ca, chích chòe, liếu điếu, họa mi, yến xen với tiếng gầm gào của các loài thú dữ như hổ, báo, sư tử, khiến trời đất chật ních những thanh âm. Khi các âm thanh hỗn tạp vừa dứt, cuộc đấu bắt đầu. Loài chim cử đại bàng ra thách đấu. Loài thú cử hổ vằn ra nghênh chiến. Một mãnh thú, một mãnh cầm quần nhau làm cho núi nghiêng, cây đổ. Lá rừng nát tươm cùng với bụi cát bay lên che lấp cả ánh mặt trời. Cuộc đấu mỗi lúc một thêm căng thẳng, dữ dội tưởng như không bao giờ dứt. Có lúc đại bàng đã cắm được những chiếc móng sắc nhọn vào mình hổ. Chỉ còn một việc vỗ đôi cánh rộng lao vút lên chín từng trời, rồi thả cho hổ rơi vào vách đá hoặc chìm xuống vực sâu, thân xác tan nhừ như một cây thối ruỗng. Đó là món võ ác hiểm sở trường của vị chúa tể loài chim này. Giữa lúc tính mệnh hổ nghìn cân treo sợi tóc thì quan giám thí reo ầm lên: “Hổ thua rồi! Hổ thua rồi! Vinh quang biết mấy cho loài chim chúng ta! Muôn năm vị chúa tể của chúng ta! Muôn năm vị chúa tể của chúng ta! Muôn năm sự dũng mãnh của đức vua đại bàng! Vinh hạnh cho ta mang trong mình dòng máu của đức vua!”. Nói xong dơi giang đôi cánh mỏng không có một mảng lông, chỉ có một mảng da nhăn nheo, như để chứng minh cho quan khách biết: “Ta thuộc loài chim”. Nhưng vị chúa sơn lâm đâu có chịu chết một cách nhục nhằn. Ngài gầm lên một tiếng dữ dằn như một làn sóng thần, khiến lá rừng rơi rụng trơ trụi như một sáng trọng đông. Rồi vùng ra khỏi những chiếc móng nhọn như răng của một chiếc kìm thép của đại bàng. Và đột ngột hổ quay ngoắt lại vồ được một bên cánh của đại bàng, kéo giăng ra như một chiếc quạt khổng lồ. Hổ đã chuyển bại thành thắng, nhờ có sự dũng mãnh phi thường, và cũng nhờ vào miếng võ gia truyền tuyệt luân của họ hàng nhà hổ.
Trong khi các quan khách chưa hết sững sờ vì ngón đòn của hổ, thì dơi đã bật dậy reo nồng nhiệt: “Hổ thắng rồi! Hổ thắng rồi! Đại bàng sẽ chết! Đại bàng sẽ chết! Muôn năm vị chúa tể sơn lâm. Muôn năm đức vua dũng mãnh của loài thú chúng ta…”
Dứt lời, dơi vội vàng lết đi chậm chạp như một con bọ hung, cũng là để khoe với quan khách rằng: “Ta thuộc loài thú kiêu hùng chứ không có dính dáng họ hàng gì với loài chim hạ đẳng”.
Trong khi dơi đang cao đàm khoát luận thì đại bàng nhanh như chớp, lấy hết sức bay vọt lên rồi mổ chiếc mỏ vừa sắc như dao vừa nặng như búa vào đầu hổ. Cuộc đấu lại tiếp diễn, mỗi lúc một ác liệt thêm. Cho mãi đến khi mặt trời đã rơi xuống phía bên kia các ngọn núi thấp, bầu trời xám xịt, cuộc đấu vẫn chưa phân thắng bại. Cả hổ lẫn đại bàng đều khôn ngoan hơn, thế công thủ kín đáo vững vàng hơn. Cuộc đấu có thể kéo dài đến vô hạn, cả hai loài chim và thú, thấy không có cách nào khác là phải chung sống với nhau dưới bầu trời của thượng đế. Chúng bèn cử họa mi và khỉ ra dàn xếp. Cuộc hòa giải kết thúc vui vẻ. Công ra múa, bộ lông của nó xòe ra cụp vào, màu sắc rực rỡ như muôn ngàn vì sao lấp lánh. Thiên nga đan kết thành vòng nhào lộn trên bầu trời mờ tối.Các loài chim, các loài thú đều rộn rã tấu lên khúc nhạc êm hòa giao kết… Đêm xuống, các loài chim về ngàn, dơi xập xòe đôi cánh bay theo. Nhưng bị chúng xua đuổi. Không có một giống chim nào chịu nhận dơi vào tộc họ của mình. Lủi thủi, dơi quay về bò lết những mẩu chân ngắn ngủn theo các loài thú. Lại đến lượt các loài thú xua đuổi dơi. Chỉ vì dơi định chơi trò láu cá. Khi được cử làm trọng tài giám sát cuộc thi, dơi đã không làm tròn chức phận một cách công bằng, mà chỉ chăm chút gửi tấm thân mình về bên nào có lợi nhất. Dơi cũng khéo cải trang cho bộ mặt mình có cốt cách của loài thú, có vóc dáng của loài chim. Nhưng xét cho cùng, dơi chẳng phải chim, cũng chẳng phải thú, lại còn thêm một tâm địa xảo trá, nên cả hai loài chim và thú đều không cho gia nhập cộng đồng. Thành thử dơi phải sống lén lút. Bởi ngày là của một số loài chim, đêm là của một số loài thú, nên dơi chỉ có thể lợi dụng kiếm ăn vào lúc ngày sắp tàn, đêm sắp tới. Âý là lúc chập choạng giữa tranh tối tranh sáng. Thế mới hay ở đời: “Khôn ngoan lắm, oan trái nhiều…”. Công chúa thở dài như vừa trút đi một cái gì nặng nề ám ảnh ở trong lòng.
Với vẻ thán phục. Bích Huệ ngước nhìn công chúa hỏi:
- Thưa công nương, chẳng hay do đâu mà công nương biết được lai lịch loài dơi một cách tường tận như vậy?.
Thúy Quỳnh cũng săn sái nói thêm:
- Công nương quả là lỗi lạc. Cái gì người cũng biết tới ngọn ngành. Mới nghe thượng hoàng nói về cái vị thuốc “A ngùy” thế thôi, chúng con thì một câu chữ cũng không nhớ, còn công nương lại ứng dụng làm liền, khiến quan thái y và cả thái y viện phải lao đao.
Công chúa mỉm cười với vẻ mặt đầy kiêu hãnh, nàng nói:
- Biết lai lịch của loài dơi, là do một chuyện tình cờ. Có lần ta thấy một con vật lạ bay vào trong lầu, rồi nó cứ bám chặt vào gót kèo, đầu chúc xuống đất. ta sợ quá hét lên. Ngày ấy ta còn nhỏ, chừng bảy, tám tuổi. Nhũ mẫu bèn chạy đến, khi đã rõ đầu đuôi câu chuyện. Người bèn đi lấy một chiếc tay mây kều con dơi xuống, rồi kể cho ta nghe câu chuyện vừa rồi. Phải nói, ta có biết chút ít về cuộc sống ngoài đời, ấy là do nhũ mẫu dạy cho. Chính các em cũng đem đến cho ta nhiều điều mới lạ. Nếu không, ở chốn cung cấm này, ta làm sao biết được. Hoặc giả ta chỉ biết qua những điều sách nói. Mà sách thuần có dạy người ta về các điều đạo lý cao xa,nó không sát hợp với cuộc sống thường ngày. Cũng vì thế mà ta ham mải tìm kiếm những gì vốn có quanh ta. bởi thế, khi nghe phụ hoàng nói, về ba cái trò ma giáo của mấy anh phù thủy người Tống, mất nước chạy sang ta, đi lừa bịp kiếm ăn. Ta đã ghi ngay vào trong đầu óc, là phải làm thử xem, có đúng như lời phụ hoàng nói không? Ai ngờ… Mắt công chúa long lanh sáng, nở một nụ cười kín đáo. Rồi nàng bảo hai tì nữ thân cận:
- Ngay chiều nay, các em phải đem nước ngũ vị sang bôi kỹ lên cánh cửa bên viện thái y, chỗ bữa trước Bích Huệ đã bôi nước A ngùy. Phải thôi ngay cái trò chơi ma quỷ này, nếu không, chủ, tớ chúng ta đều mắc vào trọng tội đó.
- Chúng con xin vâng! Cả hai nữ tì cùng lên tiếng đáp lời chủ.
CHƯƠNG 12
Vua Nhân tôn và đoàn tùy tùng đi theo đường ngựa trạm vào các châu, quận phía nam, để rồi vào Chiêm bằng đường thủy. Chỉ những đoạn nào hiểm trở lắm, nhà vua mới chịu đi cáng. Nhà vua cũng cấm ngặt không được thông đạt cho các viên an phủ sứ, tri phủ hoặc kinh lược sứ, quan sát sứ ở các châu, quận để tránh sự tiếp rước phiền nhiễu cho dân. vừa đi nhà vua vừa xem xét dân tình. Quả như Khắc Chung nói: “Chúng dân tuy vẫn một lòng hướng về triều đình nhưng quá đỗi nghèo nàn. Nhiều người đã phải lìa bỏ quê quán đi tha hương cầu thực. Nhiều người chồng con vẫn còn tại ngũ, không ai làm trụ cột gia đình cũng sa vào cảnh sống vất vưởng”. Nhà vua thường cải dạng đi lẫn vào dân. hỏi bất cứ người nào, ở vùng nào họ cũng đều có chung một nguyện vọng, được sống trong thái bình, ổn định. Ai cũng mong mỏi được an cư, lạc nghiệp, chồng con không phải ra trận mạc, không phải chết vì mũi tên ngọn giáo. Đức vua thương dân đến quặn thắt cả ruột gan. Người tự nhủ: “Chuyến này vào Chiêm, mọi việc suôn sẻ tốt lành ta sẽ tha bớt lính cho về quê quán làm ăn. Không những thế, còn phải giảm thuế ruộng cho dân, và bắt nhà giàu cũng phải giảm bớt tô cho người nghèo. Rồi khuyến khích việc tầm tang, việc làm muối, khai mỏ, việc thông thương hàng hóa trong cả nước. Còn phải biệt đãi những người có tài lạ chước hay. Mong sao trong một vài năm tới, có thể chấn hưng được nền kinh tế, hồi phục được sức dân. Thương dân, không gì bằng lo cho dân được no ấm. Lo cho dân no ấm, không gì bằng khuyến khích dân vỡ đất cấy trồng, tha bớt tô thuế, hạn chế tạp dịch. triều đình cũng phải xén bớt các cuộc tế lễ, yến ẩm linh đình. Việc kiệm ước phải thấu đạt từ vua quan tới chúng dân trăm họ. Phải có hình phạt nặng nề đối với bọn xa hoa lãng phí. Phải ghép bọn quan lại, bọn hào mục hay bòn rút của dân, của nước vào tử tội…”. Nhà vua có lòng thương dân như thương con. Tới vùng nào vua cũng dừng lại chẩn cấp chút ít, gọi là lộc nước cho những người nghèo khổ, phải lang thang kiếm sống. Và làm lễ cầu siêu cho những người đã bỏ mình vì nước. Lại nữa, dù bận rộn đến đâu, nhà vua cũng không quên khai mở hội giảng để đích thân ngài truyền bá kinh Phật cho tăng chúng và đệ tử. Ngài chỉ mong bố cáo cùng thiên hạ, về tấm lòng từ bi hỉ xả của đức Phật. Ngài kêu gọi mọi người hãy từ bỏ sông đục bến mê, mở lòng mở dạ, tu tính tu tâm. Chớ có tin vào chuyện dị đoan nhảm nhí. Lời nói của nhà vua có sức thuyết phục lạ lùng. Nhà vua không bao giờ nói đến chuyện cấm đoán đền nọ phủ kia, thần này thánh nọ. Nhưng hễ ai đã nghe vua nói rồi, đều thấy việc kính cẩn thờ phụng từ con chó đến gốc đa, gốc gạo là chuyện khôi hài, nhảm nhí. Vì vậy, gót chân của nhà vua đặt tới đâu, thì ở đó bãi bỏ được mê tín quàng xiên. Việc thờ cúng rốt cuộc chỉ còn lại với tổ tiên, ông bà trong các ngày giỗ, ngày tết. Và thờ một vị thần cao nhất, ấy là đức Phật tổ. Nhưng việc thờ cúng Phật tổ, cũng chỉ ở trong lòng là chính. Ai ai cũng vậy, đã theo về Phật, đều phải rèn cho được cái bản ngã trở thành vô dục. Có nghĩa là từ bỏ lòng tham vô lối. Vì lòng tham, chính là con đường dẫn tới tội ác. từ bỏ được lòng tham, con người đã hé được cánh cửa đi vào cõi thiện.
Đi hết mảnh đất phía nam của Đại Việt, vua Nhân tôn vỗ về quan điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão cùng đoàn hộ giá. Ngài hết lời khen ngợi sự tận tâm của quan điện súy, song ngài không quên nhắc nhủ: “Ta biết quan tướng quân là người mưu lược, dụng binh như thần. Nay ta muốn quan tướng quân cũng chăn dân giỏi như dụng binh. Vì gốc của nước là dân. Có dân mới có nước. Binh phiên gì cũng là từ dân cả. Nay ta ra khỏi cõi, chỉ mượn vài lời của tiền nhân ký thác lại tướng quân, ấy là: “Vạn sự xuất ư dân”. Nói xong nhà vua phóng tầm mắt nhìn bốn phía mảnh đất của tổ tiên. Ngài như muốn thu vào tận đáy mắt cả non sông gấm vóc. Từng ngọn núi, dải rừng cho tới các thôn ấp đìu hiu bỗng rực sáng lên, trong trẻo lên dưới nắng xuân vàng ấm. Tất cả như cùng hát lên lời ca tạm biệt. Đức vua khoan thai bước xuống thuyền.
Quan điện súy dù là người đã xông pha trăm trận cũng không khỏi bùi ngùi, trước tấm lòng nhân ái như trời bể của nhà vua, đối với trăm họ. Viên võ tướng cúi đầu, chắp tay vái nhà vua:
- Thần xin lĩnh mệnh!
Khi nhà vua cùng đoàn tùy tùng đã yên vị xong, các thủy thủ bèn nhổ neo, căng buồm nhằm hướng nam lướt sóng. Phạm Ngũ Lão cùng đoàn tháp tùng đồng thanh hô:
- Chúc thượng hoàng bình an! Thượng hoàng thiên tuế!. Thiên… thiên… t… u… ế!
Gió đem lời chúc bằng an vào tận khoang thuyền. Vua Nhân tôn xúc động, với lấy cây thiền trượng huơ lên ba lần. Đoàn thuyền lẩn vào sóng rồi khuất dần sau một đám mây lang thang, bỗng sà thấp xuống như một chiếc tán bạc khổng lồ che cho thuyền ngự.
Ròng rã gần hết một tuần trăng trên mình ngựa, hoặc trong các đền, chùa, quán xá, nhà vua thấy thấm mệt. Ngài nằm thư giãn trên tấm nệm gấm, mắt lim dim ngắm cảnh hoàng hôn trên biển. Nhà vua thiếp đi lúc nào không biết. Lúc tỉnh dậy thấy trắng xóa một trời trăng. Lòng bồn chồn không sao ngủ được, nhà vua khẽ hất tấm mền mà người hầu cận đã đắp cho ngài lúc thiu thiu ngủ và ngồi nhỏm dậy. Ngài khêu to ngọn bấc trong cái đĩa đèn dầu lạc. Lão Thái giật mình thấy nhà vua đang thả hồn trên mặt biển. Biển sáng lấp lánh đến nỗi lão có cảm giác như thuyền đang đi trên một vùng biển thủy ngân. Lão chính là hòa thượng Minh Thái, trụ trì ở chùa Quỳnh Lâm. Nhân một buổi nhà vua có ghé qua chùa thuyết pháp, lão mến mộ đức lớn của nhà vua nên tình nguyện xin được theo hầu. Vua nhận làm đồ đệ đem về Yên Tử để ngài sai khiến. Chuyến đi này lão xin theo làm hầu cận nhà vua, và cũng là đi hộ giá luôn thể. Lão khẽ mở rương lấy tấm áo ngự hàn khoác lên vai nhà vua. Ngài ậm ừ một điều gì đó mà lão Thái chỉ cảm thấy hơn là nghe thấy. Công bằng mà nói, tài cảm nhận của lão đã đạt tới mức siêu phàm. Chưa một lần nào lão bị nhầm lẫn. Cũng vì vậy lão mới săm săm đi lấy nghiên, bút cùng một xếp giấy hoa tiên đem lại hầu vua. Rồi lão quay ra quạt lò đun nước pha trà. Chính lão vừa quạt lò vừa phân vân. Vì rằng từ lâu lắm nhà vua không dùng trà, người chỉ dùng một thứ gỗ của cây mai để nấu nước uống. Và người thường gọi là “Lão mai trà”. Ngài hằng tâm khuyến dụ mọi người nên kiệm ước. Bao giờ ngài cũng đi đầu thực hiện những lời chính ngài khuyên bảo chúng dân. Nhà vua hí hoáy viết, đoạn người quay lại nói cùng lão Thái: - “Ngươi lại phía sau lâu thuyền, mời quan ngự sử trung tán tới dùng trà”.
Một lát sau, Đoàn Nhữ Hài đã có mặt. thấy vua Nhữ Hài toan sụp lạy. Nhà vua vội xua tay miễn lễ, và chỉ cho Nhữ Hài ngồi vào tấm nệm gấm.
Với cử chỉ e lệ như một nho sinh nơi thôn ấp mới được vào trường Quốc tử giám, Nhữ Hài khép nép ngồi vào góc tấm nệm.
Lão thái bê ra một chiếc khay khảm, trên để hai chiếc chén có nắp. Vua Nhân tôn tự mình bê lên một chén ban cho Đoàn Nhữ Hài và nói:
- Trà này ta trồng trên thung Yên Tử. Còn việc sao, hái, ướp sen là do hòa thượng đây giúp rập vào.
Nhà vua vừa nói vừa nhìn về phía lão Thái nửa như khen ngợi, nửa như tỏ ý biết ơn.
Đoàn Nhữ Hài cung kính đón lấy chén trà. Lòng bồi hồi xúc động. Nhữ Hài nói, giọng run run:
- Muôn tâu thượng hoàng, thần chưa có chút công lao gì…
Nhữ Hài còn đang ấp úng, nhà vua đã gạt đi:
- Ta mến khanh tuổi còn trẻ mà đã sớm bộc lộ cái chí của mình. Nhưng khanh quá giữ lễ vua tôi, khiến cho tình ta với khanh cách biệt quá. Đạo thần tử là cốt để gìn giữ rường mối quốc gia. Việc đó thể hiện ở lễ thiết triều, hoặc khi giao tế. Còn khi đàm đạo đôi điều tâm đắc, mà khanh cứ thủ lễ một cách thái quá, ta e câu chuyện sẽ trở nên khách sáo. Khanh hãy cứ coi ta như một người bạn vong niên.
- Tâu thượng hoàng, thần đâu dám nghĩ vậy.
- Khanh uống đi, rồi nhích lại gần đây đọc giùm ta bài thơ tức cảnh. Khanh có thấy biển phương nam đẹp không. Ta đã từng thưởng trăng nhiều dịp. Mỗi nơi mỗi cảnh đều có cái đẹp riêng. Nhưng với cảnh sắc đêm nay ta thấy có gì lạ lắm. Lạ lắm.
- Tâu… thượng hoàng thấy thế nào ạ?.
- Ta thấy… ôi khó nói quá chừng. Nói cho đúng ta cảm thấy hơn là ta thấy. Ta cảm thấy như ta có thể hòa nhập cùng vũ trụ. Và ta cũng chính là… là một phần của vũ trụ. Vừa đây ta cứ nhìn mãi vào một ngôi sao chính diện trong chòm sao Thần nông kia, và ta trò chuyên. Đúng thế, ta đã trò chuyện trong cái mênh mông vô thức. Cảm nhận chính ta là một phần của vũ trụ, nảy sinh trong khoảnh khắc đó.
Nhữ Hài chăm chú nhìn mãi vào tờ giấy hoa tiên do nhà vua trao cho. Quan ngự sử không còn tin ở mắt mình nữa, cứ xoay đi xoay lại tờ giấy không tìm đâu ra lấy một chữ. Chỉ có một hình vòng tròn. Giữa là một nhân tròn bằng hạt đậu màu đậm đặc. Màu đó cứ chuyển nhạt dần đều cho tới lúc nó chỉ còn mờ mờ như một màn khói. Toàn thể hình tròn chỉ to bằng lòng bàn tay. Do dự một lát, quan ngự sử trung tán bèn trao tờ giấy lại cho vua và nói:
- Tâu thượng hoàng, chẳng biết có phải thần là hạng người ngu tối không. Quả thần không đọc được một chữ nào. Phải chăng đây là là một thứ thiên thư vô tự?.
Vua Nhân tôn vội đón lấy tờ giấy từ tay Đoàn Nhữ Hài. Lại đến lượt nhà vua sửng sốt. Nhìn hình vẽ, nhà vua thốt lên:
- Chính lúc ấy ta trông thấy ngôi chủ tể trong chòm sao Thần nông y hệt thế này. Trời, sao ta lại có thể vẽ ra được cái điều huyền bí dường kia của tạo hóa. Ta cho đây là giây phút thăng hoa nhất của tâm linh, khiến con người có thể tiếp xúc được với cái vô biên. Chính lúc lão Thái đưa giấy bút cho ta, là lúc ta vừa có tứ thơ nảy ra ở trong đầu. ta định cầm lấy bút viết, hóa lại vẽ thành cái hình này.
Nhà vua lặng đi trong giây lát. Nhữ Hài cũng băn khoăn xét đoán. Chàng tự nghĩ: Hay là thượng hoàng mắc phải chứng bệnh gì đây. Thời tiết phương nam chắc không hợp với tạng của người. Chàng đã toan ngỏ lời vấn an nhà vua bỗng giọng nhà vua lại cất lên ấm áp:
- Trong cuộc tuần thú, nói cho đúng là cuộc vi hành các châu Hoan, Ái vừa qua, khanh có ghi nhận điều gì về chúng dân, về quan chức ở các lỵ, sở, châu, quận?.
Nhữ Hài im lặng, như còn cân nhắc đắn đo những lời sắp nói. Vua Nhân tôn tự tay rót cho Nhữ Hài một tuần trà thứ hai nữa, ngài khích lệ:
- Khanh cứ mạnh dạn nói lên cái ý của riêng khanh. Khanh chớ nên chọn ý lựa lời cốt làm đẹp lòng ta. Dù khanh nói có trái ý ta, nhưng là việc phải, không bao giờ ta trách. Ngay cả những điều quấy, được nói qua miệng khanh, ta cũng không thể trách phạt. Ta biết trong dân chúng, trong quan lại, ngay cả trong triều đình, vẫn còn nhiều điều làm ta áy náy.
Nhữ Hài là một viên quan trẻ nhất triều. Mới hai mươi tuổi đã đựoc vua Anh tôn tin dùng, cất nhắc vào hàng ngự sử trung tán. Vì tài năng chưa có cơ hội bộc lộ, nên các bạn đồng liêu vẫn tỏ ý không phục. Đôi người làm thơ chế giễu.Việc ấy đến tai, Nhữ Hài chỉ cười.(Đoàn Nhữ Hài được cất nhắc vào hàng quan trụ cột của triều đình. Nhiều người làm thơ, ngầm có ý phản đối. Trong đó có ý chế giễu Nhữ Hài có hai câu như:
“Phong hiến luận đàm truyền cổ ngữ.
Khẩu tồn nhũ sú Đoàn trung tán”.
Dịch:
“Đài ngự sử ôn câu cổ ngữ.
Miệng Đoàn trung tán sữa còn hoi”. )
Và chàng cũng tự thú nhận: “Chức quan quá to, so với tuổi của ta, quả là ta còn là một đứa trẻ nít thật”. Gần đây được vua sai khiến, qua vài việc Nhữ Hài làm vừa ý, nhà vua lại có ý định thăng Nhữ Hài lên hàng ngự sử đại phu, có thể sánh ngang với các vị đại thần trong háng nhất nhị phẩm. Biết mình còn nhiều người ganh ghét, và Nhữ Hài cũng không muốn vì được nhà vua tin dùng mà lên mặt. Cho nên chàng cố xin vua hãy khoan thăng bổ. Còn việc nhận xét các bạn đồng liêu trên, dưới, trong ngoài triều chính, Nhữ Hài lại càng cẩn trọng lắm. Phải nói nhờ có đức cẩn trọng ấy mà Nhữ Hài đứng được vững trên vị trí của mình. Nhưng nó cũng làm cho chàng trai hai chục tuổi, vướng vào đường công danh ấy già đi tới chục tuổi nữa. Không những chàng phải giữ mồm giữ miệng, giữ từng tư thế cử chỉ cho đến mọi mối giao du y hệt một nhà tu giữ đạo. Về khía cạnh này, Nhữ Hài là mặt trái của Trần Khắc Chung. Khắc Chung phóng túng hào hoa, tới mức như chẳng cần gìn giữ một tý gì trong cương vị của mình.
Mải đắn đo cân nhắc, Nhữ Hài chợt nhớ câu hỏi của thượng hoàng bèn kính cẩn đáp:

- Muôn tâu thượng hoàng, theo thiển ý của thần thì dân chúng các châu Hoan, Ái trong hai cuộc kháng Nguyên vừa qua, đã tỏ ra xứng đáng là phên dậu của triều đình. Các nhà đã đóng góp tới suất đinh cuối cùng, đồng tiền bát gạo cuối cùng cho triều đình đánh giặc. Vì vậy sức dân hầu như đã kiệt. Sau chiến tranh, triều đình có tha tô, thuế một phần nhưng nhiều năm hạn hán, bão lụt, mất mùa, kinh tế xã hội chưa kịp hồi phục thì nạn tham nhũng đã mọc lên. Quan lại ở các nha, trấn, châu, quận đua nhau xây nhà, lập phủ, bòn rút của dân. Vì vậy tiếng oán vọng trong dân chúng không phải là không có.
Nhữ Hài thấp giọng, vẻ như ngậm ngùi. Kỳ thực chàng thăm dò ý tứ xem nhà vua có còn muốn nghe những điều nghịch lý, trái tai nữa không. Chàng ngừng lời một cách đột ngột.
Vua Nhân tôn khẽ nhíu đôi hàng mi, vầng trán ngài in đậm những nét nhăn ngang dọc, cặp mắt ngài ánh lên vẻ buồn buồn. Nhìn về phía Nhữ Hài, ngài nói giọng trầm tĩnh:
- Ta vẫn lắng nghe, khanh cứ nói tiếp đi. Ta nhắc lại, khanh cứ nói những việc tai nghe mắt thấy. Và cả những điều khanh suy nghĩ thầm kín, nhưng không muốn bộc lộ. Ta muốn khanh nói rõ hơn. Chớ có nói chung chung. Ta không mong mỏi trong dân chúng không có điều chi oán vọng. Vì rằng ta tăng cho phần của người này, hẳn là phải bớt phần của người kia. Người được tăng sẽ ơn ta. Người bị xén bớt sẽ oán ta. Nhưng cái chính là sau mỗi việc làm,ta thấy lương tâm yên ổn. Tuy nhiên, bọn quyền cao chức trọng, bộn giầu nứt đố đổ vách có oán ta, ta chẳng mảy may động tâm. Nào, khanh nói đi!.
Nhữ Hài chợt nghĩ không cần phải giấu kín những điều mắt thấy tai nghe, những điều bấy lâu hằng tâm suy ngẫm, chàng mạnh dạn thưa:
- Tâu thượng hoàng, trước hết tư cách trong hàng quan lại của triều đình có nhiều điều sa sút. Luật pháp không được tôn trọng, dân chúng không còn biết tin vào đâu. Tỷ như quan thái bốc đi nói những điều dị đoan nhảm nhí, lòe bịp dân chúng để lấy lễ lấy tiền. Quan thái y không lo việc trị bệnh lại thiên sang đường cầu cúng. Quá nửa số quan lại trong triều từ hàng ngũ, tứ phẩm trở lên xây nhà, lập phủ bằng tiền bạc đục khoét của dân.
Nhà vua thầm nghĩ: “Việc ấy lão Dương có nói, ta cũng đã biết”.
- Muôn tâu thượng hoàng, điều đáng nói không phải ở chỗĩây nhà lập phủ. Mà sự nguy hại là ở nơi nó tạo cho những người này có thói quen xa hoa hưởng lạc. Nó làm cho họ trở nên đồi bại. Lẽ ra toàn bộ trí tuệ con người có được phải nhằm vào việc ích nước lợi dân, thì những người này thuần lo vào chuyện biển lận, dối trên, lừa dưới, ích kỷ hại dân. Biến phép nước thành một thứ trò chơi con trẻ, Dạ tâu thượng hoàng, loại người này thì ở đâu cũng có. Vả lại trong những ngày vi hành vừa qua, thượng hoàng cũng đã mục kích. Không nói đâu xa, ngay nơi thang mộc của thượng hoàng và các tiên đế, sự nhũng nhiễu hà lạm cũng không thiếu. Thần nhớ, bữa về Thiên Trường, thần có gặp một bà lão ăn xin, là mẹ của hai liệt sĩ bỏ mình vì nước. Bản thân bà lão có công lừa giặc vào nơi hang bẫy, làm chết gần hết một cánh quân Nguyên. Những người như thế, triều đình đã ban ân tứ. Nhưng ân sủng của nhà vua đâu có đến được người dân. Nói đến đây Nhữ Hài thở dài, ngừng lời.
Nhà vua cũng nao nao buồn. Ngài nói:
- Việc đó, ta cũng có biết. Ngày ở Thiên trường về, Huyền Trân có đến phàn nàn với ta chuyện khanh vừa nói. Ta đã bảo quan gia phải khiển trách bọn hương chức sở tại. Phải chu cấp cho lão bà đầy đủ suốt đời. Khi chết phải lập miếu thờ.
- Tâu thượng hoàng, trong thiên hạ thiếu chi những người có cảnh ngộ như bà lão đó, mà thượng hoàng cũng như công nương và triều đình chưa biết tới. Thành thử người có công không được thưởng, kẻ có tội không bị trừng trị, lòng người sao phấn khích được.
Nhà vua đột ngột ngắt lời Nhữ Hài và hỏi:
- Thôi được, việc đó ta đã có chủ ý rồi. Khi ở Chiêm về, ta sẽ bàn kỹ với khanh và quan gia. Bây giờ ta muốn lưu ý khanh đôi điều khi vào đất Chiêm. Trước hết, ta muốn biết khi đi quan gia có căn dặn khanh điều gì không?
- Tâu thượng hoàng, quan gia chỉ nói nhất nhất mọi việc đều phải xin ý chỉ của thượng hoàng.
- Thượng tướng thái sư và quan điện súy có cậy nhờ khanh việc gì không?.
- Bẩm thượng hoàng, hai quan thượng tướng chỉ căn dặn thần phải hết lòng hộ giá.
Nhà vua trầm ngâm nhìn ra mặt biển lúc này hơi tối, trăng đã ngả về tây. Gương mặt ngài có vẻ thanh thản. Dường như ngài đang nghĩ về điều gì ở một cõi xa xăm nào đấy. tiếng nói ngài phát ra như từ thinh không dội xuống:
- Vậy chớ không có ai căn dặn hoặc nhờ cậy khanh điều gì sao?.
Như sực nhớ ra, Nhữ Hài “dạ “ lên một tiếng:
- Dạ tâu thượng hoàng, thần nhớ có lần trong buổi nhàn đàm với quan đại an phủ sứ Trần Khắc Chung về chuyện thế sự. Quan huynh có nói bâng quơ, kỳ thực hàm ẩn sự răn dặn.
- Vậy chớ Khắc Chung đã răn dặn khanh những gì?.
- Tâu thượng hoàng, thần nhớ vào dịp lễ Thường tân năm ngoái, sau khi theo quan gia vào làm lễ dâng cơm mới ở nhà thái miếu, quan đại an có mời thần ghé chơi bên an phủ sứ. Sau khi bàn bạc nhiều về thời cuộc, về lẽ thịnh suy ở đời, câu chuyện lại dẫn dắt đến thế sự Trung nguyên.
Chúng thần đều cho rằng trước sau rồi người Thát-đát cũng bị người Trung nguyên tống ra khỏi cõi. Nhưng trước mắt thì đế quốc Nguyên tức là cả người Thát lẫn người Trung Hoa đều muốn thôn tính Đại Việt ta. Cho nên thượng hoàng dùng kế: “hòa hoãn với phương bắc, hòa hợp với phương nam” là thượng sách. Nhân đó quan đại an phủ sứ có lưu ý thần, nếu có dịp nào vào Chiêm công cán, thì trước hết nên thăm thú xem nội tình nước họ ra sao? Binh lực họ bố trí thế nào. Lương thảo họ tích trữ ở những đâu, và các đường giao thông thủy bộ của họ đi được loại xe nào, thuyền nào, cửa bể của họ nông sâu bao nhiêu. Rồi quan đại an mở cuốn “Binh pháp Tôn Tử” chìa cho thần xem thiên “Dụng gián”. Thần ngầm hiểu ý quan đại an và hỏi lại:
- Quan huynh làm tướng văn mà lại am tường sâu sắc về ngành võ.
Đáp:
- Tôi ngờ rằng giặc Bắc chẳng bao giờ để cho ta yên, nên lúc nào tôi cũng phải chuẩn bị, phòng khi quan gia và thượng hoàng sai khiến.
Nhữ Hài ngừng lời. Vua Nhân tôn thở dài. Ngài ngó nhìn ra phía biển, trăng đã ngả ngang mái thuyền. Ngài nói, giọng ôn tồn:
- Ta mừng vì Khắc Chung có cái lo cho thiên hạ. y nhìn phương Bắc thế là sáng suốt. Rất hợp ý ta. Nhưng ta buồn vì y lại có ý nhòm nhỏ phía nam. Ta nghĩ rằng, nếu mình không muốn người Nguyên xâm lấn thế nào, chắc chắn người Chiêm cũng nghĩ như vậy với chúng ta. Khắc Chung có cái tâm không thiện, vì thế ta đã nhiều lần khước từ quan gia có ý muốn chuyển y sang làm tướng võ. Ta còn nghe y nói với các bạn đồng liêu, y có tài dùng tì tướng, nhưng cũng có tài chém tì tướng. Mà nghệ thuật của việc sai khiến này là ở chỗ đã chém thì gươm phải thật sắc và lau máu cho thật nhanh. Đức vua rùng mình, ngài nói tiếp:
- Vì vậy ta không để quan gia trao quyền làm tướng võ cho một kẻ thất đức.
CHƯƠNG 13
Từ bữa nghe lão Dương kể về Khắc Chung lĩnh mệnh vua vào trại giặc làm rạng rỡ khí tiết của Đại Việt, lại được diện kiến Khắc Chung ở bên phủ Đông cung, Trần Huyền Trân thật sự tôn kính con người bằng xương bằng thịt đó, mà trước đây nàng chỉ hình dung chàng một cách mơ hồ như các nhân vật thần linh trong huyền thoại. Công chúa thật sự tôn thờ chàng như một người anh hùng kỳ vĩ, văn võ toàn tài, người độc nhất vô nhị trên thế gian này. Thật tình Khắc Chung không còn trẻ trung gì, cũng chẳng phải một tay mã thượng anh tuấn như Huyền Trân thường phác họa hình ảnh chàng ở trong đầu. Khắc Chung thường ngày Huyền Trân gặp là một người mảnh khảnh, nước da mai mái, đầu đội chiếc mũ triều thiên màu tía biếc, mình vận áo tay rộng cũng màu tía. Dáng đi thư thái, tao nhã. Ấy thế nhưng công chúa thường tưởng ra một Khắc Chung oai phong lẫm liệt. Hia cao tới gối, kiếm dài quét đất. Thoắt một cái đã leo lên mình ngựa, ra roi phi nước đại, cát bụi cuốn lên như một cơn lốc. Vì thế mà không lúc nào nàng không mơ tưởng đến Khắc Chung. Trong lời nói cũng như trong hành vi cử chỉ nhiều khi nàng đã tỏ ra khinh suất. Nghe nói Khắc Chung sinh ra ở một vùng núi non hùng vĩ, sông nước điệp trùng, rừng xanh vô tận, đó là vùng Giáp Thạch, lộ Hải Đông, Huyền Trân lấy cớ đi du ngoạn có ghé qua đây hồi tháng trước. Từ khi ở Giáp Thạch về, công chúa có phong độ như một người từng trải.
(Trần Khắc Chung sinh ở Giáp Thạch, nay là xã Hiệp Thạch, huyện Kinh Môn, tỉnh HảI Dương, cùng quê với Phạm Sư Mạnh)
Việc giao du cũng không còn bó hẹp trong một số các vị lão thần và giáo thụ, mà nàng tìm đến xướng họa với nhóm nho sinh xuất sắc trong Quốc tử giám. Nàng nghe đồn trong đám nho sinh sắp vào thi đình năm tới, văn tài nổi nhất có Mạc Đĩnh Chi. Lại nghe nói Đĩnh Chi là người hơi dị dạng. Vì vậy càng khơi gợi trí tò mò của một nàng công chúa khuê các. Huyền Trân bèn quyết định xông thẳng vào gặp quan Tư nghiệp quốc tử giám, và xin được dự một buổi bình văn. Hạnh ngộ đúng buổi quan Tư nghiệp đang chủ tọa buổi bình thơ của cố tướng quân Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải.
Quan Tư nghiệp trịnh trọng mời công chúa ngồi vào hàng chiếu nhất, kế bên quan Hàn lâm thị độc, Trần Huyền Trân nhẹ đưa ánh mắt bao quát cả một lượt từ phía các quan đại thần tới hàng các nho sinh. Trong đám nho sinh nhiều người còn rất trẻ, khoảng độ mười lăm mười sáu tuổi. Huyền Trân chú ý đến một người ngồi hàng đầu. Nước da sàm sạm, đôi gò má cao nhô lên, má hóp, trán giô, chỉ được đôi mắt to tròn linh lợi, sắc sảo. Đôi mắt như toát ra hai luồng hào quang chói sáng. Chàng trai ấy ngồi hai đầu gối co lên quá tai. Cằm tì giữa hai gối, nom chàng giống hệt dáng vẻ một con khỉ. Nàng thầm đoán: “Có lẽ người này là Mạc Đĩnh Chi, thiên hạ vẫn đồn đại đây”. Huyền Trân đang mải mê quan sát sắc diện đám nho sinh, bỗng thấy quan Tư nghiệp giơ chiếc vồ bằng ngón chân cái, gõ vào núm một quả chuông to bằng hai trái bưởi treo vào cái giá nho nhỏ. Tiếng chuông vừa dứt, quan thị độc cất giọng sang sảng đọc bài “Tống Sài trang Khanh”. Đọc xong, quan Thị độc ngừng nhìn cử tọa. Cả học đường im phăng phắc.
(Nguyên văn bài thơ:
TỐNG SÀI TRANG KHANH
Tống quân qui khứ độc bàng hoàng
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương
Nam Bắc tâm tình huyền phản bái
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường
Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân duệ
Cộng xướng thù gian tích đối sàng
Vị thẩm hà thời trùng đổ điện
Ân cần ác thủ tự huyên lương
Dịch nghĩa
TIỄN SÀI TRANG KHANH
Tiễn ông về nước tôi thật bồi hồi
Ngựa xâm xâm trỏ lối đế hương
Trạnh miền Nam Bắc, tâm tình như treo trên lá cờ đi sứ trở về.
Chủ khách say mùi đạo, cùng nhau chuốc chén biệt ly.
Nói cười vừa chốc lát, than ôi đã dứt áo chia tay.
Trong lúc ngâm nga xướng họa nhớ tiếc khi giường nằm đối diện.
Chưa biết ngày nào lại gặp nhau,
Để nắm tay kể chuyện hàn huyên.)
Quan Tư nghiệp bèn cắt nghĩa xuất xứ của bài thơ. Ngài nói:
- Bài thơ này đức Chiêu Minh làm vào năm Nhâm ngọ (1282). Năm đó tình hình bang giao giữa Đại Việt ta với nhà Nguyên khá là căng thẳng. Hốt-tất-liệt hết đòi vua ta sang chầu, lại bắt nếu không sang được thì đánh người vàng thế mạng đưa sang… Nhà Nguyên tập trung binh lực ép ta đủ điều. Thượng hoàng lúc ấy bèn sai người chú họ là Trần Di Ái cầm đầu sứ bộ ta sang thương thuyết với nhà Nguyên. Phò tá Trần Ái (tức là Trần Di Ái) còn có Lê Mục và Lê Tuân. Vua Nguyên bèn nhân cơ hội này phong cho Di Ái làm An Nam quốc vương. Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư. Lại sai Sài Thung lúc ấy là thượng thư bộ lễ làm chánh sứ, cùng năm ngàn quân hộ tống, đưa Di Ái về nước.
Đức Hưng Đạo đã nhận mệnh trước quan gia phảI đánh tan tành độI quân của Sài Thung, bắt bọn Di Ái và dọn đường để đức Chiêu Minh đón Sài Thung về Thăng Long thương nghị. Khi Sài Thung về nước, ngài lạI đưa tiễn đến địa đầu biên ải, nhân đó làm bài thơ lưu biệt này...
Theo lệ thường, sau khi quan Tư nghiệp đã giảng giải sơ bộ về xuất xứ của bài thơ hoặc bài văn xong, các nho sinh cứ lần lượt nói lên cái ý của mình. Việc phẩm bình thơ, văn là theo giá trị đích thực của tác phẩm, chứ không câu nệ tác phẩm ấy là của ai. NgườI bình phẩm có thể khen chê tùy thích, hoặc tùy trình độ nhận thức của mình, nhưng cấm ngặt việc mạt sát tác giả, hoặc tâng bốc tác giả một cách thái quá. Quan Tư nghiệp là một ngườI mẫu mực trong việc rèn luyện nhân cách cho các nho sinh. Vì ngài cho rằng những ngườI học trò ngày nay, ngày mai chính là những ngườI trong bộ máy giúp rập triều đình, nếu tài năng và tư cách họ thấp kém, hẳn là nền chính trị của quốc gia sẽ suy sụp.
Không khí nhà học đường im phăng phắc, Huyền Trân đưa mắt nhìn mọi người, xem trong đám nho sinh kia, ai là người sẽ khai mở buổi bình thơ. Chợt nàng thấy người ngồi kế vớI ngườI mà nàng đoán là Mạc Đĩnh Chi, đang ngước đôi mắt trong veo về phía quan Tư nghiệp, đôi môi mấp máy, như muốn nói. Người này có khuôn mặt sáng sủa, trán cao, cằm bạnh, nét thông minh anh tuấn hiện lên vớI vẻ sắc sảo. Duy có điều là tuổI còn rất trẻ, khoảng độ mườI bốn, mườI lăm là cùng.Quan Tư nghiệp nhìn về phía chàng ta, ngài gật đầu nói:
- Nguyễn Trung Ngạn!
Chàng thiếu niên vụt đứng dậy:
Công chúa lúc này mới vỡ lẽ:
- Thì ra người mà cả kinh thành coi là một thần đồng, lại chính là cậu bé này đây.
Mọi người đổ xô nhìn về phía Nguyễn Trung Ngạn. Chàng chưa kịp nói thì đã có một tiểu đồng chạy vào dâng cho quan Tư nghiệp một bức thư. Ngài xem thư xong bèn nói với tên tiểu đồng:
- Con ra mời ngay quan đại an và thái tử vào. Rồi ngài nói với toàn thể cử tọa:
- Hiện có thái tử và quan đại an phủ sứ của kinh sư đến tham dự buổi bình thơ.
Niềm vui hiện lên ánh mắt lấp lánh của Huyền Trân, má nàng ửng hồng như đang có điều gì e ấp ở trong lòng.
Quan Tư nghiệp bỏ chiếc mũ bình thiên ra sửa lại búi tóc. Tóc ngài bạc trắng như cước. Ngài khoan thai bước ra bậc tam cấp, đúng lúc hoàng thái tử và quan đại an phủ sứ cũng vừa tới. Ngài vái chào hai người. Đáp lễ xong, cả chủ, khách cùng ngồi trên bộ kỷ bằng gỗ lim đen bóng.
Mọi người vừa yên vị, quan Tư nghiệp nhìn về phía Nguyễn Trung Ngạn từ nãy giờ vẫn đứng, ngài hất hàm như khích lệ chàng thiếu niên:
- Gắng đi! Mạnh dạn nói đi!
Chàng thiếu niên nói một hồi về những lời đẹp ý hay, ngôn ngữ uẩn ảo, tao nhã của Chiêu Minh đạI vương. Bỗng chàng đột ngột dừng lại, như muốn chuyển ý, hoặc đang cân nhắc phải nói ra một điều khó nói. Sự chín chắn đó đã vượt khỏi tầm tuổI chàng. Giây lâu Nguyễn Trung Ngạn lại lên tiếng:
- Theo thiển ý của tiểu sinh, đây là một bài thơ hay nhưng chưa tỏ được cái hùng tâm của người làm tướng. Chưa làm cho kẻ thù thấy được sức mạnh của ĐạI Việt.
Trần Khắc Chung cảm thấy khó chịu về lời nhận xét của một gã thiếu niên miệng còn hơi sữa, đốI với văn thơ và sự nghiệp chói ngời của một bậc huân tướng tiền triều. Nhưng ông cố kìm nén, vì ông chợt thấy sắc mặt quan Tư nghiệp quốc tử giám vẫn bình thản. Khắc Chung đưa mắt lơ đãng nhìn khắp cử tọa. Chợt ông bắt gặp ánh mắt của Huyền Trân nhìn thẳng vào ông. Trần Khắc Chung giật mình, không ngờ công chúa lạI dám đường đột vào cả chốn này? Và tự hỏI: “Nàng đi tập văn hay nàng kiếm tìm ta?” Bất giác ông thấy lòng hồi hộp.
Nối tiếp nhau dăm bảy ngườI nữa nói, cũng vẫn theo cái mạch của Nguyễn Trung Ngạn. Thái tử ngồi hí hoáy nghịch chiếc dải mũ thêu kim tuyến, thảng lại ngửng nhìn ai đó đang nói với vẻ ngơ ngác. Chứng tỏ thái tử không hiểu được người đó đang nói về cái gì.
Một phút im lặng, quan Tư nghiệp đưa mắt nhìn khắp một lượt, hỏI:
- Vậy chớ có còn ai có điều gì cần nói nữa không? Hãy suy nghĩ cho kỹ. Các người đừng có hấp tấp. PhảI hiểu và phải nói được cả cái phần không có trong bài thơ. Chiêu Minh đạI vương là một người học rộng, tài cao, trí dũng song toàn; ta ngờ rằng các người chưa hiểu thấu cái ý thâm viễn của đại vương đâu. Qua Tư nghiệp đưa tay lên xoa xoa vầng trán. Đó là dấu hiệu khi ngài có điều gì suy nghĩ lao lung. Hẳn ngài buồn vì đám nho sinh kiến văn còn hạn hẹp, nên không kiến giảI nổI cái ý sâu xa của bài thơ, cũng như không hiểu được tình thế của một nước nhỏ đối với một nước lớn trong quan hệ bang giao. Ngài rất ngạc nhiên, tại sao đám nho sinh lớn tuổI mà cũng không hiểu, hay họ còn ngại ngần gì mà cứ ngồi im phăng phắc thế. Ngài lại đưa mắt nhìn về phía họ một lượt. Bỗng ngài thấy Mạc Đĩnh Chi đang ngọ nguậy muốn đứng lên.
Quan Tư nghiệp biết khả năng học trò của mình lắm. Trung Ngạn là một đứa trẻ thần đồng, học đâu nhớ đấy, học một hiểu mười. Cho dù có cái thiên bẩm thông tuệ ấy đi nữa, cũng không hiểu nổI những thế cờ chính trị rốI rắm của thời cuộc. Nghĩa là nó ngoài tầm với của tư duy một gã thiếu niên. Còn về Đĩnh Chi, tuổI có lớn hơn Trung Ngạn chút ít. Nên suy tư có chững chạc hơn. Qua những bài văn sách, quan Tư nghiệp cũng hé thấy nơi Mạc Đĩnh Chi, một nhà chính trị chững chạc. Hy vọng nơi chàng, sau này sẽ giúp rập được triều đình, trong công cuộc hưng vượng quốc gia, và kình chống với thế lực xâm lăng phương bắc. Ngài có vè hài lòng dừng cặp mắt nhân hậu nơi chàng trai có dung mạo khác thường kia. Ngài nói:
- Đĩnh Chi, hãy xét định bài thơ theo cách của con!.
Được thầy cổ vũ, Đĩnh Chi mạnh dạn nói:
- Tài thơ của đức Chiêu Minh đại vương đúng như anh Nguyễn Trung Ngạn đã phẩm bình. Điều kinh ngạc là xuất xứ tưởng như không ăn nhập gì với lời lẽ trong bài lưu biệt này. Nhưng đó lạI là dụng ý sâu xa của tướng quân Trần Quang Khải. Ngài vừa phá tan một âm mưu thâm độc nhất của vua Nguyên là Hôt-tất-liệt, mong dựng lên một triều đình bù nhìn bằng sức ép bang giao có vũ trang. Ngài cũng làm bẽ mặt, phảI nói là làm nhục Sài Thung trong chuyến công cán của y sang Đại Việt. Nghĩa là y hoàn toàn thất bại,tay trắng trở về. Để vớt vát lại phần nào thể diện cho Sài Thung, và cũng là để y nguôi vợi nỗI đắng cay vì vua tôi y thấp mưu thua trí; tướng quân làm như quên hết các chuyện vừa xảy ra. Căn cứ vào lời lẽ trong thơ, ta tưởng như đây là cảnh tiễn biệt của đôi bạn tri kỷ. Khiến cho Sài Thung phảI ngậm bồ hòn làm mật “dứt áo chia tay”. Ở đây còn có một việc lớn,, tướng quân muốn lưu tâm nhà Nguyên, nhưng ngài không tiện nói trong bài thơ. Rằng việc đánh dẹp ngoại bang xâm lấn bờ cõi, và trị tội kẻ phản nghịch là việc nội bộ của ĐạI Việt, không can dự gì tới “thiên triều”. Còn như sứ giả của “thiên triều” tới, lui đều được bản quốc tiếp rước như là một thượng khách.
Mạc Đĩnh Chi nói những điều chí lý, cả học đường im phăng phắc. Quan Tư nghiệp mắt nheo nheo như muốn cười. Ngài không khỏI sung sướng có đựoc những học trò xuất sắc như Trung Ngạn, như Đĩnh Chi.Niềm tự hào của ngài càng tăng hơn nữa, khi ngài thoáng nhìn thấy quan đại an phủ sứ Trần Khắc Chung cứ gật gật đầu, tỏ ý bằng lòng với sự kiến giải của Mạc Đĩnh Chi. Ngài còn nhìn thấy cả công chúa chăm chú nghe Mạc Đĩnh Chi nói như uống lấy từng lời. Vừa lúc Mạc Đĩnh Chi ngừng lời, nhưng chưa có gì chứng tỏ là chàng đã cạn ý. Mọi ngưòi vẫn im lặng chờ đợi. Mạc Đĩnh Chi ngước cặp mắt trong sáng nhìn về phía quan Tư nghiệp, như ngầm xin lĩnh ý thầy. Ngài khẽ nhếch mép cười và ba lần vuốt chòm râu bạc trắng, Mạc Đĩnh Chi biết đó là dấu hiệu thường thấy khi thầy đang có điều gì hoan hỉ lắm. Được thầy cổ xúy, Mạc Đĩnh Chi lên tiếng dõng dạc:
- Tiểu sinh nói điều này, chỉ sợ không đúng ý của tiền nhân. Cứ theo ngu ý thì đây là một sách lược bang giao, một quốc sách của Đại Việt ta lấy nhu chế cương. Quốc sách này hình thành từ Ngô vương Quyền, trải Đinh, Lê, Lý, cho tới bản triều ta, đều kế tiếp nốI truyền, mà đều có bổ khuyết cho muôn phần hoàn hảo. Trong đối sách của nước Việt ta qua các đời vua Trung Quốc đều tỏ ra ôn nhu. Nhu chứ không nhược. Vì thế ta vẫn giữ được nền độc lập tự chủ. Ngô Quyền nhu với nhà Nam Hán nhưng lạI giết Lưu Hoằng Thao ở sông Bạch Đằng.Lê Hoàn nhu với nhà Tống nhưng lại giết Hầu Nhân Bảo, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Hưng ở Chi Lăng, đó là một thời. Lại một thời dùng cương để chế cương như Lý Nhân tôn sai Lý Thường Kiệt, Tông Đản đánh các châu Khâm, Liêm, Ung,, diệt hàng chục vạn quân Tống mưu vào xâm lấn cõi bờ ta. Sau trận tập kích đại thắng đó, lạI rút về phòng thủ ở bờ nam sông Như Nguyệt. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết kéo quân sang, Lý Thường Kiệt đánh cho đại bại, nhưng lại vẫn giảng hòa, cấp ngựa xe, lương thảo cho quân Tống rút về. Vậy rốt cuộc vẫn cứ là ôn nhu. Bản triều ta đã nốI tiếp đánh quân Nguyên ba lần đại bại. Ta đánh cho Thoát-hoan phảI chui vào ống đồng trốn chạy. Ta chém đầu Toa-đô, giết Lý Hằng, Lý Quán, cầm tù Tích Lệ Cơ Ngọc, nhưng ta vẫn giữ lễ triều cống. Vì sao vậy? Âý bởi thế của ta là thế nước nhỏ, phải có phương lược của nước nhỏ. Ta với Trung Quốc, một lớn một nhỏ vẫn cứ song song tồn tại. Trung Quốc vẫn cứ phảI vờ thừa nhận sự thuần phục giả, độc lập thật của Đại Việt ta. Trong thế cờ bang giao giữa hai nước, không ai hiểu ta bằng Trung Quốc, cũng như không ai hiểu Trung Quốc bằng ta. Họ với ta, thật sự là kẻ thù tri kỷ. Cho nên bài lưu biệt của tướng quân Trần Quang KhảI với sứ Nguyên Sài Thung, thực chất là một phương lược bang giao, chứ đức Chiêu Minh đạI vương của ta quyến luyến gì kẻ kia mà: “ Vị thẩm hà thờI trùng đổ điện. Ân cần ác thủ tự huyên lương”. )Chưa biết ngày nào gặp lạI nhau, để nắm tay kể chuyện hàn huyên)...
Mạc Đĩnh Chi ngừng lời, đầu hơi cúi xuống tỏ ý kính cẩn biết ơn các bậc bề trên và các bạn đồng môn.
Qua Tư nghiệp Quốc tử giám đắc ý lại vuốt chòm râu tới ba lần. Ngài vuốt khoan thai đĩnh đạc, như người vừa được thưởng thức một chén trà ngon vào buổi sớm tinh sương. Thực tình ngài rất lấy làm mãn nguyện về kiến thức sâu sắc mà ngài đã truyền dạy cho Đĩnh Chi. Và chàng thiếu niên này biến báo chữ nghĩa của thánh hiền một cách lỗI lạc, như một kẻ có đầu óc kinh luân, chứ không phải bọn tầm chương trích cú theo lốI học cử nghiệp tầm thường.
Quan đại an phủ sứ Trần Khắc Chung không khỏi giật mình về lối lập luận, cũng như cách kiến giải đúng đắn và chính xác của Mạc Đĩnh Chi. Ông thầm nghĩ:” NgườI này kiến thức hơn ta nhiều lắm. Y sinh sau đẻ muộn, mà cứ như là y chứng kiến các sự việc đã xảy ra, như chính y là ngườI hoạch định chính sách bang giao của thời Trung hưng”.
Buột miệng, Trần Khắc Chung khen:
- Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn mai sau sẽ là những tay trụ cột của triều đình, mong rằng sự học của các người sẽ còn tấn tới nhiều nữa, để khoa thi tới đây sẽ dự vào hàng tam khôi...
Nói xong ông nghiêng người xá quan Tư nghiệp quốc tử giám. Ông đưa mắt kiếm thái tử, thì thấy thái tử đang ngồi bắt dế ở ngoài vườn. Ông cũng bắt gặp ánh mắt sáng ngời của công chúa. Bốn mắt nhìn nhau có phần như đắm đuối, như hò hẹn...
CHƯƠNG 14
Trần Nhân tôn theo đường thủy từ Chiêm Thành về. Vừa tới Thăng Long, nhà vua đã sai sửa lễ để ngài vào bái yết trong nhà thái miếu. triều thần theo đến làm lễ đông đủ. Trải gần chín tháng vừa đi về, vừa ở lại đất Chiêm, nhà vua không những khỏe mạnh mà lại có phần nhuận sắc ra. Các quan lấy làm mừng lắm. Vua Anh tôn luôn theo hầu bên cạnh thượng hoàng. Công chúa Huyền Trân cũng không rời cha một bước.
Cáo nhà thái miếu xong, vua Nhân tôn hỏi han sức khỏe và công việc của từng người. Các quan nóng lòng chờ đợi thượng hoàng kể chuyện người vào đất Chiêm. Nhà vua mỉm cười nhìn khắp lượt các quan, ngài nói:
- Chiêm Thành là một nước có nền văn hiến cao. Dân Chiêm tôn thờ quốc vương của họ như tôn thờ một vị ác thần. Bởi họ chỉ kính sợ mà không dám gần gũi. Nền kiến trúc và nghề hàng hải của họ phát triển ngang nhau. Họ có nhiều tôn giáo. Đạo Bà-la-môn được coi là quốc giáo. Nhà vua cũng theo đạo này. Đạo Phật là đạo lớn thứ hai sau Bà-la-môn. Phật giáo Chiêm Thành theo phái Tiểu thừa và cả Đại thừa, như ta. Nhà sư Du Già sang ta hồi đầu năm, là giáo chủ Phật giáo Chiêm Thành. Chiêm quốc cũng mới có một nhóm người theo đạo Hồi, Nhà vua không cấm, nhưng đạo này còn ít người theo. Người theo đạo Hồi, không ăn thịt lợn, không nuôi và không giết lợn. Họ thờ con lợn như một vị thần. Cũng như người Bà-la-môn không ăn thịt bò, và thờ bò như thờ thần. Ta nghe nói có một số giáo sĩ thuộc loài bạch chủng, vào Chiêm xin truyền đạo của Tây dương, nhưng nhà vua không thuận. Ngoài ba tôn giáo đó ra, người Chiêm không thờ các tạp thần. Về phần chữ nghĩa, nước họ cũng có. Chữ Chiêm giống như chữ Phạn theo thổ âm của họ, giống như ta đọc chữ Trung Quốc.
Đột ngột Trần Nhân tôn ngừng lời quay sang hỏi vua Anh tôn:
- Mặt bắc thế nào quan gia? Từ khi ta vào Chiêm tới nay, người Nguyên có động tĩnh gì không?
- Muôn tâu phụ hoàng, không có chuyện gì lớn xảy ra.
- Thế còn chuyện nhỏ xảy ra là cái gì? - Nhân tôn hỏi lại:
- Bẩm phụ hoàng, lính Nguyên xui dân bên đó sang cày ruộng của dân bên này. Có chỗ lính của họ đóng giả dân thường, sang gặt lúa của ta. Họ cãi bừa là đất ruộng của họ, dân ta cày cấy thì họ gặt. Quan lại sở tại giải quyết việc này đã êm cả.
- Quan gia nói lại ta nghe cách giải quyết các vụ tranh đoạt?.
- Bẩm phụ hoàng, đám dân sang gặt đó, quan sở tại mời tất cả về công quán, cho ăn uống tử tế, rồi hỏi họ tại sao dám liều lĩnh như vậy, có đúng là ruộng ấy họ đã sở hữu từ trước không. Chúng đều trả lời là do quan địa phương bên Trung Quốc xui, còn bọn lính thì thúc bách họ. Viên huyện lệnh đã có làm tờ biên bản tường thuật lại đầu đuôi sự việc, bắt họ ký cả vào đó. Còn đám lính bị ta bắt, cho ăn uống no say, cũng khai là do quan sở tại bắt đi. Viên huyện lệnh đã làm biên bản bắt chúng ký, rồi tha về hết. Tất cả bọn chúng đều hứa từ nay không dám làm càn như thế nữa. Bên ta đã cử viên tri phủ sang gặp an phủ sứ của họ. Nói cho họ biết các sự việc diễn ra do cấp dưới của họ gây nên. Ta cũng cho họ xem biên bản, và bảo, nếu họ còn để việc trên tái phạm sẽ tâu về Yên Kinh(Bắc Kinh ngày nay). Họ hứa là sẽ giữ nghiêm lệnh của triều đình.
Vua Nhân tôn thở dài:
- Vậy chớ quan gia và các khanh có ngờ rằng đấy lại chính là chủ ý của triều đình nhà Nguyên không?.
Mọi người ngơ ngác. Vì không có ai ngờ một nhà nước lớn như thế, lại xui dân gây sự bất hòa với lân quốc bằng những điều nhỏ mọn, mà ngay đám tiểu nhân cũng không bao giờ làm. Vua Nhân tôn nói với giọng ngùi ngùi:
- Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung Quốc. Chỉ người Trung Quốc mới nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Ngoại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì là họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc táng tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ (Người Trung Quốc xưa thường cho dân tộc mình là nòi giống đẹp đẽ nhất hoàn vũ, nên gọi là Hoa Hạ) từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các người có nhớ hồi đánh giặc Thát, ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, đầu hàng nhà Nguyên, lẩn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát-hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát, trước sau gì cũng không nuốt nổi Trung Hoa. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.
Ngừng một lát, nhà vua lại nói:
- Ta vào Chiêm có bàn bạc kỹ với quốc vương Chiêm: Chế Mân. Ông ta là một người vừa trung hậu, vừa hào hoa nhân ái. Vương quốc của ông ta giàu có. Dân chúng cần cù, khéo léo tay chân. Cứ xem những đền, đài, tượng, tháp hoặc chùa, Phật của họ, ta cứ tưởng sức người không làm nổi, mà phải có thần linh giúp rập. Nhưng không, chính mắt ta thấy những người thợ đá, họ tạc những bức tượng vũ nữ, những con chim thần khiến ta tưởng như đó là người đang múa, chim đang bay vậy.
Trần Huyền Trân, con gái yêu của thượng hoàng đang ở tuổi trăng tròn, lòng đầy mơ mộng, nghe cha kể về một xứ sở kỳ lạ khiến nàng có cảm giác đó là xứ sở của thần tiên. Từ bữa vua cha trở về, nàng lẽo đẽo theo cha từng bước, nghe đủ thứ chuyện, hỏi không biết bao nhiêu điều. Nàng đón nhận từng lời nói của vua cha, như người đi lâu ngày trên sa mạc khát bỏng, hít hà lấy từng giọt sương đêm. Huyền Trân không những chỉ có nghe, mà trí tưởng tượng của nàng còn vẽ ra cả một thế giới của người Chiêm cực kỳ sống động, hệt như thế giới cực lạc trên cõi Niết bàn.
Chợt Trần Nhân tôn bắt gặp khuôn mặt kỳ ảo của con gái, dường như ngài đọc được cả ý nghĩ của con. Tự nhiên ngài thấy có gì nhoi nhói ở trong lòng, khi ngài nghĩ đến tương lai của Huyền Trân. Ngài tự nhủ: Con yêu quí của cha ơi. Lẽ nào số phận của con lại không được tốt đẹp như cha mong muốn. Chao ôi, cái xứ sở kiêu hùng và đau đớn của ta, số phận mỗi con người đều gắn chặt với số phận của đất nước. Cả như con ta cũng không tránh khỏi điều đó nữa sao? Nếu như không có cái nước Trung Hoa khổng lồ quái quỉ và ác độc ở cạnh ta ám ảnh, chèn ép, bức bách và lúc nào cũng chỉ rình rập, thôn tính ta, thì thần dân ta đâu đến nỗI trăm bề cực nhọc thế này. Nếu mỗi người dân Đại Việt không ý thức được phải làm gì cho đất nước giàu có và hùng cường, đủ sức mạnh để vượt lên kẻ thù, thì ngàn năm sau ta vẫn cứ mãi là cái bóng mờ nhạt của con quỷ này, và phụ thuộc vào nó. Ước chi Trời Phật giúp ta phép lạ, ta sẽ di chuyển cả quốc gia Đại Việt này tới một miền nào mà các dân tộc, các quốc gia cùng sống trong cảnh hiếu hòa, bình đẳng và yêu thương nhau như người trong một nhà. Sau khi cả quốc gia ta di chuyển rồi, nơi đây sẽ là một vành đai chết. Sẽ không có một quốc gia nào chung sống với nó nữa. Nó sẽ trở thành một con quỷ cô đơn…
Nhà vua sực nhớ là mình đang nói chuyện với quần thần về nước Chiêm. Định thần một lát, người nói tiếp:
- Ta phảI vui mừng báo cho các khanh một điều. Ở Chiêm có giống lúa gặt vào tháng 5. Ta chưa từng thấy có lúa chín vào tháng 5. Họ cũng có lúa gặt vào tháng 10 như ta. Vậy là một năm họ có tới hai vụ lúa. Dân tình no ấm lắm. No là vì họ nhiều lúa gạo. Ấm là vì họ có nghề trồng bông, dệt vải. Ấm còn vì quanh năm nắng đẹp. Ở Chiêm không có mùa đông lạnh giá. Cây cối của họ bốn mùa xanh tốt. Nhiều giống hoa đẹp quả ngon. Ồ, ta có lấy về được một ít giống lúa gặt vào vụ tháng 5, gieo cấy vào đầu tháng giêng. Nếu việc này nhờ ơn Trời Phật mà thành, dân ta một năm sẽ có hai vụ lúa, hẳn là không còn phảI lo thiếu đói nữa.
Sắc mặt các quan bừng lên rạng rỡ. Ai nấy đều mong ngóng đến một ngày nào đó vào tháng năm, những cánh đồng bạt ngàn xưa kia bỏ hóa, nay là những cánh đồng lúa chín vàng, như lúa vụ mười. Vậy là ta có gấp đôi số lúa hiện có.
Nhà vua lại nói:
- Trưởng lão Phật giáo Chiêm quốc là người tâm đắc với ta, có cho ta được độ một đấu thóc giống. Ta đã giao cho lão Thái cất giấu cẩn thận, nay mai ta giao lại cho Nhữ Hài trông nom việc gieo cấy rồi nhân giống ra. Một hạt thóc này quí bằng cả trăm nén vàng. Nếu sơ suất để chuột, chim phá hoại mất giống, ta sẽ trị tội ngang với tội phản quốc. Các người phảI nhớ, việc cấy được giống lúa này, có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Lúa lấy giống từ Chiêm Thành về, nên ta đặt tạm cho nó cái tên là Lúa Chiêm.
Ngừng một lát, nhà vua lại tiếp:
- Điều hệ trọng nhất trong chuyến vào Chiêm này ta đạt được, ấy là ta đã phân giải thấu đáo với vua Chiêm, để Chế Mân thấy được cả Đại Việt và Chiêm Thành đều nằm trong mưu đồ thôn tính của các triều đại Trung Hoa. Vậy hai nước phảI liên kết lại trên tình huynh đệ, để tạo ra sức mạnh chống lại các cuộc xâm lăng của phương bắc.
Việc này ta đã thận trọng cân nhắc, các ngươi chớ có làm điều gì hồ đồ hại đến chữ tín, khiến người Chiêm phải nghi ngờ. Ta cũng đã nói hết nhẽ với Chế Mân. Nhưng quả thật ông ta đang ở vào thế bí. Theo nhà Nguyên, nhất định Đại Việt chống lại. Liên minh với Đại Việt, hẳn nhà Nguyên đe dọa. Vả lại, ngay trong nước cũng còn có thế lực muốn chống ông ta. Cho nên muốn tạo được thế liên minh bền vững với Chiêm, ta phảI làm được hai điều: Một là giúp cho Chế Mân đủ mạnh để trong thì chế được kẻ muốn chia rẽ chống đối, ngoài thì kẻ thù phải nể sợ. Hai là, phảI làm cho mỗi người Chiêm, từ vua quan tới thứ dân tin vào lòng thành thật hòa hiếu của Đại Việt. Cho nên các ngươi từ tướng lĩnh ngoài biên ải, đến các sứ đoàn vào Chiêm, nhất nhất không được làm điều gì khinh xuất, để có thể tổn hại đến tình bang giao hữu hảo giữa hai nước. các ngươi nên nhớ, người Nguyên như loài cú vọ, lúc nào cũng rình rập, hễ ta sơ hở là họ sấn sổ nhảy vào ngay. Cứ xem hành vi các sứ đoàn của họ ở Thăng Long này và ở Chà Bàn, là ta biết hết ruột gan họ… Nhà vua đột ngột dừng lời, vẻ như cân nhắc, rồI tiếp:
- Còn miền đất hai Châu, sẽ được Chiêm Thành trả lại Đại Việt bằng con đường tế nhị, tránh việc nhà Nguyên gây khó dễ cho ta. Việc này ta sẽ bàn kỹ với quan gia, các ngươi cứ yên tâm, ta không bao giờ để một tấc đất của Đại Việt lọt vào tay kẻ khác. Nhưng ta còn muốn không bao giờ có nạn can qua, diễn ra trên mảnh đất thấm biết bao máu của người Việt mình, từ bao đời nay đông kết lại…

6/8/2015
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...