Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Huyết chiến Bạch Đằng 1

Huyết chiến Bạch Đằng 1

CHƯƠNG 1
I. Vừa đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, vua Nhân tông và thượng hoàng Thánh tông đều về bái yết Sơn lăng - nơi có phần mộ tổ tông ở Thái Đường phủ Long Hưng. Tiếp đó nhà vua cho làm lễ hiến phù [1] trong nhà Thái miếu để cáo với liệt tổ về việc quân ta đã đánh tan giặc dữ, bảo vệ được giang san nòi giống. Trong lễ hiến phù, nhẽ ra phải chém đầu vài tên tướng giặc đã gây nhiều tội ác mà ta bắt làm tù binh, lấy máu rửa binh khí và để cho trăm họ hả lòng căm giận. Ngặt vì kẻ thù còn quá mạnh, nếu ta giết tướng nó, lại sẽ gây thêm cừu hận.
Sau lễ hiến phù, vua sai làm lễ cầu siêu cho tất cả những ai đã bỏ mình vì nước trong công cuộc kình chống giặc dữ vừa qua. Ngoài các chiến binh, các dân binh còn có dân thường làm các việc như tải lương, tải thương và người già, đàn bà và trẻ nhỏ… bị giặc tàn sát, tất thảy đều được chiêu độ.
Về phương diện quốc gia, đàn tràng lập tại Thăng Long do nhà vua và vị quốc sư đứng làm chủ lễ. Nơi các lộ, do an phủ sứ và vị trưởng lão đứng đầu giáo hội trong lộ đứng ra làm chủ lễ.
Các liệt sĩ đều được cấp ruộng quốc điền để gia đình, con cháu được nối đời hưởng lộc và thờ tự.
Với các liệt sĩ không còn ai thờ cúng thì vong linh được rước về các chùa làng nương bóng Phật.
Thời hậu chiến, bao nhiêu công việc ngổn ngang, vua Nhân tông lo nhất là thân phận những người dân tại các vùng giặc chiếm đóng, dù chúng chỉ ở đỗ có vài ba tháng và cả các vùng giặc chỉ tràn qua; vì rằng với bản chất hung bạo gặp bất cứ người dân nào, ở bất cứ độ tuổi nào, dù không chống lại cũng bị chúng đánh đập, hãm hiếp thậm chí giết chết. Và tại những nơi vườn không nhà trống thì chúng tàn phá, thiêu đốt, đập phá nhằm triệt nguồn sống của dân ta.
Nhà vua lo nhất là cuộc sống hàng ngày của mỗi gia đình và cả nỗi bất hạnh của họ do quân thù đem lại.
Không yên tâm, vua cho các quan về các vùng có chiến sự đi qua để an ủi người dân, xem xét kỹ về cuộc sống của họ, nhất là về mặt tinh thần, nếu như quân thù lại tái xâm lược, liệu họ có còn đủ sức lực và lòng cương dũng đứng lên cầm vũ khí kháng giặc nữa không.
Trong khi các quan đi về các lộ để kiểm xét thực trạng tình cảnh của người dân sau chiến tranh thì tại triều đình, vua Nhân tông tuyên triệu những tướng lĩnh hàng đầu trong cuộc chiến vừa qua về triều bàn quốc sự.
Triều đình đang cho sửa sang và tẩy uế các cung thất. Cung Cảnh Linh bị Thoát-hoan chiếm làm nơi hành lạc. Điện Thiên An giặc biến thành trại lính… các cung thất khác chúng chiếm làm nơi ăn ở và cướp đi những gì có thể cướp. Tranh tượng chúng đập phá, tường vách chúng bôi lem. Khắp nơi có quân giặc đóng đều khẳm mùi tương mốc, mùi hành tỏi, mùi hôi lính, mùi hôi lừa ngựa, và kinh tởm nhất là mùi tanh khẳn do đờm rãi khạc nhổ bừa bãi do thói quen của đám quân tàu ô người Hán.
Công việc tẩy uế xong, người ở cung nào lại về cung ấy. Những cung bị giặc đốt, giặc triệt phá thì tạm dựng lại bằng tranh tre, chờ đất nước yên bình, mùa vụ trong dân gian hồi phục rồi sẽ tính sau.
Từ ngày đuổi hết giặc ra khỏi bờ cõi, vua Thánh tông trao trọn việc nước cho con. Một phần vì vua Nhân tông đã trưởng thành vượt bậc trong việc điều hành bộ máy chiến tranh, đánh bại mấy chục vạn quân cường bạo của tên quỷ dữ Hốt-tất-liệt, với những tên tướng lừng danh như: Ô-mã-nhi, A-lí Hải-nha, Toa-đô, Bôn-kha-đa, Mang-cổ-đải, Lưu Quốc Kiệt, Lưu Thế Anh, Trịnh Bằng Phi, Lý Hằng, Lý Quán… do đích thân Thoát-hoan là con trai của Hốt-tất-liệt được y phong là Trấn Nam vương cầm đầu. Mặt khác, Thánh tông tuổi cũng đã cao, sức lực đã giảm nhiều vì suốt mấy chục năm phải lo đối phó với phương Bắc, và lúc nào chúng cũng dọa nạt xâm lăng.
Được chiếu vua tuyên triệu, các tướng, các quan gần xa đã về đông đủ.
Thiết triều, vua Nhân tông nói:
- Trong công cuộc kình chống giặc dữ vừa qua, số phận đất nước như chuông treo chỉ mảnh, như vạc nặng nghìn cân treo trên đầu một sợi tóc. Nhờ hồng phúc tiên tổ nên ta đã biến nguy thành an, biến bại thành hưng. Lại cũng nhờ vào các hàng tướng lĩnh của ta mưu lược, chiến binh của ta kiên cường đánh giặc, nhất là trăm họ một lòng quyết đem máu xương, tính mệnh và tài sản ra để bảo vệ giang san nòi giống. Giặc tuy đã thua chạy, nhưng thế và lực của nó còn lớn lắm, biết đâu chúng lại không sang xâm lăng nước ta nữa. Bởi vậy trẫm triệu các quan để bàn xem vì sao ở vào tình thế nguy nan như vậy mà ta vẫn thắng được giặc. Lại tìm ra cái nhẽ vì sao quân giặc mạnh như thế, rốt cuộc lại thua, lại ôm đầu máu mà chạy về nước.
Việc thứ hai cần bàn là phải nhanh chóng khôi phục lại việc nông tang, nuôi vỗ sức dân và cũng phải chỉnh bị ngay quân ngũ phòng khi giặc Bắc lại sang.
Việc thứ ba là phải tìm cách trao trả tù binh và cử sứ bộ sang Yên Kinh giao hảo, nhằm hạ hỏa con sói già ngạo mạn Hốt-tất-liệt ở Yên Kinh.
Vua Nhân tông mỉm cười nhìn khắp lượt các triều quan, ngài tiếp: - Trẫm đang nóng lòng nghe cao ý của các khanh.
Không khí triều hội im phăng phắc, dường như ai cũng cảm thấy buổi thiết triều này là vô cùng quan trọng, nên phải thận trọng cân nhắc trước khi tâu báo.
Chừng nhai dập miếng trầu vẫn chưa có ai xuất ban, nhà vua liền dụ:
- Các tướng đánh giặc giỏi như thế mà lại không nói lên được cái việc mình đã làm ư? Vua dừng mắt nhìn vào gương mặt khả ái của Chiêu Văn vương thượng tướng Trần Nhật Duật.
Trần Nhật Duật có tướng mạo khác phàm, từ lúc mới sinh các thày tướng số đã nói ông là người trời thác sinh, khi xem cánh tay quả có chữ “Chiêu văn đồng tử”, vì vậy vua cha mới cho lấy vương hiệu là Chiêu Văn. Ông sinh năm Ất Mão (1255) hơn vua Nhân tông đúng ba tuổi. Năm nay nhà vua vào tuổi hai mươi tám còn ông chú cũng mới ba mươi mốt tuổi.
Biết ý tứ nhà vua, Trần Nhật Duật bèn xuất ban xin nói:
- Tâu hoàng thượng, thưa các đồng liệt, cái nhẽ ta thắng, giặc thua đúng như hoàng thượng vừa dụ bảo rằng: “Tướng lĩnh của ta mưu lược, chiến binh của ta kiên cường, trăm họ đồng lòng đánh giặc, giữ nước”. Theo thần, ngoài các nhẽ trên còn phải tính đến hai vua sáng suốt, mẫu mực can trường, nhìn xa thấy rộng, thắng không kiêu, bại không nản, có lòng khoan dung độ lượng, ôm trùm được hết thảy, không những chỉ cho người dưới các điều họ chưa thấy mà còn biết nghe người dưới các điều mà nhà vua chưa tính đến. Vì vậy mà với cương vị người quân trưởng, nhà vua loại bỏ được các việc bất lợi, tận dụng được mọi kế hay của người dưới nên đã biến nguy thành an, biến yếu thành mạnh, biến thua thành thắng. Trong công cuộc kình chống giặc dữ vừa qua, Đại Việt ta thủ thắng, công ấy không thể quy cho một người nào cả, mà phải nói thắng lợi ấy là công lao của cả nước. Cả nước ví như một cơ thể gồm chân tay, thân thể đó là tướng lĩnh, binh sĩ và trăm họ thì bệ hạ chính là óc não của cái cơ thể đó.
Nghe thượng tướng Trần Nhật Duật nói, ai cũng cho đó là lời nói có tình, có lý, lời của bậc trung thần.
Trần Nhật Duật vừa hồi ban thì tướng quân Phạm Ngũ Lão liền xuất ban, ông nói:
- Tâu hoàng thượng, thưa chư liệt vị, sở dĩ ta thắng giặc là bởi ta bảo toàn được lực lượng, ta biết tránh mạnh đánh yếu nên ta thủ thắng, ta nhàn sức quân. Nhớ ngày quân giặc mới vào, thần giữ ải Lão Thử[2], địa thế ở đây hiểm trở tới mức nhiều người đã coi nó có khả năng nhất nhân địch vạn. Quả vậy, giặc xông vào hết đợt ấy đến đợt khác chúng chết chồng chết đống không một đứa nào chạy thoát. Vậy mà phía sau, tướng nó vẫn thúc quân vượt lên xác nhau mà tiến. Đúng là người Mông Cổ đem lính Hán làm vật lót đường, nên chúng không tiếc máu xương binh sĩ.
Con đường khe rất nhỏ nằm giữa hai vách đá dựng đứng, lấp đầy xác giặc, máu chảy tràn đường tanh lợm, thế mà suốt ba ngày giặc không chịu lấy xác nhau, chúng vẫn cứ một mực tiến về phía trước. Cứ xem việc chúng tiến binh thật chẳng khác lũ thiêu thân lao vào lửa. Tuy vậy, thần vẫn không dám ham chiến bởi Quốc công đã có mệnh: “Khi giặc mới vào sức nó đang cường, ta chỉ lợi dụng địa hình hiểm trở để cản giặc làm chậm bước tiến của chúng chứ chưa thể dứt điểm ngay được. Phải tản mỏng giặc ra rồi lựa chỗ sơ hở, chỗ yếu của nó mà đánh”. Kíp khi có lệnh lui quân, thần đã cho hậu quân làm tiền quân, còn tiền quân làm hậu quân vừa cản giặc vừa lui quân. Vậy là quân ta vẫn bảo toàn gần như nguyên vẹn, còn quân địch thì thiệt hại khôn lường.
Phạm Ngũ Lão dứt lời vái nhà vua hai vái rồi lui về ban của mình.
Trần Thì Kiến lập tức xuất ban, ông vái nhà vua rồi nói:
- Tâu bệ hạ, việc ta đánh bại kẻ thù có sức mạnh ngang trời đất không phải vì ta mạnh hơn nó, mà vì các nhẽ sau đây. Đành rằng có hàng ngàn điều làm nên chiến thắng, nhưng thần chỉ xin kể vài nhẽ chính.
Một là trong mọi hoàn cảnh dù hiểm nguy đến đâu ta cũng bảo toàn được bộ não của chiến tranh tức là hai vua, Quốc công tiết chế và thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương cùng một số yếu nhân khác.
Hai là ta bảo toàn được lực lượng, rút lui đúng lúc khiến giặc phải tản quân ra truy đuổi, thành thử lực lượng giặc ngày càng mỏng.
Ba là bộ chỉ huy đầu não quyết định rút vào Thanh Hóa cùng với một số quân rút theo nhưng lại lừa được giặc, ém hơn chục vạn quân ở Long Hưng và châu Hồng cùng vài miền rừng núi để phối với người man kháng giặc. Chủ trương đó vô cùng sáng suốt, mưu đó phải được coi như thần mưu.
Bốn là khi Toa-đô phá vỡ cửa quan Nghệ An, một số người sợ hãi ra hàng, quân ta lâm vào thế bị bao vây, vậy mà thượng tướng thái sư cầm quân cự giặc, vờ thua nhiều trận khiến Toa-đô đem đại quân truy đuổi ra gần tới Hoa Lư. Tới đó, mới nhận biết mắc mưu định quay lại Thanh Hóa thì không được nữa, vì bị quân ta chặn đứng. Lúc này thì chính quân giặc lại rơi vào thế bị bao vây. Bởi quân ta đã hình thành thế trận phản công từ lộ Hải Đông từ châu Hồng, Long Hưng lại bịt kín mặt nam từ Hoa Lư, trên mặt bắc thì Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Lộc cũng ngày đêm tập kích giặc.
Năm là bộ chỉ huy đầu não hạ lệnh phản công đúng vào mùa nóng nực, đúng vào dịp mưa lụt khiến giặc rơi vào thế đại bất lợi còn quân ta thì thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều hội đủ.
Tâu bệ hạ, thần chỉ điểm qua năm cái nhẽ khiến quân ta thắng, quân địch bại. Nói xong Trần Thì Kiến vái lạy nhà vua rồi lui về chỗ.
Trần Thì Kiến vốn là gia thần của phủ Hưng Đạo, bản tính ông ít nói, nhưng đã nói đều thấu lý đạt tình khiến đồng liêu đều cảm phục.
Trần Thì Kiến vừa về chỗ thì Trần Khánh Dư xuất ban. Phiêu kỵ thượng tướng thiên tử nghĩa nam Trần Khánh Dư đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược năm Đinh Tỵ (1257), vì có công đem quân tập kích bất ngờ vào phía sau quân địch khiến chúng phải chia quân đối phó, vì vậy chiến sự đang diễn ra rất căng thẳng ở Bình Lệ Nguyên[3] vua Trần Thái tông vừa cự giặc vừa lui quân được an toàn.
Cuộc chiến năm Đinh Tỵ cả Trần Khánh Dư và Trần Hưng Đạo đều là hai tướng trẻ mà đã lập được công lớn. Lại tiếp cuộc kháng Nguyên vừa qua (Ất Dậu - 1285) Trần Hưng Đạo đã ở ngôi vị Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự[4], còn Trần Khánh Dư là thượng tướng phó đô tướng quân, nắm một đội quân thủy khá lớn lập được công cao. Vừa xuất ban ông liền vái lạy nhà vua, cúi chào các đồng liêu và nói:
- Cao ý của hoàng thượng và các đồng liệt đã nói khá đầy đủ những cái cớ mà ta thắng giặc, thần chỉ nêu thêm một cớ nữa: Đó là vừa lúc thượng tướng thái sư Trần Quang Khải nhử được giặc từ Thanh Hóa ra tới gần Hoa Lư, rồi lại luồn về phía sau để dồn nó vào một cái túi khổng lồ, tức là ta đã hình thành thế bao vây giặc.
Quốc công phát lệnh phản công giặc trên mọi mặt trận nhưng đáng kể nhất là trận mở màn đánh vào sào huyệt giặc ở A Lỗ là căn cứ thủy binh lớn nhất của giặc. Nơi đây hơn một vạn bảy ngàn quân giặc gồm cả quân Mông Cổ và quân người Hán do vạn hộ hầu Lưu Thế Anh chỉ huy. Các tướng dưới quyền đều là những tay kiệt hiệt như Giảo Kỳ, Hắc-đích, Tang-gu-tai, Bôn-kha-đa… Lưu Thế Anh trấn giữ tuyến đường thủy chạy dài suốt từ Chương Dương, Hàm Tử, A Lỗ xuống Thiên Trường rồi thông ra cửa biển Đại An. Tuyến đường thủy này phía hữu ngạn thì hỗ trợ cho quân bộ của giặc đóng rải từ Trường Yên về tới Thiên Trường ở phía tây nam và phía tả ngạn thì khống chế quân ta tập kích ở phía đông, nó chính là tuyến huyết mạch nắm giữ cả đường thủy đường bộ từ Thăng Long xuôi ra biển, hoặc từ Thăng Long theo đường thiên lý vào Trường Yên rồi tiến về phía nam kiểm soát các châu Thanh Hóa, Nghệ An và thẳng sang Chiêm Thành theo hai đường thủy, bộ đều rất thuận lợi. Trong khi đó tuyến đường thủy từ Thăng Long xuôi Lục Đầu giang tiến theo nẻo sông Bạch Đằng để ra biển cũng do giặc kiểm soát.
A Lỗ là sào huyệt lớn, tập trung nhiều quân tinh nhuệ, phần lớn là quân thủy, một phần là quân bộ, quân kỵ với hơn ba ngàn con ngựa chiến nòi Hồ cùng với các tướng giặc lão luyện chiến trường.
Nhằm vào đêm mưa to như vỡ đê trời, nước trong đồng ngập trắng lại gặp lúc triều cường, nước sông Cái lên to gần ngập bờ đê, Quốc công sai quân đánh ào ạt, trại giặc chẳng mấy chốc mà vỡ tan tành, hơn ba ngàn con ngựa vỡ đàn lóp ngóp bơi như lũ chuột đồng chạy lụt. Quân kị bó tay, quân bộ, quân thủy lúng túng không còn năng lực kháng cự. A Lỗ bị đánh sập, trong số hơn một vạn bảy ngàn tên chỉ còn vài ba ngàn đứa chạy thoát cùng với bè lũ Lưu Thế Anh trốn lủi về Thăng Long xin chịu tội trước Thoát-hoan. Vậy là cả một chiến tuyến phòng thủ của giặc trên sông nước chạy dài hơn trăm dặm chỉ qua một đêm tan vỡ hết. Bởi nghe tin A Lỗ thất thủ các đồn trạm giặc khác trên khắp tuyến chưa nhìn thấy bóng quân ta đã hốt hoảng tháo chạy.
Thượng tướng Trần Khánh Dư nhìn nhà vua lại nhìn khắp lượt các đồng liệt rồi ông hạ giọng:
- Tâu hoàng thượng, theo thiển ý của thần thì trận mở màn A Lỗ tuy không đánh vào đầu não của giặc nhưng dường như nó đã điểm đúng huyệt bách hội của chúng, khiến từ đấy giặc không còn đủ sức ra đòn mà chỉ gồng mình chống đỡ cho tới lúc cắm đầu tháo chạy ra khỏi cõi bờ ta.
Dứt lời, thượng tướng vái nhà vua và cúi đầu xá các đồng liệt rồi lui về chỗ.
Các quan xì xào bàn tán:
- Đúng là sau trận Quốc công đánh bại Lưu Thế Anh ở A Lỗ thì đoàn quân xâm lược của Thoát-hoan mất hẳn sức chiến đấu.
- Đúng là một trận Xích Bích trên ngã ba sông Cái đã khiến quân giặc lâm vào thế bị tiêu diệt.
- Lạ thật, chỉ sau trận chiến đó, tinh thần quân giặc bị sa sút hẳn, chúng hoảng hốt như gà gặp phải cáo vậy.
- Quân Thát-đát chỉ mạnh khi kỵ binh nó có đất tung hoành.
- Thì ta đã chẳng cho kỵ binh nó tung hoành trong sông nước, trong những cánh đồng trũng sâu ngập cả đầu ngựa đó sao…
Các quan khẽ cười rúc rích.
Triều hội bỗng im phắc, bởi mọi người đều đổ xô nhìn về phía Chiêu Minh vương Trần Quang Khải khi ông rời khỏi chiếc thái sư ỷ. Vương nắn lại vành mũ, xốc đai áo, và liếc nhìn mấy dòng chữ nhỏ ghi trên chiếc hốt ngà, đoạn vái nhà vua hai vái, thái sư nói:
- Tâu hoàng thượng, ta thắng giặc bởi nhiều nhẽ như các quan đã tâu báo. Tuy vậy, có nói mãi cũng không hết được, chuyện này phải để khi đất nước yên trị, chắc chắn không còn bị giặc ngoài nhòm ngó núi sông ta nữa, khi đó mới có đủ thời gian để tom góp lại thành bài học cho đương thời và cho cả hậu thế nữa. Thần chỉ muốn nói một điều là từ vua đến quan, từ dân đến binh lính cả nước đều không sợ giặc, đều đem thân mình ra giữ nước. Đại hội Bình Than, thiếu niên Trần Quốc Toản mới mười sáu tuổi đã uất ức vì không được dự bàn việc nước, bàn kế đánh giặc. Và chỉ vài năm sau Quốc Toản đã lập được một đội gia binh, huấn dạy thành đội cường binh và bản thân Quốc Toản cũng trở thành một danh tướng lập công lẫy lừng, hy sinh cả tính mệnh mình cho nước. Lại Hội nghị Diên Hồng, bô lão cả nước được bệ hạ hỏi kế đánh giặc, đều dốc một lòng. “Xin bệ hạ cho toàn dân đánh giặc!”. Ngay cả người man như Hà Bổng, Nguyễn Lộc, Nguyễn Địa Lô khi giặc vào cõi cũng tụ binh đánh vào sau lưng chúng. Cả như Trịnh Giác Mật trước khi giặc vào còn nổi lên làm phản, sau nghe triều đình phân giải lại chiêu binh đánh giặc thật là kiên cường. Tâu bệ hạ, một nước mà từ vua đến dân, từ trẻ đến già, từ người Kinh đến người man thảy thảy đều không sợ giặc, đều đồng lòng đánh giặc, giữ nước. Tâu bệ hạ, một quốc gia như thế thì không một kẻ xâm lược nào không bị đánh bại. Và đó, chính là cái lý đáng kể nhất để nước ta thắng được giặc dữ Mông - Nguyên.
Nói đoạn, thái sư vái nhà vua rồi lui về chỗ. Các quan ai cũng khen cái lý mà thái sư đưa ra thực là chí lý.
Bỗng một người nhỏ thó xuất ban xin nói. Ai cũng ngửng nhìn xem người đó là ai. Quả thật ông ta người nhỏ bé quá nên phần đông các quan ngồi xa chỉ nghe được tiếng nói chứ không tường mặt.
Vái nhà vua xong, ông nói:
- Muôn tâu bệ hạ, vừa rồi giặc thua đau đớn, Hốt-tất-liệt chắc không nuốt nổi mối nhục này, cho nên giặc Mông - Nguyên lại sang xâm lấn cõi bờ ta chỉ là chuyện trong sớm tối, xin bệ hạ và Quốc công sớm trù liệu. Lần này giặc sang ta hẳn không chỉ dăm ba chục vạn như lần trước mà phải hàng trăm vạn, xin bệ hạ cho mộ thêm quân, huấn hỗ cho thiện xảo ngay từ bây giờ kẻo nước đến chân khó nhảy.
Ngẫm nghĩ giây lát, ông ta lại nói thêm:
- Thần được bệ hạ sai trấn vùng ải bắc kể đã mấy chục năm, quả thực chưa thấy một thứ quân nào lại đông như quân Nguyên, chỉ có thể ví chúng như lũ kiến chạy lụt cứ lao đi thục mạng. Nhớ khi nó tràn vỡ ải của thần, lập tức thần cho quân lui về hợp trấn với ải Lão Thử dưới sự thống lĩnh của tướng quân Phạm Ngũ Lão. Giặc qua “cửa Diêm Vương” này trăm đứa hồ dễ đã một hai đứa thoát chết. Vậy mà chúng cứ đạp lên xác nhau mà đi, vô cảm hệt như lũ kiến vàng, kiến gió, thật khác xa đám lính Tống nhát như cáy như thỏ, chỉ mới nghe thấy tiếng ngựa hí của quân ta chúng đã vội lủi ngay vào rừng trốn biệt.
Tâu, thần không nói quân Nguyên là quân kiêu dũng mà thần chỉ muốn nói chúng không còn nhân tính bởi chúng hành động như loài dã thú thôi ạ. Bởi vậy, muốn ngăn chặn chúng, ta phải huy động một đội quân thật đông đảo, huấn hỗ cho thiện xảo về mọi mặt thời mới có thể tiêu diệt được lũ giặc ngạo xưng là thiên binh này.
Viên biên tướng vừa vái nhà vua lui về chỗ, vua Nhân tông liền thong thả dụ bảo:
- Giặc vào cõi ta với đội quân đông tới gần năm chục vạn, nếu kể cả binh phu tiếp lương của chúng nữa thì còn đông gấp mấy lần, thế mà chỉ lách được qua mấy cửa ải, khác nào một biển nước mênh mông chỉ dồn chảy qua vài lỗ cống hẹp, hèn gì sức công phá của nó không lớn. Thế nhưng khi ta thả cho nó vào nước ta, lực nó tản ra thì đội quân năm chục vạn ấy có thấm tháp gì, chúng đâu còn đủ sức mạnh muốn đánh vào đâu cũng được. Khanh sợ quân giặc đông như kiến ư? Thì cả nước Trung Hoa mênh mông như thế đều thuộc quyền Hốt-tất-liệt, y bắt đi phu, đi lính bao nhiêu mà chẳng được. Cho nên giặc vào cõi ta, tám chín phần là quân người Hán, chỉ có một, hai phần là người Mông Cổ thôi. Và xác chết nhiều nhất vẫn là xác người Hán đấy. Khanh chớ sợ ta thiếu quân. Cuộc kháng chiến vừa qua, ta còn dư hơn mười vạn quân chưa dùng đến.
Nhà vua vừa dứt lời, Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương liền vái ngài rồi nói:
- Tâu, ý của hoàng thượng và chư liệt vị khá đầy đủ. Vả lại đây mới chỉ là bước ta làm đại lược thôi, chưa đủ thời gian để đi sâu vào các mặt từ việc dân, việc binh, việc lương… kể cả việc đặt ngoại gián để dò la tình hình trên đất giặc. Hơn hết là mưu lược phá giặc của triều đình và cả sự đồng lòng từ vương tộc đến vương triều và muôn dân. Đúng là ta có hàng ngàn cái lý để làm nên chiến thắng trong trận chiến nghiệt ngã vừa qua, song điều đáng nói nhất là ta đã không sợ giặc, ta dám đánh giặc vì thế ta thắng giặc. Ấy cũng bởi cái nhẽ cả dân tộc biết tự trọng nên biết cách tự cường để bảo vệ lấy cái phẩm giá cao quý vốn là truyền thống của giống nòi.
Quốc công hạ giọng, ông vừa nhìn các đồng liệt vừa chậm rãi:
- Hiện nay ta có nhiều việc cần phải làm như vừa đây hoàng thượng đã dụ bảo. Song theo thần, trước hết là phải chỉnh bị ngay việc quân, đề phòng Hốt-tất-liệt kẻ ngông ngạo nhất gầm trời này không nuốt trôi cuộc bại chiến vừa qua, sớm muộn thế nào y cũng cử đại binh sang xâm lăng ta một lần nữa để rửa hận. Tuy nhiên, quân cần tinh chứ không cần nhiều như viên biên tướng kia quá lo xa.
Nghe Quốc công bày tỏ tuy vắn tắt nhưng sáng rõ, vua Nhân tông lấy làm hài lòng. Còn một nhẽ nữa mà nhà vua thầm vui, ấy là bá phụ[5] (Trần Quốc Tuấn) và thúc phụ (Trần Quang Khải) các ý tứ đổi trao lâu nay xem ra rất hòa hợp, dường như các vị đã tận lòng hóa giải từ cuộc đại duyệt tại Đông bộ đầu[6] trước khi quân thù vào cõi. Ấy là việc quốc công tắm gội cho thượng tướng ở trên thuyền. Đành rằng đây là sự biểu lộ để yên lòng quân của các bậc đại trí. Song xét qua việc làm, quả thực các vị đã thành tâm hòa hợp. Tất cả đều vì nghĩa lớn, vì nước.
Nhẩm tính còn mấy việc cần làm, vua giơ cao cây hốt lên rồi dụ:
- Phải lo chữa cháy khi trời còn đang mưa lũ. Vì vậy việc phòng bị giặc ngoài từ khi ta mới đại thắng là cần thiết, đúng như nhời tấu của Quốc công. Vậy Quốc công hãy thay trẫm lo chỉnh bị ngay việc quân trong toàn cõi.
Đợi các lộ, trấn tâu về xét sự thiệt hại nhiều ít, thái sư lo giùm trẫm việc cứu trợ tiếp cho dân chúng các vùng bị giặc tàn phá nặng nề. Tha hoặc giảm tô thuế tùy theo sự thiệt hại ở mỗi nơi.
Lại nữa phải cử người đưa đám tể thần của Chiêm quốc do bọn Toa-đô dụ theo chúng nên bị bắt ở ta về nước. Vả nữa, các quan thử bàn xem ta nên thả đám tù binh Thát-đát thế nào cho thỏa đáng để tình hình biên sự đỡ căng. Theo ta, không chỉ thả tù binh mà còn có biểu trần tình và cả đồ tu cống để hạ nhiệt tên chúa Nguyên hung bạo ở Yên Kinh.
Vua vừa dứt lời, Chiêu Văn vương thượng tướng Trần Nhật Duật bèn lên tiếng:
- Tâu hoàng thượng, thế tất ta phải thả đám tù binh này về nước nó, chứ dại gì mà giữ chúng cho tốn cơm gạo trong khi dân mình còn đang thiếu đói. Nhưng theo ý thần, trong đám tù binh lúc nhúc ấy thế nào cũng có nhiều viên tướng phạm tội ác tàn sát dân ta đang trà trộn lẩn quất, phải thanh lọc chúng ra để trị tội. Đứa nào đáng tha thì tha, đứa nào phải đền tội thì không cho chúng đường về.
Trần Nhật Duật vừa vái nhà vua về chỗ thì các quan nhao nhao nói:
- Hoàng thượng anh minh, xin y lời tấu của Chiêu Văn vương.
- Giặc phạm cả nghìn tội, một đứa cũng không tha.
- Xin tha một số quân tân phụ nhát hèn và một ít kẻ ngu khờ người Hán, ngoài ra quân Mông Cổ thẩy đều đại ác, xin bệ hạ cho chém hết.
- Tâu bệ hạ, lũ tướng tay sai người Hán nhiều đứa còn nguy hiểm và gian ác hơn cả tướng Thát-đát, xin bệ hạ chớ nương tay.
Trong khi lời qua tiếng lại nói xen vào làm ồn cả đại điện, vua Nhân tông cũng chỉ nghe được lõm bõm ý các quan bàn tán, nhà vua bèn phán:
- Các quan cứ bàn kỹ, cứ nói hết ý mình, bàn cho thật thấu đáo nhưng phải tuần tự thì mới nghe được. Nào, xin mời bàn tiếp, vua giục.
Nhân Huệ vương phó tướng Trần Khánh Dư xuất ban, ông vái nhà vua rồi nói:
- Tâu bệ hạ, theo ý thần thì không nên chém lũ lính làm gì, dù nó là lính Thát-đát. Giết bọn ấy chỉ thêm ô uế đất ta. Bệ hạ nhân từ, nên mở đường hiếu sinh cho tất cả lũ súc sinh ấy. Thần thấy nhời tâu của quan thượng tướng Chiêu Văn vương là có lý. Phải truy lọc cho bằng hết bọn tướng giặc đang giấu mặt. Việc này kể cũng chẳng khó khăn gì mà không biết. Thỉnh thoảng ta cứ thả cho chúng một bữa ăn ngon, có rượu có thịt cho chúng ngồi chung với nhau, ta lui vào chỗ kín mà quan sát. Thế nào lũ lính tráng cũng khúm núm trước mấy tên thượng cấp. Ta cứ vờ như thế vài lần là biết sự thật tới quá nửa. Tuy vậy, vẫn có những tên cáo già đã kịp đổi lốt và răn đe hạ cấp ngay từ khi mới bị bắt. Vì vậy, vẫn phải hỏi cung từng đứa để thanh lọc cho kỹ càng. Tướng giặc vào ta thuần những tay cự phách, quyết không thể để cho chúng thoát tội một cách dễ dàng. Ngay cả bọn tướng Hán cũng không kém phần nguy hiểm, bởi chúng đang ra công khuyển mã mong được chủ mới tin dùng. Ví như Lý Hằng, Lý Quán bị ta giết trên đường tháo chạy, khi mới vào đất ta chúng chẳng như một lũ chó ngao sao. Chính Lý Hằng đã đánh bại Văn Thiên Tường để dẫn đến sự nghiệp nhà Tống phải sụp đổ ở Nhai Sơn. Vậy nên theo ý thần, ta chỉ thả bọn tướng đầu hàng như bọn tổng quản Trương Hiển mà thôi. Còn các bọn khác vờ như không biết, nhưng nhốt chúng vào xe hoặc vào thuyền thả cho trên đường về, nhưng xe hoặc bị lao xuống vực hoặc bị cướp chặn đường, còn thuyền thì đang đêm thủng ván… Lại nữa, quân thủy cho về đường bộ, quân kỵ cho về đường biển và che kín bịt bùng trên đường đi. Riêng đám quân kỵ bị sóng vật, chắc cả năm sau chúng chưa hết kinh hoàng. Tâu, nhời của thần chắc không làm đẹp ý bệ hạ. Nhưng bệ hạ thử nhớ lại xem, nếu trận vừa qua ta thua giặc, thì trên mảnh đất này có sinh linh nào còn sống được với chúng không.
Vẻ bùi ngùi, vua Nhân tông dụ rằng:
- Quả đúng như nhời các quan nói về đám giặc Thát-đát cùng lũ tay sai người Hán. Sao ta không biết tội ác của giặc: tàn sát dân lành, đốt phá cung thất, xâm phạm tông miếu, lăng mộ các tiên đế. Các tướng lĩnh và binh sĩ của ta hễ lọt vào tay chúng liền bị chúng hạ sát thật là tàn bạo. Tội ác ấy, dẫu có giết chúng tới ngàn kiếp vẫn chưa thể làm dân ta hả giận. Tuy vậy vẫn còn phải cân nhắc để hành xử thế nào cho vong linh các liệt sĩ và người trong nước vơi vợi nỗi đau căm giận, còn Hốt-tất-liệt cũng không thể vin cớ gì để trách ta được.
Trước khi bãi triều, nhà vua còn dụ bảo:
- Các quan nên nhớ, mọi việc đã bàn phải tức khắc làm ngay, giặc Bắc sớm muộn lại sẽ vào xâm lấn cõi bờ ta đấy. Và những điều bàn tính hôm nay đều thuộc về cơ mật quốc gia, ai tiết lậu ra ngoài để giặc biết ắt mang trọng tội.
Các quan ra về, đầu óc ngổn ngang công việc.
CHƯƠNG 2
Lại một lần nữa Hưng Đạo vương cùng một số gia tướng, gia thần đi đến từng trang ấp bị giặc Nguyên tàn phá xem dân chúng đã hồi phục được đến đâu.
Ngồi trên mình ngựa, Hưng Đạo chỉ về một thôn ấp mờ xa nằm sát mép sông, nơi các mái rạ đang đùn lên những làn khói bếp trắng đục như sương sớm. Nhìn mặt trời lên gần tới đỉnh đầu, vị tướng già thầm nghĩ: “Thế là người dân đã có cái đổ vào nồi, đã đỏ lửa cho bữa ăn trưa. Chẳng biết họ ăn cơm hay ăn cháo đây”.
Hưng Đạo ngoảnh mặt về phía sau hỏi viên tùy tướng Yết Kiêu:
- Có phải cái ấp ta sắp đến kia là ấp An Lạc không?
- Dạ bẩm chủ tướng, đó chính là ấp An Lạc.
Đi chừng mươi bước ngựa, Yết Kiêu rướn lên nói tiếp:
- Bẩm vương chắc ngài thấy lạ, vì lần trước ta qua đây sau khi vừa đuổi giặc ra khỏi cõi, nó còn là vùng đất chết, thế mà nay đã có sinh khí.
- Phải! Vương đáp, giọng ngài đã có vẻ vui vui. - Bởi ta thấy sự sống đang hồi sinh, đất và người đều đượm đầy sinh khí.
Vương cùng các bộ tướng cứ thả ngựa đi nước kiệu bên phía tả ngạn sông Bình Than xuôi về phía hạ lưu. Dòng sông phẳng lặng, hai bên bờ, rừng chạy miên man ra tận mép nước. Thời tiết đã vào hạ, những trận mưa rào đầu mùa khiến rừng cây tăng độ ẩm nên các tàng cây thường có hơi nước bốc lên bảng lảng như sương như khói. Nếu cứ nhìn dòng sông phẳng lặng và hai bên bờ sông, rừng nối rừng xanh mướt chạy dài tới hút cả tầm mắt kia, có ai ngờ cách đây mới hơn nửa năm trời, cả mấy chục vạn quân giặc qua đây, tưởng như chúng có thể nuốt chửng cả cây rừng, uống cạn hết nước sông và hủy diệt cả xứ sở này. Nhớ khi ta bỏ ải Nội Bàng lui về giữ Vạn Kiếp, đánh nhau mấy trận, ta làm như quyết giữ Vạn Kiếp, chẹn cứng giặc ở sông Lục Nam không cho chúng xuôi về Lục Đầu giang. Ấy là ta đã biết giặc không vào đường thủy qua cửa Bạch Đằng nên không sợ có quân tập hậu. Bất chợt ta lại lui về giữ Thăng Long khiến giặc vừa căng sức đuổi quân ta, vừa chia quân giữ đất nên lực chúng càng ngày càng mỏng và chúng không còn giữ được ưu thế lúc ban đầu. Và giặc cũng không thể đánh ta theo ý chúng nữa. Đang có lợi thế, ta đã toan phản công thì Tĩnh quốc vương Trần Quốc Khang không giữ nổi cửa quan Nghệ An khiến Toa-đô đánh vào phía sau quân ta. Tình thế đang trở nên khó khăn thì Trần Kiện (con của Quốc Khang) trấn tại Thanh Hóa đem hai vạn quân dưới trướng ra hàng giặc. Lại nữa cha con Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đem tất cả số quân thuộc quyền về hàng giặc khiến thế nước trăm phần chao đảo. Cái nguy hại là Trần Ích Tắc theo giặc đã nêu một tấm gương cực xấu khiến người trung chính cũng có phần nghiêng ngả, còn kẻ vốn đã lung lay thì ào ào theo giặc. Thế cuộc thật gian nan. Ấy thế mà rồi ta vẫn đuổi được giặc ra khỏi cõi bờ. Sức mạnh ấy ở đâu ra, đành rằng nó từ gan ruột tướng sĩ, từ muôn dân, nhưng thử hỏi nếu không có hồn thiêng sông núi cho ta làm điểm tựa, nếu vong linh tiên tổ không hiện về cho ta sức mạnh thì sao ta có thể xô ngã được quân thù… Vị tướng già cứ miên man hồi tưởng lại các hình ảnh của cuộc chiến vừa qua mà ngài cảm như một cơn ác mộng. Bất chợt ngựa đã dừng trước một ngòi nước lớn. Đây chính là cửa một con sông nhỏ bắt nguồn từ một dòng suối chảy len lách qua những cánh rừng, và ấp An Lạc nằm trên một doi bãi bồi được tạo ra từ dòng suối này với sông lớn Đại Than. Ấp An Lạc cũng chính là ấp Tân Lập do Hưng Đạo cho dân vào khai phá khoảng hơn mười năm nay và cho họ quyền sở hữu đất ấy. Vì là đất nằm trong vùng thái ấp của vương nên vương không phải xin phép triều đình.
Yết Kiêu dẫn cả đoàn đi ngược dòng suối khoảng vài ba dặm nơi có đoạn thắt ruột gà hẹp nhất, ngựa lấy đà đều nhảy qua dễ dàng.
Khi Hưng Đạo vương và đoàn tùy tùng vừa đến đầu ấp thì dân trong ấp từ già đến trẻ đã tụ họp đông đủ đón chào vương.
Trưởng ấp là một ông già quắc thước chít khăn đầu rìu để hở mái tóc bạc như cước, chòm râu dài trước ngực trắng xóa. Ông vận chiếc áo nâu dài tới ngang đầu gối, cánh tay áo chỉ phủ kín bờ vai nên vẫn lộ hai cánh tay trần đen bóng, bắp thịt nổi cuộn và in hằn hai chữ “SÁT THÁT”[7] màu chàm sẫm. Ngang lưng ông lão thắt chiếc dây lưng vải bạch bố múi xoay về phía sườn trái. Ông vận chiếc quần nâu lửng phủ tới nửa ống chân để lộ rõ bàn chân với các ngón tõe ra và hai ngón cái nằm ngang ra như châu đầu vào nhau. Người Tàu nhìn thấy các ngón chân của người Việt như vậy, nên họ gọi mình là “dân Giao Chỉ”. Tiếc rằng lối gọi kỳ thị ấy của lũ xâm lăng ngạo mạn đã tồn tại khá lâu trong lịch sử.
Ông lão trưởng ấp An Lạc và dân chúng vừa quỳ xuống vừa hô:
- Kính chúc đại vương mạnh khỏe!
Hưng Đạo lập tức xuống ngựa, mọi người cùng xuống ngựa. Vương nâng ông lão đứng dậy và ra hiệu cho cả dân ấp cùng đứng dậy. Đoạn vương nói, giọng ấm áp thân mật:
- Chúng ta đến thăm bà con trong hương ấp. Chẳng hay mùa vụ vừa qua có thu hoạch được gì không. Hay dân vẫn còn bị đói.
Một lão bà nhanh nhảu đáp:
- Bẩm đại vương, ngài thử nhìn dân hương ấp chúng con xem, đây có phải là dân đói không ạ. Đúng là hồi giặc mới bỏ chạy, chúng con trở lại hương ấp không còn một hạt gạo nào, cả ấp đói vàng mắt, may đại vương cho quan quân đem lúa gạo về phát tại hương ấp kịp thời nên không có ai bị chết đói.
Hưng Đạo chỉ tay về xóm giữa ấp bảo:
- Ta muốn vào hẳn trong trang ấp để được gặp bà con đông hơn.
Trưởng ấp dẫn vương tới khu vực xưa gọi là đình nay chỉ còn trơ bốn bức tường đất. Dân làng đã đốn tre, gỗ về chất đống phía sân đình, định sau vụ gặt thì dựng lại. Trong nền đình, trưởng ấp cho thu gom những vật mà giặc không lấy đi được hoặc không đốt cháy được nhưng chúng đã đập phá không còn có thể dùng vào việc gì.
Hưng Đạo vương đưa mắt xót xa: Đây là chiếc bình hương bằng sành vỡ làm nhiều mảnh, kia là chiếc cần cối giã gạo bị giặc đốt cháy chỉ còn một khúc, kia nữa là chiếc cối đá thủng dân thường dùng làm vật kê đập lúa, giặc cũng ghè vỡ hết miệng cối. Đây là những chiếc bình vôi vỡ, chiếc mất quai, chiếc mất vòi. Lại kia nữa chiếc cối xay thóc bị giặc đốt cháy hết phần vỏ cối đan bằng tre, chỉ còn trơ lại phần đất và những chiếc dăm cối cháy nham nhở. Tệ hại nhất là giặc đốt phá cả đền, chùa thờ thần thờ Phật. Những hoành phi, câu đối cháy có chiếc còn sót lại được một hai chữ nhưng các lớp sơn thếp đều đã bong tróc hết. Và những tượng Phật bằng đất bị thui cháy hết lớp sơn ngoài chỉ còn phần đất, chỗ thì ám khói đen thui, chỗ vỡ toác trơ màu đất thó vàng hoe, chân tay tượng gãy vỡ, phần điểm nhãn cháy trụi trơ ra hai hốc mắt đen ngòm. Nom những pho tượng cháy tựa như những người bị hành hình man rợ, lửa căm giận loài giặc dữ lại bùng cháy lên trong lòng vị Quốc công tiết chế. Nén lòng, Hưng Đạo quay ra nói với bà con trong ấp An Lạc:
- Đây là bằng chứng tội ác trời không dung đất không tha của quân xâm lăng Thát-đát. Hương ấp hãy dựng một ngôi nhà nhỏ để giữ những đồ vật này lại như là một bằng chứng để đời đời con cháu không bao giờ nguôi quên về các tội ác do quân giặc đã gây ra đối với những người thân, đối với đồng bào và cả non sông đất nước mình.
Quốc công nhìn những vành khăn tang thít trên đầu người già và trẻ nhỏ, lòng ông se lại và khẽ hỏi:
- Ấp ta có bao nhiêu người bị giặc sát hại?
Ông trưởng ấp chắp tay vái rồi thưa:
- Bẩm đại vương, cả ấp An Lạc có tới ba mươi mốt người bị giặc sát hại. Trong đó có bảy dân binh chết trong khi đánh nhau với giặc, cộng thêm chín cháu nhỏ cùng mười lăm người già đang lẩn tránh trong rừng, gặp khi giặc sục sạo tìm lương thực không chạy kịp, nên bị chúng giết chết hết.
- Vậy là trong trận chiến vừa qua dân ấp An Lạc bị giặc sát hại tới một phần mười? Quốc công đau lòng hỏi.
- Bẩm đúng như vậy ạ! – Cả hương ấp đồng thanh đáp.
Trưởng ấp lại nói:
- Bẩm đại vương, số hoàng nam tham gia tòng chinh vào các sắc quân của đại vương và của triều đình cả thảy là ba mươi bảy người. Tới nay có đến mười chín gia đình nhận được tiền tuất của triều đình và cả phần ruộng để hương đăng thờ tự các liệt sĩ rồi ạ.
- Liệu có còn gia đình nào biết chắc có người sung quân đã chết hoặc mất tích mà chưa được triều đình úy lạo không? - Hưng Đạo ân cần hỏi.
- Bẩm đại vương không có hoàn cảnh nào như vậy ạ.
- Thế còn đội dân binh của ấp thì sao, có giết được tên giặc nào không? - Vương lại hỏi.
- Bẩm đại vương, lũ thần giết được mười sáu tên, trong đó có năm tên sập bẫy, mười một tên khác đứa thì bị dân binh phục kích bắn tỉa, đứa thì bị chặn đánh tập hậu khi chúng đi sục sạo tìm kiếm lương thực trở về. Bẩm, ngoài mười sáu tên giặc bị giết, dân binh còn bắn chết được năm con ngựa chiến và dân chúng cũng bắt được bảy con ngựa chiến nòi Hồ đã nộp cả lên đại vương. Bẩm, sở dĩ giặc hung hãn giết chóc và đốt phá là bởi giặc đi đến đâu cũng là đi vào đất chết, và chúng lùng sục khắp mọi nơi đều không kiếm nổi một đấu lương thực, do dân các hương ấp đã tận lực làm theo kế “thanh dã”[8] của đại vương.
Hưng Đạo vương gật đầu:
- Phải! Giặc Thát cùng đường nên chúng đã khùng.
Vương nhìn khắp lượt bà con dân ấp, lại hỏi:
- Vậy chớ ở ấp ta đây ai cầm đầu đội dân binh?
- Bẩm đại vương, chính lão ông đây ạ. Dân ấp vừa nói vừa chỉ tay về phía ông trưởng ấp.
Hưng Đạo làm một cử chỉ khiến dân ấp hết sức kinh ngạc. Ấy là vương bước tới trước lão ông nghiêng đầu xá một xá rồi nói:
- Ta có nhời khen lão trượng, ta sở dĩ đánh bại được quân Thát-đát hung bạo là nhờ vào sự hiệp đồng của các dân binh trong cả nước mà lão trượng là một tấm gương rực sáng cho con cháu noi theo, lại nữa trăm họ mau lẹ hưởng ứng kế “thanh dã” của triều đình nên sớm hãm giặc vào tình thế khốn đốn.
Ta sẽ có khen tặng riêng cho lão trượng và dân ấp. Nhưng trước hết ta tha tô thuế cho dân ấp An Lạc trong ba năm liền để dân được hồi sức. Xem ra vụ vừa rồi dân đã có bát ăn, liệu có còn nhà nào phải thiếu đói cần cứu trợ nữa không.
- Tạ ơn đại vương, dân ấp đã đủ ăn, xin đại vương yên tâm lo việc nước.
Hưng Đạo và đoàn tùy tùng chào dân ấp rồi lại lên đường.
Suốt nửa tuần trăng Hưng Đạo tự thân đi kiểm xét các hương ấp dọc mấy triền sông tại những nơi quân giặc lướt qua hoặc đồn trú. Vừa là để biết sức tàn phá của giặc và cả sự chống trả của dân binh các hương ấp. Lại nữa, đại vương cũng cần biết xem đời sống người dân đã hồi phục đến đâu. Và hơn hết vương phải khám phá thật kỹ càng đường tiến đường lui của giặc để biết rõ chỗ mạnh chỗ yếu trong thuật dùng binh của chúng ngõ hầu tìm ra phương lược khắc chế nếu như nó vẫn chưa từ bỏ mưu toan xâm lăng nước ta một lần nữa.
Xem xét trong vùng thái ấp của vương xong, Hưng Đạo triệu một số tướng lĩnh có tài thao lược không kể tuổi tác. Các bậc huân tướng đã từng đánh bại quân Mông Cổ trong cuộc xâm lăng Đại Việt từ năm Đinh Tỵ (1257) như đại tướng Lê Tần, phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư và các tướng trẻ mới nổi trong cuộc kình chống với giặc dữ vừa cách đây non một năm như thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng các tướng Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa, Công bộ Nguyễn Hiền…
Trần Hưng Đạo có bốn người con đều là các bậc tướng tài đã tỏ lộ trong cuộc kháng Nguyên năm Ất Dậu (1285), tuy nhiên ông chỉ cho người con cả là Trần Quốc Nghiễn được phép tham dự.
Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải cũng là một tướng tài lỗi lạc nhưng Quốc công tiết chế không triệu bàn, vì Quang Khải phải điều hành nền đại chính trong cả nước. Vả lại chiến tranh vừa chấm dứt, có cả núi công việc đang chờ Thái sư.
Các tướng đến nghị bàn trong vương phủ Hưng Đạo ở Thăng Long. Phủ Hưng Đạo không nguy nga đồ sộ như vương phủ của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Ích Tắc theo giặc nên vương phủ của ông ta không bị giặc phá, nhưng triều đình đã sung công. Và mỗi khi có ai nhắc đến chỉ gọi là cựu phủ của Ả Trần[9]. Lại như vương phủ của Chiêu Văn thì lúc nào cũng huyên náo bởi tiếng đàn, địch hát ca. Ấy là trước cuộc chiến năm Ất Dậu (1285), chứ bây giờ thì cung thất đang sửa chữa bởi giặc phá phách tan hoang. Phủ Hưng Đạo nhỏ hơn nhiều cung phủ khác lại xây cất sơ sài, nhà tranh nhiều hơn nhà ngói và ở vào một góc khuất bên bờ sông Tô, giặc không ngó tới nên vẫn còn nguyên vẹn. Chẳng phải Hưng Đạo không xây cất nổi một vương phủ khang trang, mà bởi ông ở Vạn Kiếp là chính. Tại đó không chỉ có thái ấp mênh mông mà còn có cả một đội quân hùng mạnh dưới quyền.
Các quan, các tướng đã tề tựu, Hưng Đạo sai quân rót rượu mời. Rượu được rót vào các bát trũng lòng, phía trong láng men màu ngà, phía ngoài phủ men nâu vẽ hình người lính đang soãi chân ném lao.
Hưng Đạo tay nâng bát rượu mỉm cười nhìn các tướng chậm rãi nói:
- Bữa nay ta mời các ông đến để bàn việc nâng sức quân lên, nhưng trước hết có vò rượu ngon, xin mời các ông mỗi người ba bát rồi vào việc cũng chưa muộn. Các tướng cùng nâng bát và đồng thanh hô lời chúc:
- Chúc Quốc công vạn an!
Hưng Đạo uống cạn bát rượu cùng các tướng rồi nói lời đáp lễ:
- Chúc các ông sức khỏe, luyện quân cho giỏi chờ lập công.
Các tướng chưa hết ngạc nhiên vì Quốc công phá lệ, cho uống rượu trước khi bàn việc quân, không những thế lại còn cho uống những ba bát thay vì một bát và chỉ được uống khi đã vãn công việc. Cái ngạc nhiên thứ hai Quốc công bảo “chờ lập công”. Như thế có nghĩa là giặc Nguyên - Mông lại tái xâm lược nước ta sao?
Nhìn ánh mắt các tướng dò hỏi nhau, Hưng Đạo vương đọc được tâm trạng họ, ông bèn nói:
- Sở dĩ bữa nay ta phá lệ là bởi chúng ta đang sống trong một đất nước yên bình thời các ông với ta cũng phải được hưởng nhàn một chút chứ. Vả lại, vừa đánh bại một đội quân xâm lăng tự xưng là vô địch dưới gầm trời, công các ông lớn lắm, không lấy gì mà khen thưởng cho xứng đáng, đành nhờ ngòi bút của các sử quan để chép ghi tên tuổi và chiến công của các ông vào quốc sử lưu danh hậu thế, chẳng biết các ông có vui lòng, - vừa nói, Hưng Đạo vừa liếc nhìn về phía sử quan Lê Văn Hưu.
- Tạ ơn Quốc công! - Mọi người lại đồng thanh.
Bỗng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật lên tiếng:
- Bẩm, Quốc công vừa nói bọn tiểu tướng “chờ lập công”. Như vậy có nghĩa giặc Thát lại sắp vào cõi?
Quốc công đặt bát rượu xuống kỷ, ông cười lớn:
- Ôi, ta chỉ mong sao cho đất nước yên bình, bách tính an cư lạc nghiệp, nhưng ai dám đoan chắc rằng Hốt-tất-liệt từ bỏ dã tâm xâm lăng đất nước ta. Ta không tin cha con Hốt-tất-liệt có thể nuốt trôi cuộc bại trận nhục nhã vừa qua.
Quốc công nhìn khắp lượt các tướng và với giọng ấm áp, ngài nói tiếp: - Các ông nên nhớ, thân làm tướng, dù đất nước yên bình cũng phải coi như giặc sắp tới biên thùy, như giặc sắp vào cõi, huống chi Hốt-tất-liệt một con mãnh thú với tham vọng ngông cuồng muốn thu cả gầm trời này vào trong lòng tay nó. Và thực tế chưa có một quốc gia nào là địch thủ xứng tầm với nó. Ngoại trừ hai lần nó bị đại bại trên đất Đại Việt năm Đinh Tỵ (1257) và năm Ất Dậu (1285). Các ông thử tưởng tượng thái tử Thoát-hoan, con một đại hãn tức thiên tử nhà đại Nguyên phải chui trong chiếc rọ như rọ lợn rồi sai quân bọc đồng lá ở ngoài để tránh tên đạn, và quân chúng lôi xềnh xệch trên đường tháo chạy như lôi một con chó. Lý Hằng, Lý Quán là những tướng hùm sói chưa từng thua trận mà mưu lược như thần phải chạy theo hộ vệ, che chắn cho chủ tướng cũng đều mất mạng trên đường trốn chạy. Toa-đô là danh tướng theo hầu dưới trướng Hốt-tất-liệt cũng bị chém đầu trước cửa ngõ Thăng Long cùng với biết bao danh tướng hoặc đầu hàng hoặc bị bắt, bị giết. Nỗi nhục này Hốt-tất-liệt không thể bỏ qua. Vậy ta mời các ông đến để sớm lo việc phòng chống quân Nguyên khi chúng lại xâm lấn cõi bờ Đại Việt ta một lần nữa.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư bèn hỏi:
- Xin Quốc công cho biết nhà Nguyên đã rục rịch động binh chưa? Và nữa ngoại gián ở bên đó có còn hoạt động được không?
Chính những điều Nhân Huệ vương hỏi là những điều Hưng Đạo vương đang nóng lòng muốn biết. Ông đưa tay nhẹ vuốt chòm râu tới ba lần rồi chậm rãi:
- Nhân Huệ vương quả là bậc trí tướng. Đúng vậy, nếu ta không biết gì về kẻ địch thì khó bề trù liệu việc chống đỡ, nói chi đến việc đánh bại chúng.
Trước hết về cơ sở ngoại gián của ta trên đất Nguyên tuy chưa có nơi nào bại lộ, nhưng cũng khó có thể tiếp tục như cũ. Vì rằng lũ bán nước đầu hàng giặc không lạ gì người của ta. Trần Ích Tắc cũng mong manh biết Đỗ Vỹ nắm các đầu mối ngoại gián của ta ở bên đó. Ta cũng e rằng bọn Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn, Lê Tắc… đều là bọn chó săn lợi hại đang cần lập công với chủ mới, nếu ta sơ suất, tai hại sẽ khôn lường. Ta đang cho thay người mới vào các cơ sở cũ. Các người cũ phải cải dạng chuyển sang các nghề khác, chuyển đến những nơi mà không có kẻ phản giống nòi cư ngụ. Ta tiếc năm trước khi chiến cuộc sắp nổ ra, Đỗ Vỹ về đến Vĩnh Bình thì sa vào tay quân Mông Cổ, bị chúng giết ngay. Mãi sau này chúng mới biết đó là một ngoại gián lợi hại của Đại Việt. Vì vậy từ ấy đến nay chúng để ý truy tìm các cơ sở của ta gắt lắm. Nhưng có một tin này ta phải báo để các ông biết, tức là trước cuộc xâm lăng vào đất ta năm Ất Dậu (1285) thì bốn năm trước đó tức là năm Tân tỵ (1281), Hốt-tất-liệt đã phái một đội quân mười lăm vạn người với hàng ngàn chiến thuyền sang đánh Nhật Bản, nhưng bị bão lớn quật cho chìm nghỉm, số còn lại dạt vào đảo bị người Nhật giết chết. Trong số mười lăm vạn quân đó chỉ có ba tên sống sót với một chiếc thuyền tơi tả trở về. Lại trước nữa vào năm Giáp Tuất (1274) Hốt-tất-liệt đã phái một đội hạm thuyền tới mấy trăm chiếc cùng hơn ba vạn quân vào đánh Nhật Bản. Nhưng người Nhật đã kiên cường đánh trả, lính chết, thuyền chìm mà giặc không đưa được một tên quân nào lên bờ buộc phải quay đầu tháo chạy. Trên đường trốn chạy lại bị phong ba nhấn chìm đến quá nửa.
Hưng Đạo ngừng lời giây lát, ông ngửng nhìn khắp lượt các tướng rồi thong dong nói tiếp: - Như thế dưới gầm trời này duy nhất chỉ có hai quốc gia dám cưỡng mệnh Hốt-tất-liệt. Và cũng chỉ có hai nước ấy dám đánh lại và đã đánh bại quân thiên triều khiến thiên tử bẽ mặt. Ấy là nước Đại Việt ta và nước Nhật Bản. Nước Nhật Bản vừa kiên cường vừa có biển cả làm chiến lũy đã hai lần gây cho Hốt-tất-liệt nỗi kinh hoàng để dạ, chắc từ nay y không còn tham vọng hão huyền với đất nước Phù Tang nữa.
Với nước ta, tuy quân Nguyên cũng đã có hai lần đại bại, nhưng lần vừa mới đây là đau đớn nhất, nhục nhã nhất với thiên triều; nhất định Hốt-tất-liệt không chịu bỏ qua chuyện này. Hơn nữa thực lực của y còn mạnh lắm, bởi cả nước Trung Hoa giàu có và bao la là thế cùng biết bao nước khác đều nằm dưới ách thống trị của y, thì việc huy động binh lực đánh nước ta là việc trong tầm tay của tên bạo chúa này, vả lại nước ta, đường bộ, đường biển đều tiếp giáp với nước Nguyên, rất thuận tiện cho giặc đổ quân vào.
Ta không mong, nhưng chắc sẽ không tránh được quân Nguyên lại xâm lược nước ta một lần nữa. Vậy theo ý các ông, ta nên trù hoạch thế nào để kình chống với cuồng vọng của Hốt-tất-liệt đây?
Lê Tần, vị tướng trải thờ ba triều xin nói:
- Bẩm Quốc công, trận vừa rồi ta thắng lớn, đuổi được giặc dữ ra khỏi bờ cõi là bởi ta có hồn thiêng sông núi và anh linh của các liệt tổ phù trợ, lại nữa ta còn có kỳ mưu chứ thực tình không phải ta mạnh hơn giặc. Vì vậy lần này muốn thắng giặc, ta vẫn phải có kỳ mưu nhưng không thể thiếu một đội quân chiến đấu vừa dũng mãnh vừa thiện xảo.
Nguyễn Khoái, vị tướng trẻ từng kịch chiến với giặc nhiều trận thấy vị tướng già nói ta thắng giặc bởi kỳ mưu chứ không phải lực ta mạnh hơn giặc có ý không hài lòng, bèn xin nói:
- Bẩm Quốc công, thưa các chư liệt vị bề trên, tiểu tướng là kẻ vô danh được Quốc công cho dự bàn việc quân quốc trọng đại, trong khi lạm bàn có điều gì trái tai xin chư liệt vị bề trên đại xá. Dạ, vừa rồi quan ngự sử đại phu đại tướng quân trải thờ ba triều, là bậc huân tướng đáng tôn kính nói ta thắng giặc Nguyên là bởi ta có kỳ mưu, lại được hồn thiêng sông núi và anh linh chư liệt tổ phù giúp, điều đó quả là đúng. Nhưng ngài lại nói ta không mạnh hơn giặc thời tiểu tướng không nhận ra điều đó. Bởi trong trận hộ tống quân ta rút khỏi Thăng Long, tiểu tướng được dự vào đội dũng sĩ đi trước mở đường cho chiến thuyền của đại quân xuôi sông Cái lui về trấn giữ đất Thiên Trường, đại tướng Trần Bình Trọng đoạn hậu có nhiệm vụ cản giặc để đại quân rút được an toàn. Khi hậu quân ta sắp qua cửa Hàm Tử thì thủy binh giặc từ thượng lưu ào ạt xốc tới, tướng quân Trần Bình Trọng chia binh ra cản giặc để giữ an toàn cho tiền quân xuôi về hạ lưu. Vì lực lượng ta quá ít, dù tướng Trần Bình Trọng mưu trí và anh dũng có thừa vẫn phải cho quân tháo lui, và cuối cùng ông bị giặc bắt ở bãi Mạn Trù.
Nguyễn Khoái ngừng lời đưa mắt nhìn mọi người và ngước về phía Trần Hưng Đạo lại nói tiếp: - Tâu Quốc công, như vậy có nghĩa là trong chiến tranh bên nào mạnh là bên đó thắng chứ ạ.
Các tướng nhìn Nguyễn Khoái với vẻ cảm thông bởi vị tướng trẻ này lấy sự việc từ bản thân mình ra làm điều minh chứng, còn quan đại phu Lê Tần lại nhìn sự việc trên tầm đại cuộc.
Không khí rơi vào im lặng, bỗng quan Công bộ Nguyễn Hiền xin nói:
- Bẩm, tướng quân Nguyễn Khoái nói đúng với cục diện của từng mặt trận, từng trận đánh mà chỉ khi lực ta mạnh hơn giặc, ta mới thắng được giặc. Còn như quan ngự sử đại phu Lê thượng tướng nói là bao quát trên tổng thể. Đúng là trên tổng lực mà xét, rõ ràng giặc mạnh hơn ta. Nhưng ta dùng kỳ mưu để biến từng mặt trận, từng trận đánh khiến ta mạnh hơn giặc nên ta thắng. Phải nói kỳ mưu là một sức mạnh không đội quân nào có thể so sánh được. Ví như trận quân ta đánh vào đại trại A Lỗ do tướng Lưu Thế Anh nắm giữ đội quân thủy lớn nhất của giặc có cả vạn quân bộ và hơn ba ngàn quân kỵ với hơn ba ngàn ngựa nòi Mông Cổ bổ trợ cho quân thủy kia. Thế nhưng ta đánh chúng vào lúc mưa lụt, triều cường, đốt hết kho lương, kho cỏ khiến quân giặc vừa đói vừa rét vừa không ứng cứu được cho nhau. Kỵ binh Mông Cổ là lực lượng mạnh nhất của chúng trở nên yếu ớt nhất. Quân Mông Cổ không biết bơi bị quân ta dồn đuổi ra khỏi trại, cứ lóp ngóp như lũ chuột đồng chạy lụt khiến dân binh của ta chém giết đến mỏi tay lũ kia không bề kháng cự; còn ngựa nòi Mông Cổ thấy bốn bề mông mênh nước, có lấy giáo xỉa vào mông chúng cũng không dám bước khỏi tầu.
Tâu Quốc công, chắc quan ngự sử đại phu Lê thượng tướng quân nói ta thắng giặc bởi kỳ mưu là ở chỗ ta biến được cái sở trường của giặc thành cái sở đoản của nó. Do vậy cái mạnh nhất trở thành cái yếu nhất của giặc, và vậy ta thắng giặc. Ta lấy yếu thắng mạnh là như ở kỳ mưu cả. Và sào huyệt A Lỗ bị tiêu diệt là cả một hệ thống quân thủy của giặc án ngữ triền sông Cái từ Thiên Trường về tới Thăng Long chỉ qua một đêm bị bóc sạch. Và quân ta từ thế cầm cự vừa chống giặc vừa lui quân để bảo toàn lực lượng chuyển ngay sang thế phản công, thế tấn công, mọi mặt đều ở thế thượng phong khiến việc đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi chỉ có vài chục ngày kể từ sau trận mở màn A Lỗ.
Nói xong, Nguyễn Hiền vái Hưng Đạo một vái, lại quay về phía các đồng liêu cúi đầu đáp lễ vì các vị đã chú ý lắng nghe, rồi ông về chỗ ngồi.
Trần Hưng Đạo biết danh Nguyễn Hiền. Năm Nguyễn Hiền đỗ trạng, Hưng Đạo mới mười sáu tuổi. Loáng cái đã trải qua hai cuộc kháng giặc cam go và bây giờ ông đã ở tuổi năm mươi bảy, còn cậu bé thần đồng ngày nào cũng vào tuổi năm tư, râu đã dài tới ngực, tóc đã trắng đầu. Ôi thời gian và con người sao biến đổi nhanh làm vậy, chỉ có mưu đồ cướp xâm nước ta, biến nước ta thành châu, quận của giặc là không có gì thay đổi. Nghe mấy người nói, ông biết Nguyễn Khoái có cái lý của Khoái, Lê Tần có cái lý của Tần, còn như Nguyễn Hiền lại dung hòa cả hai kiến giải đó và nâng lên ở tầng mức cao hơn. Nói chung các tướng dù trẻ trung hay lão luyện đều đang có tâm trạng hào hứng, đang say mùi chiến thắng và quên rằng tiềm lực của nhà Nguyên đang ở thời sung mãn mà cuồng vọng của Hốt-tất-liệt lại chưa có dấu hiệu suy giảm; trái lại sự cay cú vì thua một nước nhỏ chưa bao giờ được y coi là địch thủ, khiến khát vọng trả thù của đám tướng lĩnh bại trận, và sĩ diện của thiên tử lại ngày một thôi thúc phải sớm ra đòn sấm sét để cái nước Nam nhỏ bé kia phải quỳ gối.
Trần Hưng Đạo đang dự liệu phải đánh trả một cuộc xâm lăng sắp tới của Hốt-tất-liệt còn lớn hơn, khốc liệt hơn cuộc xâm lăng năm Ất Dậu mới đây. Vì vậy ông muốn thổi vào lòng các tướng ý chí sắt đanh hơn nữa, mưu lược hơn nữa. Ông nói:
- Không phải chỉ ta và các ông mà cả nước đều có quyền tự hào về kỳ tích đánh bại đội quân cường bạo của Hốt-tất-liệt, bảo vệ vẹn toàn sông núi thiêng liêng cùng bách tính. Nhưng ta cũng lưu ý các ông không được ngủ quên trên những kỳ tích đó, mà ngay từ bây giờ phải dự liệu binh lực và cả tinh lực với các mưu kế cao sâu, khác lạ hơn để kình chống với cuộc tái xâm lăng của Hốt-tất-liệt với quy mô cực kỳ to lớn, âm mưu thì thâm hiểm và cuộc đối đầu sẽ khốc liệt hơn nhiều so với cuộc chiến năm Ất Dậu. Nên chăng các ông thử phán đoán nếu lần này đánh ta, giặc sẽ đi theo đường nào là chính, binh lực chúng kéo sang đất ta ước độ bao nhiêu, và chủng quân nào là chủ đạo. Rồi các kế mưu ta đã dùng cái nào có thể vẫn phải dùng lại, cái nào khó có thể lừa được giặc nữa.
Hưng Đạo vừa ngừng lời Trần Nhật Duật bèn lên tiếng:
- Bẩm Quốc công hồi ta phản công giặc rồì kết thúc cuộc chiến nhanh bất ngờ là bởi ta chớp đúng thời cơ: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thiên thời là do năm Ất Dậu mùa hè đến sớm khiến quân giặc mắc bệnh thời khí ốm nhiều, sức quân chúng giảm sút nghiêm trọng, số quân bị ốm chết cũng nhiều khiến lòng quân chúng sinh rối. Lại nữa mùa mưa cũng đến sớm, nước lũ từ thượng nguồn tràn về gặp lúc triều cường và hạ nguồn cũng mưa lớn, mưa dai dẳng khiến các trại giặc đóng ven sông đều ngập chìm trong nước. Đúng lúc đó thì Quốc công cho binh mạnh đánh vào A Lỗ, tựa như một đòn sấm sét bất ngờ giáng đúng huyệt bách hội khiến toàn tuyến phòng thủ trên triền sông Cái của giặc từ Thăng Long về tới Thiên Trường chỉ qua một đêm bị bóc sạch. Lập tức giặc từng cụm một ở vào thế cô lập. Nhìn tổng thể toàn mặt trận giặc lâm vào thế bị bao vây. Còn địa lợi thì ở đâu cũng trên đất ta, lại đúng mùa nước lớn thành thử quân ta phát huy hết sức mạnh sở trường là môn đánh thủy, còn giặc lại bị hãm vào thế đại bất lợi, bởi chúng là quân phương bắc, là lính thảo nguyên nên cái sở đoản của chúng bị quân ta khai thác đến cùng tận. Còn như nhân hòa là bởi dân ta muôn người như một đồng lòng giữ nước, và ai cũng thấy tội ác hiển nhiên mà giặc gieo rắc theo từng bước chân chúng trên đất nước mình.
Chiêu Văn vương ngừng lời, sửa lại mũ áo rồi ông nói tiếp: - Bẩm, đấy là các việc hiển nhiên mà ta đã thấy. Nhưng còn lần này giặc sang nữa thì chúng sẽ đem bao nhiêu quân. Đúng là nước Nguyên mênh mông, Hốt-tất-liệt muốn lập bao nhiêu triệu quân mà chẳng được, nhưng y lại không thể đem tất cả số quân ấy vào xâm chiếm nước ta được. Đúng là quân cần tinh chứ không cần nhiều như Quốc công từng răn. Quân đông mà ô tạp thì chỉ quẩn chân nhau, thay nhau làm bia hứng tên đạn của đối phương chứ có ích gì đâu. Bởi vậy lần này giặc sang tất cũng chỉ trong vòng năm, sáu chục vạn quân chiến đấu là cùng. Bởi chiến trường của ta hẹp lắm, thuần rừng núi và sông suối chứ đất bằng có được bao nhiêu. Theo thiển ý của tiểu tướng, giặc sẽ đến nước ta vào đầu mùa đông là mùa mà thời tiết rất hợp với người phương bắc, và giặc sẽ ép ta giao chiến ngay từ khi chúng mới đổ quân vào. Cho nên theo ngu ý của tiểu tướng làm sao ta giữ được cái thế kháng cự cầm chừng, không để giặc chiếm được các địa thế chiến lược nhằm khống chế lại ta, chờ thời cơ đến ta sẽ phản công lại giặc, như thế có nghĩa là ta phải bảo toàn được lực lượng và không bị giặc cuốn vào thế trận của chúng.
Trần Nhật Duật vừa ngừng lời, Hưng Đạo liền hỏi:
- Có phải ý của Chiêu Văn là ta phải tản giặc mỏng ra để tránh những trận giao chiến lớn rồi chờ mùa hè, mùa mưa có lợi thế, ta sẽ phản công?
- Bẩm, đúng như vậy.
- Ta muốn nghe nhiều kế khác nữa, xin các tướng cứ thực lòng bày tỏ. Vả lại, đây mới là dự nghĩ, dự bàn các vị đừng có câu nệ đúng, sai, cao, thấp và chớ có cầu toàn. Nên nhớ, nhờ vào tài bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà gáy của mấy vị hạ khách mà Mạnh Thường Quân ra khỏi nước Tần và thoát chết. Như thế đủ biết cả mưu lẫn mẹo đều có chỗ đắc dụng.
Thấy Quốc công thực tâm vấn kế, các tướng đều tự nghĩ: - Ông là vị thống soái thống lĩnh chư quân sự, mưu lược như thần mà dốc lòng cầu thị, nên ai nấy đều đặt lòng tin vào chủ tướng và sẵn sàng nói điều mình suy ngẫm, dù nó chưa phải là mưu mà chỉ là mẹo nhỏ cũng là một sức gom góp trí tuệ để giữ nước, việc đó chẳng có gì phải so đo tính toán.
Hưng Đạo đưa mắt nhìn khắp các tướng thấy gương mặt ai nấy đều rạng rỡ khiến lòng ông cảm thấy vui vui.
Bỗng Phạm Ngũ Lão xin nói. Ngũ Lão là một tướng trẻ, trong cuộc kháng giặc vừa qua lập được công lớn, vì thế các bậc bề trên không chỉ chú ý lắng nghe ông nói mà còn có phần trọng thị nữa.
Phạm Ngũ Lão vái Quốc công rồi lên tiếng:
- Bẩm Quốc công, thưa các bậc bề trên, tiểu tướng trộm nghĩ binh pháp thì thiên biến vạn hóa, dẫu ta có bàn cũng chỉ là ước định chứ không thể ấn định. Tuy nhiên nếu ta bàn kỹ, bàn rộng tức là ta đã lường mọi điều có thể xảy ra về phía ta cũng như phía giặc, kíp khi gặp việc xảy ra đúng như dự liệu thời ta bình tĩnh đối phó chắc đỡ vất vả hơn. Nếu tính từ năm Đinh Tỵ (1257) giặc đã thua ta hai keo khiến Hốt-tất-liệt và đám tướng lĩnh của họ cay cú lắm. Vì vậy, nếu lần này giặc lại sang, chắc chúng sẽ đem số quân tinh khỏe nhiều hơn, đòn đánh ác liệt hơn. Hẳn nhiên giặc không tiến quân, bày trận theo cách của năm Ất Dậu nữa. Nhưng kế mưu của ta nhiều thứ vẫn cứ phải dùng lại, ví như kế “thanh dã” khiến cho giặc khốn đốn cả về lương thực lẫn nơi đồn trú cho quân viễn chinh. Lại nữa các đội dân binh đánh tỉa ở khắp nơi, khiến giặc cứ ra khỏi nơi đồn trú là gặp cái chết. Và các đội quân người man phục đánh lũ quân tiếp lương, tiếp cỏ khi thì lấy đi, khi thì đốt đi khiến giặc luôn lo sợ không dám ở lâu trên đất ta.
Nói xong Ngũ Lão vái Quốc công, vái chư liệt vị rồi về chỗ ngồi.
Thấy mọi người nhìn về phía mình như có ý muốn nghe lời nói của quan chép sử, Lê Văn Hưu một ông già nhỏ thó, râu tóc bạc phơ chỉ có đôi mắt là tinh anh tỏa sáng, ông bèn đứng dậy vái Quốc công, vái các đồng liêu rồi nói:
- Bẩm Quốc công, thưa các chư liệt vị, cuộc chống giặc dữ năm Ất Dậu tôi được theo chân hoàng thượng ra mặt trận, tuy chỉ được đi trong một giới hạn nào đấy, nhưng tôi có phái đám thư nhi theo các tướng về các mặt trận, nên sự chép ghi mọi diễn tiến của chiến trường cũng có phần nào hình dung được rõ nét.
Theo cách nhìn của người chép sử thời cái nổi bật nhất của quân Nguyên là sự ngạo mạn, sự kỳ thị, nhìn mọi đối thủ đều dưới tầm mắt. Khi vào nước ta hai lần năm Đinh Tỵ (1257) và năm Ất Dậu (1285), hai cuộc xâm lăng cách nhau gần ba chục năm nhưng cách tiến quân của họ đều giống nhau cả. Tiến rất nhanh, tung hết lực lượng vào trận đánh như vũ bão nhằm tiêu diệt gọn đối phương. Thế nhưng khi bị quân ta căng ra mà đánh, thì chúng lại hết sức hoảng hốt tháo chạy nhanh hơn cả khi chúng mới đến. Thủy chung giặc để lại dấu ấn trên đất ta là sự bạo ngược. Ấy là đại để về phía giặc, còn phía ta, sử quán sẽ chép tỉ mỉ công tích của hai vua, chư vị tướng lĩnh cùng bá quan và bách tính, ngõ hầu để hậu thế noi gương giữ nước của các bậc tiền bối đã cam go và oanh liệt như thế nào. Nói xong ông lui về chỗ.
Lê Văn Hưu là người đỗ đồng khoa với Nguyễn Hiền. Trong bảng tam khôi Nguyễn Hiền đứng đầu, ông ở ngôi bảng nhãn đứng thứ hai, ông hơn Nguyễn Hiền năm tuổi.
Lê Văn Hưu là một sử gia chính trực, trong triều ai cũng nể trọng. Ông đứng đầu Quốc sử viện và đã biên soạn xong bộ Đại Việt sử ký gồm ba mươi quyển vào năm Nhâm thân (1272) dâng lên được vua Thái tông khen ngợi. Bởi vậy những điều Lê Văn Hưu vừa nói đều được các tướng lưu tâm.
Lê Văn Hưu về chỗ, lão tướng Lê Tần lại nói:
- Bẩm quốc công cùng chư liệt vị, theo phán đoán của mọi người thì giặc Nguyên lại sang xâm lấn là điều không thể tránh khỏi. Trước đây tiên đế dùng kế nhu để hòa, ta cố kéo níu cũng được non ba chục năm. Sở dĩ thời đó người Nguyên vừa dụ vừa đe là bởi họ chưa bình xong Trung Hoa. Tới khi họ đại định Trung nguyên rồi họ không chỉ dụ và đe mà còn cử đại binh chinh phục. Nay chinh phục cũng thất bại, nên họ càng cay cú. Xem ra kẻ thù của ta không phải loại tầm thường. Tướng lĩnh toàn những người đã xông pha trăm trận, bách chiến bách thắng, đánh đông đánh tây, đánh nam đánh bắc không một nước nào có thể kình chống nổi họ, ngoại trừ Đại Việt ta và nước Nhật Bản như Quốc công vừa nói. Cuộc chiến năm Ất Dậu về những cái nhẽ họ thua ta, không phải họ không biết cách tránh cho cuộc đối đầu sắp tới. Tức là tránh giao chiến vào mùa hè nóng nực, tránh mùa mưa lụt lội. Họ thua ta còn bởi họ bị hãm vào thế thiếu lương thảo. Ấy cũng bởi con đường tiếp lương rất gian nan vừa xa vừa qua rừng núi hiểm trở, cứ ba người phu tải lương chỉ đủ phục vụ cho hai người lính, mà số lương thực từ lúc đem đi tới lúc đổ vào kho thì người tải lương đã ăn đi mất quá hai phần ba. Vì vậy, lần này nếu giặc sang, biết đâu chúng chẳng dùng đường thủy để vận lương vừa được nhiều vừa đỡ tốn sức người lại có phần nhanh chóng nữa. Nghe nói mấy năm nay người Nguyên cho đóng thuyền lớn, lập quân thủy luyện tập ráo riết lắm. Xâm lược nước ta lần này chắc người Nguyên sẽ thay đổi cách dụng binh nhiều lắm. Đành rằng vào nước ta giặc không thể không dùng đường bộ, nhưng đường thủy cũng là một lợi thế chắc họ không thể bỏ qua. Vả lại nghề đánh thủy của người Giang Nam nếu được huấn hỗ đến nơi đến chốn cũng không thể xem thường họ được. Vâng, quân Tống của thời mạt Tống chẳng có gì để nói bởi ta đang nói tới quân Nguyên kia mà. Bởi vậy xin Quốc công và chư liệt vị nên tăng cường quân thủy, nên đề phòng mặt thủy. Mạt tướng nói điều đó là do linh giác của một đời làm tướng, điều đó đôi khi cũng đúng, nhưng nhiều khi lại do sự lú lẫn sự nhiều lời của người già hay nhiễu sự, xin được đại xá. Mạt tướng quả không còn đủ sức làm việc bình thường, nói gì đến việc đánh giặc nữa, lần này quyết xin hoàng thượng và Quốc công cho cáo lão về quê.
Lão tướng Lê Tần là bậc cao tuổi nhất trong các hàng tướng lĩnh, quả thực ông không còn đủ sức cầm quân nữa nhưng tài năng và nhân cách của ông thì các tướng từ già đến trẻ đều nể trọng. Ông vừa nói xong, phó tướng Trần Khánh Dư liền tiếp lời.
- Điều lão tướng Lê Phụ Trần linh cảm là có lý. Chính Khánh Dư này cũng đang nghĩ tới điều đó. Vậy xin Quốc công lưu ý. Tuy nhiên việc luyện quân cho tinh khỏe là điều tất yếu phải làm trong lúc này, kể cả việc chế tác các loại binh khí tân tiến hơn cũng phải gấp rút từng ngày. Nhưng điều quan yếu nhất là phải biết hiện nay ở đại đô Yên Kinh nhà Nguyên đang làm gì. Liệu họ đã dự liệu đánh ta chưa. Đánh to hay đánh nhỏ, những tướng nào tòng chinh, ai là tổng quản và bao giờ họ xuất chinh? Thưa Quốc công, nếu các việc quan yếu này ta còn mù mờ thì rất khó cho việc trù hoạch kế sách kháng giặc.
Với vẻ hài lòng Trần Hưng Đạo nói lời vỗ về:
- Các điều chư liệt vị nói quả không thể bỏ đi được lời nào. Trộn tất cả các dự mưu và cả dự đoán tình hình của chư vị sẽ dẫn hình thành một kế mưu quy củ, điều này ta sẽ xem xét kỹ. Còn như mấy điều Nhân Huệ vương đòi hỏi nếu không sớm được khai thông thời các kế sách của ta bày ra kháng giặc sẽ chẳng khác chi người mù xem voi. Ta hứa với các tướng, mọi việc sẽ được hoàn tất trong một ngày gần đây. Vậy các tướng ra về lập tức khai triển việc luyện quân. Các loại khí giới bên Công bộ lo ngay như kế đã hoạch định. Lại nữa các tướng trấn biên thùy cả trên bộ và trên biển phải hết sức cảnh giới động tĩnh từ xa, nếu vì sơ khoáng mà để giặc xâm phạm bất ngờ, quân pháp sẽ nghiêm trị. Cũng kể từ hôm nay, các tướng trấn ải nếu không có lệnh triệu không được phép đi khỏi quân doanh.
Các tướng ra về, lòng đầy hứng khởi.
CHƯƠNG 3
Sau buổi nghị bàn với các tướng lĩnh ở Thăng Long, Hưng Đạo lại xuôi thuyền về Vạn Kiếp. Ông bắt tay ngay vào việc đốc thúc các tướng luyện quân, tự mình đi xem xét các nơi rèn đúc, tạo tác khí giới. Quốc công để tâm nhiều vào các chủng quân như thủy binh, tượng binh và các đội thần vũ (tức là quân tinh nhuệ, xa thì dùng nỏ liên châu, gần thì đánh bằng giáo, mác hoặc đoản đao).
Quốc công cũng răn các tướng nên chia quân ra mà diễn tập, phải đặt ra nhiều trạng huống khác nhau kể cả bất ngờ gặp quân kỵ của giặc giữa đồng không mông quạnh, tức là gặp giặc đang ở cái thế mà nó mạnh nhất, nó phát tác được hết sở trường của nó, còn ta lại rơi vào tình thế cực kỳ khó khăn phải bộc lộ sở đoản của quân mình. Rơi vào tình thế đó thì chống đỡ ra sao?…
Sắp đặt công việc cho các gia tướng, gia thần ở ấp Vạn Kiếp xong, Hưng Đạo sai chuẩn bị thuyền cho ông đi khảo xét và ông chỉ đem theo một đô quân hộ vệ; tháp tùng có Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão và một số gia tướng gia thần khác.
Khi mặt trời khuất sau dãy núi Nham Biền, ở phía trời tây chỉ còn rơi rớt chút ánh vàng trên mặt nước Lục Đầu giang thì ông xuống thuyền ở bến Đại Than xuôi dọc theo sông Bình Than.
Đêm yên tĩnh, xuôi nước xuôi gió thuyền đi nhẹ như lướt. Trăng giữa tháng tỏa ánh sáng xanh lạnh xuống trần gian. Thuyền đi giữa hai bờ lau lách um tùm như đi vào một chiếc hang dài vô tận. Có đoạn rừng cây ăn sát mép nước, có đoạn thuyền men bên vách núi điệp trùng. Cảnh trí thật là hùng vĩ. Trong thuyền leo lét mấy quạng đèn dầu lạc, mỗi quạng tới năm, sáu đĩa đèn, mỗi đĩa lại châm tới hai, ba ngọn bấc.
Hưng Đạo cùng mấy vị gia tướng, gia thần ngồi quây quần giữa sạp thuyền bên khay trà đang bốc khói. Trương Hán Siêu từ khi xuống thuyền vẫn hí hoáy vẽ, ông vừa quan sát hai bên tả hữu ngạn dòng sông vừa vẽ, vừa viết lời chú dẫn ở những điểm có dấu khuyên son.
Hưng Đạo liếc nhìn những tờ giấy can rộng cùng những nét vẽ chắp nối, ông khẽ nhắc Trương Hán Siêu:
- Ông đã đi cùng ta nhiều lần, đã họa các bản đồ của dòng sông này nhiều kích thước khác nhau, lần này ta muốn có một bản đồ họa vào đêm trăng theo tầm nhìn các địa hình bằng mắt thường, lượt về ông sẽ họa cho ta một bản đồ khác vào đêm tối trời, để thủy quân của ta phải thuộc nằm lòng hình thể núi sông con đường thủy độc đạo mà quan trọng vào bậc nhất này của Đại Việt. Các tướng phải hình dung đầy đủ luồng lạch, đá ngầm cùng những vật cản trong lòng sông khi nước cường, khi nước rặc và cả những gì hiện có ở hai bên tả hữu ngạn. Phải thuộc nó như các đường chỉ lòng bàn tay mình, dù ban ngày hay ban đêm cũng không thể nhầm lẫn, nhất là những khe, lạch, những ngả rẽ, những chi lưu.
Căn dặn xong Trương Hán Siêu, Hưng Đạo ngửng lên nói với các tướng:
- Trời ban cho Đại Việt ta dòng sông này để thủ hiểm và cũng là để ta kình chống với giặc Bắc.
Trăng sáng vằng vặc tãi xuống mặt nước sông khiến sóng lao xao màu ánh bạc. Hai bên bờ rừng cây ken dày như những thành lũy chạy dài hun hút mà dòng sông nom nhỏ như một con rồng cứ thung thăng uốn lượn theo hình thế của đôi bờ. Cuối thu, gió heo may đã chớm lạnh vừa ào qua các cửa sổ khoang thuyền thổi tắt mấy đĩa đèn kê bên cửa sổ. Hưng Đạo so vai xốc chiếc áo khoác ngoài và ông đưa tay gài khuy cổ chiếc áo cộc lụa nâu đang mặc.
Hai gã gia đồng theo hầu bê ra một bình rượu hình lục lăng màu ngà men rạn từng mặt có trổ hình dũng sĩ ném lao màu nâu sẫm, bình có quai xách và có cả chiếc vòi rót ngắn ngủi nằm ở gần phía vai bình, gã kia đặt chiếc khay sơn màu cánh gián với mười chiếc bát nhỏ cao thành, chân đế cũng cao hơn các loại chén, bát cùng cỡ và trên thành bát cũng có hình trang trí như thành bình.
Hai gã gia đồng vừa đặt bình và khay xuống toan rót rượu, Hưng Đạo phảy tay cho lui.
Các tướng vẫn ngồi quây quần bên vị chủ tướng trên sạp thuyền, Hưng Đạo tươi cười giục:
- Nào, rót rượu ra thưởng trăng rồi ta bàn việc quân nhân thể.
Yết Kiêu với tay lấy bình rượu rót ra chén, ông đưa mời Quốc công. Hưng Đạo đỡ lấy bát rượu rồi giục các tướng:
- Nào các ông, ta cùng uống!
Từ sau trận thắng giặc Nguyên năm Ất Dậu, tính nết Quốc công trầm hẳn xuống, và cách xưng hô với các gia tướng, gia thần, gia nô cũng bình dị và thân mật gần gũi hơn. Ngay với Trương Hán Siêu là người trẻ tuổi nhất trong đám gia thần, trước Quốc công vẫn gọi bằng “ngươi”, nay ngài đều gọi bằng “ông” hoặc gọi chung họ là “các ông”.
Mỗi người bê một bát rồi uống theo vị chủ tướng. Mùi rượu thơm làm ấm cả khoang thuyền. Các tướng đặt bát rượu xuống khay rồi cùng hô:
- Tạ ơn Quốc công cho uống rượu ngon.
Vẻ thân tình, Hưng Đạo nói:
- Một bát rượu bõ bèn gì, nếu nói rằng ơn thì ta phải ơn các ông nhiều lắm.
Các tướng ngước nhìn Hưng Đạo với vẻ ngạc nhiên. Quốc công chậm rãi:
- Ta nhớ trận kháng giặc ở Nội Bàng năm trước, thấy thế giặc lớn khó bề cản nổi, ta cho lui quân theo hai đường thủy bộ, lấy hậu quân làm tiền quân. Ta vừa cản giặc vừa lùi dần từng bước cho hậu quân rút được nhanh hơn, an toàn hơn. Bữa ấy ta có dặn Yết Kiêu giữ một lá thuyền với vài chục tay chèo khỏe chờ ta ở Bãi Tân. Khi thấy quân lui đã xa mà trời cũng đã về chiều, ta bèn lên ngựa cùng Dã Tượng phi nước đại ra phía bờ sông. Ta biết đằng sau giặc đang truy đuổi. Đến bờ sông, nhìn thượng lưu, hạ lưu không thấy một bóng thuyền. Ta đã toan cùng Dã Tượng lội sông. Dã Tượng liền can: “Nếu Yết Kiêu chưa đón được chủ tướng tất không chịu dời thuyền”. Ta đi thêm mấy dặm nữa đến Bãi Tân là nơi hẹn đón, ngựa vừa dừng thì quả nhiên một lá thuyền từ trong lau lách băng ra áp bến. Ta xuống thuyền mà lòng xiết bao cảm động. Nhìn Yết Kiêu tự nhiên ta bật ra lời nói mà đến bây giờ ta vẫn còn nhớ, chẳng biết Yết Kiêu, Dã Tượng, hai tướng có nhớ?
Yết Kiêu mặt đỏ lên vì ngượng. Dã Tượng vội đỡ lời:
- Bẩm vương, lũ thần xuất thân hèn mọn được vương nuôi dạy cho thành người, lại cho theo hầu dưới trướng, trong lúc thế giặc đang cường, gian nguy khôn xiết kể, lũ thần chỉ có một chút công mọn, vương đã vội khen khiến lũ thần cảm động đến ứa nước mắt. Lời nói của vương như lời sông núi đáng chép ghi vào sử xanh, lũ thần sao dám quên được.
- Lời ta nói bữa đó bật ra từ gan ruột bởi cảm kích trước tấm lòng trung dũng của các ngươi, chứ ta đâu có mong điều mình nói ra là để lưu sử sách. Giả dụ cuộc chống giặc dữ năm trước, ta vì nhu nhược không giữ được nước, thì lời nói kia dù có chân thực đời sau cũng chê, cũng cho đó là sự khoa trương, bẻm mép mà thôi.
Cuộc mạn đàm đang hồi sôi nổi thuyền lại sắp tới ngã ba sông - ngã ba Dương Nham, ở đoạn trên viên lái thuyền tự rõ vì biết Quốc công đi khảo xét miền Bạch Đằng và Vân Đồn, nhưng ngã ba này có hai ngả rẽ vào sông Bạch Đằng. Một nẻo qua sông Giá, nẻo kia qua sông Đá Bạc, không hiểu chủ tướng muốn đi đường nào nên người lái thuyền cúi thấp đầu nói vào trong khoang:
- Bẩm Quốc công, ngài đi nẻo sông Giá hay sông Đá Bạc ạ?
- Vào sông Giá! - Hưng Đạo đáp.
Đoạn ông quay ra nói với các tướng: Chuyến đi này ta muốn khảo sát thật kỹ đoạn sông Rừng[10] với các chi lưu của nó như sông Giá, sông Đá Bạc, sông Chanh, sông Rút, sông Đông Kênh và cả các ghềnh đá ngầm dưới lòng sông cùng dãy núi Tràng Kênh kế đó. Lại phải xem xét cả độ nông sâu của từng đoạn lúc nước thường cũng như khi nước cường, khi nước rặc. Ta cũng muốn khảo lại trận năm Mậu tuất (938) Ngô Vương đã đóng cọc lim vót nhọn đầu bịt sắt ở cửa sông để lừa giặc, đánh tan cả một đoàn chiến thuyền hùng hậu của quân Nam Hán, bắt sống thái tử Lưu Hoằng Tháo và chém đầu nó để khích lệ ba quân.
Lại nữa năm Tân tị (981) hoàng đế Lê Hoàn đánh tan chiến thuyền của quân xâm lược nhà đại Tống cũng bằng thuật đóng cọc lim lừa giặc.
Vậy phải xem xét hơn ba trăm năm trước hai bậc anh hùng đó lập trận địa cọc ở những quãng nào, còn bây giờ giả dụ có dùng lại mưu của các bậc tiền nhân thì dùng thế nào cho đắc cách khiến giặc đã vào là không có đường ra.
Nhìn các gia tướng, gia thần như có ý khích lệ họ, Hưng Đạo vuốt chòm râu dài trước ngực, ngài vuốt tới hai ba lần rồi nói:
- Nước ta nhỏ nằm bên cạnh nước lớn, nên trời ban cho địa thế hiểm trở để thủ hiểm mà giữ nước. Nếu khéo lợi dụng được địa thế, ta có thể nhân sức quân lên được nhiều lắm. Vậy theo ý các ông nên thế nào?
Phạm Ngũ Lão bèn lên tiếng:
- Bẩm Quốc công, cứ như việc hội bàn ở Thăng Long thì ý Quốc công và chư tướng đều thiên về sự nếu lần này giặc Nguyên có sang nữa, ắt chúng không bỏ qua đường biển. Và cuộc đi khảo sát này của Quốc công chắc không nằm ngoài kế sách chặn giặc. Tiểu tướng trộm nghĩ, lực lượng thủy binh của ta có quân số đông, thuyền bè nhiều, luôn được tập tành lại vừa lập công lớn trong công cuộc kháng Nguyên năm Ất Dậu, tuy vậy xin Quốc công cho quân thủy tập dượt thật quen thạo các hải trình, chí ít từ châu Vĩnh An tức từ Mũi Ngọc Sơn[11] vào Tháp Sơn[12] tới cửa Đại An, nhưng lấy vùng cửa Đối, sông Mang, Vân Đồn, cửa Lục, cửa Bạch Đằng làm trọng tâm tập luyện.
Trương Hán Siêu chợt thấy thuyền đi vào chỗ khuất, nhìn qua hai bên song cửa khoang thuyền chỉ thuần một màu đen kịt, ông vội bước ra khỏi khoang đi về phía mũi thuyền quan sát; hóa ra một bên thì vách núi một bên thì rừng cây che khuất, lúc này trăng đã xế về tây, phía đông ngôi sao Mai đang độc chiếm một vùng trời và giữa trời là ngôi sao Vượt, còn các sao khác đều lặn hết. Nhìn tinh tượng ông đoán lúc này vào khoảng cuối canh tư đầu canh năm[13].
Trong khoang thuyền các tướng vẫn bàn bạc sôi nổi, nhưng không ngoài cái ý mà Phạm Ngũ Lão đã xướng xuất.
Khi mọi người đã vãn ý, Hưng Đạo liền nói:
- Nước ta vừa nhỏ lại vừa ở vào thế yếu, nếu không ta đã học cách của Lý Thường Kiệt để giành thế thượng phong là hay nhất. Tuy nhiên, muốn được nước địch coi trọng, nước ta phải giàu, binh ta phải mạnh, giặc vào phải đánh cho chúng những đòn kinh hoàng khiến chúng phải mang nỗi nhục tới muôn sau, họa may mới làm cho chúng và con cháu chúng nỗi khiếp sợ truyền đời.
Hưng Đạo ngừng lời, ông ngồi bó gối nhìn ra ngoài trời mờ sương với vẻ suy tư đăm đắm.
Bỗng Ngô Sĩ Thường lên tiếng:
- Bẩm Quốc công, trận kháng Nguyên năm Ất Dậu mới đây, ta vừa giết vừa bắt sống hơn chục vạn quân giặc, chém đầu và bắt sống hàng trăm tướng giặc, thái tử nhà đại Nguyên được vua cha phong làm Trấn Nam vương sai lĩnh chức tổng binh, đã phải tháo chạy chui lủi trong chiếc rọ tre bọc đồng lá bên ngoài để tránh tên đạn cho lính kéo lê trên mặt đất như thân một con chó. Đời làm tướng thua như thế, chạy như thế tưởng không còn nỗi nhục nào hơn thế, không còn nỗi sợ nào hơn thế. Đấy là nỗi đau và nỗi nhục không gì gột rửa được của thiên triều. Sử xanh thiên triều sẽ chép ghi việc này thế nào đây. Bẩm Quốc công, việc đã đến như thế, giặc Bắc chắc không còn mặt mũi nào mà dám vào đất ta nữa, sao Quốc công còn phải băn khoăn.
Nghe Ngô Sĩ Thường nói, Hưng Đạo ve vuốt chòm râu, đoạn ông mỉm cười đáp:
- Ngô Sĩ Thường nói điều đó là thuộc về đạo lý. Đạo lý chỉ có thể nói được với kẻ sĩ có nhân cách và những người có lương tri, người biết liêm sỉ, biết tri chỉ tri túc, tức là những người lương thiện. Ông có biết những cái đức ấy là rất xa lạ thậm chí là thứ rất xa xỉ đối với những kẻ cường quyền, những kẻ bá quyền cậy mình là vua của nước lớn. Lũ người này không bao giờ quan tâm đến đạo đức hoặc đạo lý, các ông nhớ giùm ta điều đó kẻo mất đầu hoặc mất nước với chúng lúc nào không biết. Còn sử xanh nước Tống, nước Nguyên ghi việc họ bại trận thế nào có nhẽ sử quan Lê Văn Hưu biết hơn ta. Tiếc rằng Lê Văn Hưu không có mặt ở đây. Vậy ai có thể nói giúp ta việc này?
Trương Hán Siêu vừa vào ngồi cạnh Phạm Lãm nghe được cả lời tâu của Ngô Sĩ Thường và lời hỏi của Hưng Đạo, nhưng mọi người vẫn im lặng. Chợt Phạm Lãm khẽ nói với Trương:
- Ông biết sao không bẩm để mọi người chờ ngóng.
Được khích lệ, Trương Hán Siêu bèn nói:
- Bẩm Quốc công, thưa chư liệt vị, trận quân Mông Cổ bị bại năm Đinh Tỵ (1257) và trận quân Nguyên đại bại năm Ất Dậu (1285) mới đây không biết Nguyên sử sẽ ghi như thế nào, chứ như cuộc xâm lăng của nhà Tống khởi từ tháng mười một năm Ất Mão (1075) đến tháng hai năm Đinh Tỵ (1077) kéo dài mười lăm tháng thì sách Tục tư tri thông giám trường biên của Lý Đào thuộc Tống sử ghi lời biểu mừng vua Tống Thần tông: “Đã dẹp yên An Nam và đã lấy được đất Quảng Nguyên”. Bẩm, cuộc chiến đó Lý Thường Kiệt đã hãm quân Tống ở bờ bắc sông Như Nguyệt tới cả năm trời, quân Tống mười phần đã bị diệt tới sáu, bảy phần, lương thảo cũng sắp cạn kiệt mà viện binh và tiếp lương đều không có. Tình thế ấy chỉ cần Lý Thường Kiệt ra tay một trận là quét sạch quân Tống, thế nhưng Ỷ Lan thái hậu và Lý Nhân tông vốn hiếu hòa nên cho quân Tống giảng hòa, cho rút quân để thiên triều đỡ bẽ mặt. Vậy mà Tống sử còn ghi như thế.
Tuy nhiên theo Nhị Trình di thư, tức là sách của hai ông họ Trình là Trình Di và Trình Hạo đời Tống chép về cuộc chiến ấy như sau: “Tám vạn phu vận lương và mười một vạn chiến binh chết vì lam chướng. Còn được hai vạn tám nghìn người sống sót trở về mà trong đó còn bị ốm nhiều. Nếu kể cả số trước bị địch giết thêm mấy vạn, cả thẩy không dưới ba mươi vạn”.
Trương Hán Siêu ngước nhìn Hưng Đạo rồi tiếp:
- Bẩm, cho dù Nhị Trình di thư có nói lên sự thật, nhưng vẫn giữ cái thói bưng bít và sĩ diện nước lớn. Quân Tống vào cõi ta mười lăm vạn, bị quân ta tiêu diệt mười một vạn là đúng sự thật, nhưng hai nhà Trình kia lại đổ cho sự chết ấy là vì lam chướng, thật nực cười. Đúng là… giấu đầu hở đuôi!
Nghe Trương Hán Siêu nói xong, Trần Hưng Đạo vuốt râu cười hà hà. Một lát ông nói:
- Cứ theo cái đà này, ta cam đoan với các ông, trận thua đau năm Ất Dậu mới đây Nguyên sử sẽ chép đại ý: “… Đại quân thiên triều đánh dẹp, người Giao Chỉ không chống đỡ nổi phải xin hàng. Trấn Nam vương yên ủi dân họ, thi ân đức của thiên tử khiến họ cảm ân nghĩa mà xin nội phụ. Vì vậy Trấn Nam vương bèn đem quân về nước”…
Nói xong Hưng Đạo lại vuốt râu cười. Các gia tướng, gia thần cùng cười vui vẻ. Nhìn ngoài trời đã hưng hửng sáng, Hưng Đạo hỏi các tướng:
- Thuyền ta đang ở quãng nào đây?
Yết Kiêu liền nói:
- Bẩm đức ông, ta đang ở địa đầu xã Trúc Động ạ.
- Ta nghe trời sắp sáng rồi, cho thuyền vào trú trong Trúc Động, sai lấy một số thuyền nhỏ giả làm thuyền câu, thuyền chài lưới rồi chia người đi khảo các nơi như ta đã nói. Mấy ngày lưu lại đây phải khảo thật kỹ các địa thế có thể dụng binh, kể cả thủy triều trong các mùa, lưu ý kỹ hai mùa đông và mùa xuân. Nhưng ta dặn các ông, mọi việc phải hết sức kín nhẹm, ngay trong quân ai không có trách phận cũng không được biết. Các ông nên nhớ, đây là việc quan yếu bậc nhất vì vậy đích thân ta phải đi khảo sát. Giặc Bắc quỷ quyệt, tai mắt chúng giăng mắc khắp nơi, đề phòng cẩn mật đến mấy cũng không thừa. Ta nhớ, sinh thời đức Trung vũ đại vương[14] thường căn dặn: “Nghiệp làm tướng dù trong thời bình vẫn phải xem như giặc sắp tới biên thùy, và phải luôn ngó dòm ngay trong quân doanh của mình liệu đã đủ ngăn được tai mắt giặc chưa”.
Suốt năm, sáu ngày Hưng Đạo cùng các gia tướng đi khảo sát rồi ghi chép và họa đồ không thiếu một chỗ nào từ bến bãi, rừng cây, núi đá, đồi gò, hang hốc, đá ngầm, vật cản xung quanh mấy con sông tiếp giáp với sông Rừng kể cả dãy núi Tràng Kênh và cửa sông Rừng. Hưng Đạo lại cho người đi hỏi các người cao tuổi trong vùng nhất là dân chài thông thạo về con nước và mớn nước của sông Rừng qua các tháng trong năm, kể cả những năm thời tiết thất thường. Nửa đêm thuyền lại xuôi về Cửa Lục, Hưng Đạo ở đó xem xét cả trên bờ, dưới biển thêm hai ngày nữa rồi cho thuyền xuôi Vân Đồn.
Một dải từ Bạch Đằng, Cửa Lục đến Cửa Suốt[15] trong đó có vịnh Hạ Long, Bái Tử Long mênh mông núi và nước. Nhấp nhô tới cả vạn trái núi đá, trên đó cây cối mọc rậm rạp như rừng thật là một bức tranh vĩ đại và kỳ thú được tạo hóa ban cho người mình. Sự xen kẽ giữa núi và nước tạo thành thế hiểm trở khôn lường. Ngoại bang vào vịnh này như lạc vào một trận đồ bát quái khó tìm được lối ra, ấy là chưa nói những dải đá ngầm và những trái núi đột ngột hiện ra chắn mất đường thuyền đi hoặc những dãy núi đá chạy dài nom như một bức trường thành hùng vĩ. Cả một khu vực phòng thủ trọng yếu này Quốc công tiết chế trao cho con trai mình là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng quản nhiệm và có sự hỗ tương của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Còn từ Vân Đồn ra mũi Sa Vĩ tới mũi Ngọc Sơn thuộc châu Vạn Ninh giáp với nước Nguyên (nước Trung Hoa bị người Mông Cổ đô hộ cải tên nước là Đại Nguyên) hoặc xuôi về phía nam qua Cửa Đại Bàng[16] tới vùng Tháp Sơn kéo tới cửa Đại An[17] thuộc quyền phó tướng Trần Khánh Dư cai quản.
Đêm yên tĩnh, thuyền đi trên mặt nước lao xao sóng làm ánh trăng vỡ vụn như vãi ra muôn ngàn vẩy bạc trắng lóa. Thỉnh thoảng chạm phải một đàn cá bướm, chúng bốc bay là là trên mặt sóng nom như một chiếc phên bạc kéo một vệt dài tới cả chục sải tay.
Chừng quá nửa đêm, thuyền vào tới vùng thương cảng. Bến bãi vắng hoe, không một bóng cờ ngoại quốc, trên bờ phố xá im lìm, bốn bề chỉ nghe tiếng biển thì thầm, Quốc công khẽ nói với mọi người:
- Đúng như Nhân Huệ vương đã tâu báo về triều rằng quân Nguyên đánh phá khắp nơi, tàu buôn các nước không qua lại vùng biển này nữa. Về phần nước ta vì đề phòng giặc trà trộn hoặc cắm cài gián điệp, nên cũng dồn hết người nước ngoài vào buôn bán trong đất liền. Người các nước xin hồi hương hết, duy có người Tống xin ở lại. Bởi họ ở lại đất ta còn được coi là dân di trú, chứ về nước sẽ là dân nô lệ cho người Mông Cổ. Quốc công chép miệng thở dài - Đúng là thời thế đổi thay đến chóng mặt. Mới đó còn là nhà đại Tống, còn là thiên tử với thiên triều Trung Hoa, thoắt đã trở thành nước đại Nguyên do người Mông Cổ cai trị.
Qua thương cảng, thuyền đi sâu vào trong vạn đảo chừng mười dặm nữa thì tới khu vực địa đầu quân cảng. Từ đây cứ hai dặm rồi một dặm lại có một vọng gác, kiểm soát rất nghiêm ngặt.
Dù luôn bị kiểm soát ngặt nghèo, nhưng Quốc công không lấy đó làm phiền và cũng không cho phép hạ cấp tiết lộ danh tính để được quyền miễn trừ kiểm soát.
Quan sát các trạm kiểm soát và các quân canh làm việc tại các trạm đều giống hệt nhau không một mảy may lơ là sai sót, Hưng Đạo thầm khen: “Nhân Huệ vương quả là một tướng giỏi, dạy quân đúng phép tắc”.
Cách đại bản doanh của thượng tướng Trần Khánh Dư chừng một dặm, quân canh ngăn thuyền Quốc công lại rồi cho người đem giấy vào bẩm trình.
Vừa liếc qua mật danh của Hưng Đạo, Nhân Huệ vương không kịp thắt đai áo và đội mũ, ông chạy một mạch tới nơi chiếc thuyền áp bến trước trạm quân. Vừa nhảy lên sạp thuyền, ông vừa chắp hai tay vái, miệng nói:
- Tiểu tướng thất lễ, xin Quốc công tha tội.
Hưng Đạo từ trong khoang thuyền bước ra vái đáp lễ thượng tướng và nói:
- Ta có nhời khen thượng tướng cắt đặt các trạm quân canh vừa hợp lý vừa nghiêm cẩn, nhưng cái đáng nói là ông dạy quân có kỷ luật cao đấy.
- Tạ ơn Quốc công rộng lượng.
Đoạn ông quay nói với viên lái thuyền:
- Ngươi cho thuyền đi thẳng vào đại bản doanh.
Vẻ hơi lúng túng, Trần Khánh Dư tiếp:
- Bẩm, Quốc công đi kinh dinh miền biển đảo, sao không cho hạ cấp biết để còn kịp cung nghinh.
- Ta đi bất chợt. Vả lại hiện nay làm việc gì cũng phải khẩn cấp và kín nhẹm như giặc sắp vào cõi. Vì đi bất chợt ta mới được biết về tính cương kỷ mà ông đã truyền dạy cho cấp dưới, cho binh sĩ như ta đã thấy, từ đó ta mới an tâm. Thôi được, thời gian không có nhiều đâu, lát nữa ta sẽ bàn kỹ với ông.
- Bẩm vâng.
Vào tới đại bản doanh cũng vừa lúc trời sáng bạch. Núi non, biển đảo cứ hiện dần lên tưởng như những ngọn núi kia vừa đội nước vừa rẽ sương mà mọc lên chứ không phải tạo hóa đã bày xếp từ thuở hồng hoang. Nhìn cảnh vật vừa quen vừa lạ, Hưng Đạo thấy lòng thơ thới liền hỏi:
- Thượng tướng ở đây thật chẳng khác cảnh bồng lai. Vậy chớ ông có làm thơ?
Trần Khánh Dư mỉm cười đáp:
- Bẩm, ở nước ta người không biết chữ còn làm thơ huống chi là hạ cấp. Nhưng thơ làm để người đời nay đọc được đã khó, lại người đời sau vẫn còn muốn đọc thời muôn khó. Việc đó kẻ làm tướng đâu dám mơ tưởng. Tuy vậy đôi khi trước cảnh đẹp không làm thơ thấy cũng tủi cho kẻ có học hành chữ nghĩa, nên cầm bút viết loáng thoáng đôi ba vần. Đọc lại, thấy tủi cho cảnh đẹp dường kia mà bị vùi chôn trong thứ ngôn ngữ quê mùa nên hạ cấp phải vội đốt nó đi chứ không có gan lưu giữ để làm khổ thiên hạ.
Trần Hưng Đạo bật ra tiếng cười thật là sảng khoái, đoạn nhìn thẳng vào Trần Khánh Dư, ông nói:
- Với cái giọng vừa khôi hài vừa hóm hỉnh, ta chắc ông có thơ hay. Nào ông cho khai vị vài bài cùng với cuộc thưởng trà sớm nay chứ?
Vừa lúc đó quân hầu đã khép nép mời các đại nhân vào nhà tân khách dùng trà.
Chưa xong tuần trà, Nhân Huệ vương đã nói:
- Bẩm Quốc công, hạ cấp cho quân thám trà trộn vào đất Nguyên… đang định nói tiếp thì Khánh Dư chợt dừng lại. Dường như ông cảm thấy tâu báo việc cơ mật mà ở chỗ đông người thế này e không tiện.
Biết ý, Hưng Đạo liền nói:
- Thượng tướng cứ cho nghe, đây thuần tướng lĩnh và mưu sĩ tâm phúc của ta cả, họ cần được biết những gì thâu thập được từ phía giặc thì mới bày cho ta mưu chước phá giặc được.
Cảnh thần tiên gợi nguồn thi hứng, tưởng như chủ khách sẽ có cuộc xướng họa. Vậy mà nàng thơ không có chỗ chen chân trước cảnh giặc ngoài đang hung hăng đe dọa.
Được nhời, Trần Khánh Dư liền nói:
- Bẩm, “quân đánh cá” của ta được những người bạn chài bên kia cho biết, Hồ Quảng[18] được lệnh đóng ba trăm chiến thuyền, công trường đang làm việc thâu ngày đêm. Dạ bẩm quân mới đưa tin về hôm qua, hạ cấp định ngày mai sẽ về Vạn Kiếp tâu báo để quốc công biết giặc đang trù liệu đánh ta. Vậy là không nằm ngoài dự liệu của quốc công rằng: “Lần này đánh ta ắt giặc sẽ dùng quân thủy phối cùng quân bộ, quân kỵ…”.
Trần Hưng Đạo trầm ngâm một lát, lại hỏi:
- Vậy chớ còn nguồn tin nào khả dĩ nữa tướng quân cho nghe. Sự thực từ đầu năm, ông đã được tin Hốt-tất-liệt dụ cho hành tỉnh “Hồ Quảng phải gấp rút đóng ba trăm chiến thuyền đi biển để sắp tới đánh Giao Chỉ”. Hưng Đạo đang cho ngoại gián phải gấp rút gửi mọi loại tin tức thuộc ý đồ xâm lăng nước ta của Hốt-tất-liệt để còn trù liệu việc kình chống.
Nghe Quốc công hỏi, Trần Khánh Dư với tính bén nhạy của nghề làm tướng, ông tự biết cái tin quan trọng ông vừa bẩm với Hưng Đạo chắc không phải là tin quan trọng nữa. Vì vậy Khánh Dư liền đáp:
- Bẩm Quốc công, hạ cấp không được phép đặt ngoại gián trên đất Nguyên, nhưng vẫn phải biết họ chuẩn bị quân thủy ra sao, nhất là các tỉnh ven biển như Quảng Đông, Phúc Kiến. Vì vậy người của mình làm nghề chài lưới, hằng ngày đem cá vào sâu trong nội địa họ bán rồi thu lượm và mua tin tức từ dân họ, lọc ra đôi khi cũng được nhiều tin có ích.
- Phải! Tướng quân làm như thế là phải. Phép làm tướng đánh giặc phải biết mưu giặc từ khi nó chưa xuất quân, phải biết sức mạnh của quân nó như thế nào, cái gì là sở trường, sở đoản của nó. Lại nữa, cũng cần biết mình phải đối đầu với những viên tướng nào của giặc. Hơn hết là phải biết tinh thần chiến đấu của binh lính giặc, chúng cương dũng hay nhát hèn để ta còn tìm cách khoét vào chỗ yếu của nó.
- Bẩm vâng! Trần Khánh Dư biết Hưng Đạo nói về trách phận người làm tướng, kỳ thực Quốc công còn có ý răn ta. Đoạn ông nhìn Hưng Đạo với hàm ý biết ơn rồi thong thả nói: - Bẩm, hạ cấp cũng nghe nói trong quân Nguyên bây giờ pha trộn giữa người Mông Cổ và người Hán. Bảy tám phần người Hán mới có hai ba phần người Mông Cổ. Quân ở phía bắc họ gọi là quân người Hán, quân phía nam họ gọi là quân tân phụ. Lính Mông Cổ kiêu ngạo khinh miệt người bản xứ, nếu chúng khinh binh lính người Hán bảy phần thì khinh quân tân phụ mười phần. Và rồi lính đánh thuê người bản xứ cũng lục đục, quân phương bắc khinh quân phương nam ẩu đả nhau loạn xạ. Dạ bẩm nếu Hốt-tất-liệt lại xua quân tái xâm ta lần nữa, xin hoàng thượng và Quốc công cho phát lời hịch nói rõ để đám quân người Trung Hoa biết họ chỉ là kẻ nô lệ, là quân tốt thí của người Mông Cổ, hãy quay giáo lại hợp lực với quân Đại Việt đánh đuổi kẻ thù chung của hai dân tộc.
- Hay! Hay lắm! Quả ông là bậc trí tướng. Hưng Đạo khen. Nếu lần này giặc Bắc lại sang, tất phải dùng kế của ông để đánh vào lòng tự tôn dân tộc của người Trung Hoa.
Liếc nhìn sang gian bên thấy quân hầu đã dọn sẵn đồ ăn, Nhân Huệ vương bèn mời Hưng Đạo qua dùng bữa sáng.
Một chiếc mâm đồng sáng loáng trên bày các thức ăn trân quý của biển, cạnh đó chỉ có một chiếc bát, một đôi đũa, một chiếc chén và một nậm rượu. Thượng tướng Trần Khánh Dư cung kính mời Hưng Đạo vào mâm.
Các mâm khác mâm nào cũng bày bốn chiếc bát, bốn đôi đũa.
Chỉ vào mâm cơm, Hưng Đạo cười và nói vui:
- Chủ nhân cho ta là người ăn khỏe như Lê Phụng Hiểu[19] sao mà dành riêng cho ta một mâm. Nói xong ông kéo Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Trương Hán Siêu cùng ngồi. Lại giơ nậm rượu lên ông nói: - Ăn xong còn bàn nhiều việc, rượu dành cho bữa tối.
Mọi người vui vẻ vừa ăn vừa nói chuyện râm ran. Cơm nước vừa xong, Hưng Đạo liền bảo:
- Ta muốn xem việc ông bố phòng quân thủy trong vùng biển đảo Vân Đồn suốt từ đây ra tới sông Mang, Cửa Đối. Sau đó ông sẽ đi cùng ta ra ngoài Vạn Ninh. Đúng rồi, ra miền địa đầu của đất nước chính là bãi Sa Vĩ và mũi Ngọc Sơn đó, khi quay về đi thẳng ra vùng Tháp Sơn.
Các tướng đưa mắt nhìn nhau lại nhìn về phía Trần Khánh Dư.
Biết ý mọi người, Khánh Dư lên tiếng:
- Bẩm, Quốc công đi kiểm xét các vùng trong nội địa, lũ hạ cấp chẳng dám tham bàn, nhưng ra vùng địa đầu biên hải thì thật không nên. Giặc Bắc có thể đánh sang ta bất cứ lúc nào. Hốt-tất-liệt là kẻ tàn bạo, còn lũ tay sai người Hán lại quỷ quyệt khôn lường, tai mắt chúng giăng mắc mọi nơi, Quốc công cần phải bảo trọng. Hạ cấp có thể bẩm báo bất cứ điều gì Quốc công muốn biết trong địa bàn từ Vân Đồn đến Vạn Ninh. Dạ, cả bờ biển phía bên kia do quân Nguyên kiểm soát, hạ cấp cũng thuộc nằm lòng. Bẩm, chẳng là từ năm Mậu Dần (1278) về trước, nhà Tống chưa bị người Mông Cổ tiêu diệt, phía nam thùy của họ dường như bỏ ngỏ, vì vậy hạ cấp có qua lại xem xét nhiều lần, lại cho họa bản đồ phòng khi dùng đến.
Gương mặt Trần Hưng Đạo tươi tỉnh hẳn lên, với vẻ hài lòng, ông vừa vuốt vuốt chòm râu dài vừa nói:
- Thượng tướng quả là người biết lo xa, phòng bão lụt ngay từ lúc trời còn hanh heo. Thôi được, ta nghe lời can của các ông. Bữa nay ta muốn tướng quân dẫn ta đi xem các nơi mà ông định bố phòng để chặn đánh giặc Bắc nếu như chúng tiến vào cõi ta bằng đường thủy.
Trước khi xuống thuyền, Hưng Đạo đảo mắt nhìn bao quát quanh khu vực đại bản doanh của Trần Khánh Dư. Có tới cả trăm chiến thuyền lớn nhỏ neo đậu quanh khu vực bến bãi, nhưng ở ngoài nhìn vào hẳn không thấy gì hết, vì phía trước có dãy núi nằm ngang như một con hổ khổng lồ phủ phục làm bình phong án ngữ. Luồng lạch vào ra rộng rãi tới mức vài chục con thuyền dàn hàng ngang xem ra còn lọt thỏm. Màu nước xanh sẫm. Chỉ nhìn màu nước, vị tướng già có thể đoán được mực nước sâu nông. Vả lại thủy chế vùng này ông thuộc nằm lòng. Luồng lạch của cảng này ông mới cho đo trước năm Ất Dậu, tức là trước khi giặc Nguyên xâm phạm nước ta. Nếu ông nhớ không nhầm thì khi nước xuống kiệt, lạch vẫn còn sâu tới mười lăm mười bảy sải tay[20] và khi triều cường vào các tháng bảy, tám sâu tới ba mươi lăm ba mươi bảy sải nước, thuyền chiến thuyền lương không loại nào không vào ra được, quanh năm không bao giờ mớn nước xuống dưới mười lăm sải tay. Lạch vào, lạch ra đều được che chắn một bên là bờ, là những dãy núi chạy song hành với biển phủ kín rừng già, còn một bên là những dãy núi đứt nối cắm sâu vào lòng biển tạo cho lạch một cái thế như một dòng sông chạy giữa hai bức trường thành; phía trong dùng làm cảng lại phình to ra và sâu hẳn xuống vừa tiện cho việc tập trung tới mấy chục hải đoàn để luyện tập, lại vừa là nơi trú bão an toàn, kín đáo. Nhìn biển, tựa núi quả đây có cái thế chiến lược vô cùng lợi hại, nếu biết tận dụng, nơi đây có thể nhân sức quân lên tới mười lần. Hưng Đạo thầm phục các vua nhà Lý từ Lý Thái tông, Lý Thánh tông đều là những bậc vua sáng vừa có tài trị nước vừa có tài cầm quân nên đã sớm nhận ra sự lợi hại của địa thế mà đặt quân đồn trú tại đây. Lại như Lý Thường Kiệt quả là một danh tướng bất hủ. Chính ông đã nhìn ra cái thế đất nhất nhân địch vạn này mà sai tướng giỏi trấn giữ ở đây và hãm tướng Tống là Dương Tùng Tiên với cả hải đoàn hùng hậu của y phải nằm chết cứng ở cửa Tiên Yên chỉ cách đây vài chục dặm. Dương Tùng Tiên đã dốc sức quyết chiến tới hơn chục trận trước cửa ải này không trận nào không bị thua, trận sau thua đau hơn trận trước. Sau đó y phải cố thủ ở Tiên Yên chứ không dám xuất quân đi nửa bước. Trong khi đó hai tướng Quách Quỳ, Triệu Tiết đỏ mắt ngóng trông quân thủy vào tiếp ứng để có phương tiện vượt qua bờ nam sông Như Nguyệt.
Lý Thường Kiệt không cho quân Tống đặt chân lên bờ nam và đánh tiêu hao, tiêu diệt chúng chết tới sáu, bảy phần khiến tướng giặc phải nhận bàn hòa và xin rút quân về nước. Điều nực cười là Dương Tùng Tiên không biết chiến tranh đã kết thúc, sau triều Tống phải cho người đi gọi y mới biết mà lủi về.
Liếc nhìn vọng hải đài đặt trên đỉnh núi cao chếch về phía bắc kia ngày đêm đang dõi nhìn động tĩnh từ ngoài biển, lại cũng đặt trên nền cũ đã có từ thời Lý, mới hay các đời về sau không đời nào dám lơ là việc canh chừng phương Bắc. Trần Hưng Đạo cảm thấy hài lòng, ông quay hỏi Trần Khánh Dư:
- Ông vẫn sai quân đo thủy chế hằng ngày chứ?
- Bẩm đức ông, hạ cấp sao dám lơ là việc ấy. Đôi khi quân vừa cập nhật sổ sách xong, hạ cấp lại sai đo lại để kiểm tra ngay. Bởi vậy, quân chúng chấp hành rất nghiêm cẩn, đại vương muốn coi sổ sách lúc nào cũng được.
Với vẻ hài lòng, Trần Hưng Đạo gật đầu rồi bước xuống thuyền. Mọi người xuống theo. Trần Khánh Dư cùng đi với Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương nhưng ông cho thêm hai thuyền đi hộ tống.
Khi thuyền đi tới gần cuối đảo, nơi có cánh bãi trải dài, Hưng Đạo nhìn thấy lác đác tới vài chục người dân cắm cúi đào xới trên bãi cát, trên đầu mỗi người đều đội một chiếc nón lá cúp đến ngang vai, khác với nón của đám sơn tràng hoặc nông phu người Tàu thường đội. Ông quay hỏi Trần Khánh Dư:
- Những người đang cắm cúi đào xới kia họ tìm kiếm cái gì vậy?
- Bẩm họ xắn cát để bắt giun biển đấy ạ.
- Loại này có dễ bắt và có làm thức ăn được không?

- Dạ, loại này bắt dễ lắm ạ. Chỉ cần trông thấy cái “mà” nó đùn lên, người ta dùng chiếc mai gỗ nhỏ bằng ba đầu ngón tay xắn xuống cát rồi bẩy lên là bắt được. Bẩm đây là loại thức ăn rất bổ, chắc Quốc công biết ở Thăng Long gọi con này là bông thùa.
- Bông thùa thì ta biết, nó to và dài gần bằng chiếc đũa ăn cơm, màu trắng như thịt cá mực.
- Bẩm, chính là bông thùa đấy ạ. Vùng này trước còn có ngư dân người Tống, họ gọi con đó là con sái sùng.
- Tiếng Quảng Tây?
- Bẩm, đúng thế.
Hưng Đạo lại chỉ tay về phía những người dân đang cắm cúi đào bông thùa và hỏi:
- Có phải những chiếc nón họ đang đội kia là nón “Ma Lôi” do ông nghĩ ra và bắt dân trong vùng phải đội không. Vì sao vậy?
- Bẩm, chắc Quốc công nghe nhiều chuyện đồn và phiền lòng về hạ cấp lắm phải không ạ?
Chẳng là trước cuộc xâm lăng năm Ất Dậu của người Nguyên thì vùng này người Tàu làm ruộng, đánh cá với người Tàu buôn bán chiếm hơn phân nửa dân số. Mà người Tàu với người mình nom đã hao hao nhau rồi, nay lại đến quần áo, nón mũ giống nhau nữa thì khó phân biệt quá. Vì vậy hạ cấp mới bắt mọi người trong trang Vân Đồn hễ là người Việt phải mặc y phục Việt, còn người Tàu mặc theo y phục Tàu. Sợ trong lúc vội vàng khó phân biệt, nên hạ cấp bắt hễ là người Việt, phải đội nón Ma Lôi. Bởi chiếc nón Ma Lôi gọn nhẹ, sâu lòng thoáng nhìn đã biết đó là người mình. Vả lại trong chiến tranh chỉ những người cùng nòi giống mới thương nhau, mới tin cậy mà sai bảo hoặc nhờ vả. Hạ cấp qua trải nghiệm đã biết vì sao họ ở đất ta tới cả trăm cả ngàn năm rồi mà dân ta vẫn cứ gọi họ là “khách trú”, tức như người ở trọ thôi. Bởi mỗi khi giặc vào cõi ta, họ không bỏ nhà bỏ cửa ra đi như người mình, không “thanh dã” như người mình, mà họ ở lại. Họ ở lại và nếu họ không chỉ điểm cho giặc nơi ta cất giấu lương thực hoặc dẫn đường cho giặc truy đuổi quân ta, chỉ vậy thôi, họ cũng là người cực tốt rồi. Tiếc thay, điều đó lại chưa hề xảy ra. Chắc Quốc công đã chứng kiến năm Ất Dậu, khi Thoát-hoan kéo đại binh vào chiếm Thăng Long thì tất cả các cửa hàng cửa hiệu của đám khách trú phường Hà Khẩu đều mở cửa đón quân Nguyên. Và hằng ngày họ đi mua gom lương thực, thực phẩm về cung cấp cho quân của Thoát-hoan. Quân của Thoát-hoan thì tới già hai phần ba là người đồng hương của họ. Qua các việc sờ sờ trước mắt diễn đi diễn lại từ đời này sang đời khác, khiến người mình không tin dân khách trú là vậy. Vì thế mấy năm trước hạ cấp cho người mình đội nón Ma Lôi để dễ phân biệt. Còn bây giờ lĩnh ý của Quốc công phải sửa soạn thuyền bè, luyện tập binh sĩ, phong tỏa bốn mặt để giữ việc binh cho kín nhẹm. Do đó, hạ cấp đã cho người Tàu từ buôn bán đến làm nghề chài lưới hoặc cày ruộng, hết thẩy đều cho họ vào sâu trong đất liền. Người buôn bán thì cho ở nơi chợ búa, phố phường, người cày cấy thì cho ruộng, còn dân chài lưới thì cho sinh sống ven sông nước.
Trần Hưng Đạo gật gật mái đầu bạc trắng và đưa tay ve vuốt chòm râu, đoạn ông nói mà như là ông hỏi vậy:
- Kể cũng lạ, từ đời Tần, Hán đến giờ, cứ hễ nước Tàu có loạn là người của họ chạy sang ta tá túc, quan cũng có mà dân cũng có. Người mình cưu mang khiến họ được an cư lạc nghiệp, nhiều kẻ giàu có gấp bội người mình, thế mà họ vẫn cứ dửng dưng với đất nước mình thực chẳng khác gì một thứ tầm gửi cứ ra sức hút nhựa mặc cho cây chủ cỗi cằn, khô héo.
Trần Thì Kiến là người tính tình bộc trực, bấy lâu ông vẫn nghe đồn quan Đông hải đô tổng quản là người không được liêm khiết lắm. Ngay nón Ma Lôi do ông nghĩ ra để phân biệt người Việt với người Tàu, kỳ thực cũng là chuyện trục lợi cả thôi. Vì vậy dân oán làm thành ca vè. Việc này không biết có mấy phần sự thực. Nghĩ vậy Trần Thì Kiến liền hỏi:
- Bẩm thượng tướng, tôi hỏi có điều gì thất lễ xin thượng tướng bỏ qua, bởi tôi nghe có ai đó tặng ông một bài thơ trong đó có câu: “Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh” (Ở Vân Đồn (này) đến gà chó cũng phải sợ (ông)) là ý như thế nào ạ?
Lạ thay, Trần Khánh Dư không những không giận mà còn cười ha hả. Ông đáp:
- Chẳng qua là tôi coi quân, trị dân rất nghiêm. Người có tội thì dù thân thích tôi cũng không tha. Câu thơ vừa qua họ nói cái ý dân Vân Đồn này đều kính sợ tôi thôi chứ có gì đâu. Thế nhưng những người ghét tôi lại bịa đặt vu cho tôi là tham lam vơ vét đến cả gà chó cũng phải kinh hoàng.
Mọi người cười phá lên vẻ bán tín bán nghi và đều nhìn về phía chủ tướng Trần Hưng Đạo như muốn người cho một lời xác quyết.
Trần Hưng Đạo vừa mỉm cười vừa ve vuốt chòm râu dài sợi nào sợi ấy đều sóng như cước, đoạn ông nói:
- Phiêu kỵ thượng tướng quân là một người có học thức, có tài thao lược, xuất thân từ chốn quyền môn nhưng cũng trải gập ghềnh sóng gió, cả lam lũ nữa, ta chắc vì thế mà tướng quân hiểu mình, hiểu đời, mỗi việc làm đều có cân nhắc. Hoàng thượng sai ông trấn trị vùng này có hai việc tối quan trọng, ấy là chăm dân và giữ nước. Mà chăm dân tức là giữ nước đấy. Có chăm được dân mới giữ được nước. Nếu chẳng may nhất thời bị mất nước vẫn còn có thời cơ đòi lại nước, vì còn dân ắt còn nước. Nhược bằng để mất dân là mất tất cả. Cả nước và cả thân đều nhất đán tiêu vong.
Quốc công tiết chế ngừng lời, ông đưa tầm mắt nhìn ra bao la trời biển, dường như những điều ông vừa nói đã bứt khỏi đầu óc. Chợt vương quay lại nhìn mọi người với ánh mắt trìu mến và nói tiếp: - Nước ta giàu và đẹp lắm, núi non biển cả hùng vĩ lắm không phải nước nào cũng có được đâu. Người phương Bắc thèm nhỏ rãi tựa như con vật bị xích chỉ cách miếng mồi trong gang tấc mà không sao đớp được. Từ Tần, Hán, Lương, Đường, Tống tới nay cái dã tâm của người phương Bắc đối với nước ta không những không có gì thay đổi mà sự thèm khát còn khốc liệt hơn, ngay cả người Mông Cổ mới thống trị Trung Hoa như Hốt-tất-liệt cũng lập tức bị lây nhiễm nỗi khát thèm đối với non sông bờ cõi ta. Bởi vậy từ người trí đến kẻ ngu lúc này đều phải coi việc giữ nước làm trọng, mọi cái tư riêng bé mọn đều có thể thu xếp được, chớ để cho việc nhỏ cản đường của việc lớn. - Chắc các ông hiểu ý ta? - Hưng Đạo lại nhìn các tướng và gặng hỏi.
- Bẩm vương, hiểu ạ! - Mọi người đồng thanh đáp.
Suốt ba ngày quần thảo quanh núi non, biển đảo trong vùng vịnh Vân Đồn, vị Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự đã bàn bạc rất kỹ lưỡng với phiêu kỵ thượng tướng Trần Khánh Dư về các giả định mà trận chiến sẽ diễn ra trên vùng biển trọng yếu phía đông này. Có bữa, ban ngày đi xem địa thế, ban đêm Hưng Đạo sai các tướng vẽ sơ đồ dựng lại thế trận mà quân Lý hãm quân Tống trên cái họng biển này khiến đại cuộc của quân Tống sụp đổ, mưu đồ của Vương An Thạch, Tống Thần tông bị Lý Thường Kiệt đập vỡ tan tành.
Kết thúc công việc ở Vân Đồn, Hưng Đạo sai giong buồm thẳng ra vùng Tháp Sơn.
Tháp Sơn cũng là vùng núi non biển đảo quan trọng, nhưng không hiểm yếu và mang tính huyết mạch như tuyến Vân Đồn - Bạch Đằng - Lục Đầu giang.
Thăm thú các nơi xong, Quốc công chỉ tay về phía trái núi cao nơi tọa lạc một ngôi chùa và một ngọn tháp chọc trời, ấy là tháp Tường Long, rồi ngài dạy: - Ta lên đó! Lên đó có thể nhìn thế trận rõ hơn. Nói xong ngài xăm xăm đi trước.
Núi cao, đường dốc các tướng đều có vẻ lo ngại vì Quốc công tuổi đã cao, người nọ nhìn người kia ngầm nhắc bảo nhau phải thận trọng.
Biết ý các tướng, Hưng Đạo liền an ủi:
- Ta vẫn còn đủ sức. Các ông cứ yên tâm. Vả lại nghiệp làm tướng địa hình có quan hệ trọng yếu trong việc hành binh và bày trận, phá trận không thể đại khái, nhìn bằng mắt của người khác được đâu.
Vừa leo dốc vừa ngắm cảnh vừa nói chuyện chẳng mấy chốc cả đoàn đã tới sân chùa.
Thấy tiếng người huyên náo, tiểu tăng liền vào bẩm với đại sư:
- Bạch thầy, con thấy có nhiều khách đang lên chùa.
Hòa thượng đặt cuốn sách đang đọc xuống kỷ quay ra dặn tiểu:
- Con lo trầu, nước nếu khách ghé thăm am bảo thời mời vào nhà phương trượng, còn như khách chỉ du lãm phía ngoài thời chớ có làm phiền người ta bằng sự mời mọc.
Quốc công đã nhiều lần lên tháp, vật đầu tiên mà ông nhìn thấy nơi chân tháp vẫn là tấm bia đá ghi dòng chữ “Tường Long tháp, Long Thụy thái bình tục niên Lý gia đệ tam đế”. Tên tháp này là do Lý Thánh tông ban tặng khi tháp vừa hoàn tất vào năm Long Thụy thái bình thứ sáu đời vua thứ ba nhà Lý.
Hưng Đạo nhìn tòa tháp mười hai tầng cao sừng sững đã tồn tại hơn hai trăm năm mà vẫn chưa có gì suy chuyển. Chân tháp xây bằng đá đen chạm hoa văn lá đề đường nét vẫn còn sắc gọn tinh tế, thân tháp xây bằng gạch nung, màu đỏ dịu, tháp hình bát giác mỗi mặt có một cửa cuốn tò vò trong bày một tượng Phật, vị chi mười hai tầng có chín mươi sáu tượng Phật cả thảy.
Mọi người lần lượt leo lên đỉnh tháp, từ đây tầm mắt nhìn về mọi hướng đều thông suốt, nhất là trên mặt biển tàu thuyền qua lại thấp thoáng từ rất xa đã nhìn thấy khi nó còn là một chấm nhỏ. Hưng Đạo thầm nghĩ, một sa môn đắc đạo, người cho dựng tháp này phải là một bậc trí tướng siêu phàm bởi tòa tháp này ngoài việc tôn vinh đức Phật tổ chẳng là một vọng hải đài cảnh giới kẻ thù từ xa sao. Cả hai con người đó đều hội đủ ở một Lý Thánh tông, mới hay nhà Lý đã để lại cho đất nước, cho cháu con một cơ ngơi đồ sộ mà nhiều đời sau vẫn còn được thụ hưởng nhưng chưa chắc đã hiểu hết các giá trị.
Quốc công dẫn các gia tướng, gia thần và Khánh Dư vào chùa lễ Phật rồi qua nhà phương trượng vấn an hòa thượng.
Hòa thượng vừa nhác thấy Quốc công đã vội đứng dậy chắp tay chào:
- A di đà Phật! Đại hạnh! Đại hạnh! Phước báu duyên lành bản tự được nghênh đón bậc tôn trưởng.
Hưng Đạo vương mặt hơi ửng đỏ, chắc là ngài có phần ngượng với lời tán thán của đại lão hòa thượng. Vương ân cần thăm hỏi sức khỏe thiền chủ và cả sự tiến tu của nhà thiền. Lại hỏi dân trong vùng có hiếu Phật không, bản tự có gì cản ngại khi ở trên núi cao, kể cả thời tiết khắc nghiệt, núi rừng lam chướng, hết nắng nóng, bão gió lại lạnh giá.
Hòa thượng hết sức xúc động trước lời thăm hỏi ân cần của bậc tôn trưởng, dù không biết khách là ai, nhưng nom tướng mạo hòa thượng cứ đinh ninh người này có chân mệnh đế vương.
Hưng Đạo sai Yết Kiêu lấy ba chục nén bạc cúng dường Tam bảo, cảm tạ nhà chùa rồi xuống núi.
Dặn dò thượng tướng Trần Khánh Dư và nhắc ông phải về ngay Vân Đồn cho quân luyện tập như các kế sách đã dự liệu, Quốc công cùng các gia tướng, gia thần lại quay về Vạn Kiếp bằng đường khác.
CHƯƠNG 4
Lại nói ở Đại Đô [21] hoàng đế nhà đại Nguyên - Đại Hãn Hốt-tất-liệt dường như không chịu thừa nhận cuộc Nam chinh của thái tử Thoát-hoan với hơn năm chục vạn quân cùng một bầy hổ tướng lừng danh mà đại bại trước cái xứ Giao Chỉ man di, đất thì hẹp bằng cái bàn tay, người thì một dúm. Vậy mà để chúng đánh cho tơi tả phải chui đầu vào rọ trốn chạy như một con chó. Trấn Nam vương ơi là Trấn Nam vương, ngươi không có chút liêm sỉ nào của kẻ làm tướng, sao còn dám vác mặt về gặp ta. Thật đau lòng. Đúng là hổ phụ sinh khuyển tử. Trời hại ta chăng. Càng nghĩ, sự bực giận càng trào dâng khiến mặt nóng bừng bừng đầu óc như muốn vỡ tung. Thiên tử đập long án quát:
- Quân đâu!
Viên nội thị khúm núm, giọng nói ấp úng nửa như sợ hãi nửa như ngạc nhiên. Sợ hãi thì đúng rồi, mặt thiên tử lúc nào cũng đằng đằng sát khí, tính nóng như lửa, trái ý là chém đầu ngay, ai mà chẳng khiếp sợ. Còn ngạc nhiên là bởi chẳng có ai làm nhà vua mếch lòng hoặc cưỡng mệnh thế mà tự nhiên ngài đùng đùng nổi giận. Nội thị vội quỳ lạy cung kính:
- Khởi bẩm thiên tử, thần đang chờ sai bảo.
- Ngươi cho quân đi triệu A-lí Hải-nha (Ariq Qaya) vào cung ngay.
Trong khi chờ A-lí Hải-nha bệ kiến, Hốt-tất-liệt xem lại các tấu, biểu nói về diễn biến chiến trận trên chiến trường Đại Việt từ khi quân Nguyên khai chiến tới lúc toàn quân rút về. Xem ra không có một trận nào quân thiên triều thua cả. Từ lúc vào đến lúc ra chỉ có “đánh cho quân nó đại bại, vua tôi nó phải bỏ kinh thành trốn vào rừng núi” hoặc có trận “suýt bắt được vua nó là Nhật Huyên (Trần Thánh tông)”. Lại có những trận “quân ta không tiến lên được vì trời mưa to, nước lũ dâng ngập trắng trời”. Hoặc giả “An Nam lam sơn chướng khí, quân ốm, ngựa ốm nên bỏ bớt một vài nơi không giữ nữa. Khi quân ta đi rồi giặc mới đến chiếm lấy”…
Khí uất bốc lên, thiên tử ném tung tất cả các tấu, biểu xuống thềm điện và ngài gầm lên như sư tử rống:
- Lũ đê tiện, dối trá đến thế này là cùng! Chúng dám lừa cả ta nữa sao?
Vừa lúc đó viên thị thần Phao-lồ[22] xuất hiện. Phao-lồ đến từ La Mã đã ở Đại Đô hơn chục năm, thông tỏ cả ngôn ngữ, phong tục của người Hán và người Mông Cổ, thông tỏ nhiều việc cổ kim, có thể nói dưới gầm trời này không có điều gì là y không biết. Vì vậy rất được lòng thiên tử. Hoàng đế nhà đại Nguyên đã ưu biệt cho Phao-lồ một đặc quyền được đi lại thăm viếng tất cả những nơi nào mà y muốn trong đế quốc của ngài, lại cho phép được bệ kiến ngài bất cứ lúc nào mà y thấy cần.
Vừa nhìn thấy Phao-lồ, thiên tử đã dịu ngay cơn thịnh nộ, ngài dịu dàng hỏi:
- Vậy chớ khanh vào chầu có điều gì vui mà mặt mày tươi tỉnh thế?
- Tâu, thần vừa viết xong mấy bài du ký về đất nước tuyệt vời của thiên tử đem dâng, để khi nào rảnh công việc thiên tử ngự lãm, và có điều gì chưa được như ý xin thiên tử phủ chính cho. Nói xong, y cúi mình dâng tập sách mỏng viết bằng chữ Hán nhưng phần chú thích lại ghi bằng chữ Mông Cổ.
Hốt-tất-liệt đỡ lấy tập sách, mở đọc vài trang có vẻ hài lòng, nhà vua mỉm cười nói:
- Phao-lồ, ngươi có trí năng của bậc á thánh, nhưng lại có một trí khôn lanh tinh quái như một loài sói sa mạc vậy.
- Đa tạ hảo ý của thiên tử, thần đâu xứng với lời khen đó.
- Thôi được, ta sẽ ban cho khanh một chén ngự tửu.
Hoàng đế nhà đại Nguyên vừa lấy chiếc vồ nhỏ xíu gõ vào chiếc chuông vàng thì viên quan nội hầu đã bê ra một nậm rượu bằng bạc và hai chiếc chén bằng hồng ngọc đựng trong chiếc khay bằng vàng.
Vừa lúc đó A-lí Hải-nha cũng tới chầu.
- Thiên tử vạn tuế! A-lí Hải-nha quỳ lạy và hô lời chúc.
Hốt-tất-liệt nặng nề đứng lên nâng viên thượng tướng dậy và nói:
- Khanh thật đa lễ. Khanh là sủng thần của ta, đã gia ân không phải quỳ lạy, sao không tuân chỉ. Ngay cả viên thị thần Phao-lồ đây, lần đầu tiên vào yết kiến ta, y cả gan không quỳ lạy. Ta đã sôi máu toan sai đao phủ chém đầu. Y nói người La Mã của y chỉ quỳ lạy trước Chúa Trời mà thôi. - Thế còn vua của ngươi thì sao? - Ta hỏi. Y đáp - Các thần dân La Mã chỉ cúi đầu chào đức vua là đủ. Vả lại sự tôn kính là ở trong lòng, và nó phải được biểu thị bằng các việc làm của mỗi thần dân khả dĩ đem lại sự giàu có, thịnh vượng cho đất nước, thì đó mới là sự kính chúa tại tâm. Ta nghe y nói phải lẽ, nên không những không giết y mà còn đối xử với y như là bậc quốc sĩ vậy.
Nhìn thẳng vào mắt Phao-lồ, nhà vua hỏi:
- Có đúng vậy không Phao-lồ?
- Tâu, đúng như bệ hạ nói.
- Mà cũng lạ thật, dưới gầm trời này ta là chúa tể, không một vua chúa nào, không một tướng tài nào, không một thành trì nào, không một quốc gia nào không sụp đổ dưới vó ngựa của ta, thế mà ngày đó Phao-lồ nói y chỉ quỳ trước Chúa của y, lại không làm ta nổi giận. Hẳn ta với y cũng có cái duyên nghiệp gì đây.
Hốt-tất-liệt rất hài lòng với những điều ông vừa nói. Và dường như cả hai người vừa tới đều đem lại cho ông niềm vui. Ông sai nội thị lấy thêm chén và nhà vua cho phép hai người cùng uống rượu quý của ngài.
Liếc nhìn tập sách Phao-lồ vừa dâng, hoàng đế nhà đại Nguyên chợt nhớ chuyện ông cho y đi theo Toa-đô mấy năm trước, liền hỏi:
- Khanh có nhớ tháng chạp năm Nhâm Ngọ (1282), ta cho khanh theo Toa-đô đi đánh Chiêm Thành không?
- Ô la la! Nhớ, tâu bệ hạ thần nhớ chứ! Thật là một chuyến đi đầy thú vị.
- Vậy chớ khanh có ghi chép được gì không mà không thấy dâng ta?
- Tâu bệ hạ, thần chỉ ghi chép được cảnh mấy tỉnh phương nam của bệ hạ thôi, nhất là thành Quảng Châu mĩ lệ và biển phương nam cũng đẹp lắm. Tuy nhiên đến Champa mà lại không vào được nước Champa. Bởi người Champa lập trận tuyến bằng thành gỗ dài tới mấy chục dặm để chống lại quan quân, và giả vờ đầu hàng khiến đại tướng Toa-đô phải chật vật lắm mới bảo toàn được lực lượng phía ngoài bãi biển. Thần chờ tới nửa năm quân ta không tiến được vào thành Trà Bàn mà cũng không rút về nước, thần bèn xin đại tướng Toa-đô cho một con thuyền với vài chục thủy thủ để quay lại đất của bệ hạ. Mọi việc về sau thế nào, kể cả đại tướng Toa-đô bây giờ ở đâu thần cũng không biết nữa.
Ngửng nhìn Hốt-tất-liệt lại liếc qua A-lí Hải-nha, Phao-lồ nói tiếp:
- Tâu bệ hạ, nghe nói Champa là một xứ sở thần tiên, ước sao bệ hạ gia ân cho thần du lãm tới đó một chuyến, chắc có nhiều điều đáng ghi lại để dâng bệ hạ.
Nghe Phao-lồ nhắc lại chuyện xưa, Hốt-tất-liệt cố nén giận vì Toa-đô đã phải làm ma không đầu trên đất An Nam và thiên tử đang toan tính chuyện trả thù. Đoạn nhà vua hất hàm nói:
- Ước vọng của khanh là chuyện nhỏ. Bình xong lũ giặc cỏ Nam man, sẽ cho khanh mặc sức đi trên đất của thiên tử. Hốt-tất-liệt phảy tay nói tiếp: - Tạm cho khanh lui để ta bàn quốc sự với quan tả thừa tướng.
Phao-lồ mất hứng, cảm như mình bị bạc đãi, ông cúi chào nhà vua và quan tả thừa và rời khỏi cung điện. Phao-lồ bước đi đầu hơi cúi, mái tóc pha sương bập bềnh, lòng đang nghĩ về cố quốc. Tính ra ông đã ở Đại đô này tới hơn mười năm, đôi khi ngỏ ý muốn trở về thành Rô-ma nhưng đều bị nhà vua gạt đi.
Phao-lồ vừa bước ra khỏi thềm điện, Hốt-tất-liệt liền hỏi A-lí Hải-nha:
- Khanh có biết ta triệu có việc gì không?
- Tâu, chắc bệ hạ lại sắp sai thần đi đánh cái nước An Nam bé nhỏ.
Hốt-tất-liệt nhíu mày lại, dằn từng tiếng:
- Nước bé nhỏ thế mà sai thân vương đem quân tiến sâu vào chưa từng thấy báo công. Toa-đô lại bị làm ma không đầu trên đất giặc, tự lưu lại điều điếm nhục cho nước. Ta thật đau lòng.
A-lí Hải-nha cảm thấy sợ hãi bởi trong cuộc bại trận năm Ất Dậu (1285) ông cũng có phần trách nhiệm, ông được thiên tử tin cậy trao quyền phó tướng giúp Trấn Nam vương Thoát-hoan. Trước giờ xuất chinh, thiên tử còn vời vào trong trướng căn dặn: “Ấn nam chinh ta trao cho Trấn Nam vương, nhưng mưu lược là ở khanh, mọi việc đều phải cẩn thận chớ để xảy ra điều gì đáng tiếc”. Vậy mà… A-lí Hải-nha vội quỳ xuống rập đầu tâu:
- Thần là kẻ có tội, không làm tròn trách nhiệm để thiên tử phải đau lòng, xin bệ hạ xử thần để làm gương răn các tướng.
- Khanh bỏ cái thói đàn bà ấy đi. Nếu trị tội khanh, trước hết ta phải chém đầu Thoát-hoan. Nhưng khanh cũng phải chia sớt với ta và thử nghĩ xem, suốt mấy chục năm khanh sát cánh cùng ta chinh chiến, có quốc gia nào, có tướng tài nào là địch thủ của ta không. Phải nói dưới gầm trời này ta không có địch thủ. Vậy mà An Nam dám mạo phạm, chúng giết của ta kể tới cả chục vạn quân. Ngay cả chục vạn quân ấy ta cũng không tiếc bằng mấy chục viên thượng tướng của ta bị sát hại. Ngay mấy chục viên tướng kia bị sát hại, ta cũng không tiếc bằng một Lý Hằng bị sát hại, trong khi đó Lý Hằng lại là người Hán, khanh có biết vì sao không? Thiên tử gặng hỏi. Ngài ngừng lời nhìn vào tận mắt vị huân tướng của ngài và chờ lời đáp của viên sủng thần.
A-lí Hải-nha ngước nhìn thiên tử, ông thấy gương mặt nhà vua hơi khác. Suốt mấy chục năm theo hầu dưới trướng, xông pha tên đạn, gặp bao hiểm nguy, nhưng ông chưa từng thấy thiên tử biểu hiện một thứ tình cảm từa tựa như sự xúc động mà lần đầu tiên ông bắt gặp ở người. Không dám làm kinh động đến tình cảm thiêng liêng của thiên tử, viên tả thừa tướng khẽ đáp:
- Muôn tâu thiên tử, quan hữu thừa (Lý Hằng) thất lộc khiến bệ hạ đau lòng là bởi quan có nhiều công lao diệt Tống, và vừa rồi trên đường về nước bị giặc truy đuổi, ngài phải đi sát hộ vệ Trấn Nam vương, vì thế ngài bị trúng tên độc của giặc nên thọ tử khiến thiên tử phải đau lòng.
Hốt-tất-liệt khẽ gật đầu:
- Phải! Khanh nói đúng, nhưng công tích của Lý Hằng đâu chỉ có thế. Ví như khi ta bình Tây Hạ, nếu không có khanh là người bản xứ vừa có tài cầm quân trăm vạn vừa có tầm nhìn xa trông rộng về đầu quân dưới trướng, ngày đêm túc trực hiến kế bày mưu, thử hỏi sao ta có thể bình xong Tây Hạ nhanh như việc thò tay xuống ủng rút chiếc roi ngựa được. Trong việc bình Tống, nếu không có Lý Hằng là người Hán tài kiêm văn võ giúp rập dưới trướng, sao ta có thể thống trị được cái xứ Trung nguyên mênh mông này. Nói cho cùng thì đánh bại nhà nam Tống với ta đâu phải việc khó. Cái khó là dẹp các đám giặc cần vương kia. Chỉ một tay Văn Thiên Tường cũng làm ta bận tâm không ít. Thử hỏi nếu không có Lý Hằng trừ khử được Văn Thiên Tường thì sao ta có thể kết thúc vương triều nam Tống ở Nhai Sơn nhanh đến thế!
Diệt nhà nam Tống, công của khanh đâu có nhỏ, một tay khanh hạ được Phàn Thành, Tương Dương, Ngạc Châu, Giang Lăng cùng mấy chục châu quận miền nam nữa. Nếu không rắn tay phá đập dẫn nước dìm chết tất cả quân lính và dân chúng Đàm Châu, chôn sống dân chúng Tĩnh Giang, uống rượu bằng óc các tướng Tống trước mặt dân chúng ở Tân Sinh thì sao có thể bẻ gãy được mọi mầm mống nổi loạn chống lại quan quân. Sát nhất nhân vạn nhân cụ[23] chẳng phải là sáng ý của khanh sao. Công của khanh lớn lắm, cho nên ta biệt đãi khanh vào hàng đệ nhất.
Sở dĩ ta tiếc Lý Hằng vì Hằng là người Hán, y hiểu người Hán hơn và vì vậy sẽ giúp ta công việc cai trị người Hán dễ dàng hơn. Nay mất y sao ta không tiếc, không thương. Nhưng thôi, đằng nào thì y cũng đã chết, tiếc thương mãi cũng chẳng ích gì. Ta triệu khanh đến bàn việc đánh Giao Chỉ, ý khanh thế nào?
Hốt-tất-liệt nhìn thẳng vào mắt A-lí Hải-nha vẻ dò thăm. Nhà vua thấy nét mệt mỏi in hằn trên vừng trán viên tướng già bách chiến.
- Tâu thánh thượng, một khi thánh ý đã ban, chúng thần được tin cậy sai bảo tưởng không còn điều gì vinh hạnh hơn đối với kẻ làm tướng, thần xin được nghe thánh chỉ.
Với vẻ hài lòng, Hốt-tất-liệt nói như là một sự bộc bạch tâm tư:
- Năm ngoái, khi quân rút về, ta đã định khởi binh đánh Giao Chỉ ngay lập tức. Nhưng vì sức quân mỏi mệt, các tỉnh Giang Hoài bị lụt làm mất mùa gây khó cho ta về lương thực. Lưỡng Quảng thì giặc giã nổi lên chưa dẹp yên được, lương thực không những không thu được mà cũng không mua được. Lũ quan lại đầu tỉnh xin ta tạm hoãn chờ mùa màng lên rồi sẽ liệu. Mặc dù vậy, ngay từ năm ngoái, ta đã sai Hồ Quảng đóng ba trăm chiến thuyền lớn, năm nay ta lại sai đóng tiếp hai trăm chiến thuyền nữa. Ta cũng định tha không đánh Nhật Bản nữa, vì Nhật Bản chưa một lần xúc phạm đến thiên triều. Nhưng Giao Chỉ không những cưỡng mệnh mà còn nhiều lần phạm đến binh uy thiên tử, tội ấy không thể bỏ qua. Vậy nay ta lại cử tả thừa tướng giữ chức An Nam hành trung thư tỉnh giúp cho việc chủ trương trong màn trướng của Trấn Nam vương. Dưới quyền Trấn Nam vương và khanh có Áo-lỗ-xích thăng làm bình chương chính sự. Các tướng Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Y-gơ-mi-sư, A-ric Khu-xem đều giữ chức tham tri chính sự. Khanh xem phải gấp bàn bạc với Trấn Nam vương dự liệu xem lần này sẽ đem vào Giao Chỉ bao nhiêu quân là đủ. Trong đó quân kỵ, quân thủy, quân bộ mỗi chủng là bao nhiêu. Rồi lương cho quân, cỏ cho ngựa phải huy động cho dồi dào, ta không muốn nghe mỗi khi phải dừng binh, lại tâu báo vì quân thiếu lương. Nhớ phải huy động quân dũng mãnh, tướng dày dạn chiến trường, còn như quân tân phụ chỉ nên dùng vào việc che tên đỡ đạn, dùng chúng vào việc dọn đường lót ổ thôi, lũ ấy hèn nhát không đáng tin. Rồi kế sách hành binh tác chiến thế nào cũng phải vạch ra, tâu báo lên để ta còn bổ khuyết cho. Khanh chớ nên quên lần này phải bắt cho kỳ được cha con Nhật Huyên[24] cùng tướng Hưng Đạo. Ta muốn thấy mặt viên tướng này, nếu y chịu quy thuận có thể ta sẽ sai khiến y vào việc lớn. Mọi sự khanh đều phải làm gấp sao cho sang thu tiến binh là vừa. Chớ nên chần chừ để kẻ kia có thể hồi sức, lại gây khó cho binh ta.
A-lí Hải-nha trầm ngâm suy nghĩ về các điều thiên tử vừa dụ bảo. Đó là công việc của cả một bộ chỉ huy với hàng ngàn người quen thạo công việc điều hành, nhanh ra cũng phải từ chín tháng đến một năm mới khởi sự được. Viên tả thừa tự nghĩ, thiên tử nôn nóng trả thù, nên tỏ ra coi thường giặc. Năm Ất Dậu thế trận ta giăng như thiên la địa võng, kẹp vua tôi nhà Trần trong vòng vây khốc liệt, thân vương, hoàng tộc, tướng binh nhà Trần lốc thốc kéo nhau ra hàng có tới mấy vạn, tưởng như có thể diệt gọn, bức hàng trong sớm tối, thế mà bỗng chốc Hưng Đạo trở ngược thế cờ khiến đại quân thiên triều từ thế bao vây trở về thế bị bao vây, nếu như ta và Lý Hằng không đòi rút quân sớm mà cứ nghe thái tử trù trừ chờ viện binh, chắc là không một mống nào có thể sống sót quay về. Thế mà năm nay trù liệu quân, lương chưa đâu vào đâu, thiên tử đã sai ta bắt cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo. Ta thừa nhận hiện nay đại Nguyên là một nước lớn và mạnh nhất gầm trời. Nhưng không phải quân Nguyên, người Nguyên muốn làm gì cũng được. Thiên tử bảo tha cho nước Nhật Bản không đánh họ nữa. Nhưng thiên tử đã phái binh đội tàu thuyền hai lần đi đánh nước Nhật mà chưa có một người lính Nguyên nào đặt được chân lên đất Nhật. Mới đây, năm Tân Tỵ (1281) thiên tử cho mười lăm vạn quân với chín trăm chiến thuyền đánh vào các đảo của Nhật Bản, thế mà chỉ có ba người sống sót trên chiếc thuyền rách trở về. Ta không phải là một viên tướng dễ dàng bị đánh bại, nhưng không phải ta muốn làm gì cũng được.
Thấy A-lí Hải-nha có vẻ bần thần, không hiểu y đang loay hoay cái gì ở trong đầu óc, Hốt-tất-liệt bèn hỏi:
- Vậy chớ khanh còn điều gì băn khoăn khó nói?
- Thiên tử anh minh, khi bình Tây Hạ, thiên tử dùng thần; khi bình nam Tống, thiên tử dùng Lý Hằng; nay bình An Nam, thiên tử dùng ai? Đó chính là điều thần băn khoăn muốn hỏi.
- Ái chà chà! Khanh đúng là một con sói đã thành tinh, không một điều gì là khanh không tính đến. Khanh khỏi lo, ta có dự liệu cả rồi. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, hoàng đệ của Nhật Huyên mà các khanh đem về chứ còn ai nữa. Ta sẽ phong cho y làm An Nam quốc vương, lập sẵn một triều đình cho bọn chúng theo Trấn Nam vương và đại quân cùng vào Thăng Long.
Chợt Hốt-tất-liệt lại hỏi:
- Vậy chớ đám tướng lĩnh ta cử làm tả hữu giúp rập Trấn Nam vương nơi trướng hổ, khanh thấy có cần thêm bớt người nào không?
- Tâu, thiên tử anh minh chọn thuần tướng giỏi, thần sao còn dám thêm bớt.
- Thì bọn đó chẳng là lũ học trò của khanh sao. Áo-lỗ-xích, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp… đã chẳng ở dưới trướng của khanh sao? Bọn họ lại chẳng vừa đi đánh Giao Chỉ trở về đó sao?
A-lí Hải-nha ngồi thu lại ngước ngắm dung nhan thiên tử. Hốt-tất-liệt có vóc dáng to lớn, gương mặt chữ điền vuông vức, vầng trán cao, rộng choán hết cả phần thái dương, tai to, vũm, vành tai và dái tai dày dặn đường nét phân minh, mũi hổ phù, tam đình, ngũ nhạc cân đối nở nang, miệng rộng, môi hơi mím lại, cằm bạnh, ria mép nhọn vểnh về hai phía như hai cánh chim én. Từ hai phía vành tai vòng xuống cằm hình thành bộ râu quai nón làm tăng thêm sự oai nghiêm của khuôn mặt. Duy có đôi mắt của thiên tử là nhỏ, mắt ngài ti hí kiểu mắt lươn khi rọi nhìn cứ như hai mũi thép xuyên vào người ta. Mới thoạt nhìn gương mặt, ta dễ lầm đó là người nhân hậu, nhưng nếu kết hợp cả đôi mắt thì rõ ngài là kẻ đại gian hùng, đại gian ác và đại hiếu sát.
Hốt-tất-liệt thả ra mấy tiếng đùng đục nghe như tiếng vọng ma quái:
- To gan, khanh dám nhìn trực diện thiên tử.
- Dám xin thiên tử tha tội. Quả thực thần chỉ muốn chiêm ngưỡng long nhan rồi đem cái thiên uy của thiên tử giáo hóa nam man, ngõ hầu thu phục chúng khỏi nhọc sức quân, âu cũng là dịp đem cái thiên ân của thiên tử tưới khắp bốn bể, đó chẳng là phúc cho tứ di sao.
- Ngươi chỉ được cái dẻo mồm biện bác. Thôi được, khanh về mà trù liệu công việc đi.
Lại nói về Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và những kẻ tòng vong như Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn cùng với cha đẻ của Hoãn là Vũ Đạo hầu và con rể là Trương Hoài hầu cùng gia thuộc của các người nói trên đều ra hàng quân Nguyên và theo chúng về Đại đô. Trong đám người ra hàng còn có Chương Hiến hầu Trần Kiện và thuộc hạ là Lê Tắc cùng đội quân cả vạn người ra hàng Toa-đô. Trong số những kẻ ra hàng còn có Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long… cùng gia thuộc. Những người ra hàng được tướng giặc là Minh-lý Tích-ban (Manglai-Siban) hộ tống đưa về nước Nguyên từ khi chiến tranh chưa kết thúc. Thế nhưng bọn này đi gần tới biên giới thì bị quân ta mai phục đánh rất gắt, Trần Kiện chết trên lưng ngựa, Lê Tắc vác xác chủ chạy sang Tư Minh mới dừng lại chôn cất. Nghĩa Quốc hầu con của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc được tướng giặc che chở chạy vào trại quân mới thoát chết.
Nay thì mọi việc đã tạm ổn, vua Nguyên đã cho họ tạm cư vào trong một khu vực ở Châu Ngạc (Hồ Bắc) để họ đỡ cảm thấy cô đơn trên đất khách. Vả lại để khi có dịp trở về An Nam đường đất cũng gần hơn. Trần Ích Tắc và gia thuộc được ở trong một ngôi nhà riêng cũng gọi là cung. Thực ra tất cả bọn họ từ chủ đến tớ, tuy được người Nguyên yêu tin chu cấp mọi thứ, nhưng so với khi còn ở trong nước mười phần chưa chắc được một hai. Ấy là chưa kể thân phận cá chậu chim lồng, chim mồi cá cảnh.
Tuy nhiên, tất cả đều trông chờ vào lời hứa của thiên tử nhà đại Nguyên. Hốt-tất-liệt đã nhiều lần cho ăn yến và hứa sẽ đưa Trần Ích Tắc trở lại làm vua xứ An Nam, các người tòng vong cũng đều nằm trong bộ máy triều đình của Ích Tắc, thiên triều không quên công, không bỏ sót bất cứ một ai đã có lòng trung về chầu thiên tử. Cho nên mọi người hằng ngày hết tụ họp nhau ở “cung” Chiêu Quốc vương lại sang “dinh” của Văn Nghĩa hầu “bàn chuyện quốc sự”. Ấy là họ bàn suông với nhau để giết thì giờ và mong ngóng ngày thiên tử phát đại binh để cùng nhau theo đoàn quân xâm lược trở về chiếm lấy ngôi nước.
Đây là những chuyện xảy ra trên đất giặc đối với những kẻ theo giặc, còn như ở trong nước thì hầu như chẳng còn ai nhắc đến họ nữa. Triều đình đã tịch thu hết tài sản của những kẻ theo giặc. Ở trong nước, người trong tôn thất mà theo giặc tùy theo tội nặng nhẹ đều xử như người thường, nhưng bắt phải đổi sang họ Mai. Riêng những người trong hàng huynh đệ với nhà vua như Trần Ích Tắc thì không bắt phải đổi họ, nhưng mỗi khi bất đắc dĩ phải nhắc đến tên đều gọi là “ả”, tức thị coi họ như một thứ đàn bà vô dụng.
Trước năm Ất Dậu ở Thăng Long và cả tứ trấn, không ai không biết đến Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc là người tài hoa nổi tiếng. Trong tất cả các môn nghệ thuật như cầm, kỳ, thi, họa không môn nào ông không rành. Ông thường viết lời, chế nhạc rồi dạy cho ban nhạc trong dinh của ông ca hát. Về họa, tranh của ông vẽ, sứ nhà Nguyên đến chơi khen nức nở. Họ còn bảo tranh của ông vững hơn tranh của Tống Huy tông[25]. Bởi tranh của ông lấy hồn làm cốt, còn tranh của Huy tông chỉ chạy theo cái đẹp ngoại cảnh vì thế mà nó trở nên phù phiếm. Còn văn chương của ông thuộc loại quán thông. Các bậc sĩ đại phu trong nước thường tỏ lòng ái mộ. Ông lại có lòng đào tạo nhân tài cho nước. Các cậu bé thần đồng như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn… đều được ông đưa về nuôi dạy sau này đều trở thành người giỏi của nước.
Chiêu Quốc vương một thời lừng lẫy khắp Thăng Long, khắp đất nước, song vì theo giặc mà hình ảnh ông bị xóa sạch trong kí ức mọi người.
Bữa nọ, khi những người lưu vong đang “bàn quốc sự” tại dinh Trần Tú Hoãn thì Ích Tắc cho người sang gọi về cung nghe thánh chỉ.
Khi mọi người đã về đông đủ, áo mũ chỉnh tề, Trần Ích Tắc sai bày hương án ra giữa nhà lại sai đốt trầm và đứng sắp hàng trước hương án.
Viên trung sứ từ Đại đô tới cung kính đặt tờ chiếu lên hương án rồi vái ba vái đoạn y đi giật lùi ra phía ngoài.
Trần Ích Tắc và mọi người lần lượt vào quỳ lạy chiếu thư.
Viên trung sứ bóc niêm phong và tuyên đọc.
“… Thiên tử hoàng đế nhà đại Nguyên dụ rằng: Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và những người có tên sau đây… về chầu để nhận ân mệnh…”.
Nghe trung sứ đọc xong, mọi người lại phục lạy và cùng hô:
- Tạ ơn thiên tử ban trọng ân.
Trung sứ cho mọi người chuẩn bị hành trang một ngày rồi tất cả cùng xuống thuyền về Đại Đô Yên Kinh phụng chiếu.
Trong suốt một ngày mọi người vừa lo chuẩn bị hành trang vừa hồi hộp phỏng đoán không biết thiên tử ban ân tứ gì đây. Mỗi người phỏng chừng một cách, nhưng mọi người đều không giấu được niềm vui.
Trần Ích Tắc dự liệu lần đầu tiên được diện kiến long nhan thiên tử, sẽ tâu báo điều gì làm đẹp lòng ngài đây. Đúng là từ ngày theo gót Trấn Nam vương về thiên quốc, nhưng ông chưa từng được bén mảng tới Yên Kinh, cũng chưa một lần được thấy long nhan thiên tử. Tiếng rằng có đôi ba lần thiên tử cho ăn yến và có lời dụ bảo, nhưng đó chỉ là trung sứ, tựa như viên khâm sai thay mặt thiên tử thết yến và truyền đạt điều mà thiên tử khẩu dụ. Lần này không biết có điều gì mà thiên tử cho triệu. Hoặc là thiên tử sắp nam chinh, hoặc là bên nước nhà có biến. Sai gia nhân soạn sửa hành trang, lại sai bày tiệc mời trung sứ. Sau lời chúc tụng và đẩy đưa vài tuần rượu, Trần Ích Tắc sai gia nhân đem ra một chiếc tráp nhỏ sơn then, có khóa bạc, tự tay ông trân trọng trao cho vị trung sứ và nói:
- Tôi đội ơn thiên tử và quý quốc rất nhiều, mong có cơ hội được đền đáp. Nhân được làm quen với ông và được nhận ân mệnh của thiên tử, gọi là có một chút quà là phương vật tôi đem từ cố quốc biếu ông để làm lễ tương kiến, mong ông không chê là nhỏ mọn.
Viên trung sứ đỡ lấy chiếc tráp nhỏ và nói lời cảm tạ:
- Ông vì nạn nước mới phải qua đây, xin ông cứ giữ lấy báu vật này làm của tùy thân. Nói xong y trao lại chiếc tráp cho Ích Tắc.
Trần Ích Tắc phải nài ép tới hai ba lần ông ta mới gượng nhận:
- Nhận của vương, tôi thật chẳng đành tâm. Không nhận, vương lại chẳng yên tâm. Âu cũng là cái duyên. Nói xong viên trung sứ đặt chiếc tráp xuống và ông ta nâng chén rượu giơ cao vừa mỉm cười vừa chúc: - Nhất kiến vi cựu[26].
Được viên trung sứ vui vẻ tiếp nhận món quà quý, Trần Ích Tắc tỏ vẻ hài lòng và ông nhã nhặn nói với sứ giả:
- Mời quan trung sứ chiêm ngưỡng chút quà mọn. - Vừa nói, ông vừa chỉ tay vào tráp.
Viên trung sứ khẽ lật chiếc bản lề bạc, nắp tráp mở ra, một mùi thơm kỳ lạ tràn ngập gian đại sảnh, nó át hết cả các mùi từ rượu quý đến trầm hương. Y vừa lật vuông gấm phủ, lộ ra một viên hổ phách trong suốt màu vàng sẫm, to bằng chiếc trứng chim câu.
Viên trung sứ ngỡ ngàng hỏi:
- Tôi quê mùa, không biết vật quý này tên gọi là gì, xin vương chỉ bảo.
Dường như chỉ chờ lời hỏi đó, Trần Ích Tắc ân cần đáp:
- Thưa quan trung sứ, vật thơm này gọi là hổ phách. Nó được tiết ra từ tinh nhựa của một loài tùng mọc trên núi đá cao hàng trăm trượng. Nhưng không phải cây nào cũng có. Họa may trăm ngàn cây mới một hai cây có ngọc. Vâng người ta gọi hổ phách là ngọc của tùng. Tức là cây phải sống cả ngàn năm, do một biến cố nào đó làm thương tổn ruột cây tại phần gốc, thế là cây tiết ra một loại tinh của nhựa để sâu bọ không thể xâm nhập. Cứ thế tích tụ cả mấy trăm năm, có khi cả ngàn năm mới kết được thành thứ ngọc này. Dạ, nó phải trong suốt và không có tì vết gì như viên này mới gọi là quý.
- Vương có thể cho biết ngoài sự trân quý ấy nó còn có hữu ích gì chăng, trung sứ hỏi.
- Thưa quan trung sứ, cứ như chỗ tôi được biết thì hổ phách có thể xua tan được tà khí, hoặc trong vùng có dịch mà ngài mở nắp hộp ra để trong nhà, thời có thể ngăn được dịch xâm nhập, hoặc thời tiết ẩm ướt, các đồ đạc trong nhà đổ mồ hôi, cứ mở nắp hộp ngọc tùng ra, hơi nước sẽ bay đi hết. Ngoài ra nhà có người cảm mạo cho ngửi ngọc một lần là khỏi.
- Vậy chớ nó có mòn đi không? - Trung sứ hỏi.
- Không! Không mòn một chút nào, nó đã kết thành khối rắn như đá, xin quan trung sứ yên tâm.
Tiệc mời với quà quý khiến tình thân càng lúc càng đậm đà, Trần Ích Tắc thăm dò một cách bâng quơ:
- Từ lúc lạy chiếu, tôi cứ băn khoăn không biết thiên tử ban ân mệnh gì đây.
Rượu ngà ngà khiến trung sứ cũng không cần ý tứ nữa:
- Vương phải biết, chỉ riêng việc thiên tử tuyên triệu và cho được bệ kiến, cũng đã là một đại ân mệnh rồi. Có thật vương chưa đoán biết thiên tử triệu vương có việc gì à? Ta cũng không biết được đâu. Làm sao có thể biết điều thiên tử chưa dụ bảo. Nhưng nghe đâu sắp có chuyện Nam chinh.
- Thật vậy ư? - Trần Ích Tắc hỏi như một sự reo vui.
- Sao lại không thật. Không thật thì thiên tử triệu ông về kinh làm gì. Ta chắc thiên tử sẽ cho ông theo về cùng với đại quân của thiên triều. Bình xong An Nam, thiên tử sẽ cho ông làm vua nước Nam. Tới lúc ấy chớ quên nhau nhé. Biết đâu thiên tử chẳng sai ta đi sứ An Nam.
Trần Ích Tắc sắc mặt tươi hẳn lên, ông vui vẻ đáp lời:
- Ta sao có thể quên ông được. Ông chính là ân nhân của ta đó. Vua nước Nam nhỏ bé, thiên tử chỉ coi như một quận thôi, phụ hoàng ta cũng chỉ được thiên tử phong làm “Giao Chỉ quận vương”.
- Thiên tử đất mênh mông không giới hạn nên coi Giao Chỉ là một quận. Nhưng ông làm vua An Nam vẫn là vua của một nước. Chà, đầu gà còn hơn má lợn. Làm vua nước Nam chẳng hơn ở cái xó xép Ngạc Châu này sao. Nói xong trung sứ lại cười khà khà.
Qua quá nửa tuần trăng, hết đi đường sông lại ra đường biển rồi đường bộ mới về tới Yên Kinh. Nằm chờ nửa tuần trăng nữa thiên tử mới cho vời.
Sau vài lời an ủi, Hốt-tất-liệt khẩu dụ:
- Đại quân thiên triều sắp bình Giao Chỉ, thiên tử cho các khanh theo quân về mà nhận lấy nước. Ta gọi là nước thôi, nhưng thực chỉ là một quận của thiên triều. Được nước rồi, các khanh có bổn phận thờ thiên tử với bổn phận của kẻ bề tôi, chớ có ngông nghênh cưỡng mệnh như cha con Nhật Huyên khiến ta phải ra tay trị tội.
Trần Ích Tắc và thuộc cấp đều rập đầu lạy tạ và cùng hô:
- Tạ ơn thiên tử, chúng thần xin tuân chỉ.
Tiếp đó thiên tử nhà đại Nguyên khẩu dụ:
- Nay ta phong cho Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương. Trần Ích Tắc quỳ lạy. Khu mật viện bèn trao phù, ấn cho Ích Tắc.
Hốt-tất-liệt lại phán:
- Những kẻ có tên sau đây nhận mệnh:
Trần Tú Hoãn làm phụ nghĩa công lo ngày đêm giúp rập dưới trướng cho An Nam quốc vương.
Trần Bá Ý (con trưởng Trần Ích Tắc) làm An phủ sứ lộ Đà giang.
Lại Ích Khuy làm An phủ sứ lộ Nam Sách giang.
Trần Văn Lộng làm Tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa giang…
Tất cả ra ở nhà công quán chờ theo quân về nước.
Mọi người lại phủ phục lạy tạ và cùng hô:
- Tạ ơn thiên tử ban trọng ân!
CHƯƠNG 5
Vừa đi kinh dinh vùng nam thùy ra, vua Nhân tông vội vã vào cung Thánh Từ vấn an thượng hoàng.
Mới bước vào đại sảnh đã thấy ánh nến hắt sáng cả hành lang đại điện. Nhà vua đi thẳng vào nội điện thấy vua cha và bá phụ Hưng Đạo vương, thúc phụ Chiêu Minh vương đang đàm đạo, Nhân tông vội quỳ lạy thượng hoàng, bá phụ và thúc phụ.
Thượng hoàng Thánh tông liền phán:
- Quan gia đứng dậy đi.
Liền đó Hưng Đạo vương liền nhổm dậy vái Nhân tông.
Thánh tông can ngay:
- Anh Quốc Tuấn đa lễ quá. Vương nhi chẳng là con anh con tôi sao. Nếu có giữ lễ là ở chốn triều trung chứ ở nhà là phải theo gia đạo. Khẩm (vua Nhân tông) không chỉ gọi anh bằng bá phụ mà anh còn là nhạc phụ của cháu kia mà.
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng nói xen vào:
- Thượng hoàng nói đúng đấy, người trong nhà mà cứ thủ lễ thái quá nó trở nên khách khí, xa lạ.
Hưng Đạo vương vội đáp: - Tuy là anh em bà con nhưng ta đang bàn quốc sự nên lễ vua tôi phải giữ. Còn như những ngày lễ tết, ngày húy gia tiên hoặc ở trong nhà thì phải lấy thế thứ gia tộc làm trọng.
Thái sư Trần Quang Khải muốn biết nhà vua từ nam thùy về liệu có điều gì đáng ngại, liền hỏi:
- Quan gia cho biết nếu nhà Nguyên lại đánh ta, liệu Chiêm Thành có đứng dưng hay bị Hốt-tất-liệt dung dọa phải về hùa.
- Chính ta cũng đang lo mặt nam, vua Thánh tông nói.
Vua Nhân tông hết nhìn cha, nhìn chú và nhìn bác thấy gương mặt mọi người đều bình thản, vua tự biết vận nước chưa có gì đáng ngại, ngài bèn lên tiếng:
- Tâu phụ hoàng, thưa bá phụ và thúc phụ, con thấy mặt nam yên tĩnh lắm. Gần đây con đã có thư cho quốc vương Chế Mân nói rõ người Nguyên lại sắp đánh Đại Việt và ngỏ ý kết thân.
Chúa Chiêm phúc đáp rằng ông ta không thể quên khi Toa-đô sắp đem quân đánh Trà Bàn, Đại Việt đã giúp binh, giúp mưu, nhờ thế mà nước Chiêm Thành đứng vững, còn Toa-đô bị rơi đầu trước cửa Hàm Tử của Đại Việt, ơn ấy nước Chiêm Thành sao có thể quên được. Dù Hốt-tất-liệt có dụ dỗ, có đe dọa Chiêm Thành cũng không nao núng. Vua Chiêm từ khi còn là thái tử đã biểu lộ tư cách của một người dũng lược, một bậc anh hùng. Vậy mặt nam có thể tạm yên. Còn dân chúng trong các vùng Hoan, Ái giặc chỉ lướt qua như một cơn bão nhẹ, nay đã hồi phục, đời sống không có gì đáng ngại. Tinh thần đang phấn chấn, trai tráng nô nức đầu quân. Nơi thôn dã làng nào cũng có đội hương binh, đang luyện tập ráo riết. Nhiều thôn làng còn lập các đội bạch đầu ông (đội quân tóc bạc). Dạ, đây là những người già tự nguyện để làm gương cho con trẻ, trong mỗi đội bạch đầu ông thường có một hai người đã từng ở trong quân ngũ, từng đánh giặc Thát, có người tham gia từ cuộc chiến năm Đinh Tỵ kia. Dạ, còn thế nước hiện nay đang nổi, quân dân đều hăng hái, tin tưởng ở triều đình chứ không e sợ giặc như hồi chúng sắp vào cõi trước năm Ất Dậu.
- Vậy thế là yên tâm được mặt nam, thượng hoàng nói. - Nhưng còn mặt bắc ta lo đối phó thế nào, kể cả mưu giặc ra sao, dò la được đến đâu, thái sư và quốc công cho biết. - Quan gia đi vắng, ta cũng hơi quan ngại, nên cho triệu quốc công và thái sư đến để hỏi han công việc, may con về đúng lúc. Vậy ta bắt tay vào việc đi.
Thái sư Trần Quang Khải nói ngay:
- Thế nước đang nổi vì lòng dân đang hào hứng vừa lo làm ăn cày cấy, vừa lo tập luyện để hễ giặc vào là đánh. Các việc này là dân tự lo vì đã kinh qua từ năm Ất Dậu, nên triều đình không phải đốc thúc. Lại sau cuộc chiến người có công, kẻ có tội đều được khen thưởng hoặc trách phạt công bằng, kể cả người trong hoàng tộc cũng vậy, nên dân chúng càng tin tưởng vào triều đình. Cũng sau cuộc chiến, bệ hạ vừa lo cứu đói vừa cho giảm tô thuế cho dân chúng trong các vùng bị giặc tàn phá nặng nề, nay khó khăn đã qua, lại thêm thời tiết thuận hòa, hai vụ đều được mùa, tinh thần dân chúng đều phấn chấn lắm. Ngay cả giới tu hành và nho sĩ cũng dốc lòng cố kết với triều đình lo việc chống giặc, giữ nước chứ không có chuyện phân tâm, khảng tảng. Phía bắc thùy người Nguyên khi thì cho quân áp sát, uy hiếp dân ta, khi lại lui binh và cho người sang dụ dân ta theo chúng. Nhưng dân man động của ta được các đầu mục dẫn dắt, họ không những không nao núng sợ hãi mà còn lập các đội dân binh, thường binh cũng luyện tập, canh gác, cảnh giới ngày đêm như dưới xuôi. Vì vậy phên giậu của ta ở bắc thùy cho đến lúc này vẫn còn vững chắc.
Tâu thượng hoàng, quan gia và Quốc công duy có điều này là hơi quan ngại. Tức là sau chiến tranh, nhà Nguyên đã hai lần cử sứ sang ta. Bọn chúng vừa mơn trớn dụ dỗ, vừa dung dọa ta. Vả lại, chúng nghênh ngang nhòm ngó đi lại các nơi trong đất ta cứ như chúng là chủ đất này. Hẳn nhiên chúng có tay chân cài cắm mọi nơi. Tuy vậy, dân ta cũng đã khôn lên, sứ giặc đi tới đâu đều bị lộ tung tích, về phía ta cũng hai lần cử sứ sang Đại đô cống phương vật, cả hai ông Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh đều bị người Nguyên giữ lại. Bởi vậy có cử sứ đi tiếp nữa không xin thượng hoàng và quan gia cho ý chỉ.
- Việc này ta phải nói ngay, thượng hoàng lên tiếng. - Hốt-tất-liệt ngạo mạn cậy mình là nước lớn muốn làm gì thì làm. Và y chỉ mong có một cái cớ nào đó để vin vào. Cho nên vẫn cử sứ đi cống phương vật và tìm cách dò la mưu đồ của giặc. Nếu ta tuyệt sứ lộ, cũng có nghĩa là ta tuyệt giao, giặc sẽ lập tức xua quân vào cõi. Nếu tránh được chiến tranh ngày nào vẫn nên tránh, dù chúng có giữ sứ lại, thậm chí chúng có sát hại người của ta thì coi đó là việc hy sinh cho nước. Triều đình sẽ truy phong tước trật và cho lập đền thờ. Hy sinh tính mệnh mình để giữ yên cho nước, không một người có liêm sỉ nào lại không muốn làm việc đó.
- Con xin tuân mệnh phụ hoàng, vua Nhân tông nói.
Hưng Đạo vừa nghe vua Thánh tông nói vừa ve vuốt chòm râu dài trước ngực, ông có vẻ hài lòng về quyết sách sáng suốt của nhà vua.
Khi Nhân tông vừa ngừng lời, Hưng Đạo liền nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia cùng quan tướng quốc, thần vừa nhận được nguồn tin ngoại gián từ Yên Kinh và Lâm An đưa về. Tình hình hết sức nghiêm trọng, Hốt-tất-liệt rất cay cú với thất bại trong cuộc chiến năm Ất Dậu vừa qua. Cho nên đầu năm Bính Tuất này y đã cho lập bộ chỉ huy chuẩn bị cho việc đánh Đại Việt và sai các tỉnh kinh Hồ đóng ba trăm chiến thuyền, vừa đây lại sai đóng tiếp hai trăm thuyền lớn nữa.
Thoát-hoan con trai hắn vẫn được cử làm Trấn Nam vương, giữ ấn nam chinh. Tả thừa tướng A-lí Hải-nha giữ chức cũ là An Nam hành trung thư sảnh. Cuộc xâm lăng năm Ất Dậu tả thừa A-lí Hải-nha và hữu thừa Lý Hằng, hai viên tướng này đều được Hốt-tất-liệt tin cậy trao cho phụ tá con hắn. Âm mưu, kế sách đều ở hai tên tướng giặc này, một đứa người Hồi-hột, một đứa người Hán. Lý Hằng đã bị quân ta giết chết trên đường tháo chạy năm trước. Hốt-tất-liệt còn cho Áo-lỗ-xích làm bình chương chính sự cùng với A-lí Hải-nha ở dưới trướng Thoát-hoan. Các tướng Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp cùng hai viên tướng Mông Cổ khác được thăng hàm tham tri chính sự ra vào dưới trướng giúp rập Thoát-hoan.
Hốt-tất-liệt giao hẳn việc trù hoạch binh lương và kế sách đánh nước ta cho A-lí Hải-nha.
Tâu, kế đó Hốt-tất-liệt lại gọi Ích Tắc cùng đám tòng vong phản quốc từ Ngạc Châu (Hồ Bắc) về Yên Kinh. Hốt-tất-liệt lập cả một triều đình bù nhìn do Ích Tắc đứng đầu. Y được phong làm An Nam Quốc vương, được trao phù, ấn. Con trưởng của Ích Tắc là Bá Ý được phong giữ chức an phủ sứ lộ Đà giang. Văn Lộng được phong giữ chức tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa giang. Tú Hoãn ra hàng đem theo gia quyến trên đường trốn chạy bị quân ta phục bắn chết tám người đều trong gia thuộc y cả. Hốt-tất-liệt thượng phong cho làm phụ nghĩa công ở bên cạnh Ích Tắc. Con Hoãn là Đức Tiệm được phong làm tuyên vũ sứ An Nam phủ lộ. Em con cô cậu của Hoãn là Lại Ích Khuy cũng được phong chức an phủ sứ lộ Nam Sách giang. Bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễm, Trịnh Long và hết thảy lũ theo giặc đều được Hốt-tất-liệt hào phóng ban cho chức tước và chuẩn bị theo chân quân xâm lược về nước.
Tâu, giặc đang ráo riết hoạt động quân lương để đánh ta thì tháng sáu vừa rồi A-lí Hải-nha đột ngột ốm chết, trong nước có nhiều điều bất ổn buộc Hốt-tất-liệt phải hoãn việc động binh, vì vậy đám bù nhìn lại bị đuổi về Ngạc Châu.
Điều đáng lưu ý là giặc định tập trung tất cả quân bộ, quân kỵ ở Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây) trước khi tiến vào Đại Việt. Còn toàn bộ quân thủy kể cả thuyền vận tải lương thảo đều tập trung ở hai cảng Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) trước khi tiến vào nước ta.
- Thế là cả hai viên tướng sừng sỏ lợi hại nhất của Hốt-tất-liệt sai vào đánh nước ta năm trước đều phải đền mạng do những tội ác chúng gây ra. Quang Khải nói xen vào.
Mọi người cười vui vẻ.
Hưng Đạo lại nói tiếp:
- Tâu, các đầu mối ngoại gián của ta ở Yên Kinh được gây dựng từ trước cuộc chiến tranh năm Ất Dậu, sau đó Đỗ Vỹ bị giặc bắt, nhưng các cơ sở vẫn không bị lộ. Tiếp đó có lũ người hàng giặc theo chúng về Bắc quốc, sợ đám tay sai nhận ra người mình ở bên đó nên tạm thời phải im lặng nghe ngóng một thời gian. Phần thì thay người, phần dời đổi các địa bàn kinh doanh hoặc giao tiếp. Cũng may, giặc đưa tất cả bọn phản quốc về cư ngụ tại Ngạc Châu tỉnh Hồ Bắc, nên ở Yên Kinh người của ta lại rộng đường hoạt động. Ngay cả Châu Ngạc, ta cũng mới cắm ở đó được vài người, đã lân la giao tiếp được với Tú Hoãn và cả với Lê Tắc nữa. Vâng, ta phải dùng người Hán để chúng không thể nghi ngờ. Đám phản quốc này vẫn đang tâm trạng hoang mang, người Nguyên chỉ phong cho những hư chức và cấp niên bổng, khuyên chờ theo đại binh về lấy lại nước mà làm vua, làm quan. Hằng ngày bọn chúng thường tụ nhau lại để than vãn và chờ đợi.
Tâu, Hốt-tất-liệt hoãn binh chỉ là việc nhất thời, sớm muộn thế nào chúng cũng lại kéo quân sang xâm lấn, xin thượng hoàng, quan gia và thái sư cho ý chỉ.
Thượng hoàng Trần Thánh tông trầm ngâm một lát rồi hỏi:
- Nghe anh Quốc Tuấn nói thì giặc đánh ta lần này quy mô có khi còn hơn cả lần trước. Vả lại giặc sẽ dùng lực lượng quân thủy rất mạnh để áp đảo ta cả hai mặt thủy bộ. Bởi lần trước giặc tỏ ra lép vế với ta mỗi khi phải giao chiến trên mặt nước. Vậy ta phải đối phó thế nào đây. Và nữa, nếu giặc đưa đám bù nhìn tay sai về nước thì ta xử trí sao đây. Hơn nữa, liệu dân có nao núng nếu giặc bắc lại sang.
Hưng Đạo chưa kịp trả lời thì Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đã nói:

- Thượng hoàng khỏi lo, các việc đó ta sẽ bàn sau. Để tập trung vào việc đánh giặc, xin thượng hoàng và quan gia cho thần thôi giữ chức Thái sư, dứt hẳn việc đại chính trao cho người khác, thần chỉ xin giữ chức Thượng tướng cùng anh Quốc Tuấn lo việc đánh giặc. Và cũng xin được anh Quốc Tuấn sai khiến. Trong lúc này không việc gì lớn hơn, quan yếu hơn là việc đánh giặc, giữ nước. Thú thực, sức thần cũng đã xuống lắm rồi, không kham nổi hai việc lớn cùng một lúc.
Nghe Quang Khải bộc bạch chân thành, những lời nói như buột ra từ tim từ óc chứ không phải là những lời khách sáo thăm dò hoặc so đo tính toán, Hưng Đạo hết sức xúc động, ông ngồi im lặng ve vuốt chòm râu bạc và suy ngẫm lời Quang Khải nói “sức thần cũng đã xuống lắm rồi”. Quả thật Quang Khải có vẻ mệt mỏi, hai hố mắt trũng sâu, chắc vương mất ngủ nhiều đêm. Chắc vương phải lo nhiều việc dân, việc nước. Đúng là Quang Khải có gầy đi, vốn dĩ tướng quốc đã là người mảnh mai, gầy yếu từ nhỏ. Thượng hoàng sinh năm Canh Tí (1240), Quang Khải sinh năm Tân Sửu (1241), năm nay đã vào tuổi bốn mươi sáu, bốn mươi bảy cả rồi. Ta hơn thượng hoàng mười tuổi, hơn Quang Khải mười một tuổi, nhưng sức lực hai người không thể so với ta được. Anh em nhà vua râu, tóc mới chỉ hoa râm chứ chưa bạc như tóc, râu ta, song sức lực lại không được dẻo dai như ta. Chẳng qua là ta chịu rèn sức từ tuổi thiếu niên tới nay, nên ta dai sức hơn các vương.
Quang Khải là người đa mưu, túc trí, là người quán thông mọi việc, nhưng trong công cuộc kình chống giặc dữ vừa qua nó đã lấy đi của Thượng tướng Thái sư nhiều sinh lực, nhiều tinh lực. Việc Quang Khải xin thôi giữ chức thái sư để tập trung cho việc cầm quân đánh giặc chứng tỏ vương là một người cao thượng, người có trách nhiệm trước vận mệnh của nước, trước sự mất còn của nước. Thế mà mới chỉ mấy năm trước, ta khổ vì sự nghi kỵ của anh em nhà vua biết dường nào. Ta lo việc luyện quân phòng khi nước có giặc thì bị nghi là có bụng kia khác. Ta lo cho dân trong thái ấp có chút tư điền để cố kết họ với triều đình phòng khi nước có giặc, lại bị nghi là ta lôi kéo dân chúng, mị dân chúng.
Và quyền thống lĩnh toàn quân, ta chỉ được trao khi giặc sắp vào cõi. Tấc lòng son của ta chỉ được thấu tỏ khi ta đánh tan giặc dữ, đành rằng làm nên đại cuộc là sức mạnh của mọi người, sức của mọi nhà, sức của cả nước.
Đêm mùa thu tĩnh mịch, cung Thánh Từ nằm biệt lập, xung quanh là hồ nước và các cây cổ thụ đứng rủ bóng im lìm như những người lính canh. Quang Khải dứt lời chỉ còn nghe tiếng lửa nến và bốn gương mặt đăm đắm suy tư.
Quang Khải đề cập đến việc ông xin thôi giữ chức thái sư để chuyên lo việc quân sát cánh cùng Hưng Đạo giữ nước khiến mọi người vừa ngạc nhiên vừa mừng thầm. Ngạc nhiên vì ông từ bỏ nắm giữ một cương vị quan trọng của nước. Cương vị của ông chỉ đứng sau vua. Vậy mà ông từ bỏ một cách hết sức nhẹ nhàng, tựa như người ta phủi một lớp bụi sương trên áo. Còn mừng thầm là bởi ai cũng biết trước đây Quang Khải luôn canh chừng Hưng Đạo. Điều Quang Khải vừa nói ra nó bất ngờ quá khiến cả thượng hoàng và quan gia còn phải cân nhắc.
Bỗng quan gia lên tiếng:
- Cháu không nghĩ chú Chiêu Minh lại muốn thôi giữ chức đại chính vào lúc này. Giặc sắp vào cõi mà thay ngôi tể tướng liệu có yên được lòng dân, yên được lòng kẻ sĩ không. Việc này xin phụ hoàng, bá phụ và thúc phụ cân nhắc. Còn như chú muốn chuyên tâm vào việc cầm quân cùng với bá phụ lại đánh tan giặc dữ như năm Ất Dậu mới đây để bảo vệ muôn dân, bảo toàn lãnh thổ thời đó là một ý nghĩ thần thánh. Chỉ những bậc đại trí đại dũng mới làm được như vậy. Thưa chú, cháu vừa lo lắng vừa vui mừng nhưng quả thật cháu không dám quyết.
- Quan gia nói thế, ý anh Quốc Tuấn thế nào? - vua Thánh tông hỏi.
Hưng Đạo nhìn lại gương mặt của từng người vẻ như ông muốn dò thăm ý tứ, đoạn ông nói:
- Chiêu Minh vương thật lòng muốn dồn sức cho việc đánh giặc. Bởi khi nước có giặc thì lo đuổi giặc là việc thiêng liêng nhất. Vì thế quan gia mới nói đó là ý nghĩ thần thánh của vương. Song Quốc Tuấn tôi trộm nghĩ, dù thời bình hay thời chiến, nền đại chính vẫn là rường mối, là huyết mạch của một quốc gia. Cuộc kháng giặc năm Ất Dậu vừa qua, số quân ta dùng chưa hết, vẫn còn hơn mười vạn quân chưa đưa vào trận, lại mọi thứ từ tải lương, tải thương, rồi nơi chốn nào giặc chưa tới, vẫn phải lo việc nông tang như thường, tất cả các việc đó hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của nền đại chính. Trong cuộc kháng giặc vừa qua Chiêu Minh vương hoàn thành xuất sắc cả hai chức trách Thái sư và Thượng tướng. Công lao ấy phải được lưu lại sử xanh. Nay vương muốn dồn tất cả tinh lực của đời mình để dâng hiến cho công cuộc bảo vệ đất nước, nhẽ nào thượng hoàng và quan gia không ân chuẩn. Có điều rằng triều đình phải tìm được người thay thế xứng đáng. Nếu bộ máy công quyền của nền đại chính không được thông suốt, không được dân tin thì đó lại là một đại họa, ảnh hưởng xấu đến việc cung cấp mọi nguồn lực cho công cuộc kình chống giặc dữ.
Được Hưng Đạo cổ vũ, Trần Quang Khải lấy làm đẹp ý, mắt sáng lên, ông nói:
- Đa tạ anh Quốc Tuấn hiểu lòng tôi. Vậy tôi xin đề cử người thay thế.
- Ai vậy? - Thượng hoàng Trần Thánh tông vội hỏi.
- Tâu, từ lâu thần đã nghĩ đến hoàng thứ tử Tá Thiên vương Đức Việp, xin thượng hoàng và quan gia xem xét. Tá Thiên vương tuy trẻ, nhưng có tính cẩn trọng mà cương dũng có thừa. Năm Ất Dậu cầm quân vào trận lập được công cao. Nếu thượng hoàng và quan gia còn băn khoăn thì hãy cho Việp tạm quyền một thời gian.
- Dạ, việc đó xin thúc phụ cho cháu xin ý chỉ của phụ hoàng và cũng còn phải cân nhắc đã. Bây giờ con xin phụ hoàng cùng bá phụ, thúc phụ trở lại xem xét các điều mà bá phụ tâu ban nãy để có kế sách chống giặc sao cho diệu dụng, vua Nhân tông nói và nhà vua đưa mắt nhìn về phía vua cha.
- Sau khi nghe anh Quốc Tuấn tâu báo, ta cũng đã có dự liệu, nhưng trước hết muốn nghe kế sách của anh Quốc Tuấn, đành rằng anh nặng về việc binh, nhưng ở đây anh là người trải đời, trải việc là người có bản lĩnh vững vàng nhất, vua Thánh tông nói và ông hướng cái nhìn về phía Hưng Đạo.
Trần Hưng Đạo không thể không nói vì thượng hoàng đã có ý muốn nghe. Hưng Đạo bèn vái Thánh tông hai vái rồi nói:
- Tâu thượng hoàng, trước hết nói về cái triều đình bù nhìn do nhà Nguyên lập ra, là để nó có tay chân sai bảo. Có nghĩa rằng nó lập ra một thứ triều đình tôi tớ chứ không phải Hốt-tất-liệt muốn có mối quan hệ giao hảo với một nước láng giềng, hoặc với một nước phên giậu.
Tâu, việc này thật chẳng khác gì việc của năm Tân Tỵ (1281) thượng hoàng sai Di Ái sang sứ nhà Nguyên được chúng tôn lập, rồi sai Sài Thung cùng năm ngàn quân dẫn y về nước bắt ta phải nhận. Năm đó, hoàng thượng đã sai đuổi đám quân kia ra khỏi cõi, đón sứ vào Thăng Long còn Di Ái bắt về trị tội.
Có điều lần này giặc đưa bọn bù nhìn về sẽ đi cùng với cả mấy trăm ngàn quân giặc chứ không phải chỉ có năm ngàn như lần trước. Và chắc chắn lần này ta không chỉ bắt lũ Việt gian mà còn bắt cả lũ tướng giặc trị tội.
- Vậy chớ còn việc giặc huy động đại binh đánh ta thì sao. Liệu lần này giặc đưa số quân gấp bội lần trước và chúng tăng quân thủy tới mức áp đảo sở trường đánh thủy của ta thì sao. Anh thử tính xem, quân mình, dân mình có còn đủ sức đánh lại với đội quân khổng lồ ấy không.
- Tâu bệ hạ - Hưng Đạo vẫn điềm đạm trả lời - Bây giờ chưa thể nói đánh giặc như thế nào vì chúng chưa đem quân vào cõi. Để xem chúng đem vào số quân là bao nhiêu, lại xem cách chúng đánh như thế nào, đánh ào ạt quyết chiến ngay hay đánh theo cách tằm ăn dâu. Chúng đánh cách nào thời ta sẽ có phương lược đối phó theo cách đó. Chúng đem chủng quân nào vào, thời ta đánh vào chủng quân đó, bắt nó không phát tác được sở trường mà phải bộc lộ sở đoản.
Tâu bệ hạ, năm nay nếu giặc vào cõi chắc là dân ta không còn e sợ giặc nữa, sẽ hăng hái đánh trả nó ngay từ đầu. Quân ta cũng không còn e ngại chúng nữa là vì hai bên đã đọ sức, thắng thua đã rõ.
Sở dĩ năm trước giặc đến, dân ta nhiều người còn bỡ ngỡ, thậm chí sợ giặc, có kẻ ra hàng. Cả người trong tôn thất lắm kẻ cũng không giữ được lòng trung. Là bởi dân sống trong hòa bình đã lâu. Và chỉ mới nghe đồn về sức mạnh và sự tàn bạo của giặc, dân đã thấy sợ hãi. Dù trước đây dân ta có đánh giặc Thát năm Đinh Tỵ, nhưng cũng cách nay tới ba chục năm rồi. Vả lại ngày ấy giặc đến và đi đều rất nhanh và quân chúng cũng chỉ kéo từ Quy Hóa giang[27] về tới Thăng Long bị quân ta đánh đuổi ra khỏi cõi bờ chỉ trong mấy chục ngày nên chúng chưa kịp gây nhiều tội ác, dân chúng không lưu dấu được hình ảnh gì đáng sợ của giặc.
Vì vậy, nếu lần này giặc vào thì dân cũng như quân ta đều đã biết về giặc và biết cả cách tránh cũng như cách đánh giặc rồi, xin bệ hạ cứ yên tâm.
Tâu, nếu lần này giặc lại vào thì cả quân và dân ta đều hăng hái đánh giặc, còn quân giặc thì cả quân và tướng đều lo sợ do trận thua năm trước vẫn chưa hoàn hồn.
- Vậy chớ phải lo khai triển kế sách nghênh địch từ bây giờ chứ anh Quốc Tuấn.
- Tâu, thần lúc nào cũng coi như giặc đã áp sát biên thùy, nên việc canh phòng, cảnh giới, ém quân đều đã sẵn sàng chờ giặc đến. Mới đây quan gia cũng lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ thêm lính, chấn chỉnh lực lượng, sửa sang các chiến thuyền để tăng thêm sức mạnh của quân ta. Quan gia cũng đã có dụ cho bộ Công phải gấp rút chế tác khí giới, nhất là các loại tinh xảo như ngũ sảo pháo, nỏ liên châu bắn bằng mũi tên đồng. Tâu thượng hoàng, cả nước hiện nay đang sôi sục khí thế đánh giặc giữ nước, tuy vậy việc canh tác, việc nông tang mùa vụ vẫn diễn ra bình thường.
Nghe Hưng Đạo tâu báo, vua Thánh tông thực sự yên tâm. Ngài quay lại hỏi vua Nhân tông:
- Có phải ấn quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự quan gia vẫn trao cho Hưng Đạo vương quản nhiệm đấy chứ?
- Tâu phụ hoàng, ấn đó con trao cho bá phụ từ cuộc đại duyệt toàn quân tại Đông Bộ đầu từ tháng tám năm Giáp Thân (1284). Nay triều đình vẫn giao việc đó và ấn đó để Quốc công lãnh việc thống suất toàn quân cự giặc.
Vua Nhân tông vừa dứt lời, Hưng Đạo lại tâu:
- Nhân quan gia nói đến đại duyệt toàn quân, thần xin thượng hoàng và quan gia ân chuẩn cho đến trung tuần tháng một này trở đi thần cho tập đại thủy trận lần lượt tại các nơi như Lục Đầu giang, ngã ba Bạch Hạc và Vân Đồn - Bạch Đằng giang. Và xin được điều động như sau:
- Thượng tướng Chiêu Minh vương thống lĩnh mười vạn gồm quân bản bộ và điều thêm quân của các vương lộ Thiên Trường, Đà Giang về phối hợp. Địa bàn tổng diễn tập là ngã ba Bạch Hạc.
- Phó tướng Nhân Huệ vương điều động hết thẩy số quân hiện có đang trấn tại Vân Đồn đưa vào diễn tập. Địa bàn diễn tập trải dài từ Vân Đồn về tới Cửa Lục có tính tới cửa An Bang.
- Thần cũng đưa mười vạn quân bản bộ lấy địa bàn Lục Đầu giang làm nơi diễn tập.
Sau đó, đại quân của Nhân Huệ vương đóng giả làm quân Nguyên theo đường Bạch Đằng ngược lên uy hiếp cánh quân Đại Việt tại Lục Đầu giang. Cùng lúc đại quân của thượng tướng Chiêu Minh vương cũng đóng giả làm quân Nguyên từ Bạch Hạc tiến vào, hợp thành thế bao vây Vạn Kiếp, về mặt bộ, một cánh “quân Nguyên” khác do Chiêu Văn vương phối với Hưng Vũ vương và Phạm Ngũ Lão đem mười vạn quân bộ, quân kỵ chiếm ải Nội Bàng tiến thẳng xuống chọc sườn phía tả quân Đại Việt. Vậy là Vạn Kiếp tam phương thụ địch.
Tâu đây chỉ là đại lược, còn chi tiết cụ thể sẽ họp các tướng bàn bạc để lập sa bàn và đường hướng diễn tập của từng mặt trận. Tâu, nếu có đủ thời gian thì cả hai cuộc tập trận này phải kéo dài tới ba tháng để mọi tình huống đều được khai thác đến tận cùng, điều đó rất có lợi cho tướng lĩnh và binh lính khi đối mặt với kẻ thù đích thực.
Nghe xong các điều dự liệu của Quốc công tiết chế, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải lấy làm tâm phục, ông hỏi:
- Có phải anh Quốc Tuấn trù liệu trận này Thoát-hoan, Áo-lỗ-xích, Ô-mã-nhi quyết đoạt bằng được chiến trường Vạn Kiếp của anh không?
Hưng Đạo giật mình nhưng ông đã kịp trấn tĩnh liền đứng dậy vái Trần Quang Khải một vái và nói:
- Đệ biết hết cả ruột gan ta. Đúng thế, Vạn Kiếp là một địa bàn chiến lược tiến lên có thể uy hiếp Thăng Long, Trường Yên, Thiên Trường; lui về có thể giữ yên con đường thủy bộ huyết mạch. Bộ thì có con đường thiên lý qua vùng Bắc Giang thượng hạ tiếp với Bằng Tường của nước Tàu. Thủy thì từ Vạn Kiếp xuôi về Bạch Đằng giang qua nẻo Vân Đồn hoặc đi thẳng ra cửa An Bang rồi ra biển. Đó chính là con đường thoái lui mà giặc cho là sống còn của nó. Trận trước, khi tháo chạy chúng chỉ dồn về đường bộ qua nẻo Tư Minh, Bằng Tường, quân chúng vón lại nên ta tiêu diệt được nhiều, ngay cả Lý Hằng còn tử trận và Thoát-hoan cũng suýt chết. Vì vậy lần này chúng phải chiếm các địa bàn chiến lược trọng yếu ngay từ khi chúng còn giữ ưu thế về binh lực.
Trần Thánh tông bật lên tiếng cười lớn và hỏi:
- Anh Quốc Tuấn nói thế chẳng hóa ra Hốt-tất-liệt phái đại binh vào nước ta lần này đã nhắm thế thủ bại từ trước khi xuất quân sao?
Hưng Đạo cũng cười và cả mấy anh em bác cháu cùng cười vui, đoạn Hưng Đạo nói:
- Thượng hoàng thừa biết, giặc Bắc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta, cho nên lần này cha con Hốt-tất-liệt sẽ trù liệu đánh lớn và quyết chiếm các yếu huyệt chiến lược ngay từ đầu để giữ thế thượng phong, rồi từ đấy sẽ lùa quân ta vào các túi mà chúng đã giăng mắc để tiêu diệt hoặc bức hàng.
- Anh Quốc Tuấn đã tính trước thế cờ, nhưng liệu đó có trúng với dự mưu của giặc không? Ý chú Chiêu Minh và quan gia thế nào? - Thánh tông gặng hỏi.
Quốc Tuấn chợt nhận ra một điều rằng trong thâm tâm vua Thánh tông vẫn lo thế giặc quá mạnh, nên nhà vua dù có tin rằng quân ta có thể cự được giặc nhưng vẫn còn băn khoăn, lo lắng.
Chiêu Minh vương cũng đọc được tâm trạng lo lắng của Thánh tông, ông nói với giọng bình thản:
- Huynh trưởng lo cho xã tắc là chuyện đương nhiên. Nhưng đánh giặc hoặc giặc đi xâm lấn đều phải theo phép tắc chung của binh pháp chứ không thể gặp chăng hay chớ. Anh Quốc Tuấn dự đoán mưu giặc lần này cũng chỉ là một giả định trong nhiều giả định. Nhưng điều quan trọng vào bậc nhất là sự biến hóa khi lâm trận. Tướng có tài cầm quân thì từ tử địa sẽ tìm ra sinh địa, sẽ chuyển thế bại thành thế thắng. Còn các tướng bất tài sẽ từ sinh địa chạy sang tử địa và từ thế thắng sẽ dẫn tới thế thua, thế bị tiêu diệt.
Vua Nhân tông cũng nói hùa vào:
- Cái linh giác của một đời làm tướng sẽ dẫn bá phụ đi tới những quyết sách đúng đắn, con tin sự diễn biến chiến trường sắp tới đều không nằm ngoài dự liệu của bá phụ. Và giặc Bắc sẽ nắm chắc phần chiến bại là điều hiển nhiên. Tuy vậy cuộc chiến sẽ diễn ra rất khốc liệt.
Đêm đã khuya, vua tôi say sưa bàn bạc kế sách đánh giặc mà quên sai bảo nội thị hầu trà hầu rượu. Đám thị nữ, quan nội hầu cứ lấp ló ngoài hành lang lắng nghe tiếng chuông gọi để được vào hầu nhưng đã không có một tiếng chuông nào vang lên cả.
Tới lúc này mọi người mới thấm mệt và mới nhớ ra cả miếng nước uống cũng không có nữa, thật là một chuyện chưa bao giờ xảy ra trong cung Thánh Từ.
Hưng Đạo xin phép cáo lui để về vương phủ và sớm mai ông sẽ xuôi thuyền về Vạn Kiếp. Trước khi ra về vương nắm chặt tay Chiêu Minh vương Trần Quang Khải nói giọng đầy xúc động:
- Quyết định của vương làm ta yên tâm vào trận, biết nói thế nào để vương hiểu niềm vui đang tràn ngập lòng ta.
- Anh Quốc Tuấn, từ sau bữa anh tắm cho tôi ở trên thuyền trước ba quân và sau cuộc cờ ở thủy đình trong hồ Ngoạn Ngọc hồi tháng mười năm Giáp Thân, trước khi giặc Nguyên vào cõi tôi mới hiểu được anh và biết mình là kẻ hẹp lượng, mong anh bỏ hết những chuyện đã qua và cùng nhau cứu lấy nước, giữ lấy giang sơn Đại Việt.
Quốc Tuấn xúc động lắm, ông đưa ánh mắt cảm thông về phía Quang Khải và cúi chào hai vua rồi bước ra khỏi cung Thánh Từ.
Về tới dinh phủ, Hưng Đạo sai thắp bạch lạp để ông đọc sách. Ông mở Tôn Tử binh pháp đọc được vài trang nhưng chữ nghĩa cứ nhảy múa ở trong đầu và không còn nhớ những gì mình vừa đọc. Sau đó ông lại lần mở Vạn kiếp tông bí truyền thư là bộ binh pháp do ông trứ tác ra đọc. Đọc cái mà mình viết ra ông cũng không biết trong đó nói gì. Tự biết tâm đang xao động, ông tắt bạch lạp, uống một chén trà cúc rồi ngồi tọa thiền để lấy lại sự quân bình cho thân tâm.
Chừng một khắc canh giờ sau thấy đầu óc đã nhẹ nhõm thì hình ảnh cuộc hội kiến với hai vua và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải lại hiện ra khiến ông hài lòng. Sự quyết định dứt khoát của Quang Khải chỉ chuyên lo việc cầm quân đánh giặc và xin được ta sai khiến. Đó là một điều bất ngờ, ta chưa bao giờ nghĩ tới.
Vậy là lần này, trước khi giặc vào cõi, mọi mối tị hiềm đã được gỡ bỏ. Tình đoàn kết gắn bó từ nhà đến nước, từ triều đình đến dân chúng nơi thôn ấp sẽ là một sức mạnh to lớn khiến cha con Hốt-tất-liệt khó lường. Đúng là cuộc chiến năm Ất Dậu, ta biết bao là gian khó, phần lo tập hợp sức quân sức dân trong cả nước để kháng giặc, phần lo nhà vua và Quang Khải còn nghi ngờ ta tiếm ngôi nước. Chính anh em nhà vua còn chút hoài nghi ấy nên ta càng phải giữ mình. Cũng may quan gia (vua Nhân tông) và Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật hiểu được lòng ta, đã góp phần đáng kể vào việc hóa giải mối ngờ vực âm ỉ suốt mấy chục năm dài. Và vì thế mãi tới khi giặc sắp vào tới biên thùy cha con nhà vua mới chịu trao quyền thống suất toàn quân để cho ta điều hành công cuộc kháng giặc.
Đánh bại giặc, bảo toàn bờ cõi, giữ yên tông miếu ta vẫn an phận làm tôi, vì thế đã cảm hóa được Quang Khải chuyên lo việc quân cùng ta, khác nào ta như hổ mọc thêm cánh. Vì vậy việc đánh giặc sắp tới, ta thấy phần thắng là chắc chắn chứ không mông lung như cuộc chiến năm Ất Dậu.
Lần này ta chắc cuộc chiến sẽ ác liệt hơn cuộc chiến năm Ất Dậu. Bởi giặc rảnh tay đánh ta, tiềm lực của nó vì thế mà rất lớn. Vừa là cuộc phục thù vừa là mưu đồ thôn tính ta bằng được mới mở thông cửa cho giặc tiến về phương nam để thôn tính Chiêm Thành, Chân Lạp, Tiêm La… Sự thật, nếu giặc bình định được Đại Việt, các nước kia tự khắc phải xin hàng. Và giặc đã từng thất bại nhục nhã, hẳn lần này chúng phải dùng độc kế. Do đó, cuộc chiến lần này không chỉ là cuộc đấu lực mà còn là cuộc đấu trí vô cùng khốc liệt.
Quả là giặc dồn nước ta đến tận chân tường và ta chỉ có một con đường: Thắng giặc hay là chết. Còn giặc, chúng có những hai con đường, nếu thắng ta, giặc sẽ ở lại tàn phá nước ta, đè đầu cỡi cổ dân ta, nếu giặc thua thì con đường phía trước của chúng cũng rất thênh thang, ấy là tháo chạy. Ta đang lo tìm mưu kế nếu giặc lại vào, lần này ta phải đánh cho chúng một đòn thật kinh hoàng để mỗi khi nghĩ đến hai tiếng Đại Việt, tướng giặc đã nổi da gà và sống lưng buốt lạnh, ngựa chiến của chúng vừa chớm nhìn thấy biên thùy nước ta đã hốt hoảng quay đầu.
Sáng ra, dùng xong ấm trà sớm và ăn điểm tâm, Hưng Đạo ung dung bước xuống thuyền xuôi về Vạn Kiếp, lòng thanh thản.
Mấy đứa trạo nhi đưa con thuyền nan theo dòng Tô Lịch ra cửa Hà Khẩu rồi hòa vào sông Cái ngược về sông Thiên Đức[28]. Nhập vào sông Cái, dòng sông mênh mang, tuy đã sang thu nhưng nước nguồn vẫn đang đổ về rất mạnh. Hai bên bờ sông cây cối ăn sát mép nước, đó là những dải rừng rậm rạp mà phía sau nó là những cánh đồng lúa xen kẽ giữa các ngôi làng. Mặt trời lên đã chênh chếch ngọn tre mà vẫn chưa xua sương mù khiến bầu trời có màu trắng đục như màu sữa. Thỉnh thoảng có một đàn cò bay chấp chới lướt qua mặt sông rồi sà đậu xuống bờ nước kiếm ăn.
Hưng Đạo đã đi lại tới cả ngàn lần trên mặt sông này, ông thuộc nằm lòng các vật trên hai bờ và cả thủy chế của dòng sông qua các mùa, ấy vậy mà bữa nay ông ngắm nhìn nó hết tả ngạn qua hữu ngạn, nhìn suốt hạ lưu lại ngoái xem thượng lưu cứ như là ông mới qua đây lần đầu.
Khi thuyền vào sông Thiên Đức để xuôi về Vạn Kiếp, lúc này vừa thuận gió vừa xuôi nước, đám trạo nhi đã giương buồm, thuyền lao đi vun vút như ngựa chạy, Hưng Đạo sai buông rèm rồi ông vào trong khoang nằm ngủ, lại dặn đám quân hầu: “Khi nào thuyền cập bến mới được đánh thức ta dậy”.
Chừng nhai tàn miếng trầu, đám quân theo hầu đã thấy vương ngáy, và họ quanh quẩn phía ngoài canh cho vương ngủ.
Trời tối sẫm, khoảng đầu giờ tuất thuyền cập bến, mũi thuyền va nhẹ vào bờ khiến vương thức giấc.
Nhà tân khách đèn đốt sáng lòa, các gia tướng gia thần đã tề tựu đông đủ chờ đón chủ tướng.
Hưng Đạo ghé nhà tân khách cho mọi người chào hỏi. Chủ tướng nói đôi lời và hẹn một lát sau ông quay lại. Liền đó ông vào nhà hậu đường vấn an phu nhân.
Thấy Quốc công trở về với giọng nói hồ hởi và gương mặt rạng rỡ như có điều gì vui lắm đang ủ giấu ở trong lòng, phu nhân liền hỏi:
- Hốt-tất-liệt bãi binh rồi hay sao mà vương vui thế?
Khẽ nắm bàn tay phu nhân, vương đáp:
- Phu nhân đoán việc như thần.
- Thật vậy sao vương? Nếu đúng như vương nói thì hồng phúc nước nhà to lắm.
- Đúng là giặc có tạm thời hoãn binh, chắc là chỉ sau dăm bữa nửa năm rồi giặc lại động binh thôi, phu nhân nên biết Hốt-tất-liệt là kẻ ngạo mạn, hắn đưa quân đi chinh phục khắp gầm trời này chưa bao giờ hắn bị đối phương đánh bại. Cho nên cuộc bại trận năm Ất Dậu trên đất ta là một sự ô nhục đối với thiên tử và thiên triều, đó là việc chưa từng xảy ra đối với một đại Hãn như Hốt-tất-liệt.
Bỗng Hưng Đạo giật mình vì bàn tay của phu nhân nóng quá. Vương ân cần hỏi:
- Phu nhân bị yếu từ bao giờ, ta vô tâm quá, ông nói vẻ ân hận, như chính mình có lỗi.
- Thiếp bị cảm qua loa thôi, một vài ngày sẽ khỏi. Vả lại tuổi già thì sức yếu; sinh-lão-bệnh-tử cái vòng tuần hoàn ấy nó chẳng trừ ai đâu. Phu quân nên bảo trọng tấm thân muôn quý. Vương hãy để hết tâm lực cùng cả nước lo kháng giặc, khỏi phải băn khoăn vì thiếp. Trong vương phủ có nhiều thầy thuốc giỏi, lại bao nhiêu tì nữ hầu hạ ngày đêm thử hỏi như thế còn chưa đủ sao. Trong lúc này phải lo giữ lấy mệnh nước. Đất nước lâm nguy thiếp chân yếu tay mềm không làm được việc gì cho nước, trăm sự trông vào vương để vương gánh cả cho phần của thiếp.
- Việc nước, việc quân sao ta có thể xao nhãng, nhưng để phu nhân yếu mà phải vò võ một mình ta sao yên tâm được. Vậy chớ bấy lâu nay phu nhân thấy trong người thế nào mà ta trông phu nhân có vẻ mệt mỏi lắm.
- Chỉ vài bữa là thiếp khỏi thôi, chỉ tại cái chứng hỏa bốc lên làm đau đầu mất ngủ. Mất ngủ một vài đêm là người phờ phạc ra, ngủ được lại hồi phục ngay. Thầy thuốc bảo chân hỏa của thiếp vượng cũng tức là chân âm kiệt, nay đang uống thuốc để nâng cái chân âm lên cho thăng bằng âm dương, chứ nếu giáng hỏa xuống đột ngột sẽ nguy cho tính mạng. Bởi thế bệnh sẽ lui dần.
Phu nhân nhìn vương hết sức trìu mến và có vẻ như năn nỉ, khẩn cầu nữa, đoạn bà nói:
- Vương đi rửa mặt thay quần áo đi, có nước lá thơm gia nhân đã sắp sẵn trong phòng tắm, rồi vương dùng bữa còn gặp gỡ các gia thần chứ, các ông ấy đợi vương từ chiều, chắc là có mưu chước gì cần tâu báo đấy. Nói xong, phu nhân kéo vương đi ra dãy xuyên đường.
Nhà tân khách đèn vẫn thắp sáng trưng, các gia tướng gia thần của phủ Hưng Đạo đang sôi nổi bàn thảo về cuộc xâm lăng Đại Việt sắp tới sẽ diễn ra như thế nào. Hốt-tất-liệt sẽ cử ai lĩnh ấn nguyên súy và những tướng nào ở trong bộ phận đầu não của chúng.
Trần Thì Kiến nói:
- Cuộc chiến năm Ất Dậu Hốt-tất-liệt đã sai các đệ nhất danh tướng làm bộ phận đầu não của đoàn quân viễn chinh. Thoát-hoan nghe đâu là con trai thứ mười hoặc mười một của Hốt-tất-liệt, tên này cũng là một tướng giỏi đã vùng vẫy khắp các mặt trận trên đất Trung nguyên, không có một viên tướng Tống nào là địch thủ của y. Đành rằng y không phải là tướng giỏi nhất nhưng y là hoàng tử, con vua nên được phong là Trấn Nam vương, tả hữu dưới trướng có cả thừa tướng A-lí Hải-nha, hữu thừa tướng là Lý Hằng, hai tên này là đệ nhất danh tướng và cũng là đệ nhất công thần của triều Nguyên hiện nay.
Còn tướng đảm nhận các chủng quân có Ô-mã-nhi, Lưu Thế Anh là những tướng rất giỏi về thủy chiến. Các tướng như vạn hộ Lý-la-hợp đáp-nhi (Bôn-kha-đa), chiêu thảo Nạp-hải (Na-khai) là những tướng kỵ binh lỗi lạc. Toa-đô thì đánh bộ, đánh thủy, đánh quân kỵ đều giỏi. Bọn vạn hộ Lý Bang Hiến, Nghê Nhuận… đều là tướng dạn dày chiến trận. Thế mà kết cục như thế nào các ông đều biết cả. Toa-đô mất đầu, Lý Hằng, Lý Bang Hiến bỏ mạng, Lưu Thế Anh, Ô-mã-nhi bỏ quân trốn chạy. Ngay Thoát-hoan cũng hồn kinh phách lạc. Vậy thì lần này chúng đào đâu ra các tướng tài nữa, theo tôi lại bọn quân cũ, tướng cũ mà thôi, có điều lần này chúng sẽ kéo sang đông hơn, nhưng tôi dám chắc là chúng tháo chạy cũng sớm hơn, nhanh hơn, vì tất cả bọn chúng đều đã ngấm đòn Đại Việt, nên đứa nào cũng phấp phỏng lo như gà đã một lần bị cáo vồ hụt.
Trần Thì Kiến vừa dứt lời, các quan đều cười vui vẻ và cho điều Thì Kiến nói là có lý. Cũng vừa lúc Hưng Đạo xuất hiện. Ông hỏi han công việc của mọi người và cũng cho họ biết về ý tứ mà hai vua cùng ông và thái sư đã bàn kế chống giặc như thế nào. Ông khuyên mọi người đi nghỉ vì đêm đã khuya; sớm mai ông sẽ nghe tâu báo công việc và cũng bàn một số việc phải làm ngay. Lại sai quân phải đi triệu gấp các tướng là con của vương về Vạn Kiếp hội bàn việc quân.
Sáng sớm Yết Kiêu đã dậy hầu trà Quốc công. Trong tất cả các loại trà sản được ở trong nước, Hưng Đạo vẫn ưa hơn cả là trà cúc. Chỉ một dúm trà hãm với dăm bông kim cúc phơi được nắng thế là được một ấm trà ngon. Ông thích uống mộc như thế để thưởng thức mùi thơm tinh khiết của hoa cúc và cái vị hơi ngầy ngậy của trà.
Bữa nay vương sai Yết Kiêu hãm trà vào ấm to và cho gọi cả Dã Tượng vào cùng uống. Pha trà xong, rót mời chủ tướng rồi Yết Kiêu, Dã Tượng chắp tay đứng hầu.
Hưng Đạo tự rót nước ban cho hai người và nói:
- Các người cứ ngồi vào kỷ đi, ngồi vào uống rồi ta còn hỏi chuyện mấy ngày ta vắng nhà.
Hai người bê lấy nước nhưng đều khép nép cảm tạ chứ không dám ngồi.
Hưng Đạo chép miệng rồi phán:
- Ta lấy làm tiếc hai ngươi xuất thân từ đẳng cấp thấp nên ta không thể phong tướng cho các người được vì đó là luật lệ của triều đình. Nhưng tài năng của các ngươi, lòng quả cảm của các ngươi, lòng trung thành của các ngươi thực chẳng kém ai, liệu rồi sử xanh có chép ghi lại để lưu danh hậu thế. Dù đời có coi các ngươi như thế nào mặc lòng, nhưng ta vẫn giữ các ngươi ở nơi trướng hổ và sai bảo như các tướng tả hữu phúc tâm vậy.
Hai người nô bộc nghe chủ tướng nói mà cảm động đến rơi nước mắt bèn quỳ vái vương.
Hưng Đạo đỡ họ dậy và ấn ngồi vào kỷ. Họ sợ hãi chỉ dám ngồi lân ra mép kỷ. Chợt chủ tướng hỏi:
- Dã Tượng, đội tượng binh tập tành thế nào? Con Thần Vũ của ta có cái nhọt ở phía vành tai đã vỡ mủ chưa?
- Bẩm vương, hôm qua con đã trích nhọt, nặn mủ rửa sạch và đắp lá thuốc cho nó rồi ạ. Sớm nay nó đã bình thường trở lại vì đêm qua hết đau nó ngủ ngon giấc lắm. Bẩm vương, việc luyện tập đội tượng binh theo lời dạy của vương, vị đô tướng cho người và voi tập ăn ý lắm.
- Thế còn đội quân ngầm của ta thế nào Yết Kiêu?
- Bẩm vương những người huấn dạy thành tài phân làm hai đội hằng ngày tập với nhau. Còn hơn ba trăm người đi tuyển ở các nơi về sau hai tháng huấn dạy đã loại mất hơn hai trăm người rồi ạ. Dạ nhiều người loại mà con cũng tiếc lắm. Họ đáp ứng đủ các chuẩn cấp mà chủng quân đó đòi hỏi, nhưng lại đoản sức không ở lâu dưới nước được và mùa lạnh những người mảnh sức dễ lên cơn hen bất thường có thể gây ra cái chết bất đắc kỳ tử. Vâng, phải loại thôi ạ.
Bẩm vương những người bị loại khỏi đội quân ngầm họ không chịu về, cứ nhất định xin ở lại trong quân. Dạ, vị đô tổng quản đã phiên họ về các đội quân cung nỏ hoặc đao thương rồi ạ. Dạ, tinh thần binh sĩ lên cao lắm. Họ bắt chước những người lính thời Trùng Hưng cậu nào cũng thích lên cánh tay mình hai chữ SÁT THÁT.
Hưng Đạo tỏ vẻ hài lòng, vương cho Yết Kiêu, Dã Tượng đi theo ra bãi tập thăm các chủng quân. Bởi các quân ở cách nhau khá xa nên vương và hai gia nô phải đi ngựa. Con tía mật vừa trông thấy chủ đã lắc bờm đập móng và hí lên mấy tiếng tựa như một lời chào. Vương vừa nắm dây cương vừa vuốt nhẹ lên trán nó, con tía mật chớp chớp mắt. Rõ ràng là nó cảm động trước cử chỉ âu yếm của vương.
Đang ruổi ngựa, vương ngước nhìn bầu trời trong vắt và ánh nắng từ đằng đông xiên chéo sang khiến vương hơi lóa mắt, vừa ngoảnh đi thì bắt gặp hình ảnh ngọn núi An Phụ cao ngất, ở đó mây phủ trắng xóa. Bắt gặp ngọn núi An Phụ, nơi để di hài An Sinh vương Trần Liễu, hình ảnh người cha bất chợt hiện lên. Và vương nhớ lúc lâm chung, cha nhìn trước nhìn sau rồi đuổi hết mọi người ra chỉ còn ta với lão bộc. Người lão bộc già trung thành nên cha không nỡ đuổi. Bắt ta phải ngồi nhích lại gần cha. Cha nhìn thẳng vào mắt ta nói lời trăng trối: “Mày mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt”.
Trong mấy chục năm qua, lời trăng trối ấy vẫn hằn sâu trong óc não vương. Vương thương cha trong cuộc đời có nhiều điều bất như ý, cả sự bức bách của ông chú họ là Thái sư Trần Thủ Độ, nên sự đau khổ đã uất kết ở trong lòng khiến có lời trăng trối đó. Tuy thương cha, nhưng vương không cho lời cha dạy là phải và không theo.
Tuy nhiên, sự ngờ vực của phía những người giữ quyền đại chính, có lúc vương cảm như nghẹt thở. Ngay cả việc chăn dân, vỗ về dân để cố kết họ cùng với triều đình đánh giặc, tới mức vương phải sẻ cả sản nghiệp cho dân để hữu sản hóa cho người nông phu vẫn còn bị triều đình nghi kỵ. Mãi sau rồi chính sách Phú quốc cường binh mới được anh em nhà vua chấp nhận. Bây giờ trong tay ta thống lĩnh đại binh, phủ binh của các vương, hầu đều đặt dưới quyền sai khiến của vương. Nếu như vương đem lòng kia khác thì chỉ cần phẩy tay một cái là xã tắc nghiêng đổ. Nhưng đó là việc làm của kẻ võ phu. Vì thân chứ không phải vì dân, vì nước. Vương thà chết chứ không làm chuyện thất đức này. Nhưng sao vương nghe mấy đứa con cũng mong manh biết chuyện. Có nhẽ ta phải dò thăm ý tứ chúng và phải dẹp bỏ ngay để anh em cố kết cùng với sự cố kết toàn dân thì mới đủ sức chống đỡ giặc ngoài. Lúc này mà chia lòng là tự sát và cũng có nghĩa là đem nước dâng cho giặc, tội ấy muôn đời sau dân còn rủa oán.
Tiện đường ngựa, vương qua thăm một vài chủng quân, xem xét một vài bãi tập nói lời vỗ về binh sĩ rồi vương cùng hai gia nô trở về vương phủ.
Các gia tướng, gia thần ai vào việc nấy. Các công tử trấn giữ biên thùy vương sai triệu vẫn chưa về kịp.
Chiều, vương sai triệu hai gia nô Yết Kiêu, Dã Tượng vào phòng kín và vương muốn thử lòng họ xem sao. Vương kể lại lời cha trăng trối và gặng hỏi:
- Ta coi các ngươi là chân tay của ta, là máu thịt của ta, đã cùng ta nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử chống giặc dữ Mông - Nguyên, vậy ta hỏi các ngươi, việc này nên như thế nào?
Nghe chủ tướng hỏi, cả hai đều sửng sốt, sau giây lát định thần, cả hai cùng rập đầu can. Dã Tượng nói:
- Bẩm vương, làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng tiếng xấu để lại đến nghìn thu. Nay vương há chẳng phú quý hay sao! Chúng con thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt[29] làm thầy mà thôi.
Yết Kiêu tỏ vẻ ngậm ngùi nói:
- Bẩm vương, Dã Tượng nói phải đó. Nếu vương định làm việc đó thì chúng con xin chết trước mặt đại vương để khỏi phải chứng kiến cảnh đau lòng vì nồi da xáo thịt, nước mất nhà tan.
Hưng Đạo cảm kích vì tấm lòng trung nghĩa của hai người gia nô. Vương ứa nước mắt an ủi:
- Các ngươi là phận nô bộc còn biết điều đạo nghĩa huống chi một đấng trượng phu như ta há lại không biết phân biệt điều phải, điều trái, việc nhân, việc nghĩa sao. Đó là ta thử lòng các ngươi thôi vì giặc lại sắp vào cõi, phải siết chặt tay nhau chung sức chung lòng mới tạo ra được sức mạnh để giữ nước.
- Bẩm, vương nghĩ vậy là phúc cho nước, Yết Kiêu đáp.
Chiều muộn các vương đã về đông đủ. Chờ cơm nước xong Hưng Đạo cho triệu các gia tướng, gia thần và cả bốn người con lên nhà tân khách.
Bạch lạp thắp sáng trưng. Đây là căn nhà mới dựng lại bằng tranh tre, căn nhà gạch cũ giặc đã đốt cháy trụi và ẩy đổ cả tường. Những chiếc kỷ bằng tre xếp thành hàng. Ai nấy đã vào chỗ. Các con của vương không ngồi tụm lại mà ngồi xen kẽ. Ví như Hưng Võ vương Trần Quốc Nghiễn ngồi cạnh Trần Thì Kiến, Hưng Hiếu vương Trần Quốc Uất ngồi cạnh Phạm Ngũ Lão, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng ngồi cạnh Trương Hán Siêu, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiến ngồi cạnh Ngô Sĩ Thường.
Các vương cùng các gia tướng gia thần hỏi han công việc của nhau thật là rôm rả.
Trần Thì Kiến hỏi vương Nghiễn:
- Vương từ biên ải về, vậy chớ biên thùy có động tĩnh gì không?
- Ta chưa thấy lúc nào mà biên thùy lại tĩnh như lúc này, Nghiễn đáp.
- Biên thùy yên tĩnh hẳn là phía trong giặc đang có âm mưu gì đó.
- Ta cũng nghĩ như thế, nên dù phụ thân cho triệu cũng có dám về ngay đâu mà còn phải đi kiểm xét lại một lượt rồi trao quyền cho đô phó tướng mới rời quân doanh.
Trần Quốc Tảng quay ra nói với Trương Hán Siêu:
- Ta nghe nói tiên sinh làm thơ giỏi lắm phải không, thân phụ ta thường khen ông thông minh. Ông đã đôn vào thành mấy tập rồi?
- Đa tạ tướng quân hỏi thăm và có lời khen. Trương Hán Siêu cảm tạ và nói lời hóm hỉnh:
- Thật ra làm thơ giỏi tức là làm nhanh và làm nhiều, người làm thơ như thế thì lấy quý hồ đa chứ không lấy quý hồ tinh. Nói thật với tướng quân, tôi làm thơ chậm lắm. Chắc cũng được ít bài vứt rải rác, phu nhân tôi thường lén nhặt cất đi. Cho tới nay tôi cũng không nhớ đã làm được bao nhiêu bài. Dạ hay thì tôi không dám chắc. Thơ hay ví như châu ngọc. Châu ngọc sở dĩ quý vì nó hiếm. Nếu tôi có thơ hay ví như tôi có châu ngọc. Mà đã có của quý như châu ngọc chắc là không thể quên được. Tôi không nhớ được thơ tôi, tất nó chưa phải thơ hay.
- Tôi có ông bác tu thiền, cũng có làm thơ, nhiều người khen thơ của bác ấy hay lắm, chẳng biết tiên sinh đã có dịp coi qua.
- Dạ, có phải cụ Hưng Ninh vương?
- Đúng! Bá phụ tôi đấy.
- Tôi có được đọc một số bài thơ cụ làm phóng khoáng nhưng ý tứ thâm trầm lắm, đám trẻ chúng tôi chỉ có đứng xa mà vái chứ không theo được.
- Trong số thơ của bác mà tôi đọc, tôi thích nhất bài Phóng cuồng ca, tiên sinh thấy bài ấy thế nào?
- Dám hỏi vì sao mà tướng quân thích bài đó?
- Có gì đâu, tôi thấy cái khí văn nó chất ngất ngang tàng của một bậc anh hùng mã thượng, nó hợp với cái tạng của tôi.
- Tướng quân quả có khiếu năng thẩm thi. Võ tướng mà yêu thơ như tướng quân kể cũng hiếm.
- Có hiếm như châu ngọc không? Trần Quốc Tảng đùa vui. Lại hỏi:
- Tôi muốn biết ý riêng của tiên sinh về bài Phóng cuồng ca.
- Dạ, tôi chưa đủ khả năng phẩm bình về trước tác của các bậc bề trên. Nhưng riêng về bài ca cuồng phóng, tôi thấy ngài Thượng sĩ đã đạt đạo. Từng hơi thở, từng ý nghĩ và cả cuộc sống thường nhật của tác giả đều là thiền. Có thể coi bài Phóng cuồng ca của cụ Hưng Ninh vương Trần Tung là một bài tuyên ngôn về thiền học. Đúng vậy, ngài là bậc túc thiền.
Mọi người đang mải mê nói chuyện riêng thì Trần Hưng Đạo bước vào. Quốc công đầu chít khăn vàng như khăn của các đạo sĩ, nhưng ngài lại vận bộ quần áo màu nâu, màu mà các nhà sư ưa dùng. Với phong thái ung dung quốc công chào hỏi mọi người. Hỏi tin tức các tướng trấn ải thủy bộ rồi vào việc ngay. Ngài nói:
- Các ông có biết ta triệu các ông về đây có việc gì không?
Các tướng đều im lặng. Ông đưa mắt nhìn các vị tướng trẻ. Phạm Ngũ Lão bèn thưa:
- Bẩm Quốc công, chắc giặc Bắc lại sắp sang.
- Thế còn các tướng khác nghĩ sao, nó mới thua ta năm ngoái phải rút về kia mà.
- Bẩm, Hốt-tất-liệt ngạo mạn coi cả gầm trời này là của nó. Như Trung Hoa mênh mông là thế, kho người kho của, nhân tài tuấn kiệt nào có thiếu gì đâu thế mà cũng phải phủ phục dưới vó ngựa Mông Cổ, chịu làm nô lệ cho Hốt-tất-liệt, nhưng nảy nòi ra cái xứ “chướng hải cùng sơn” (núi cùng biển độc), nước chỉ bé bằng cái bàn tay với một dúm người lại không chịu quy hàng. Lần nào con trời (thiên tử) cử binh đến chinh phục cũng đều bị đánh bại. Đó chính là nỗi nhục của Hốt-tất-liệt đối với các nước bề tôi. Và thưa Quốc công sớm muộn Hốt-tất-liệt lại đánh ta là điều hiển nhiên.
Lời nói gãy gọn, biện bác có lý chẳng cần nhìn mặt Quốc công cũng biết đó là Trần Thì Kiến.
Hưng Đạo thong thả nói:
- Các ông nói đều đúng cả. Hốt-tất-liệt đang động binh. Giặc đã đóng xong hơn năm trăm chiến thuyền, thuần cỡ lớn, mỗi thuyền chở được hơn hai trăm quân kèm theo binh khí, nước và lương thực đủ dùng từ hai mươi đến ba mươi ngày.
Quốc công nói kỹ về âm mưu của giặc và lực lượng chúng định đưa vào Đại Việt lần này. Lại nói giặc sẽ thay đổi cách đánh. Bởi trận chiến năm Ất Dậu cứ động giao chiến với quân thủy của ta là giặc thua. Cho nên lần này giặc muốn đọ sức với ta về thủy trận. Vì thế giặc cho đóng thuyền bè, mộ quân thủy lấy từ dân chài vùng Giang Nam.
Cuối cùng Quốc công báo cho các tướng chuẩn bị cho cuộc tập trận lớn vào trung tuần tháng một sắp tới, đợt trước là ba tháng tập trận riêng, sau đó hai mũi thượng hạ lưu cùng với mũi quân bộ ở phía bắc đóng làm quân Nguyên tất cả đều kéo về vây đánh quân Đại Việt ở Vạn Kiếp. Tính ra cuộc đại diễn tập này phải kéo dài tới ba tháng. Đợt một trù liệu một tháng. Đợt hai quy mô cực lớn dồn vào trong hai tháng kể cũng hơi gấp.
Các tướng lần lượt hỏi han phần việc của mình, quá nửa đêm mới xong công việc, trước khi về nghỉ Hưng Đạo dặn thêm:
- Lúc nào các tướng cũng phải coi như giặc đã ở biên thùy, hoặc giặc tiến sát ta rồi cho nên mọi việc đều phải sẵn sàng, gặp giặc là đánh ngay được. Kể cả khi đang diễn tập mà giặc vào, sẽ biến trận giả thành trận thật ngay lập tức.
Đã dặn các con ở lại, sáng hôm sau Hưng Đạo cho gọi từng người vào hỏi cái việc mà hôm trước vương đã hỏi hai gia nô Yết Kiêu, Dã Tượng.
Thoạt tiên là người con cả Hưng Võ vương Trần Quốc Nghiễn.
Nghe cha hỏi xong, Nghiễn từ tốn trả lời:
- Thưa cha, con nghĩ tổ nội vì hận mình, giận đời nên có lời di huấn ấy. Nhưng mọi việc đã xong, thiên hạ quy về một mối. Vả lại mệnh nước đang bị giặc ngoài đe dọa mà bên trong lục đục tức là tự dâng nước cho giặc. Hơn nữa nếu là họ khác còn không nên, huống chi đều trong nội tộc, máu mủ ruột rà, thật không nỡ. Con xin cha suy xét.
Quốc Tuấn cảm động, ông nâng người con cả đứng dậy và nói:
- Ngay từ hồi nghe cố mệnh ta đã cho lời di huấn ấy không là phải nên không dám theo. Nhưng ta thấy phía anh em nhà vua canh chừng ta gắt quá. Lúc nào ta cũng coi phải lấy nước làm trọng nên bỏ qua các tị hiềm. Cuộc thắng giặc năm Ất Dậu vừa qua, anh em nhà vua mới thực sự tin bụng ta. Vừa rồi Chiêu Minh vương xin thôi giữ chức thái sư mà giữ nguyên hàm thượng tướng xin sát cánh cùng ta vào trận. Vì thế ta mừng lắm. Ta cũng thấy các con mong manh biết chuyện này, nên mới một lần để các con rõ lòng ta và cùng đồng tâm nhất trí mà giữ lấy nước. Nếu cha con ta cùng trăm họ giữ được nước thời đó là điều đại hiếu đối với các bậc tiền nhân trong đó có tổ phụ con.
Khi Hưng Đạo hỏi Hưng Hiếu vương, Hưng Trí vương cũng đều nói như người anh cả. Quốc công mừng lắm, an ủi các con rồi cho gọi Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng vào hỏi. Nghe cha hỏi xong, Quốc Tảng nói:
- Tống Thái tổ là một ông lão làm ruộng mà thừa thời dấy vận có được thiên hạ. Thời cơ đến, theo con không nên để lỡ.
Quốc Tuấn đùng đùng nổi giận rút gươm chỉ vào mặt Tảng mắng:
- Kẻ làm tôi phản loạn là do ở đứa con bất hiếu này đây. - Ông toan chém.
May mà Hưng Võ vương vào kịp liền phục xuống khóc xin lỗi thay em và xin cha tha tội cho Tảng.
Quốc Tảng vội lủi ra ngoài. Hưng Đạo dặn Hưng Võ vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho nó vào. Từ nay nó không được nhìn mặt ta, nhưng nếu trận này nó để ra sơ sẩy gì ta sẽ trị tội nặng”.
Vài bữa sau Hưng Võ vương về Cửa Suốt nói cho Quốc Tảng biết là cha thử lòng trung của anh em ta chứ cha không có bụng kia khác.
Quốc Tảng buồn bã đáp:
- Đệ lại cứ tưởng cha hỏi thật. Chẳng biết rồi cha có nguôi giận mà tha tội. Từ đó Tảng rất hối hận chăm chỉ việc quân không hề sơ sót.
CHƯƠNG 6
Cuộc lập đại trận kéo dài gần tới rằm tháng giêng năm Đinh Hợi (1287). Vua Trần Nhân tông đến từng cánh quân úy lạo. Tướng lĩnh và binh sĩ thấy nhà vua bỏ kinh thành, bỏ những ngày giáp tết ấm cúng ở Thăng Long để ra mặt trận chia sẻ sự gian lao căng thẳng với người lính, ai nấy đều cảm động ứa nước mắt.
Để việc đi lại được nhanh chóng, nhà vua đi ngựa có đội thiết kỵ hộ giá. Khi lên tới Bạch Hạc thì Trần Nhật Duật lại vừa rời quân doanh xuống nơi quân sĩ đang tập trận.
Nhà vua đòi viên phó đô tướng đang túc trực đại bản doanh cho người dẫn đi theo Trần Nhật Duật.
Vua và đoàn tùy tùng cùng xuống một lá thuyền có hai mươi mái chèo với bốn mươi trải thủ. Chèo băm nước, ngọt như dao phay chém chuối, thuyền đi băng băng. Để quân lính đang tập trận không ngăn cản, một lá cờ thượng tướng treo lên cây cột cao gần giữa thuyền, và trên đầu mũi treo lá cờ đuôi nheo màu vàng sẫm viết hai chữ Đại Việt màu đen. Cờ đó báo hiệu đang có khâm sai của triều đình đi thăm thú, đi kiểm xét cả việc dân lẫn việc quân.
Chừng nửa canh giờ sau thuyền vào gần tới ngã ba Bạch Hạc, tuy là mùa đông nước cạn, nhưng nơi gặp gỡ giữa ba con sông Thao giang, Đà giang và Lô giang thì cái đoạn hợp lưu này nom mênh mang như vùng cửa biển Hải Thị[30] vậy. Trên đầu, trời xanh thăm thẳm dưới thì nước trôi trắng xóa một màu, hai bên bờ, rừng núi ngút ngàn. Bên này thì núi Nghĩa Lĩnh, xa kia là núi Tản Viên, rải rác chín mươi chín ngọn chầu về. Khí thiêng un đúc. Hồn sông núi như phảng phất trong gió trong sương. Trần Nhân tông ngắm nhìn thế núi dáng sông, nhà vua cảm nhận ra một điều đất nước ta vừa đẹp đẽ vừa hùng vĩ. Thảo nào mà các bậc tiền nhân đều nói - Nước ta đẹp như gấm như hoa. Chợt vua quay hỏi viên tiểu đô tướng dẫn đường:
- Tiểu tướng quê vùng nào vậy?
- Bẩm đại quan (vua giấu tung tích) tiểu tướng quê ở Thậm Thình gần chân núi Nghĩa Lĩnh ạ.
- Tiểu tướng có biết vì sao lại gọi vùng này là Bạch Hạc không?
- Bẩm đại quan ở đây có những bãi soi rộng lại là nơi ba nguồn nước dồn về lắm thức ăn nên nhiều tôm cá. Mùa này hạc trắng từng bầy đông tới cả vạn con thường về tránh rét và ra bãi tìm mồi, chúng đậu trắng cả bãi, nên dân trong vùng gọi là Bạch Hạc. Bẩm đúng thế ạ, dân thì nom vật đặt tên.
- Sao ta không thấy một con hạc nào cả?
- Bẩm, bây giờ là lúc nước đang cường, hạc tìm ăn ở bãi khác, khoảng nửa chiều nước cạn, khu vực giữa kia chính là bãi soi, nước rút xuống chỉ còn xâm xấp hơn một gang tay, những loại cá, tôm nhỏ tụ lại đó nhiều như vỏ trấu, hạc sà xuống bãi luôn mỏ nhặt, cỡ nhai tàn miếng trầu con nào con ấy no lặc lè. Chúng nô giỡn, chạy nhảy trên bãi tới sẩm chiều mới bơi ra giữa dòng sâu, cứ thế thả mình trôi xuôi mươi dặm rồi tất cả bốc bay tìm về bãi nghỉ, ngày mai lại tiếp tục như ngày hôm nay cho tới khi trời ấm áp là chúng bay đi không còn một con nào ở lại.
- Người dân quanh đây có ai săn bẫy hạc không? - Vua hỏi.
- Bẩm đại quan không có ai nỡ giết một loài chim đẹp như thế. Vả lại thức ăn ở sông nước, ở núi rừng quờ tay một lúc là ăn bại, cả người cả chim thú cứ dựa vào nguồn nước mà tìm kiếm chẳng bao giờ thiếu thức ăn cả.
- Tiểu tướng nói thế có nghĩa là sông này cũng nhiều cá lắm sao?
- Bẩm vâng, cá vùng này là đệ nhất. Nếu đại quan muốn biết nó nhiều thế nào thì mùa cá đẻ vào tháng hai, tháng ba đại quan cứ cưỡi thuyền ở giữa dòng sông mà nhìn cá vào bãi vật đẻ, nhiều hơn cả lá rừng, nếu thuyền nhỏ đi vào giữa luồng cá đang tìm chỗ đẻ, nó đang rực trứng mà tất cả vùng quẫy lên thì thuyền đắm chứ chả chơi.
- Cá vượt lên bãi nhiều thế dân trong vùng có biết không, có đua nhau đi bắt cá đẻ không?
- Bẩm, dân chúng cháu ở vùng này chẳng ai không biết mùa cá đẻ, nước cá đẻ, không ai nỡ giết thịt một con cá sắp đẻ trong bụng chứa cả vạn chiếc trứng, thất thoát cũng nở được cả ngàn cá con. Mấy lại từ xa xưa đã có lệnh cấm đánh bắt mùa cá đẻ, cấm săn bắn khi mùa thú động hớn cho nên mùa cá đẻ thì các dụng cụ đánh bắt hoặc là gác lên, hoặc là đem phơi phóng hoặc sửa chữa. Còn mùa xuân thì cấm chặt cây, cấm hái măng.
- Tiểu tướng có biết các lệnh cấm này ban từ đời nào không?
- Dạ, biết làm sao được ạ. Bởi cứ đời nọ truyền đời kia, sau nó trở thành thói quen phong tục, hễ có ai làm trái điều đó tức là vi phạm đến thuần phong mỹ tục của cộng đồng làng xã. Với lại thưa đại quan, mình sống cũng phải để cho các loài chung sống, bởi dưới gầm trời này là trời để cho muôn loài cùng sống chứ đâu chỉ dành cho mỗi một loài người.
Trần Nhân tông thấy người lính mộc mạc nói về sự sống của muôn loài hồn nhiên như cây cỏ, mà lại hợp với lòng từ bi bác ái của nhà Phật. Mới hay Phật nói mọi người, mọi vật đều có Phật tính quả là một chân lý. Chân lý ấy giản dị như cuộc sống. Chân lý ấy là cuộc sống đời thường.
Bỗng từ trong đám lau lách bên bờ sông một lá thuyền lao vút ra dòng sông. Đầu mũi thuyền cắm lá cờ đuôi nheo. Viên đô tướng vừa nhác trông thấy vội hô to:
- Thượng tướng quân! Thượng tướng quân! Có mệnh quan! Các tay chèo căng sức đuổi. Một lát, thuyền đi trước dường như đã nghe thấy và đi chậm lại. Trần Nhật Duật ngoái nhìn thấy lá cờ nhỏ cắm nơi đầu mũi thuyền. Biết vua ngự giá, ông sai thuyền quay mũi đón thuyền vua.
Thoáng chốc hai thuyền đã áp mạn.
Vua Nhân tông chạy ùa ra ôm lấy bờ vai Trần Nhật Duật, nói như reo:
- Chú Chiêu Văn!
- Bệ hạ! Trần Nhật Duật đáp giọng đầy xúc động.
Đám quân tùy tòng của Nhật Duật, cả viên đô tướng vẫn tiếp chuyện bây giờ mới biết ông là vua của cả nước. Mọi người quỳ lạy:
- Lũ thần có mắt như đui, xin bệ hạ tha tội chết.
Vua Nhân tông mỉm cười độ lượng bảo mọi người:
- Các người đứng dậy đi. Ta phải giữ kín tung tích không cho giặc biết. Đến cả thượng tướng đây còn không biết ta tới, các ngươi sao biết được. Nhưng lỡ đã biết, vẫn coi như chưa biết kẻo tai mắt giặc đang giăng mắc khắp nơi đấy.
Nhật Duật căng mắt ra nhìn nhà vua rồi hỏi:
- Lâu thần không về triều, long thể của thượng hoàng dạo này thế nào?
- Phụ hoàng cháu vẫn thế, - vua đáp. Thật ra thì không được khỏe như hồi đánh giặc Thát năm trước đâu. Phần thì tuổi già, phần lo đánh giặc. Cuộc chiến năm Ất Dậu không ngờ phụ hoàng cháu lại hao tốn sinh lực nhiều đến vậy.
- Mệnh nước gần như sắp đứt, không tổn hao sinh lực của cả nước sao cứu được. Có điều người giữ mệnh nước là người tổn hao sinh lực nhiều nhất. Ngay bệ hạ, thần thấy bệ hạ tuổi tuy còn trẻ mà vóc hạc cũng hao gầy nhiều lắm. Bệ hạ nên bảo trọng. Quốc công cho quân tập đại trận thế này, thần dự nghĩ thấy cuộc chiến sắp tới cam go lắm đấy.
Nhật Duật ngắm nhìn nhà vua thấy thần sắc tươi nhuận, vượng khí tụ nơi ấn đường. Ấn đường nhà vua có màu hồng sáng. Chắc vận nước không đến nỗi lao đao như cuộc chiến năm Ất Dậu. Trần Nhật Duật hơi lo cho nhà vua sức mảnh mà xông pha sương gió. Sang tết này Nhân tông vào tuổi ba mươi mốt. Nhà vua tuổi Mậu Ngọ, ta tuổi Ất Mão, hai chú cháu hơn nhau đúng ba tuổi.
Sực nhớ ra, Nhật Duật bèn nói:
- Mời bệ hạ sang thuyền của thần, ở đấy vừa có trà vừa có rượu, tiện cho thần tâu báo công việc.
Nhà vua gật đầu:
- Tới đây tôi là khách, chú là chủ. Chủ bảo đi đâu khách theo đấy.
- Bệ hạ lại quở thần rồi.
Thuyền chỉ huy của thượng tướng mà sao giản dị. Vua Nhân tông tự nghĩ - chú Chiêu Văn quả là người dễ gần, chả trách được quân mến. Trận chiến năm Ất Dậu quân của chú ấy cùng với đám quân của Triệu Trung lập được công lớn.
Nhật Duật sai quân pha trà. Buột miệng ông hỏi:
- Nhưng bệ hạ đã kịp dùng bữa chưa ạ?
- Đúng là chưa kịp ăn gì đâu chú Chiêu Văn.
- Trời ơi, thảo nào thần cứ tưởng long thể có điều gì bất an.
- “Long thể” đói nên “long bụng” bất an. Vua Nhân tông vừa cười vừa ôm cái bụng đang réo sôi.
Trần Nhật Duật lật ván thuyền lấy ra một bọc lá chuối, hai tay dâng lên nhà vua:
- Tâu, quân nó chuẩn bị cho thần bọc xôi này dành ăn bữa chiều, bệ hạ dùng tạm, chiều lên bờ khắc có cái ăn.
Vua Nhân tông đỡ lấy bọc xôi chia cho mấy tướng theo hầu rồi vừa ăn vừa nói chuyện thật là vui vẻ.
Trần Nhật Duật hỏi nhỏ:
- Bệ hạ, thần nghe nói anh Chiêu Minh định xin từ chức thái sư chuyên lo việc quân với anh Quốc Tuấn có đúng không?
- Đúng đấy chú Chiêu Văn. Nhưng chú nghe tin này ở đâu? Có phải tin quân mình hay do quân Nguyên phao đấy?
Chiêu Văn cười dàn hòa:
- Thần không có lưới ngoại gián nên không có nguồn tin lấy từ Hốt-tất-liệt. Nếu quả đúng như nhời đồn thì phúc cho nước đấy.
- Thế chú cho việc điều hành cả một bộ máy quốc gia là việc nhỏ à?
- Thần có nói thế đâu. Bệ hạ cứ quy kết theo ý bề trên. Chẳng là hai bác ấy những năm trước thường có sự bất hòa ngấm ngầm. Thần với bệ hạ chẳng là đầu mối cho sự dung hòa, sự hóa giải đó sao. Nay anh Chiêu Minh lại hành xử như vậy, tức là mọi sự không còn gì phải canh chừng nhau nữa, nhẹ tênh mà vào trận. Thế thì làm sao mà thần không khoái được. Thượng hoàng với bệ hạ định trao ngôi tướng quốc cho ai.
- Chú Chiêu Minh có tiến cử Tá Thiên vương Đức Việp thật đấy, nhưng phụ vương cháu bảo cứ từ từ, còn phải cân nhắc xem đã. Mấy lại Việp cũng còn trẻ lắm.
- Giời ơi bệ hạ, năm nay Đức Việp hai mươi bốn tuổi rồi. Năm anh Chiêu Minh giữ ngôi tướng quốc mới hai mươi mốt tuổi có ai kêu anh ấy trẻ đâu. Vả lại hồi năm Ất Dậu, thần gặp Đức Việp cầm quân vào trận dũng mãnh lắm. Mà nếu ngại thì hãy giao tạm quyền để xem có làm được thì trao chính thức.
- Chú Chiêu Minh cũng nói vậy.
- Bệ hạ về tâu với thượng hoàng rằng Chiêu Văn cũng một ý với anh Chiêu Minh cho Đức Việp quyền giữ ngôi tướng quốc thái sư.
- Chuyện đó cháu sẽ tâu với thượng hoàng, nhưng chú Chiêu Văn, trận địa của chú định đánh đấm thế nào mà chẳng thấy động tĩnh gì cả?
Trần Nhật Duật cười hì hì đáp:
- Bệ hạ khỏi lo. Quân bộ mai phục từng chặng trên bờ. Quân thủy phục trong các khe lạch. Bây giờ du binh của ta lên mãi tít trên kia phục đón quân giặc từ Quy Hóa giang đi xuống. Anh Quốc Tuấn trù liệu mũi này giặc xuất phát từ Vân Nam theo đường sông vào nước ta, cũng có một đội quân kỵ đi trên bờ hỗ trợ quân thủy.
Quân ta vừa dụ vừa đánh tỉa giặc rồi rút, nhằm tiêu hao sinh lực giặc và gây cho chúng hoang mang thôi chứ khi giặc mới vào sức nó còn mạnh lắm. Nhưng dụ cho giặc về tới ngã ba Bạch Hạc này đánh một trận phục kích lớn rồi quân ta lui binh để bảo toàn lực lượng.
- Qua cuộc tập trận này, chú có đoán được ý đồ của bá phụ không?
- Thần cũng lờ mờ thử đoán xem có trúng ý bệ hạ. Tức là cuộc chiến sắp tới, Thoát-hoan quyết đoạt bằng được căn cứ Vạn Kiếp của anh Quốc Tuấn. Chúng sẽ tiến công bằng ba mũi thủy bộ. Mũi thứ nhất do đường Vân Nam đánh sang theo sông Thủy Vĩ dồn về Bạch Hạc, rồi từ Bạch Hạc đổ về Lục Đầu giang vây Vạn Kiếp. Mũi thứ hai từ biển qua nẻo Vân Đồn hoặc qua cửa An Bang vào sông Bạch Đằng, ngược lên áp sát Vạn Kiếp. Mũi thứ ba, mũi này từ Tư Minh Quảng Tây tràn qua Lạng Châu đi xuyên về Lộc Châu mà tiến vào Sơn Động, đánh thông sang Nội Bàng rồi từ đó thọc xuống Vạn Kiếp. Cánh quân này chắc là mạnh lắm. Và Thoát-hoan chắc đi theo đường này, bởi vào đánh ta năm Ất Dậu, Thoát-hoan cũng đi đường này. Thế là ba mũi giặc cùng úp lấy Vạn Kiếp và chúng quyết giành lấy.
Hơn sáu trăm chiến thuyền lớn với quân Giang Nam cũng thạo nghề đánh thủy, giặc nhất định giành ưu thế về mặt thủy với ta trong cuộc chiến sắp tới. Anh Quốc Tuấn dự đoán vậy, nên cho quân tập đại thủy trận lần này nhằm đối phó với giặc, sao cho có hiệu quả chứ không hẳn phải giữ Vạn Kiếp bằng mọi giá đâu. Tâu bệ hạ, đó là thần suy đoán vậy thôi, chẳng hay ý bệ hạ thế nào?
- Chú Chiêu Văn quả là một tướng tài lỗi lạc, chắc bá phụ cũng dự tính như vậy nên mới cho tập liên hoàn mấy đại trận.
- Thần cam đoan mưu lược của giặc không thể qua mắt anh Quốc Tuấn được đâu.
- Cũng may bá phụ có mưu thần, nếu không sao có thể cứu được mệnh nước tưởng như sắp đứt hồi Toa-đô nó phá được cửa quan Nghệ An rồi cả một bầy hèn nhát kéo nhau ra hàng giặc.
Thuyền đang đi dưới ánh chiều chạng vạng, tự nhiên Trần Nhật Duật nghĩ đến chuyến đi cũng vào một chiều cuối đông như bữa nay, trên thuyền cũng có ông và nhà vua với hai người con gái nữa. Lòng vương bỗng se thắt lại vì đau nhói. Chợt Trần Nhật Duật lên tiếng hỏi:
- Bệ hạ có nhớ chuyến đi An Bang, tức là đi thăm Tịnh Bang ấp của anh Trần Tung cũng vào một buổi chiều như thế này gần cuối năm Quý Mùi (1283) không?
- Nhớ. Nhớ chú Chiêu Văn ạ, chuyến đi ấy còn có hoàng cô An Tư và Yến Ly sau là nghĩa nữ của Thăng Long, nghĩa nữ của Đại Việt.
Vẻ ngậm ngùi vua Nhân tông bộc lộ:
- Chú Chiêu Văn à, cho đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận về việc chấp nhận đưa hoàng cô sang trại giặc. Nói rằng hoàng cô đi để làm thư quốc nạn, nhưng Thoát-hoan có nới tay với ta chút nào đâu. Việc ấy cứ ám ảnh tôi mãi.
- Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách, điều đó An Tư hiểu rất rõ nên đã mở hẳn một sở may áo ấm và túi đựng trầu, lại đan cả túi đựng tên cho binh sĩ. An Tư còn dành ngôi nhà đẹp nhất trong cung An Tư làm kho chứa vật phẩm trước khi đem đi trao tặng. Thần nhớ chính An Tư đã đem các sản phẩm do chủ tớ làm ra trao tận tay cho binh đội của Quốc Toản. Vì rằng Quốc Toản là con mồ côi cha, là một thiếu niên có lòng yêu nước nồng nàn muốn được hiến trọn đời mình cho công cuộc cứu nước. Cảnh mẹ góa con côi, điền trang thái ấp đâu có còn được như các vương, các hầu khác. Vừa cảm thông vừa cảm phục hoàn cảnh và nhân cách của Quốc Toản, An Tư lấy đó làm gương và đã dấn thân như một tráng sĩ. Việc An Tư chấp nhận vào trại giặc, phải nói đấy là việc làm của một người lính cảm tử, ngay cả đấng nam nhi chưa hẳn đã dám làm. Việc làm ấy nó xuất phát từ lòng yêu nước của con dân Đại Việt, can dự gì đến bệ hạ mà bệ hạ cứ phải day dứt. Nếu bệ hạ day dứt, ta chắc vong linh An Tư không thỏa đâu, bởi em ta cho đó là sự xúc phạm. Vì như thế có nghĩa là em ta bị tước đoạt quyền yêu nước. Bệ hạ nghĩ rằng mình giữ ngôi nước là mình có quyền phân phối lòng yêu nước ư? Dù có mang trọng tội thần cũng phải nói rằng, nếu quả đấng chí tôn nghĩ vậy và làm như vậy là nguy cơ mất nước đấy. Tại sao máu của hàng chục vạn dân chúng đổ ra để giữ nước thì được chấp nhận như là sự đương nhiên trong khi vài chục người trong hoàng gia đổ máu cũng là để góp phần giữ nước thì lại phải băn khoăn day dứt. Vậy có phải máu của hoàng gia là châu ngọc, còn máu của trăm họ chỉ là một thứ nước lã chăng?
Nghe thượng tướng phản bác một cách gay gắt, vua Nhân tông lạnh toát cả sống lưng và như chợt ngộ ra một điều rằng, bất cứ một con dân nào trong nước bằng cách làm riêng của mình mà gây thiệt hại cho giặc, góp phần giết giặc, cứu nước thoát họa xâm lăng, ấy là người yêu nước chân chính. Thế thì việc hoàng cô vào trại giặc gặp lại Yến Ly và hai người cùng hành động làm suy yếu tinh thần giặc, lại thông được tin tức ra ngoài cho quân ta. Quả đó là những bậc nữ lưu đáng trọng, trong đời hiếm gặp. Trong hoàng gia có người đem tính mệnh mình ra để cùng toàn dân cứu nước, đó chẳng phải là điều đáng hãnh diện lắm sao. Vậy mà bấy lâu nay ta cứ thương hoàng cô theo kiểu thương đàn bà. Chợt nhà vua quay ra nói với Trần Nhật Duật:
- Chú Chiêu Văn, nhờ chú nổi xung mà tôi ngộ ra đấy. Đúng là tôi thương hoàng cô theo tình ruột rà máu mủ mà quên phần trách phận của mỗi con dân đối với nước khi đất nước lâm nguy. Đất nước lâm nguy khác nào nhà cháy từ hai đầu. Ai đem vật gì cản lửa, dập tắt lửa, cứ thế nhảy vào đám cháy mà trị lửa, chứ cần gì phải xin phép ai, hoặc chờ ai sai bảo. Đúng, chú nói có lý, tôi ngộ ra rồi.
- Bệ hạ không giận thần chứ? - Nhật Duật vừa cười vừa nói.
- Chú nói phải sao có thể giận. Nhẽ ra phải đưa chú về giữ chức tả hữu gián nghị. Bởi chú phân biệt phải quấy rất rõ ràng. Nhưng điều đáng quý là ở chỗ dám dũng cảm nói ra. Nhận biết phải quấy thì nhiều người nhận biết được. Nhưng dám nói ra điều đó trước bề trên chắc không phải ai cũng làm được. Tôi bận quá, lâu ngày không đến thăm phần mộ hoàng cô và Yến Ly được, chẳng hay chú có dịp lui tới.
- Thần thỉnh thoảng vẫn ghé thăm, anh em vẫn trò chuyện với nhau như ngày nào An Tư còn sống.
- Tôi nhớ bá phụ viết hai cái mộ chí thật là thấu lý đạt tình. Hai ngôi mộ nằm song song như hai người bạn khi còn sống. Bên mộ hoàng cô, mộ chí viết: “An Tư - liệt nữ chi mộ”. Bên mộ Yến Ly, mộ chí viết: “Yến Ly - Lưỡng quốc liệt nữ chi mộ”.
- Chữ nghĩa của anh Quốc Tuấn thì khỏi phải bàn. Với Yến Ly mà dùng “lưỡng quốc” là quá đúng. Vì rằng nàng ấy không chỉ đền ơn Đại Việt ta cưu mang, mà nàng còn phải báo hiếu cho đất nước đã sinh thành ra nàng và cả cha mẹ nàng nữa. Bệ hạ có được tin tức gì về cha mẹ nàng không?
- Sau chiến tranh được ít lâu, bá phụ có cho người đến báo tin buồn cho cha mẹ nàng, gửi lời cảm tạ của Đại Việt và gửi ít bạc vàng cho ông bà chi dụng.
Hai ông bà đều rơi lệ đáp rằng - “Yến Ly mất đi khiến chúng tôi đau lòng, nhưng các việc Yến Ly làm lại khiến chúng tôi hài lòng. Việc làm đó không chỉ là giúp đỡ Đại Việt mà còn là danh dự của người Trung Hoa chúng tôi. Lũ chó săn trong giới cầm quyền trước kia bợ đỡ quân Kim, nay lại ôm chân quân Mông Cổ, nhưng dân Trung Hoa chúng tôi sẽ đánh giặc đến cùng, làm được gì giúp quý quốc chúng tôi không ngại”. Bạc vàng người ta không nhận nhưng lại tìm thêm người thân tín giúp ta. Vì vậy tin tức lấy được càng ngày càng có giá trị và qua nhiều nguồn, nên kiểm xét được ngay từ gốc. Tin đã đưa về đến Thăng Long đều đáng tin cậy cả. Nhân đây tôi phải dặn trước chú điều này, nếu sắp tới giặc Bắc lại sang, chú cho người cất giấu hai tấm mộ chí ấy đi kẻo giặc biết nó phá mộ mất.
- Giặc Bắc nhất định lại sang, điều đó thần chẳng chút nghi ngờ. Sau đợt tập trận này thần sẽ làm ngay việc cất giấu mộ chí của cả hai liệt nữ kẻo giặc xâm phạm. Quân Mông Cổ thì hung hãn, lũ Hán gian thì hiểm độc, hèn hạ. Hai kẻ này kết hợp với nhau mà chúng thi thố hết các ngón nghề thì không có một loại ác thú nào có thể so đọ được với chúng.
Thuyền của thượng tướng chở nhà vua ngược dòng tới gần chỗ du binh thì quay lại. Trên đường đi, nơi nào ém quân thủy, phục quân bộ Trần Nhật Duật đều tâu báo với nhà vua rồi cho thuyền quay mũi.
- Sao lại quay về? - Vua hỏi.
- Tâu, hôm nay mới bày trận, dàn quân. Chiều mai địch mới gặp du binh ta khiêu chiến.
Đi một đoạn, nhà vua lại hỏi:
- Chú Chiêu Minh còn nhớ vụ triều đình cử chú đi chinh phục Trịnh Giác Mật không?
- Nhớ! Trần Nhật Duật cười phá lên. Bệ hạ có biết trước khi vào trại của Mật, thần phải tập uống rượu bằng mũi không. Sặc gần chết. Hai ba lần quân phải hút mũi cho đấy. Mãi sau cũng uống được.
- Tôi nghe nói chú còn thổi được cả kèn lá.
- Việc ấy dễ thôi. Khó nhất là uống rượu bằng mũi đấy. Nhưng nhờ có chuyện uống rượu bằng mũi và đi một mình không vũ khí vào trại của Mật, hắn phục lắm và tin ngay. Kể ra dạo ấy thần cũng liều thật. Sau nghĩ lại mới thấy nếu mình không thật bụng, người khác khó tin mình.
- Vừa không tốn máu xương vừa được tướng phên giậu, chú giỏi thật. Hồi đánh giặc Nguyên vừa rồi, cha con Trịnh Giác Mật cùng với dân man trên đó lập công lớn, triều đình khen thưởng xứng đáng. Cái thằng bé hồi chú đem nó về, tôi cho nó chức “canh trì” bây giờ thế nào rồi?
- Tâu, khi nó giữ chức canh trì ở Thăng Long nó đúng là một thằng mán. Trước khi giặc vào cõi, thần cho nó về lại sơn động thì nó đúng là một con hổ. Hai cha con cùng coi quân đánh giặc kiên cường lắm. Hiện nay nó thay cha nó làm đầu lĩnh rồi.
- Thế thì phên giậu ta càng vững. Chú quả là một tướng văn võ toàn tài.
- Bệ hạ quá khen, thần thêm ngượng.
Đêm ấy về ngủ trong trướng hổ. Gọi là trướng hổ, chứ thực nó là một căn nhà làm tạm nơi sườn đồi cạnh con đường thiên lý và nhìn thẳng xuống ngã ba Bạch Hạc. Căn nhà dựng bằng tre xanh, lợp tranh tươi, tất cả còn giữ nguyên màu chưa úa héo. Quanh nhà quây bằng những tấm tranh ép sát vào nhau rồi lấy tre nẹp lại thành các bức vách chắn gió. Giữa nhà là một dãy sạp dùng làm nơi hội họp của chủ tướng.
Bữa nay các tướng đều phải theo quân ra mặt trận, chỉ còn một số quân rất nhỏ ở nhà giữ trại và giữ liên lạc giữa các cánh quân.
Trần Nhật Duật dẫn nhà vua vào nghỉ trong một trướng hổ như ta vừa thấy.
Hai đầu nhà đốt hai đống lửa để xua tan khí lạnh của núi rừng, nhưng sao vẫn lạnh buốt. Cuối đông, gió bấc thổi ráo riết, rải cái lạnh khắp đất trời. Cảm giác tựa như là thần băng giá đang gồng sức tranh chấp với chúa xuân để chế ngự muôn loài.
Vua tôi ngồi quanh đống lửa nơi cuối căn nhà. Trần Nhật Duật khoác thêm cho nhà vua tấm áo bông vải chàm. Nhà vua hơi so vai đón nhận tấm áo. Một thoáng cái nóng của củi than đã làm sắc diện nhà vua hồng trở lại.
Ném mấy thanh củi vào đống than hồng rực, vua Nhân tông liền hỏi:
- Chú Chiêu Văn à, trời lạnh thế này quân có được phát đủ chăn áo ấm không? Ngồi bên đống củi cháy đùng đùng mà tôi vẫn thấy lạnh, thế mà người lính cứ phải phơi mình ngoài sương gió hoặc ngâm mình trong nước lạnh, liệu họ có còn đủ sức đánh nhau khi gặp giặc?
Trần Nhật Duật nói giọng hơi se buồn:
- Tâu, bệ hạ thương lính như thương thân, đó là hồng phúc của nước. Đúng là thiên tử cận dân (vua gần dân). Thần không dám giấu bệ hạ. Binh lính của thần áo ấm thì lính mới lính cũ đều được phát mỗi người một chiếc. Còn chăn những người lính cũ nếu còn giữ được vẫn cứ phải dùng tạm. Ai bị mất chăn, áo ấm trong cuộc chiến vừa rồi cũng được phát lại. Duy có lính mới thì hai người mới được phát một chiếc chăn, họ phải dùng chung. Kể ra cũng là một sự bất tiện. Tâu bệ hạ, trong cuộc chiến vừa rồi đánh nhau ác liệt dầu dãi nắng mưa, nhiều người quần áo rách tướp như lá chuối bị bão. Nhiều người di chuyển trong lúc đánh nhau cũng mất hết quần áo. Có khi quân đang hăng đuổi giặc băng qua lũy tre gai, nó cào rách sạch bong trên người không còn một mảnh vải che thân.
Tâu bệ hạ, đánh nhau hao người tốn của không biết đâu mà lường. Thần dốc toàn bộ sản nghiệp ra nuôi quân của thần chưa đủ, lại phải cáng đáng thêm mấy đô quân của triều đình bổ về, thành thử thiếu thốn trăm bề. Tuy vậy, lương thực và võ khí đảm bảo quân không bị đói và không người lính nào không được trang bị vài ba thứ khí giới. Chỉ thiếu quần áo thôi.
- Chú nói thế tôi tạm yên tâm. Quả thực triều đình mình phải chi tiêu quá sức. Tôi sẽ về tâu lại với thượng hoàng xin phát bù cho những người lính nào chưa được phát chăn áo ấm để đỡ khó khăn cho các vương hầu. Và cũng để giữ sức cho quân đánh giặc.
Đêm đã khuya, củi đã cháy tàn chỉ còn mấy đầu gộc lom rom ngún khói, viên đô tướng đô tả vũ vệ theo hầu nhà vua cứ lấp ló định vào mấy lần nhưng lại sợ nhà vua và thượng tướng đang bàn việc quân. Ngoài trời sương xuống lạnh buốt, y sai quân lấy thêm củi sưởi. Lấy cớ đưa củi, viên đô tướng khẽ nhắc:
- Tâu bệ hạ đêm khuya mà trời lạnh, quân doanh cũng sơ sài không đủ đồ mặc ấm, lính đã nằm lót chỗ ấm rồi, xin bệ hạ và thượng tướng đi nghỉ.
- Mời bệ hạ đi nghỉ, - Nhật Duật cũng nói xen vào.
- Chú Chiêu Văn à, hay ta ngủ chung đi. Ngủ chung như hồi nhỏ chú vào cung rồi hai chú cháu cùng chơi cùng ngủ ấy. Ngủ chung để nói chuyện tiếp.
- Thần xin tuân thánh ý, Trần Nhật Duật vừa nói vừa cười sảng khoái rồi dắt tay nhà vua đi về phía cuối của “trướng hổ”, nơi đó cũng trên một khoảng sàn nứa, quân lính lấy lá chuối rừng khô trải ổ làm “giường ngự” đón vua đi thị sát.
Vua Nhân tông và thượng tướng Chiêu Văn tới sát “mép giường” nhìn thấy hai cái đầu đen và tiếng ngáy khò khò. Viên đô tướng tả vũ vệ bèn bước dấn lên cốc vào những cái đầu đang ngáy, quát:
- Dậy! Dậy mau trả “long sàng” cho vua ngự. Đoạn viên đô tướng quay ra nói như phân bua - Tâu, xin bệ hạ tha tội, chẳng là trời lạnh giá, thần sai quân nằm lót ổ lấy hơi ấm để bệ hạ ngủ cho ngon giấc.
Hai người lính lồm cồm bò dậy vươn vai và họ cũng chẳng biết những ai đứng trước mặt, liền nói: Ấm quá!
- Tội nghiệp, họ đang ngủ ngon giấc, nhà vua tỏ ra ái ngại.
- Hai tên lính to gan dám ôm nhau ngủ trên “giường ngự”, nhẽ ra phải trị tội “khi quân”, bệ hạ đã thương tình tha tội chết lại còn thương nó “tội nghiệp”, Chiêu Văn giả vờ làm nghiêm nhưng lại bật ra tiếng cười. Liền đó nhà vua và thượng tướng cùng bước tới “long sàng”.
Nằm trong ổ lá chuối sột soạt trên lại phủ tấm chăn bông ấm sực, vua bảo:
- Chú Chiêu Văn, vừa ấm vừa êm thế này có khác chi chăn, đệm lông chim đâu. Những thứ này lại dễ kiếm mà cũng chẳng mất tiền mua. Hai đằng cùng ấm cùng giúp ta ngủ ngon, thế mà người đời lại cứ hay bỏ cái thô phác đi tìm cái hiếm ít như lông chim, lông thú, vừa tốn công tốn của vừa mắc vào tội sát hại cầm thú.
- Muôn tâu thánh thượng chỉ có cái ổ lá chuối với cái đệm lông chim mà thánh thượng phán bảo cái gì nghe đến khiếp. Thần chẳng biết tội lỗi gì nó nằm ở đâu nhưng thần vẫn thích nằm đệm lông chim, đắp chăn lông chim vừa ấm vừa nhẹ, chứ chẳng phải mấy ngày thay ổ một lần. Trời rét mà gặp mưa dầm, lá chuối khô sũng nước có lấy về cũng chẳng trải được ổ, thế là chết rét, còn như đệm lông chim cứ dùng mãi, xẹp đem phơi nắng, đập bụi lại xốp ấm như thường.
Vua Nhân tông huých nhẹ khuỷu tay vào mạng sườn Trần Nhật Duật: - Chú chỉ nói xiên hông tức anh ách. Thôi nhé, không có bệ hạ với thần gì ở trong cái ổ lá chuối này. Chui vào đây chỉ có hai gã đàn ông trong nội tộc, một chú một cháu, có điều gì cần nói chú cứ nói thẳng thừng không phải tâu báo chi cả.
- Thần chờ bệ hạ nói câu đó từ lâu, từ lúc ngồi xuống đống lửa, chỉ muốn đem rượu ra uống rồi ôn chuyện thời thơ ấu, thế mà mãi khi chui vào ổ mới được nghe.
- Chú lại sai rồi, đã bảo không có bệ hạ ở trong ổ lá chuối kia mà.
- Ừ thì chú cháu. Chú cháu quen miệng sáng ra trước ba quân lỡ gọi “Khẩm ơi!” hoặc “cháu ơi!” lại trị tội người ta chứ gì.
- Đã lỡ thì còn ai bắt tội được, lúc nào chú cũng như một anh hề.
- Có hề mới sống khỏe thế này, chứ lúc nào cũng tâu tâu báo báo chắc chết mục xương rồi.
- Ngày trước cứ gặp chú lúc nào cũng nghe có cả một bầy vũ nữ ca hát. Bây giờ họ đi đâu hết rồi. Tôi cứ nghĩ có ba thứ chú không bỏ được.
- Ba thứ gì nào.
- Âm nhạc, rượu và gái.
Trần Nhật Duật ôm lấy nhà vua vừa cười vỡ ra vừa cù vào nách nhà vua. Hai chú cháu ôm nhau cười giãy giụa khiến lá chuối xô dạt. Đoạn Nhật Duật nói: - Phàm việc lớn Khẩm (tên húy của vua Nhân tông) thường tỉnh táo nên sáng suốt và ít khi mắc sai lầm. Riêng việc này của mỗ, Khẩm có cái nhìn lệch lạc, coi mỗ như kẻ phàm phu lãng tử. Lãng tử đúng là cái tạng của Chiêu Văn, còn phàm phu thì không phải. Mỗ nói để Khẩm hiểu này. Trước hết âm nhạc là tiếng nói của tâm hồn được cất lên thành lời ca thông qua các nhạc khí và nhạc công, ca công. Mỗ phải đặt lời rồi chế nhạc lại dạy cho họ đàn và hát. Vậy tiếng hát ấy chính là tiếng lòng của mỗ chứ. Ai cũng có tiếng lòng nhưng không phải ai cũng tấu được nó lên đâu, phải là các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ. Đấy là trời chỉ riêng cho ba cái anh sĩ đó chứ thế gian có muốn cũng không được. Vậy chớ Khẩm chịu chưa.
- Riêng điều này thì Khẩm chịu.
- Còn rượu. Rượu mỗ chỉ đem ra uống khi vui bạn bè như nghe nhạc hoặc lâu ngày mới gặp lại bạn thân, hoặc khi nhà vua ban rượu, hoặc khi giỗ chạp thượng hoàng cho phép uống say. Tuy vậy, trong đời mỗ tới lúc này chưa ai bắt gặp dù chỉ một lần nát rượu hoặc tỏ ra bê tha vì rượu. Khẩm thấy mỗ nói có đúng không nào?
- Đúng! Công nhận chú nói đúng.
- Hà hà… Uống rượu mà như thế thì là tiên tửu chứ, thiên hạ phải lấy mỗ làm gương chứ, Khẩm phải tuyên dương mỗ trước bá quan và bách tính chứ.
- Về cái khoản rượu thì chú giữ được sự chừng mực, nhưng lấy đó làm gương cho các quan và dân chúng thì Khẩm này không làm đâu.
- Cái đó tùy Khẩm thôi, chẳng tuyên lúc này thì tuyên lúc khác, còn mỗ bao giờ cũng vẫn là mỗ.
- Âm nhạc và rượu chú nói có lý, Khẩm công nhận, thế còn khoản kia thế nào? Nói thật với chú trong hàng ngàn thứ dục mà con người ham muốn thì dục tình đứng đầu, ai mà tiết chế nó đúng mức thì người đó là thánh đấy.
- Thánh đây! Chính là thánh đang nằm bên Khẩm đây. Trần Nhật Duật cười phá ra rồi gác chân lên nhà vua:
- Biết ngay là cái khoản này ông chú cũng như người thường thôi.
- Bố ai mà tránh được cái khoản đàn bà. Nhưng nếu giữ được như người thường, phải coi mỗ là bậc á thánh chứ. Bởi hoàn cảnh của mỗ dư sức làm cho con người dễ phóng đãng lắm. Hãy lắng nghe cách hành xử của mỗ. Nghĩa là với đàn bà, mỗ chỉ ăn nằm với thê, thiếp thôi. Thê, thiếp là danh chính ngôn thuận rồi. Còn các ca nữ, vũ nữ là những người mỗ thuê họ để họ nói lên tiếng lòng của mỗ. Nếu họ hát hay múa giỏi thì thuê lâu, hoặc giả cũng có những đào nương họ không hợp tạng với nhạc của mình nên họ không hát. Vì thế gọi họ tới rồi họ lại lui ngay. Những người này họ cũng yêu âm nhạc chẳng kém gì mỗ. Tuyệt nhiên họ không phải khách làng chơi nên mỗ này không dám xâm phạm. Kể ra quyền thế rồi lại bóng bẩy như mỗ thì gạ gẫm hoặc thúc bách, hoặc cưỡng ép họ cũng phải chịu, nhưng làm như thế nó mất đi cái thú thanh tao của âm nhạc, và khi tỉnh lại chắc mình không còn thấy kính trọng mình nữa. Đôi khi mỗ này cũng có lui tới nơi lầu ca viện kỹ, ở đó nó là sự thỏa thuận có tính bán mua sòng phẳng. Trong đời mỗ chưa từng ai có thể bắt gặp hoặc chê trách mỗ là tay sớm mận tối đào làm hại con gái các nhà lành, nào Khẩm thử phản bác lại các điều mỗ vừa nói xem.
Nghe ông chú hỏi, vua Nhân tông cười thầm và cố nhớ xem có ai kêu ca gì ông chú trong chốn làng chơi không. Quả là ông nổi tiếng về cầm ca nhưng không có tai tiếng gì với giới cầm ca hoặc với con cái các nhà lành. Nhà vua ậm è khiến ông chú hồi hộp. Vua nói nhỏ:
- Xét cả ba phương diện đó, quả chú có dấn thân nhưng không ngụp lặn. Trong cảnh ngộ dễ gây cho con người tai tiếng mà không mắc vào tai tiếng, quả chú cũng là người khác thường.
- Khác thường thế nào? - Trần Nhật Duật hỏi nhà vua và ông nói luôn - Mỗ này không chỉ khác thường đâu mà là phi thường đấy, là tiên thánh đấy.
- Quá thể đáng, chú mà là tiên thánh?
- Không tiên cũng là trích tiên. Vì thế phụ hoàng mới đặt cho ta cái tên Chiêu Văn chứ. Chiêu Văn Đồng Tử chẳng phải là tên một vị tiên trên thượng giới sao. Từ thượng giới xuống đây chẳng phải trích tiên thì còn là cái gì nữa nào?
- Cứ cho điều chú nói là đúng đi, nhưng còn chú nhận là thánh thì hơi quá, hơi liều đấy.
- Quá thì có nhưng liều thì không. Thánh là gì, là người có trí sáng suốt nhìn thấu ba cõi quá khứ, hiện tại và vị lai. Thánh là người xuất chúng làm được các việc mà người thế gian không làm được. Quả là mỗ này chưa đạt tới chức vị của bậc thánh, nhưng á thánh thì được. Á thánh là các việc người thường không làm được, không tránh được mà ai đó làm được, tránh được thì người đó ngang với các vị á thánh, Khẩm chịu chưa?
Vua Nhân tông bấm bụng nhịn cười, cấu vào đùi non Trần Nhật Duật một cái rất đau, khiến Nhật Duật há mồm kêu “á” thật to. Nhà vua phì cười nói:
- Vậy đó là “Á thánh” đúng không!
Hai chú cháu nhà vua ôm nhau cười như nắc nẻ. Đám quân canh đi lại phía ngoài không nghe rõ hai bậc bề trên nói chuyện gì, thỉnh thoảng chỉ nghe được các tiếng cười lọt ra khiến họ cũng vui lây và quên cả cái rét đang xâu xé thịt da.
Ngớt tiếng cười, Nhật Duật hỏi:
- Nhà vua đi thị sát bao lâu nữa thì về kinh?

- Định ngày mai xem quân chú vào trận, ngày kia về chỗ bá phụ xem quân giao chiến rồi về kinh lo tết với phụ hoàng cháu. Cũng định kéo một vệt ra tận Vân Đồn, Tháp Sơn xem Nhân Huệ vương cho quân diễn tập nhưng có nhẽ không kịp. Lúc này mà vắng mặt ở kinh thành lâu lâu phụ hoàng cháu lo lắm. Mấy năm nay sức của cha cháu giảm sút nhiều. Càng thương cha, càng căm giận cha con tên giặc già Hốt-tất-liệt. Lần này mà bắt sống được Thoát-hoan phải chém đầu nó làm lễ hiến phù cho hả nỗi uất căm.
- Bệ hạ nghĩ thế là đúng. Ta cũng lo cho sức khỏe của huynh trưởng. Có nhẽ nhà vua vui ba ngày tết với thượng hoàng rồi đi thẳng ra Vạn Kiếp xem quân vào trận. Cha con Hốt-tất-liệt lo sắm thuyền bè và tập thủy trận lớn lắm, định giành ưu thế trên mặt nước với quân ta, để xem người ngựa của lũ lính sa mạc bơi trên sông biển nước ta thế nào. Quên hỏi bệ hạ, bữa trước anh Chiêu Minh có lên đây hiểu dụ các tướng và giao nhiệm vụ cho thần tạm điều hành quân vào trận, anh ấy trở về Thăng Long ít bữa rồi quay lại, không hiểu sao hôm nay vẫn chưa thấy lên.
- Việc đại chính bận lắm, chú ấy đang giao cho trung thư sảnh phải đi đốc thúc các lộ lo tích chứa lương thảo cất giấu vào kho để tiếp tế cho quân, rồi ban bố mệnh lệnh “thanh dã”, tổ chức các đội dân binh, các đội bạch đầu ông và cả trạo nhi nữa. Chú ấy bảo một vài ngày xong việc lên ngay. Có nhẽ dịp này chú ấy sẽ giao hẳn công việc cho quan thái phó điều hành và bắt Đức Việp sang bên phủ thái sư tập sự. Không chừng đêm nay hoặc sáng mai chú cháu mình lại cùng ăn sáng với chú Chiêu Minh cũng nên.
- Nếu vậy thì thần yên tâm.
8/10/2020
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...