Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Bão táp cung đình 2

Bão táp cung đình 2

CHƯƠNG 18
Qua vụ gửi gắm thằng cháu ngoại không thành, phu nhân giận chồng đến bầm gan. Tưởng có điều gì thay đổi nên ông ấy đốc chứng ra như thế. Nhưng phu nhân để ý trong một thời gian dài, không thấy thái sư có biểu hiện nhỏ nào đáng ngờ trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí, ông ấy cũng quên luôn cả chuyện đó. Trong khi bà ấm ức như đông kết thành khối ở trong lòng.
Thấy Trần Thủ Độ vẫn chăm chút việc nhà, tận tâm với việc nước. Phu nhân không giận chồng nữa. Bà thương ông suốt đời lận đận. Cả thân, tâm không một lúc nào được thư thái nhàn hạ. Chưa xong việc nọ đã lo tới việc kia. Vừa lo xong việc san định hành luật, lại phải để mắt tới việc sưu chép điển lệ. Mới lo tha tô thuế, khẩn hoang, lập ấp, đã phải lo đến việc đắp đê phòng lụt. Vừa đi kiểm định hộ khẩu đã phải lo đến việc binh bị, phòng khi có họa xâm lăng. Không việc gì là ông ấy không phải lưu tâm đến.
Nghĩ lại chuyện cũ, phu nhân cảm thấy như mình có lỗi lớn với chồng. Cũng may mà ông ấy đã không chiều theo ý ta. Nếu ta nhờ vả được một việc, thì các bà vợ các ông quan khác sẽ theo đấy mà nhờ vả chồng họ, hoặc chỗ quen biết này khác, tới hàng trăm ngàn việc khác nhau. Thử hỏi, nếu mỗi người trong bộ máy quốc gia, ai có chức có quyền cũng thao túng như vậy, thì luật pháp còn có giá trị gì nữa. May thay, ông ấy là người trực tâm trực tính, nên đã dẹp bỏ ngay được cái lợi riêng nhỏ bé. Cho đến nay, vẫn chỉ là ông ấy treo tấm gương sáng đầu tiên về kỷ cương, phép tắc.
Song có một điều mấy năm nay phu nhân thường áy náy lo ngại. Đó là việc hoàng hậu Chiêu Thánh con gái bà, sau cái lần sinh hoàng tử Trịnh năm Quiù Tị (1233), được vài ngày, thằng bé chết yểu. Con ta vì thương khóc nhiều mà sinh bệnh. Từ ấy tới nay đã ngót năm năm, con ta vẫn mặt võ mình gầy. Tội nghiệp con bé, mới mười lăm tuổi đầu đã sinh nở. Thế là từ bấy tới nay, cứ mỗi ngày mỗi khô héo đi, không thai nghén gì nữa. Trong khi nhà vua thì sức lực ngày một cường tráng. Nhà vua cũng đã trưởng thành về tư chất. Đang dần dần để tự mình lèo lái lấy công việc triều chính. Nhà vua cần có một người vợ đẹp đễ nâng khăn sửa túi, để hầu hạ, vuốt ve, để có con nối dõi tông đường. Tất cả những đòi hỏi bình thường đó, con ta hầu như bất lực. Ta đang lo chữa chạy thuốc men cho con gái. Khốn nỗi việc này không thể kéo dài lâu hơn nữa. Bởi nhà vua đã lớn, đã ý thức được các việc cần làm và phải làm. Nếu mai đây nhà vua say đắm một mỹ nhân nào, mà phế truất con ta. Ôi cái việc thay bậc đổi ngôi đó, ta không thể nào chịu đựng được. Không thể nào chấp nhận được. Nhưng phải tính toan lo liệu ngay từ bây giờ, không thì muộn mất.
Nghĩ vậy, phu nhân bèn đem những nỗi băn khoăn hãi sợ trong nước cờ đang toan tính, bày tỏ hết với thái sư.
Trần Thủ Độ chăm chú lắng nghe. Ông thấy phu nhân có vẻ hoảng hốt thật sự. Chần chừ một lúc. Ông ậm è lên tiếng:
- Đúng như bà nói. Cảnh nó có con đường của nó. Thân trai tráng mạnh khoẻ, nó không thiếu gì phi tần. Nhưng còn ngôi chính thất? Còn người kế vị? Ờ, cũng may mà bà sớm nghĩ ra. Để tôi còn suy ngẫm thêm.
- Giời ơi, đến lúc này mà ông còn suy ngẫm. Ông suy ngẫm xong thì con gái tôi ra đứng đường. Hoặc giả nó không giữ được mồm miệng lại bị đẩy vào lãnh cung.
Trần Thủ Độ đứng phắt dậy, đi đi lại lại trong gian phòng lung linh ánh nến. Ông cứ đi như thế, một lúc lâu sau dừng lại trước bức “Sơn thủy họa” của Vương Duy1. Thái sư như quên hẳn câu chuyện đang nói dở dang với phu nhân. Ông bị hấp dẫn bất ngờ vào khuôn tranh. Thường ngày bức tranh vẫn treo ở đấy, nhưng ông không để ý mấy. Nó cũng chỉ là những ngọn núi lô xô, xa gần cùng với một dòng sông đang cuồn cuộn chảy. Nhưng hôm nay bất chợt, ông bắt gặp một cái gì như là sự vĩnh cửu. Những dãy núi đá sừng sững chôn sâu vào lòng đất, vẻ như thách thức với cả không gian và thời gian. Ngay cả dòng sông như bắt nguồn từ trên trời cao, và kéo thành một vệt dài vô tận cùng với chân trời xa thoáng đãng. Lác đác một vài cây tùng trổ ngang sườn núi, với bộ rễ gân guốc như khoan sâu vào lòng đá. Toàn cảnh bức tranh thể hiện một suy tư thâm trầm của tác giả, muốn biểu cảm cái đẹp, cái hùng, cũng vĩnh hằng như vũ trụ. Bỗng nhen lên trong đầu óc kiêu dũng của vị tướng một ước mơ táo bạo: “Ta phải xây dựng vương triền Trần, cũng trường cửu như mơ ước của người họa bức tranh này”.
Thấy chồng bị cuốn vào bức tranh, phu nhân tỏ vẻ khó chịu. Bà không hiểu, ba cái ngọn núi chết với một dòng sông giả kia, có gì mà ông ta phải ngắm kỹ thế. Mới mẻ gì cho cam. Nó ở đấy từ bao giờ bà không rõ. Chỉ biết khi bà về đây, đã thấy treo. Mà lạ, từ mấy năm nay vào ở hẳn đây, ngày nào ông ấy chẳng trông thấy nó. Vậy mà hôm nay?
Dứt luồng suy tư, Trần Thủ Độ ngoắt quay sang phía phu nhân. Ông nói:
- Bà định thế nào?
Thấy phu nhân im lặng, Trần Thủ Độ lại tiếp:
- Tôi hỏi chuyện con Chiêu Thánh ấy, bà tính sao?
Phu nhân ứa nước mắt:
- Nghĩ thương nó quá ông ạ. Bố chết. Mẹ đi lấy chồng khác. Bản thân nó thì mất ngôi. Ừ thì nó nhường ngôi cho chồng. Nhưng ông cũng thừa biết, nó không nhường không được. Bây giờ lại đang lo mất luôn cả vị nữa. Bản thân thì đau yếu. Thế là mất hết. Cả ngôi lẫn vị đều mất.
Phu nhân thở dài, lấy vuông khăn trầu lau ráo mấy giọt nước mắt vừa ngoen. Bà ngẩng nhìn chồng, nói:
- Ông ạ, tôi có hỏi con Chiêu Thánh, thì nó bảo từ ngày nó yếu mệt đến giờ, sự buồng the ơ hờ đã làm cho nhà vua ít lui tới, tình cảm không còn đằm thắm nữa. Tôi có cho xem xét, thì biết nhà vua hay cho đòi mấy đứa con gái mới tuyển được vào cung hồi cuối năm ngoái tới hầu.
Gật gù giây lâu, Trần Thủ Độ nói:
- Hay là bà xem, kiếm trong số đó, đứa nào xinh đẹp, con nhà lương dân, chọn cho Cảnh một đứa. Đưa vào hàng phi. Để nó còn kiếm đứa con nối dõi chứ. Con Chiêu Thánh thế thì còn sinh nở gì được nữa.
Nghe chồng nói, phu nhân giẫy nẩy lên:
- Giời ơi, mọi việc ông đều sáng suốt, sao việc này ông lại tối tăm thế!
Trần Thủ Độ hết đỗi ngạc nhiên. Ông không hiểu việc đó có gì làm phu nhân nổi giận. Đã toan đứng dậy bỏ đi thì phu nhân níu áo ông lại, làm lành:
- Để tôi nói cho ông nghe. Thế ông không thấy cái họa khác máu tanh lòng ư? Ông không thấy vì có tôi được tiến kinh, các ông trong họ Trần mới được tiến triều? Rồi dần dần quyền hành mới lọt vào tay các ông sao? Họ Trần muốn giẫm vết chân họ Lý chăng, mà định đưa con gái nhà khác vào hàng phi? Nó được chính vị rồi, lại được nhà vua sủng ái, rồi sinh được hoàng nam, giời ơi nó phế truất con mình lúc nào không hay. Ngay cả tôi, cả ông nữa, chắc còn được như thế này mãi hay sao?
Trần Thủ Độ cười khẩy:
- Bà quá lo xa. Còn tôi, thằng Cảnh không dám trái ý. Nó làm hoàng đế chứ làm giời tôi cũng vặn cổ.
Lại đến lược phu nhân cười giễu:
- Vì ông chuyên quyền, lại áp chế cả vua nữa, ông mới lắm kẻ hằn thù. Chỉ cần Cảnh dám trái ý ông một tẹo, là có kẻ về hùa chống lại ông ngay. Mấy lại ông cứ tưởng, ông còn khoẻ mạnh tinh anh cho đến lúc tuổi già chắc. Ông đội đá ở đời mãi được chăng? Trần Cảnh đã gần hai chục tuổi. Nó cũng vỡ vạc nhiều điều. Ông gà mờ quá, anh em nó cũng gây dựng vây cánh cả rồi đấy. Liệu ông có còn sai khiến được nó mãi không?
- Giời ơi! Bà làm tôi rối cả ruột. Làm sao mà chúng nó qua được mắt tôi. Vậy ý bà định thế nào, nói thử tôi nghe.
- Tôi định, nhưng ông không quyết thì định làm gì?
Phu nhân nói với vẻ hờn mát - Tôi cứ phang phác, ông liệu xem nhé: Trần Cảnh phải có một người vợ khoẻ mạnh, phải có cơ sinh đẻ. Nhưng người đó không phải là ngoại nhân.
- Ý bà định nói, nó phải lấy người trong họ? - Ông nhìn phu nhân mỉm cười ý nhị. - Như tôi với bà ấy? Tôi tưởng thế là đủ rồi. Nay Trần Cảnh đường đường một vị quân trưởng, lại theo gương chú làm cái chuyện hôn nhân lộn xộn ấy, để người trong nước họ cười cho à? Để cái bọn múa bút khoe văn nó chửi tôi đời đời trong sử sách hay sao?
- Giời ơi, ông mà cũng sợ cái bọn hủ nho ấy học chửi à? Ông sợ sử sách ư? Tay ông làm ra lịch sử cơ mà? Vả lại, ông phải nhớ rằng, chính ông đẻ ra cái vương triều Trần này, ông phải có kế sách gìn giữ cho nó trường cửu. Nếu không, chắc gì đã trọn được đời ta?
Phu nhân chợt nói đến chuyện trường cửu, Trần Thủ Độ sực nhớ cái tứ mà ông vừa đọc thấy trong bức “Sơn thủy họa”. Đúng như vậy, cái chí của ông vẫn muốn làm một việc gì đó cực lớn, để nó trường tồn cùng với non sông đất nước. Ông vẫn muốn xây dựng một quốc gia giàu mạnh, do họ Trần nhà ông đời đời nhiếp thống. Phải mạnïh hơn cả thời Lý của Lý Thánh Tông, để người phương Bắc phải nể trọng. Có như thế, mới cùng họ song song trường tồn. Muốn vậy, việc tổ chức quân đội từ nội binh đến ngoại binh phải chặt chẽ, tinh luyện. Việc nông tang phải được phát đạt thịnh vượng. Phải để cho người làm ruộng được no đủ và có dư lúa gạo. Dự trữ trong dân là cách tích trữ lương thảo khôn ngoan nhất. Kho đụn nào của nhà nước mà chứa xuể số thóc vét được trong dân. Phải nuôi dưỡng cho muôn dân ý chí làm giàu, cũng như ý chí quật cường dân tộc. Phải đời đời vun đắp cho các người ở ngôi quân trưởng là những người thông sáng. Muốn vậy phải đặt ngôi vua dưới sự giám sát của một đấng quyền uy nào đó. Nếu kẻ trị vì tỏ ra u tối; phải kịp thời phế bỏ, chọn người khác lên thay. Vậy là ai muốn ở ngôi cũng đều phải lo tu đức, sửa mình. Song muốn giữ cho vương triều được toàn vẹn mà đề người ngoại tộc lọt vào, tránh sao khỏi sự dòm ngó từ ngoài. Trần Thủ Độ đang suy nghĩ rất dữ về cái mưu không cho người ngoại tộc lọt vào của phu nhân. Như thế nghĩa là người trong họ phải lấy lẫn nhau? Anh chị em phải lấy lẫn nhau? Đấy là điều chưa từng có trong lịch sử cổ kim. Ta với phu nhân là chuyện đã rồi. Chẳng qua ta chỉ muốn diễn cho ngoạn mục một tích trò mà ta sáng tạo. Nên ta phải thủ tất cả các vai, từ vua quan đến đĩ điếm. Ai ngờ tai họa lại giáng xuống đầu ta. Không. Không thể như thế được. Vả lại cánh họ Trần ở trong hoàng cung này, có con cái nhà nào đến tuổi cập kê có thể lọt mắt xanh Trần Cảnh?
Nghĩ vậy, Trần Thủ Độ liền quay lại nói với phu nhân:
- Không được bà ạ. Tôi đã suy xét kỹ rồi. Lịch sử sẽ cho tôi là một tên loạn luân đê tiện. Vả lại, tôi đã kiểm xét, đám con gái họ Trầøn trong hoàng cung này chẳng có đứa nào ra hồn.
Ngập ngừng giây lát, Trần Thủ Độ lại lên tiếng - suy cho cùng, tôi vẫn ngại cái bọn nho sĩ, nó đóng đinh mình vào sử sanh như một tên tội đồ. Thực tình, tôi ngại bọn họ lắm bà ơi!
- Ông mà cũng ngại bọn trói gà không chặt ấy nữa à. Tay ông làm ra lịch sử, ông sợ gì họ nào. Phu nhân chép miệng - Mấy lại họ chỉ cao đạo thế thôi, chứ anh nào cũng nhát, cũng tham cả đấy. Ông cứ đe nẹt xong, thí cho mỗi tên mươi mẫu đất để dưỡng già, lại không tranh nhau mà chép: “THÁI SƯ TRỌNG KẺ SĨ MÀ THỰC CÓ LÒNG NHÂN”.
Chỉ có mười chữ để đổi lấy mười mẫu đất, tôi đố anh nho sĩ nào dám cứng lòng. Nếu không thế, ông cứ chặt đầu tôi. Phu nhân mỉm cười, mặt hơi vênh, vẻ như thách thức.
Thái sư đi đi lại lại trong đại sảnh, đầu hơi cúi, vẻ trầm tư. Thoắt ông đứng trước phu nhân nói:
- Tôi đã nghĩ kỹ rồi bà ạ. Nhân cách kẻ sĩ thời nay, đúng như bà nói. Nếu tôi đe nẹt họ, rồi lại vờ kính trọng họ, và thí cho họ một chút lợi lộc, là họ lăn sả vào chân tôi như một lũ chó đói nịnh chủ. Trong một trăm đứa, ắt hơn chính chục đứa sẽ làm như vậy. Nhưng nhất định sẽ có dăm bảy đức khinh tôi, và nhổ toẹt vào các thứ mà tôi đem ra phỉnh dụ chúng. Dẫu tôi có dùng gươm chém chúng, thì chỉ chém được một đời nó thôi. Còn như nó mà dùng bút chém tôi, thì nó chém tới cả muôn đời con cháu tôi nữa kia.
Trần Thủ Độ lắc đầu, vẻ như người đã biết kính sợ. Ông nói – Chớ có dại mà coi thường sức mạnh của chữ nghĩa, được viết ra từ những kẻ sĩ có nhân cách cao. Thái sư hạ giọng – Điều mà tôi sợ là sợ ở chỗ đó, bà có hiểu không?
Ngưng một lát, thái sư lại tiếp – Còn bà cứ nhắc đi nhắc lại cái chuyện tay tôi làm ra lịch sử để làm gì? Bà nói thế, cũng có phần đúng. Nhưng tôi lại không thể dùng chính cái bàn tay ấy mà che lấp được lịch sử.
Phu nhân biết tính chồng vốn là người cứng rắn. Ông ấy không bao giờ chịu khuôn theo ý người khác. Bà tự nhủ: “Cách tốt nhất là phải biến được ý ta thành ý của thái sư. Thế thì có nhảy vào lửa ông ấy cũng không từ nan”. Nghĩ vậy, phu nhân dẽ dàng thưa:
Ông ạ, thấy ông vất vả sớm chiều, lúc nào cũng chăm lo cho cái nghiệp lớn của họ ta. Tôi trộm nghĩ lúc vắng ông, nay thực tâm bày tỏ. Nếu thấy không được, ông cũng tha cho. Rồi bà tươi cười nhìn chồng: - Khôn ngoan cũng thể đàn bà. Mọi điều lớn nhỏ tôi đều xin theo ý ông.
Thái sư lấy làm đẹp ý. Ông đặt nhẹ hai tay lên bờ vai phu nhân, từ tốn nói:
- Dựng nghiệp cho nhà Trần là ở tôi với bà, nhưng cái chính vẫn là do bà.
Phu nhân quay lại nhìn chồng tỏ vẻ biết ơn.
Chú thích:
1. Vương Duy (Wang wei 698-789) là một thi họa nổi danh đời Đường. Ông được coi là người đã sáng lập ra Nam phái sơn thủy họa.
CHƯƠNG 19
Chiêu Thánh ngồi ủ rũ như một chiếc xác không hồn. Đã tám hôm nay, nàng không cho bọn nữ tì chải đầu hoặc trang điểm. Tóc nàng rối bù, xoắn xuýt thành từng nọn đung đưa như những con rắn. Mắt nàng mờ đục, lúc nào cũng ngơ ngác nhìn xoáy vào một điểm vô hình. Chợt khóc chợt cười. Nàng lấy hương xạ đốt lên rồi cắm la liệt khắp xó xỉnh trong nhà. Phu nhân thấy con thân hình tiều tụy xác xơ như một con vờ, bà rùng mình kinh hãi nghĩ về chứng loạn tâm của Huệ tôn ngày trước. Biết đâu con bé lại chẳng giống cha. Từ ba hôm nay, Chiêu Thánh không hề hé miệng nói với ai một câu nào. Ai nói gì nàng cũng thờ ơ như không nghe, không biết. Ai nhìn nàng, nàng nhìn lại với ánh mắt lúc tỏ ra nghi ngờ lúc lại đầy vẻ khinh thị.
Chuyện bắt đầu từ đêm ấy. Khi nhà vua vừa bước vào nội tẩm đã thấy sặc mùi men rượu chua nồng, Chiêu Thánh cho đó là một sự lạ. Vì đã tới gần một năm nay, nhà vua chưa bước tới cung này. Chiêu Thánh nhớ: đêm cuối cùng cách đây gần một năm, sau giờ ân ái kéo dài của chàng, mà ta ráng chịu đựng như một thứ cực hình. Chàng nói thẳng vào mặt ta: “Nàng giống như một con mèo hen chứ không phải một mụ đàn bà. Ăn nằm với nàng ta không còn thấy thích thú nữa”. Rồi từ đấy quả là chàng không hề đặt chân tới thềm điện. Thế nhưng đêm nay chàng lại đến. Chàng đến với bộ mặt chán chường và nồng nặc hơi men. Vậy mà trước đây ta chưa hề thấy chàng nhấp một ngụm rượu. Trút bỏ áo ngự, nằm vật xuống giường, nhà vua ôm ghì lấy ta mà khóc. Ta còn giận chàng chưa nguôi, nhưng vẫn thấy thương. Chao ôi, người phụ nữ nào mà không bủn rủn cả chân tay, mỗi khi nghe tiếng khóc của đàn ông. Nước mắt như rửa sáng thêm khuôn mặt vốn nhân hậu của chàng. Ta vội gỡ tay chàng ra rồi đốt thêm bạch lạp. Ta thử nhìn kỹ lại khuôn mặt kia xem có gì giả dối, phỉnh lừa. Nhưng không, nhà vua đau khổ thật sự. Gần nửa đêm, Thái tôn thức giấc, chàng lại ôm lấy ta mà thổn thức. Dỗ dành mãi, nhà vua mới nói:
- Ta bầy tỏ điều này, mong Chiêu Thánh hiểu lòng ta. Gần một năm nay, ta không ăn ở với nàng. Là bởi ta thấy nàng quá yếu đau, mà ta thì mạnh khoẻ. Ta là một người đàn ông thực sự, nên ta cần có đàn bà. Ta xa nàng, là cốt để cho nàng có cơ phục hồi tấm thân, chứ không phải ta ruồng rẫy. Chắc nàng giận ta lắm. Nhiều lúc nghĩ lại, ta thấy ân hận.
Thái tôn thở dài. Chàng thấy mắt ta rớm lệ. Nâng khuôn mặt ta lên, chàng vuốt ve rồi lại nói:
- Chiêu Thánh ơi, nàng có biết một tai họa ghê gớm đang giáng xuống đầu ta và nàng không?
Ta lắc đầu. Chàng bảo:
- Việc tầøy trời như thế mà nàng không biết sao? Có thực cả phu nhân cũng chưa nói gì với nàng sao?
- Ta gật đầu, chàng đau đớn nói:
- Từ ngày nàng sinh thằng bé bị chết yểu tới nay đã năm năm. Chúng ta đã vào tuổi hai mươi rồi, nàng vẫn chưa sinh nở lại. Ông chú ta cùng bà mẹ nàng, đồ rằng chúng ta không có con để nối dõi. Cho nên ép ta phải lấy Thuận Thiên. Hiện Thuận Thiên đã có mang được gần ba tháng. Người ta đoán chắc, đó sẽ là một đứa bé trai. Vậy là phần hậu thánh(1) của nhà Trần khỏi phải lo.
Cả mẹ nàng và chú ta, hai ông bà đều nói: Sẽ thu xếp để cho hai chị em cùng là hoàng hậu. Còn với thằng hoàng tử tương lai đó, mẹ nàng bảo: “Con anh con em, lọt sàng xuống nia, chẳng đi đâu mà thiệt”.
Ông chú ta, tức ông bố dượng nàng, bảo ta rằng: “Trần Cảnh cứ bằng lòng đi, cô chú sẽ thu xếp với Trần Liễu, Thuận Thiên, Chiêu Thánh”. Ta nghe họ toan tính sẽ cho Trần Liễu hưởng thêm thực ấp. Sẽ gạt cho Trần Liễu một nửa số phi tần. Chàng ngập ngừng nhìn ta hỏi:
- Ý nàng thế nào?
Ta đáp:
- Thân thiếp mảnh mai như một nhành liễu. Yếu hơn cả một nhành liễu. Không đủ sức chống chọi bất cứ vật gì. Người ta có thể giết thiếp. Băm vằm thân thiếp làm trăm mảnh. Nhưng người ta không thể bắt thiếp phải nghe theo những điều thương luân bại lý. Dù người ấy có là mẹ thiếp, ông thái sư hoặc bệ hạ cũng thế thôi.
Chàng lại hỏi:
- Vậy chớ nàng sẽ làm gì?
Ta đáp:
- Thiếp sẽ nguyền rủa cái bọn ích kỷ, khinh nhờn lương tri. Nguyền rủa cả cái bộ máy thối tha của triều đình, mà bệ hạ chỉ là một thằng hình nộm.
Thái tôn buồn lắm. Nhà vua nhắc lại lời ta: “Bệ hạ chỉ là một thằng hình nộm”. Hoàng thượng cười lớn: “Đúng quá Chiêu Thánh ơi, nàng nói đúng quá. Nàng bảo ta phải làm gì bây giờ, Chiêu Thánh?”.
Ta đáp:
- Nhà vua không làm được gì hết. Ông chú của hoàng thượïng sẽ bóp hoàng thượng vụn như cám, nát như tương. Tốt nhất là hoàng thượng phải thật sự ngoan ngoãn nghe theo. Vả lại Thuận Thiên vừa khoẻ mạnh phây phây, vừa xinh đẹp lại đang có sẵn một hoàng nam, bệ hạ đẹp lòng quá rồi còn chần chừ chi nữa.
Chàng sầm mặt lại, hỏi ta:
- Thế còn nàng? nàng có ưng thuận không?
- Không, không đời nào ta chịu để các người áp chế. Các người tàn bạo lắm. Đừng tưởng quyền binh nắm trong tay muốn làm gì thì làm. Ta đã chán ngấy cái ngôi vàng ô uế kia lắm rồi. Ta nhổ toẹt vào ngôi hoàng hậu. Ta chỉ là ta. Một đứa con gái bị lường gạt, bị xua đuổi, bây giờ chỉ còn cách là ta nhổ toẹt vào tất cả. Nhổ toẹt vào các người. Ta phẫn nộ nói, mà không hề nghĩ rằng ta đang xúc phạm chàng.
Nhà vua đứng phắt dậy, thét vào mặt ta:
- Nàng tưởng ta thích cái ngai vàng ô uế? Nàng không nhổ thêm vào nữa thì nó cũng đã bẩn rồi. Nàng cho rằng được nàng, ta mãn nguyện lắm sao? Chính ta cũng bị ép buộc phải lấy nàng. Bị cưỡng chế lên ngôi vua. Một ông vua mà nàng đã gọi rất đúng là “cái hình nộm”. Bây giờ ta lại bị ép buộc phải lấy chị nàng cũng tức là chị dâu ta. Trời ơi, cái thân ta sao mà hèn yếu vậy. Có nhẽ ta cũng chẳng hơn gì cha nàng vào những năm cuối đời. Chỉ có khác: Ta mới bắt đầu, còn Huệ tôn đã kết thúc.
Tự nhiên nhà vua gục đầu xuống. Chiếc khăn trùm đầu đã tuột từ bao giờ, tóc xõa xượi, trông chàng như một bóng ma. Rồi Thái tôn uể oải nhìn ta, nhà vua lắc đầu nói:
- Không. Trần Liễu không cam chịu đâu. Ta đã đành bất lực, chứ anh ta không chịu. Từ lâu rồi, ta thấy anh ấy đã muốn cựa quậy. Có lần Liễu nói: “Nhà Trần ta mở nghiệp bắt đầu từ sự trái khoáy”. Ta biết anh ấy ám chỉ cái gì rồi. Ấy là việc em nhỏ thì ở ngôi, còn anh lớn lại là bầy tôi. Xét ra cũng đúng thôi, anh ấy có tội tình gì mà sắp xếp ngôi thứ lộn đảo như thế. Bây giờ lại định lừa gạt anh ấy để cướp lấy Thuận Thiên.
- Vậy chớ ý Thuận Thiên thế nào? - Ta hỏi.
Nhà vua lắc đầu:
- Ta đâu được biết ý Thuận Thiên. Trong việc này, cả hai anh em ta, hai chị em nàng đều không có quyền lựa chọn.
Ngưng lại giây lâu, hoàng thượng lại nói:
- Ta với hai chị em nàng đã bất lực đã đành, nhưng còn anh cả. Ta không tin anh ấy cam chịu. Từ ngày ông chú cho các vương hầu được lập ấp, đựơc tổ chức gia binh. Ta thấy huynh trưởng rất chăm lo việc này. Chỉ hương binh trong thực ấp của Liễu đã có vài vạn. Rèn luyện kỹ càng. Còn tinh binh trong nội phủ cũng có tới vài ngàn tên. Huynh chịu khó nghiền ngẫm binh thư lắm. Mời cả thần dạy võ người Tống về luyện binh, và dạy riêng cho Quốc Tuấn. Ờ mà thằng bé thật là có khiếu năng võ nghệ. Nó đứng chưa tới mông con ngựa tía, thoắt đã nhảy lên yên, ra roi nom giống hệt một tay kỵ mã nhà nghề. Chị cả Liễu cũng là một người đảm. Nuôi dạy con ở trong hương ấp, mà thằng bé biết đủ cả lễ, nghĩa, thi, thư – Nhà vua ngừng lời, vẻ trầm ngâm u uất.
Ta hỏi:
- Như ý bệ hạ nói, có nhẽ anh cả Liễu làm loạn chăng? Chốâng lại ông thái sư thống quốc chăng?
Nhà vua lắc đầu:
- Ta mong không đến nỗi như vậy. Nhưng nếu chú ấy bức bách quá thì không biết rồi sự thể sẽ ra sao? Ta vẫn áy náy mạn Bắc, Người Tống, người Mông Cổ lúc nào cũng rình rập như quạ đói rình gà con, hễ gà mẹ sơ hở là chúng nó chộp liền.
Ta buồn lây nỗi buồn đất nước của nhà vua. Để yên ủi hoàng thượng, ta nói:
- Ông Trần Cảnh này, hôm nay ông nói với tôi về ý định của vợ chồng ông thái sư. Tôi biết ông bà ấy sẽ làm theo ý mình. Nhân đây, tôi cũng nói để ông rõ. Ông không phải băn khoăn lo lắng gì về cuộc sống của tôi. Đời tôi coi như bỏ. Ta vĩnh biệt nhau thôi. Ông bảo sao? Cuộc hôn nhân của ta quá ngắn ngủi à? Đành vậy. Bởi nó không có nhân duyên, mà chỉ có mưu ma kế quỷ hòng lừa dối nhau. Ngày ấy cả tôi và ông, người ta bảo chúng mình lấy nhau. Tôi bằng lòng ngay vì nghĩ rằng mình có bạn chơi. Tôi cứ thấy buồn cười tại sao ông lại hiền thế. Ông có nhớ không nhỉ ông Trần Cảnh? Mỗi khi nói với tôi điều gì, ông quỳ mọp xuống. Đầu cụng vào đất, lí nhí trong họng. Một điều “bệ hạ” hai điều “muôn tâu”. Rồi lúc ông bê chậu nước hầu tôi rửa mặt. Tôi nghịch ngợm té ướt cả mặt ông. Thế mà ông vẫn cứ nhẹ nhàng: “Xin bệ hạ tha cho”. Ấy, tôi thích cái tính ông nó nhu mì nên tôi ưng ngay. Ai ngờ cái việc ông lấy tôi lại là việc của cô chú ông. Là việc lấy thiên hạ cho nhà Trần, chứ đâu phải chuyện nhân duyên. Tôi biết ông không có lỗi trong việc này. Nay lại đến việc cướp chị Thuận Thiên và cả cái bào thai có sẵn. Thật là tán tận lương tâm. Ông thái sư thì tôi chả trách làm gì. Ông ta có thể làm được đủ mọi việc, ngoại trừ những việc nhân nghĩa. Đáng trách là bà mẹ tôi kia. Bà cô ông ấy. Tôi không ngờ, trời phú cho bà ta khuôn mặt đẹp để che dấu một tâm hồn ác độc. Bà ta chui vào triều Lý để đánh hồi chuông báo tử cho dòng họ nhà tôi. Thôi thì cũng được. Thiên hạ là của muôn dân, chứ có phải của riêng gì ai. Chỉ tiếc rằng quyền nhiếp thống sơn hà, lại nằm trong tay kẻ tàn bạo. Nếu như việc sai khiến triều đình, chăn dắt trăm họ lại thuộc hoàn toàn về một người như ông: khoan hoà, nhân ái thì tôi yên tâm quá ông Trần Cảnh ạ.
Nhà vua nhìn ta như là một sự lạ. Vì từ trước ta chưa hề nói với chàng một điều gì sâu kín. Từ lâu, chàng vẫn tưởng ta là một con bé ngu khờ. Chàng nhìn ta đăm đắm mà không ngắt lời. Ta lại nói:
- Ông có nhớ cái buối tôi mời ông lên ngự ngai vàng? Khoác cho ông tấm áo long cổn và đặt lên đầu ông chiếc vương miện? Chàng gật đầu, đôi mắt chàng long lanh. In hệt cắp mắt hàm ý biết ơn từ hơn chục năm trước. Vậy là ông còn nhớ. Ông có thấy, ngày ấy chúng mình trong trắng quá! Tôi thì sung sướng được vứt bỏ đôi hia, đã làm chảy máu chân tôi. Được trút bỏ chiếc áo ngự, rộng thùng thình như một cái chăn. Lại hạ được chiếc mũ, nó làm cho cổ tôi lúc nào cũng cứng như một cái ách. Tôi vui là được trút bỏ mọi thứ đồ chơi cũ kỹ, kỳ quặc. Còn ông lại thích. Vì ông được một món đồ chơi lạ. Nhưng nay tôi ý thức được rồi. Nếu thuận thảo ra, tôi nhường ngôi cho ông cũng như Nghiêu(2) nhường thiên hạ cho Thuấn(3). Thuấn nhường cho Vũ(4), Vũ nhường cho Thang(5)... Ấy đấy, việc nhường ngôi ngày xưa, là nhường cái tâm thiện cho thiên hạ, chớ đâu phải chỗ ngồi là cái ngai vàng, và những quyền lực để áp chế muôn dân. Bởi vậy ngày xưa các vua giỏi thường chọn người hiền trong thiên hạ để truyền ngôi, chớ đâu phải cứ giữ khư khư cho một dòng họ.
Tôi không ân hận trong việc nhường thiên hạ cho ông. Vì ông là người hiền. Song tôi băn khoăn, vì ông chưa khai mở được bổn tâm của ông, cho thiên hạ nương nhờ. Việc này khó đấy. Nếu ông không khéo, thì cả thân xác ông cùng bổn tâm thiện đức của ông đều theo nhau xuống mồ. Ông có hai đối thủ kỳ quặc. Một người muốn bảo vệ ông, che chắn ông. Một người lại hằm hè muốn cướp lấy của ông. Hai người đó là ai, ông biết rồi, nhưng ông không thiết, thế lại hóa may. Mà đây là cách giữ tốt nhất. Còn kẻ nào lăm le muốn chiếm, chắc chắn sẽ không được gì.
Ta mệt quá, lả đi. Chàng vực ta dậy. Giây lâu chàng nói:
- Ta cám ơn Chiêu Thánh đã không oán hận gì ta. Sự thể sẽ là tan hỏng mất thôi. Ta thiết gì ngôi báu. Nếu Chiêu Thánh bỏ đi. Chắc ta cũng không còn gì để ở lại. Đau nhất cho ta là chưa làm được điều gì thiện đức cho thiên hạ. Phụ lòng Chiêu Thánh dường bao. Hãy tha thứ cho ta.
Ta tiễn chàng tới bậc thềm, cũng vừa lúc hừng đông ló rạng.
Chú thích:
1. Hậu thánh: Vua nối nghiệp về sau
2. Vua Nghiêu: Một vua hiền trong lịch sử cổ đại Trung Hoa (2357-2257) trước Tây lịch. Nghiêu sai họ Hi, họ Hòa xem sự chuyển vận của mặt trời, mặt trăng để dạy dân biết lúc nghỉ, lúc làm, mùa cấy, mùa gặt. Thời ấy có Thuấn giúp Nghiêu đi tuần thú bốn phương, tiếp kiến với Hậu các nước, sửa đổi ngày, tháng và bốn mùa cho đúng. Định ra âm nhạc. Phép đo, phép lường, phép cân cho nhất quán trong thiên hạ.
3. Thuấn (2256-2208) Thuấn đặt ra quan chế và dùng những người tài giỏi như bọn ông Vũ, ông Tiết, ông Cao Dao ông ích... để coi mọi việc.
4. Vũ thay Thuấn (2205-2197) đặt ra cửu trù để định rõ các mối luân thường và chính trị.
5. Vua Thang (1783-1754). Nổi tiếng là một ông vua đạo đức và nhân chính. Đời sau lấy những phép tắc và chế độ của những bậc này làm chuẩn tắc cho mọi sự học vấn ở đời.
CHƯƠNG 20
Quan Thượng Thư tri Quốc Tử Viện Phạm Ứng Thần được lệnh vào cung quan triều1 hầu đức vua. Ông lật đật bước lên thềm điện với lưng lửng một tay đẫy thuần giấy tờ sổ sách. Vừa thấy nhà vua ló ra cửa, Phạm Ứng Thần đã rập đầu cúi lạy:
- Thần xin phụng mạng.
Thái tôn bước ra đỡ quan thượng thư vào nội điện. Nhà vua chỉ cho ông chiếc kỷ đối diện. Vừa cười, đức vua vừa hỏi:
- Vậy chớ khanh mang theo cái bọc gì mà lớn thế kia?
- Tâu bệ hạ, thần chắc là bệ hạ hỏi về công việc của Quốc tử viện.
- Hẳn là thế ta mới cho triệu khanh tới.
- Dạ muôn tâu, thần đem theo một số văn bài xuất sắc của đám nho sinh, để hoàng thượng ngự lãm.
- Khanh cứ để đó, lúc khác ta đọc. Ta muốn hỏi: trong Quốc tử viện các khanh dạy bọn nho sinh học những kinh sách nào?
- Tâu bệ hạ, chúng thần cho học tứ thư; ngũ kinh.
- Ngoài ra có học gì nữa không?
- Tâu bệ hạ, đám nho sinh này nghiền ngẫm cho được mấy pho sách đó cũng đủ giúp đời rồi còn cần phải học gì nữa.
Thái tôn cau mày nhìn quan thượng thư tri Quốc học viện, nhà vua nói:
- Phép trị nước giúp đời, tuyệt nhiên không nằm trong sách. Sách chỉ gợi mở cho ta tri thức của người xưa. Xã hội Nho giáo thời Khổng tử cách ta mấy ngàn năm sao có thể hợp với thời ta đang sống. Nhưng đạo lý do Khổng - Mạnh đề xướng sẽ là phương hướng cho ta xuất xử. Rồi ta sẽ đọc văn bài của đám nho sinh. Đích thân ta sẽ xem các ông dạy dỗ họ như thế nào. Nhưng ta nói trước để ông rõ. Ông giúp nước nhà đào tạo lấy những người có thực học, chứ không cần bọn học nhuyễn văn. Bây giờ nước đã thái bình, việc trị quốc đã đi vào ổn cố. Ta muốn mở rộng việc trị quốc sang trì quốc. Bởi vậy các ông phải khai mở cho đám nho sinh tinh thần của tam giáo. Ta thấy trong hàng nho sinh nước mình, các ông chỉ có sùng thượng đạo nho, miệt thị các đạo khác. Thế là không đúng. Mỗi đạo có một cái hay riêng khác biệt. Cũng như nhờ vào sự khác biệt tính tình tư cách giữa người này với người khác, mà cuộc đời thêm phong phú. Cho nên chớ có mong rằng, ở thế gian chỉ nên có một đạo. Đó là sự thoái hóa của trí tuệâ loài người. Ta sẽ mời cư sĩ Phùng Tá Thang sang bên Quốc học viện, giúp thêm các ông về phần Lão - Phật. Các ông nên nhờ Nho - Lão - Phật đều không phải là những tôn giáo, với các giáo điều khép kín như những ngôi đền thiêng. Đó là những dòng sông chảy xiết chứ không phải ao tù. Hẳn ông biết tinh hoa của Nho giáo là ở Kinh Dịch. Yếu nước của Phật giáo lại ở Kinh Lăng già. Còn Đạo đức kinh là căn cốt của đạo Lão. Nhà vua chợt dừng lời, nhìn thẳng vào quan Quốc học viện với vẻ nghiêm khắc, Thái tôn nói:
- Ta mong công lao các ông nuôi dạy đám nho sinh này, không phải để họ trở thành những con vẹt. Và như chợt nhớ ra điều gì, nhà vua liền hỏi:
- Này Phạm Ứng Thần, ta hỏi ông, về lịch sử ông dạy cho các nho sinh học sách gì?
- Tâu bệ hạ, từ trước môn lịch sử vẫn lấy kinh Xuân –Thu làm gốc.
Thái tôn nghiêm sắc mặt:
- Này quan thượng thư tri Quốc tử viện, ông là người Đại Việt hay dân Đại Hán?
Ta hỏi ông, nước mình không có lịch sử sao? Ta không ngờ các ông lại ngu tối đến thế. Các ông tự trói mình để rồi biến cả học giới nước nhà thành một lũ vong quốc nô. Thật là nhục nhã cho cả một nền giáo dục quốc gia.
Nhìn trừng trừng vào Phạm Ứng Thần, nhà vua gặng hỏi:
- Tổ tiên của ngươi là Bàn Cổ, là Nghiêu, Là Thuấn, là Hạ, là Vũ chăng?
Nhà vua lại thầm thì nói, như tự nói với mình – Đành rằng ta phải mượn kinh, sách ngoài mà học. Nhưng là học cái đạo lý minh triết để khai sáng cho chính mình, chứ không phải học để tự biến mình thành kẻ phụ thuộc.
Như không kìm nén được, nhà vua lại hỏi:
- Này Phạm Ứng Thần, người nói cho ta hay, kinh Xuân – Thu viết những gì?
Phạm Ứng Thần len lét thưa:
- Tâu bệ hạ, đó là lịch sử của nước Lỗ, thông qua các gương thành bại của các đời vua chúa, Khổng Tử san định nhằm để răn dạy kẻ cầm quyền.
- Đành rằng đó là những bài học quý, cần thiết phải cho các nho sinh nước mình đọc để biết, chứ không phải học như chính sử nước nhà. Vả lại, đó chỉ là lịch sử nước Lỗ bé bằng cái bàn tay, so với cả nước Trung Hoa mênh mông, thấm tháp gì. Trong khi đó các nho sinh nước mình lại chẳng biết Kinh Dương vương là ai. Các vua Hùng là ai. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền là những người như thế nào.
Ngẫm nghĩ một lát, nhà vua lại phán:
- Thôi được, khoa thi này tạm bỏ môn lịch sử. Nhưng các người bên Quốc học viện phải cùng bên Quốc sử viện, phối soạn lấy bộ lịch sử nước nhà, ngõ hầu cho toàn thể quốc dân được biết, và làm căn cứ cho các kỳ thi.
Phạm Ứng Thần toát mồ hôi trán, rập đầu tâu:
- Thần xin lĩnh mệnh.
Với vẻ bình thản nhưng nghiêm cẩn, Thái tôn phán:
- Này ông Ứng Thần thượng thư! Ông là người cao tuổi, lại có văn chất hơn đời. Ta mong ông không phải lựa lời để làm ta đẹp ý. Ta chỉ ước ao, những người qua tay các ông đào tạo, sẽ là những tài năng quý báu của quốc gia, chứ không phải bọn mọt sách. Nhưng một quốc gia không thể chỉ trông cậy vào một dúm con em các văn quan và tụng quan2 ở Quốc học viện. Trí tuệ của đất nước nằm rải rác khắp muôn phương, làm thế nào để khai mở để quy tụ được, ông có kế sách gì chăng?
Phạm Ứng Thần đã lấy lại sự bình tâm, ông vuốt lại nếp khăn, rờ lên hàng cúc áo, nét mặt ông như tươi trẻ hẳn ra. Vái nhà vua hai vái, quan Quốc học viện nói:
- Tâu bệ hạ, người nghĩ đến việc khai phóng trí tuệ của muôn dân thật là phúc lớn cho nước nhà. Dạ muôn tâu, khi dân trí đã được khai phóng, mới mong mở mang nền văn hiến mà di phong dịch tục được.
Dạ việc này muốn làm được, nhà vua phải ban ân tứ xuống tận các xóm thôn. Ví như thời Nghiêu - Thuấn xưa, muốn mở mang dân trí người ta lập “Tường tự học hiệu” tới các thôn cùng xóm vắng. Ai có năng khiếu, ai ham thích học hành mà không đủ tiền ăn học, nhà nước sẽ nuôi. Bây giờ muốn khuyến cáo con em nhà thường dân có thể học được, nhà nước phải cắt một phần công điền ở các thôn ấp để làm đất học điền. Theo đó đặt ra các chính sách cụ thể cho mỗi cấp học. Có như vậy mới không bỏ sót người tài trong thiên hạ, chỉ vì nghèo đói mà không được học hành đến nơi đến chốn. Muôn tâu bệ hạ, chỉ khi nào dân trí đã được khai phóng, thì mới có thể nói đến việc trì quốc.
Thái tôn vui lắm. Nhà vua nói:
- Khanh gắng giúp ta sớm hoạch định việc này. Phạm Ứng Thần vừa toan cáo thoái thì nghe tiếng quân thét phía ngoài cấm thành. Trông ra đã thấy kiệu của đức ông Trần Thủ Độ. Quay lại phía Ứng Thần, nhà vua vẫy tay cho lui, rồi bước xuống thềm điện đón thái sư.
Trần Thủ Độ xuống kiệu cúi lạy nhà vua. Thái tôn vừa đáp lễ vừa nói:
- Quốc phụ không nên thủ lễ như vậy. Chẳng hay quốc phụ có việc gì qua đây.
- Thần có một chút việc trình bệ hạ. Tưởng bệ hạ ở bên chùa Thắng Nghiêm với cư sĩ Phùng Tá Thang, thần vừa qua bên đó.
- Phiền cho chú quá. Sao chú không cho gọi - nhà vua vừa nói vừa nhìn ngắm thái sư.
- Ấy chết, phép nước ai lại làm thế. Dẫu bệ hạ có thể tình chú cháu cũng không nên. Hình như quan thượng thư tri Quốc tử viện cũng vừa ở đây ra? Trần Thủ Độ hỏi với vẻ xuề xoà. Ông không đợi nhà vua mời mà ngồi ngay xuống chiếc đôn sứ bên cạnh chiếc kỷ của nhà vua.
Thái tôn đang băn khoăn tự hỏi: “Không biết ông chú tới đây có việc gì. Hay ông lại nhắc ta về chuyện Thuận Thiên. Chao ôi, cứ nghĩ đến chuyện ấy lại thấy kinh hoàng như vừa trải qua một cơn ác mộng. Ước gì đấy chỉ là một chuyện đùa và thái sư cũng đã quên”.
Thái tôn điềm đạm trả lời:
- Thưa chú, bên Quốc học viện sang trình về việc học hành của đám nho sinh. Cháu đang khuyến cáo cho các học quan dạy theo tam giáo và cả lịch sử nước nhà, chứ không chỉ thiên trọng về nho học. Chẳng hay ý chú thế nào?
Trần Thủ Độ nhếch mép cười ruồi:
- Đã bảo chú thì chữ nghĩa ăn đong. Bệ hạ nói việc huấn giảng theo tinh thần tam giáo, chú lại nhớ về Hoàng tiên sinh. Cái thưở nhà Trần ta mới mở nghiệp, chú được Hoàng tiên sinh chỉ bảo nhiều điều quý báu. Chính tiên sinh dặn chú, khi đất nước đã đi vào ổn cố rồi, phải mở rộng đường học vấn theo hướng tam giáo hòa đồng. Vậy là bệ hạ đã sáng suốt, chú mừng.
Nhà vua nói:
- Thưa Quốc phụ, dạo nọ đi tuần thú miền đông với quan thừa chỉ, lượt về cháu đi đường bộ có vòng qua vài nơi vùng biên ải để nghe động tĩnh. Được các viên phòng ngự sứ3, thủ ngự sứ4 cho hay, phía nhà Tống dạo này binh phòng xem ra trễ nải lắm. Nhưng mặc họ, ta cứ phải phòng bị cho chu tất, xin chú lưu tâm.
- Tâu bệ hạ, thần đến diện kiến bữa nay chính là vì việc ấy. Số là nhà tống đang bị quân Thát-đát dốn đánh lớn lắm. Mất nước đến nơi rồi còn dòm ngó gì được nữa. Nhưng không biết đâu, ta phải lo rào dậu cho kín. Bởi vậy thần muốn điều thêm hai đạo binh lên trấn phía biên cương giáp với Tống, chẹn cứng các đường huyết mạch. Còn như phần biêh cương giáp với nước Đại-lý của người Trung Quốc mà quân Mông Cổ vừa chiếm được, lại càng phải cẩn trọng lắm. Thần cũng định tăng cho đoạn biên ải này thêm hai đạo quân nữa.
- Quốc phụ dạy rất phải. Cháu cũng có nghe vua tôi nhà Tống tham lấy lại Khai Phong từ tay quân Kim, nhưng không đủ sức. Bèn rước Thát vào, hợp lực đánh Kim. Dè đâu đánh Kim xong, Thát quay lại diệt luôn Tống. Vua tôi nhà Tống thua lớn lắm, đang bị dồn về phía nam sông Trường Giang.
- Tâu bệ hạ, Oa-khoát-đài đang ráo riết đánh xuống phương nam. Trung nguyên chẳng mấy nữa mà vỡ.
- Quốc phụ nghĩ thế nào. Nếu chiếm xong Trung Hoa, Thát-đát có quay vó ngựa sang ta nữa không?
Suy nghĩ một lát, Trần Thủ Độ nói:
- Tâu bệ hạ, chưa định xong Trung Nguyên, Thát-đát đã ngó sang ta rồi. Giặc kia lòng tham không đáy, chúng chẳng muốn dừng vó ngựa ở đâu. Cờ Thát-đát hiện nay là không giới hạn. Chúng tiến lên phía bắc, hướng sang phía tây, dịch về phía đông đều không có địch thủ. Nay đang đại thắng Trung nguyên, nhất định chúng không chịu ghìm cương ngựa nơi địa đầu biên ải nước ta.
- Quốc phụ tính sao?
- Tâu bệ hạ, giặc có dám xâm phạm bờ cõi không, là còn tùy thuộc ở ta. Tùy thuộc vào lực ta mạnh hay yếu.
- Mọi việc xin chú lo giùm. Thưa chú, tình thế đã gấp gáp lắm rồi?
- Thánh thượng xin cứ bình tâm. Thần đã lo phòng bị từ lâu rồi. Ví như việc tha bớt tô thuế cho dân. Vỗ về sức dân. Nuôi khoẻ sức quân. Nghiên giữ chế độ gửi binh vào nông, tăng cường luyện tập. Rồi cho các thân vương được lập dân binh, tinh binh. Đó chẳng phải là những việc triều đình đã làm, lo dùng lúc cóp giặc ngoại xâm sao? Bệ hạ cứ lo cất nhắc được người hiền. Kẻ có đức, có tài được đặt đúng chỗ. Giữ lấy công bằng xã hội, khiến cho mọi người đua sức đua tài mà cung hiến cho nhân quần. Đấy cũng là điều làm nên sức mạnh của triều ta.
Thủ Độ thấy nhà vua rất quan tâm đến việc phòng bị. Ông nhẩm tính: “Phải nhân chuyện này điệu hổ ly sơn”. Ông lại nói:
- Tâu bệ hạ, việc biên ải thật là quan yếu. Trước khi tăng thêm binh lực, triều đình cần có các bậc thân vương đi đốc xuất các lộ trên đó. Vừa là nghe ngóng bên kia. Xin bệ hạ xét nên cử ai?
- Quyền cất nhắc, điều khiển tướng soái quân binh, triều đình đã đặc cách giao cho quốc công từ khi còn thượng hoàng, với chức tri thành nội ngoại chư quân sự, sau lại gia phong thái sư thống quốc, nay cứ thế mà làm.
- Tâu hoàng thượng đây là việc của các năm hoàng thượng còn trong độ vị thành niên. Nay thì phải khác đi chứ. Hoàng thượng đã đủ tài đức sai khiến thiên hạ. Vả lại quyền hành không nên tập trung nhiều quá vào hạ thần. Thiên hạ sẽ vì thế mà dị nghị.
- Quốc phụ hay nghĩ xa. Việc võ bị không thể chia xẻ cho ai được đâu.
- Nếu thánh thượng rộng lòng, thần xin cử hai người đi lên biên ải: một là Hoài vương Liễu. Hai là tướng quân Lê Tần. Xin bệ hạ cho thánh ý.
Trần Cảnh thấy run sợ ở trong lòng. Nhà vua tự hỏi: “Chẳng hay có điều gì mà ông chú lại thủ lễ một cách thái quá như vậy?”
Thái tôn lễ độ nói:
- Thưa chú, nếu ý chú như vậy, mai cháu sẽ cho bên hàn lâm viện thảo chiếu.
Trần Thủ Độ tặc lưỡi:
- Với Lê Tần chẳng nói làm gì. Nhưng với vương Liễu, thiết tưởng bệ hạ nên nói trước đôi lời, để vương được đẹp lòng. Bệ hạ thấy thế nào?
- Dạ thưa chú được ạ.
- Thôi để chú về, kính bệ hạ – Đã toan bước đi, Trần Thủ Độ lại dừng, ghé tai Trần Cảnh nói nhỏ:
- Việc bữa trước chú nói, bệ hạ đã quyết chưa?
Không cần nhà vua đáp lời, thái sư xăm xăm bước ra kiệu.
Chú thích:
1. Cung quan triều là nơi vua ở.
2.Tụng quan: Các quan chức phục vụ trong nội cung.
3,4. Chức quan võ ở ngoài các lộ, trấn.
CHƯƠNG 21
Trước khi Lê Tần đi khám sát vùng biên ải, thái sư thống quốc Trần Thủ Độ có ghé thăm tận tư dinh.
Lê tướng quân tuổi còn trẻ, nhưng là một tay nghĩa hiệp. Văn võ kiêm toàn. Tuy trẻ, nhưng lại chín chắn, thận trọng. Thường lấy bụng nhân để đãi người. Những đức tính ấy làm tăng phẩm cách của ông ta. Trần Thủ Độ trọng tướng quân cũng là ở nơi nhân cách của họ Lê. Thái sư đặt nhiều sở vọng vào vị tướng quân này. Trần Thủ Độ cũng không cần giấu giếm lòng mến mộ của ông, mặc dù tướng quân là người ngoại tộc. Đã nhiều phen đàm đạo về thế sự, hai người tỏ ra tâm đắc lắm. Trần Thủ Độ cũng mong có dịp nào đấy, sẽ cất nhắc Lê Tần ở vào chức vụ cho xứng với tài, đức của tướng quân. Về phía mình, Lê Tần cũng nhìn thấy thái sư, rõ ràng là một bậc tài trí. Điều làm Lê Tần kính trọng thái sư còn ở chỗ, ông xét đoán công việc như thần, tiên lượng được cả những điều nhỏ nhặt và bất ngờ có thể xảy ra. Đấy là đức quý nhất của người làm tướng. Quí hơn cả là thái sư rất trọng hậu đối với những người hiền tài. Và không có lòng đố kỵ. Vì vậy có những việc thái sư làm, về đạo lý không chấp nhận được, nhưng cũng không vì thế mà có thể xem nhẹ vai trò của ông ta đối với thời đại. Phân biệt được như vậy, nên Lê Tần vẫn xem thái sư như là linh hồn của cả vương triều.
Lê Tần mời thái sư ngồi lên kỷ. Còn tướng quân tự bê một chiếc ghế đẩu, ngồi đối diện phía ngoài.
Nô bộc dâng trà. Thái sư cho lui. Và lấy ở trong bọc ra một be sành rượu.
Ông giơ chiếc be lên trước mặt rồi nói:
- Được tướng quân nhận lời đi thám sát biên ải, thấy lòng vui quá. Tự nhiên muốn uống với tướng quân vài chén, nói với nhau một đôi lời. Vừa nói, thái sư vừa liếc nhìn Lê Tần, vừa rót đầy lùm hai chén rượu. Thái sư nâng chén rượu đầy trao cho Lê Tần:
- Xin tướng quân cạn chén. Nếu tướng quân làm sánh một giọt ta sẽ phạt tướng quân phải uống thêm một đấu.
Lê Tần kính cẩn đỡ lấy chén rượu trong như một khối ngọc. Trần Thủ Độ cũng tự nâng chén lên. Lê Tần nói:
- Kính chúc sức khỏe thái sư. Tướng quân ngửa cổ uống một hơi cạn sạch.
Trần Thủ Độ “khà” một tiếng, rồi đặt chén xuống kỷ:
- Chúc tướng quân đi chuyến này thành đạt. Nói rồi ông cầm lấy chén của Lê Tần rót xuống mặt kỷ, được vừa đúng hai giọt, ông nói:
- Ta mời tướng quân cạn chén, mà tướng quân không uống hết, thế là phụ lòng ta. Vậy ta phạt tướng quân mỗi giọt phải uống bù một chén. Nói rồi ông trao be rượu cho Lê Tần - Tướng quân tự rót lấy.
Trần Thủ Độ thừa biết Lê Tần là một tay bợm rượu. Có lần trong tiệc khao quân, ông đã thấy Lê Tần chấp cả năm đô trưởng, mà Tần vẫn cứ tỉnh như không.
Thái sư tuy đã có lệnh nghiêm cấm việc uống rượu trong quân doanh. Nhưng cuộc uống này lại khác. Đây là uống ở tư dinh trong lúc thù tiếp, không có gì phạm vào luật cấm kỵ. Chính vì thế, Lê Tần càng biết thái sư biệt đãi mình.
Uống xong, Lê Tần đặt be rượu trả Trần Thủ Độ, vòng tay kính cẩn nói:
- Bẩm thái sư, trước lúc tiểu tướng lên đường có điều gì xin thái sư răn dạy.
Trần Thủ Độ cười vui, khuôn mặt quắc thước của ông có phần dịu lại, khiến Lê Tần cảm thấy ấm áp, gần gũi. Trần Thủ Độ nâng chiếc be rượu lên ngang mày, nói:
- Đây là món đồ của phường gốm Bát Tràng cho ta. Ông xoay chiếc be hết mặt nọ sang mặt kia - Tướng quân xem, men độc sắc màu cánh dán. Loại men này ta ưa hơn men huyến bò của Tống. Tất nhiên men Tống nó có vẻ hào hoa hơn. Nhưng men của ta, đằm hơn. Lại cái dáng, ta cũng ưa nó khỏe hơn vóc dáng Tống. Nghề đến như thế này, theo ta là tuyệt đỉnh. Các đời trước chưa hề thấy có. Sau này thế nào thì chưa rõ. Chẳng hay ý tướng quân ra sao? Lê Tần chưa kịp đáp lời, Trần Thủ Độ lại nói tiếp:
- Quý vật phải tầm quý nhân. Ta xin biếu lại tướng quân.
Lê Tần cảm kích hai tay đỡ lấy chiếc be, quỳ xuống vái Trần Thủ Độ.
Thái sư vội đỡ Lê Tần, ông nói:
- Ta vì lòng quý trọng tướng quân. Một chút quà mọn để lưu dấu tình ta mà sao tướng quân thủ lễ một cách thái quá.
- Bẩm thái sư, tiểu tướng chưa có công lao gì đã được bề trên ưu hậu. Thái sư gia ân cho tiểu tướng đi thị sát miền biên ải, hẳn có điều gì khuyên bảo trước lúc lên đường.
- Chính vì việc đó mà ta đến đây. Trước hết phải xem xét việc canh phòng, việc lập các đồn trại, việc luyện tập hàng ngày. Việc lương thảo, vũ khí và lòng quân, lòng dân đối với triều đình. Tướng quân cũng kiểm xét xem, việc các lộ trên đó phái người sang thám sát ở bên kia, có thu được tin tức gì mới lạ không?
Ta lưu ý tướng quân, lần này cùng đi với tướng quân còn có Hoài Vương Liễu. Mọi điều có quan hệ đến việc quân, tướng quân tự quyền quyết lấy. Còn các việc về dân sự, thuộc quyền vương Liễu. Hai người có thể tham bác nhau, nhưng không phụ thuộc nhau. Về phần vương Liễu, vốn thích chuyện hoa nguyệt. Đôi khi cậy quyền cậy thế làm bừa. Tướng quân gắng giúp cho vương Liễu khỏi vướng vào cái vòng luẩn quẩn, làm mất cả thể diện của triều đình. Chắc tướng quân còn nhớ cái vụ ở cung Lệ Thiên hồi giữa năm Bính thân(1) chứ? Đấy, tốt nhất là không nên để xảy ra điều gì đáng tiếc. Tướng quân đi gấp. Xong việc về ngay, ta còn cần Tướng quân vào việc khác, hệ trọng không kém việc tướng quân lên biên ải.
Thái sư ngừng lời, Lê Tần bèn lên tiếng:
- Trình Thái sư, tiểu tướng xin hết lòng phụng quân mệnh.
- Chúc Tướng quân vạn an.
Vương Liễu, Lê Tần vừa ra khỏi kinh thành vài chục dặm. Trần Thủ Độ đã cho quân đến bao vây phủ Hoài vương. Bao nhiêu vệ binh, tinh binh của Trần Liễu đều bị áp giải giáp hết và bắt phải lập tức trở về quê quán làm ăn. Kẻ nào còn trù trừ sẽ chém bêu đầu. Thế là trong phút chốc, cơ đồ binh nghiệp mà Trần Liễu tốn công gây dựng tan biến như khói mây chiều. Phủ đệ của Trần Hoài vương vẫn được bảo tồn nghiêm ngặt, duy có Thuận Thiên được rước về nội điện của Thái tôn.
Tin đó đồn ngầm trong kinh thành, thoáng lát đã loang ra như một đám cháy được gió thổi tung đi các ngả. Các đại thần hối hả vào triều kiến đức vua.
Điện Thiên An đóng cửa. Các bậc lão thần, những người lương đống lại kéo sang cung Thủy Tĩnh, Trần Thủ Độ treo biển “hồi tị”(2). Các quan lần lượt kéo nhau về, túm năm tụm ba bàn tán. Mọi người đều bàng hoàng trước cảnh đồi phong bại tục của hoàng gia. Đầu têu chuyện này là từ Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung. Gốc của sự loạn, lại chính từ nơi các người có quyền lực nhất nước còn biết tính sao?.
Quan thừa chỉ dâng sớ hạch tội Trần Thủ Độ. Ông xin cáo quan. Không đợi nhà vua xét định. Ông bỏ kinh thành đi. Không ai biết ông đi đâu.
Được chú và mẹ đón vào nội điện, Thuận Thiên còn chưa hết ngơ ngác, đã được phu nhân Trần Thủ Độ ra kéo vào hậu điện. Mẹ con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Thuận thiên hỏi:
- Thưa mẹ, cớ làm sao Hoài Vương phụng quân mệnh lên biên ải, thái sư lại đem binh đến vây vương phủ? Nhất loạt bắt hết bọn thân vệ, tinh binh phải hồi hương. Bắt cả con phải lên kiệu về bên này. Có phải Hoài Vương làm loạn hay thái sư lộng hành? Nói rồi Thuận Thiên xõa tóc gào khóc thống thiết.
Phu nhân ruột rối như tơ vò, nghe tiếng con khóc bà bủn rủn cả chân tay. Không ngờ cơ sự lại xảy đến như thế này. Những tưởng ông ấy sắp đặt được êm thấm. Ai ngờ nông nổi cứ mỗi ngày mỗi rối thêm. Từ bữa ông ấy ngỏ ý tới nhà vua, hoàng thượng đã khước từ. Ta chưa kịp nói gì với Chiêu Thánh, thì Trần Cảnh đã giãi bày với nó rồi. Tới lúc mẹ con nói chuyện với nhau thì thật là tàn nhẫn. Ta cảm nhận như đây là một cuộc xô xát. Chiêu Thánh uất ức phản bác ta. Coi ta như một con yêu tinh, chui vào triều Lý để sát hại cha nó và làm sụp đổ cả vương triều này. Chắc là nó bị xúc động quá, không hiểu được nỗi lòng ta thương chị em nó. Ta cũng chẳng chấp với con cái làm gì. Nhưng điều ta đau buồn nhất là con bé như phát khùng lên. Y hệt cái chứng loạn tâm của Huệ tôn ngày trước. Nó như không muốn nhìn mặt ta. Hễ thấy ta ló vào là nó hét lên: “Ma! Ma!” Vài bữa nay ta xem nó đã bớt la hét. Đã chịu nhấm nháp ăn uống chút đỉnh. Còn nhà vua cũng đã bình thường. Tưởng việc hãy xếp lại. Ai ngờ ông ấy lại quyết liệt thái quá. Bắt Hoài Vương lên biên ải, đón Thuận Thiên về cho đức vua, chặt hết tay chân vây cánh của Liễu. Tức là ông ấy ra mặt ép, không cần các cháu có chấp nhận hay không. Người đâu mà kỳ cục!
Nắm lấy tay Thuận Thiên, phu nhân nhẹ nhàng nói:
- Con hãy cứ bình tâm. Bình tâm lại đã, rồi mẹ nói cho con nghe. Đừng có hấp tấp con ạ. Đây là chuyện trong nhà, ta đóng cửa bảo nhau. Chớ có to tiếng mà vạch áo cho người xem lưng.
Thuận Thiên vẫn còn khóc tức tưởi, một lát sau nàng nói:
- Phu nhân chỉ muốn bịt miệng con. Nhưng Thái sư làm như vậy thì cả nước biết chứ giấu được ai? Nếu sợ thì đừng làm bậy nữa có được không?
Phu nhân cảm thấy khó chịu về cách ăn nói của con gái, nhưng bà vẫn ngon ngọt dỗ dành:
- Các cô là lắm điều lắm đấy. Con gái mẹ lớn quá rồi. Nghe nói con đã tắt kinh gần ba tháng phải không? Gớm sắp làm hoàng hậu đến nơi rồi còn ngúng ngẩy cái gì. Phu nhân vừa buông lời, vừa nhìn sắc mặt con thăm dò.
Thuận Thiên chậm hiểu, nhưng rồi cũng nhận ra lời nói khá lọt tai, bèn hỏi:
- Thưa mẹ, con không hiểu ý mẹ định nói gì. Phải chăng đức vua lại trả ngôi báu về cho Hoài Vương? À mà thế cũng phải, không có anh em lại hục hặc với nhau suốt đời.
- Chuyện không phải thế. Nhân đây mẹ nói cho con nghe. Số là Chiêu Thánh nó bấy bót quá. Lại từ ngày sinh hoàng tử Trịnh chết yểu tới nay đã năm năm. Xem ra cũng không còn sinh nở được nữa. Mẹ cùng chú mày bàn đến nát nước. Mãi sau mới tính chuyện đem con về bên này. Thế là hai chị em cùng có phúc, có phận cả. Mà họ Trần ta cũng được nhờ vào các con. Hoài vương thì nó được thằng Quốc Tuấn rồi. Còn nhà vua thì muộn mằn quá. Vả lại mẹ cũng không muốn con phải làm lẽ. Thân cành lá ngọc, phí một đời. Nay con về đây, hai chị em cùng là hoàng hậu. Con cái nối dõi đã có sẵn trong bụng rồi, còn lo gì. Nếu các con nghe lời mẹ, thì vĩnh viễn đời đời, mẹ có chết cũng yên lòng.
Nghe mẹ nói, Thuận Thiên cứ ngỡ là mẹ ốm đau gì đâm mê sảng, nàng hoảng hốt thật sự. Hết sờ vào tay lại ấp vào trán mẹ. Phu nhân tưởng như con gái nghe lời mình, vì thế bà cứ nói liên hồi cho đến lúc Thuận Thiên không chịu được nữa, gào lên:
- Sao mẹ nỡ đem cái chuyện chó lợn ấy nói với con.
Khi ép con phải lấy Hoài vương cũng mẹ chứ ai. Ngày ấy con đã biết gì. Thế em Chiêu Thánh đâu rồi?
- Chiêu Thánh! Chiêu Thánh! - Thuận Thiên gào lên. Em có còn, hay người ta giết chết em rồi. Khổ thân em tôi.
- Con làm gì mà ồn lên thế, Thuận Thiên! Mẹ tính vậy để lo cho các con được trọn vẹn. Vả lại giữa Cảnh với Liễu cũng là hai anh em ruột nhà nó, với hai chị em ruột nhà mày, chứ có phải người xa lạ nào mà sợ. Việc này tùy con, mẹ không ép. Phu nhân đã toan đi vào, thì chợt có tiếng một chuỗi cười dài dại từ phía ngoài vọng tới. Rồi Chiêu Thánh lấp ló ngay nơi cửa. Đầu tóc rối bù. Áo quần xộc xệch. Chân không giày dép. Tay cầm bông mẫu đơn, Chiêu Thánh vừa đi vừa hát:
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi(3)
Hát xong, Chiêu Thánh lại cười sặc sụa.
Chợt trông thấy Thuận Thiên, mắt Chiêu Thánh vụt sáng lên, reo òa:
- A, chị Thuận Thiên! Rồi Chiêu Thánh lùi lại nhìn Thuận Thiên như nhìn người xa lạ. Buông tiếng chào lạnh nhạt:
- Kính chào hoàng hậu.
Chiêu Thánh ngoắt quay đi, như chưa hề biết có Thuận Thiên.
Thuận Thiên hốt hoảng lao theo em. Vừa đi vừa gọi:
- Chiêu Thánh! Chiêu Thánh! Chị đây mà.
Phu nhân đứng nhìn hai chị em, lòng ngao ngán.
Tiếng Chiêu Thánh vẫn còn vang vọng:
- Người ta vây phủ Hoài vương, diệt vây cánh Trần Liễu. Thế nào rồi con ngựa Hoài Vương ruổi sáng nay cũng trở về. Nhưng không có người cưỡi nó trên yên đâu, chị Thuận Thiên ơi!
Ha… ha… ha… ha! Túy ngọa sa trường…
Chú thích:
1. Bính thân (1236), tháng 6 lụt to, nước tràn vào cung Lệ Thiên, Hiển hoàng Trần Liễu đi thuyền qua đây, thấy có người phi cũ của triều Lý bèn đưa vào hiếp ở trong cung. Có người hặc tâu, giáng Trần Liễu từ Hiển hoàng xuống Hoài vương. Và đổi cung Lệ Thiên thành cung Thưởng Xuân.
2. Có nghĩa là: quay về, không tiếp khách.
3. Đây là khúc Lương Châu của Vương Hàn, đời nhà Đường. Dịch nghĩa:
Chốn sa trường say nghiêng ngả ai nỡ cười
Xưa nay đi chinh chiến đã mấy người trở lại.
CHƯƠNG 22
Nắng dọi những tia đầu tiên vào phòng, khiến Trần Thủ Độ giật mình tỉnh giấc. Thái sư uể oải vươn vai, ngáp một tiếng thật to rồi vùng ra khỏi giường. Ông chụp lấy chiếc chuông nhỏ để lẫn vào đồ văn phòng tứ bảo, lắc lia lịa. Một lát, tên gia nô bước vào phòng hớt hải. Thấy quan ông đầy vẻ tức giận, y quỳ mọp xuống tâu:
- Trình đức ông… Tên gia nô sợ đến líu cả lưỡi. Vì y biết tính chủ, mỗi khi nổi giận.
Trái với lệ thường, lúc tức giận, quan thái sư hay thét mắng. Lần này quan ông thong thả hỏi:
- Sao các ngươi không đánh thức ta dậy sớm?
Tên gia nô vững dạ, bèn thưa:
- Trình đức ông, lệnh bà bảo chúng con cứ để cho đức ông ngủ. Vì đêm qua đức ông làm việc khuya.
- Có tin tức gì cho ta không?
- Bẩm đức ông. Có thư của Lê tướng quân.
- Sao không đưa ngay vào! - Trần Thủ Độ đập tay xuống án, quát.
Tên gia nô mặt tái đi, nói lắp bắp:
- Trình đức ông, ngựa trạm mới đưa vào lúc đầu giờ dần. Nói xong y chạy đi lấy phong thư.
Trần Thủ Độ đọc thư, nét mặt ông tươi tỉnh dần lên. Khi đặt phong thư xuống án, ông chợt nhìn, vẫn thấy tên gia nô quì chờ lệnh. Ông ân cần bảo:
- Ta đang có công việc cần kíp. Nên đôi khi trái tính. Các ngươi gắng chịu. Ta biết các ngươi không có lỗi gì đâu. Đừng sợ. Lần sau, có thư hay lệnh, các ngươi nhớ đem ngay vào cho ta. Nếu là hoả lệnh, thì dù ta có đang ngủ, cũng phải lay gọi bằng được. Nghe không?
Tên gia nô cuối đầu:
- Dạ!
Trần Thủ Độ vẫy tay cho lui.
Thái sư rất hài lòng vì Lê Tần vừa tới biên ải được vài tuần đã kịp thu thập tin tức, gửi đường ngựa trạm về ngay. Vậy là mặt biên ải chưa có gì đáng quan ngại. Thời cơ cho ta rảnh tay lo việc hoàng gia. Ông tự biết làm việc này hơi quá tay với Trần Liễu. Vì nếu không như thế, ông không yên tâm về hai lẽ. Một là tính trường cửu của nhà Trần. Hai là dập tắt tham vọng quyền hành của Trần Liễu. Theo ông, Trần Liễu ngu xuẩn không tự biết mình. Y cũng không biết đến cả sự tế vi của công cuộc chính trị mà ông chủ trương. Thử hỏi, không có Trần Cảnh, thì làm sao đóng cho xuôi gọn được tích trò nhường ngôi? Nay thiên hạ đã chấp thuận như là một sự đương nhiên phải thế, thì y lại hằm hè, động cựa. Trần Cảnh là người khoan nhân, đức độ, lại thông tuệ khác thường. Tâm ấy, tài ấy, mà ở ngôi thiên hạ mới có chỗ trông cậy. Trần Thủ Độ đang miên viễn với những suy tư, toan tính thì nội thị đã bê thức ăn sáng vào cho ông.
Mở chụp lồng bàn thấy có một đĩa khoai tím. Một dúm muối vừng và một con dao bài. Thái sư ăn ngon lành. Ông ăn hết đĩa khoai, vẫn còn muốn ăn nữa. Ông tự biết ơn phu nhân. Chỉ có phu nhân mới biết ông thích ăn loại khoai này. Đây là giống khoai rừng chỉ bên mạn Kinh Bắc mới có. Củ giống như củ nâu, to bằng chiếc nồi nhỡ. Thường nấu canh cá rô, hoặc hầm với cẳng lợn, ăn rất ngon. Nó thơm như củ mài, bở và ngọt hơn củ mài. Nhưng ông thích ăn luộc hơn cả.
Nội thị vừa dâng cho ông một tô nước chè xanh, cũng vừa lúc phu nhân bước vào.
Gương mặt phu nhân chảy dài ra, buồn rười rượi. Phu nhân nói như nhận lỗi về mình:
- Thấy ông ngủ ngon quá. Tôi dặn gia nhân không được đánh thức. Chắc ông giận.
Trần Thủ Độ cười xoà:
- Tôi ngủ được, khỏe người, có gì mà giận. Nhưng bà thương tôi vừa vừa thôi, kẻo những lúc việc quân gấp gáp cứ ngủ khì là mất mạng như chơi.
- Cả đời ông, tôi có thấy lúc nào ông không gấp gáp? Mà đã mất mạng đâu.
- Nhờ có sự lúc nào tôi cũng gấp gáp ấy mà tôi không mất mạng, binh tôi không nhọc sức.
Liếc nhìn phu nhân, thái sư hỏi:
- Lại có chuyện gì phải không? Mới sớm đã buồn nẫu ra thế kia. Lại chuyện con Chiêu Thánh chứ gì? Bà cứ hay cả nghĩ. Con cái lớn rồi. Có điều gì nó không vừa ý, nó phải cãi chứ sao. Cốt nó không ra khỏi khuôn phép của mình là được.
- Nào có phải chuyện nó cãi. Cả tháng nay nó cứ điên điên khùng khùng. Nó không nói với tôi một lời nào. Nó không muốn nhìn mặt tôi nữa. Cứ hễ trông thấy tôi là nó hét: “Ma! Ma!”. Tôi khổ tâm lắm ông ơi. Tất cả cũng vì đế nghiệp nhà ông, mà tôi mang trọng tội với nhà Lý. Tôi là một kẻ giết chồng, hại con, phá tan cả một vương triều. Con gái tôi nó nói vậy đấy. Phu nhân bưng mặt khóc hu hu.
- Sao bà cứ hay chấp nê. Chỉ biết mình làm việc đại nghĩa. Người này được thì kẻ kia mất. Biết làm thế nào khác được. Có điều để mình yên tâm rằng, không phải mình tham lam quyền bính, mà mình vì đám lê dân. Trần Thủ Độ với vẻ trầm tĩnh, giảng giải cho phu nhân đến cạn nhẽ - Đấy bà xem, những năm dưới triều Huệ tôn, đi về ngả nào cũng thấy người chết đói. Đi về nẻo nào cũng khói bụi chiến tranh. Ngay cả lúc đói, mình ăn miếng cơm cũng không còn thấy ngon nữa. Ngủ cũng chập chờn không yên giấc. Nay nhà Trầøn trị vì, bà xem đời sống người dân như thế nào. Cứ trông những bộ mặt những người đi đường, là biết được thời đại. Bà cứ trách móc tôi là lúc nào cũng gấp gáp. Tôi gấp gáp vì sự an dân hưng nước, chứ tôi có nhằm lợi lộc gì. Trong nhà ta, có gì bà biết cả đấy.
Phu nhân lấy chéo khăn lau nước mắt, ngước nhìn chồng, bà nói:
- Nào tôi có dám trách oán gì ông. Buồn quá, tôi chỉ muốn thổ lộ cùng ông đôi điều. Con Chiêu Thánh nó bỏ đi rồi. Ông biết chưa?
- Nó bỏ đi lúc nào. Được, để tôi cho người đi tìm.
- Cả con Trịnh Huyền cũng đi theo nó. Ông có nhớ con Trịnh Huyền, thị nữ của tôi không?
- Có phải con bé giấu tờ chiếu dạo nọ không? Con bé người nhà quan thừa chỉ chứ gì?
- Đúng đấy!
- Con ấy là một đứa nghĩa khí đấy bà ạ. Nó là phận tôi tớ, nhưng tôi vẫn có bụng nể nó. Để nó theo hầu Chiêu Thánh cũng được. Con Chiêu Thánh cũng thuộc nòi khí khái lắm. Thế bà đã nói với nó, chuyện đưa con Thuận Thiên về bên này chưa?
- Tôi nói, nó cãi tôi, rồi nó phát điên phát khùng lên đấy. - Phu nhân thở dài chán nản - Chuyện vỡ lở, cả kinh thành điều biết. Ông tính sao?
Trần Thủ Độ trầm tư:
Thôi được, bà cứ mặc tôi liệu.
Thái sư tức tốc sai quân toả đi bốn cửa thành tìm Chiêu Thánh. Từng bến đò, quán nước, chùa chiền, nơi nào có thể dừng chân hoặc tá túc được, lính đều ngó ngang tìm kiếm.
Chừng giờ trị, quân báo về: đã tìm thấy hoàng hậu ở chùa Bảo Quang.
Trần Thủ Độ lập tức lên kiệu tới liền. Thuyền sư lật đật ra tận tam quan vái chào quan thái sư, và rước mời ông vào nhà phương trượng. Nước được một tuần, nhà sư liền hỏi:
- Bạch đức ông, vậy chớ có chuyện gì, hoàng hậu vừa đến vãng cảnh chùa dâng lễ Phật sớm nay, mà đức ông đã phải vội vã đi tìm?
Trần Thủ Độ từ tốn đáp:
- Bạch thuyền sư, tôi cũng là khách thập phương tới vãng cảnh chùa, ăn mày lộc Phật. Cớ chi nhà chùa lại bảo tôi đi tìm hoàng hậu? Chẳng hay hoàng hậu bây giờ ở đâu? - Nói rồi Trần Thủ Độ sai mở đẫy lấy ra một trăm lạng bạc, hai mươi đĩnh vàng cúng vào chùa. Ông nói:
- Số vàng bạc này gửi nhà chùa để tu bổ nơi hương khói thờ Phật, và làm các việc bố thí cho chúng sinh vào những năm mất mùa, đói kém.
Thuyền sư hết lời cảm tạ tấm lòng hiếu Đạo của thái sư. Nhà sư nói:
- Bạch thái sư, vì đức ông có lòng hiếu Phật, nên bần tăng mới mạnh bạo bộc bạch cái sở kiến của kẻ tu hành. Như thái sư đã biết, từ khi đức Cao tông nghe lời xiển Phật của Đàm Dĩ Mộng, đã có sự bài xích Phật giáo một cách bất công. Cũng từ đấy kỷ cương nhà Lý bắt đầu đổ nát. Nay triều ta đã hưng được vận nước, xin thái sư để tâm hơn nữa vào việc Đạo. Vì việc Đạo chính là việc đời. Đạo là cốt để giáo hoá cho chúng sinh được ngay chính cái tâm - tức là thiện tâm. Một xã hội đầy tràn thiện tâm thiện đức, chẳng phải là một xã hội thịnh trị, mà các đấng minh quân từ xưa mơ ước sao? Bần tăng chỉ xin bầy tỏ với thái sư một điều bé mọn đó của kẻ tu hành, xin thái sư lưu tâm.
Trần Thủ Độ đến chùa không phải vì mục đích vãng cảnh, cúng dàng. Cũng không phải đến để đàm đạo với thuyền sư về việc đạo, việc đời. Chẳng qua vì có tin Chiêu Thánh bỏ ngôi hoàng hậu vào đây ẩn náu, ông muốn tới để gọi nàng về. Lại vì có di hài của Huệ tôn để trong tháp chùa này. Thủ Độ cúng dâng vàng bạc để tu bổ chùa chiền, cũng có hàm ý đến việc săn sóc Huệ tôn. Vì khi nhà vua còn sống ông không làm được điều đó. Cũng còn một ý khác nữa muốn nói với dân nước, nhà Trần là kế nghiệp nhà Lý chứ không có chuyện soán đoạt. Một ẩn ý nữa là, nếu như Chiêu Thánh muốn ở lại chùa để hương khói, thì số bạc vàng đó là để chu cấp cho nàng. Bằng ấy ý nghĩa của cuộc viếng thăm ngắn ngủi của một quan lớn đầu triều, kẻ tu hành dễ gì nhận ra. Chợt nhớ tới nhà sư, Trần Thủ Độ nói:
- Triều đình đang làm cái điều mà thuyền sư mong muốn. Vậy xin nhà chùa cho biết hoàng hậu hiện đang ở đâu. Mấy bữa nay, hoàng hậu không được khoẻ. - Bạch đức ông, hoàng hậu tới chùa cùng với một tì nữ vào sớm hôm nay. Người nói sẽ xin ở lại chùa để hương khói cho Huệ Quang thuyền sư. Nhà chùa chúng tôi chưa dám vâng lời. Vì chưa được biết cao ý của hoàng thượng và đức ông.
Trần Thủ Độ nhã nhặn tiếp lời nhà sư:
- Bạch thuyền sư, hoàng gia chúng tôi xin đa tạ hảo ý của nhà chùa. Xin cho tôi được gặp hoàng hậu, sau đó thế nào sẽ xin bạch lại với nhà chùa.
Thuyền sư dẫn Trần Thủ Độ vào trai phòng. Chiêu Thánh đang ngồi buồn ủ rũ. Trịnh Huyền ngồi chếch phía sau, vừa bóp đầu cho Chiêu Thánh vừa rì rầm nói chuyện. Thấy thái sư bước vào, Trịnh Huyền vội đứng lên chắp tay vái:
- Kính chào đức ông.
- Chiêu Thánh, tại sao con lại bỏ cung điện tới đây? Mẹ buồn lắm đấy. Ta nghe nói mấy bữa nay trong người con khó ở.
- Đội ơn đức ông hỏi thăm. Chiêu Thánh tôi có lúc nào được khoẻ mạnh đâu.
- Vậy thời con nên trở lại cung, để mẹ con còn thuốc thang.
- Xin đức ông tha cho. Tôi không thể trở lại cái tổ quỷ đó được. Ở đấy tôi sẽ phát điên lên mất. Sẽ hỗn hào phạm thượng.
Trần Thủ Độ thầm nghĩ: “Con bé đâm khùng. Nói năng chẳng còn biết giữ lễ. Chắc nó uất lắm. Kể cũng tội. Không nỡ chấp với trẻ nhỏ”. Ông ân cần khuyên giải:
- Hãy coi những điều mẹ con nói chỉ là mong muốn. Chẳng ai ép buộc con. Nếu không ưng thuận, con cứ về triều. Ngôi hoàng hậu của con không ai xâm phạm tới được. Ta mong con hãy nguôi giận.
- Cảm tạ đức ông. Tôi hiểu phu nhân lắm. Vì bà là mẹ tôi. Ý bà đã quyết thì không gì lay chuyển được. Phu nhân đã hợp lực cùng với đức ông, đoạt bằng được cơ nghiệp của nhà Lý. Nay tôi lại cố đấm ăn xôi, ở lại ngôi hoàng hậu, chẳng là cái gai cho phu nhân hay sao?
- Ta khuyên con nên trở về triều, kẻo nhà vua mong đợi.
- Tôi đã thưa với đức ông rồi. Ngay cả nhà vua cũng phải tuân theo ý đức ông. Vả lại nhà vua đang cần có con nối nghiệp đế vương. Tốt nhất đức ông nên tìm cho nhà vua một người trong họ. Chị em tôi dù sao cũng là người ngoại tộc. Chắc đức ông cùng phu nhân đã tính kỹ nước cờ lừa nhà Lý. Nay phải diệt cái mầm loạn từ khi nó chưa nhú, lẽ nào đức ông còn rước người họ Lý vào cung? Đức ông cùng phu nhân có thể lừa được thiên hạ, chứ không lừa được con Chiêu Thánh đâu. Chiêu Thánh cố giữ vẻ bình thản, nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, hoen cả khuôn mặt gầy võ không điểm trang của nàng.
Trần Thủ Độ không những không giận, mà còn thấy thương nàng. Ông cho những lời Chiêu Thánh nói, là suy nghĩ chân thực. Giọng ông rầu rầu:
- Chiêu Thánh, con quá ưu sầu nên căm giận ta cùng mẹ con. Tiếc rằng con còn nhỏ tuổi chưa hiểu được sự đời. Lớn lên, chắc rồi con sẽ hiểu ta và tha thứ cho mẹ con.
- Tôi không dám giận đức ông. Nhưng mẹ tôi, thật tình tôi không thể tha thứ cho bà. Hãy cứ cho rằng thiên hạ là của chung. Thiện thì được, không thiện thì mất. Song mẹ tôi, đã lừa dối chị em tôi. Lừa dối cả chồng bà. Chính bà là người giết cha tôi. Thưa đức ông, tôi biết ai là người giết cha tôi rồi. Nhưng nếu không có mẹ tôi, làm sao người kia có thể thực hiện được âm mưu đen tối của mình. Bà đâu còn là một người vợ, người mẹ nữa.
Chiêu Thánh quay đi khẽ nói như nói với chính mình: “Tiếc thay, những năm thơ ấu, ta cứ nghĩ ta được sống trong tình thương của mẹ”.
Tự biết không thể thuyết phục được Chiêu Thánh, mà ông thì không muốn ép buộc đứa con gái thơ ngây tội nghiệp, Trần Thủ Độ liền dịu giọng:
- Vậy thì ý con muốn như thế nào, con cứ nói, họa may ta có thể giúp được gì cho con.
Chiêu Thánh sửng sốt trước sự chấp thuận dễ dàng của thái sư. Nàng thừa biết ông là một người sắt đá, chưa hề biết lùi bước. Giá như ông gay gắt quyết liệt, nàng còn biết đường tự liệu. Với vẻ bối rối, nàng nói:
- Xin đức ông gia ân cho tôi được ở lại chùa này, để hương khói cho cha tôi. Cũng xin đức ông cho Trịnh Huyền được ở lại cùng tôi cho có bầu có bạn.
- Nếu ý con đã quyết, ta không nỡ cản. Chỉ thương con thân gái, chưa quen chốn khổ hạnh.
Suy nghĩ giây lâu, Trần Thủ Độ lại nói:
- Chùa là nơi chốn của những người đã xuất gia. Con ở lại đây lâu, e không tiện. Để ta nói thuyền sư cho con tá túc dăm bữa nửa tháng, chờ ta cho người xây cất một căn nhà, ngay cạnh chùa cho con, như thế tiện hơn. Rồi sau này thế nào tùy con định liệu.
Chiêu Thánh không khỏi cảm động trước tấm lòng ưu hậu của thái sư. Nàng lễ phép nói:
- Thưa đức ông, nếu đức ông thương tình cho một chỗ ở, Chiêu Thánh tôi chỉ xin ba gian nhà tranh vách đất đơn sơ, bên cạnh hồ, tiếp với đất chùa đây. Nếu như đức ông lại xây cất dinh thự nguy nga, thì Chiêu Thánh tôi không bao giờ dám đặt chân tới
- Thôi được, ta sẽ chiều theo ý con. Để ta nói lại với thuyền sư. Chào hai con.
Đã toan quay ra, Trần Thủ Độ lại dừng, ông nói với Trịnh Huyền - Ý hoàng hậu như vậy, chắc con đã rõ. Con cố gắng làm vui lòng người. Cũng phải nói để con biết. Ta rất trọng con. Chúc hai con mạnh khỏe, ta đi.
Cả Chiêu Thánh, Trịnh Huyền đều cúi đầu bái biệt.
Trần Thủ Độ bước ra, vẻ mặt lạnh buồn.
Trở lại cung Thuỷ Tĩnh, Trần Thủ Độ đã thấy có Lê Tần ở đấy. Ông sung sướng reo lên:
- Cha chả tướng quân đã về. Ta mong ông quá.
Lê Tần cúi đầu vái thái sư.
Chợt thấy trên nét mặt viên tướng trẻ một thoáng lo buồn, Trần Thủ Độ hỏi:
- Có chuyện gì đó, tướng quân?
- Trình thái sư. Tôi vừa về tới kinh thành liền đến ra mắt thái sư ngay. Được tin đức ông lại chùa Bảo Quang, tôi quay vào điện Thiên An. Bẩm đức ông, hoàng thượng bỏ kinh thành đi rồi!
Trần Thủ Độ tái mặt, giây phút kinh hoàng vừa thoáng hiện trên gương mặt con người dạn dày trận mạc, với ý chí sắt đá kiên cường, ông vội trấn tĩnh phút yếu lòng. Đức ông hỏi, giọng hơi lạc:
Nhà vua đi từ bao giờ?
- Bẩm, nội thị không biết rõ nhà vua đi vào lúc nào. Tiểu tướng có hỏi ngoài các trạm canh, viên đô trưởng Cửa Đông cho biết, đức vua đi vào khoảng cuối giờ hợi đêm qua. Tháp tùng nhà vua có bảy người. Nhưng tới bên kia bến đò sông Cái, nhà vua cho về bớt, chỉ lấy chi hậu cục Trần Thiêm và thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đi theo. Nhà vua nói là đi vi hành, phải cải dạng, không dân chúng họ biết. Dạ thưa, cả nhà vua và tuỳ tùng đều đi ngựa.
Trần Thủ Độ thở dài, ngồi phịch xuống ghế. Lê Tần lại nói:
- Bẩm đức ông, tiểu tướng đã cho một tốp lính sang sông Cái, tỏa đi các ngả đường để tìm nhà vua.
Trần Thủ Độ gật đầu. Chiếc cổ ông chưa bao giờ cúi, mà nay phải uốn cong cho cái đầu gục xuống. Một lát, ông ngẩng phắt dậy, nhìn Lê Tần trừng trừng, hỏi:
- Liễu đâu?
- Trình thái sư, quan thái úy Hoài vương Liễu hiện đang ở tư dinh.
Trần Thủ Độ giật mình:
- Ông phải cho người theo sát Liễu. Sơ hở lúc này là có biến. Ông về đi. Cần gì ta sẽ cho tìm.
Lê Tần cúi chào, lặng lẽ bước ra.
Trần Thủ Độ đi đi lại lại trong căn phòng với những bước đi lúc thưa, lúc mau, lúc nhẹ lướt câm như mèo, lúc ầm ầm như voi cuốn. Ông lồng lộn như con hổ bị hãm chuồng.
Trần Thủ Độ tự hỏi: “Chẳng lẽ keo này ta thua ư?” Rồi ông lại tự trả lời: “Có nhẽ ta thua thật”. Chúng nó bỏ đi hết rồi. Vua đi. Hoàng hậu cũng đi. Rốt cuộc chỉ còn lại con Thuận Thiên ngờ ngệch, thằng Trần Liễu ranh ma. Thằng này mất vợ, mất đám quân nanh vuốt, liệu nó có chịu bó tay không? Trời hỡi trời! Ta sẽ mất mặt với con dân cả nước, mất mặt với triều đình. Ông giận dữ ngửa mặt lên trời thề: “Dẹp xong việc này, từ nay thề có trời đất thiêng liêng chứng giám, tất cả những điều gì vợ ta sắp đặt…”
Trần Thủ Độ cứ ngồi đó nghĩ suy, trăn trở. Ông ức đoán Thái tôn đi về nẻo hướng nào. Và hiện nay đang ở đâu. Ông không tự thấy nhà vua bị bức bách quá phải bỏ đi, mà ông chỉ trách Trần Cảnh vô ơn. Đã không biết công ông chăm sóc, dựng xây cho từng bước một. Một mình nó ngồi trên cả trăm họ. Thậm chí còn ngồi trên cả ông nữa. Nó phải biết vì sao nó được như thế chứ. Bây giờ, Cảnh bỏ ông đi, làm cho người trong nước chê cười ông. Thử hỏi, ông còn mặt mũi nào nữa. Rồi ông lại liên tưởng đến Trần Liễu. Sự thật ông thấy có gì gai gai mỗi khi nghĩ về Hoài vương Liễu. Ông không dám chắc, thằng đàn ông gần ba chục tuổi với nhiều tham vọng này, lại ngoan ngoãn khuôn theo sự sắp đặt của ông. Nghĩ tới có kẻ nào làm loạn, lửa giận trong người ông lại bừng bừng nổi dậy. Nước thanh bình, nhưng giặc ngoài không thôi dòm ngó. Kẻ nào khơi lên mầm loạn, kẻ ấy sẽ là con thiêu thân chui vào lửa. Ông không tha thứ. Ông chìa bàn tay gân guốc ra nắm lấy không khí rồi bóp siết lại. Cứ như là ông đang tiêu diệt kẻ phá phách nền an lạc của đất nước này.
Chợt Lê Tần vào bẩm:
- Trình thái sư, quan thừa chỉ đã bỏ Thăng Long đi rồi. Hoài vương Liễu cũng cải dạng ra khỏi kinh thành rồi. Quan thừa chỉ đi từ lúc nào không ai biết. Nhưng Hoài vương thì tiểu tướng đã cho người theo sát.
- Hừm! Trần Thủ Độ vừa “hừm” được một tiếng, rồi đứng rũ ra như một chiếc cây bị héo rũ. Không phải ông sợ vương Liễu, mà chính là quan thừa chỉ bỏ đi.
CHƯƠNG 23
Khi đã sang tới bên kia bến đò sông Cái, đi chừng độ nửa trống canh nữa về hướng bắc, Thái tôn mới bảo mọi người dừng lại. Nhà vua nói:
- Ta muốn làm một chuyến vi hành, để nghe ngóng trong dân, xem các chính sách của triều đình có gì thuận, nghịch với lòng dân. Nhưng nếu đi cả đoàn cả lũ thế này, khó mà che giấu được tai mắt người dân. Vậy các ngươi trong đám nội nhân hãy quay về triều. Chỉ có Trần Thiêm, Trần Khuê Kình đi theo ta. Nói xong nhà vua bèn khoác lên mình chiếc áo thường dân. Mọi người ai cũng khóc lóc đòi theo, nhưng vua không cho.
Tính ra, vua tôi khởi hành ở Thăng Long từ giờ hợi, lúc này đã cuối giờ tí. Gà trong các xóm đã gáy ran. Vua tôi chia tay bịn rịn. Khi đoàn người trở lại Thăng Long đã đi xa chừng non một đặm, nhà vua ghìm cương ngựa lại, nói với Thiêm, Kình:
- Quay về hướng đông. Ta muốn lên Yên Tử.
Trần Thiêm kính cẩn nói:
- Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ muốn vi hành, không đâu bằng vùng xứ Bắc này: dân đông, nho sĩ nhiều, lại là đất cũ quê hương nhà Lý. Luyến nhớ vua cũ, hoặc nhuần thấm ơn mưa móc vua mới, chỉ qua bọn nho sĩ và lớp cùng đinh là biết hết, bệ hạ còn phải ra vùng Yên Tử hiu quạnh làm chi cho nhọc sức.
Trần Khuê Kình cũng mạnh dạn khuyên can:
- Tâu hoàng thượng, anh Thiêm nói đúng đấy. Bệ hạ đến cái vùng lam sơn chướng khí, suốt ngày không một bóng người ấy làm gì. Muốn đi về Yên Tử sao khi đêm, bệ hạ không đi thẳng hướng đông có tiện không, lại còn ngược bắc làm gì?
Thái tôn băn khoăn một thoáng, nói:
- Hai người cùng là bạn ta. Trần Thiêm tuy hơn tuổi, nhưng lại cùng được bổ với ta từ năm Ất dậu (1225) dưới thời Chiêu Hoàng. Đã bao năm cùng ta gắn bó. Còn Trần Khuê Kình với ta cũng là bạn cũ, ta chẳng giấu diếm các khanh làm gì. Ta muốn lên vùng Yên Tử tìm đường giải thoát. Ta ngán cảnh tù túng ở Thăng Long lắm rồi.
Trần Khuê Kình lại nói:
- Tâu bệ hạ, bệ hạ ở ngôi quân trưởng, không thể chỉ làm theo ý thích riêng mình mà bỏ mặc muôn dân.
Thái tôn lưỡng lự nhìn hai người bạn đồng hành, lại nhìn trời, giây lâu nhà vua nói:
- Cứ dùng dằng mãi, ta e trời sáng mất. Ta còn phải ngược lên bắc, rồi mới rẽ sang đông, là cốt đánh lạc hướng thái sư. Ta biết thái sư không có bụng bỏ ta, thế nào người cũng dò tìm. Ta hỏi thực hai khanh, lúc này không phải là nghĩa vua tôi, mà là tình bè bạn, nếu hai khanh thuận lòng đi với ta, thì cùng đi. Nếu không thuận, hai khanh cứ trở về triều, ta không trách oán. Bởi mỗi người có một chí hướng riêng, ta không ép. Nhưng nếu trở về triều, xin hai khanh liệu lời mà nói, đừng để lộ tung tích của ta. Nói xong, Thái tôn thúc ngựa đi vượt lên.
Thiêm, Kình hai người cùng nói:
- Chúng thần xin đi theo hầu bệ hạ. Hai người, một vượt lên, một lùi lại để Thái tôn đi giữa.
Nhà vua như sợ trời sáng mà chưa xa kinh thành là mấy, nên thỉnh thoảng lại giục Khuê Kình ở phía trước.
- Khanh ráng cho ngựa đi mau hơn.
Đường hẹp, ngựa chỉ đi hàng một, nên vua tôi không trò chuyện được với nhau. Tâm trạng nhà vua thật đau buồn. Các việc xẩy ra trong hoàng gia do sự áp đặt của ông chú, bà cô, khiến cho nhà vua bất bình. Thái tôn buồn nhất là những người trong cuộc, không một ai được lợi lộc hoặc thích thú gì về chuyện này. Nhà vua lo nhất vẫn là ông anh cả. Trần Liễu dám làm càn lắm. Từ trước, Liễu đã hục hặc chuyện ngôi thứ rồi. Nay thái sư làm nhục cả một lũ mấy anh em chị em. Liễu sẽ nhân cơ hội này mà dấy lên. Vậy là chính thái sư gieo mầm loạn. Càng nghĩ, Trần Cảnh càng uất ức về ông chú. Tuy vậy, không thể không phục ông ta là một cáo già. Lừa cho Liễu lên biên ải, ông ta bẻ hết nanh vuốt Liễu, chỉ thoáng trong phút chốc. Nếu Liễu có chống lại ông ta, cũng chỉ là chuyện đem trứng chọi với đá. Mất mạng như chơi. Chính ta lo cho tính mạng của huynh trưởng. Nhà vua lại nghĩ, nếu như sự táo tợn của Liễu mà thành đạt. Người đầu tiên Liễu giết, hẳn là thái sư. Sau đó, Liễu sẽ khử ta để lên ngôi hoàng đế mà từ lâu anh ấy trông đợi.
Miên man, nhà vua lại nghĩ đến điều Khuê Kình khuyên giải, và cũng hàm ý trách móc: “Người ở ngôi quân trưởng không thể chỉ làm theo ý thích riêng mình mà bỏ mặc muôn dân”. Nhà vua lại tự biện minh: “Dù Khuê Kình có trách ta, ta cũng đành chịu. Sự thật ta có được làm theo ý muốn được đâu”. Đúng như Chiêu Thánh đã nói toạc vào mặt ta: “Bệ hạ chỉ là một thằng hình nộm”. Từ mấy năm nay, khi đã ý thức được về các điều thiện, ác cũng như sứ mệnh của kẻ cầm quyền; ta ấp ủ sẽ làm các việc có lợi cho dân, cho nước. Nhất là từ khi được cư sĩ Phùng Tá Thang, chỉ bảo cho các điều trọng yếu của tam giáo. Hoặc những bậc học giả, có thiện tâm với dân với nước, như quan thừa chỉ khuyên nhủ ta những việc cần làm, những điều cần tránh, khiến lòng ta lúc nào cũng hồi hộp, lo sợ, như người mặc áo cỏ khô ngồi trước lửa. Có phải đâu ta không biết nghĩ đến bách tính. Không thương họ sao được. Bởi nếu không có dân thì cũng chẳng có vua. Nghĩ cho cùng, ta chịu ơn họ mới đúng, chớ đâu có chuyện họ phải ơn ta. Từ miếng cơm ta ăn, tấm áo ta mặc, chiếc xe chiếc kiệu ta đi, nhất nhất đều do những người dân lam lũ khốn khó làm ra, thế mà mỗi lần ta tha bớt tô thuế, giảm nhẹ hình án là muôn dân gióng trống mở cờ, vào hội ăn mừng, để tỏ lộ ơn mưa móc đã nhuần thấm tới xóm thôn. Ta biết, ta chỉ dối lừa họ thôi, cái đám dân đen khốn khó ấy. Ta cho họ, cái mà ta không mất. Ấy vậy mà họ vẫn cứ hớn hở mừng vui, tung hô vạn tuế.
Vua tôi cứ mải miết đi, trời sáng lúc nào không hay. Chợt trông thấy núi Phả Lại ở phía trước, Khuê Kình bèn quay lại nói với nhà vua:
- Tâu bệ hạ, sắp tới bến đò rồi. Người ngựa đều mệt. Gần đây có một quán hàng. Xin bệ hạ tạm dừng để cho ngựa uống nước, ăn cỏ.
Thái tôn nhìn quanh quất rồi gật đầu. Nhà vua nom kỹ vào đáy mắt hai người đồng hành, xem họ có còn muốn đi với mình nữa không. Giây lát ngập ngừng, Thái tôn nói:
- Ở những nơi hàng quán hoặc đò giang sông nước, các ngươi chớ có gọi ta là hoàng thượng hay bệ hạ gì hết. Cứ gọi ta là “anh Hai”. Còn ta sẽ gọi các ngươi như tên thường ngày.
Vua tôi lại tiếp tục đi. Khuê Kình là một võ tướng, nên càng đi càng thấy khoẻ. Chỉ thương con ngựa khát nước. Chốc chốc nó lại quệt cái mõm vào những cành lá đẫm sương bên đường, rồi lấy hơi hít hà qua hai cánh mũi phập phồng. Nhà vua tuy không mệt, nhưng nom vẻ mặt hơi bơ phờ, vì những suy nghĩ lo lắng. Duy chỉ có Trần Thiêm không tỏ lộ một nét vui buồn hay mệt mỏi nào trên khoé mắt, gương mặt. Thiêm là một người thâm trầm, biết nén giấu đi những tình cảm thật của mình. Thiêm là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng bác. Cùng được thăng bổ với Trần Cảnh một ngày, dưới thời Lý Chiêu Hoàng. Ngày ấy Thiêm được giữ chức chi hậu cục, còn Trần Cảnh được sung chức chánh thủ. Kể về vai vế họ hàng, Thiêm phải gọi Cảnh bằng anh. Trần Khuê Kình cũng là chỗ bà con nội tộc. Khuê Kình vừa là bạn, vừa là em họ Thái tôn.
Vừa tới quán, Khuê kình săm săm dẫn ngựa vào trước, lên tiếng:
- Bớ chủ quán!
- Dạ! - Có tiếng đáp khàn khàn từ trong quán vọng ra.
Khuê Kình nói tiếp:
- Chủ quán cho gia nhân đưa ngựa vào tầu. Nhớ phải lau sạch mồ hôi trước khi cho ngựa ăn uống.
Chủ quán gọi mấy đứa nhỏ đi làm các việc khách sai bảo. Một thoáng sau, ông mới ló ra ngoài đón khách. Ông cúi chào khách rồi dẫn vào một căn buồng phía sau.
Đúng lúc ấy, một toán ăn uống no say, người nào người ấy mặt đỏ phừng phừng, đầu thắt một rẻo khăn tang màu vàng sẫm, kéo nhau ra khỏi quán. Lúc này, vua tôi Thái tôn mới kịp nhận ra, cả ông chủ quán cũng thắt khăn tang. Rồi lại có những người mới vào quán, cũng thắt một kiểu khăn tang như vậy. Trong bụng ai cũng ngờ rằng chủ quán đang có đại tang. Nhưng trong nhà không có mùi hương khói. Không thấy tiếng khóc. Vua tôi Thái tôn nhìn nhau, ngầm như muốn hỏi nhau: “Thế nghĩa là làm sao? Có nên nghỉ lại đây không?”
Chủ quán là người tinh đời. Các ánh mắt của khách nhìn nhau ngần ngại, cũng đã lọt vào mắt ông ta. Chủ quán làm như không biết gì, cứ lặng lẽ pha trà. Mùi sen ướp trà, toả hương thơm ngào ngạt, khiến cho vua tôi Thái tôn cánh mũi phập phồng. Suốt đêm đi mệt, nay được chén trà nóng thơm ngon, thật không còn ai muốn ước ao gì hơn.
Chủ quán rót trà ra chiếc chén tống, rồi chuyên ra bốn chén quân. Ông vừa nâng một chén trà, vừa nói:
“Tam nhân đồng hành, tất hữu…1 Ông dừng lại trước Thái tôn và kính cẩn đưa mời.
Tiếp đó ông đưa cả đĩa mời Khuê Kình và Trần Thiêm.
Thấy sự lạ, Thái tôn bèn hỏi:
- Này ông chủ quán. Ba anh em ta cùng đi. Ta là người ít tuổi nhất. Tại sao ông lại đưa mời ta trước. Chả hóa ra ông coi thường bọn ta sao?
- Thưa ông khách trẻ, chủ quán ôn tồn đáp - Đúng ông là người ít tuổi nhất trong số ba ông, nhưng ông lại là người chủ sự. Ông bé, nhưng bé hạt tiêu đấy ạ.
Cả ba vị khách cùng cất tiếng cười vui. Rồi Khuê Kình lên tiếng:
- Đúng thế! Ông chủ quán tinh thật. Với chúng tôi, ông ấy là anh, con ông bác.
Chủ quán bèn vuốt râu. Ông lão có chòm râu dài rậm với khuôn mặt hồng hào, trán cao, mắt sáng, nom có vẻ là một người trượng phu lắm. Chủ quán lại nói:
- Xin ba ông hiểu cho. Tôi làm nghề bán quán. Nếu không phân biệt được người sang kẻ hèn, người ngay kẻ gian thì làm sao mà sống được ở cái đất nghịch này. Nói ba ông bỏ lỗi, ngay cả đến đức vua có cải dạng vi hành qua đây cũng không che được mắt tôi. Vừa nói ông ta vừa chú mục nhìn vào Trần Cảnh.
Ba ông khách lại nhìn nhau mỉm cười. Trà được ba tuần, ai nấy mới thấy bụng mình réo sôi ùng ục. Cùng lúc, mùi thơm xào nấu từ bếp bay lên, khiến mọi người cánh mũi đều nở ra. Trần Thiêm bèn hỏi:
- Ông chủ quán đã có gì cho khách ăn chưa đấy?
Đáp:
- Xin thư cho một chút, chúng tôi sẽ dâng thức ăn vừa ý các ngài.
Mấy đứa nhỏ soạn mâm bát. Chủ quán bê ra một vò rượu thuốc. Ông vừa mở nắp vò, mùi thơm xộc ngay vào mũi khách. Chủ quán rót rượu ra bốn chiếc bát chiết yêu. Ông bê mời từng người, bắt đầu từ Thái tôn, Khuê Kình, Trần Thiêm, và ông tự dành cho mình một bát. Đứng hẳn ra một góc nhà, ông nói:
- Xin được phép mời ba vị khách quý. Trước xin các vị cùng gia chủ tôi, chúc cho linh hồn một lão bà ở thôn chúng tôi đây, mới qua đời. Cụ hưởng phúc trần gian đúng một trăm năm.
Chủ quán nói tới đây, thầy trò Thái tôn đưa mắt nhìn nhau, như đã hiểu vì sao mọi người đều chít khăn tang. Chủ quán lại nói:
- Gia chủ tôi cũng có lời chúc mừng, cuộc vi hành của đức ông đây được mạn nguyện. Nói xong, chủ quán cúi rạp trước Thái tôn.
Thái tôn đưa mắt cho Khuê Kình, Trần Thiêm, nhà vua lên tiếng:
- Cám ơn ông chủ quán hiếu khách. Anh em chúng tôi xin chúc cho linh hồn lão bà siêu thoát. Chúc cho ngôi nhà của ông lúc nào cũng đông khách. Xin nói để ông chủ quán biết, anh em chúng tôi chỉ là thường dân thôi, chớ có cao sang vọng tộc gì mà ông gọi tôi là “đức ông”.
Trần Thiêm:
- Xin cho hỏi thêm. Lão bà được dân làng quí trọng hay lắm con nhiều cháu, mà tôi thấy người người đều để tang.
Chủ quán vuốt râu cười ha hả:
- Trong hai điều quý ông hỏi, đều có cả. Số là như thế này. Cách đây năm mươi năm. Nhân có một bà goá năm mươi tuổi, nuôi ba đứa con côi. Chẳng may bà bị ốm liệt giường. Người con cả phụng dưỡng lâu ngày không chịu nổi. Bèn bỏ mặc không thuốc thang săn sóc gì cả. Bà lão chửi mắng thậm tệ. Ông ta bèn cãi lại nặng lời. Rồi làm một túp lều ngay cạnh cánh rừng phía chân núi kia kìa. Chủ quán chỉ về ngọn núi trước mặt. Xong ông ta khiêng bà mẹ, đặt lên chiếc chõng trong túp lều ấy. Dân chúng biết được, đem trình xã trưởng. Xã trưởng bắt người con cả phải đưa mẹ về phụng dưỡng, rồi sửa lễ tạ trời đất, thần linh, xin lỗi với dân làng. Vì anh ta đã chà đạp lên đạo lý xã hội, nêu gương xấu trong làng. Người con cả không chịu. Làng đuổi đi. Dân làng tình nguyện sẽ thay người con nuôi bà cho đến mãn cuộc đời. Lúc bà chết, làng sẽ làm ma lớn cho bà, cả làng sẽ để tang bà, cúng giỗ bà. Đúng như vậy, năm mươi năm qua làng tôi đã để ra năm sào ruộng. Chia ra mỗi nhà cấy một sào luân chuyển nhau, nhưng phải chăm bón cho thật tốt. Được bao nhiêu thóc đem đến tận nhà cho bà chi dùng quanh năm. Những người con thứ không phải nuôi bà. Người con cả vài năm sau hối hận quay về, nhưng dân làng không tha thứ. Từ đấy, biệt vô âm tín, không biết ông ta lưu lạc phương nào. Ngừng một lát, chủ quán lại tiếp - Mất một người, nhưng làng tôi gìn giữ được thuần phong mỹ tục. Suốt năm chục năm qua, trong làng tôi không hề có chuyện con cháu dám cãi lại ông bà, cha mẹ, hoặc lơ là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.
Nghe xong, Thái tôn ngậm ngùi bảo Trần Thiêm đưa cho hai nén vàng. Nhà vua gọi chủ quán đến, nói:
- Anh em chúng tôi nhân qua đây, được nghe kể câu chuyện về làng ông, thật là cảm kích. Để tỏ lòng hiếu kính một mỹ tục mà dân làng đã cố công gìn giữ. Chúng tôi xin góp hai nén vàng, nhờ ông chuyển cho ông xã trưởng, nói rằng đây là lễ viếng của khách qua đường. Xin dân làng cầu siêu cho lão bà trong kỳ bách nhật.
( Sau khi trở lại nắm quyền bính trong triều, Thái tôn có nhớ lại việc này và truy phong cho lão bà hai chữ: “Tiết hạnh”. Ban cho cả làng đó một cái tên gọi là “Hiếu Thôn”, và bốn chữ “Thiện tục khả phúng”2. Nhà vua cũng cho làng này trích ra năm mẫu công điền gọi là “Hiếu điền”, dùng vào việc nuôi nấng những người già cả không nơi nương tựa ).
Cầm hai nén vàng trong tay, chủ quán lặng người đi vì cảm kích tấm lòng hiếu thiện của khách.
Cơm nước xong xuôi, vua tôi lại lên đường. Mặc dù Trần Thiêm nài ép, chủ quán nhất định không chịu nhận một đồng một chữ nào tiền cơm, rượu phục dịch.
Ra đường, vua tôi bàn mãi chuyện vừa xảy ra ở trong quán. Nhà vua nói:
- Ta chưa từng được nghe, chứ chưa nói được thấy ở đâu đó lại có được một phong tục đẹp đến thế. Ngay cả đời Nghiêu - Thuấn cũng không thấy nói đến. Ta nghĩ, nội trong làng đó phải có người hiền mới gây nổi phong tục đẹp. Lát sau nhà vua lại nói thêm:
- Chuyện xẩy ra ở làng này, vào cuối đời Lý Anh tông. Chao ôi, nhà Lý đã tạo ra không biết cơ man nào là cốt cách sâu xa, đẹp đẽ cho nền văn hiến nước nhà.
Mọi người vui câu chuyện, chả mấy chốc đã tới bến đò Đại Than. Bầu trời chói sáng. Mặt trời đã lên cao quá ngọn tre.
Cái nắng đầu hạ tuy chưa nồng, nhưng cũng đủ làm cho khách đường xa phải vã mồ hôi. Mượn cớ trời nắng, và cũng để cho khách qua đường khỏi chú mục vào mình, khi xuống đò, nhà vua lấy vạt áo che đầu, trùm gần kín hết khuôn mặt. Từ đây, đường bằng phẳng rộng rãi, nhiều người qua lại, nhà vua liền bảo Khuê Kình:
- Ta muốn đi xuyên rừng, để tránh tai mắt lính viễn thám của triều đình.
Thân vệ tướng quân dừng lại xem xét địa thế. Trời trong vắt. Nhìn lên Yên Tử rõ mồn một. Lút một màu xanh. Chỉ trên chóp đỉnh có một ít mây mù. Khuê Kình rẽ cương ngựa ngoắt sang phía bìa rừng. Vua tôi vạch lá tìm đường, trèo non lội suối thật là cực nhọc. Mãi khi mặt trời gác núi, vẫn còn quanh quẩn trong chốn rừng sâu. May thay ở đâu đó có tiếng chuông chùa vang vọng. Lần theo tiếng chuông, thầy trò tìm được đến chùa. Hỏi ra mới biết đây là chùa Giác Hạnh. Trụ trì ngôi chùa này là thuyền sư Giác Hải. Vua tôi tới chùa giữa lúc thuyền sư đang tụng niệm. May được mấy người nhà chùa sửa soạn cho bữa cơm chay. Đi đường mỏi mệt, lại được cảnh chùa thanh tĩnh, u trầm, mọi người ăn uống thật là ngon miệng.
Trong khi uống nước chờ đợi để được tiếp kiến thuyền sư, Trần Thiêm liền hỏi Thái tôn:
- Tâu bệ hạ.
Thái tôn bèn “suỵt”:
- Ta đã bảo gọi ta là “anh Hai”.
Trần Thiêm lại nói:
- Tâu “anh Hai”.
Cả ba vừa chợt hiểu, cùng cười khúc khích. Sợ tiếng cười loang ra, ai nấy bưng miệng mà cười. Khi tiếng cười đã im bặt, chỉ còn tiếng mõ, tiếng chuông đều đều từ phía chùa trên vọng lại, Trần Thiêm khẽ hỏi:
- Hôm qua Người nói: “Lên Yên Tử tìm đường giải thoát”. Nếu vậy thì “bệ hạ” (lại bệ hạ) chỉ giải thoát được bản thân thôi. Còn hàng triệu con dân trong nước, ai giải thoát cho họ?. Đúng như anh Khuê Kình nói: “Bậc quân trưởng không thể chỉ làm theo ý thích riêng mình mà bỏ mặc muôn dân”. Đêm nay thư thả xin bệ hạ nghĩ lại.
Thái tôn nhìn quanh quẩn trong ngôi nhà phương trượng, thấy không có gì đáng nghi ngại liền nói:
- Ta biết, việc giải thoát không phải chỉ lên Yên Tử mới làm được. Phàm con người nếu đã biết minh tâm, kiến tính thì ở đâu cũng có thể tự giải thoát được mình. Giải thoát, nghĩa là mình phải thoát được ra khỏi nanh vuốt của những tên giặc vô hình, nó ẩn náu trong nơi sâu kín nhất của con người mình, đó là dục vọng.
Dừng lại giây lát, nhà vua nói:
- Ta chưa làm được gì đáng kể cho đám lê dân, mà lẽ ra phải làm nhiều hơn thế. Nhưng các khanh thử nghĩ xem, ở lại Thăng Long, ta sẽ làm được gì? Ta đi, là cốt để không vướng vào vòng tội lỗi mà thái sư áp đặt. Việc xảy ra ở kinh thành bấy lâu nay, chắc các ngươi đều biết cả? Ta không muốn dân nước nhìn ta như nhìn một kẻ vô luân. Thái tôn buồn bã thở dài. Một lát lâu sau, nhà vua mới lại nói:
- Qua đám tang sáng nay, ta thấy hổ thẹn biết chừng nào.
Trần Khuê Kình vội an ủi:
- Bệ hạ suy xét sâu xa quá, rồi cứ vận vào mình để chuốc lấy sự phiền não làm gì.
- Chuyện đời đâu phải thế, Khuê Kình cứ ngẫm mà xem. Một đứa võ phu trót lỡ lầm ruồng rẫy người đã sinh hạ ra nó. Dân làng đuổi đi. Nhưng cả làng lại nuôi dưỡng lão bà như nuôi dưỡng mẹ mình suốt năm chục năm trời. Chỉ qua một việc đó, dân làng đã biến cải được phong tục. Kẻ bất hiếu, bất mục kia, nếu không có người ngăn lại, tấm gương xấu đó chỉ được treo ở trong nhà nó. Bất quá, trong làng có kẻ nọ, kẻ kia nhiễm cái thói ô trọc của nó mà thôi. Chớ một vị quốc vương mà làm điều xấu, ta không biết sự thể rồi sẽ dẫn tới đâu. Các ngươi khuyên ta trở về, là việc của các ngươi. Ta ra đi là việc của ta. Bởi ta không muốn trở thành một hoàng đế vô sỉ đầu tiên của Đại Việt. Mong các ngươi thấu hiểu cho ta.
Chợt tiếng mõ, tiếng chuông trên chùa im bặt, rồi có tiếng chân người bước về phía nhà phương trượng. Thuyền sư ló vào:
- A di đà Phật. Các vị khách ở đâu ghé cửa Tam bảo?
- A di đà Phật! Bạch thuyền sư, chúng tôi nhỡ độ đường, xin vào nương cửa Tam bảo qua đêm. Trần Thiêm lễ phép nói.
Thuyền sư hỏi:
- Có phải các tráng sĩ đi tìm thầy học võ hay đi tỉ thí ở đâu về qua đây?
- Bạch thuyền sư, Khuê Kình nói - chúng tôi quê tại vùng An Bang. Ông anh tôi đây, Khuê Kình chỉ vào Trần Cảnh - đang học tại Quốc học viện trên Thăng Long. Chẳng may bác gái tôi bị bệnh nặng, khó qua khỏi. Anh em chúng tôi vội lên kinh đón anh ấy về. Đường xa, lại không quen thung thổ, nên càng khó đi. Thành thử trời ập tối lúc nào cũng không hay. May quá, nếu không có tiếng chuông chùa ở đây, thì anh em chúng tôi khó mà ra được khỏi rừng. Chúng tôi cứ men theo tiếng chuông mà đi. Cứ như là có người dẫn lối chỉ đường. Ơn nhờ Phật tổ, anh em chúng tôi đã tới được chùa.
Nhà sư nhìn mãi người nói là đang theo học ở Quốc học viện. Đúng là một người tao nhã. Nhưng không phải chỉ là một nho sinh. Cứ như con mắt của thuyền sư thì người này có phong độ thánh thần, uy nghi như một vị hoàng đế. Nhẩm tính tuổi Trần Cảnh từ dạo lên ngôi, có dễ cũng ngang với tuổi tráng sĩ này. Tuy vậy, thuyền sư lại gạt đi ngay. Vì không có lẽ nào nhà vua lại ra đi mạo hiểm như thế. Dù có đi vi hành, cũng chỉ vào lúc ban ngày, ở đâu đó quanh kinh thành. Đã lâu, Giác Hải thuyền sư không về Thăng Long, nên cũng không am tường các việc đã xảy ra ở đế đô, nên chẳng có gì làm thuyền sư phải nghi hoặc. Song thuyền sư nghĩ tới một điều khác. Chậm rãi, Giác Hải thuyền sư bèn hỏi:
- A di đà Phật, xin các tráng sĩ cho bần tăng rõ một việc, không phải kẻ tu hành này tò mò mà chuyện cả nước đang để tâm tới.
Nghe thuyền sư nói tới đây, cả ba cùng giật mình. Vì ai cũng nghĩ rằng nhà sư đã biết việc xảy ra mới đây trong điện Thiên An. Thái tôn vội lên tiếng:
- Bạch thuyền sư, chẳng hay có điều gì cả nước đang để tâm tới mà nhà chùa muốn hỏi. Nếu bọn tiểu sinh được biết, thật không dám giấu giếm.
- A di đà Phật! - Giác Hải thuyền sư chậm rãi nói. - Bần tăng cứ mạo muội cho rằng các tráng sĩ là người của triều đình, vừa đi viễn thám vùng biên ải về. Bần tăng chỉ muốn biết hiện tình người Tống, người Thát như thế nào. Ta lo phòng bị giữ nhà ra sao, liệu có chắc không?
Nhà vua lấy làm cảm kích, ngay đến kẻ đã xuất gia vẫn còn quan tâm đến vận nước. Hoàng thượng đã toan phủ phục trước cửa Tam bảo, trước vị đại thuyền sư đây mà sám hối, vì đã để xảy ra các việc lộn xộn trong hoàng gia. Ngay cả việc tự ý bỏ triều đình ra đi, nhà vua cũng tự thấy: “tình thì thuận, mà lý thật chẳng thông”. Nhà vua nén giấu một tiếng thở dài và tự nhủ: “cách xử thế của ta, vẫn còn điều gì xem như là bất ổn”. Chợt nhớ vẫn chưa trả lời cho thuyền sư, nhà vua liền đáp:
- Bạch thuyền sư, theo như chỗ bọn tiểu sinh được biết, hiện thời người Tống suy yếu lắm. Cái chính vẫn là lòng dân Trung Hoa nản quá rồi. Bởi từ khi triều đình chuyển về phương nam, họ khuấy lên cả một trào lưu hưởng lạc bằng đủ các thứ nghệ thuật. Từ triết lý, thi văn, hội hoạ, đồ gốm, sứ, đến các thú tiêu dao sơn thuỷ và các thứ sa đọa khác, mà bỏ mặc đất nước cứ rơi dần vào tay bọn Thát – đát tàn bạo.
- A di đà Phật! Vậy là thiên triều có nguy cơ bị diệt vong? - Thuyền sư hỏi.
- Bạch thuyền sư, cái cớ bị diệt vong của nhà Tống đã sờ sờ ra đó. Có điều là nước Trung Hoa văn hiến vào bậc nhất thiên hạ này, hẳn không thể nào mất được. Vả lại người dân Trung Hoa dễ gì quỳ gối trước ngoại bang. Suy như dân Đại Việt ta thì đủ rõ.
Nghe khách dẫn dụ, nhà sư gật gù tán thưởng.
Giác Hải thuyền sư lại hỏi:
- Cứ như ý các tráng sĩ, họa nhà Tống không đáng ngại. Nhưng họa Thát-đát thì sao? Liệu mình có giữ nổi nhà không?
Thấy lão hoà thượng cứ chú mục mãi vào bọn xâm lăng, không kìm lòng được, thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình bèn lên tiếng:
- Bạch hòa thượng. Nước là của dân. Nếu dân quyết giữ thì không giặc nào vào được. Hoà thượng thử nghĩ xem, dăm ba đạo quân với vài chục viên tướng của triều đình, thử hỏi cầm chân giặc dữ được mấy nả? Hòa thượng ở sát nơi thôn ấp, cứ nghe lòng dân thì đoán ra vận nước. Nhân đây xin hoà thượng chỉ cho bọn tiểu sinh được biết. Nhà Trần mở nghiệp, kể đã ngoại mười năm, chẳng biết lòng dân đã hướng về chưa, hay vẫn còn nhớ vua cũ.
Thấy tráng sĩ ăn nói gẫy gọn, rõ ra con nhà võ, mà lại có cốt cách của đám nho sinh. Giác Hải thuyền sư đem lòng yêu mến cả ba người. Nhà sư bèn nói:
- Tráng sĩ quả là người thông tuệ. Đúng như tráng sĩ nói: “Cứ xem lòng dân thì đoán ra vận nước”. Bần tăng xin nói thêm một điều người xưa đã nói: “Vua lấy dân làm trời. Dân lấy miếng ăn làm trời”. Dăm bảy năm nay, bần tăng đi lại nơi thôn âùp, không thấy cảnh ăn mày ăn xin. Cũng chẳng làm gì có người chết đói, chết rét nơi đầu đường xó chợ. Vậy là dân đã tìm thấy Trời của họ rồi. Ai tìm giúp họ? Nhà Trần. Chính nhà Trần mở nghiệp bằng cách dẹp yên nội loạn. Khuyến nông. Tha bớt tô thuế. Giảm nhẹ lao dịch. Lại lo việc đắp đêâ chống lụt, giữ nước từ đầu nguồn tới biển, ấy là việc khiến người dân không thể không nhớ đến, không thể không biết ơn triều đình. Vậy thời người ta còn hoài hơi đâu mà nghĩ về cái thời đói khổ, loạn lạc làm gì. Nhưng bần tăng lại nghĩ, thời nào người dân chẳng phải làm đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm được miếng ăn. Sự cực nhọc, người dân đâu có sợ. Họ sợ nhất là đã cực nhọc rồi, lại còn không có gì để ăn nữa. Đến nước ấy, dẫu vua chứ trời họ cũng quật đổ. Lại xét cho cùng, việc tha bớt tô thuế cho dân, triều đình có mất gì. Ngay cả việc thu tô thuế ở mức vừa phải, người dân còn chấp nhận được. Nhà nước cũng vì đó mà giàu thêm. Nhưng nếu quá mức, tức là sự cướp bóc đê mạt. Do đó người dân chán nản không muốn làm ăn nữa. Nhà nước lấy gì mà thu? Các bậc chăn dân phải biết: Của cải không nằm trong kho nhà nước, thì nằm trong các nhà dân. Dân giàu nước mạnh, nước mạnh, đi đâu mà thiệt. Ngay cả việc đắp đê, là việc to lớn chưa từng thấy trong lịch sử khuyến nông của Đại Việt, thì cũng người dân nai lưng ra làm, chứ triều đình nào làm, vua chúa nào làm? Có dễ chú cháu ông Trần Thủ Độ đi đắp đê chắc? Thuyền sư có vẻ đắc ý, ông cười ha hả. Lại hỏi:
- Bần tăng nói thế có đúng không, các tráng sĩ? Suy cho cùng vẫn là chính sách. Chính sách của triều đình thương dân thì dân tin; miệt dân thì dân ghét. Hiện thời theo thiển ý của bần tăng, không có một kẻ ngu khờ nào lại còn hướng về cái ông vua điên của nhà Lý, đã biến cả dân tộc thành một đám ma đói, một lũ ăn mày!
Cuộc đàm đạo giữa chủ khách đang say thì nghe thấy ba tiếng chuông, ấy là chú tiểu nhắc hòa thượng đã đến buổi tọa thiền. Nhà sư đi rồi, vua tôi lăn ra ngủ để sớm hôm sau có sức tiếp tục cuộc hành trình.
Chú thích:
1. Lời nói của Mạnh Tử: Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên. Nghĩa là: ba người cùng đi, tất có một người có thể làm thầy ta.
2. Thiên tục khả phúng nghĩa là: tục tốt đáng khen
CHƯƠNG 24
Liền năm chinh chiến, đương đầu với biết bao đối thủ hùm sói, Trần Thủ Độ chưa bao giờ thoái chí! Trong cuộc đời ông, cho tới lúc này, chưa kẻ thù nào ông không khuất phục được. Thế mà đến cái việc này, ông bắt đầu ngán. Ông buồn nhất là quan thừa chỉ bỏ đi. Không ngờ sự việc xảy ra lại lớn đến thế. Việc quan thừa chỉ bỏ đi này, cũng giống như việc đức Khổng Tử từ bỏ nước Lỗ1 mà đi. Té ra việc ông làm, lại phạm vào nhân nghĩa. Ông vẫn tưởng đối xử với quan thừa chỉ như vậy, là ông quá độ lượng, nếu không nói là rộng lượng. Hóa ra ông đã nhầm.
Việc trước đây ông không giết quan thừa chỉ là nhân. Vì vậy ông ta đã ở lại với triều đình, đã tận tâm báo đáp. Chỉ riêng việc ông ta tâm phục được Nguyễn Nộn theo về vua mới, tránh cái hoạ nồi da xáo thịt; công ấy lớn lắm, không gì so sánh được.
Quan thừa chỉ bỏ đi có nghĩa là việc ông làm mới đây là bất nhân. Vì bất nhân, nên người hiền mới bỏ đi. “Người hiền bỏ đi!” Đó là điều Trần Thủ Độ lo sợ nhất. Ông đã cho người đi tìm các ngả vẫn không thấy tăm hơi gì. Người nhà cũng không biết quan thừa chỉ đi đâu. Ông lại cho hỏi cả chỗ thị nữ Trịnh Huyền, Huyền cũng không có tin tức gì về quan thừa chỉ.
Trần Thủ Độ buồn đến nẫu ruột. Ông tự thấy hổ thẹn. Đây là việc đầu tiên ông làm trái với lời dạy của Hoàng Tiên Sinh. Ông cảm thấy, như chính ông phản lại người thầy đã chỉ dẫn cho ông, những điều quan yếu nhất trong đạo lý làm người.
Trần Thủ Độ đang băn khoăn day dứt thì Lê Tần bước vào. Nét mặt tướng quân thản nhiên như không. Chẳng biết tướng quân đem đến tin lành hay tin dữ. Vái Trần Thủ Độ xong, Lê Tần nói:
- Trình Thái sư. Hiện thời chưa biết hoàng thượng ở đâu. Dò tìm mãi mới biết, sau khi chia tay đám quan ở nội hầu phía bắc, nhà vua đã cùng với thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình và chi hậu cục Trần Thiêm đi về hướng đông. Nhưng mất hút không tìm thấy dấu vết. Còn Hoài vương Liễu hiện đã về ở trong thái ấp. Nghe nói ông ta cũng đang gấp rút đôn đám dân binh lên làm tinh binh.
Đắn đo giây lâu, Trần Thủ Độ nói:
- Theo ta ước đoán, hoàng thượng lên Yên Tử. Ngay từ nhỏ, nhà vua đã có chí hướng tu Phật. Có nhẽ ngày mai thiết triều, ta phải bố các việc này cho bá quan văn võ cùng thấy. Rồi các quan chọn cử ít người cùng ta lên Yên Tử đón xa giá.
Có một việc ta muốn nhờ tướng quân. Phi tướng quân không ai làm nổi. Tức khi ta đi đón xa giá, thì tướng quân thống lĩnh việc cai quản kinh thành. Lê Tần nhìn vào gương mặt đau khổ của Trần Thủ Độ, hỏi:
- Bẩm… thái sư đi vắng bao lâu?
Ta đi nhanh nhất là năm ngày, chậm nhất là mười ngày sẽ lại có mặt ở Thăng Long.
- Trình thái sư, nếu Hoài vương đem binh vào kinh sư thì làm thế nào?
- Trước hết nó không thể họp binh nhanh như thế được. Nhưng nếu nó họp được binh mà kéo về kinh sư, tức là nó làm giặc. Tướng quân phải ra tay diệt. Ta cầu mong điều đó không bao giờ xảy ra. Nếu tướng quân nhận lời đảm trách việc cai quản kinh thành, ta đi mới thực yên tâm.
- Dạ… bẩm đức ông, nếu trong mười ngày thì tiểu tướng xin nhận… Ngoài mười ngày, tiểu tướng không dám nhận. Xin đức ông xét cho.
- Được. Ta chỉ cần mười ngày thôi. Giã ơn tướng quân. Ngày mai thiết triều, ta sẽ trao binh phù cho tướng quân, để tiện việc sai khiến.
Lại nói đến việc vua tôi Thái tôn từ chùa Giác Hải ra đi từ lúc mờ sáng. Cứ men theo sườn núi, băng rừng, nhưng rồi phải bỏ ngựa để vịn cây chuyền cành mà đi. Lần mò mãi xế chiều mới tới chân núi Yên Tử. Mệt nhọc quá, vua tôi phải nghỉ lại đó, sáng hôm sau mới đi tiếp. Tính ra từ giã Thăng Long từ giờ hợi ngày mồng ba tháng tư, mãi đến giờ thìn ngày mồng sáu mới tới đỉnh núi Yên Tử.
Vua tôi vào chùa xin được gặp vị đại Sa Môn.
Vừa trông thấy Thái tôn. Phù Vân quốc sư đã vội reo lên:
- Lão tăng có lời chào bệ hạ! Lâu quá, lâu quá không có dịp về kinh. Nói xong, quốc sư dắt tay Thái tôn và dẫn cả đoàn vào nhà phương trượng.
Chú tiểu bê ra một cơi trầu, và rót mời mỗi người một bát nước vối.
Thái tôn còn chưa hết bàng hoàng trước cảnh u nhã của núi rừng Yên Tử. Trời vẫn nắng một màu nắng tươi trong. Từ đây phóng tầm mắt có thể bao quát suốt một vùng biển bao la, tận tít tắp phía chân trời. Hoặc nhìn ngược lên, thấy cả vùng ải bắc quanh co. Nhìn xuống chân, hiện lên nào rừng trúc, rừng thông… Những cây thông cao vút, tán xoè như chiếc lọng, đan nhau xếp hàng suốt từ chân lên tới đỉnh núi, như mới mọc, như dẫn lối chỉ đường cho khách hành hương về Yên Tử. Nhà vua nhìn quanh đây đó thấy gió vẫn thổi hiu hiu làm cho các tán rừng lay động. Nhưng lạ thay, nơi nhà vua ngồi quanh ngôi nhà phương trượng là cả một vùng chùa tháp, mây trắng cứ bồng bềnh trôi. Những tảng mây sà xuống thấp rồi vút bay đi. Mây tiếp mây cứ đùn bốc lên, làm cho riêng chóp đỉnh này mang một màu trắng trong cao khiết, khiến nhà vua liên tưởng như mình đang sống trong thế giới của Phật, tiên. Hỏi ra mới biết, đây là ngọn Tử Phong. Có nghĩa là “gió chết”. Bởi vậy nơi đây tuy thật cao mà thoáng, nhưng dường như quang năm lặng gió. Và chỉ có mây. Thuần một thứ mây trắng nổi lên bềnh bồng. Có nhẽ vì thế, nên quốc sư mới lấy hiệu là “Phù Vân”.
Thái tôn vẫn miên viễn phiêu bồng trong thế giới lặng câm suy tưởng giữa tiếng ồn ào thăm hỏi. Một thoáng sau, nhà vua mới sực nhớ ra cảnh ngộ, liền ân cần, niềm nở với quốc sư. Nhà vua nói:
- Bạch quốc sư, đã lâu lắm không thấy quốc sư về triều, trẫm vẫn có lòng luyến nhớ, bèn rủ mấy người thân tín trèo non lội suối đến thăm quốc sư.
- Quí hoá! Quí hoá! Nhà sư cảm động không kém Thái tôn. Đoạn quốc sư hỏi:
- Lão tăng lòng ngay, tâm thẳng, cứ xin hỏi thật. Nhà vua thực tình đến thăm ta hay có việc riêng tư gì Đó? Vì ta thấy, nhà vua đi: từ tuỳ tùng đến áo xiêm mũ miện, đều không hợp lễ đế vương. Còn như nói rằng nhà vua vi hành trong chốn rừng Nho biển Phật, thì thật là không đúng chỗ. Bởi lão tăng đây với nhà vua có lạ gì nhau.
Lời nói thẳng của quốc sư không làm nhà vua phật ý, nhưng quả có làm Thái tôn lúng túng.
Quốc sư lại nói:
- Lão tăng đã lánh trốn bụi trần, không màng tưởng đến cả chức quốc sư mà các triều trước họ Lý đã ban. Lão đã quen cảnh thân khô, tâm lạnh, sương rắn, mặt gầy; quen uống nước suối, chơi cảnh rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi. Lão tự biết các cảnh khoe văn đấu võ trước sau gì cũng bị đào thải, nên lánh mình vào chốn lâm tuyền, ích chi mà phải phơi mặt ra hí trường, nhảy múa ngông cuồng, đánh trống gõ mõ, tựu trung chẳng đi đến một kết cục nào, chỉ làm trò cười cho thiên hạ, mất hết nhân cách một con người. Phần lão tăng đã dứt đi một nhẽ. Còn nhà vua, sao lại tự nhiên đi bỏ cái thế nhân chủ, tìm đến sự quê hèn của núi rừng? Chẳng hay nhà vua muốn kiếm tìm điều chi mới lạ, muốn cầu điều chi cao quý hơn cả ngôi vua mà quá gót tới đây?
Nghe quốc sư hỏi, và cũng là sự dãi bầy tâm huyết của Phù Vân, nhà vua lấy làm cảm động, tự nhiên hai hàng nước mắt cứ ứa ra. Một lát sau nhà vua mới nói được:
- Trẫm lên ngôi báu, từ khi còn là một đứa trẻ chưa ý thức được. Thế rồi hai thân sớm vội bỏ đi. Nhờ có Trần Công2 giúp rập, việc lớn đang hình thành. Nay đã lớn khôn, trẫm ý thức được những điều như Quốc sư đã thấy và sớm lìa bỏ. Thử hỏi, ngôi báu mà làm chi? Quyền bính mà làm chi? Rốt cục cũng chỉ là “vạn pháp qui không”3. Nay trẫm vào núi này chỉ cầu làm Phật, chứ không cầu vinh hiển, hoặc một điều gì khác.
Nhà vua giấu biệt tâm trạng mình, và các sự kiện vừa xảy ra trong hoàng cung. Thành thử quốc sư cũng không hay biết gì về chuyện riêng tư của hoàng thượng. Phù vân tự nghĩ: “Một người dám bỏ ngôi báu mà đi. Giũ quyền thế như vứt bỏ một chiếc áo tơi rách. Việc đó xưa nay ngoại trừ thái tử Tất-đạt-đa4, chưa ai làm được. Quý thay tấm lòng thanh sạch của đức vua”.
Mặc dù vậy, Phù vân vẫn nói lại với nhà vua cho minh bạch:
- Lòng bệ hạ trắng trong chẳng có gì đáng phải ngờ. Song lão tăng cũng phải nói để bệ hạ rõ: “Trong núi vốn không có Phật” Vậy Phật ở đâu? Phật ở ngay trong lòng ta. Nay nhà vua ở ngôi cao mà thuần mưu việc thiện, để cứu vớt muôn dân. Lại giữ cho tâm, thân lúc nào cũng hồn nhiên vô trược, con người luôn luôn thể nhập với vạn vật mà không bị đắm chìm trong cảnh vật, tức là đã giữ cho cái tâm được trong lặng. Giác ngộ được cái tâm ấy, tức thị nhà vua đã liễu ngộ rồi, đã là Phật rồi, hà cớ gì phải đi cầu Phật ở đâu cho phí sức.
Nghe quốc sư nói, Thái tôn thấy như mình đã được giải thoát. Trong mấy ngày nghỉ ngơi, nhà vua thường được quốc sư thù tiếp sau những buổi đèn nhang kinh kệ. Hai người đàm đạo thật là tâm đắc. Thực tình, nhà vua không còn nghĩ gì đến Thăng Long, không nghĩ tới chuyện trở lại với ngai vàng nữa. Nhà vua cũng không để ý đến việc ai sẽ thay mình lên ngôi quân trưởng. Trong khi nhà vua muốn an trụ với cảnh vật Yên Tử thì Trần Khuê Kình, Trần Thiêm lại vô cùng ngao ngán. Thiêm vốn quen cảnh sống nhàn tản trong nội cung còn đỡ, chứ Khuê Kình là một võ tướng quen nghề kiếm, kích, không thôi luyện rèn, mà nay phải ăn không ngồi rỗi, tưởng không kém chuyện bị cầm tù.
May thay tới giờ ngọ ngày mùng chín, thì thấy tiếng người ồn ào lên núi. Một lát sau, Trần Thủ Độ và tả hữu rầm rập kéo vào nhà phương trượng. Nghe tiếng chân rậm rịch, Thái tôn đã đoán ngay điều gì sắp xảy ra. Tâm trạng nhà vua mênh mênh buồn. Cảnh Thăng Long lập tức hiện ra với bộ mặt đau khổ của Chiêu Thánh, với nỗi uất giận của Hoài vương, với lời đồn đại và sự khinh ghét của kẻ sĩ và dân chúng kinh kỳ, khiến nhà vua chán ngán đến rã rời. Trái với nhà vua, Khuê Kình mừng như mở cờ trong bụng. Dù có là chỗ thân tình và nể trọng đức vua, Khuê Kình cũng không thể náu mình ở chốn sơn lâm heo hút này được.
Thái sư dẫn tả hữu vào quì lạy đức vua và ra mắt Quốc sư.
Thủ Độ và các quan ra sức khuyên mời đức vua sớm trở lại triều đình. Nhà vua buồn rầu nói:
- Chí ta đã quyết ở nơi cửa Phật. Xin quốc phụ cùng bá quan chọn lấy người hiền để tôn phù lên ngôi quân trưởng.
Thái sư nói:
- Tôi chắc bệ hạ nhiều lần đi kinh lí, đi vi hành đều thấy lòng dân từ trẻ nhỏ đến các vị long lão5, không một ai không trông đợi ở bệ hạ. Từ các vị cố lão trong triều đến các sĩ thứ trong nước, không ai là không hướng về bệ hạ. Thế mà nhà vua lại bỏ đi để mong thoả cái chí hướng riêng mình thì trăm họ bỏ cho ai, giang sơn rốt cuộc rồi sẽ ra sao?.
Tại sao bệ hạ lại bỏ muôn dân để vào trong núi tu Phật, mà không nghĩ rằng, có vì chúng sinh nên Phật mới trở thành Phật. Vả lại Phật là ở nơi tâm bệ hạ, chứ còn phải cầu tìm ở đâu?
Các quan cũng hết lời khuyên mời. Nhà vua vẫn một mực chối từ.
- Trẫm còn trẻ dại, không xứng ở ngôi để làm nhục xã tắc.
Thái sư cũng tỏ ra quyết liệt, ông nói:
- Nếu bệ hạ đã quyết ở lại đây, thì hạ thần xin đoan quyết rằng - Xa giá ở đâu, triều đình ở đấy. Nói rồi ông xăm xăm cùng tả hữu đi chọn các nơi trong núi: chỗ này xây điện Thiên An, chỗ này xây các Đoan Minh, chỗ kia là Tiện Điện… rồi sai người gấp gáp xây dựng.
Quốc sư thấy vua tôi căng thẳng bèn nói:
- Xin bệ hạ gấp trở lại kinh sư, chớ nấn ná ở đây làm hại đến cảnh núi rừng của lão tăng.
Thái tôn gượng phải vâng lời quốc sư. Trước lúc chia tay, Phù Vân quốc sư nắm lấy tay nhà vua nói:
- Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nếu bệ hạ thực lòng hiếu Phật, thì không gì bằng lo cho hạnh phúc của bách tính, giảm nhẹ hình án, chăm lo cây đức của mọi nhà mãi mãi sum xuê. Và nữa, sự tìm hiểu về nội điển, xin bệ hạ chớ nguôi quên.
Kể từ bữa ra đi tới ngày đón được xa giá về tới kinh sư, Trần Thủ Độ và tả hữu đã đi về mất đúng bảy ngày đêm.
Quan thái sư vừa về tới nhà, chưa kịp cởi khăn áo, Lê Tần đã có thư cấp báo:
“… Hoài vương Liễu họp một vạn quân ở phía ngoài sông Cái từ giờ tuất đêm qua. Tiểu tướng đã cho chẹn các ngã. Đánh hay giữ, xin chờ lệnh thái sư”.
Chú thích:
1. Khổng Tử làm tướng quốc nước Lỗ. Nước Lỗ mạnh, Tề sợ Lỗ mạnh sẽ chinh phục mình, bèn chọn gái đẹp dâng vua Lỗ. Mỹ nhân múa hát, Lỗ Định Công xem cả ngày không chán.
Tử Lộ bảo Khổng Tử: “Thầy nên đi thôi”, Khổng Tử nói: “Vua Lỗ sắp làm lễ tế giao, nếu nhà vua đem thịt tế đến cho các quan đại phu thì ta còn có thể ở lại”. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Khổng Tử bỏ nước Lỗ mà đi.
2. Trần Thủ Độ.
3. Nghĩa là vạn sự, vạn vật đều trở về với hư không - chữ của nhà phật.
4. Tức Phật Thích-ca.
5. Theo qui chế nhà Trần, con trai 18 tuổi gọi là “Hoàng nam”. 20 tuổi gọi là “Đại hoàng nam”. Người già trên 60 tuổi gọi “Long lão” trên 70 tuổi, gọi là “Đại long lão”.
CHƯƠNG 25
Phu nhân dọn một tiệc rượu tẩy trần, nhưng thái sư không cho mời ai. Đức ông đang để tâm đến việc dẹp cho êm Trần Liễu mà không kinh động đến thiên hạ.
Rượu được vài tuần, phu nhân mới lựa lời hỏi:
- Vậy là ông đoán đúng hướng đi của nhà vua. Chả trách người ta bảo ông xét công việc như thần.
Trần Thủ Độ vẫn lặng yên suy nghĩ.
Phu nhân lại hỏi:
- Quan ông tới đó hoàng thượng có chịu về ngay không?
“Hừm” một tiếng, Trần Thủ Độ nói:
- Không định về. Nhà vua muốn ở lại Yên Tử để làm Phật. Thái sư bật cười khách khách. Điệu cười tỉnh táo nghe như có cái hồn ma quái. Dứt tiếng cười, ông lại nói: - Bọn nhãi ranh thời nay có cái bệnh thích đi vào cõi bất tử!
Nhìn phu nhân với vẻ cảm thông, Trần Thủ Độ nói như là khuyên nhủ:
- Nhà vua đã trở lại điện Thiên An rồi. Mọi việc đâu lại vào đấy như cũ. Bà xem lựa lời an ủi nhà vua. Dù là vua, nhưng nó vẫn thích được an ủi. Mẹ nó mất sớm. Nó khao khát tình mẫu tử. Bà khéo chiều con, việc trong nhà nên làm thế nào bà cứ làm, để tôi còn rảnh tay lo việ bên ngoài. Con Thuận Thiên thế nào? Vẫn ở bên ấy chờ hoàng thượng, hay lại bỏ về bên này rồi?
Phu nhân nhìn chồng với vẻ biết ơn. Bà nói:
- Tôi đã hai ba lần đến tìm con Chiêu Thánh, nó đều lánh mặt không gặp. Tội nghiệp, tôi thương con bé quá.
- Ơ hay, tôi đã bảo cứ để cho nó ở tạm đấy. Gần nơi thờ phụng cha nó, nó yên được cái tâm. Với nó lúc này không xẵng được. Phải lựa để cho nó hồi cái tâm lại, không thì con bé điên mất. Nó giận bà lắm đấy. Nó cũng căm ghét cả tôi nữa. Thôi đừng chấp với trẻ nhỏ làm gì. À, nhưng tôi muốn hỏi bà về con Thuận Thiên kia mà.
- Vâng, con Thuận Thiên thì nói làm gì. Chịu rồi. Cũng hai ba lần cô ấy bỏ về bên này khóc lóc. Tôi giảng giải, nó đã nghe ra. Nó là một đứa con có hiếu. Mấy lại hồi ta ép nó phải lấy lẽ Phụng càn vương1 nó cứ ca cẩm mãi. Bây giờ ông biết nó lo cái gì không. Nó lo đức vua ghét bỏ ruồng rẫy nó.
- Ôi thôi, cái phần ấy thuộc về mẹ con bà. Trần Thủ Độ có ý không muốn nghe tiếp câu chuyện nữa.
Ngay đêm ấy, thái sư sai người đem hỏa lệnh tới châu Hồng, và vùng Bắc Giang thượng hạ, điều quân các lộ, chẹn đường rút của Trần Liễu ở phía bắc, phía đông.
Lại sai quân ở lộ Trường Yên chẹn phía Nam. Trần Thủ Độ quyết khóa chặt đội quân của Trần Liễu, không cho tiến lui nửa bước. Ông cũng định phen này phải lột da Trần Liễu, để cho thằng cháu bất trị này biết tay ông.
Điều quân các ngả về vây chặt quân Trần Liễu xong đâu đấy, Trần Thủ Độ cho vời Lê Tần vào trong trướng, ông nói:
- Ta có lời khen ngợi tướng quân. Đất nước sẽ còn phải trông cậy ở những người như tướng quân nhiều lắm.
- Bẩm đức ông, tiểu tướng còn ít am tường về binh pháp.
- Cứ làm rồi khắc biết. Tướng quân còn trẻ, nếu có chí lo gì việc không thông hiểu. Nhưng thiếu gì kẻ lầu thông binh pháp, nghe họ nói về kế sách cướp lương, đánh thành, diệt viện, dụng gián, phản gián dễ như trở bàn tay. Tưởng như phải liệt xếp họ vào hàng những danh tướng cổ kim. Ấy vậy mà cứ hễ cầm quân ra trận là thua, vì không bao giờ lừa được địch, dù chỉ là một mẹo nhỏ.
- Bẩm đức ông, Lê Tần hỏi – Bí quyết của nghề làm tướng là ở chỗ nào?
Trần Thủ Độ cười khẩy:
- Tướng quân thừa biết. Làm gì có bí quyết. Người ta đã viết sách dạy đến từng việc nhỏ nhất của người cầm quân. Vậy mà tướng giỏi qua các đời, còn thưa vắng lắm; tướng quân có biết vì sao không? Là vì người làm tướng mà chỉ có dũng không thôi, là tướng ngu, hùng hục như trâu thúc đầu vào đá. Người làm tướng lại chỉ có trí không thôi là tướng hèn, suốt đời ba hoa cái lỗ miệng, chứ chẳng dám làm một việc gì. Loại đó, binh sĩ thường tôn làm bậc tướng đánh giặc mồm.
Bẩm thái sư, nếu có cả trí và dũng thì đã đủ chưa? Lê Tần mạnh dạn hỏi lại.
- Chưa đủ. Trần Thủ Độ khoan thai nói – Có cả trí và dũng mới chỉ đảm bảo cho viên tướng ấy không thua, chứ khó thắng, đại sự khó thành. Vì sao vậy? Là bởi nếu chỉ có trí và dũng thôi, người làm tướng dễ khắc bạc. Mà khắc bạc thì không được lòng binh sĩ. Đã không được lòng binh sĩ thì sao họ có thể tận tâm, có thể xả thân cho nghĩa lớn. Thành thử, một tướng giỏi phải hội đủ ba điều: nhân - trí - dũng. Trong đó nhân là điều quan yếu nhất.
Lê Tần định liều hỏi thêm một điều nữa cho rõ nhưng lại ngần ngại. Đoán biết ý Lê Tần, thái sư nói:
- Nếu có điều gì băn khoăn, tướng quân cứ hỏi. Ta không bao giờ để tâm đến những lời nói thẳng.
Được cổ vũ, Lê Tần định liều hỏi thêm một điều gì nữa cho rõ nhưng lại ngần ngại. Đoán biết ý Lê Tần, thái sư nói:
Nếu còn điều gì băn khoăn, tướng quân cứ hỏi. Ta không bao giờ để tâm đến những lời nói thẳng.
Được cổ vũ, Lê Tần mạnh dạn:
- Bẩm ….như đức ông đã gọi là đủ cả nhân - trí - dũng chưa?
Chưa. Thái sư cười vui. Ta chưa đủ. Trí và dũng ở ta còn tạm được. Chứ nhân, ta còn thiếu. Còn phải tu chính nhiều lắm mới đạt tới cõi nhân.
Lê Tần buông một tiếng thở dài:
- Khó thật! Nghề làm tướng thật là khó.
Chợt nhớ mục đích của mình tới gặp thái sư là để hỏi cho rõ đối sách với Hoài vương Liễu, Lê Tần bèn thưa:
- Bẩm đức ông, tới lúc này chắc Hoài Vương tự biết không đủ lực chống lại triều đình, sao đức ông không nới rộng vòng vây để Vương rút cho êm thuận?
Trần Thủ Độ cau vầng trán, khiến cho cặp lông mi xếch hẳn lên, mặt đỏ phừng phừng, ông dằn giọng nói:
- Các việc xảy ra trong điện Thiên An chắc tướng quân đã rõ. Việc ấy ta có lỗi. Đó là việc trong nhà. Nếu không thuận, Liễu cự lại ta. Đằng này Liễu bậy, biến việc nhà thành việc nước. Dẫu quốc vương cũng không được phép làm thế. Liễu đem quân áp sát kinh sư, là Liễu chống lại triều đình chớ đâu phải chống lại riêng ta. Thành thử, ta là tướng của triều đình, ta phải dẹp. Không. Không thể cho qua việc này được. Nếu dung túng như vậy, thì đâu còn là phép nước nữa.
Lê Tần thấy thái sư đang giận Hoài vương đến sôi máu, trong lòng cũng muốn giàn xếp việc này cho Trần Liễu nhẹ tội. Tần nói:
- Bẩm thái sư, cũng có phần là do triều đình cho các vương hầu được lập binh riêng… Lê tần không dám nói hết ý.
- Vậy thì tội của nó càng nặng. Nhà nước cho lập binh riêng là để các nhà quản lý, vừa làm ruộng vừa tập luyện cho tiện. Bớt phần đóng góp của dân. Dân càng sốt sắng cả việc nông lẫn việc binh. Khuyến khích như vậy, là phòng nước có hoạ xâm lăng, thì dùng đến. Chớ đâu phải cho các vương hầu lập thân binh, dân binh để làm loạn. Xin thề với tướng quân, nếu ta không lột da Hoài vương Liễu chuyến này để làm gương cho kẻ khác, thời ta sẽ ném bộ hình luật san định năm Canh dần (1230) vào lửa.
Cảnh ngộ của Hoài vương Liễu lúc này thật bi thảm. Gần một vạn quân ô hợp nằm chết dí ở ngoài sông Cái. Tiến lên nửa bước không được, lùi một bước cũng không xong. Đã hơn một tuần qua đi, tình trạng cứ mỗi ngày một xấu thêm. Nhất là lương thực cho binh linh. Cứ thế này kéo dài thêm một tuần nữa, binh lính đến chết đói mất. Nếu không, cũng phải giết thịt lẫn nhau mà ăn.
Hoài vương là một người thiển cận. Nghĩ gì lập tức làm ngay mà không xét đến hậu quả. Liễu thấy nhà vua bỏ kinh sư ra đi. Lại thái sư thống quốc cũng đi nốt. Tưởng đâu việc phòng bị sẽ sơ hở. Chỉ cần đem một đội binh nhỏ, là chiếm ngay được khu nội điện. Và tự lập làm vua. Ngôi quân trưởng trả về dòng đích. Thế là hợp lẽ.

Nhưng không ngờ, việc ra khỏi kinh thành của thái sư lại là một cái bẫy. Tả hữu đang cùng Hoài vương tính kế thoát thân. Liễu cũng tự biết, nếu ông chú đã ra tay, tức là sấm sét giáng xuống. Tới lúc này, không còn có thể nói chuyện gì với ông ta được nữa. Chỉ có hai con đường: một là quyết sống mái một trận, muốn ra sao thì ra. Hai là, tự trói mình ra hàng. Cân nhắc mãi, Liễu thấy cả hai đường dẫn tới chỗ chết. Nhất định ông chú sẽ không tha, không cho hàng.
Viên tì tướng hiến kế:
- Người duy nhất có thể cứu được chúa công lúc này là nhà vua. Tại sao chúa công lại không cầu cứu đức vua. Nhà vua là một người khoan hậu, nỡ nào lại đi giết anh em trong nhà.
Trần Liễu “à” lên một tiếng như người ngủ mê vừa sực tỉnh. Chợt lại thấy khó, Liễu nói:
- Bốn mặt quân triều đình bủa vây không còn một khe hở. Có mọc cánh cũng chưa dễ gì bay đi được. Mà dẫu có thoát, chưa chắc đã lọt được vào điện Thiên An.
Viên tì tướng lại nói:
- Tôi có một kế có thể dùng được. Xin chúa công thử xét.
- Người nói mau ta nghe.
- Trong quân tôi có một tên vốn làm nghề chài lưới, lặn cực giỏi. Y có thể ở lâu dưới nước tới nửa ngày. Nhà nó ở ngay phường Yên Hoa, giáp với hoàng thành. Nó lại có ông bác ruột làm chân giám mã cho nhà vua. Tôi nghĩ, chúa công nên có một bức biểu cho đức vua. Tôi sẽ sai nó, nội trong đêm nay phải ngầm đi dưới nước, lọt được vào hồ Dâm Đàm. Rồi từ hồ Dâm Đàm nó tìm đường về nhà, không phải là chuyện khó. Nó sẽ đưa lá thư của chúa công, nhờ ông bác chuyển cho nhà vua. Việc hẹn hò thế nào tuỳ ý chúa công. Tình thế gấp lắm rồi đấy. Nếu không khéo thì chết cả lũ.
Trần Liễu thấy không còn diệu kế nào khác, bèn chấp thuận. Ông nói nhiều đến tình máu mủ ruột rà. Nỗi thác cô lại nhằm vào ông chú họ, tính tình khắc nghiệt, thô bạo. Nhất là việc ép duyên. Việc chia uyên rẽ thuý này làm cho tình cốt nhục phải tương tàn. Liễu nhắc khéo: “Hiền đệ phải lo xa. Phải có kế sách phòng bị ngay từ bây giờ. Kẻo mai đây …”
Hẹn ngày giờ, địa điểm và nhận dạng xong, Trần Liễu hạ bút viết: “Chúc Thánh thượng vạn an. Chúng thần khóc chờ bệ hạ rỏ máu mắt!”.
Quẳng bút ra, thở phào, Trần Liễu tự lấy làm bằng lòng với lời lẽ trong thư. Ông biết rõ người em của mình lắm. Bây giờ chỉ còn lo làm sao thư đến được tay Thái tôn, chứ không lo nhà vua bỏ ông. Nhìn viên tì tướng giây lâu, Liễu nói:
- Số phận ta với tướng quân là tùy thuộc ở người đưa bức thư này. Liệu tướng quân có tin rằng tên lính kia không phản lại chúng ta không? Nếu thay vì nhờ người giám mã, mà nó tự đem đến phủ thái sư thì sao?
Sau vài giây đắn đo, viên tì tướng nói:
- Bẩm vương, tôi không dám đoan chắc, vì lòng dạ con người lường sao hết được. Nhưng theo tôi nghĩ, lúc này cứ ngồi vẽ cọp ra mà sợ, thì chi bằng tự trói tay xin hàng là xong. Sự tráo trở là có đấy, nhưng tôi thiển nghĩ, nó thường xảy ra ở các bậc quyền cao chức trọng, hay tính toán đến sự mất còn. Chứ tên lính tốt kia, ở với vương hay ở với thái sư, thì nó vẫn là tên lính tốt, có gì mà nó phải so đo tính toán?
Liễu dằn giọng:
- Thôi thì ta cũng liều với số phận …
Đọc thư xong, Thái tôn sững sờ. Nhà vua không còn giận Liễu nữa, mà chỉ thấy thương.
Nhà vua băn khoăn: “Bốn mặt quân bủa, làm cách nào huynh thoát khỏi trùng vây mà đến được nơi huynh hẹn. Lại nữa từ bữa ta ở Yên Tử về tới nay, nghe Khuê Kình nói, thái sư ngầm cho người giám sát ta. Hoặc là sợ ta lại bỏ đi. Hoặc là sợ ta về hùa với huynh trưởng chống lại Thái sư. Ôi, cái thân ta, trên đe dưới búa!”
Nhưng rồi nhà vua quyết: Tự ta sẽ làm việc này. Thân hoàng đế mà không cứu mạng được cho anh mình, còn sống làm gì nữa. Nói rồi Thái tôn xăm xăm đi đến cung phu nhân.
Thấy nhà vua đến đột ngột, phu nhân đon đả hỏi:
- Hoàng thượng đến thăm ta hay có việc gì vậy? Thái tôn hỏi luôn:
- Thưa lệnh bà, quốc phụ có nhà hay ở bên cung Thủy Tĩnh?
Nét mặt phu nhân thay đổi hẳn. Giọng bà thì thào:
- Không biết có việc gì cơ mật, mà mấy bữa nay ông ấy cứ sùng sục suốt ngày đêm. Đảo qua về nhà một lát, lại đi ngay. Nhiều khi bỏ cả ăn. Ta xem, ông ấy có điều gì uất hận lắm. Sợ chú cháu lại bất hoà chăng? Không có chuyện gì chứ, phải không con? Bà thở dài – Mà chẳng biết anh cả dạo này đi đâu. Đã mấy lần ta sang bên phủ Hoài vương, thấy nói vương về thái ấp, chưa lên. Ta cũng cố khuyên can ông ấy quên các chuyện vặt đi, để tình chú cháu êm hoà. Giời ơi, sao ruột tôi cứ nóng sôi lên thế này. Lại nhìn sâu vào mắt nhà vua, phu nhân gặng hỏi:
- Có chuyện gì nguy ngập không con? Ta linh cảm … Ôi khốn khổ cái thân ta, suốt cuộc đời chưa lúc nào được yên ổn thân tâm. Nước mắt bà nhểu ra.
Thái tôn lựa lời để an ủi phu nhân:
- Thưa lệnh bà. Tôi đến đây là vì việc lệnh bà đang băn khoăn lo lắng. Hoài vương đang bị quốc phụ vây chặt ở ngoài sông Cái. Tính mệnh của vương chỉ còn trong phút chốc. Lệnh bà chưa hay biết thật sao?
- Giời ơi, lại còn đến nông nỗi này nữa ư? Phu nhân nói chẳng ra lời - Vừa thoát được cái hoạ nội chiến, lại đến cảnh chú cháu trong nhà giết nhau!
- Chưa. Chưa giết nhau đâu. Nhưng nếu không ngăn lại kịp thì sẽ giết nhau. Thái tôn nói với vẻ đau lòng - Thưa lệnh bà, nhà vua nói tiếp - Có một việc, tôi tha thiết nhờ lệnh bà hãy giúp tôi một tay. May ra tôi có thể hoá giải được nỗi lo của lệnh bà, và của chính tôi nữa. Ngày mai, tôi có việc phải đi khỏi kinh thành. Chỉ xin lệnh bà giữ dùm thái sư ở nhà từ giờ ngọ qua hết giờ mùi. Được như thế, việc cứu Hoài vương mới thực sự êm xuôi.
- Nhà vua nói thật, hay lại kiếm cớ xuất gia? Vương thượng ơi, ta van con, lúc này còn phải lo cứu lấy Hoài vương đã. Ôi ta sợ cảnh đầu rơi máu chảy lắm rồi.
- Xin lệnh bà yên tâm. Tôi đâu phải kẻ lòng lang dạ sói, chỉ biết sống lấy một mình.
Suy ngẫm một lát, phu nhân lại nói:
- Ta sẽ nghĩ kế để giữ ông ấy lại nhà. Nhưng con biết tính chú con rồi đấy. Phải lựa lời, và nhớ dặn Liễu đừng có căng với chú. Tính Hoài vương cứng lắm chứ không được như con đâu. Lúc này, cương lên là hỏng việc. Thôi con đi đi. Các việc khác, ta khắc lo được.
Sớm hôm sau, nhà vua đem theo thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình xuống lâu thuyền, để làm một cuộc nhàn du trên mặt sông Cái. Khuê Kình đã được lệnh sửa soạn thuyền bè và các đồ ăn uống cần thiết trong mười ngày. Lần này nhà vua đi trên chiếc Kim Phượng nho nhỏ. Chỉ có vài người tháp tùng đức vua, cùng hai chục tay chèo trải cứng cáp. Để tránh vùng hạ lưu gần kinh sư đang có biến, nhà vua cho thuyền ngược thượng lưu.
Mặc dù Khuê Kình là người thân cận, nhưng nhà vua cũng không hé lộ cho biết một điều gì trong chuyến đi bất chợt này.
Trong khi Thái tôn làm một cuộc nhàn du ngược sông Cái, thì thái sư thống quốc lại về nằm khàn ở nhà. Phu nhân cũng chẳng phải mất công bày đặt trò này chuyện khác để kìm chân thái sư.
Ngay từ sáng sớm, Trần Thủ Độ đã nói với phu nhân:
- Đầu óc căng thẳng mệt mỏi quá. Bữa nay tôi nghỉ ở nhà. Bà xem nấu cho tôi một bát cháo lươn.
Phu nhân đã mừng thầm. Bà cho rằng phúc đức của nhà Trần còn vượng, nên trời không nỡ để cho người trong họ tàn sát lẫn nhau. Bà thầm khẩn tổ tiên nội ngoại phù hộ độ trì cho chồng bà thuần tính lại. Lúc đi ngang qua nhà bếp, bà còn giục bọn gia nhân nấu xong sớm để cho ông ăn, ông còn đi nghỉû. Bà thắp ba nén hương lên bàn thờ Thiên2! Bà xin Trời, Phật phù hộ cho chồng bà ngủ thật say từ giờ Ngọ, qua giờ Mùi tới tận giờ Thân để cho các cháu bà thu xếp mọi việc xong xuôi.
Khoảng đầu giờ tị, đám nội nhân đã làm xong các món ăn dâng thái sư. Đủ các kiểu nấu về lươn. Nào lươn om củ chuối. Lươn tần với nước hầm gà, hạt sen, nấm hương, hoài sơn. Thịt lươn lóc ra ướp hành, tiêu, bóp nhuyễn với lòng đỏ trứng gà rán nhỏ lửa. Và cuối cùng là cháo lươn. Khác với mọi bữa, thái sư không uống một giọt rượu nào. Bữa nay, thái sư uống hết một nậm rượu thạch xương bồ. Nhìn chồng ăn uống ngon lành, phu nhân thấy lòng ấm lại. Bà tự nhủ: “Có nhẽ lâu lắm, ông ấy mới lại được ăn một bữa cơm thư thái”. Bà trách mình ít săn sóc tới ông. Đúng là ông ấy thích ăn lươn và một số đồ bể. Nhưng bà cứ phó mặc cho đám nội nhân. Ăn uống xong, Trần Thủ Độ lăn ra ngủ. ÔÂng ngáy, tiếng ngáy ran như sấm chuyển. Nghe tiếng ngáy của chồng, phu nhân hết đỗi yên tâm. Bà chắc là Trời, Phật đã chứng nghiệm. Cứ điệu ngáy này - Bà nhẩm tính - Ông ấy phải ngủ qua giờ Tuất chứ giờ Mùi giờ Thân đã dậy làm sao được. Tiếng ngáy lúc đầu nghe lọc khọc khó chịu. Nhưng nghe lâu rồi quen. Như một nhịp ru toàn vần trắc. Quen tai, bà ríp mắt lại. Phu nhân vào phòng trong, và bà thiếp đi lúc nào không biết. Cũng khoảng thái sư vào bữa ăn trưa, Thái tôn khẽ vỗ vai Khuê Kình nói:
- Khanh cho thuyền quay lại. Ta không muốn đi nữa.
Khuê Kình răm rắp làm theo. Xuôi nước thuyền đi nhanh như chạy. Trước đây, Khuê Kình cứ tưởng Thái tôn là người cởi mở, nhân hậu, dễ gần. Nhưng từ mấy hôm nay sự thể lại khác, Khuê Kình có cảm giác, tâm sự nhà vua kín như một khúc gỗ. Thật là một con người khó hiểu. Chợt nhà vua đứng thẳng lên, bóng lùn tịt xuống dưới chân. Thái tôn tự biết lúc này đã chính ngọ. Thuyền đang đi vào điểm hẹn. Nhà vua bèn gọi thân vệ tướng quân lên mui thuyền, hỏi:
- Khanh có biết hôm nay ta đi vì việc gì không?
- Tâu bệ hạ, thần chỉ thấy bứt rứt ở trong lòng. Bởi không biết bệ hạ đi đâu, làm gì. Hình như bệ hạ đang lo tính một chuyện gì đấy. Thần chỉ cảm được chứ không thấy được.
- Đến nước này, ta cũng chẳng giấu khanh làm gì nữa. Số là huynh trưởng ta khởi binh làm loạn phía ngoài sông Cái, khanh biết cả rồi chứ?
- Dạ, biết. Không cứ gì hạ thần, mà người trong nước đều biết cả.
- Hiện thời thái sư vây ráo riết lắm. Tính mệnh của huynh trưởng muôn chết một sống. Huynh có đưa thư cầu hoà. Nhờ ta dàn xếp. Huynh hẹn từ giờ ngọ đến giờ mùi, sẽ đón ta trên khúc sông này. Huynh đi bằng chiếc thuyền nan nhỏ, giả làm người đánh cá. Huynh sẽ chờ ta trong chiếc lều vịt bên tả ngạn. Từ đây, khanh nhìn kỹ giúp ta, xem có thấy chiếc thuyền nan và cái lều vịt.
- Phụng mệnh! Khuê Kình đáp gọn lỏn và căng mắt nhìn về hai bờ tả hữu dòng sông.
Phủ thái sư yên tĩnh lạ lùng. Chỉ có tiếng ngáy vang vọng. Tiếng ngáy cưa miết vào không gian. Bỗng im bặt. Trời đầu hạ, cao vòi vọi. Nắng óng vàng như mật. Thái sư bừng tỉnh. Ông đưa mắt nhìn khắp nhà không thấy ai. Vội nhỏm dậy, thuận tay với thanh trường kiếm treo giá đeo vào người. Thái sư đi thẳng ra cổng ngoài. Ở đó đã có một mã phu với con tía mật đang chờ. Thái sư thoắt đã nhảy lên mình ngựa ra roi phi nước đại. Ra tới bờ sông Cái, sẵn có một đội thuyền đang chờ. Thái sư vừa leo lên thì cả đoàn thuyền hối hả lao đi. Ngồi trên thuyền, thái sư thầm khen Lê Tần là một tướng giỏi. Y điều hành công việc đâu vào đấy. Thuỷ, bộ phận minh. Quân cơ nghiêm chỉnh. Đi đứng kỷ cương. Tiến lui nhịp nhàng. Thật chẳng khác gì một viên đại tướng đã dạn dầy chiến trận. Thái sư vẫn áy náy, chưa có dịp nào thuận tiện, để đưa Lê Tần vào cương vị cao hơn, cho xứng với tài đức của Lê.
Trần Phủ Độ nhắc viên tì tướng phải quan sát thật kỹ phía thượng lưu, thấy dấu hiệu gì khả nghi phải báo ngay cho ông. Chẳng mấy chốc, quân vào bẩm: “Đã trông thấy thuyền ngự”. Thái sư lấy làm hài lòng, bảo tả hữu truyền cho ba quân phải đi nhanh về phía thuyền ngự.
Thuyền thái sư và thuyền ngự đi ngược chiều, nên khoảng cách thu ngắn lại rất nhanh. Có người đã nhìn thấy cánh thuyền nan, bơi từ phía lều vịt bên bờ tả ngạn, về phía thuyền ngự. Trần Phủ Độ đứng oai nghiêm trước mũi thuyền. Ông ra lệnh phải theo sát chiếc thuyền con, không cho trốn chạy. Chỉ còn non một dặm nữa là tới thuyền ngự. Nhà vua cho dừng thuyền lại chờ chiếc thuyền nan, chứ không đi về phía hạ lưu nữa. Tới lúc chỉ còn vài chục trượng thì chiếc thuyền nan đã áp sát thuyền ngự. Một người dong dỏng cao, đội nón lá, vận quần áo dân chài leo lên thuyền ngự. Vừa lúc thuyền của Trần Thủ Độ cũng áp sát thuyền vua. Ông hô lớn:
- Giết chết thằng giặc Liễu! Vừa nói, Trần Thủ Độ vừa rút kiếm nhảy lên thuyền vua, toan xông vào chém Liễu.
Thái tôn vội đẩy Trần Liễu vào trong khoang, rồi lấy thân mình che cửa, đỡ cho Liễu. Vua hổn hển nói với thái sư:
- Thưa chú, Phụng càn vương đến hàng đó.
Thủ Độ mặt đỏ phừng phừng đầy căm tức, quẳng thanh kiếm xuống sông, mắng:
- “Ta không phải con chó săn của anh em nhà ngươi. Các ngươi dám cả gan khinh nhờn phép nước”.
Thái tôn trong lòng chưa hết lo sợ. Vội nói giải hoà cho thái sư nguôi giận. Nhà vua hứa:
- Cháu sẽ đuổi Liễu về ấp Yên Phụ. Và không cho tham gia chính sự. Không cho lập các đội dân binh nữa.
Trần Thủ Độ vẫn bừng bừng lửa giận, không nói một lời nào. ÔÂng trở lại thuyền mình và cho quân lui về kinh sư.
Trần Liễu đã về hàng. Đại quân của Liễu tự tan. Trần Thủ Độ cho đón bắt các ngả, giết không biết bao nhiêu mà kể.
Từ đấy Liễu an phận thủ thường nơi thôn ấp, chứ không dám hầm hè tranh đoạt gì nữa.
Chú thích:
1. Chức quan của Trần Liễu dưới thời Lý Huệ tôn.
2. Bàn thờ lộ ngoài trời. Thờ thần Trời.
CHƯƠNG 26
Từ ngày lui về ở mấy gian nhà tuềnh toàng cùng khoảnh vườn nhỏ cạnh ngôi chùa cổ, Chiêu Thánh thấy lòng dịu lại. Nàng tu niệm chẳng khác gì kẻ đã xuất gia. Cũng áo nâu sồng, khăn nâu trùm kín cả mái đầu. Sớm sớm thức dậy đọc kinh, chiều chiều lại kinh kệ chuông mõ, đủ lệ bộ y hệt một đệ tử Phật. Ngoài hai buổi kinh kệ, Chiêu Thánh và Trịnh Huyền còn cuốc đất trồng dâu, chăn tằm, dệt lụa.
Sống ngay cạnh kinh kỳ, nhưng Chiêu Thánh không bao giờ để ý hoặc tới lui, thăm viếng hoàng cung. Đôi khi thái sư phu nhân có cho người đến thăm hỏi, nàng cũng không tiếp. Gởi quà cáp cho, nàng cũng không nhận.
Một sớm Chiêu Thánh đang hái dâu, Trịnh Huyền đi chợ về, chạy ùa vào nhà với dáng vẻ hớt hơ hớt hải, mặt mày tái mét:
- Hoàng hậu ! Hoàng hậu! Trịnh Huyền gọi, giọng lạc hẳn đi.
Nghe tiếng gọi hốt hoảng, Chiêu Thánh vội buông cành dâu hái dở chạy về sân:
- Gì vậy, Huyền ơi! Chị đây mà! Chị đây, Huyền ơi.
- Giời ơi, khiếp quá, thưa hoàng hậu.
- Trịnh Huyền, chị đã nói với em bao lâu nay rồi. Rằng không có hoàng hậu nào ở đây cả. Chỉ có hai chị em mình, mà em cứ thủ lễ quá đáng. Chị đã bảo là đừng có gọi chị là hoàng hậu nữa, nhớ chưa?
- Dạ, em nhớ rồi ạ. Nhưng bỗng dưng thay bậc đổi ngôi, em thấy nó thế nào ấy.
- Tâu … À quên, thưa chị Chiêu Thánh, người ta giết, bêu không biết bao nhiêu là thủ cấp ở chợ Cầu Đông.
- Cái gì, Chiêu Thánh sợ thót người, hỏi lại - Em nói cái gì ở chợ Cầu Đông?
- Đã bảo họ giết người, eo ơi khủng khiếp lắm chị Chiêu Thánh ơi.
- Giời ơi, em nghe ở đâu những chuyện ghê rợn thế ?
- Không phải em nghe, mà em thấy cơ man nào đầu lâu người, bêu la liệt ở chợ Cầu Đông ấy.
Chiêu Thánh rùng mình bưng mặt, hỏi thêm:
- Vậy chớ em có biết sự thể ra sao không?
- Đúng là chị em mình ở đây như ở trong một cái hủ đậy nút kín, chị Chiêu Thánh ạ. Ngoài đời náo loạn thế, mà chị em mình chẳng biết gì cả. Em nghe nói nhân lúc nhà vua bỏ kinh thành đi, thái sư cũng theo đi tìm nhà vua, thế là ông cả Liễu họp hương binh gần một vạn đứa, kéo về sông Cái, định đánh úp kinh sư. Tướng Lê Tần chặn lại. Đến lúc thái sư về, ngài mới xiết chặt vòng vây. Hoài vương phải lẻn trốn ra hàng. Thái sư định đâm chết, may có nhà vua che đỡ cho.
- Ừ, những chuyện ấy chị cũng đã biết.
- Làm sao mà chị biết được? Chị biết mà chị lại giấu em à?
- Chả là bữa trước chị sang chùa dâng hương, hoà thượng cho chị biết tin như em nói đấy. Chị còn được biết là ông Cả đã bị giáng chức đuổi về ấp Yên Phụ. Được thêm các ấp Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Bang gì đó để làm thực ấp. Em trách chị làm gì. Chị chẳng có bụng nào lại giấu em. Bởi nó có phải là tin vui, tin lành gì đâu. Nói làm em thêm buồn. Chị thì chị chán ngấy những cái chuyện nhàn cư sinh nhảm ở trong cung lắm rồi. À, vừa rồi em nói chuyện gì chết chóc ấy nhỉ?
- Chị mà trông thấy cảnh đầu lâu bêu ngoài chợ, chị phải chết khiếp. Eo ôi, đầy một chợ, chỉ có quạ mấy đầu lâu thôi. Lính nhan nhản đầy đường. Em sợ quá, phải chạy vào chùa Cầu Đông. Sư cụ bảo đấy là lính của ông Cả làm loạn, đức ông Trần Thủ Độ bắt về giết bêu đầu để răn kẻ khác. Sư cụ nói, nước mắt chảy ròng ròng. Cụ đang lo làm lễ cầu siêu cho những người lính bị chết oan.
- Nam mô A-di-đà-Phật! Chiêu Thánh chắp tay niệm Phật, mắt nhắm lại như cố tránh không muốn nhìn lại cảnh đời tàn ác.
- Nhưng mà chị Chiêu Thánh ơi, làm sao con người lại ác với nhau đến thế? Em cứ nghĩ, đến loài vật nó cũng không giết nhau như vậy. Thuở nhỏ, ở nhà em có đàn gà đen mới xuống ổ, mấy con cuốc con mất mẹ, theo lẫn cả trong đám gà con, gà mẹ bao dung nuôi hết. Lớn lên, cuốc lại lủi ra bụi, ra bờ sinh sống. Trâu, bò, chó, gà đều có hục hặc nhau, húc nhau, cắn nhau, chọi nhau chí choé một lúc xong rồi thôi. Em chưa thấy chúng đánh nhau đến chết bao giờ. Khác với loài vật, con người cứ rình rập nhau đến cùng để giết nhau, ghê tởm quá, chị Chiêu Thánh ạ.
- Nhiều lúc chị cũng muốn bỏ quách chốn này mà đi lên núi ở ẩn. Sống đời trong lặng với cỏ cây, muông thú.
- Ôi thế thì thích lắm. Chị đi đi. Không phải lên núi làm gì. Cứ về quê em, vui lắm. Mọi người sống với nhau thuận thảo như chị em mình vậy thôi, chứ không có cảnh lèo lá, tráo trở đê tiện như mấy ông quan lớn ở kinh sư đâu.
- Nói thật với em, nếu không vì ở lại để gần phụ vương của chị sớm chiều hương đăng, thì chị cũng chẳng thiết sống làm gì nữa. Chị chỉ ân hận, không làm trọn được lời phụ vương chị ký thác. Chắc phụ vương thương chị là phận gái, nên người cũng tha thứ.
- Chị Chiêu Thánh à, chị có muốn em ở với chị nữa không?
- Sao Huyền lại hỏi chị vậy. Chị có gì không phải với em. Hay chị em mình nghèo quá, em không muốn ở với chị nữa. Chiêu Thánh nói với vẻ mặt rầu rầu.
- Em hỏi thế không phải em chê chị nghèo. Nghèo của các ông hoàng bà chúa, bọn dân quê chúng em có nằm mơ cũng chẳng thấy được. Em hỏi chị thế, là bởi em không muốn chị phải lam lũ như bọn em. Nếu chị thích em ở đây hầu hạ chị, thì các việc từ cuốc đất, trồng cây, đến hái dâu, chăn tằm, cơm nước các thứ, chị để mặc em. Chị chỉ có mỗi một việc lo tụng kinh thôi. Tụng hai xuất vào, cho cả em một xuất nữa. Thế là công bằng, chị làm dứt đi một việc, em dứt đi một việc khác.
Chiêu Thánh cười hồn nhiên đáp lời:
- Chị mang ơn Huyền nhiều lắm. Em cứ để chị làm cho vui. Trước đây các hoàng cô nhà Lý, ai mà chẳng thạo việc tằm tang. Ngay cái nghề trồng dâu, chăn tằm, dệt lụa cũng do công chúa nhà Lý dạy cho con gái phường Yên Hoa này đấy chứ. Và đức tị tổ1 cũng tự mình dạy cho cung nữ dệt được gấm vóc, kể từ năm Canh thìn2. Các đức ở nghiệp của nhà Lý đều là bậc khai sáng. Nay nếu chị làm lại cái nghề này, cũng là nghề của tổ tiên truyền lại, có gì mà ngại hả em?.
- Không phải thế đâu, chị Chiêu Thánh, em thương chị gầy yếu quá, cứ làm vào rồi ốm mất. Mấy lại không ai đi làm cái việc của bọn đầy tớ thường làm.
- Trịnh Huyền, chị cấm em từ nay không được nói cái chuyện chủ tớ ấy nữa nhé. Chị đã bảo bây giờ là chị em rồi cơ mà.
- Cám ơn chị cho em được bằng vai phải lứa. Nhưng người đời thì phân biệt rõ lắm. Cứ ra đường là họ biết ngay chị là chủ, em là tớ.
- Đấy là việc của người đời. Chỉ biết chị em mình từ nay gắn bó. Mà sao chị thấy bồn chồn quá em ơi. Em ở nhà, chị sang bên chùa một lát nhá. Chị phải trình với phụ vương, việc người ta tàn sát đám lính vô tội. Em biết không, đêm đêm chị vẫn mơ thấy phụ vương chị về đấy.
Lại nói về bà Trần Thị Dung, hoàng hậu nhà Lý, bấy giờ là phu nhân của thái sư thống quốc Trần Thủ Độ. Sau khi bà đã khéo lựa để biến được những toan tính của bà thành các chính lệnh của ông, và suýt nữa thì gieo tai hoạ cho cả dòng họ, bà thấy hú vía. Bà tự nhủ, từ nay chỉ làm các việc trong nhà thôi, chứ không dám can dự vào chính lệnh nữa. Mà thái sư cũng nghiêm lắm. Sau vụ xảy ra đó, thái sư chèo chống thật vất vả. Bà nhận thấy đức ông ít nói, nhiều lúc buồn đến thẫn thờ. Nom khuôn mặt ông ấy hiện lên một nét gì u tối, cứ như là chuyện giết đám dân binh của Liễu, đã ám ảnh ông. Nhưng thôi, mọi sự rồi sẽ qua đi. Chẳng có cơn bão nào kéo dài mãi. Bão tạnh gió tan, khắc đến mưa đền cây. Ngay như Chiêu Thánh dù có giận bà, nhưng nó cũng đã yên phận ở gần linh hồn vua cha. Còn Thuận Thiên, cũng đã vui vầy với ngôi hoàng hậu. Lại vừa sinh cho nhà vua được một mụn con trai. Thôi thì con anh con em, cũng là dòng máu họ Trần cả. Lọt sàng xuống nia, chẳng đi đâu mà thiệt. Nhà vua cũng đã nguôi quên. Đã tự mình chăm lo công việc triều chính, lại thường săn sóc cả hoàng hậu lẫn đứa bé. Thế là tốt rồi. Bà không đòi hỏi gì hơn nữa. Gần đây, nghĩ tình mẫu tử thế nào, nhà vua lại phong ta làm quốc mẫu. Ta cho việc đó là ưu hậu lắm. Vì tước ấy chỉ tặng phong cho các bà thái hậu.
Về phía Trần Thủ Độ, qua việc này, ông thấy những thành tựu đạt được, là do sự cưỡng bách của ông, không ai chống lại được. Ngay cả đức vua cũng không cưỡng nổi ý ông. Chính vì thế mà ông bắt đầu run sợ. Bởi người trong nước sẽ cho ông là một kẻ tàn bạo, bức bách nhà vua, thao túng triều đình. Cũng vì việc này mà quan thừa chỉ bỏ đi. Việc quan thừa chỉ bỏ đi, ông tự lấy làm hổ thẹn. Ông đã ngấm ngầm sai người đi dò tìm khắp nơi. Vẫn chưa thấy tăm hơi gì. Bữa có việc đi qua một ngôi làng trên mạn Quốc Oai, thấy làng nọ mới dựng một ngôi đình lớn, mái ngói còn đỏ au. Ông dừng lại ngắm xem, và thầm khen kíp thợ mộc ở đây tài hoa quá. Chợt thấy đôi câu đối trước cửa đình, ông nhẩm đọc:
LẬP THÀNH HỒ, CẠNH TRANH HỒ, PHÁ HOẠI HỒ, MẠC THỊ CƠ QUAN DO KHÍ HÓA.
PHỤ TỬ DÃ, TRƯỞNG ẤU DÃ, PHU PHỤ DÃ, NGUYỆN Ư ĐÌNH BẢNG TÁ PHÂN MINH3.
Trần Thủ Độ giật mình biết quan thừa chỉ có qua đây. Và lời lẽ này, chính là khẩu khí của ông. Rõ là ông chấp nhận việc thay đổi triều đại là lẽ thường của tạo hoá, đúng cái ý của vế trên. Còn vế dưới, ông muốn trách việc nhân luân sao không đem ra mà bàn bạc, ngõ hầu đem lại sự sáng trong của công lý. Đúng là một người có cái tâm chí thiện, ngay cả lúc đã bỏ ta mà đi, ông vẫn có lòng muốn nhắn gửi lại để khuyên bảo ta. Tuy vậy, Trần Thủ Độ cũng không dò tìm được dấu vết của ông.
Năm tháng qua đi, những vết thương dần dần kín miệng. Nhưng dù có gặp thầy hay thuốc tốt, chữa trị giỏi giang thì các nơi thương tích kia vẫn còn hằn lại những vết sẹo. Với các người lớn tuổi, như thái sư Trần Thủ Độ và phu nhân hoặc Trần Liễu thì vết sẹo to, bóng nhẫy. Còn với các người trẻ trung như Trần Cảnh, Thuận Thiên, Chiêu Thánh, vết sẹo cũng chóng đầy và mờ dần theo năm tháng.
Thái tôn là một người đức độ, nên cũng dễ bỏ qua những lầm lỗi của người khác. Nhà vua không chấp trược, không dò tìm nguồn gốc sâu xa rồi để bụng thù hằn. Với một người đã chẳng coi ngôi vị đế vương là cái gì, và sẵn sàng từ bỏ, thì ở đời chẳng có gì đáng giá, ngoài đức thiện và lòng nhân.
Thái tôn được mấy người thầy học và các bậc lão thần tài đức khai tâm mở tính, trau dồi kiến thức cho, cùng với lòng nhà vua lúc nào cũng cầu sự tinh tiến, nên vào tuổi ngoài hai mươi, nhà vua đã chững chạc lắm. Ngài bắt đầu để tâm đến việc thi cử, bổ dụng người hiền tài cho đất nước. Ngài cũng luôn chăm lo đến đời sống của người dân không chỉ riêng ở kinh sư, mà còn ở nơi thôn ấp hẻo lánh. Không những thế, còn chăm lo đến việc cải hoá phong tục, khuyến thiện, trừng ác. Nhà vua đã nhiều phen đàm đạo với các bậc quốc sĩ về các điều trọng yếu trong tam giáo.Cứ theo ý nhà vua lĩnh hội được, thì rường mối chính trị quốc gia phải dựa trên căn bản của tam giáo. Cũng có người tranh biện với Thái tôn, chỉ cần Nho giáo là đủ. Không nên tham bác các đạo khác, nó sẽ mất đi sự ngay chính của Khổng học.
Nhà vua nói:
- Ta vốn trọng đạo Nho. Vì nó chỉ cho ta nhiều điều quan yếu trong phép trị nước. Nhưng nếu chỉ thiên về Nho giáo, ta e khắc bạc quá. Mà đẩy cái sự khác bạc ấy lên một tí nữa, là đi vào con đường chuyên chế tàn bạo của nhà Tần. Chi bằng ta lấy cái chuyên sâu của đạo Nho, cái thiện nghiệp của đạo Phật, với các dung dị bất tranh của đạo Lão, lại hoà vào nền văn hoá truyền thống của Đại Việt, ta được một cái đạo hoàn bị hơn. Thế là tam giáo cùng đua tranh nảy nở, phương chi cứ phải gò mình chịu trói trong một học thuyết ngoại lai, chưa phải đã thập phần hoàn hảo.
Nghe nhà vua nói, ai cũng thấy Thái tôn đã có một kiến thức hơn đời, và ngài đã có chủ kiến định hướng cho nền chính trị quốc gia. Đấy là tầm vóc của các bậc đế giả. Một bữa nọ, nhà vua đang cắm cúi hoàn thiện mấy bài giáo huấn, nhằm vào việc giáo hoá cho các hoàng tử sau này thì thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình ló vào.
Nhà vua gọi Khuê Kình lại, đọc cho nghe. Đọc xong, nhà vua nói thêm:
- Đây mới là việc ta răn dạy con cái trong nhà. Rồi ta sẽ ra hẳn một đạo luật, khiến các nhà phải có trách phận nuôi dạy con cái cho thuận thảo; và biết đủ các bổn phận đối với nước. Mỗi nhà lại phải lo sao cho ít nhất có một người biết chữ. Các gia đình cũng phải lo việc chăm chỉ làm sao cho nhà nhà đều đầy đủ, dư dật. Được vậy, hẳn là xã hội sẽ đua nhau làm việc thiện. Ta cho rằng, muốn tạo dựng một xã hội tốt đẹp, phải bắt nguồn từ mỗi gia đình tốt đẹp. Vì vậy, ta cũng phải lo cái gia đình của chính ta. Nếu làm được điều ta mong muốn, thời xã hội làm gì còn có nạn lưu manh, trộm cướp. Ta e rằng, bộ hình luật của ta sẽ có cơ không dùng đến nữa. Nói xong, Thái tôn mỉm cười, quay sang hỏi Khuê Kình:
- Khanh thấy thế nào?
- Tâu bệ hạ, theo chỗ hạ thần nhận biết, thì bệ hạ muốn đức hoá, thiện hoá các hoàng tử và cả xã hội. Tâm của bệ hạ đã đạt tới cõi sạch trong rồi đó.
Thái tôn cười:
- Khanh chỉ được cái khéo nịnh ta.
- Tâu bệ hạ, bình sinh thần chưa nói một điều gì trái lòng mình cả. Đã thế, thần sẽ nói luôn điều bấy lâu nay thần để tâm suy ngẫm, xem có phải lòng thần trung hay nịnh?
- Ôi, ta khao khát được nghe những lời ngay thẳng. Dù những lời đó có đau đớn, ta cũng không hề trách phạt khanh. Khuê Kình biết đấy, khi ta đã ở ngôi cao, mọi sự việc ta làm, ta không kiểm xét được nó tốt xấu ra sao. Ích dân lợi nước, hay lại phiền nhiễu cho dân, mà cũng vô bổ cho nước. Ta biết, dù ta có dở, mọi người vẫn cứ bảo ta hay. Ít ai dám nói ra sự thật. Ngay đến các gián nghị đại phu cũng vẫn còn dè dặt lắm. Ta tự xét, từ lúc tám tuổi đã ở ngôi cao, đứng trên các bậc lão thần, quốc sĩ, lòng luôn run sợ. Ta cũng như những đứa trẻ kia, chứ có khác gì đâu. Chẳng qua, cái ngai vàng nó làm cho ta trở thành lỗi lạc. Nhưng cái ngai vàng là vật vô tri, còn ta vẫn chỉ là một đứa trẻ. Nếu ta không ý thức được điều đó, mà lại hợm mình nữa, chắc là sẽ dẫn dắt cả dân tộc này đi đứng quàng xiên bậy bạ. Khanh với ta nghĩa là vua tôi, tình là bè bạn, lại là chỗ huynh đệ thân tín trong nội tộc nữa, ta mong khanh hãy vì bách tính, nói cho ta hay những điều ta còn mù mờ. Những chính sách không được lòng dân. Hoặc những gì theo khanh cần phải tu chính. Nào khanh hãy nói đi.
Khi bị nhà vua chạm tới lòng tự trọng, Khuê Kình muốn tỏ ra mình là người trung thực. Nhưng tới lúc bình lặng, xét suy về những lời mình sắp nói ra, không phải Khuê Kình không đắn đo cân nhắc. Bởi những lời chàng sắp nói, hệ trọng lắm. Đụng tới cả bậc quyền uy nhất nước, mà ngay cả đến hoàng thượng cũng còn phải trọng nể. Đúng như nhà vua nói: “Ít ai dám nói ra sự thật lắm”. Nhất là nói trước những người quyền cao chức trọng, về những điều yếu kém hoặc lầm lỗi trong họ. Quả vậy, sự thật là một cái gì giản đơn lắm. Nhưng cũng khó nói ra lắm. Xưa đã thế, nay cũng thế và muôn đời sau vẫn còn như thế. Nhưng nếu không nói, thì ta cũng chỉ là một tên hèn nhát như tất cả những tên hèn nhác khác. Khuê Kình cứ đắn đo cân nhắc mãi.
Thái Tôn liền bảo:
Nếu khanh vẫn còn chưa muốn nói ra, ta không ép.
Như có tiếng chuông thức tỉnh lương tâm, Khuê Kình nhìn thẳng vào mắt nhà vua, nói:
- Tâu bệ hạ, từ lâu nay thần vẫn áy náy một điều. Rằng bệ hạ còn rất trẻ. Mà quyền hành lại tập trung quá nhiều vào tay thái sư. Việc ấy chẳng biết rồi sẽ dẫn tới đâu. Cho nên hạ thần trộm nghĩ, những dự liệu của bệ hạ, liệu có thi thố được không. Hay lại bị thái sư cản phá. Ngay cả ngôi báu nữa, liệu có trường tồn không?
Nghe Khuê Kình nói, Thái tôn bậm môi suy nghĩ giây lâu. Chợt nhà vua bật lên nói:
- Hay là thế này Khuê Kình nhé. Ta với khanh cùng đến cung Thủy Tĩnh. Và khanh nói lại điều đó cho cả thái sư cùng nghe. Tiện hơn. Ta thấy thái sư cần phải được biết điều này.
Khuê Kình thấy hơi ớn lạnh ở sống lưng. Tướng quân không ngờ sự thể lại diễn ra như vậy. Chàng tự nhủ: “Đây là suy nghĩ chân thực của ta. Đã nói được cho đức vua nghe, thì cũng sẽ nói cho thái sư nghe”. “Quân tử bất sự nhị ngôn”. Người đứng đắn, không nói hai lời. Chàng vui vẻ đứng dậy theo nhà vua. Nhưng chưa lường được hậu quả sẽ dẫn tới đâu.
Quân vào bẩm có hoàng thượng tới dinh. Trần Thủ Độ lật đật chạy ra đón mãi cổng ngoài. Ông đon đả nói:
- Chẳng hay bệ hạ có việc gì ngự giá đến nhà thần. Hạ thần không biết trước để làm lễ cung nghinh. Thật đắc tội.
Thái tôn khiêm nhường nói:
- Miễn lễ. Quốc công cứ bày vẽ làm trẫm thêm phiền.
Trần Thủ Độ vừa ngẩng đầu, đã thấy kiệu sau hạ xuống. Nhìn con người to, cao như một đô lực sĩ, thái sư vừa “à” lên một tiếng, Khuê Kình đã kịp tới trước ông cúi chào.
- Thân vệ tướng quân vẫn mạnh chớ. Bữa nay được đón hoàng thượng cùng tướng quân, thật là một may mắn bất ngờ cho bản chức.
Khuê Kình lễ độ thưa:
- Bẩm đức ông, nhân có câu chuyện thưa với bệ hạ, nhà vua dậy tiểu tướng cùng lại đây để trình đức ông tường.
Nội nhân đưa trầu, nước ra dâng nhà vua rồi lui.
Thái tôn nói:
- Khuê Kình với trẫm và Quốc công đều là người trong nội tộc. Nhân Khuê Kình có điều tâm huyết vừa dãi bầy. Trẫm bảo Khuê Kình lại đây nói để Quốc công cùng nghe. Xin Quốc công bình tâm, nếu câu chuyện có làm cho Quốc công phiền lòng.
- Bệ hạ đã rộng lượng. Thủ Độ tôi còn có điều gì phải lo nghĩ nữa.
Khuê Kình nói lại điều mình băn khoăn, như lúc trước đã nói với nhà vua.
Thái tôn theo dõi câu chuyện và sắc diện của cả hai người. Nhà vua thầm khen: “Đáng trọng thay nhân cách của Khuê Kình. Chàng ta nói không sai một lời, không tỏ ra xun xoe, sợ sệt”. Và nhà vua cũng nhận thấy, Quốc công tiếp nhận lời Khuê Kình một cách bình thản. Xem vậy đủ biết bụng dạ cả hai người đều trung chính, chớ không có một ly nào tà vạy. Điều đó khiến nhà vua yên tâm. Và tin rằng, Quốc phụ xưa nay vẫn xứng đáng là một phụ chính đại thần - một trụ cột của cả triều đình và trong hoàng tộc.
Nghe xong lời Khuê Kình, Trần Thủ Độ lấy làm cảm kích. ÔÂng nói lại với nhà vua:
- Tâu bệ hạ, đúng như lời Khuê Kình nói. Bấy lâu hạ thần thường lo lắng đến các trọng trách quốc gia. Thần chịu cố mệnh của tiên quân, khuông phò bệ hạ từ ngày thơ ấu. Chỉ mong bệ hạ sớm trưởng thành để trao lại quyền bính. Nhân đây, thần xin bày tỏ: Bệ hạ cũng nên lo gây dựng nhân tài. Trao dần sự nghiệp cho mọi người cùng gánh vác. Các bậc lão thần thật đáng trọng. Song quả thật các vị không còn đủ năng lực gánh vác việc lớn quốc gia. Có khi còn cản trở. Xin bệ hạ nên ban thưởng tước cao lộc hậu, và xếp các vị cố lão ấy vào hàng nhàn tản. Còn công việc điều hành thực thụ, phải trao vào tay những con người còn khí huyết sung mãn, lại có đức có tài như Lê Tần hoặc thân vệ tướng quân đây. Bởi chưng thời bình, còn phải lo tới cả thời chiến. Hạ thần đêm ngày đau đáu nghĩ về cái họa Thát-đát. Sớm muộn gì thì họ cũng chinh phục xong Trung nguyên. Sau Trung nguyên, họ chẳng để ta yên. Cho nên phải lo giữ nước từ khi chưa có mầm loạn. Và phải có kế sách làm cho dân giàu nước mạnh cấp kỳ, nếu không thì trở tay không kịp, hối không kịp.
Nghe Thủ Độ nói, nhà vua xúc động đến ứa nước mắt. Thái tôn nắm tay Khuê Kình và Thủ Độ nói:
- Thế nước đứng được, là nhờ có bề tôi lương đống như các khanh. Nhà vua buông tay hai người ra, nhìn sát vào Trần Thủ Độ, nói tiếp:
- Nhà Trần mở được nghiệp lớn huy hoàng, là nhờ có chú. Đúng như chú nói, việc tiếp theo phải làm cấp kỳ là lo cho dân giàu, nước mạnh.
- Còn một việc nữa, xin bệ hạ lưu tâm. Trần Thủ Độ nói - Cứ như ý thần, thằng cháu Quốc Tuấn sau này sẽ trở thành một tướng tài kiệt hiệt. Bệ hạ nên đỡ đầu cho cháu về kinh sư học hành, cho cháu mở mang nhãn giới. Cháu phải được trau dồi kỹ càng cả về đường võ bị lẫn văn chất. Chứ cứ như thần, chữ nghĩa dở dang, mọi đàng dốt nát, chẳng mấy chốc lại trở thành một thứ đó rách ngáng chỗ.
Nhà vua chân thành nói:
- Xin vâng lời quốc phụ. Xin vâng lời quốc phụ!
Chú thích;
1. Chiêu Hoàng muốn nói đến Lý Thái tôn.
2. Canh thìn (1040).
3. Đại ý: Việc tạo lập cũng như việc huỷ hoại đều do sự biến đổi của thời gian (ý nói thiên nhiên) mà thành.
Còn như các mối quan hệ xã hội như cha con, già trẻ, chồng vợ mọi việc đều nên lấy chốn đình trung (ý nói pháp luật) làm nơi phân giải cho tỏ sáng.
CHƯƠNG 27
Nhà vua triệu Quốc Tuấn về kinh sư theo học. Cầm tờ cáo (1) trong tay, Trần Liễu băn khoăn. Ông không hiểu đây là hảo ý của Thái tôn hay là ác ý của Thái sư? Họ định cho con ông theo học để đào luyện thành tài, hay họ trừ trước các mối lo? Thằng bé mới mười lăm tuổi, nhưng chững chạc như một chàng trai hai chục tuổi.
Bao nhiêu năm qua, ông đã không ngại gian lao, tốn kém, đón thầy về dạy Quốc Tuấn đủ các môn võ thuật, quyền pháp, binh pháp và cả văn chương nữa. Mới sáu tuổi đã có thơ hay, chữ tốt. Ai cũng khen thằng bé có quí tướng, và sau này sẽ trở nên một tay hữu ích cho đời. Tiếng là anh vua, nhưng bị trầy trật thăng lên giáng xuống. Nay coi như bỏ. ÔÂng mong mỏi Quốc Tuấn sẽ nối chí ông, làm việc lớn ông chưa làm được. Bây giờ người ta định bứt thằng bé ra khỏi tay ông, thế thì ông còn răn dạy, còn thôi thúc nuôi chí cho nó làm sao được.
Nếu ta ỉm tờ cáo này đi, không cho Quốc Tuấn biết, tức là không cho nó về kinh sư thì có nghĩa là, ta đã chống lại mệnh triều đình. Họ sẽ khép ta vào tội “khi quân”. Chà chà, Trần Liễu chép miệng: “Có nhẽ ông Thái sư mong điều này lắm!”. Tay cầm tờ cáo, hết đọc mặt trước lại lật sang mặt sau, rồi giơ lên trời soi xem có thấy thêm điều gì không. Sự thật, vương vẫn nghi đây là mẹo của ông chú. Bắt thằng Quốc Tuấn đi, tức là ông ấy dứt được mối lo sau này. Hai là, nếu ta cưỡng mệnh vua, ông chú sẽ cứ chiểu theo hình luật mà trị. Nếu việc đó xảy ra, ông sẽ cộng thêm cái tội họp quân ở sông Cái năm trước - Hừ, Trần Liễu cười khẩy - Đã thế thì điều đó không bao giờ xảy ra nữa, ông chú ranh ma của tôi ơi!
Đưa mắt nhìn về phía lầu thưởng nguyệt, chợt thấy Quốc Tuấn ở nhà tàng thư đi về tầu ngựa. Trần Liễu gõ hai tiếng chuông. Rồi ông sửa lại khăn, áo ngồi ngay ngắn trên kỷ.
Quốc Tuấn ló đầu vào cửa, vòng tay lễ phép nói:
- Thưa cha, gọi con.
- Phải, con vào đây có chút việc ta muốn bàn.
Quốc Tuấn hơi bối rối. Vì từ trước chưa làm gì có chuyện bàn bạc. Ý cha thế nào, Quốc Tuấn cứ răm rắp tuân theo. Nay cha cho bàn, có nghĩa là mình đã lớn chăng? Cha cho mình đã đủ trí lực để trở thành người lớn chăng?
Quốc Tuấn khoanh tay đứng bên mép kỷ, chờ lĩnh ý cha.
- Con ngồi. Trần Liễu vừa nói vừa chỉ tay về phía chiếc đôn sứ kê cạnh kỷ.
Khi hai cha con đã ngồi đối diện, Hoài Vương đưa tờ cáo cho Quốc Tuấn.
Quốc Tuấn cầm tờ giấy Long tiên màu vàng, có điểm các vẩy bạc lưa thưa vẽ hình rồng, chữ viết đẹp như khắc và nhẩm đọc. Mắt chàng thiếu niên vụt sáng lên, đôi má ửng đỏ. Dường như chàng cho đó là một ân sủng của nhà vua dành cho chàng.
Thấy niềm vui hiện trên khuôn mặt tuấn tú thơ trẻ của con, khiến Hoài Vương đau lòng. Dường như đây là một sự tranh chấp nguồn hy vọng của ông. Ngay cả đứa con đẻ đứt ruột ra, chăm bẵm, nuôi dạy thế mà nó cũng không hiểu được ông. Trong lòng ông như có một sự rạn nứt. Nhưng ông lại nghĩ: “Quốc Tuấn sẽ là một người hiếu, nghĩa, trí, dũng. Không. Con ta không thể làm trái ý ta. Chẳng qua tuổi trẻ hiếu kỳ, chúng thích được bay nhảy. Nhất lại về kinh sư với chú rụôt là đức vua, và ông họ làm thái sư thống quốc, điều đó đáng cho nó hãnh diện lắm chứ”.
Thấy con đã đọc xong, Hoài vương liền hỏi:
- Ý con thế nào? Ông nhìn con thăm dò.
Với tính hồn nhiên của tuổi trẻ, Quốc Tuấn nói:
- Thưa cha, con nghĩ đây là một ân huệ lớn nhà vua ban cho con. Quốc Tuấn nhìn lại Hoài vương với vẻ ý nhị - Và cũng là món quà của chú tặng cha.
Vương Liễu làm như không để ý lời con, ông lại hỏi:
- Cha muốn biết con có thích về kinh không?
- Dạ, thưa cha, con nghĩ đây không chỉ là ơn vua, mà còn là lệnh của hoàng thượng.
- Nếu con muốn, ta sẽ có biểu trần tình với nhà vua.
- Thưa cha, con không hề nói là con không muốn. Lòng con còn ước ao được về kinh sư để mở mang sự hiểu biết của con. Nhất là đường học vấn, kể cả võ lẫn văn. Nay chú con đã có lòng như thế, con nghĩ không nên phụ. Dạ thưa cha, đối với con, đây lại là nghĩa quân thần.
Đắn đo giây lát, Hoài vương nói:
- Thôi đựơc, con lo soạn sửa hành lý để sớm mai về kinh. Song có một vài điều, ta cần nói với con. Trước hết, cha muốn nói về binh pháp Tôn - Ngô, con đã nắm được những điều then máy. Nhưng như thế không có nghĩa là con đã đủ tài làm tướng. Con phải để tâm nhiều lắm đến địa hình của đất nước, chắc mai đây phải dùng đến. Phép làm tướng, trong khi bầy thế trận hoặc lâm trận mà không nắm vững địa hình, tức là thủ bại. Con đừng hoài vọng quá nhiều về những giáo điều trong sách. Sách chỉ mang tính ước lệ, nó gợi mở cho suy nghĩ của con, chứ nó không thể quyết định được. Thấy con chăm chú lắng nghe, Trần Liễu lấy làm hài lòng và có phần yên tâm - Thôi được, đêm nay ta sẽ viết vài lời về cho chú.
Về tới kinh sư, Trần Quốc Tuấn vào ngay nội điện trình thư cha, và được Thái tôn ân cần thăm hỏi. Quốc Tuấn thấy ấm áp như ở nhà. Có điều rằng trong cung điện của đức vua, cái gì cũng sang hơn, quí hơn, đẹp hơn những thứ mà trong vương phủ Quốc Tuấn có. Quốc Tuấn nhìn những thứ lạ lẫm ở kinh kỳ, ở nội điện. Còn Thái tôn lại nhìn Quốc Tuấn với tấm lòng ưu ái. Quốc Tuấn có dáng vóc to khỏe. Da dẻ tươi nhuận, sắc mặt hồng hào. Nhà vua tự nhủ: “Thằng bé còn ít tuổi, mà trông có vẻ đường bệ khác thường. Cháu ta dường như có được cái uy thiên bẩm. Vài tuổi nữa, chắc còn khá hơn nhiều”. Thái tôn đem lòng yêu mến. Nhà vua thầm khen: “Thái sư có con mắt tinh đời. Chính Thái sư tâu xin cho Quốc Tuấn được về kinh”.
Chợt có một điều làm nhà vua băn khoăn: “Vậy thì Quốc Tuấn sẽ ở đâu? Ở với ta là điều không phải nói. Nhưng... nhà vua thấy nhói buốt trong lòng. Thật là khó xử. Trước đây Quốc Tuấn cũng đã có lui tới dinh phủ của Hoài vương. Từng tiếp xúc với Thuận Thiên, khi ấy là mẹ kế. Nay thì ngôi bậc đã đổi. Thuận Thiên đã là hoàng hậu. Vậy nếu Quốc Tuấn ở với ta, sẽ gây lúng túng cho cả ba người. Vừa nghĩ tới nhà công quán hoặc quốc tử viện, Thái tôn bèn gạt phắt. Cuối cùng nhà vua nghĩ tới bà chị ruột - Công chúa Thụy bà. “Phải, Quốc Tuấn ở với cô ruột nó là hay nhất. Ta sẽ nhờ công chúa săn sóc”.
Thụy bà là một người khoan nhân, đức độ. Quốc Tuấn xa mẹ, cần có bàn tay dịu hiền chăm sóc. Để Quốc Tuấn nghỉ tạm trong nội điện, nhà vua lên kiệu đến thẳng dinh công chúa Thuỵ bà. Thái tôn vừa ngỏ lời, công chúa cười vui, nhận lời ngay. Bà còn dò hỏi:
- Nếu em bằng lòng, chị sẽ nhận thằng Quốc Tuấn làm con nuôi.
Thái tôn không còn mong gì hơn thế nữa. Nhà vua cảm động nói:
- Nếu sau này cháu Quốc Tuấn nên người, công ấy là của chị.
Công chúa nhả miếng bã trầu vứt đi. Hai ngón tay vội tém vành môi, rồi nhổ phì phì những vụn trầu dính ở mép, ở môi. Bà từ tốn đáp lời em:
- Bệ hạ ban ơn cho chị sớm quá. Cứ để khi cháu nó trưởng thành đã.
Thái tôn mừng rỡ, hai chị em chuyện trò mãi không thôi.
Thụy bà, bấy lâu vẫn có chỗ áy náy ở trong lòng. Nghĩa là hồi Thuận Thiên hoàng hậu sinh được hoàng tử Quốc Khang. Chẳng nói thì ai cũng biết Khang là con ai rồi. Nhưng từ khi hoàng đích trưởng tử Trần Hoảng sinh, và được sách lập ngay làm Đông cung thái tử. Bà chưa hiểu danh phận của Quốc Khang sau này ra sao, bèn hỏi:
- Hoảng được lập rồi, còn Khang thế nào? Có phải họ Trần ta rồi thành lệ không em? Chị sợ không chính được vị rồi sau này khó lắm. Như Vương Liễu đấy, Liễu cứ hục hặc mãi, suýt binh biến.
Thái tôn buồn rầu nghĩ lại các việc đã qua. Nhà vua không trách chị, nhưng tự trách mình. Với vẻ mặt rầu rầu ngài hỏi.
- Thưa chị, nhìn bề ngoài thì thế đấy. Chị còn lạ gì, Khang có phải con đích của em đâu. Nhưng lớn lên, tuỳ tài định chức. Bây giờ đã biết thế nào mà dám nói trước. Để cho qua chuyện này, em xin chị lo dùm việc nuôi dạy, bảo ban cháu Quốc Tuấn. Em sẽ tìm thầy văn, thầy võ thật giỏi để rèn dạy cháu. Không biết sao em thấy mến thằng bé quá. Và em cứ hoài vọng nó sẽ là chỗ dựa trụ cột nhất của triều đình mai sau.
- Bệ hạ khỏi lo, dù cực nhọc đến mấy, chị cũng không ngại. Vả lại, chị cũng phải có trách phận với cháu nữa chứ. Ngay cả khi bệ hạ không uỷ thác cũng thế thôi.
- Dạ, được thế, em cũng yên tâm. Thôi kính chị, em về. Đã bước gần tới kiệu, Thái tôn còn quay lại hỏi công chúa Thuỵ bà:
- Thưa chị, bao giờ thì cháu Quốc Tuấn có thể về bên này được ạ?
- Bệ hạ cứ về đi. Mai chị sẽ sửa một cái lễ sang bên ấy để xin Quốc Tuấn. Phải làm cho có đầu có đuôi kẻo cháu nó tủi thân. Đừng để cháu nghĩ nhầm về chị em mình, rằng nó bị rẻ rúng.
- Vâng, chị nghĩ thế là phải. Kính chị, em về.
- Kính bệ hạ, mai chị sang
Được Quốc Tuấn về ở, công chúa Thuỵ bà vui lắm. Thuỵ bà săn sóc, quí mến như con ruột, khiến Quốc Tuấn yên tâm như khi còn đang ở ấp Yên Sinh vậy. Hàng ngày Quốc Tuấn vào điện Tập Hiền, để nghe quan Tư nghiệp quốc tử giám giảng kinh sách. Và mỗi tháng giành hẳn ra mười ngày để sang điện Giảng Võ, nghe giảng về binh thư và tập bầy, tập phá các thế trận.
Trần Thủ Độ đích thân giám sát việc học binh thư, đồ trận của Trần Quốc Tuấn. Một hôm Thái sư chứng kiến cảnh Quốc Tuấn phá trận. Khi thầy đã bầy xong, hỏi Quốc Tuấn:
- Đây là trận gì?
Quốc Tuấn nhảy phắt lên mình ngựa, ra roi đi vòng quanh trận một lượt, rồi trả lời thầy:
- Thưa sư phụ, đây là trận “bát quái”
- Tiểu tướng nói ta nghe cách phá.
Quốc Tuấn nói cách phá thế trận mạch lạc, khúc triết lắm. Thầy bảo.
- Vậy con phá đi. Nhưng nghe ta dặn trước khi vào trận. Điều cốt yếu con phải xác định cho thật rõ phương hướng chính của bốn cửa Đông - Tây - Nam - Bắc. Lâm trận phải bình tĩnh, gan dạ và vững tin vào cái mệnh của mình.
Quốc Tuấn cúi đầu, tỏ vẻ biết ơn sư phụ, lên ngựa xông thẳng vào trận. Vừa vào trong cửa, tự nhiên cổng thành khép lại rồi có tiếng nổ vang ầm. Cả người, ngựa lăn xuống hố. Rồi không biết bằng cách nào, chàng lại vọt từ hố lên. Ai nấy đều có cảm giác đó là một viên thiên tướng. Vì chỉ có tướng nhà trời mới lên được như thế.
Ngay từ khi Quốc Tuấn tế ngựa vào phá trận, Trần Thủ Độ đã biết ngay rằng cháu ông xác định nhầm phương hướng. Nhẽ ra phải đánh từ cửa chính đông sang cửa chính tây, rồi đánh vòng từ chính nam sang chính bắc, thì phá xong ngay. Nhưng Quốc Tuấn lại đánh vào cửa đông – nam. Thế trận trở nên rối loạn. Quốc Tuấn bèn đánh trở lại, nhưng cửa thành đã bịt kín. Tuy vậy, Quốc Tuấn vẫn tỏ ra bình tĩnh. Dường như chàng thiếu niên này biết rõ, chàng không đánh vào cửa tử, nhất định không nguy hiểm gì cho tính mạng. Song gặp rắc rối là chắc. Điều quan trọng nhất lúc này, là phải bình tĩnh mới tìm được lối ra. Xem xét thế trận xong, Quốc Tuấn bèn thúc ngựa đánh thẳng sang cửa chính tây. Lập tức lửa bốc cháy như một bể dầu sôi, ngựa không dám nhích lên nửa bước. Liều, Quốc Tuấn đánh gấp sang cửa bên cạnh. May thay, đó chính lại là cửa tây - bắc, đối diện với cửa đông - nam.
Thế là cửa thành bật mở. Và chàng thoát ra được ngoài.
Đám thiếu niên trong hoàng tộc, cùng con cái các thế gia, được theo học tại Quốc học viện và Giảng Võ đường, Quốc Tuấn nổi lên như một ngôi sao chói sáng. Thật là một trang văn võ toàn tài. Không những Quốc Tuấn được các bậc bề trên yêu trọng, mà cả đám thiếu nữ con các nhà gia thế gia vọng tộc, cũng ném theo con mắt xanh ngưỡng mộ. Nhất khi Quốc Tuấn ở võ trường trở về, ngạo nghễ ngồi trên lưng con tía mật được phủ bằng cỗ yên nạm bạc, đầu đội mũ trụ vàng, chân dận hia đen, thêu đôi con chim hạc đỏ, lưng dắt thanh bảo kiếm, và cây cung đeo vắt ngang vai, thì có hàng đàn hàng lũ đám con gái, con trai trong thành chạy theo. Và cứ thể đồn thổi cái tin con trai của Hoài vương Liễu, một trang tuấn kiệt vừa xuất hiện tại kinh sư. Ngay cả điều đó cũng làm cho thái sư Trần Thủ Độ và nhà vua hài lòng.
Phu nhân thái sư, cũng luôn lui tới cung của công chúa Thuỵ bà, thăm viếng và uý lạo Quốc Tuấn. Người đẹp lòng và tỏ ta kiêu hãnh nhất là công chú Thuỵ bà. Thật ra mỗi người đều có một sở cứ riêng để yêu thương Quốc Tuấn, cũng như có trăm ngàn lẽ để tự hào về chàng thiếu niên tài kiêm văn võ ấy. Các bậc quốc sĩ cũng như các bậc cố lão trong đám quan văn quan võ, đều quả quyết rằng: nếu qua thi tuyển, Quốc Tuấn có thể đứng đầu bảng võ bảng văn. Hay ít ra văn cũng phải đạt tiến sĩ, võ thì tạo sĩ (2). Nhưng có ai hay, ở hương ấp Yên Phụ xa xôi kia, Hoài vương Liễu đang nở từng khúc ruột mà bấy lâu quặn thắt. Ông sung sướng nhất là việc ông xét đoán con không lầm. Vì vậy, việc nuôi dạy, và đón thầy về trợ giúp ông, trong sự rèn luyện tài năng và nhân cách của Quốc Tuấn, quả là không vô ích một chút nào. ÔÂng hy vọng, mai đây Quốc Tuấn có thể làm nên sự nghiệp lẫy lừng. Nhưng vương cũng tự cười thầm mình, vì có chút hơi đa nghi. Vậy là cũng rõ, thái sư thường không chấp trước các việc đã qua. Rõ ràng ông ta là một người khắc bạc đến tàn bạo, song cũng là con người độ lượng khác thường. Ở ông ta có gì thật khó hiểu, chứ không nhất quán như chú em ta. Một đấng thiện vương. “Mà cùng phải, nếu không có thái sư rắn tay cầm cương thì không biết cỗ xe dân tộc này, đất nước này đã rẽ theo ngả nào, hay lại lao đầu xuống vực”. Khi đã không can dự vào các việc rối rắm, để cho cái tâm thư tĩnh, thường người ta có được những phút suy nghĩ đúng đắn, gần đạt tới cõi thiện, tức là đạt tới sự giản đơn của chân lý. Và có lẽ trong đời Trần Liễu, sau bao cuộc toan tính không thành, đây là phút giây đúng đắn nhất mà ông có được.
Một bữa nọ, Trần Thủ Độ thấy rộn lên ở trong lòng những ý tưởng bấy lâu ông hằng suy nghĩ. Ông bèn lên kiệu tới thẳng nội tẩm gặp nhà vua. Đang lúc Thái tôn chơi trò trốn tìm với hoàng tử Hoảng(3). Thái tử lúc này gần bốn tuổi. Đã chạy nhanh, nói sõi. Thái tử vận chiếc áo dài màu đỏ, đội chiếc mũ trắng có đính hồng ngọc, cổ tay, cổ chân đều đeo vòng ngọc bích, vòng bạc để kỵ nắng gió. Thái tử có nước da trắng hồng, đôi mắt lóng lánh, cũng phát sáng chẳng kém gì mấy viên ngọc trên mũ. Nom thái tử đẹp như một tiên đồng.
Nhìn cha con nhà vua đang vui đùa, thái sư vui lây cái tình thơ trẻ. Ông cứ đứng ngắm nhìn mãi, cho tới khi thái tử chợt nhìn thấy Thủ Độ, bèn khoanh tay: “Chào ông!”. Lúc ấy thái tôn nấp ở sau gốc cột mới ló ra. Nhà vua có vẻ hơi lúng túng.
- Thưa chú…
- Bệ hạ cứ chơi với thái tử đi. Chú rảnh, ghé thăm các cháu thôi. Không có việc gì hệ trọng đâu.
Nhà vua liền gọi mấy tuỳ nữ dẫn thái tử đi chơi. ÔÂng mời thái sư vào bàn trà, rồi sai pha loại trà quí. Cầm chén nước trên tay, thái sư cứ hít hà mãi mùi hương. Đoạn mặt ông ngẩn ra như đang muốn nhớ lại một cái gì đó chưa rõ nét.
Ngầm đoán được ý thái sư, nhà vua lựa lời hỏi:
- Thưa, chắc chú thấy vị trà này hơi quen quen?
- Đúng thế - Trần Thủ Độ mỉm cười - Chú cứ ngờ ngợ trà này chú đã được uống ở đâu, mà nghe có mùi sương móc. Hẳn là không phải trà Hàng Châu(4).
- Chú có trí nhớ tốt thật. Đây là loại trà quí trên Yên Tử, Phù Vân quốc sư mới gửi về cho mấy bịch. Cháu cứ để dành, dùng vào lúc có khách quý. Hoặc giả khi nào trong lòng náo động, dùng ấm trà này, tự thấy trong lặng khác thường. Để rồi đưa sang biếu chú một bịch.
- Chả hoá ra chú lại có được cái duyên may - Trần Thủ Độ vui lắm. Ông vừa nói vừa cười hồ hởi - Bữa nay chú cũng tự thấy lòng trong lặng, nên muốn đến bàn với bệ hạ đôi điều.
- Chắc Quốc công có điều gì răn dạy.
- Nghĩa vua tôi, bệ hạ nói thế, chú khó nghĩ quá. Hôm nay định đến tâu với bệ hạ vài việc.
- Dạ, chú cứ dạy, Thái tôn nhìn Thủ Độ và thầm đoán xem có điều gì hệ trọng lắm không. Nhưng nhà vua xét đoán sao nổi một con người từng trải như thái sư.
- Theo sự thẩm định của hoàng thượng, hiện tình nước ta như thế nào? Trần Thủ Độ hỏi nhà vua với vẻ thăm dò, xem sự trưởng thành của Thái tôn đã tới mức nào, để ông còn liệu.
Thái tôn bị hỏi bất ngờ, nhưng vốn là người thông tuệ, lại nắm vững công việc triều đình, nhà vua vui vẻ nói luôn một hồi khiến quốc công lấy làm thích thú. Rõ ràng là nhà vua đã điều hành được bộ máy quốc gia một cách vững chắc. Và người dân khắp nước đều hướng về kinh sư bái vọng.
Tuy nhiên, nhà vua đôi lúc còn băn khoăn chưa rõ nội tình đất nước khi ông còn nhỏ tuổi, Thái tôn bèn hỏi:
- Thưa Quốc công, xin Quốc công gia ân cho cháu được biết vào các năm đầu của triều ta, có những điều gì quan yếu nhất?
Quốc công chậm rãi thưa:

- Tâu bệ hạ, nếu kể từ khi bản triều ta nắm quyền đại thống, việc làm đáng kể trước tiên là san định được bộ hình luật. Điều đáng nói là việc san định bộ hình luật này, tiến hành ngay trong lúc vừa thống nhất được thiên hạ. Mọi sự còn ngổn ngang. Nạn đói đe doạ. Trộm cướp đầy đường. Lòng người chưa ổn. Chính nhờ có bộ luật vừa nghiêm chính, vừa khoan thứ, nên ta ổn cố xã hội được mau chóng. Tiếp đó ta lại tha bớt tô thuế, tạp dịch. Vét kênh, đào mương, đắp đê, phòng lụt. Liền năm được mùa, người dân phải đóng góp ít. Đời sống dân chúng từ phường phố đến thôn ấp, đã thoát được cảnh lầm than đói khổ. Theo đó, ta ban hành bộ Quốc triều thường lễ. Nhờ có bộ sách này mà ta thống nhất được nghi lễ, phong tục. Có lệ tục mới được hình thành, lại có các tục lệ phiền toái, cổ hủ phải bãi bỏ. Người dân lúc đầu chưa quen. Sau thấy thuận tiện, mọi người nô nước làm theo. Thành thử thuần phong mỹ tục đã in được vết Trần trong nền văn hoá Đại Việt. Còn các việc về sau này chắc bệ hạ đã tường.
- Thưa chú, các việc gần đây như soát tù, đại xá và miễn một nửa số tô ruộng cho thiên hạ, là vì mùa hè đại hạn, màu đông lại mưa lũ. Sợ có điều gì thất đức, Trời giáng hoạ, cháu cảm thấy run sợ, nên phải sửa mình. Còn như việc tu bổ Quốc tử giám là việc làm để vừa lòng các bậc lão thần, và các tầng lớp nho sĩ trong nước. Vả lại, một nước văn hiến, phải lấy việc chăm lo đạo học làm đầu. Các việc ấy, tự tay cháu làm, nên hiểu được giá trị của nó. Nhưng đến việc chia nước làm mười hai lộ như ý chú, thay vì hăm bốn lộ như triều Lý đã chia. Điều đó quả thật cháu không hiểu. Nhưng cháu nghĩ, việc gì chú đã làm đều là có chủ ý và có lợi cho dân, cho nước. Thoáng một chút băn khoăn, Trần Thủ Độ thầm khen: “Biết nghi hoặc trước mỗi việc làm, là điều cần thiết đối với những ai có trách nhiệm, có lương tâm. Vậy là cháu ta đã đủ sức lèo lái được con thuyền quốc gia. Phải. Đã đến lúc cần phải trao lại toàn bộ quyền bính cho nhà vua”. Thái sư cười, nói :
- Việc bệ hạ băn khoăn thế là phải. Chú chỉ muốn nói một điều. Việc chia nhỏ ra cho vừa tầm tay với, như nhà Lý làm trước đây là đúng. Nó đúng với nhà Lý hồi quốc sơ. Bởi chưng, nhà Đinh - Lê tiếng rằng đã hình thành một quốc gia, song vẫn còn non yếu lắm. Việc phòng thủ phải dựa vào núi rừng, hang động. Việc tổ chức bộ máy nhà nước, đều nhất loạt nằm trong tay một viên đô giám. Từ châu quận lên đến triều đình đều theo đó mà làm. Vua là một tổng đô giám. Mọi việc còn đơn sơ lắm. Vì sao vậy? Là vì dân trí còn mù mờ. Ngay cả những người đứng đầu bộ máy nhà nước cũng mù mờ, chữ nghĩa chẳng có, lễ giáo cũng không.
Sang đến nhà Lý, cõi bờ mở rộng. Văn hiến tỏ sáng. Kỷ cương lễ nghĩa rõ ràng. Thế nước đã vững, đủ sức hùng cứ một phương. Có thể sánh ngang với nước lớn lân bang. Hóa nên kinh sư phải là nơi giữa thanh thiên bạch nhật. Là nơi tụ hội của bốn phương. Do đấy nhà Lý đã dời đô về thành Đại La. Bộ máy hành chính lập tức được lập ra, để điều hành công việc quốc gia. Các lộ phải chia nhỏ như thế thì quan mới sát dân, mới điều khiển được dân. Ấy là bởi năng lực quan lại thời ấy còn có hạn. Nhiều người làm quan mà chưa biết chữ. Việc sổ sách giấy tờ: sổ đinh, sổ điền, sổ binh, sổ lương, tô thuế, mọi thứ giấy tờ phải tính toán, phải nhập tâm, mà châu to lộ lớn kham sao nổi.
Thấy Thái tôn chăm chú lắng nghe, Trần Thủ Độ ngừng lời, chiêu một hụm nước, lại nói:
- Tâu bệ hạ, triều ta, dựa trên các việc nhà Lý đã làm. Nhưng có cải biên đi cho hợp với hiện tình đất nước. Ta đã lập được bộ máy từ làng xã đến triều đình. Các chức sắc đều được chọn lựa chặt chẽ, lại được triều đình cấp cho lương, bổng. Các xã quan đều là những người ít nhiều có chữ nghĩa. Các quan lại từ châu, quận trở lên, phải là những người xuất thân có học. Bộ máy của ta đã tinh vi, lại được người có học thức nắm giữ. Hóa nên gom lại có lợi hơn. Vừa bớt được số chức dịch, vừa dựa vào đó để tổ chức các đơn vị dân binh lớn, khi cần nhà nước điều động nhanh hơn. Lương thảo cũng tập trung vào những kho đụn lớn hơn, tiện cho việc cung cấp hoặc chuyển vận. Chia lại bộ máy không những tiện cho việc hành chính, mà còn tiện cho việc dụng binh. Tâu bệ hạ, bấy lâu nay thần canh cánh lo việc nhà Tống với việc quân Thát- đát dòm ngó. Mừng rằng bệ hạ đã đủ trí lực, tài đức, thần xin thành thật tâu trình. Từ nay mọi việc trong ngoài: Phán, xử ra sao xin trao lại để bệ hạ điều hành, thần không dám dự quyết nữa. Nếu bệ hạ còn tin yêu, chỉ xin dự bàn. Duy có một việc, thần cho rằng thần cần phải giúp bệ hạ, ấy là việc binh nhung. Tuy nhiên, nếu cất nhắc được đám tướng trẻ tài đức, xin bệ hạ cho thần được lui về di dưỡng tinh thần là hay nhất. Bởi từ khi nhà Trần ta mở nghiệp, hạ thần đã theo hầu đức tiên quân đánh dẹp từ thuở còn niên thiếu. Lại kíp tới khi tiên quân uỷ thác cho việc phụ chính, trong nước năm bè bảy mối, trong triều cũng rối rắm nhiều bè, lúc nào thần cũng lo sợ như ngồi trên miệng núi lửa. Nay nhờ hồng phúc tổ tiên, mọi việc đều có mối rường, kỷ cương. Xin bệ hạ hãy nắm lấy.
Trần Thủ Độ dứt lời, chợt thấy nét mặt Thái tôn buồn rười rượi. Nhà vua nói:
- Dạo trước cháu đem Khuê Kình đến thưa với chú điều tâm huyết đó, là cốt tránh thiên hạ dị nghị. Chứ không phải lòng cháu có chút hồ nghi. Phụ hoàng đã bỏ cháu đi từ buổi còn thơ dại. Nhờ có chú chèo chống, thế nước nay đã vững. Chú cháu họ tộc đến lúc cùng hưởng lộc thái bình, chú lại định bỏ cháu bơ vơ chăng? Cháu cứ muốn chú sống lâu, mạnh khoẻ, minh mẫn và mãi mãi nắm giữ trọng trách quốc gia.
Trần Thủ Độ rưng rưng cảm động:
- Vẫn biết bệ hạ có lòng quý mến chú, nhưng tình thế bây giờ khác lắm rồi. Bộ máy nhà nước cần phải được mở rộng cho những người tài đức bên ngoài tham gia. Không thể chỉ chuyên chế trong tay một số người họ Trần ta được. Kẻ sĩ bất mãn. Dân chúng cũng bất mãn. Nước là của trăm họ. Trời cho họ Trần ta có phúc lớn thì được ở trên trăm họ. Nhưng còn bộ máy, phải mở rộng hơn nữa cho người ngoài vào. Nếu không, các khoa thi Nhâm thìn (1232), Kỷ hợi (1239) ta tuyển lựa các thái học sinh để làm gì? Mong bệ hạ xem xét cho kỹ, kẻo vì tình riêng mà quên cả việc lớn thiên hạ.
- Dạ thưa chú, chú đã dạy thế, cháu xin chú coi sóc cho việc binh nhung. Nhưng mỗi khi quyết việc gì hệ trọng, cháu sẽ thỉnh chú để chú xem xét. Thưa chú, có tin tức gì bên kia biên ải đưa về không ạ? Nhà Tống với quân Thát xâu xé nhau đến đâu rồi.
- Tâu bệ hạ, Nhà Tống ươn hèn cứ lùi dần. Vừa đây, Tống Lý tông vì lòng tham muốn lấy lại phủ Khai Phong do quân Kim chiếm đóng, nhưng không đủ lực. Đã nhận lời hiệp tác cùng đánh Kim với quân Thát -đát. Nhưng diệt xong Kim, Thát-đát quay sang diệt Tống. Vua tôi đại bại chạy dài xuống phía nam.
Thái tôn gật gù vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Một lát, nhà vua hỏi:
- Thưa Quốc công, theo ý cháu, trước sau rồi người Thát-đát cũng chiếm được Trung Hoa. Song, chiếm cho hết được dải đất mênh mông ấy không phải là chuyện một mai một chiều có thể làm nổi. Vì vậy ta vẫn còn có thời cơ lo việc giữ nhà.
- Tâu hoàng thượng, đúng như vậy. Nhà Tống tuy yếu hèn, nhưng dân Tống và lớp sĩ phu không dễ gì khuất phục nổi họ. Bên kia biên ải im ắng lắm. Lính Tống nhút nhát, nhu nhược. Lỡ có việc gì tranh chấp xảy ra ở vùng biên thuỳ, các biên tướng Tống thường làm ngơ hoặc nhượng bộ. Còn biên ải phía tây nước Đại Lý do quân Thát-đát chiếm giữ, cũng không có động tĩnh gì. Có điều ta phải đề phòng. Thát-đát có lối đánh kỵ binh sở trường. Quân tinh nhuệ lại thiện chiến, mỗi ngày chúng có thể tiến hàng trăm dặm, thoắt tới, thoắt lui, xuất quỷ nhập thần, khiến quan quân Tống phải lao đao. Tâu hoàng thượng, bấy lâu thần đang canh cánh lo cách đánh, đỡ thế nào để quân kia không phát huy được cái sở trường của nó.
- Dạ, việc đó chú nên hiệp các tướng lại mà bàn. Chú phải lo cử lính viễn thám cải dạng đi sâu vào đất Thát, xem xét việc tổ chức binh, lương, quân mã, quân bộ, quân thuỷ và phương lược dụng binh của họ thế nào, để còn liệu cách chống đỡ. Thưa chú, việc này lớn lắm, quan hệ đến sự mất còn của nhà nước Đại Việt. Chú thử xem sức quân, lòng dân như thế, liệu quân Thát vào cõi, ta có đủ sức đánh không?
- Tâu bệ hạ, lòng bệ hạ yêu dân như con. Luôn lo lắng chăm chút cho họ. Chắc họ cũng chỉ mong có dịp để tỏ lòng trung với nước. Xin bệ hạ cứ bình tâm. Thần xin tận lực lo việc này. Dạ, bữa nay đến gặp bệ hạ, xin tâu có mấy việc như vậy. Chào bệ hạ, chú về.
Thái tôn toan đứng dậy tiễn Trần Thủ Độ, chợt nhớ ra điều gì. Nhà vua giơ tay ngăn lại:
- Thưa Quốc công, hai khoa thi trước, nhà nước cũng lựa được khá nhiều anh tài. Nay bổ dụng đã hết. Vả lại để cho kẻ sĩ đua tài ra sức giúp nước, cháu định từ nay, việc thi thái học sinh cứ bảy năm một lần. Dạ, theo cháu sớm hơn nữa e không được, mà muộn hơn chắc nhiều người nản. Nếu chú thấy thế là được, sang năm triều đình sẽ ban lệ này, để lớp sĩ phu an tâm rèn rũa việc học.
- Bệ hạ nghĩ thế nào là đúng, cứ thế mà quyết. Chú chữ nghĩa lõm bõm không dám lạm bàn việc văn. Chỉ mong sao nước có nhiều người tài đức.
- Xin Quốc công từ nay đừng nhắc đến việc chữ nghĩa nữa. Quốc công không có thời gian để nghiền ngẫm tam giáo, cửu lưu đó thôi. Cớ sao Quốc công lại tự nhún mình thái quá làm vậy. Nhà vua nói và nhìn trên khuôn mặt quắc thước của ông chú, để dò tìm xem ý tứ Quốc công ra sao. Trần Thủ Độ vừa nở một nụ cười tươi, làm khuôn mặt ông bừng sáng. Nhà vua nói tiếp:
- Quốc công chẳng thấy, biết bao người chữ nghĩa giỏi đến phát rồ lên, nhưng có làm được việc gì ra hồn. Chung qui cũng chỉ là bọn thợ nói, ích gì cho thiên hạ. Còn như Quốc công, chữ nghĩa tuy ít thật, nhưng Quốc công đã làm biết bao việc lớn. Có nhẽ trước Quốc công, chưa ai làm được như thế. Và sau Quốc công, chắc gì có người theo được. Quốc công là bậc kỳ tài có một không hai trong lịch sử nước nhà mà không tự biết, hoặc không cần biết đến.
Trần Thủ Độ cười lớn. Tiếng cười vang lên với vẻ sảng khoái khác thường. Đoạn ông im bặt và nói dằn từng tiếng.
- Vương thượng ơi, sao lại coi thường người có chữ nghĩa được. Nhớ hồi mới dấy nghiệp, thế nước rối như một búi bòng bong, nếu không được Hoàng tiên sinh - một bậc cao sĩ dạy bảo cho đường đi nước bước, thời thần cũng chỉ là một tên võ phu, với một số võ công nhì nhằng. Rồi nhắm mắt lao vào con đường tranh chiến với các phe phái, đẩy đất nước vào cảnh nồi da xáo thịt. Chớ làm sao có thể tạo dựng được nghiệp lớn cho nhà Trần hôm nay.
Bỗng Trần Thủ Độ có vẻ bùi ngùi. Cặp mắt ông mơ màng nhìn vào một cõi xa xăm nào đó. Một lúc sau, ông mới lại cất được nên lời:
- Tới nay, thần vẫn còn hận vì đức mỏng nên không lưu giữ được tiên sinh. Không, ngày ấy hoàng thượng còn nhỏ lắm. Thần đã thờ tiên sinh như một bậc quốc phụ, lại mời tiên sinh tham dự triều chính. Nhưng tiên sinh một mực chối từ. Người chỉ nhận làm môn khách của thần, chứ không chịu làm chính khách của nước. Đúng là những người có đức lớn, không dễ gì lấy quyền uy và phú quí, vinh hoa để lôi kéo họ được. Sai khiến họ, quả là một điều khó. Cực khó.
Thái tôn tỏ vẻ bùi ngùi vì nuối tiếc đã không giữ lại được một bậc quốc sĩ.
Thái tôn cũng cảm thấy chạnh lòng khi nghĩ tới sự thiếu vắng quan thừa chỉ - người đã khai mở cho nhà vua nhiều điều tốt đẹp. Thái tôn nói đầy vẻ tiếc nuối:
- Thưa Quốc công, việc Hoàng tiên sinh bỏ đi là tự ý ông ta không muốn ở lại giúp đời. Còn như việc ra đi của quan thừa chủ, mới làm trẫm ân hận. Suốt đời ân hận. Xin quốc công từ nay hãy vì trăm họ mà trồng cây đức, sao cho người hiền không bỏ chúng ta đi nữa.
Trần Thủ Độ tự nghĩ: “Quan thừa chỉ bỏ đi, chẳng riêng gì nhà vua ân hận, chính ta còn cảm thấy tủi hổ và đau lòng khôn nguôi. Bởi chưng kẻ nắm giữ trọng trách quốc gia, mà để cho người tài đức phải bỏ nước ra đi, đấy là sự phỉ nhổ, sự khinh thị của họ đối với bộ máy nhà nước. ÔÂi, ta cho đó là một vết nhơ, một sự nhục mạ đối với thái sư thống quốc như ta”. Chợt nhớ, nhà vua vừa dặn. Với vẻ nghiêm trang kính cẩn, Trần Thủ Độ đáp:
- Tâu thánh thượng, nếu việc đó còn xảy ra, xin bệ hạ hãy chém đầu thần để giữ nghiêm phép nước.
Chú thích:
1. Cáo: Một loại văn hành chính cung đình. Tuỳ theo mức độ quan trọng khác nhau mà dùng các thể khác nhau như: Chiếu, chế, cáo, biểu v.v… kiểu như thông tri, chỉ thị, giấy triệu tập… của ta bây giờ.
2. Tạo sĩ: một bằng cấp về ngạch võ, tương đương với bằng tiến sĩ bên văn.
3. Trần Hoảng sau là Thánh tôn. Anh là Trần Quốc Khang không được lập, vì khi Thuận Thiên về với Trần Cảnh, đã có mang với Trần Liễu ba tháng. Khang chính là con của Liễu.
4. Thủ đô cũng là đất ăn chơi của nhà Nam Tống.
CHƯƠNG 28
Lệ thi Thái Học Sinh vừa được vua ban năm trước. Năm sau mở khóa thi đầu tiên theo lệ mới. Sĩ tử cả nước nô nức đua tài để vào mùa xuân này đọ sức. Nghe nói khoa này sẽ lấy tam khôi (1), và nhà vua đích thân chấm, chọn các bậc tiền tài cho đất nước.
Vừa ăn tết xong, kinh thành Thăng Long còn chưa tan hết khói pháo, sĩ tử các nơi đã dập dìu kéo nhau về quốc học viện để dự các buổi bình văn. Một bữa nọ, Thái tôn ghé qua nhà Quốc tử giám, mới từ cổng nhìn vào đã thấy đám nho sinh ngồi la liệt chật sân, vẫn còn phải đứng ém trong góc vườn để nghe quan tư nghiệp thuyết giảng. Nhà vua nhìn đám sĩ tử đông nghịt, chen chúc nhau, nhưng vẫn im phăng phắc, lòng ngài vui như mở hội - Đây là dấu hiệu của thời thịnh. Giọng quan Tư nghiệp quốc tử giám sang sảng: “… Cái phần chiêu minh ở trong người ta gọi là tâm. Tâm là cái thần minh ở trong vạn vật, là cái tia sáng của Trời phú cho ta để hiểu biết các sự vật. Vũ trụ sở dĩ có là bởi có cái tia hồi quang ấy, chứ không thì dẫu có cũng như không mà thôi. Người ta có cái phẩm giá tôn quí, là cũng nhờ có cái tâm. Cho nên hễ bỏ cái tâm đi, thì vũ trụ chỉ là một khối vật chất vô giác. Bởi vậy, người ta phải giữ cho cái tâm được trong lặng. Tâm có trong lặng thì mới mẫn nhuệ mà cảm ứng được các điều thiện, ác để hành hóa việc người cho hợp với thiện đạo của Trời…” Thái tôn rất bằng lòng với lời thuyết giảng của quan tư nghiệp, về lẽ hằng mà đức Khổng Tử đã từng rao giảng trên thế gian, cách đây từ mấy ngàn năm trước.
Có người vào bẩm, đức vua ngự giá tới thăm quốc học viện. Quan quốc tử giám tế tửu lập cập từ nhà học đường chạy ra, rập đầu lạy tạ, xin nhà vua tha tội.
Thái tôn ôn tồn nói:
- Quan tư nghiệp hãy bình thân. Mau trở lại tiếp tục cuộc bình văn. Ta rất vui, thấy sĩ tử cả nước đã sớm về kinh tụ hội, mặc dù còn lâu mới tới hạn kỳ thi tuyển. Nhìn đám nho sinh trong sân quốc tử giám, lại nhìn quan tế tửu với vẻ ái ngại, nhà vua nói.
- Quốc tử giám chật quá! Chật quá! Để các sĩ tử đã về kinh đều được nghe giảng trước ngày thi, ta sẽ cho mở cửa Chiêu Văn quán, Sử quán, Tập Hiền viện để các quan vào đấy bình văn, các sĩ tử chia nhau đi nghe giảng. Ngay cả toà Ngự Diên, ta cũng cho mở cửa, đích thân ta sẽ bình giảng. Nói rồi nhà vua quay đi. Khuôn mặt ngài ngời sáng như lấp lánh ánh hào quang.
Thăng Long rét muộn. Sau lễ thượng nguyên(2) rồi mà trong các ngõ xóm, các vườn nhà, đào, mai vẫn còn phô sắc thắm. Nhất là trong vườn ngự uyển, thôi thì đủ sắc đủ hương, trăm hồng ngàn tía. Đào phai, đào thắm xen lẫn hồng trà, bạch trà, hải đường. Lại có cả hoàng mai, bạch mai điểm xuyết một cách kín đáo nhưng không kém phần rực rỡ. Và kìa, những khóm quất, quả còn sai trĩu trịt, thắm một màu vàng. Nhưng các cành nhánh lại bật nở những nụ hoa trắng phau như những hạt bỏng thoang thoảng đưa hương. Hương quất, hương bưởi, hương nhài, hương lan… cùng các loại hoa thơm khác hoà quyện với nhau. Và gió đem mùi thơm đi khắp kinh thành.
Quan đại an phủ sứ của kinh sư khuyến cáo dân chúng kinh kỳ dọn dẹp đường phố, sửa sang tư thất để đón khách bốn phương.
Người Thăng Long vốn hiếu khách, nên nhà nào có máu mặt một tí đều lo chăng đèn, kết hoa, sửa sang nhà cửa. Thật ra thì cũng không phải sửa sang gì cho lắm. Bởi mới tết ra, nhà cửa còn sạch gọn. Chỉ cần treo lại cây đèn lồng. Soạn sửa lại phòng văn. Các đồ văn phòng tứ bảo còn thiếu gì mua sắm thêm. Mực, son, giấy, bút lông thỏ. Mua sắm sẵn đấy cho lịch thiệp thôi, chứ các nho sinh đã về kinh, thì họ cũng đem theo đầy đủ cả. Phố phường chỗ nào cũng rực sáng ánh đèn ban đêm, tấp nập người qua lại ban ngày. Hết giờ bình văn, các sĩ tử từ các cửa Đại Hưng, cửa Diệu Đức, cửa Tường Phù, cửa Quảng Phúc trong hoàng thành tỏa ra phố phường đông nghì nghịt. Đông nhất vẫn là các phố Hàng Giấy, Hàng Bút. Các cửa hàng đua nhau trang hoàng rực rỡ. Các cô gái ngồi bán hàng duyên dáng chào mời các quan trạng, các tiến sĩ tương lai. Trong số các sĩ tử ấy, chắc chắn sẽ có người đoạt tam khôi. Bảng vàng, bia đá, danh thơm muôn đời. Các cô gái ngồi sau những quầy hàng kia, trong lòng cô nào chẳng thầm mơ ước mình lọt vào mắt xanh của các vị đại khoa, mà tương lai chẳng còn xa xăm gì nữa. Các phố Hàng Vải thâm, Hàng Khăn lúc nào cũng nườm nượp người vào ra mua sắm. Nhưng đông hơn cả vẫn là phố chợ Cầu Đông(3). Đây vốn là một phố buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền. Đây cũng là phố có nhiều nhà trọ, hàng quán. Suốt từ sáng sớm đến tối khuya, không lúc nào qua đây không thấy mùi thơm xào nấu, mùi thịt nướng, thịt quay … Tiếng cười giòn giã, tiếng chào mời chèo kéo, tiếng í ới gọi nhau lên đò, xuống đò. Tiếng xe ngựa rậm rịch. Vắng nhất trong các phố phường vào những ngày thi cử, là phố Hàng Lọng. Các sĩ tử không một ai ló mặt qua đây. Vì ai cũng sợ lỡ ra, các chủ hàng mời mua lọng, thì thật là xui. Bởi vậy, Hàng Lọng các nhà đều đóng cửa im ỉm. Nhưng đằng sau những khuôn cửa đóng kín kia, các tay thợ, các gia nhân làm túi bụi ngày đêm không hết việc. Và tới khi kéo bảng để danh rồi, các nhà ở đây đều mở tung cửa đón khách. Tới lúc này, lại không một phố nào lộng lẫy và đông vui bằng phố Hàng Lọng. Vì rằng các quan trạng, thám hoa, bảng nhãn… một khi đã nhận ÂN TỨ VINH QUI(4) ai chẳng phải mua cho mình một chiếc lọng, để về bái tổ gia hương.
Tháng hai, hoa xoan nở tím cả kinh thành, muỗm đã kết trái xanh non. Hoa chanh, hoa bưởi vẫn còn ngan ngát hương thơm. Người tứ xứ kéo về kinh thành đông nghẹt. Lều chõng, gánh gồng, bầu, níp giăng giăng. Tới lúc này sĩ tử đều phải có mặt hết ở kinh sư, để độ mươi ngày nữa là khoa thi bắt đầu. Dân kinh thành náo nức mong chờ xem quan trạng đầu tiên sẽ là ai. Và người ấy tài giỏi đến mức nào. Tin đồn đích thân hoàng thượng sẽ chấm các bài xuất sắc nhất để chọn tam khôi, càng làm cho kinh thành chộn rộn lên cái không khí của hội đua tài.
Túa về kinh sư đủ thứ đủ hạng người. Nào văn nhân, sĩ tử. Nào nhà buôn. Nào các giáo phường. Sĩ tử cũng chia làm năm bảy hạng. Người giàu có thì ngựa xe, võng cáng, kẻ hầu người hạ. Người bậc trung thì tiểu đồng quẩy theo tay nải áo quần, bút nghiên. Người nhà gánh gạo, gánh chõng lều, lốc thốc đi theo. Đến như những người nghèo túng lại rớt mấy khoa thi trước, tuổi vừa cao, vừa gò lưng gồng gánh tất cả các thứ, như một cái ngựa thồ.
Đất Thăng Long văn vật, đón nhận một cách hào phóng sĩ tử từ bốn phương về dự tuyển. Quan đại an phủ sứ của kinh sư đã cho dựng mười hai dãy nhà ở phía sau Quốc tử giám, để đón nhận và cung phụng những hàn sĩ không đủ tiền vào nhà trọ. Lại sức cho các nhà hàng quán trọ, không được tăng giá tiền ăn tiền trọ, đối với các sĩ tử và thân nhân. Tuy vậy, nhiều nhà phú hào, nhà buôn, vừa mang tính hào phóng đất kinh sư, vừa thầm mong phúc ấm lại có một vị đại khoa nào đó đoái tưởng đến con gái mình, thường ra đường chào đón, mời gọi các hàn sĩ về nhà mình trú tạm. Trong suốt thời gian nho sinh lưu trú tại các tư gia ấy, đều được đón tiếp, phục dịch thật là ưu hậu, thật là nồng nhiệt, với tất cả sự hào hoa của đất kinh sư văn hiến.
Khoa thi này nhà vua đích thân kiểm xét các mặt, nên các quan từ sở tại cho tới các đài, sảnh, viện, các… đều lo chạy xốn xáo, cốt sao mọi việc thật chu toàn trước khi hoàng thượng ngó tới. Quan chánh chủ khảo đã cho nhóm họp các thuộc lại tới ba lần. Nói rõ các chức phận của từng người, từ viên Di phong(5), Khảo tự hiệu(6), Đằng lục(7) đến các quan Thí viện(8), Khảo viện(9) ai nấy đều phải thuộc nằm lòng các phần việc được giao phó.
Không khí văn vật trùm phủ khắp đất Thăng Long. Không một người dân nào không mong có dịp được làm một nghĩa cử, đối với các tao nhân mặc khách, từ muôn phương về kinh sư tụ hội. Nhiều nhà sáng sớm đã nấu nước chè khiêng ra đầu đường, để khách qua lại tiện dùng. Không thiếu các nhà ngày nào cũng làm sẵn dăm bảy mâm cơm, để nếu có khách quen, khách lạ ghé vào là có thức ăn ngay. Khách bốn phương, ai gặp khó khăn thiếu thốn gì, chưa kịp bầy tỏ hết lời, đã được bà con phường phố sẵn sàng đáp ứng. Người Thăng Long vốn hào hoa như thế đấy.
Được tin bữa nay nhà vua sẽ giảng kinh sách tại toà Ngự Diên(10), từ sáng sớm sĩ tử đã nườm nượp kéo nhau vào ngồi kín từ trong nhà tới ngoài sân.
Kiệu vừa hạ xuống trước toà Ngự Diên, người ngồi chật cứng từ cổng không có lối vào. Quân thánh dực thét ầm ầm, lính hổ bôn xông vào đám đông ra roi định dẹp. Thái tôn vội ra hiệu cho viên đô giám bắt lính ngừng tay. Nhà vua ôn tồn bảo viên đô giám:
- Các ngươi không dạy quân phải biết giữ lễ với kẻ sĩ. Có biết những người này là như thế nào không? Nhà vua chỉ về phía sĩ tử hỏi, và nhìn viên đô giám với vẻ trách móc - Họ là tinh hoa của đất nước, là bộ óc của cả dân tộc. Mai đây họ sẽ là những người nắm giữ các trọng trách quốc gia mà lũ ngươi dám coi thường, thét mắng như một đám ăn mày. Không nể, vì có giới sĩ phu cả nước về đây, ta phải cho treo cổ ngươi, để làm gương cho những đứa càn dỡ dám coi thường kẻ sĩ. Nói rồi Thái tôn đi vào toà Ngự Diên. Sĩ tử dẹp lối cho nhà vua đi, và mọi người đồng thanh hô: “Hoàng thượng thiên tuế! … Thiên tuế… !”
Thái tôn vừa ngồi vào chiếc ghế cao trên toà giảng, ngài đưa mắt nhìn khắp một lượt từ trong nhà ra ngoài sân. Phần đông họ là những người trai tráng, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Những gì suy nghĩ hoặc lo toan đều hiện hết trên các khuôn mặt. Nhà vua có thể đọc tâm tư họ như đọc các trang tạp biên thực lục(11). Nhìn kỹ, nhà vua thấy có những ông già râu tóc bạc phơ. Loáng thoáng có cả mấy đứa trẻ chỉ trên mười tuổi. Thái tôn lấy làm lạ. Ngài tự nghĩ: “Tài năng gì mà đám trẻ chưa ráo đầu máu đầu kia cũng dám chen vào đây?”. Rồi ngài tự trả lời: “Hẳn là chúng phải vượt được các kỳ thi hương, thi hội rồi quan trường mới cho vào đây chứ. Ôi, nếu quả bọn trẻ kia thật sự có tài thì phúc cho nước nhà lắm lắm”. Nhà vua sung sướng tự hỏi: - “Thời thịnh chăng”- “Thần đồng xuất hiện chăng?”.
Bắt đầu buổi thuyết giảng của mình, Thái tôn không đi hẳn vào một kinh sách nào cả. Vì việc đó, sĩ tử đã nghiền ngẫm thấu đáo. Nhà vua chỉ hỏi xem, có ai còn mắc vướng điều gì chưa hiểu trong năm kinh(12), bốn sách(13), ngài sẽ giảng giải cho. Tức là nhà vua chỉ giải đáp kinh nghi(14) mà thôi. Điều đó, đủ nói kiến thức của nhà vua đã đạt tới chỗ uẩn ảo lắm, thâm viễn lắm.
Suốt một ngày dẫn dụ xong, nhà vua ôn tồn nói:
- Ta vui mừng vì sĩ tử cả nước đều cố công rèn rũa đạo học, ngõ hầu đem tài trí ra phụng sự quốc gia, dân tộc. Để tỏ rõ sự khuyến khích của triều đình đối với sĩ tử. Bắt đầu từ khoa này, nhà nước sẽ lấy tam khôi. Đích thân ta chấm, chọn. Ngoài ra, cứ theo tài năng xếp thứ bậc cho đỗ vào hàng thái học sinh(15). Thái tôn vừa nói tới đây thì thấy sĩ tử có vẻ nhớn nhác nhìn ra ngoài. Nhà vua cũng đưa mắt, chợt thấy Quốc Tuấn và theo sau là công chúa Thiên Thành đang bước vào nội thất. Nhà vua tự hỏi: “Quốc Tuấn đi nghe bình văn đã đành. Lại em gái ta cũng yêu thích thi thư? Thật là một sự lạ. Sự lạ”.
Quốc Tuấn từ khi về kinh, nổi danh là một trang tuấn kiệt. Tài kiêm văn võ. Sáu tuổi chàng đã biết làm thơ. Nay thì lục thao tam lược, không gì là không thông hiểu. Sĩ tử nghe danh Quốc Tuấn đã tỏ lòng ngưỡng mộ từ lâu. Nay được diện kiến, làm gì mà chẳng xôn xao. Chàng có dáng người cao, to. Khuôn mặt vuông vức. Mắt sáng như sao. Cặp mắt to hơi xếch. Lông mày rậm. Nước da sáng lúc nào cũng hồng hào. Môi đỏ như tô son. Quốc Tuấn có giọng nói sang sảng vang ấm như tiếng chuông. Lời nói đanh gọn. Toàn bộ người chàng toát lên một vẻ uy nghi đường bệ, nhưng lại có sức hấp dẫn lạ lùng. Chàng đi tới đâu, từ trẻ đến già đều mến mộ. Nhất là các cô gái con các đại gia, thầm ước ao được gần gũi. Từ khi chàng về ở với công chúa Thuỵ bà, công chúa Thiên Thành tuy sống trong nội điện, nhưng thường lui tới viếng thăm. Hai cô cháu quyến luyến nhau lắm. Thiên Thành tuy là cô ruột, nhưng lại là con út của thượng hoàng Trần Thừa. So ra còn thua Quốc Tuấn tới vài ba tuổi. Thiên Thành đang độ tuổi cập kê, nhan sắc nàng rực rỡ như một đóa phù dung. Bữa nay nàng mặc áo thụng thắt đai ngọc, may bằng thứ nhiễu Hàng Châu màu hồng nhạt, tóc đen mềm mại buông xoã hai bờ vai. Quần màu thiên thanh. Chân dận hài nhung màu tím nhẹ, nạm hạt châu lấp lánh. Cổ đeo vòng ngọc bích nạm vàng. Nom nàng như một đóa hoa biết đi. Nàng tới đâu là hương thơm dìu dịu tỏa ra. Cứ như mùi thơm tho ấy toát ra từ da thịt nàng. Hiện thời nàng là bông hoa rực rỡ nhất kinh thành. Nghe đâu bên nhà Nhân Đạo vương, đã đánh tiếng với hoàng thượng xin nàng về cho Trung Thành vương(16). Giới sĩ tử không những hâm mộ sắc đẹp của công chúa Thiên Thành, mà còn ngưỡng mộ Quốc Tuấn, ai cũng mong được gần gũi, được kết bạn với chàng.
Khi thấy đám sĩ tử đã ngồi yên, Quốc Tuấn, Thiên Thành cũng chăm chú nhìn về phía nhà vua, Thái tôn lại tiếp:
- Ta mong sĩ tử cả nước hãy gắng gỏi lên. Mùa thu này ta sẽ mở thêm khoa thi tam giáo. Ai đỗ, cho xuất thân(17). Ta nghĩ rằng Đạo học của nước ta dựa trên căn bản của tinh thần tam giáo. Phải biến cái tinh tuý của cả ba đạo lớn đó cùng với nền văn hoá truyền thống của nước ta thành một Chính đạo, một Thiệân đạo của Đại Việt. Các quan chức nắm giữ bộ máy nhà nước của ta, không thể không thông hiểu tam giáo. Nói xong nhà vua xuống đàn. Sĩ tử lại toả ra khắp nơi về nhà trọ.
Khi mặt trời lên tới đỉnh đầu, quan đề điệu cho đọc thể lệ trường qui, để hôm sau sĩ tử vào cuộc đua tài. Cả kinh thành bừng lên không khí của ngày hội…
Qua kỳ thi, Khảo viện lọc tất cả được bảy quyển ưu nhất, đệ trình lên hoàng thượng chọn lấy tam khôi. Cân nhắc suốt hai ngày đêm, Thái tôn lựa được ba quyển mà nhà vua cho là ưu việt nhất, và đã khuyên vào đó các chữ Nhất - Nhị - Tam.
Sợ rằng việc chọn lựa của mình có phần chưa chuẩn mực lắm, nhà vua cho Khảo viện minh xét lại một lần nữa. Các quan giám khảo, đồng giám khảo sau nửa ngày phân giải đều cho rằng sự thẩm định của nhà vua là sáng suốt.
Sau buổi kéo bảng đề danh, các tân khoa được vào điện Thiên An diện kiến hoàng thượng.
Trước cửa điện, quan đề điệu lại xướng từng tên. Bắt đầu từ trạng nguyên.
Tiếng quan đề điệu vang vang:
Nguyễn Hiền(18) – trạng nguyên. Quan đề điệu xướng đến lần thứ ba, thì có một cậu bé mặt mũi khôi ngô bước vào thềm điện.
Thái tôn sửng sốt nhìn cậu bé đi vào, với dáng đi chững chạc.
Quan đề điệu xướng tiếp:
- Lê Văn Hưu (19), bảng nhãn.
Một chàng trai tuấn tú, mà còn đậm lông tơ, bước tiếp theo quan trạng.
Lại xướng:
- Đặng Ma LaC(20) thám hoa lang.
Một cậu bé mặt đẹp như một viên ngọc minh châu bước tiếp theo tân khoa bảng nhãn.
Không những nhà vua mà cả Khảo viện đều không tin ở mắt mình nữa. Thái tôn sau một phút bàng hoàng, nhà vua tự nghĩ: “Đây là trời cho các thần đồng xuống giúp nhà Trần”.
Hoàng thượng sung sướng bước ra khỏi ngai vàng, đích thân ban áo mũ cho quan trạng, bảng nhãn, thám hoa lang.
Không lường trước được lại có hai cậu bé trúng tam khôi, nên áo mũ thuần may sắm cho người lớn. Thành thử quan trạng và thám hoa lang chỉ một chiếc áo đã trùm phủ quá người, rộng thùng thình, còn mũ thì trống trếch trùm sụp xuống cả mặt. Hỏi ra quan trạng Nguyễn Hiền mới có mười ba tuổi. Và thám hoa lang Đặng Ma La, mười bốn tuổi.
Tin đồn chiếm tam khôi kỳ này là ba cậu bé phút chốc bay khắp kinh thành. Dân chúng phố phường đất Thăng Long đổ ra đường để ngóng đợi phút đi dạo của các đại tân khoa, đáp lễ dân chúng kinh kỳ(21). Tin bay đến phủ thái sư. Phu nhân lòng khấp khỏi mừng vui. Bà muốn nhìn tận mắt sự lạ, bèn lên kiệu đi liền. Kiệu của phu nhân vừa tới cổng điêïn Thiên An thì quân cấm vệ ra ngăn lại. Bọn thị nữ và lính hầu phủ thái sư lập tức tiến lên đẩy tên lính ra. Rồi cả đoàn cả lũ cứ nhao nhao sỉ vả tên lính.
- Đồ ngu, mày không biết kiệu của ai mà giám cản.
- Đồ súc sinh dám phạm thượng.
- Chúng tao mà bắt mày về phủ thái sư thì mọt gông con ạ.
Mặc cho bọn người hầu phu nhân ra sức chửi mắng, người lính cấm vệ vội chạy ra kéo sợi dây hạ lá chắn cổng xuống. Tiện tay giật tiếng chuông. Phu nhân tỏ vẻ bực tức ló ra ngoài kiệu quát mắng.
- Lũ kia! Khôn hồn mở cửa cho kiệu của quốc mẫu vào điện diện kiến hoàng thượng!.
Đúng lúc đó viên quan đô giám nghe tiếng chuông đã chạy bổ ra xem xét. Y nghe rõ tiếng thét mắng giận dữ của quốc mẫu. Y cho quân kéo lá chắn lên rồi phủ phục trước kiệu và nói lớn.
- Tâu lệnh bà. Chúng con không giám trái ý lệnh bà. Nhưng thân vệ tướng quân đã ra lệnh cho chúng con, cổng chính này chỉ có kiệu thiên tử đi qua. Còn kiệu các quan đi cổng bên. Con xin mở liền để kiệu lệnh bà qua ngay bây giờ. Nói rồi viên đô giám tự mình săm săm đi mở cửa ngách.
Khi giận bốc lên, mặt đỏ phừng phừng, phu nhận lại quát:
- Lũ sâu bọ to gan lớn mật. Quân bay khiêng kiệu vào chính môn.
Thấy tình thế nguy ngập. Bên ngoài thì lính phủ thái sư nhao nhao xô đẩy. Chỉ còn vài bước nữa là họ dẫn kiệu qua chính môn. Ngặt vì trong điện Thiên An, nhà vua đang ban mũ áo cho các vị đại khoa, nên không thể kéo chuông cấp báo. Viên đô giám liều mạng đứng chắn trước cổng, kiếm tuốt trần, giọng đanh thép, y nói:
- Ta phụng quân mệnh, trấn giữ cửa này. Ai muốn vào phải bước qua xác ta. Đám thị nữ và lính tráng phủ thái sư thấy y lăm lăm tay kiếm, mặt đỏ như gấc, mắt nhìn nảy lửa, đều có ý chờn không dám tiến nữa.
Phu nhân lửa giận bừng. Song bà tự biết là quân cấm vệ không cho qua. Bà muốn mách với thái sư bắt quân kia về trị tội cho bõ giận.
Ném vào mặt tên đô giám một cái nhìn khinh bỉ, phu nhận thét quân: - Lui!
Vừa thấy phu nhân ra đi, nay đã ầm ầm trở lại, thái sư vội ngó ra xem. Phu nhân vội vàng xuống kiệu săm săm đi vào. Trần Thủ Độ ân cần hỏi:
- Thế nào, bà đã có gì ban thưởng cho quan trạng chưa?
Dường như chỉ chờ có thế. Phu nhân oà khóc. Vừa khóc vừa đay nghiến:
- Giời ơi, tôi là vợ ông thái sư thống quốc. Tôi là mẹ vợ, là cô của đức vua. Nhà vua lại ban tặng cho tôi là quốc mẫu. Thế mà cả ông thái sư, cả đức vua để cho bọn lính nó làm nhục vợ mình, làm nhục quốc mẫu của mình.
Trần Thủ Độ không biết đầu đuôi câu chuyện ra sao, còn đang ngơ ngức, phu nhân lại thét gào:
- Ông thái sư thống quốc ơi, tôi giả ông tất cả. Tất cả cơ nghiệp này, tôi về làng. Cái làng Ngừ của tôi, đứa nào hỗn xược, tôi vặn cổ. Chứ cái triều đình của ông láo nháo lắm.
Trần Thủ Độ đã thấy nóng nóng phía vành tai. Ông gọi bọn thị nữ, lính kiệu đến hỏi. Chúng thuật lại đầu đuôi câu chuyện vừa xảy ra, cũng có thêm thắt chút ít. Cốt là để mượn oai thái sư trị bọn lính cấm vệ dám hỗn hào, dám coi thường bên phủ thái sư. Từ trước, bọn lính hầu bên phủ thái sư có cái kiểu vênh váo thế. Cứ như thái sư và phu nhân là bề trên của đức vua, thì chúng nó cũng tự coi mình được ở trên bọn lính cấm vệ một bậc.
Nghe xong thái sư hầm hầm tức giận, cho đi bắt viên đô giám và tên lính cấm vệ giải về. Được tin thái sư cho lệnh bắt, thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình tự tay đóng gông mấy người đó dẫn sang phủ thái sư. Khuê Kình nói với thuộc hạ của mình:
- Sự việc có thế nào, các ngươi cứ thế mà tâu trình, không thêm bớt nghe chưa?
Mấy người thuộc hạ run sợ dạ ran. Viên đô giám khi đã bình tâm lại, liền hỏi:
- Bẩm tướng quân. Vâng lời dạy của tướng quân, chúng tôi giữ nghiêm phép nước. Sao lại nói là chúng tôi phạm tội? Sao lại đóng gông chúng tôi như một lũ tội đồ.
- Vẫn biết thế! Vẫn biết thế! Khuê Kình ôn tồn nhắc lại đến hai lần – Các ngươi phải biết phu nhân là bậc quốc mẫu, đến vua cũng phải kính cẩn. Để ta lựa lời nói với thái sư. Ta chịu trách nhiệm cả. Ta không bỏ các người đâu mà lo. Nhưng cũng phải biết cái thế của mình.
Tới phủ thái sư. Khuê Kinh vào bẩm và xin nộp mấy viên thuộc hạ. Khuê Kinh nói:
- Bẩm đức ông, tiểu tướng thật có tội với đức ông.
Trần Thủ Độ vẫy tay cho tất cả vào thềm điện và sai mở gông cho mấy người lính. Đoạn ông nói:
- Khi chưa xét xử ngay gian, chưa biết người ta có tội hay không có tội, sao tướng quân lại đóng gông họ như là kẻ tội phạm?
Bọn lính tráng và thị nữ phủ Thái sư lúc nãy bị chặn lại, giờ đang lấp ló ở ngoài dè bỉu:
- Cho chúng mày chết.
- Chúng mày cứ là mọt gông con ạ.
- Mất đầu con ạ.
Nghe tên lính cấm vệ và viên đô giám thuật lại với thái độ kính cẩn và run sợ, ăn năn, Thái sư đã thấy dìu dịu. Trần Thủ Độ bèn phái người tới Đăng văn viện(22), gọi kiểm pháp quan sang xét xử.
Kiểm pháp quan là một ông già đầu hói xúng xính trong bộ áo thụng đen, đầu đội mũ bình thiên, tay chống cây gậy trúc đùi gà nhẵn bóng. Kiểm pháp quan có bộ mặt xương xương, chòm râu dài tới ngực, trắng như bông. Nom quan ngài già nua lắm. Duy có đôi mắt của người là sắc sảo. Đôi mắt trong sáng lạ lùng như có thể nhìn thấu tận tim gan người khác. Đôi mắt ông bộc trực như là hiện thân của công lý. Theo ông là một viên tuỳ phái, bê trĩu tay bộ Quốc triều hình luật.
Kiểm pháp quan làm việc. Ông nói vài lời về việc mọi người từ vua tới dân, ai ai cũng phải tôn trọng luật pháp. Rồi ông cho đối chất.
Lính hầu phủ Thái sư nói trước. Thấy không khí cực kỳ nghiêm trọng, bọn này cũng không dám thêm thắt như lúc đầu trình với thái sư. Tiếp đến là lính bên phủ Thân vệ tường trình.
Kiểm pháp quan quay về phía phu nhân hỏi.
- Bẩm lệnh bà, chẳng hay đôi bên tâu bầy như vậy có đúng như sự thật đã diễn ra không?
Vẫn chưa nguôi nỗi bất bình. Phu nhân gật đầu xác nhận, và chỉ buông một tiếng: “Đúng!”
Kiểm pháp quan hỏi tên lính cấm vệ:
- Ai dạy ngươi, chính môn chỉ có kiệu thiên tử mới qua được?
- Bẩm pháp quan, thầy đô giám dạy con.
Kiểm pháp quan lại hỏi viên đô giám:
- Ai dạy ông điều ấy? Đô giám vòng tay đáp:
- Trình pháp quan, thân vệ tướng quân dạy chúng tôi. Vừa nói, viên đô giám vừa đưa mắt nhìn về phía Trần Khuê Kình.
Kiểm pháp quan vuốt chòm râu bạc gật gù. Ông từ tốn nghiêng đầu về phía Trần Khuê Kình hỏi.
- Thưa tướng quân. Sở cứ vào đâu mà tướng quân răn dạy thuộc hạ như thế?
Nghe kiểm pháp quan xét hỏi, phu nhân thấy trong lòng đã bảy tám phân hồi tĩnh lại. Bà nghĩ “Kẻ kia không biết trên dưới phải trái là gì. Nay trước cửa công, thầy trò đã phải cúi đầu. Phải, cứ lấy phép công trừng trị, bọn chúng mới mở mắt ra được, kẻo không rồi chúng lại bảo ta, thừa thế uỷ quyền”.
Bọn thị nữ và lính hầu phủ thái sư nghe pháp quan gặng hỏi thầy trò thân vệ tướng quân, trong lòng chúng như nở ra từng khúc ruột. Chúng thập thò, ngấp nghé phía ngoài đại sảnh, đứa nọ nhìn đứa kia nháy mắt, mỉm cười.
Thái sư Trần Thủ Độ lòng vẫn lặng trong. Chính ông mới là quan tòa cao nhất. Ông không muốn kiểm pháp quan vì ông mà vít cong cán cân công lý. Ông cũng không cho phép người ta đụng đến thanh danh của vợ ông. Bởi chưng, nay người ta coi thường vợ ông, thì mai sẽ đến lượt ông.
Nghe pháp quan hỏi rành rõ từng lời. Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đứng thẳng người với tư thế của một vị tướng liền đáp:
- Thưa ngài Kiểm pháp quan thay mặt cho pháp đình tôn nghiêm. Tôi được bề trên thường răn dạy: “Người làm việc nước phải lấy phép nước làm trọng, không được để cho tình riêng hoặc vật dục làm cho mờ tối lương tâm”. Chính vì thế, tôi đã răn dạy các thuộc hạ tôi phải giữ nghiêm phép nước. Đúng là tôi đã dạy họ như thế.
Không khí im phăng phắc mà căng như một sợ dây đàn. Kiểm pháp quan, gõ chiếc gậy trúc ba lần xuống thềm điện, rồi nói:
- Thưa tướng quân, tôi lưu ý tướng quân, khi tòa án pháp đình làm việc, là căn cứ vào luật định, chứ không phải căn cứ vào lời khuyên bảo của bề trên nữa. Một lần nữa, tôi nhắc lại:
- Xin tướng quân cho biết: Căn cứ vào đâu mà tướng quân răn dạy thuộc hạ của mình như vậy?
Thân vệ tướng quân rướn người về phía Kiểm pháp quan, nói từng lời minh bạch:
- Thưa ngài Kiểm pháp quan tôn kính, tôi căn cứ vào thiên Triều nghi trong Bộ hình thư của Quốc triều, ban hành năm Canh dần (1230) đang nằm trong tay quý quan đó.
Nghe Khuê Kình đối đáp, Trần Thủ Độ giật thót mình. Một giây sau, ông đã lại lấy điều đó làm vui. Vì rằng Khuê Kình thân làm tướng mà cũng nắm vững luật pháp. Lại biết dạy thuộc hạ, lính tráng biết giữ nghiêm pháp luật. Ông thật không mong gì hơn điều đó.
Kiểm pháp quan khi nghe Trần Khuê Kình biện bác trôi chảy, khiến ông lúng túng. Rõ ràng là tướng quân và thuộc hạ không có lỗi. Người có lỗi ở đây là phu nhân và bọn gia thuộc ỷ thế lộng hành. Ông khéo lựa lời:
- Bẩm thái sư và phu nhân tôn quý. Sự thể vậy đã rõ ràng. Thân vệ tướng quân và thuộc hạ làm đúng những điều đã ban trong “Quốc triều hình luật”. Xin thái sư thẩm định.
Nói xong, ông ý tứ rút lui khỏi bục. Viên tuỳ phái hấp tấp bê bộ hình thư lẽo đẽo theo sau.
Trần Thủ Độ miễn cưỡng đứng dậy. Mặt ông hơi ửng đỏ. Dường như có sự tự hổ thẹn về người vợ của mình, ông nói:
- Ta có lời khen thân vệ tướng quân, đã răn dạy thuộc hạ có thể thống. Phép nước vì đó được nghiêm giữ. Ta sẽ tâu xin hoàng thượng đặc cách ban cho tướng quân tước hai tư. Còn viên đô giám và tên lính kia, các ngươi ở địa vị thấp hèn cũng biết giữ nghiêm phép nước. Ta còn biết nói thế nào nữa. Gọi có một chút quà thưởng cho hai ngươi - Nói rồi, thái sư sai gia thuộc đưa vào bốn tấm lụa, hai đĩnh bạc. Phu nhân đã lủi ra từ lúc nào không ai biết.
Chú thích:
1. Tam khôi - ba học vị cao nhất thời xưa: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa lang. Đời Trần lấy tam khôi bắt đầu từ khoa Đinh mùi.
2. Thượng nguyên: ngày lễ vào rằm tháng giêng.
3. Phố tại bến sông. Tương đương với Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Buồm ngày nay.
4. Các vị đỗ đại khoa, từ thái học sinh (tiến sĩ) trở lên, vua ban cho mỗi người một cái biển bằng gỗ có khắc bốn chữ: “Ân tứ vinh qui” sơn son thiếp vàng. Mỗi người được sắm hai cái lọng; riêng quan trạng được sắm ba lọng. Thường là việc chi về lễ vinh qui của các đại khoa, đều do các quan đầu tỉnh có các vị tân khoa bỏ tiền công ra chi phí.
5. Di phong: Viên giữ việc dán kín tên ở các quyển thi để người chấm không biết được quyển của ai.
6. Soạn tự hiệu: Viên giữ việc biên số hiệu vào các quyển thi.
7. Đằng lục: Người giữ việc viết lại các quyển thi.
8. Thí viện: Gồm các quan đề điệu, giám thí.
9. Khảo viện: Gồm các giám khảo, đồng khảo.
10. Ngự Diên: Toà nhà để vua giảng các kinh sách cho các quan trong triều nghe. Vì khoa thi này sĩ tử kéo về đông, lại về trước thời hạn để tập văn. Nên nhà vua cho mở cửa toà Ngự Diên và đích thân Thái tôn thuyết giảng để đo lường sức học của nho sinh.
11. Tạp biên thực lục: Ghi chép các việc trong ngày, giống như ghi nhật ký ngày nay.
12,13. Xem chú thích ở chương XIX.
14. Kinh nghi: Hỏi những điều còn ngờ trong các kinh.
15. Tương đương với tiến sĩ sau này.
16. Trung Thành vương là con của Nhân Đạo vương.
17. Có nghĩa là được bổ nhiệm ra làm quan.
18. Nguyễn Hiền 13 tuổi, người huyện Thượng Nguyên (Nam Định).
19. Lê Văn Hưu 18 tuổi, người huyện Đông Sơn (Thanh Hóa).
20. Đặng Ma La 14 tuổi, người huyện Mỹ Lương.
21. Lệ xưa khi các tân khoa nhận sau khi nhận áo mũ vua ban, sẽ được lên kiệu đi một vòng quanh phố xá kinh sư để đáp lễ dân chúng kinh kỳ. Và đêm được dự dạ yến vua ban ngay trong vườn thượng uyển.
22. Đăng văn viện: Là cơ quan giữ việc tra xét các hình án. Đến đời Thiệu phong (1343) mới đổi thành Đình uý tự.
CHƯƠNG 29
Trời hoe hoe nắng. Cái nắng đầu xuân như ngỡ ngàng sau một mùa đông băng giá. Thấy có nắng, Chiêu Thánh lên tiếng gọi:
- Huyền ơi! Huyền! Huyền ơi, ra đây chị bảo này.
Trịnh Huyền đang loay hoay với mái gà xuống ổ, nghe tiếng Chiêu Thánh gọi, vội chạy túa ra sân.
- Thưa, có điều gì chị sai bảo em đấy ạ.
- Đây này, em đã nhìn thấy gì chưa?
- Ôi, thích quá! Thích quá chị Chiêu Thánh ơi. Tằm sắp nở ra cả rồi. May quá, mấy hôm nọ trời rét, em cứ sợ trứng ung hết. Đem xuống bếp để, em lại sợ nó chết sặc khói. Lứa dâu này là kịp đấy chị nhỉ. Để chiều nay em phải pha nước dải tưới thúc cho nó lên mau.
Chiêu Thánh khẽ lắc đầu:
- Chưa cần phải thúc đâu em ạ. Qua kỳ rét lộc này ấm lên, cứ gọi là hái không xuể. Em không nhớ năm ngoái đấy à, chị em mình cứ sợ thiếu lá, thúc mãi phân tro vào, dâu vuột lên rồi đứng lá. Đến lúc tằm ăn rỗi dâu quá lứa, tằm chê không ăn. Chị em mình chả phải đi hái khắp làng đấy ư. Theo chị, cứ để từ từ. Tằm lớn đến đâu, thúc dâu đến đó.
Thấm thoát Chiêu Thánh về ở mảnh đất bên chùa Bảo Quang này đã được hơn chục năm. Chiêu Thánh đã lập riêng một điện để phụng thờ vua cha và Phật tổ. Ngày hai buổi sớm chiều nàng tụng niệm. Nhưng vẫn giữ đều, tháng đôi lần vào các ngày rằm, mồng một sang chùa làm lễ vua cha. Càng lớn, Chiêu Thánh càng khôn nguôi thương cảm nỗi bất hạnh của cha mình. Nhớ mãi cuộc gặp vua cha lần cuối ở Điện chí kính. Những lời khuyên dạy của vua cha như còn văng vẳng. Cả những lời nguyền rủa các người trong phe cánh họ Trần, Chiêu Thánh vẫn còn nhớ rành rõ như mới hôm qua thôi. Nhất là ánh mắt lạnh lùng đầy căm ghét của vua cha đối với mẫu hậu. Đã nhiều lần Chiêu Thánh nguyện trước linh hồn vua cha và xin người tha thứ. Nàng không thể nào thực hiện được lời vua cha, rằng phải trừ khử hết phe cánh họ Trần. Chiêu Thánh tự biết, đó là do sự uất kết của vua cha, chứ tình thế bây giờ khác lắm rồi. Làm sao mà đảo ngược được thế cờ. Vả lại, Thái tôn ít lâu nay đã tự mình giữ lấy then máy quốc gia. Nhà vua đức độ, dân chúng được hưởng ơn mưa móc, còn ai nghĩ đến vua cũ nữa. Ngay đến các đại thần nhà Lý cũng quy phục nhà Trần, tỏ tài mẫn cán, một lòng một dạ thờ vua mới. Thôi thì vua nào cũng được, triều nào cũng xong. Đối với đám dân đen, họ không cần biết đến ai là người nắm giữ quyền hành. Cái mà họ cần là non nước thái bình. Không có giặc giã. Không lụt lớn, cháy to. Tô thuế giảm nhẹ. Lao dịch khoan thứ. Nhà nhà có bát ăn bát để. Khốn nỗi các điều đó, khởi nghiệp nhà Trần đã lo liệu rồi. Và họ làm được. Sống bên nếp chùa thanh tĩnh, sớm tối cầu việc phúc, Chiêu Thánh dần dần nhận ra được sự thật đau lòng đó. Và nàng chấp nhận như là lẽ đời phải vậy. Bởi thế, nàng không có gì ân hận, tủi buồn. Nàng an phận đến nỗi quên cả tấm thân danh giá, mà lam lũ trong việc chăn tằm, ươm tơ. Dệt lấy lụa mà dùng. Cày cuốc lấy lúa gạo mà ăn. Một thầy một tớ, sống cuộc đời đạm bạc, lấy câu kinh, tiếng mõ làm lẽ sống cho mình. Bạn bầu với cây cỏ cho qua ngày đoạn tháng. Thân không thế phát, nhưng tâm đã gửi trọn cửa từ bi. Ấy là nói về phần Chiêu Thánh.
Còn Trịnh Huyền thì lại khác. Trịnh Huyền từ khi quan thừa chỉ bỏ kinh thành ra đi, nàng như bị hụt hẫng, như mất hẳn chỗ dựa tinh thần. Đôi lúc cũng âm thầm ngao ngán. Nàng phải nén dấu tình cảm xót xa đau để Chiêu Thánh đỡ buồn. Hoặc những khi trời đổi gió, chuyển mùa, Trịnh Huyền lại bồi hồi nhớ tới mẹ già. Thương mẹ thân góa bụa cô đơn, lại nghèo túng, lấy ai săn sóc, phụng dưỡng khi nắng hạ, lúc rét đông. Có lúc soi bóng trong gương nàng giật mình thấy nước do sạm mốc, và những vết rạn chân chim nơi khóe mắt, tự xót thương cho thân phận hẩm hiu. Nhưng nàng không hé một lời than, dường như nàng chấp nhận và đón đợi những gì cay đắng mà số phận giành cho nàng.
Ấy vậy, nhưng mỗi khi nhớ về cô chủ của mình, Trịnh Huyền cảm thấy yên phận. Bởi chưng, Chiêu Thánh thân lá ngọc cành vàng, mà kiên tâm chối bỏ cảnh lầu son gác tía, kẻ hầu người hạ, xe kiệu vào ra, yến tiệc linh đình. Dấn thân vào cảnh nông tang lam lũ. Chưa một lần nào nàng thấy cô chủ hé miệng than van. Nhiều khi thấy Chiêu Thánh ủ buồn, Huyền khuyên nàng nên vào cung thăm quốc mẫu. Chiêu Thánh đều thoái thác. Có nhẽ nàng cũng đã có đôi phần nguôi ngoai. Vì nếu như trước kia, mỗi lần Huyền nhắc tới quốc mẫu, thì Chiêu Thánh đùng đùng nổi giận, kể lể, khóc than suốt buổi không thôi. Bây giờ, nàng chỉ ư hừ cho qua chuyện. Trịnh Huyền nhớ cách đây vài năm, thái sư phu nhân có ghé thăm Chiêu Thánh vào lúc sẩm chiều. Và đêm đó, bà ở lại ngôi nhà tranh vách đất lạnh lẽo này với con gái. Bà tỏ ra xót thương cho con gái tự đầy thân vào cảnh khổ. Đôi lần bà gạn ép Chiêu Thánh trở về cung. Lúc đầu cô chủ Trịnh Huyền còn im lặng. Mãi sau nàng nói. Giọng trầm tĩnh của một người dường như không còn biết đến, hoặc giả không cần biết đến cảnh đời bon chen là gì nữa. Nàng nói:
- Phu nhân thử nghĩ xem. Bấy lâu nay phu nhân vẫn ở tại cung, phu nhân có sung sướng gì không. Ngay bây giờ đây, ghé chốn lều tranh tẻ nhạt này, có đúng là tình mẫu tử thôi thúc phu nhân ra đi. Hay chỉ vì trong lòng phu nhân có điều gì u uất? Phu nhân buộc phải ra khỏi cung để được phút giây giải thoát. Và vì thế, phu nhân mới lạc bước tới đây.
Quốc mẫu rùng mình run sợ về những lời nói tàn nhẫn của con gái. Những tiếc thay, nó là sự thật. May nhờ có bóng đêm che giấu giùm khuôn mặt nhợt nhạt, và cặp mắt thất thần của bà. Mãi lâu sau bà mới lên tiếng. Giọng bà lạc đi, như không còn tự chủ được nữa:
- Đúng như con nói. Ta tuy thân ở trong cung, mà tâm không bao giờ được thư tĩnh. Con quả là cao thượng. Như con bây giờ mới là người sung sướng. Bởi con đã làm được điều con sở nguyện. Ta ao ước, ta cũng được giải thoát như con.
- Thưa lệnh bà. Chiêu Thánh nói với vẻ lạnh lùng, xa lạ - Việc giải thoát là công quả của mỗi người tự tu luyện lấy. Ngay Phật tổ cũng không giải thoát được cho đệ tử của mình. Bởi lẽ, Phật tổ chỉ hướng nẻo cho chúng sinh con đường giải thoát thôi, chứ Phật sao có thể làm thay cho ta được. Nay lệnh bà đang ở địa vị tôn quý, cớ sao lại buông lời sầu não?
- Chắc con còn giận ta, nên con chưa cảm thông được với nỗi đau của mẹ. Con có biết ta ở địa vị cao sang, vậy mà mấy tên quân hiệu nó làm nhục ta, nhưng chú con – một ông thái sư thống quốc, uy quyền át cả vua, mà không bênh vực nổi. Con bảo ta còn sung sướng được cái nỗi gì?
- Sao quốc mẫu lại cho điều đó là một sự nhục mạ? Chắc quốc mẫu muốn nhắc đến đám lính thân vệ, ngăn kiệu quốc mẫu qua chính môn dạo trước?
- Phải đó. Chuyện đó làm ta đau lòng mãi.
- Lẽ ra phu nhân phải mừng, bởi thái sư đã làm một việc cực kỳ chuẩn mực. Chính việc làm của thái sư đã nêu một tấm gương cao khiết, vì vậy phẩm hạnh của phu nhân càng thêm tôn quý. Việc ấy có chi phải buồn. Sao phu nhân không tự thấy: càng ở ngôi cao, càng phải giữ gìn đức lớn thì thiên hạ mới trọng nể. Ngay đến Thái tôn cũng còn đổi lỗi từng ngày để mưu việc lớn cho trăm họ. Sửa mình là nghiệp thiện xưa nay, có gì mà phu nhân phải trầm cảm tới uất kết ở trong lòng?
Nghe Chiêu Thánh nhân giải, phu nhân lặng thinh không đáp. Không hiểu trong lòng bà đang diễn ra điều gì. Bà vui hay buồn. Giận hay thương. Điều quan yếu là ở chỗ, bà có nhận ra lỗi lầm của mình, và có chịu đổi lỗi, hay lại gây bè kết cánh để mưu hại người trung?
Linh từ quốc mẫu phải đâu là người hẹp lượng. Và có phải một mai một chiều gì mà bà không hiểu tính nết thái sư. Thái sư không bao giờ dung dưỡng sự lạm dụng dụng quyền hành. Nhớ lại việc ông đi tuyển câu đương mà phu nhân nhờ vả, với việc bọn lính thân vệ ngăn kiệu của bà, thái sư không hề bênh che. Điều đó chứng tỏ, ông không để cho tư tình khuất lấp kỷ cương.
Giây lâu sau phu nhân mới lại nối lời:
- Lòng con sáng trong nên con nhận ra ngay điều phải quấy. Ta phải cảm tạ trời đất đã dun dủi ta đến thăm con. Nghe con nói, lòng ta trở nên an tĩnh. Hứa với con, từ nay ta không bao giờ phạm lại các điều ta đã mắc, khiến cho đức ông và hoàng thượng phải phiền lòng.
Đúng là từ dạo ấy, lệnh bà đã tận tâm tu chính, khiến đức tốt của bà lan truyền khắp kinh sư.
Sớm hôm sau phu nhân dậy sớm đánh thức Trịnh Huyền. Bà dúi cho Huyền mười nén vàng và dặn: “Con giữ lấy để hộ thân cho hai thầy trò. Ta cấm con không được hở cho Chiêu Thánh biết chuyện này. Có thể con chôn dấu nó dưới một gốc cây nào đó trong vườn. Rồi như vô tình con đào được. Nếu có điều gì cần kíp, con cứ về cung tìm ta. Nhớ nhé!”.
Ngày tháng trôi mau như vó câu qua cửa sổ. Thấm thoắt đã lại chín một lứa tằm. Bữa nọ có việc Trịnh Huyền phải vào chợ Cầu Đông mua sắm. Nghe dân chúng kinh kỳ xôn xao tới ngày rằm này, nhà vua sẽ mở đại hội bảy ngày đêm. Trong hội lễ sẽ trưng bày các đồ lễ kết tóc, và các của hồi môn của công chúa Thiên Thành, sắp về với Trung Thành vương.
Tới cả tháng nay, bên nhà Nhân Đạo vương kẻ hầu người hạ ra vào tấp nập. Nào sửa sang dinh thự. Nào tỉa xén cây cảnh. Nào mua sắm các thứ ngon vật lạ, để dùng vào tiệc cưới nay mai. Người ta đồn đại, Nhân Đạo vương đã nhờ khách thương Hồi - hột mua thảm quí, sáp thơm, ngọc trai đỏ. Lại cho cả người vào tận vùng biên ải Lão - qua mua ngà voi, sừng tê và vật quý làm đồ dẫn cưới.
Trịnh Huyền đem chuyện này kể lại cùng Chiêu Thánh với niềm hứng khởi chân thành. Chính nàng cũng háo hức mong chờ ngày khai diễn hội lễ.
Suy ngẫm giây lâu, Chiêu Thánh gạn hỏi:
- Em nghe đích thực Thiên Thành công chúa đính hôn cùng Trung Thành Vương chứ?
Huyền mau mắn đáp lời:
- Dạ, đúng. Em không nhầm đâu chị Chiêu Thánh ạ.
- Em nghe nói nhà vua mở hội mấy ngày?
- Dạ, bảy ngày đêm. Bắt đầu từ sáng hôm rằm. Nhưng sao chị lại hỏi em đức phu quân của công chúa có đúng là Trung Thành Vương không?
- À, à… Chiêu Thánh hơi ấp úng. Đã định nói, nàng lại thôi. Vì rằng nàng cứ tưởng một hai ThiênThành sẽ về với Quốc Tuấn. Bởi hai người quyến luyến nhau lắm. Họ thật đẹp đôi, chỉ hiềm Quốc Tuấn là bậc dưới. Tuấn phải gọi Thiên Thành bằng cô ruột.
Thiên Thành là em út của Thái tôn. Hai thân sớm khuất. Thái tôn thương em côi cút, hết lòng săn sóc, cưng chiều. Bên nhà Nhân Đạo vương đã đánh tiếng xin Thiên Thành từ lâu, ngặt vì công chúa còn nhỏ tuổi. Độ vài năm nay, nàng mới phổng phao lên được. Vì gần đây Thái tôn mới nhận lời dạm hỏi. Lễ cưới này, chắc nhà vua cho mở hội linh đình, và sẽ chia nhường cho em giá nhiều báu vật. Nghĩ tới tuổi xuân của mình, Chiêu Thánh như nghẹn tắc ở trong lòng. Nàng thầm nhủ: “Thời thiếu nữ vàng son của ta đã bị vùi chôn trong cung cấm, với biết bao bão táp chốn cung đình. Hỡi Thiên Thành, ta ghen với em đó! Hạnh phúc của em thật đủ đầy. Nhưng tại sao ta vẫn muốn em đẹp duyên cùng Quốc Tuấn hơn là với người kia. Quốc Tuấn là một chàng trai đầy phách lực. Trung Thành vương sao có thể bén được gót chàng. Hay là em sợ miệng thế gian? Chao ôi, họ Trần nhà em đâu còn có nhân luân nữa mà phải giữ gìn!”.
Thăng Long vào hội. Kinh thành như rực rỡ hẳn lên. Từ phố phường tới cung cấm, đền đài, đình tạ, đâu đâu cũng giăng mắc cờ hội, cờ phướn, đèn lồng, đèn kéo quân. Các giáo phường hát múa thâu đêm, người xem chen chúc như nêm. Góc phố này có một bãi thả diều, những con diều giấy khung tre to như những chiếc thuyền nan bay lờ lững rợp từng không, phát ra những tiếng sáo du dương. Bởi trên mỗi con diều kia đều được đeo một chồng sáo trúc tới năm hoặc bảy chiếc. Chiếc to nhất bằng bắp đùi người lớn, nhỏ nhất bằng ngón chân cái. Mỗi chiếc là một thang âm. Hàng mấy trăm người như nín thở ngước nhìn, tai lắng nghe tiếng sáo bổng trầm dịu dặt, từ trời cao dội xuống như một thứ nhạc tiên. Góc kia là một cụm tới ba bốn cây đu. Từ xa đã nhìn thấy những dải yếm hồng, những tà áo nâu, quấn quít tung bay trên nền trời. Những tay đu giỏi đánh giật tung ròng rọc, bụng chấm lá cờ giải treo trên đỉnh cột đu. Họ cứ vờn như thế tới vài ba lần, để khách xem dưới gốc đu thả sức reo hò, rồi họ mới thò tay ra giật lấy lá cờ. Khi bàn tay của người tranh giải chớm đặt vào mép lá cờ, khách xem nín thở hồi hộp, vừa mừng vừa lo. Khi lá cờ tuốt ra khỏi cán, và chạc đu đung đưa theo nhịp chậm dần, thì tiếng reo hò tưởng như long lở cả kinh thành. Biết bao nhiêu trò chơi khác như đua thuyền, kéo co, vật, đấu võ, múa khiên, múa rồng, chọi gà, chọi chim, chọi trâu, đua ngựa…
Trên đây là những trò chơi dân dã mở ra cho dân chúng kinh kỳ, và dân các lộ kéo về dự hội. Còn tại sân Long Trì lại có cuộc chơi riêng của giới quí tộc cung đình. Đó là môn đánh cầu được coi là môn chơi quí phái của giới thượng võ. Trên chiếc sân rộng ở hai đầu đông, tây dựng hai cầu môn. Trước cầu môn là một chiếc giá để cắm cờ có hai mươi bốn lỗ. Cuộc chơi tính điểm theo cách, nếu quân bên nọ đẩy được cầu qua vòng cầu môn bên kia thì được tính một điểm. Viên thông sự xá nhân bèn cắm một lá cờ vào giá. Bên nào giành trước được đủ hai mươi bốn lá cờ, bên ấy thắng cuộc.
Cầu là một quả bóng tròn bằng da, trong nhồi lông căng phồng, bắt đầu cuộc chơi, quan nội thị mở chiếc hộp vàng, lấy ra quả cầu da sơn đỏ, ném xuống sân Long Trì. Nhạc nổi lên rộn rã. Quân hai bên lần lượt cưỡi ngựa ra sân. Bên đông quân vàng, bên tây quân tía. Đuôi ngựa gióc thắt màu sắc phục của mỗi bên.
Tướng Lê Tần cưỡi con ngựa bạch dẫn đầu quân tía. Tướng Khuê Kình cưỡi con ngựa hồng cầm đầu đám quân vàng. Mỗi tướng tay cầm một cái trượng dài, hai đầu cong và bẹt dùng để lấy cầu. Tay kia cầm cương ngựa. Hai tướng dẫn quân mình ra trước mỗi cầu môn. Trống chiêng khua vang dội. Thái tôn uy nghi trong bộ triều phục, cưỡi con ngựa ô long phủ yên cương vàng. Nhà vua một tay nắm cương ngựa, tay kia xách chéo cây trượng dài, tế ngựa tới trước quả cầu thì nhạc ngừng bặt. Nhà vua thúc cho ngựa lồng lên rồi ngoái lại dùng cây trượng gẩy cho quả cầu tung lên. Trống chiêng lại nổi lên từng bừng. Hai tướng dẫn theo cả một lũ người ngựa ùa ra tranh cầu. Cuộc chơi bắt đầu. Nhà vua bèn lui về kỳ đài ngồi với các đại thần để xem cuộc tranh tài cao thấp…
Dân chúng kinh kỳ không chỉ có nô nức đi xem các giáo phường diễn, hát, mà còn tham dự đủ các trò vui. Nhưng có nhẽ điều gợi cho người kinh sư óc tò mò nhất, là việc cung cấm mở cửa trưng bày các của hồi môn của công chúa, và đồ dẫn cưới của Trung Thành vương. Thôi thì đủ thứ áo quần, vóc lụa, nhiễu gấm sang trọng của Trung Hoa, Ba Tư, Tây Trúc như muốn đua tranh với một số hàng nội địa như the, lụa, đũi, lĩnh… của các vùng cửi canh nổi tiếng như La, Bưởi, Sài …
Những đồ trang sức bằng vàng, bạc chạm trổ tài hoa của các tay thợ nổi tiếng Đồng Sâm, Hàng Bạc. Nào vòng cổ, vòng tai, vòng tay, đai áo, mũ miện la liệt tới hàng trăm thứ, nom lóa cả mắt. Những loại hồng ngọc, bích ngọc, lưu ly, kim cương được nạm vàng thành những hoa tai, vòng cổ, hoặc những con giống nhỏ xinh, khiến người xem không hết kinh ngạc về sự sang giầu, xa phí của chốn quyền môn. Ngoài những đồ lụa, tơ, vàng, ngọc ra, còn phải kể tới áo quần, chăn ủ, lồng ấp bằng các loại lông thú, như hổ, báo, chồn, rái cá… Lại nữa, các đồ gốm sứ rất phong phú như Bát Tràng, của Đông Sơn. Từ những bức tranh sứ về cảnh thuỷ mặc, hoặc tứ dân, hoặc lục súc tranh công, tới các lọ hoa, chậu cảnh, độc bình, thạp, thố, tới các loại chén, bát, đĩa, mâm và các con giống bằng sứ gốm nhiều màu, nhiều cảnh. Những đồ sứ gốm của ta, đặt cạnh đồ sứ gốm của các thời Đường, Tống từ vóc dáng, tới hoa lá, men màu, mỗi bên có một nét đẹp riêng, chẳng thể nào lấn át được nhau. Qua đồ gốm sứ lại tới đồ đồng. Nào mâm, chậu, nồi, xanh, chảo… tới các đồ thờ như cây nến, đỉnh và tượng phật. Đây mới chỉ nói tới của hồi môn. Còn các đồ dẫn cưới, tuy không nhiều bằng, nhưng cực kỳ sang quí, chỉ có thể kiếm được ở các vương quốc giàu có ngoài Đại Việt như La Mã, Trung Hoa, Ba Tư, Thổ Phồn…
Từ bữa nhà vua mở đại hội, Quốc Tuấn không ra khỏi nhà. Không phải chàng tráng sĩ được hâm mộ nhất kinh thành này đang ham mải luyện rèn kiếm cung, hoặc nghiên cứu binh thư đồ trận gì. Con tuấn mã theo thói quen sáng nào cũng được chủ dắt ra khỏi tàu ngựa, thắng yên cương và phi nước đại tới Giảng Võ đường, lượn một vòng quanh trường võ rồi đi vào các bài tập nhảy vượt chướng ngại như: gò, đống, sông, suối. Nhưng đã ba sáng nay, sau một hồi hí dài con ngựa lại gục đầu lắc bờm, đập móng ngóng chờ chủ. Dù người giám mã có vỗ về, nựng nịu thế nào thì con tía mật cũng không chịu bước chân ra khỏi tầu. Và nó ăn uống cũng chểnh mảng.
Trong thư phòng của Quốc Tuấn, những “Tôn tử binh pháp”, “Ngô gia binh pháp”, “Tôn tử thập gia chú”… xếp chồng đống lên nhau, mờ mờ bụi phủ.
Quốc Tuấn làm gì? Chàng ở lì trong cung, đi quanh quẩn trong bốn bức tường, như một con sư tử vừa bị nhốt vào cũi. Chàng ngao ngán nghĩ về cảnh người yêu sắp đi lấy chồng. Chàng đã yêu mê mệt công chúa Thiên Thành - Bông hoa rực rỡ nhất của Thăng Long hoa lệ. Sắp tới ngày cưới - Thiên Thành còn nói với Quốc Tuấn: “Thiếp sẵn sàng bỏ kinh thành đi trốn cùng vương”. Nhưng trốn đi đâu? Và tại sao phải đi trốn? Quốc Tuấn, một con người trí dũng, tự tin không chấp nhận một cuộc đi trốn. Không cùng nhau đi trốn, nhưng cũng không thể để mất nàng vào tay Trung Thành vương được.
Quốc Tuấn cũng mệt mỏi, cũng tù túng, chẳng khác gì con tuấn mã của chàng. Tất cả những dằn vặt của Quốc Tuấn không lọt qua mắt của công chúa Thụy bà. Vừa là cô ruột, vừa là mẹ nuôi, bà hiểu tâm trạng Quốc Tuấn, cũng như bà biết mối tình thầm lén giữa Quốc Tuấn và em gái bà. Song duyên phận của Thiên Thành đã được đích thân hoàng thượng chọn lựa. Nay đã tới lễ kết tóc, sao có thể đổi thay được nữa. Đôi lần bà đã toan khuyên can Quốc Tuấn. Rồi lại nghĩ: cứ để lễ cưới của Thiên Thành qua đi, Quốc Tuấn khắc biết tự xử. Còn như bây giờ, mọi sự khuyên bảo, chẳng khác gì tưới thêm dầu vào ngọn lửa si tình đang bùng cháy trong lòng chàng, nên Thuỵ bà vẫn cứ im lặng dõi theo.
Điều làm cho Quốc Tuấn băn khoăn, giữa lúc cần gặp gỡ Thiên Thành nhất, thì nàng đã được đón vào ở ngôi biệt điện trong cung Nhân Đạo vương. Mặc dù nàng đã hứa không chung thân với Trung Thành vương. Nhưng làm sao chàng có thể yên tâm được. Thiên Thành đến ở trong cung nhà Nhân Đạo vương, để tiến hành lễ kết tóc với Trung Thành vương, có khác chi đem mỡ đặt trước miệng mèo.
Quốc Tuấn cứ loay hoay suy đi tính lại mãi, chưa biết định liệu ra sao. Nom chàng ủ dột như một con ngựa chiến bị trọng thương, đứng rũ bờm tiếc nuối cảnh tung vó chốn sa trường giữa rừng thương, biển lửa. Quốc Tuấn vẽ ra hàng trăm kế trong đầu, song nó cứ mông lung mờ ảo như khói như sương, chưa biết liệu tính ra sao. Giữa lúc đó tên gia nô đẩy cửa bê mâm cơm chiều vào dâng Quốc Tuấn. Chàng đã toan vẫy tay cho y trở lui, giống như bữa sáng, bữa trưa chàng đã làm. Nhưng chẳng biết thế nào chàng lại vẫy tay gọi y vào. Tên gia nô hớn hở đặt mâm cơm vào kỷ, chắp tay đứng hầu.
Quốc Tuấn uống một hơi hết ba bát rượu, thấy đã nong nóng phía vành tai. Chàng đưa cặp mắt sáng rực nhìn về phía cửa sổ, thấy trắng xoá một trời trăng. Lòng bâng khuâng nhớ tới Thiên Thành, Quốc Tuấn đứng dậy toan lao ra cửa. Tên gia nô hốt hoảng kêu:
- Bẩm tiểu tướng, người chưa dùng cơm.
Như sực tỉnh, Quốc Tuấn lại ngồi xuống mỉm cười. Gia nô xới cơm. Chàng miễn cưỡng ăn mà hồn như phiêu lãng đâu đâu. Chợt ngẩng nhìn gia nô, chàng khẽ gọi:
- Nô!
- Dạ. Bẩm tiểu tướng dậy con điều gì ạ?
- Nếu vào cảnh ngộ ta, mi sẽ làm gì?
Gia nô ngơ ngác nhìn tiểu chủ, rồi đáp với vẻ hết sức tự nhiên:
- Bẩm, nếu con ở cảnh ngộ của tiểu tướng, thì con đã uống cạn be rượu kia, và ăn hết mâm cơm này từ lâu rồi ạ.
Quốc Tuấn bật cười, hơi gắt:
- Đồ con tườu. Ta có hỏi mi việc ăn uống đâu.
- Dạ, bẩm tiểu tướng, con tưởng người ở vào cảnh ngộ nhịn đói suốt một ngày, thì bây giờ phải ăn thôi chứ còn có chuyện gì nữa?
- Nô! Nghe ta hỏi đây.
- Dạ, con đang nghe.
- Mi có biết chuyện ta với công chúa Thiên Thành không?
- Dạ, trước con biết lơ mơ ạ.
- Thế còn bây giờ thì sao?
- Dạ, bây giờ thì tiểu tướng đã nhịn đói suốt cả một ngày, còn bên cung, công chúa đang mở hội. Công chúa trang điểm rực rỡ, đẹp như một nàng tiên và chỉ mong cho chóng tới ngày làm lễ kết tóc với Trung Thành vương.
- Đồ súc sinh! Quốc Tuấn đập tay xuống kỷ, quát lớn:
- Có đúng như mi nói không?
Tên gia nô làm ra bộ ngơ ngác, khép nép thưa:
- Bẩm tiểu tướng, sao lại không đúng ạ. Cả kinh sư này ai mà không biết chuyện ấy.
Dường như Quốc Tuấn đã nhận ra sự thật cay đắng, chàng dịu giọng hỏi gia nô:
- Cứ cho rằng, điều mi nói là thật đi.
- Dạ, bẩm tiểu tướng, gia nô vội cướp lời Quốc Tuấn - Bẩm tiểu tướng, hiển nhiên là thật rồi chứ còn giả nữa hay sao. Còn hai ngày nữa là đến lễ kết tóc rồi.
- Thôi được, Quốc Tuấn mệt mỏi thừa nhận - Cứ cho rằng đó là sự thật đi. Nhưng nếu ngươi ở vào cảnh ngộ ta, người sẽ làm gì?
Mặt gia nô ngây ra với vẻ đần độn. Một thoáng y ngó ra cửa, nhìn thấy trăng rằm dãi trắng cả trời đêm. Y gật gù với vẻ thận trọng, như nói với chính mình:
- Nếu vào cảnh ngộ con. Dù có xả thân con ra thành trăm mảnh, con cũng không bỏ người đẹp.
Nom bộ mặt nghiêm trang của y, Quốc Tuấn hiểu y nói thật lòng. Chàng tự nghĩ: “Vậy là nhân cách ta không bằng tên nô bộc”. Trong óc chàng vụt lóe một âm mưu. Chàng quay ra nói gia nô:
- Mi dọn ngay đi. Quốc Tuấn chỉ tay vào mâm cơm - Ta mệt, đêm nay ta muốn đi nghỉ sớm.
Gia nô vừa ra khỏi cửa, Quốc Tuấn vội mặc áo quần gọn ghẽ, nai nịt chặt chẽ, rồi dắt thanh đoản đao vào thắt lưng, tắt đèn lên giường nằm. Chừng canh ba, chàng nhỏm dậy rồi lao vút vào đêm sáng nhòe trăng.
Mờ sáng, gia nô về bẩm với công chúa Thụy bà các việc xảy ra trong đêm. Công chúa hốt hoảng, mặt tái mét như không còn giọt máu, hấp tấp lên kiệu vào ngay nội điện.
Nội tẩm cửa vẫn còn đóng im ỉm, nhà vua chưa tỉnh giấc vàng. Do dự một lát, Thụy bà giơ tay đập cửa thình thình.
Ngỡ có biến, Thái tôn vội choàng lên người chiếc áo vóc, quơ lấy thanh trường kiếm phía đầu giường, rồi nhón gót nhìn qua hàng con tiện phía trên cánh cửa bức bàn.
Chỉ thấy có một mình công chúa Thụy bà, nhà vua bèn mở cửa ra hỏi:
- Có việc gì mà chị vào cung sớm thế? Sao mặt chị tái nhợt thế kia?
Thụy bà, giọng run run:
- Không ngờ Quốc Tuấn nó điên cuồng, rồ dại, đêm qua, dám vượt rào lẻn vào chỗ Thiên Thành ở. Nhân Đạo vương đã bắt giữ lại rồi. Sợ nó bị giết. Xin bệ hạ thương cho, sai người đến cứu!
Thái tôn “hừm” một tiếng, rồi quở:
- Quân càn gỡ!.

1/1/2001
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...