Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Huyết chiến Bạch Đằng 2

Huyết chiến Bạch Đằng 2

CHƯƠNG 7
Cuộc diễn tập đại trận thủy bộ liên hoàn kéo dài hơn một tháng để luyện quân cho quen thạo với các loại địa hình và vận động cho mau lẹ. Cuộc diễn tập trên một quy mô chiến trường giả định lớn chưa từng có nhưng kết quả thu được khiến các bậc cầm quân thêm phần an tâm đón đợi giặc, nếu như nó lại vào xâm phạm cõi bờ ta. Cuộc diễn tập còn làm cho binh sĩ nức lòng, nhìn thấy tận mắt lực lượng quân ta không chỉ đông đảo mà còn tinh thông kỹ xảo. Từ thủy binh, bộ binh đến kỵ binh, tượng binh khi vào trận đều uy nghi bề thế. Đánh xa, đánh gần, đánh đủ mọi kiểu từ đánh phục kích, phản phục kích đến xáp lá cà, đánh công, đánh thủ quân đều tỏ ra dũng mãnh tinh tường, khiến khí thế trong quân phấn hứng và tin vào sức mạnh của quân mình như chưa bao giờ oai phong đến như vậy.
Cuộc diễn tập thực chất đã dấy động được lòng người, quân dân đều tin tưởng ở sức mình và sẵn sàng nghênh chiến chứ không e dè lo lắng như hồi cuộc chiến năm Ất Dậu. Vả lại các đệ nhất danh tướng của Mông Cổ đều đại bại ở đây cả rồi. Hung hăng gây tội ác như Toa-đô, Lý Hằng, Lý Quán đứa thì rơi đầu đứa thì chết thảm. Còn như lũ ngựa Mông Cổ với đám lính thảo nguyên cũng có khác chi một lũ chuột đồng ngoi ngóp trên bể nước mênh mông khắp vùng A Lỗ.
Cuộc diễn tập đại trận thủy bộ liên hoàn đã đẩy thế nước lên cao nhưng không làm cho mọi người bồng bột, trái lại nó rất sâu lắng, bình thản một cách kỳ lạ. Người sắp vào trận đánh mà tinh thần bình thản, tự tin là người có bản lĩnh và nắm chắc phần thắng.
Và, cái dư vang của cuộc diễn tập lại như là một cuộc đại biểu dương lực lượng làm cho thế nước càng thêm nổi.
Dân chúng khắp nước luôn được nghe các mệnh quan, các đô tướng của triều đình về tận các thôn ấp tuyên cáo, giặc Bắc sớm muộn lại sang xâm lăng bờ cõi, và lương dân phải làm các việc:
- Mỗi thôn ấp phải có một đội hương binh. Nơi nào chưa có phải cấp kỳ thành lập. Đội hương binh này khi giặc đến phải chọn nơi kín đáo mà bắn tỉa giặc, hoặc phục kích chờ cho chúng đi gần hết rồi thì chặn đánh lũ đi cuối cùng. Quanh vùng nếu có nơi nào giặc đóng thì liên kết các hương ấp lại, đêm đêm đem quân đến bắn tên lửa vào trại giặc, hoặc bắn đằng đông reo hò đằng tây khiến hết đêm ấy sang đêm khác giặc không lúc nào được yên giấc. Dân binh chớ ham đánh lớn vì không cân sức. Nhiệm vụ chính của dân binh, hương binh là tiêu hao, quấy rối giặc.
- Ngay từ bây giờ phải có kế sách di chuyển và bảo vệ các kho lương của nhà nước gửi trong dân tới nơi cất giấu.
- Lương thực, của cải của dân cũng phải tìm nơi cất giấu, kể cả nồi niêu, rổ rá, dao thớt, trâu bò, gà lợn… hết thảy đều không để một thứ gì cho giặc tìm được. Lần này triều đình vẫn thực hiện kế thanh dã như lần đánh giặc Thát năm Ất Dậu. Việc thanh dã phải triệt để thì mới hãm giặc vào thế bị tiêu diệt…
Hết chiếu, dụ triều đình lại cử các quan đi kiểm tra, đốc thúc và phổ biến lại các chỉ dụ cho từng người dân thấu hiểu trách phận đánh giặc, giữ nước. Vì vậy nhiều nơi trong hương ấp, Hội đồng Tứ Toát[31] đã họp dân bầu hẳn ra một ban gọi là “Bảo hương kháng giặc”, tức là chống giặc bảo vệ quê hương.
“Bảo hương kháng giặc” có khoảng từ bảy, chín hoặc mười một người chọn trong số người tháo vát, khỏe mạnh có lòng vì mọi người, tuổi từ trung niên đến thiếu lão. Nếu hương ấp nào có người đã từng ở trong quân nay quá tuổi được về cũng mời tham gia.
“Bảo hương kháng giặc” có nhiệm vụ đôn đốc toàn dân trong hương ấp thực hiện các việc triều đình dụ bảo như trên vừa nói. Ngoài ra có những việc cần huy động sức người, sức của thì Ban này xin ý kiến của Hội đồng Tứ Toát để công việc tiến hành sao cho hợp lòng dân.
Nghe nói thế nước đang nổi, lòng dân đang sục sôi ý chí đánh giặc Thát. Dân muốn đánh giặc vì dân quyết tâm giữ nước giữ nhà. Dân muốn đánh giặc vì dân đã hiểu giặc, đã biết mặt giặc từ thằng giặc Mông Cổ mặt bự thịt, da đỏ au nói năng thì cục cằn như chó đớp, dân còn biết cả mặt những tên lính người Hán mắt một mí nhìn ngang, mặt cúi gằm, miệng lúc nào cũng bung búng như ngậm hột thị, gian như ranh. Cứ gọi là đám lính người Hán vừa bước chân vào đến đầu sân nhà người ta, mắt nó đã đảo ngang đảo dọc, soi mói từ gầm chạn đến gầm giường. Nếu như trong ổ gà còn sót quả trứng, ngoài vườn còn sót quả cam quả bưởi là nó vơ ráo trọi. Ngay cả lũ ngựa Mông Cổ nghe nói thì ghê lắm nhưng nhìn tận mắt cũng thấy thường thôi, dân đã có người dụ bắt sống được, hương binh có làng còn bắt được cả ngựa Mông Cổ đem giết thịt.
Nghe nói khí thế trong dân lên ghê lắm, bữa nọ Phạm Ngũ Lão bèn rủ Trương Hán Siêu đóng giả làm dân thường lấy một chiếc thuyền nhỏ từ Vạn Kiếp xuôi sông Bình Than chừng mười lăm dặm thì neo thuyền sang bờ hữu ngạn. Vì đất bên hữu ngạn không thuộc ấp An Sinh.
Hai người rủ nhau đi vào một ngôi làng phía trước nằm cạnh đường hàng huyện cách nơi đậu thuyền chừng hai, ba dặm đường. Tới đầu làng hai người dừng nghỉ tại một quán nước dưới gốc đa. Vừa ngước nhìn thân cây đa có treo một tấm bảng khiến hai chàng trai bật cười. Bởi ai đó đã vẽ hình một con gà mái tự treo cổ lên một chạc cây, dưới đuôi gà rơi rải rác mấy cục phân, bên cạnh có dòng chữ: “Ta thà tự treo cổ chết chứ không đẻ trứng cho quân Mông Cổ!”. Cạnh mấy cục phân có thêm dòng chữ: “Đây là thức ăn của kẻ xâm lược!”.
Hai chàng trai vừa uống nước vừa lân la hỏi chuyện lão bà. Nói về cái bức vẽ bà lão bảo:
- Đấy là mấy cậu trong ban “Bảo hương kháng giặc” của làng tôi vẽ đấy. Nực cười, hôm các cậu ấy mới đem ra treo nom nó ngồ ngộ không ai nín cười được. Dạo này thì quen mắt rồi không ai cười nữa.
Nghe cái tên gì “kháng giặc” lạ tai, Phạm Ngũ Lão hỏi lại:
- Thưa, lão bà vừa nói cái ban gì của làng ta nhỉ?
Bà lão nhả miếng bã trầu cầm tay, miệng hơi dẩu ra nói:
- Đã bảo cái ban “Bảo hương kháng giặc” khách nghe không rõ sao.
- Đa tạ lão bà, cháu nghe rõ rồi ạ.
- Dạ, lão bà có biết ai vẽ bức tranh này không ạ?
- Tranh triếc gì mấy cậu, nom có giống gà đâu. Tôi thấy nó chỉ là một cục lông đen sì.
- Dạ đúng rồi, Trương Hán Siêu nói xen vào: - Thưa lão bà đây là người ta vẽ con gà chết xù lông, mà là gà ác nên lông đen. Đúng là tranh không đẹp nhưng người vẽ có học vấn cao vì ý tứ sâu xa lắm.
- Ông khách này tinh thật, sao ông biết cậu ấy có học. Cậu ấy là con ông đồ Quỳ hay chữ nổi tiếng cả vùng đấy.
- Dạ, nếu chúng cháu muốn gặp những người trong “Bảo hương kháng giặc” của thôn ấp ta đây thì tìm ở đâu ạ? - Phạm Ngũ Lão hỏi.
Bà lão chỉ tay theo nẻo đường dẫn vào làng đáp:
- Quý khách cứ đi thẳng vào trong đó, các ông ấy ở cả trong đình ấy, lúc nào cũng có người.
Lại hỏi:
- Thôn ta đây gọi là gì thưa lão bà?
- Hảo Thôn, bà lão đáp, dân chúng tôi đây thuần dân tốt, quý khách cứ yên tâm. Vậy chớ hai công tử đi du lãm hay có quen ai ở trong thôn ấp?
- Dạ, thưa chúng cháu đi chơi thấy làng ta cảnh đẹp nên muốn ghé thăm. Nói xong hai người rảo bước đi vào làng.
- Này anh Hán Siêu, anh có thấy cái tên “Bảo hương kháng giặc” này hơi lạ không. Hay thật, chẳng biết đấng cao minh nào nghĩ ra cái tên vừa bình dị vừa cao siêu vậy.
- Chẳng có đấng bậc cao minh nào nghĩ được ra cái tên đó đâu, chắc là nó bật ra từ một người dân nào đó một cái tên na ná như vậy, rồi họ cứ bổ chính, tu chính mỗi người một ý, cuối cùng đến cái tên này ưng ý thì họ chốt lại. Theo tôi chưa hẳn cái tên đó đã phát xuất từ Hảo Thôn mà nó đã truyền từ đâu đó về, và bây giờ chắc nhiều hương ấp đã lập “Bảo hương kháng giặc”.
- Hay! Tôi cho cái tên này hay lắm đấy. Nó gắn bó thân thiết với hương thôn ta ghê gớm. Thực chất là việc đánh giặc giữ làng, giản dị và cần thiết như cơm ăn, nước uống. Phạm Ngũ Lão cứ tấm tắc khen mãi.
- Tôi chắc chẳng mấy nữa “Bảo hương kháng giặc” sẽ phổ cập tất thẩy các làng xã trong nước. Thế là toàn dân đánh giặc, Trương Hán Siêu hưởng ứng.
- Nếu toàn dân tham gia đánh giặc thì sức quân của mình tăng lên gấp bội, sức kháng chiến của cả nước sẽ chung đúc thành một khối, và như thế nó mang trong mình sức mạnh đảo hải di sơn không một kẻ thù nào không bị đánh bại.
Hai người vừa đi vừa nói chuyện, chẳng mấy chốc đã tới cửa đình.
Đình làng là một ngôi nhà bảy gian to, thoáng, rộng được dựng bằng cột gỗ, các vì kèo và rui, mè, đòn tay tất thẩy đều bằng một thứ tre ngâm, mái lợp rạ, tường bằng đất nện, mặt trước là cửa bức bàn. Gian giữa lập bàn thờ, hai gian đầu bỏ trống, mỗi bên hai gian áp sát với gian thờ đều dựng sàn gỗ làm nơi hội họp. Dân tình vắng hoe, cỏ trên sân lụi vàng xơ xác. Nhìn vào trong đình thấy vài người đang viết lên những tấm bảng gỗ ghép to bằng chiếc chiếu.
Trương Hán Siêu e hèm lên tiếng trước:
- Chào các đàn anh!
Mấy người đang hí húi viết ngửng đầu nhìn khách. Hai bên đều lạ lẫm.
Phạm Ngũ Lão nói lời thân thiện:
- Thưa các bậc đàn anh, chúng tôi là khách qua đường thấy làng ta phong cảnh đẹp nên ghé thăm, xin các đàn anh cho phép.
Cả ba chàng trai đang viết đều ngừng tay và ngoái nhìn khách, cất lời chào lễ độ làm đẹp lòng khách.
Họ buông bút, lau các vết mực trên tay rồi mời khách ra sàn.
Trương Hán Siêu đang đọc dở một bảng chữ liền xin phép hỏi:
- Xin các đàn anh thứ lỗi, chúng tôi vừa đường đột vừa tò mò, liệu có phải quý anh viết lời hiệu triệu đánh giặc Thát không ạ?
- Dạ, đúng vậy. Chẳng là lần đánh giặc trước, hương tôi đây tất bật chuyển lương cho quân lại chuyển cả kho lương nhà nước gửi đem giấu trong rừng thành thử không kịp viết. Lần này nhân giặc chưa vào cõi, nên có thì giờ, anh em chúng tôi được ban “Bảo hương kháng giặc” sai viết. Tưởng có thể viết nhanh như viết trên giấy học, nhưng khi viết vào bảng khổ chữ to cũng lâu mà cũng không dễ.
Phạm Ngũ Lão nhẩm đọc: “Tất cả các quận huyện trong nước nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”.
Nhìn người đứng trước tấm bảng có tư chất là một nho sinh, Phạm Ngũ Lão xá một xá rồi khen:
- Tôn huynh chữ tốt quá, chân phương, chữ có cốt như cốt rồng.
Người kia đáp:
- Tôn huynh quá khen. Bởi đây là lời dụ bảo của hoàng thượng với bách tính, tôi phải chọn lối viết này vừa tỏ lòng tôn kính quốc vương vừa để cho mọi người dễ đọc.
Trương Hán Siêu từ nãy vẫn nhìn vào tấm bảng mà người nho sinh đang viết và nhẩm đọc:
“Năm đầu niên hiệu Trung thống ngày… tháng… Chiếu văn của Thế tổ thánh đức thần công văn võ hoàng đế chỉ dụ cho vua nước Nam…
Trương Hán Siêu hỏi có phải tôn huynh muốn viết tiếp, rồi ông đọc to: “… hiểu dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi… phàm mũ áo, điển lễ, phong tục cứ theo như chế độ cũ, không cần phải thay đổi… Ngoài ra ta cũng răn cấm các biên tướng ở Vân Nam không được tự tiện đem binh lấn cướp nơi cương giới, quấy nhiễu biên dân… Quan liêu sĩ thứ nước ngươi đều nên yên trị như cũ. Nay ban lời chiếu để nhớ mà giữ gìn[32].
Trương Hán Siêu vừa dứt lời, vị nho sinh kia bèn vái một vái:
- Xin cảm phục tiên sinh! Quả là tôi cũng chỉ định trích lời chiếu của Hốt-tất-liệt có bằng ấy chữ thôi. Không, đó là ý của thầy tôi dặn chứ không phải ý của tôi.
- Sư phụ của tôn huynh quả là bậc cao minh - Hán Siêu đáp - Bởi ta dùng lời lẽ này của vua nó để đập lại chính nó. Nó nói “không xâm phạm cõi bờ”, nhưng lại định đưa đại binh vào giày xéo núi sông ta. Đúng là lũ kẻ cướp.
Chủ khách xem ra đã có sự quyến luyến và cảm phục nhau. Họ mời nhau ngồi lên sàn và một người chạy đi lấy trầu nước. Vừa nhai trầu vừa uống nước, không khí thật là vui vẻ, cởi mở. Bỗng một chàng nho sinh lên tiếng:
- Cứ nom sắc diện hai tôn huynh, tôi thấy không phải người thường, vả lại tuổi tác các vị hẳn nhiên hơn bọn anh em tôi ở đây nhiều. Các vị phải cỡ tuổi huynh trưởng của chúng tôi. Vậy xin tôn các vị là đại tôn huynh kẻo mang tiếng chúng tôi thất lễ.
- Không dám! Không dám! Cả Phạm Ngũ Lão và Trương Hán Siêu đều xua tay.
Ngồi đối diện nhìn kỹ, họ thấy người có vóc dáng mảnh mai so với người kia đầu búi tóc, quấn khăn vành dây bằng lụa màu nâu để hở vầng trán cao hơi dô, đôi mắt sáng, lưỡng quyền và cả đôi má đều phủ một lớp da trắng, xem ra người này ít dạn dày sương gió. Thật ra họ không để ý chứ Trương Hán Siêu đang vận trên người chiếc áo dài đen cổ lá sen, hai cửa tay và nách đều rộng là kiểu áo của các anh nho sinh đương thời. Áo ấy với khăn vành dây quấn hình chữ nhân trước trán đích thị là khăn áo của các bậc nhà nho.
Còn người kia (Phạm Ngũ Lão) có gương mặt chữ điền vuông vức, mắt đen nhức, hai hàm răng nhỏ đều tăm tắp. Người này đầu cạo trọc đội mũ ô sa, vận chiếc áo dài nhỡ chỉ chấm gối, áo cổ cao cũng có lá sen nhưng nách và cửa tay hẹp, áo như có phần hơi bó, chẽn. Người này vóc dáng to khỏe, nước da rám nắng săn chắc.
Một người nhìn thẳng vào Trương Hán Siêu nài nỉ:
- Vừa đây đại tôn huynh đọc những lời trích trong chiếu thư của Hốt-tất-liệt, khớp từng chữ với thầy tôi sai viết, khiến chúng tôi lấy làm tâm phục, về tờ chiếu này, thầy tôi cũng đã giảng, nhưng nguyên ủy xuất xứ của nó thì thầy tôi cũng chưa được tường lắm. Vậy xin đại tôn huynh mở lòng chỉ giáo.
Thấy lời lẽ khiêm nhường và có vẻ cầu thị, Trương Hán Siêu vui vẻ nhận lời.
- Quả thực tôi không dám múa mép khua môi, chỉ xin biết tới đâu, tâu tới đó để hầu các quý hữu.
Mấy người trai làng mà thực họ là nho sinh, nghe khách gọi mình là “quý hữu” lấy làm cảm động, họ đáp gần như đồng thanh:
- Đa tạ đại tôn huynh!
- Việc này xảy ra khá lâu rồi, có thể từ khi tôi và các quý hữu còn chưa được sinh ra kia - Trương Hán Siêu nói tiếp - Ấy là vào khoảng năm Canh Thân (1260), em Hốt-tất-liệt là A-lí-bất-kha nghe tin năm trước Mông-kha chết ở thành Điếu Ngư thuộc Tứ Xuyên, y bèn chiếm quốc đô Mông Cổ tranh ngôi đại Hãn. Hốt-tất-liệt đang đánh Ngạc Châu (Hồ Bắc), phải bỏ dở và đem quân về nước. Trong hoàn cảnh ấy y không có thể uy hiếp Đại Việt được nữa, nên ban tờ chiếu này nhằm mơn trớn và giữ chân Đại Việt trong vòng kiềm tỏa của nó. Sau này Hốt-tất-liệt đã lấy lại ngôi đại Hãn, và trở về bình định Trung Hoa thì đòi hỏi của y cực kỳ khắc nghiệt. Nhưng Đại Việt ta cứ lấy tờ chiếu đầu tiên này của Hốt-tất-liệt làm cơ sở đấu tranh bang giao với nhà Nguyên. Người Nguyên thì bảo “chiếu ấy cũ rồi, thiên tử đã ban chiếu mới”. Đại Việt cãi lại: “Chiếu thiên tử ban ra lời vàng ý ngọc không bao giờ cũ, thiên tử không nói hai lời”. Do đó, sư phụ của các quý hữu sai viết lời chiếu này để mắng giặc, quả ngài là bậc đại cao minh, xin bái phục!
Trương Hán Siêu vừa dừng lời, lại hỏi:
- Vậy chớ sư phụ của các tôn huynh có dặn phải viết thêm gì nữa không ạ?
- Dạ có, một người đáp: - Dạ thầy chúng tôi dạy phải viết thêm vài lời cảnh cáo dưới lời chiếu như sau: “Kẻ nào xâm phạm cõi bờ Đại Việt làm rối loạn nhân dân là kẻ kháng mệnh thiên tử phải trị tội”.
- Phải, chỉ vài lời đó là đủ, Trương Hán Siêu đáp.
Phạm Ngũ Lão từ nãy vẫn ngắm nhìn mấy người nho sinh trai trẻ, nghe họ trao đổi với Trương Hán Siêu xong, ông nói:
- Hốt-tất-liệt ban lời chiếu trên là để lừa mị ta nhất thời. Nhưng ta cứ vin vào đó như một cái cớ để vạch mặt nó hoặc để từ chối những đòi hỏi thái quá của nó. Nay các đòi hỏi bằng chiếu dụ, tức là bằng sức ép bang giao đối với Đại Việt đều không đem lại kết quả như chúng trông đợi, nên đã hai lần xua quân sang xâm lăng Đại Việt ta.
Phạm Ngũ Lão ngửa mặt lên trời kêu:
- Than ôi, kẻ ban chiếu: “Biên tướng bất đắc thiện hưng binh giáp xâm lược cương trường, náo loạn nhân dân” (cấm các biên tướng không được tự tiện đem quân xâm phạm cõi bờ (Đại Việt) làm rối loạn nhân dân), thì cũng chính nó năm Ất Dậu (1285) mới đây sai thằng con trai thứ mười một của nó là gã Thoát-hoan dẫn hơn năm mươi vạn quân vào xâm lược nước ta chứ còn ai. Lũ con trời (thiên tử) tâm địa xảo trá hơn cả loài lang sói, đời này qua đời khác, tội ác chúng gây ra chất cao như núi cho nên với loài dã thú này chỉ có trừng trị đích đáng chúng mới chừa. Tiếc quá, trận truy đuổi Thoát-hoan trên đường trốn chạy, nếu Trần Quốc Toản không bị giặc bắn lén thì sinh mạng Thoát-hoan khó toàn.
- Dạ thưa đại tôn huynh, thầy tôi cũng bảo thế, nhưng viết cái này ra đây là để vạch bộ mặt xảo trá của cha con Hốt-tất-liệt, và cũng cho người mình biết chớ có tin vào lời đường mật của chúng nó mà mất nước, mất nhà.
Với vẻ thân mật Trương Hán Siêu nói:
- Ta hỏi thật các quý hữu, cữ này thì dân làng ta đang làm gì?
Các bạn cười ồ lên và gần như họ cùng nói:
- Ai việc nào cứ việc đó mà làm, như bọn đệ hàng ngày đi cày, đi cuốc, đi ra bãi bồi khai hoang vỡ hóa, ai lên rừng đốn củi, hái nấm, đào cây thuốc cứ đi, ai tập tành cứ tập, ai gánh gạo đổ kho lương cứ gánh, còn bọn đệ đi viết các bảng chữ này để treo nơi nào giặc qua lại thì cứ viết. Hoặc vụ chiêm vừa qua dân hương ấp gặt xong, chân năm tay mười lo liệu cho việc cày cấy vụ mùa ngay. Dạ chúng tôi sắp cấy vụ mùa, còn vụ chiêm vừa rồi lại bội thu. Đã bội thu còn được tha tô, thuế, bởi vậy dân tôi no đủ ca hát cả ngày. Ban ngày đi làm đồng vừa làm vừa hát, tối về lại tụ họp chia bè hát đến khuya. Dạ, chiến tranh thì chẳng có ai thích cả, nhưng sợ thì chẳng sợ đâu. Nếu giặc Bắc lại sang thì ta lại đánh giặc Bắc lo gì. Nói xong các chàng trai đều cười hồn hậu.
Phạm Ngũ Lão tủm tỉm cười hỏi:
- Xin các quý hữu đại xá tính tò mò của tôi, nhưng dám hỏi trong các quý hữu ở đây vị nào vẽ bức tranh con gà mái tự treo cổ: “Thà chết chứ không đẻ trứng cho quân Mông Cổ”, và vì sao quý hữu nảy ra ý nghĩ vẽ bức tranh đó?
Cả ba người đều cười, riêng người tóc xoăn có vẻ nghịch ngợm mặt hơi ửng đỏ. Hai bạn đổ dồn nhìn về phía người tóc xoăn nói:
- Anh này! Anh này có tài vẽ mà hóm lắm đấy ạ.
- Vậy chớ sao quý hữu lại nảy ra cái ý vẽ bức tranh con gà?
Chàng tóc xoăn ngượng ngập mở lời:
- Thưa các đại tôn huynh, chẳng là lũ đệ ngồi tán dóc về cái bọn giặc Mông Cổ, giặc Tàu nó vơ vét của dân mình thật là thậm tệ, cái gì không ăn được, không đem đi được thì nó đập phá, nó thiêu hủy. Thế là… anh ta bưng miệng cười, rồi cả ba người cùng cười nấc lên.
Lát sau vãn tiếng cười, Trương Hán Siêu mỉm cười và nói:
- Có phải các quý hữu bảo: “phải cho lũ này ăn cứt”, rồi từ đó nảy ra ý nghĩ vẽ bức tranh có đúng không nào.
Ba chàng trai nhìn Trương Hán Siêu tỏ vẻ kinh ngạc:
- Đại tôn huynh đoán việc như thần.
Dõi theo ba chàng trai từ khi mới gặp, Phạm Ngũ Lão đã có ý muốn thu dụng, liền hỏi:
- Dám hỏi các quý hữu có ý định đầu quân đánh giặc chưa?
- Dạ chúng tôi xin đầu quân mấy lần mà chưa được. Các mệnh quan, các đô tướng đi tuyển bảo triều đình muốn để dành những người có học thức để dùng vào việc khác. Anh em chúng tôi bàn nhau hôm nào sang sông tìm vào cửa Đức ông ở Vạn Kiếp xem ngài có thu dụng để được vác giáo dưới cờ. Nói thật với các đại tôn huynh, cái chí của chúng tôi là ở chốn sa trường giết giặc cứu nước, chứ sức trai trẻ mà cứ ru rú ở xó nhà sao chịu nổi.
Trương Hán Siêu và Phạm Ngũ Lão cùng nháy nhau rồi Hán Siêu nói:
- Nếu các quý hữu tòng chinh thì ai phụng dưỡng cha mẹ già, lại còn con thơ vợ dại nữa chứ!
- Thưa, các trưởng huynh của chúng tôi được nhà nước miễn cho các khoản tạp dịch và quân thú để ở nhà giữ đạo hiếu. Vâng đây là ân mệnh của triều đình cho những người là con trưởng có cha mẹ già trên sáu mươi tuổi. Còn vợ con chúng tôi khỏi lo. Một là gia cảnh cũng không đến nỗi nào. Hai là trong hương ấp có lệ hễ ai ra mặt trận, vợ con ở nhà được mọi người giúp đỡ, nhất là các việc nặng như cày cấy, gặt hái.
- Mải nói chuyện mà quên hỏi danh tính và niên kỷ các quý hữu, Phạm Ngũ Lão lên tiếng và chỉ tay vào chàng tóc xoăn.
Chàng ta bẽn lẽn:
- Thưa đại tôn huynh, tiểu đệ tên là Ngô Trung Tín hai mươi mốt tuổi, quê quán Hảo Thôn thuộc phủ Chí Linh.
Chàng ngồi bên cạnh tự nói:
- Thưa, tiểu đệ là Bùi Hoàng Linh hai mươi tuổi, quê quán Hảo Thôn.
Chàng kia tự bạch:
- Thưa, tiểu đệ là Nguyễn Bình An hai mươi hai tuổi, cùng quê quán với hai anh Trung Tín, Hoàng Linh. Dạ, thế còn quý danh và niên kỷ của hai đại tôn huynh? - Bình An hỏi.
Ngũ Lão và Hán Siêu đưa mắt cho nhau, ý là cứ nói thật vì cả hai người đều muốn thu dụng ba chàng trai này về đầu quân dưới trướng Hưng Đạo vương. Hai người lần lượt xưng danh:
- Tôi là Trương Hán Siêu năm nay hai mươi tám tuổi, quê quán ở phủ Trường Yên vốn là kinh đô của hai nhà Đinh - Lê.
- Còn tôi là Phạm Ngũ Lão hai mươi bảy tuổi, quê quán phủ Ân Thi thuộc châu Hồng. Hai anh em chúng tôi đều đầu quân dưới trướng Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương.
Cả ba chàng trai đều giật thột như vừa bị ong đốt, họ vội quỳ xuống vái lia lịa:
- Xin tha tội chết, chúng tôi đã mạo phạm. Núi Thái Sơn trước mặt mà chúng tôi có mắt như mù. Hai ngài danh vang khắp nước. Trận thắng giặc vừa qua cả nước biết ơn các ngài.
Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu nâng ba chàng trai dậy nói lời an ủi:
- Chúng tôi có một chút danh là vì có công đánh giặc, không thì cũng như người thường thôi. Các anh em còn trẻ, thời cơ lập công đang đến lo gì. Vậy nếu các anh em đã định đầu quân vào phủ Hưng Đạo thời chúng ta là anh em một nhà. Khỏi phải “đại huynh” với “đại tôn huynh” cho thêm phần khách khí. Chi bằng chúng ta cứ gọi nhau là anh em. Chúng tôi lớn tuổi hơn chúng tôi là huynh, quý hữu ít tuổi hơn thì xưng là đệ. Còn việc ra mắt đại nhân thì các quý hữu định ngày nào đây để chúng tôi đưa thuyền ra bến Đại Than đón rước?
Họ nhìn nhau và cùng thống nhất:
- Xin các huynh trưởng cho lũ đệ thu xếp trong ba ngày.
- Bữa nay là ngày Giáp Ngọ không tính. Các quý hữu thu xếp trong ba ngày, sang ngày thứ tư tức ngày Mậu Tuất chúng tôi sẽ có thuyền chờ tại bến. Xin hỏi vào giờ nào đây.
- Giờ Thìn ạ! Hoàng Linh nhanh nhảu đáp.
- Không được, xuất hành ngày Tuất lại đi vào giờ Thìn, xung đấy - Bình An nói.
- Dạ thế thì giờ Mão ạ. - Trung Tín nói.
- Được đấy! - Cả ba đều đồng lòng.
- Vâng như thế là chúng đệ có mặt tại bến Đại Than vào khoảng nửa đầu giờ Mão.
Họ chia tay, cả hai bên đều vui. Các chàng trai cứ tưởng mình nằm mơ. Chỉ riêng được gặp hai đại nhân này về kể lại, chắc khó có người tin.
Còn Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão cũng hết đỗi mừng rỡ vì sẽ tiến cử lên Hưng Đạo người mà vương đang cần để huấn hỗ bổ sung vào đội ngũ các gia tướng gia thần. Với con mắt nhà võ, Ngũ Lão nói:
- Mấy chàng trai này chỉ cho tập luyện ba tháng thì người lớn hẳn lên, to khỏe lại có học thức, chọn cho làm đô tướng được lắm.
- Tôi nghĩ họ cũng có khiếu năng của một gia thần trong phủ Đại vương đấy. Nhưng phải cho học hành, rèn dạy nhiều, mới thành tài. Bởi xem họ đều có nhiệt tâm hiến mình cho nước lại đam mê lập công.
Ngay tối hôm đó, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu xin yết kiến chủ tướng và kể hết các chuyện đang diễn ra ở nơi thôn ấp hiện nay, và tiến cử mấy người vừa gặp.
Hưng Đạo mừng lắm, người nói:
- Thế nước được tạo lập từ trong lòng dân, giặc Hồ nếu lại vào, chắc chúng sẽ chuốc đại họa.
Trong khi ở Thăng Long, ở Đại Việt việc chuẩn bị kháng giặc vừa khẩn trương vừa bình lặng thì ở đại đô Yên Kinh, thiên tử nhà Đại Nguyên sôi lên sùng sục như một con thú dữ bị nhốt trong cũi sắt.
Hốt-tất-liệt sai triệu Thoát-hoan và bình chương chính sự Áo-lỗ-xích vào bệ kiến.
Áo-lỗ-xích và Thoát-hoan vừa quỳ chúc câu:
- Thiên tử vạn an!
- Thánh thượng vạn an!
Hốt-tất-liệt vội xua tay:
- Miễn lễ! Cho các khanh an tọa.
Nói xong nhà vua gõ một tiếng chuông nhỏ. Lập tức nội thị bê ra một chiếc khay ngọc trên đó đặt một chiếc chén vàng rót đầy rượu quý. Nội thị quỳ dâng rượu. Hốt-tất-liệt liếc nhìn về phía chiếc kỷ kê bên tả ngai vàng. Viên nội thị biết ý vua liền đặt khay rượu lên mặt kỷ. Cùng lúc ấy có hai thị nữ mỗi người bê một chiếc khay bằng gỗ hoàng đàn thơm phức khảm ngọc trai lấp lánh, trên mỗi khay đặt một chiếc chén bạc rót đầy rượu. Rượu có màu vàng óng, trong như hổ phách. Rượu của nhà vua có màu đỏ tươi và trong suốt nom tựa một khối hồng ngọc.
Mỹ nữ vừa dâng rượu cho hai đại quan, thiên tử liền phẩy tay:
- Ta ban cho hai khanh mỗi người một chung tiên tửu đấy, uống mau rồi tâu báo công việc.
Nghe lời phán, hai người vội sụp lạy:
- Tạ ơn thiên tử ban tiên tửu.
Rồi họ nâng chung rượu, lấy cánh tay áo che miệng và ngửa cổ uống một hơi cạn hết.
Hốt-tất-liệt có sức khỏe dẻo dai như một con ngựa thiên lý và làm việc không biết mệt mỏi. Tính ông nóng như lửa, làm việc nào phải cho xong việc đó. Ai nhận việc mà cứ để dây dưa nếu không mất đầu cũng mất chức. Vì thế các kẻ dưới quyền nhiều người khiếp nhược. Hốt-tất-liệt rất ghét vừa họp bàn vừa chè rượu. Ông có thể cho uống rượu, uống trà vào trước hoặc sau khi họp bàn.
Hai người vừa đặt chung xuống, Hốt-tất-liệt đã hỏi:
- Công việc của “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” các khanh lo liệu đến đâu rồi, tâu báo ngay đi.
Trấn Nam vương Thoát-hoan quỳ tâu:
- Bẩm phụ hoàng, quân lấy từ các tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây, Vân Nam đều đã tập trung xong, hiện các tướng đang lo chỉnh bị đội ngũ rồi cho tập luyện lại để chúng ăn khớp với nhau.
Nhà vua gật đầu nói như gắt:
- Đã cho miễn lễ khi bàn việc quốc sự, các khanh cứ thủ lễ rườm ra. Mỗi lúc lại mỗi quỳ tâu thì còn bàn bạc cái gì.
Thoát-hoan mắt hơi lấm lét nhìn vua cha.
- Trong số quân đi nam chinh thì quân Mông Cổ mấy phần, quân Hán mấy phần? - Hốt-tất-liệt hỏi.
- Tâu, ba phần quân Hán một phần quân Mông Cổ.
- Đúng rồi, phải lấy nhiều người Hán cho nó đi đánh trận, nhớ lấy thêm đám quân Hán phía bắc nó cũng biết cưỡi ngựa, bắn cung, người lại cao to như người Mông Cổ khiến dân Giao Chỉ sợ đấy.
Chợt Hốt-tất-liệt quay hỏi Áo-lỗ-xích:
- Thế nào ông bình chương, thuyền bè, chiến hạm và quân thủy ông lo đến đâu rồi?
- Tâu hoàng thượng, năm trước hoàng thượng sai Hồ Quảng đóng ba trăm chiến thuyền, sau lại sai đóng thêm hai trăm chiếc nữa cộng với số thuyền cũ còn dùng được cũng đến vài ba trăm chiếc, thần đã sai đưa tất cả số thuyền đó về hai cảng Khâm Châu, Liêm Châu ở Quảng Đông rồi.
- Quân thủy lấy ở đâu? - Hốt-tất-liệt hỏi.
- Tâu, lấy quân Giang Nam thôi chứ quân Mông Cổ và quân Hán miền bắc không xuống nước được. Dân thảo nguyên xuống nước chỉ có say sóng, mà đã say sóng người nôn nao bải hoải, đầu váng mắt hoa, quân ấy coi như loại ngũ.
- Khanh định đem sang Giao Chỉ bao nhiêu quân thủy?
- Tâu, số thuyền đó chỉ có thể chở được từ mười đến mười hai vạn quân chiến đấu là cùng.
- Ta cho số quân thủy thế là được, nhưng phải tập luyện cho kỹ, khanh nên nhớ quân Giao Chỉ sông nước là nhà của nó đấy.
Khanh đưa hết thuyền về Khâm, Liêm vậy quân phải đi bộ đến đó à?
- Tâu, thần sai đưa quân về Hồ Quảng nhận thuyền rồi giong buồm về Khâm, Liêm coi như một cuộc đại tập trên biển.
- Khanh quả là viên tướng linh lợi giúp rập cho Trấn Nam vương. Vậy chớ hai khanh định chọn tướng nào coi quân thủy? - Hốt-tất-liệt hỏi.
Thoát-hoan đáp:
- Tâu, thần cử hai viên tham tri chính sự là Ô-mã-nhi và Phàn Tiếp. Ô-mã-nhi giữ chức chánh, Phàn Tiếp chức phó.
- Quan tước thì phải nói cho rành rõ mới danh chính ngôn thuận được. Ngươi nói chánh với phó là chánh phó cái gì. Hốt-tất-liệt mắng. Vả lại phải biết trân trọng các tướng tài. Chức tước của hai vị tướng này ta tuyên như sau:
Ô-mã-nhi làm tham tri chính sự bình man hành hải đô nguyên súy.
Phàn Tiếp làm tham tri chính sự bình man hành hải phó đô nguyên súy.
Các tướng lần trước ta đã sai giúp rập dưới trướng Trấn Nam vương vẫn không có gì thay đổi. Duy có A-lí Hải-nha thất lộc ta đã thay bình chương chính sự Áo-lỗ-xích vào chỗ của A-lí Hải-nha. Nay ta sung thêm hai người đó là hữu thừa A-ba-tri và hữu thừa Trịnh Bằng Phi. Các tướng trong “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” đều đã dạn dày chiến trận, phần đông trong số đó cũng mới đi đánh Giao Chỉ về năm Ất Dậu. Ta chắc mọi việc sẽ thuận. Hốt-tất-liệt nói thêm: - Ngoài bốn tỉnh đã điều quân, ta cũng vừa có chiếu động binh thêm ở Quảng Tây và Quỳnh Châu[33]. Quảng Tây là lấy quân tân phụ cho nó theo quân mang vác, còn dân Lê ở Quỳnh Châu cũng là dân quen thạo biển khơi đấy.
- Đội ơn thiên tử! Áo-lỗ-xích nói.
Trầm ngâm một lát Hốt-tất-liệt lại hỏi:
- Việc quân lương hai khanh trù liệu thế nào rồi?
Thoát-hoan vội đáp:
- Ý thiên tử muốn chinh nam lần này là dứt Giao Chỉ vì chúng ương gàn kháng mệnh. Vì vậy quân đem vào lần này cũng đông hơn, đồn trú cũng lâu hơn nên tiêu tốn lương thực cũng nhiều hơn. Nếu như đem bằng đường bộ thì cực nhọc gian nan, lũ giặc phục cướp mất lại hỏng việc quân. Năm ngoái nghe Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên nói từ Tư Minh sang Giao Chỉ, một người phu gánh năm đấu[34] gạo, đi về ăn hết một nửa. Nếu có mười vạn thạch[35] lương dùng cho bốn mươi vạn người cũng chỉ đủ nuôi quân một, hai tháng. Chuyên chở đóng thuyền, phục dịch việc quân phải cần đến năm mươi, sáu mươi vạn người.
Vả lại cuộc chinh Giao Chỉ năm Ất Dậu chuyển lương bằng đường bộ, quân luôn thiếu lương thực mà người Giao Chỉ nó cất giấu lương thực rất tài. Quân đóng ở đâu thường cho đi sục sạo tới hai ba mươi dặm quanh vùng, vẫn không kiếm nổi một đấu thóc cho ngựa. Do vậy, lần này chúng thần xin được chuyển quân lương bằng đường biển.
- Chuyển bằng thuyền được nhiều hơn lại đỡ tốn người tốn sức. Ta đã liệu trước việc này nên cho đóng bảy mươi thuyền chở lương cỡ lớn, mỗi thuyền có thể chở được từ bốn trăm năm mươi tới năm trăm thạch. Mỗi chuyến cả đoàn thuyền vận tải này có thể chở tới ba bốn mươi vạn thạch lương, đi về nhiều chuyến là có thể chở đủ sáu, bảy mươi vạn thạch. Đủ số lương đó mới cho quân trụ lâu được. Tuy vậy, mùa lúa chín phải đuổi dân nó đi xua quân ra mà gặt lấy thóc nuôi quân, nuôi ngựa lâu dài.
- Thiên tử quả là bậc thiên tài có con mắt nhìn thấu ngàn tầm, trí xét đoán thông ba cõi, - lũ thần không theo được, Áo-lỗ-xích khen nịnh chủ.
- Các tỉnh nộp đủ số lương đã giao chưa? - Hốt-tất-liệt hỏi. Có tỉnh nào chưa nộp được hạt nào không để còn liệu?
- Tâu, các tỉnh đang chở lương về nơi quy tập, nhưng chưa tỉnh nào nộp được đủ số lương được thiên tử phân bổ. Họ nói mấy năm liền mất mùa, nay mới có hột lúa, dân chỉ nộp tô, thuế thôi chứ không bán. Họ nói số lúa còn dư chẳng đáng là bao, phải dự trữ kẻo lại mất mùa nữa thì chết đói.
Hốt-tất-liệt cau vầng trán, nhíu đôi lông mày làm hai con mắt nhọn ra như hai chiếc gai bưởi, chợt ông quơ hai bàn tay múp míp ra phía trước rồi dụ bảo:
- Nói mấy viên an phủ sứ mở kho bạc lấy tiền mua lúa giá cao.
- Muôn tâu, dân chúng bảo: Giá cao mấy cũng không bán, nếu mất mùa thì không thể dùng tiền cứu đói được.
- Thế mà ngươi cũng học đòi làm tướng. Đám dân chúng có thể tạm thời để nó chết đói, nhưng quân thì không thể thiếu lương một ngày. Sai quân ập vào từng nhà, bức chúng nó phải cho nhà nước vay lương. Phải vét lương cho thật nhanh để còn tiến binh, cứ trù trừ mãi để chúng nó hồi sức, hồi sinh à!
Biết thiên tử đang bị con hỏa xà nó quấy, hai tướng len lét cúi đầu hô:
- Tuân chỉ!
Và họ lặng lẽ bước ra, ai về dinh ấy sai tướng đi các tỉnh đốc lương.
Hốt-tất-liệt đi loanh quanh trong nội tẩm lòng đầy bực giận. Ông rờ lên đầu túm được chiếc mũ và ném phắt về phía tấm bình phong. Lại đưa tay lên nắm tóc trên đầu.
Quả thật trên đầu thiên tử chỉ có đám da nhẵn bóng nên năm ngón tay trượt đi khiến thiên tử càng bực tức. Vừa chợt trông thấy chiếc khay ngọc, ngài quơ lấy, giang thẳng cánh ném vào chiếc đôn sứ kê cạnh kỷ. “Choang” một tiếng rất đanh gọn, cả khay ngọc lẫn đôn sứ đều vỡ tan tành.
Lúc này đầu óc thiên tử như đã dìu dịu. Ngài gõ năm tiếng chuông. Năm ả thị nữ mặt hoa da phấn đỡ ngài vào phòng tắm xông hơi.
Mỗi ả một việc, đứa cởi áo đứa cởi hia, đứa cởi quần cho thiên tử. Và cả năm ả đào tơ đều tự trút bỏ xiêm y khiêng thiên tử vào bồn tắm. Mỗi ả quỳ một góc và được phép kì cọ mọi nơi trên cơ thể thiên tử.
Ba lần thay nước thơm ấm dịu và được các mỹ nữ vuốt ve mơn trớn, thiên tử quên hết bực dọc và cả mệt nhọc. Ngài vươn vai đứng dậy tồng ngồng như một đứa trẻ. Ngài tự ngắm cơ thể mình và cơ thể các mỹ nhân. Ngài có nước da nâu cháy, bụng và mông đều sệ như một con lợn sề thiến, giữa ngực có một nạm lông đen mà cứng như lông đuôi ngựa.
Các ả lau khô thân thể thiên tử, khoác lên vai ngài tấm áo dài rồi thắt đai và dìu ngài sang phòng kế bên. Ở đây có hai ả chờ sẵn với một bát canh đang bốc khói thơm phức. Đó là canh thuốc đại bổ và thuốc đại kích dục do các ngự y nổi tiếng của Trung Hoa chế hầu thiên tử.
Thiên tử vừa dùng canh xong liền có hai mỹ nữ khác đến dìu qua một hành lang xông hương thơm phức, để vào một căn phòng dát thuần gỗ trầm và họ mời ngài ngả mình trên tấm nệm, rồi họ lấy thuốc thơm xoa bóp toàn thân. Khi canh ngấm, thuốc xoa bóp ngấm, cơ thể ngài ngự rung lên thì họ dìu sang một căn phòng khác.
Đó là một căn phòng rộng, bốn tường lát thuần gương đồng mài bóng đến một chiếc kim rơi trên sàn nhà cũng nhìn thấy. Theo sở thích của thiên tử căn phòng không có bày biện trang trí gì hết, ngay mùi thơm cũng chỉ thoang thoảng như hoa cỏ thảo nguyên chứ không được phép có mùi Trung Hoa nơi thiên tử ân ái. Giữa gian phòng rộng mênh mông như đồng cỏ là tấm nệm cỏ trên phủ thảm Mông Cổ như trong lều của một đại Hãn. Đó là ý muốn của thiên tử để ngài nhớ về cội nguồn du mục.
Ánh nến từ các góc tường tỏa ra lấp lánh như các vì sao đêm trên thảo nguyên. Nhìn ngắm gian phòng, Hốt-tất-liệt tỏ vẻ hài lòng liền lấy gót chân nện mạnh xuống mặt sàn ba lần. Lập tức từ nơi cửa ngách ló ra một thiếu nữ như từ cung Quảng Hàn vừa rớt xuống. Thiếu nữ có nét đẹp kiêu sa của một người Hán không pha trộn. Từ gương mặt, khóe mắt đều toát lên vẻ thanh cao quý phái. Chẳng phải lần đầu tiên được dâng gái Hán, nhưng Hốt-tất-liệt vẫn ngỡ ngàng. Nhưng bây giờ với y thì tất cả bọn con gái dù Hán, Tạng, Mông… cũng vậy cả thôi, cũng như những con ngựa, con cừu thảo nguyên chứ y không còn rung động nữa. Sự ân ái mây mưa với y bây giờ nó cũng thường như việc ăn uống, bài tiết. Nhưng lũ Hán gian lại kén thuần con nhà lành là các thiếu nữ vừa đến tuổi dậy thì để dâng. Thường Hốt-tất-liệt chỉ phối ngẫu một lần rồi thải.
Vì vậy mĩ nữ để dâng thiên tử trong cung lúc nào cũng có hàng trăm, và lúc nào các thái giám cũng luôn thúc đòi các tỉnh gửi người đẹp về. Với thiên tử, ngài chẳng khác gì một con dê đực đầu đàn, kiểm soát cả một bầy dê cái non tơ đang nhốt hãm.
Thiếu nữ lặng lẽ cúi lạy thiên tử. Nàng khép nép, ngác ngơ như một con nai nhỏ và sợ sệt hơn là vui mừng.
Hốt-tất-liệt đi vòng quanh ngắm nhìn người đẹp. Rồi bất chợt y tự lột bỏ tấm áo khoác trên mình cùng lúc nhấc nhẹ tấm áo khoác trên người mĩ nữ. Hai tấm thân trần lõa lồ hiện lên bốn vách gương. Nom nàng đẹp như một quả đào tiên vừa lên mã, còn thiên tử nom ngài như một con cóc cụ khổng lồ. Mặc dù thiên tử vừa tắm thuốc, xông hương nhưng sao thiếu nữ cảm như có mùi hôi thối tanh tưởi bốc lên từ cơ thể ngài. Suýt nữa nàng đã giơ tay lên che mũi. Thật phúc cho nàng, nếu điều đó xảy ra thì sau khi hành lạc xong, thiên tử sẽ sai cắt mũi nàng. Hốt-tất-liệt không bế mà ông đẩy thiếu nữ ngã ngửa xuống tấm thảm và ngay lập tức ông đè lên nàng. Cưỡi trên người đẹp, Hốt-tất-liệt đang mơ màng như ngày còn trai trẻ thường có những cuộc mây mưa với đám bạn nữ cùng trang lứa chăn ngựa, chăn cừu giữa thảo nguyên bao la.
Hốt-tất-liệt trùm tấm thân to lớn xù xì trên cơ thể mảnh mai thiếu nữ, và y quần thảo, cày xới tấm thân nàng tựa như y đang vò nát một bông hoa đang hé nở. Thiếu nữ vừa phải căng sức đỡ một khối thịt nặng nề vừa phải cắn răng chịu đựng sự đau đớn rát xé. Toàn cơ thể nàng nóng bừng như người lên cơn sốt rồi lịm ngất. Hốt-tất-liệt đang thở hồng hộc, y không biết tới điều đó. Và khi không còn ham thích nữa, y đứng phắt dậy không thèm ngoái nhìn thiếu nữ. Y lấy gót chân đập mạnh xuống sàn hai lần. Lập tức có hai a hoàn hiện ra. Một nàng lấy khăn ấm lau chùi thật kỹ cái bộ phận mà y vừa hành lạc, còn nàng kia thì lo mặc y phục cho thiên tử.
Hốt-tất-liệt vừa đi khỏi thì một gã thái giám trẻ măng bước vào. Anh ta cúi lau máu me và các thứ dơ bẩn trên người thiếu nữ. Và đây không biết là lần thứ bao nhiêu anh phải làm việc này. Đặt tay lên ngực thấy còn hơi nóng và có tiếng đập phập phồng, biết thiếu nữ còn sống, nàng chỉ đau và sợ mà ngất đi.
Gã thái giám nghĩ vu vơ: thế là nát một đời hoa, tàn một đời con gái. Thân phận người này với thân phận ta nào có gì khác. Tự nhiên nước mắt gã cứ ứa ra và nhỏ xuống mặt người con gái khiến nàng bừng tỉnh. Nước mắt thái giám! Thật ra ở cái xứ này chưa ai nhìn thấy nước mắt thái giám. Có thể đây là người thái giám đầu tiên biết cảm thương trước bất hạnh của đồng loại, vì thế nó linh thiêng như một thứ thuốc hồi sinh làm cho thiếu nữ kia như được sống lại.
Thấy cơ thể mình đang lõa lồ trước mặt người con trai, thiếu nữ hốt hoảng ngồi dậy khép chặt hai đùi, mặt đỏ lựng.
Gã thái giám đứng lên nhặt chiếc áo khoác trùm lên vai thiếu nữ và nói:
- Nàng cũng tựa như nước Trung Hoa của chúng ta đã bị người Mông Cổ lột truồng, thử hỏi còn gì nữa để mà ngượng.
Đêm ấy thiên tử nhà đại Nguyên không ngủ được nhưng ông cảm thấy đầu óc minh mẫn lạ thường. Ông nằm ngửa mặt lên trần nhà hồi nhớ lại những chặng đường gian khổ cam go như khi đang vây đánh thành Tương Dương thì nghe tin thằng em hỗn láo tự mình lên ngôi đại Hãn, thế là phải đưa quân về trừng trị đứa em hư để giành lại ngôi đại Hãn. Kế đó là liên kết với nhà Tống diệt được nhà Kim rồi quay sang diệt Tống. Ta đã chinh phục cả bốn hướng đông tây nam bắc, không một quốc gia nào chống đỡ nổi. Tất cả các thành trì, các ngai vàng, vương miện đều sụp đổ dưới vó ngựa của ta. Thú thật trên cõi đời này ta không ham muốn gì hơn là quyền lực, và mọi thứ của cải đều không hấp dẫn ta bằng đất đai. Bởi một khi ta có quyền lực mạnh thì đất đai sẽ thuộc về ta, và có đất đai ta có tất cả. Vậy mà cái nước Giao Chỉ cỏn con kia dám vô lễ kháng mệnh ta. Hai lần cho quân sang trừng phạt vua tôi nó đều thoát hiểm, và đại quân của ta không gặp may nên phải rút về. Lần này ta thề nếu còn ta, còn Hốt-tất-liệt này ắt Giao Chỉ không tồn tại. Mà thôi ta đang nghĩ cái gì nhỉ. À, đúng là ta đang nghĩ xem có thể cử tướng nào coi quản việc tải lương trên biển đây. Người coi quản không chỉ tinh khôn, mưu trí, đởm lược mà còn phải thông thạo nghề biển, phải thuộc đường đi biển, am tường thủy triều và cả mùa gió. Người như thế hiện trong quân ta có ai? Hình ảnh hai tên cướp biển khét tiếng Trương Hiên, Chu Thanh hiện ra. Hai tên tướng cướp này với hai đảng cướp khiến quân ta phải đánh dẹp mãi không xong. Sau khi ta kêu gọi cởi giáp và mở lượng khoan hồng, chúng mới chịu ra đầu hàng. Từ đó mặt bể của ta yên ổn. Hai tên này đều được ta biệt đãi nên các lâu la khác phải tự tan. Nay hai kẻ đều có hai đứa con là Chu Tề và Trương Văn Hổ đều được ta trọng dụng. Chúng cũng có máu giang hồ như cha chúng và rất mẫn cán trong công việc tiễu trừ bọn cướp biển. Hốt-tất-liệt nhắm mắt hình dung ra hai đứa con tướng cướp xem nên chọn đứa nào.
Bỗng thiên tử ngồi nhỏm dậy ra bàn quơ lấy cây bút rồi viết luôn mấy chữ: “Trương Văn Hổ Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ”. Nhà vua sợ sáng ngủ dậy lại quên hoặc không còn muốn giao việc lớn này cho Trương Văn Hổ nữa. Không hiểu sao Hốt-tất-liệt rất tin vào những ý nghĩ xuất thần, hầu như đều có sự mách bảo của thần linh. Và vì vậy nó dễ đưa tới thành tựu. Vậy là nhà vua đã quyết việc chọn Trương Văn Hổ vào chức “Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ”.
Sớm ra, Hốt-tất-liệt sai triệu Trương Văn Hổ vào nội điện.
Trương Văn Hổ không biết thiên tử sai khiến việc gì nên trong lòng vừa mừng vừa lo. Lo nhất là có kẻ nào đàn hặc vì một chuyện vu vơ nào đó khiến thiên tử nổi giận, mạng sống ắt khó toàn.
Vừa bước lên bực thềm, y đã toan quỳ lạy và hô lời chúc vọng vào trong cung để lấy lòng thiên tử, và để lấy lại sự bình tĩnh. Nhưng y chưa kịp sụp quỳ, nội thị đã nói:
- Ông vào cung ngay đi, thiên tử đang chờ ông đấy.
Trương Văn Hổ mừng quýnh, bước đi mà hai chân như ríu vào nhau. Hậu điện sâu thăm thẳm, đang giữa mùa hè mà trong cung mát lạnh. Mới chớm nhìn thấy chỏm mũ của Hốt-tất-liệt, Trương Văn Hổ đã quỳ lạy đầu cán thềm điện tới ba lần rồi y tung hô:
- Thiên tử vạn tuế!
- Thiên tử vạn an!
- Thần, Trương Văn Hổ khấu kiến thiên tử!
Từ trong hậu cung vọng ra một giọng nói đầy quyền uy:
- Miễn lễ! Vào ngay đi, ta đang mong khanh.
Trương Văn Hổ được phép ngồi vào chiếc đôn có phủ tấm da hổ phía bên tả nhà vua.
Nhìn xoáy vào cặp mắt xếch của Trương Văn Hổ và gương mặt gân guốc của y, thiên tử nhà đại Nguyên lượng định: “Tên này gan góc, tàn bạo dám mạo hiểm”. Dường như yên tâm vì ngài chọn đúng người cần chọn, nhà vua nói:
- Đại quân sắp nam chinh bình Giao Chỉ, có một việc hết sức trọng yếu ta tìm mãi chưa được người tin cậy, đêm qua bỗng nhiên nhớ đến khanh, muốn trao công việc, chẳng biết khanh có dám nhận?
Trương Văn Hổ sụp ngay xuống thềm điện lạy:
- Tạ ơn thiên tử tin cậy, thần dù có phải xông pha nơi rừng thương, biển lửa vị tất đã báo đền được trọng ân, xin thiên tử cứ trao việc khó cho thần.
- Ta biết ngươi là người dũng, nhưng công việc ta sắp trao cho ngươi đòi hỏi phải có cả trí lẫn dũng mới đảm đương được. Ta hỏi ngươi, quân đi xa muôn dặm vào đất địch thì cái gì là cần yếu nhất?
- Tâu, lương thực ạ.
Trương Hổ trả lời mà không cần suy xét khiến thiên tử hài lòng.
- Đúng vậy! Khanh nói rất hợp ý ta. Vậy ta trao việc tải lương cho khanh. Nên nhớ, lần này ta quyết bình cho xong Giao Chỉ. Vì vậy quân viễn chinh sẽ huy động đông hơn cuộc bình Giao Chỉ năm Ất Dậu, và có thể quân ta còn phải ở lại lâu hơn, vì thế lương thực là thứ quan trọng hàng đầu. Ta giao cho khanh chức “Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ” trông coi đội quân tải lương gồm hơn bảy mươi thuyền lớn. Nếu đại quân sang đó, vua tôi nó đầu hàng, ắt nó phải lo việc cấp lương cho quân thiên triều, nhược bằng nó dám chống lại thiên binh, chắc việc quân lương sẽ có khó khăn, vì vậy đội quân tải lương của khanh phải luôn luôn đi lại trên mặt biển. Khanh sẽ gặp hai cản trở, một là gió bão, hai là quân giặc có thể phục kích cướp lương của ta.
Trương Văn Hổ vội thưa:
- Tâu thiên tử, ta đánh phương nam thường hay động binh vào mùa đông để tránh cái nóng và cả mưa lụt. Vậy mùa đó là mùa gió bắc rất thuận cho thuyền của ta đi về phương nam, mùa đó biển phương nam lại không có bão gió, thiên tử khỏi lo. Vả lại đường biển và thuật đi biển, thần có khiếu năng từ nhỏ. Thần xin lấy đầu ra cam kết sẽ hoàn thành trách phận thiên tử giao phó.
Hốt-tất-liệt có vẻ hài lòng:
- Ta biết khanh vốn con nhà nòi nên ta mới trao việc này cho khanh. Chớ hấp tấp coi thường thời tiết cũng như coi thường giặc để lương ta bị cướp, quân ta bị hãm lương, thì tội khanh lớn lắm đấy; tứ mã phanh thây vẫn còn là nhẹ. Nhưng mọi sự đều suôn sẻ trót lọt thì công của khanh cũng lớn lắm đấy.
Ngẫm nghĩ giây lâu Hốt-tất-liệt lại nói: - Để có người gánh đỡ công việc cho khanh, ta cho Phí Củng Thìn, Đào Đại Minh giúp rập. Khi vào Giao Chỉ, thuyền lương của khanh sẽ được mười hai vạn quân thủy của Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp bảo vệ. Nếu phải trở về nước chở lương lần thứ hai, chắc Trấn Nam vương cùng bình chương chính sự Áo-lỗ-xích sẽ cử quân đi hộ tống đoàn thuyền, khanh khỏi lo.
- Tâu thiên tử, để đại quân rảnh tay đánh giặc, thần chỉ xin năm ngàn quân Giang Nam cũng dư sức đánh bại giặc. Vả lại tâu thiên tử, quân Giao Chỉ loanh quanh vùng sông nước trong đất chúng thôi, chứ ra biển khơi thần sẽ dìm chết.
Hốt-tất-liệt nhìn Trương Văn Hổ mỉm cười, dường như nhà vua đã tạm hài lòng khi trao công việc hệ trọng cho y. Đoạn ngài thong thả dụ bảo:
- Ta biết cha con khanh vốn dòng hảo hán, nhưng lương thực là sự sống còn của một đạo quân. Hơn nữa ta cũng muốn nam chinh lần này là lần cuối, nên nhất nhất mọi việc đều phải cẩn trọng, tối cẩn trọng, khanh chớ coi thường quân thủy của người Giao Chỉ. Ngưng lại giây lâu thiên tử dụ tiếp: - Khanh hoàn tất công việc giúp Trấn Nam vương bình xong Giao Chỉ, ta sẽ thăng thưởng xứng đáng.
Trương Văn Hổ sụp lạy:
- Tạ ơn thiên tử ban trọng ân.
Thiên tử nhà đại Nguyên lo việc đánh Giao Chỉ lần này hết sức chu đáo. Qua hai lần chinh phạt vào các năm Đinh Tỵ (1257) và Ất Dậu (1285) quân thiên triều rốt cuộc bị hãm vào thế thất lợi đều phải rút về và số thiệt hại lần nào cũng tới quá nửa. Đó là điều thiên tử nhà đại Nguyên không thể nào chấp nhận được. Dưới gầm trời này có kẻ nào dám kháng mệnh thiên tử nhà đại Nguyên như xứ Giao Chỉ. Dưới gầm trời này có quan quân nước nào dám chống lại binh uy thiên tử nhà đại Nguyên như xứ Giao Chỉ.
Giao Chỉ dám cản đường binh uy thiên tử tiến xuống phương nam. Giao Chỉ là một cái gai trước mắt ta. Lần này ta phải nhổ phăng chiếc gai đó đi để đại binh ta thâu tóm Chiêm Thành, Chân Lạp, Lão Qua, Xiêm La, La Hộc… để dân chúng các nước đó được hưởng ân trạch của thiên triều.
Để làm việc đó ta đã lo chuẩn bị chu đáo cho Trấn Nam vương. Nhất là về mặt quân thủy, lần này ta cho đóng thuyền lớn thuyền nhỏ, bởi vì vào một xứ sông ngòi chằng chịt như Giao Chỉ mà ít thuyền bè là bất tiện. Chính sự bất tiện về thuyền bè và lương thảo như cuộc chiến năm Ất Dậu khiến quân ta lâm vào thế bất lợi. Mưa lớn lại gặp lúc triều cường, Hưng Đạo huy động cả chục vạn quân thủy bộ đánh vào trại thủy quân A Lỗ, khiến vạn hộ Lưu Thế Anh trở tay không kịp. Cũng từ đó quân ta gặp thất lợi liên tiếp buộc phải bỏ đất mà rút quân về.
Lần này quân thủy, thuyền bè và lương thực ta phải ra tay đốc thúc. Ấy cũng bởi ta muốn bình cho xong Giao Chỉ, ta muốn lấy đầu cha con Nhật Huyên và xem cái gan của Hưng Đạo nó như thế nào.
Hốt-tất-liệt không lúc nào quên chuyện đánh Giao Chỉ.
Bỗng nhiên an phủ sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt xin được dâng thiên tử mười lăm ngàn quân người Lê và một số thuyền bè để Trấn Nam vương bình Giao Chỉ.
Theo gương an phủ sứ Quỳnh Châu, tổng quản Nam Ninh là Tạ Hữu Khuê, tổng quản Diên Lan là Bồ Tý Thành, hai người dâng thiên tử một trăm hai mươi chiếc thuyền và một ngàn bảy trăm quân nữa.
Hốt-tất-liệt lấy làm đẹp lòng bởi các bề tôi trung thuận, liền ban hổ phù cho Trần Trọng Đạt, kim phù cho Hữu Khuê và Tý Thành.
Thiên tử cho như vậy là thế quân đã nổi, nhà vua bèn tuyên triệu các tướng trong “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” về triều để ngài hỏi han việc chuẩn bị và định ngày xuất chinh.
Các tướng về chầu theo chiếu chỉ của thiên tử, không một người nào dám chậm trễ hoặc vắng mặt. Thoạt đầu là Trấn Nam vương Thoát-hoan thống lĩnh chư quân. Tiếp đó là bình chương chính sự Áo-lỗ-xích phó đô thống, giúp rập mọi việc chinh thảo cho Thoát-hoan. Tham tri chính sự Ô-mã-nhi; tham tri chính sự Phàn Tiếp; hữu thừa A-ba-tri; hữu thừa Trịnh Bằng Phi; tả thừa A-ly… tất cả đều dưới trướng Thoát-hoan. Tuy không phải là hàng quan cao được ở dưới trướng Trấn Nam vương, nhưng giữ việc vận lương là bộ phận huyết mạch của đại quân, nên thiên tử đặc cách cho Trương Văn Hổ tham dự việc quân.
Thoát-hoan tâu báo đã điều động xong các chủng quân mã, bộ, thủy còn lương thực cũng đưa hết về các kho trên hai cảng Khâm, Liêm chỉ chờ thiên tử hạ chiếu là xuất chinh.
Thiên tử gật đầu tỏ vẻ hài lòng. Đoạn nhà vua quay về phía Trương Văn Hổ hỏi:
- Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, bao giờ thì khanh cho xếp lương thực xuống thuyền, có sợ trễ không?
Trương Văn Hổ vội quỳ thưa:
- Tâu thiên tử, thần chỉ xin ba ngày trước khi xuất chinh để xếp lương thực và cho thuyền rời bến là đủ. Thần không dám tự tiện cho lương thực xuống thuyền trước, nhằm tránh gió bão bất thường, bởi hiện thời vẫn chưa hết mùa gió bão.
- Khanh trù liệu như vậy rất hợp ý quả nhân.
Được vua khen, Trương Văn Hổ lại cúi rạp đầu lạy tạ:
- Đội ơn thiên tử ban trọng ân, thần nguyện đem hết sức trâu ngựa để đền đáp.
Hốt-tất-liệt nhìn tả hữu tỏ vẻ hài lòng liền ân cần dụ bảo:
- Ta sẽ sai Tư thiên giám coi ngày tháng để xuất chinh, nhưng cũng phải đợi sang mùa đông. Mùa đông thuận cho quân ta nhiều lắm. Trước hết tránh được cái nóng, ẩm của phương nam, vì thế người, ngựa đều hợp với sở trường. Thứ đến là việc tải lương và quân thủy của ta tiến vào Giao Chỉ vừa hết mùa gió bão, lại đúng mùa gió bắc, nếu căng buồm mà đi, chắc còn nhanh hơn cả sức ngựa.
Thiên tử đưa mắt nhìn tới từng viên tướng và với tất cả sự nghiêm cẩn, ngài dụ:
- Các tướng hãy nghe đây. Lần này ta cho đại binh cùng các tướng tài tâm phúc của ta đi bình Giao Chỉ, ta chắc mọi việc sẽ xong sớm, nhưng chớ thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà tỏ ra coi thường. Ta biết các tướng phần nhiều đã qua chiến trường Giao Chỉ trở về mới cách đây chưa đầy hai năm.
Ngẫm nghĩ giây lâu thiên tử lại dụ: - Các khanh phải viết ngay vào vạt áo lời ta dặn: “Chớ thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”.
Các tướng đều hô vang:
- Tuân chỉ! Mọi người đều ra phía thư phòng ghi lời thiên tử dụ bảo vào vạt áo.
Các tướng đều cảm nhận việc đánh Giao Chỉ lần này là một sứ mệnh vô cùng thiêng liêng mà thiên tử tin cậy giao phó.
Tiếp đó thiên tử thết yến tại điện Sùng Trinh. Hốt-tất-liệt cho Thoát-hoan và Áo-lỗ-xích ngồi ở hai bên tả hữu. Nhà vua nhắc lại với hai viên tướng những điều thường dụ bảo. Lại nói riêng với Áo-lỗ-xích rằng: “Ngày trước bọn Mộc-hoa-lê[36] tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn lưu truyền bất hủ. Khanh gắng lên, há không vẻ vang như người xưa sao”.
Biết Áo-lỗ-xích là một viên tướng trí dũng không kém A-lí Hải-nha, nên nhà vua đặt lòng tin vào y. Ngài khích lệ: “Hình như năm trước ta đã cho Thoát-hoàn Bất-kha[37] trưởng tử của khanh tập chức Vạn hộ, chẳng hay khanh có hài lòng?”.
Áo-lỗ-xích vội sụp lạy:
- Đội ơn thiên tử đã ban trọng ân cho cha con thần chứ thực Thoát-hoàn Bất-kha đã có công lao gì với triều đình. Ơn này, cha con thần dù có gan nát, óc lầy cũng chưa thể báo đáp.
Hốt-tất-liệt vỗ về:
- Đánh Giao Chỉ lần này, ta mong khanh lập được công cao, tên lưu sử sách, làm rạng danh tổ phụ, để ân trạch cho con cháu mai sau. Bình xong Giao Chỉ, ắt các nước đông nam liền kề Giao Chỉ, ta không gọi cũng phải đến xin nội thuộc. Xong các việc đó, ta cũng thảnh thơi, vua tôi cùng hưởng phú quý. Còn một điều nữa ta phải dặn thêm các khanh, lần này đưa Trần Ích Tắc và những kẻ quy hàng thiên triều về nước. Bình xong Giao Chỉ, cho Ích Tắc làm quốc chủ, nhưng phải ưu ái sắp đặt những kẻ đã có công với thiên tử, chớ để một mình Ích Tắc chuyên quyền.
Chẳng riêng gì Áo-lỗ-xích mà các tướng nghe được lời tâm huyết của thiên tử đều rưng rưng cảm động. Ai nấy đều tự hẹn với mình phải gắng lập công để làm đẹp lòng thiên tử.
Chợt Hốt-tất-liệt lại dụ:
- Một lần nữa ta nhắc nhủ các khanh, chớ ỷ lại vào binh uy hùng mạnh mà coi thường kẻ địch. Muốn thắng giặc thì lúc nào cũng phải coi giặc ngang sức hoặc hơn sức ta, và phải đánh thắng ngay từ trận đầu để lấy khí thế cho quân.
Các tướng đã ngà ngà say, đồng thanh hô:
- Tuân chỉ!
Hốt nhiên, thiên tử lại hỏi:
- Năm ngoái, ta đã nghe các khanh tâu báo, nay sắp xuất chinh, ta muốn nghe lại một lần nữa về võ khí của bên ta, bên giặc, bên nào hơn. Ta nghe nói Giao Chỉ có viên thượng thư bộ Công, đỗ trạng nguyên năm mười ba tuổi, có tài chế tác nhiều loại khí cụ tinh xảo lắm, liệu y có gây cản trở gì cho quân ta không?
Thoát-hoan đưa mắt cho Áo-lỗ-xích.
Ngầm biết Trấn Nam vương sai, Áo-lỗ-xích bèn thưa:
- Tâu thiên tử, thần xin tâu báo rạch ròi để thiên tử yên tâm. Hiện nay về binh lực kể cả hai quân thủy bộ, Giao Chỉ có mười vạn tên. Đây là số quân đã được huấn hỗ theo Hưng Đạo binh pháp. Ngoài ra Giao Chỉ còn khoảng hai chục vạn quân ô hợp là loại nông phu được tập tành qua loa để biết sử dụng các loại binh khí như giáo, mác, đinh ba, mã tấu hoặc các loại cung nỏ. Tâu, loại này nó gọi là dân binh, còn loại của triều đình nó gọi là thường binh. Ngoài ra còn có khoảng năm ngàn quân bảo vệ cấm thành gọi là quân cấm vệ cùng với một vạn quân bảo vệ kinh thành gọi là quân Tứ sương. Tâu, các vương, hầu cũng được phép lập phủ binh, nhưng mỗi phủ binh ấy lúc thường chỉ có vài ba trăm tên, khi có biến thì tập hợp được một hai ngàn tên là cùng. Loại này cũng là một thứ điền binh hoặc dân binh không thể so với loại thường binh hoặc quân cấm vệ được.
Về các sắc quân, người Giao Chỉ cũng chia ra: quân thủy, quân bộ, quân kỵ và tượng binh.
- Ta nghe nói thủy binh và tượng binh của Giao Chỉ lợi hại lắm có đúng không? Hốt-tất-liệt hỏi.
- Tâu, người Giao Chỉ thường dùng voi vào việc vận chuyển. Họ có một đội tượng binh gồm ba trăm thớt voi và năm ngàn người. Tâu, nếu ba trăm thớt voi cùng xông trận một lúc chắc cũng gây kinh hoàng cho đối thủ. Tuy nhiên voi to lớn chậm chạp, vả lại đất Giao Chỉ hẹp thuần rừng núi, sông nước không có nơi nào bằng phẳng quang đãng có thể bày được trận lớn. Như cuộc chiến năm Ất Dậu mới đây, Giao Chỉ cũng chưa đem voi vào trận. Còn như quân thủy của họ thì chỉ có thuyền nhỏ, số quân không quá hai vạn. Đúng là người Giao Chỉ bơi lặn giỏi nhưng cũng chỉ quanh quẩn nơi sông hồ chứ chưa đủ sức xông pha ngoài biển lớn. Hơn nữa quân thủy của ta lần này đưa vào trận trên mười hai vạn, lính thuần lấy trong vùng Giang Nam và Quỳnh Châu cũng là loại dân quen thạo mặt nước như loài rái cá.
Tâu thiên tử, nếu đối trận thì quân thủy của ta sẽ nhanh chóng đè bẹp quân thủy của họ chỉ trong giây lát. Còn như họ đem cả ba trăm thớt voi vào trận, ta sẽ đem ba ngàn chiến mã với các kỵ sĩ Mông Cổ với cách đánh vu hồi, thì ba trăm thớt voi kia chẳng hơn gì ba trăm con trâu thịt để ta khao quân.
- Thế còn khí giới thì sao?
- Tâu thiên tử, khí giới thì đại để hai bên đều na ná như nhau. Ví như ta có cung, họ cũng có cung. Nhưng cung của ta do các kỵ sĩ Mông Cổ sử dụng thì không một người Giao Chỉ nào đủ sức giương cung ấy. Kỵ sĩ Mông Cổ vừa phi ngựa vừa bắn, mũi tên có thể xuyên thủng cả thân cây chuối lớn, còn như cung của Giao Chỉ là để bắn chim sẻ.
Tâu, còn như khí giới tinh xảo thì bên ta có cung Thần ty bắn một phát được mười hai mũi tên trùm phủ lên người quân giặc, có khi giết tới mấy tên giặc cùng một lúc. Nếu như dùng tên tẩm độc thì khả năng sát thương còn cao hơn nhiều. Phía Giao Chỉ họ cũng có nỏ Liên châu bắn một phát sáu mũi tên.
- Ta nghe nói Giao Chỉ đã có nỏ bắn tên bằng đồng kia mà.
- Tâu thiên tử, đúng như vậy, nỏ Liên châu của Giao Chỉ có hai rãnh lắp tên. Một rãnh lắp tên tre, một rãnh lắp tên đồng. Nhưng Giao Chỉ hỗn xược cũng bắt chước ta dùng tên tẩm độc. Tên độc của Giao Chỉ là loại kịch độc, nếu đã trúng tên ấy thì không có thuốc nào giải được. Ví như cái chết của quan hữu thừa Lý Hằng trong cuộc chiến năm Ất Dậu mà chính Trấn Nam vương đã chứng kiến là một bằng cớ, mặc dù Lý tướng quân đã được uống thuốc giải cực mạnh của quân ta vẫn không cứu được sinh mạng ông ấy.
Tâu, vết thương của Lý tướng quân chỉ xây xước nhẹ nơi đầu gối chứ có phải chạm vào lục phủ ngũ tạng gì đâu, vậy mà vẫn không cứu nổi.
Tâu thiên tử, đó chỉ là lúc quân ta rút đi, giặc bắn lén chứ lần này đại quân của ta kéo sang thủy bộ trùng trùng điệp điệp, giặc kia sao còn dám đối đầu nữa[38].
Nghe Áo-lỗ-xích tâu báo, gương mặt thiên tử nhà đại Nguyên không biểu lộ một ánh vui, buồn nào. Một lát sau vua phán:
- Sức mạnh của quân ta đúng như khanh nói. Song ta vẫn cảm thấy trong tâm can óc não khanh có cái vẻ coi thường giặc. Khanh mở vạt áo ra, đọc lại ta nghe các điều khanh vừa ghi ban nãy.
Giữa tiệc yến, phó đô tướng quân chinh Giao Chỉ phải đứng thẳng người mở vạt áo ra đọc to lời thiên tử răn: “Chớ thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” khiến các quan sợ len lét.
Điều đó chứng tỏ Hốt-tất-liệt đánh giá đúng trận thua năm Ất Dậu mà con trai y là Thoát-hoan cũng suýt chết, và y rất thận trọng trong việc đánh Giao Chỉ lần này. Điều đó cũng chứng tỏ y rất cay cú và quyết diệt gọn vua tôi nhà Trần trong trận chiến sắp tới mà y đã chuẩn bị rất kỹ càng từ mấy năm nay.
Các tướng đều thuộc loại hùm sói dạn dày chiến trận, và hầu hết đã theo Thoát-hoan vào đánh Đại Việt năm Ất Dậu mới đây, tuy nhiên không một tướng nào không sợ uy của Hốt-tất-liệt. Thấy phó đô tướng chinh Giao Chỉ phải mở vạt áo đọc từng chữ như mấy đứa trẻ con mới học Tam tự kinh các tướng đều thấy thiên tử hết sức coi trọng việc phải bình xong Giao Chỉ lần này, ai nấy đều tâm niệm phải thắng!
Nhìn khắp lượt các tướng trong đạo quân nam chinh thấy khí sắc mọi người đều có vẻ hăm hở, Hốt-tất-liệt thiên tử nhà đại Nguyên lấy làm hài lòng, nhà vua liền dụ:
- Sở dĩ nhiều lần ta căn dặn các tướng phải thận trọng, bởi đây là một việc lớn trong các việc tiếp theo của ta. Nếu bình xong Giao Chỉ, ta mới thu phục được cả chục nước phía nam kế tiếp với nó. Sở dĩ ta phải dặn các khanh không được thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà coi thường, là bởi năm Ất Dậu ta sai các khanh đi bình Giao Chỉ, công việc chưa xong đã phải rút quân về. Ngay năm Bính Tuất ta định sai quân sang làm cỏ vương đình nước nó bắt vua nó về trị tội, nhưng trong nước mấy tỉnh Giang Nam mất mùa nên tuyên úy ty Hồ Nam, an phủ sứ Hồ Quảng đứng ra xin tạm hoãn việc động binh. Lại nữa Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên cũng có sớ can khiến ta không thể bỏ ngoài tai. Qua mấy năm Giao Chỉ chắc đã lại sức và chắc nó sẽ ngoan cố ương gàn hơn trước, và vậy ta phải dụ bảo các khanh chớ vì khinh thường giặc mà làm lỡ việc lớn của ta.
Thấy nhà vua có vẻ băn khoăn day dứt việc bình Giao Chỉ, các tướng đồng thanh hô:
- Chúng thần phụng mệnh, thiên tử an lòng!
Hốt-tất-liệt hé nửa nụ cười.
CHƯƠNG 8
Gần cuối tháng tám năm Đinh Hợi (1287) được tin ngoại gián báo về: “Quân Nguyên từ khắp nơi kéo về tập trung tại Ngạc Châu (Hồ Bắc) để từ đó tiến vào Đại Việt…”, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương lập tức lên ngựa về triều tâu báo với thượng hoàng và quan gia.
Dù đã biết trước sau Hốt-tất-liệt cũng tái xâm lăng nước ta, và đã có trù liệu binh lực để kình chống giặc dữ ngay từ khi mới đuổi nó ra khỏi bờ cõi từ tháng sáu năm Ất Dậu, vậy mà bây giờ nghe tin giặc lại kéo sang, vua Thánh tông không khỏi bàng hoàng. Nhà vua lặng người đi giây lát rồi quay hỏi Hưng Đạo:
- Giặc Bắc lại sang, đánh đuổi chúng thế nào đây Quốc công?
Quốc Tuấn điềm đạm đáp:
- Tâu, kim niên tặc nhàn! (Năm nay đánh giặc sẽ nhàn nhã hơn).
- Anh Quốc Tuấn nói vậy là ý làm sao? - Thánh tông hỏi tiếp.
- Tâu hoàng thượng là bởi mới cách đây vài năm ta đã đánh bại giặc. Tất cả các chủng quân của giặc không có chủng quân nào không bị thiệt hại tới non nửa hoặc quá nửa. Riêng quân thủy của nó bị tiêu diệt hoàn toàn, Toa-đô bị chém đầu, Ô-mã-nhi, Lưu Khuê tranh cướp thuyền nhỏ của quân nó để trốn nhanh ra biển, Tiểu Lý thấy khó thoát liền đâm cổ tự tử, thượng hoàng đã sai người cứu chữa cho y thoát chết, còn quan gia cởi áo khoác đắp cho Toa-đô.
Tâu, lần này vào xâm lấn cõi bờ ta, vẫn những viên tướng thua trận cũ, vẫn đội quân còn sống sót nay được bổ sung thêm. Đem một đội quân bại trận, nỗi sợ hãi còn ám ảnh đến khiếp nhược đi đánh một đạo quân vừa thắng nó, thời trong tâm tưởng nó đã ẩn chứa sụ thủ bại rồi. Tâu bệ hạ, còn như về phía quân ta và cả dân ta vừa trải qua một chiến thắng lẫy lừng, tinh thần chiến đấu cũng như ý chí bảo vệ non sông còn đang hăng hái, thử hỏi giặc nào mà không bị đánh bại.
Ngưng lại giây lát, Hưng Đạo lại tiếp:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, thần nói: “Kim niên tặc nhàn” là nói về cái thế của ta nó nhàn nhã bởi ta đã biết mưu giặc, biết sức giặc chứ không như cuộc kháng giặc năm Ất Dậu, thế của ta là thế ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc nên ta hết sức vất vả, mệnh nước tưởng như khó toàn. Còn như khi đã lâm trận đánh giặc thì không thể nhàn được, vẫn là cuộc đọ trí, đọ sức khốc liệt. Vả lại không phải giặc đến đây để chịu thua, mà là giặc có ý phục thù, rửa hận. Tâu, đó chính là mưu toan của Hốt-tất-liệt, cho nên trận này là trận quyết đấu sinh tử của y.
Thượng hoàng Trần Thánh tông thấy đã yên lòng liền giục Trần Nhân tông:
- Vậy thời quan gia cho triệu các bề tôi tâm phúc về bàn kế phá giặc ngay đi.
- Tâu, con đã cho triệu, có nhẽ phụ hoàng cùng bá phụ vừa dùng trà vừa bàn chuyện, nán một lát, các quan sẽ tới.
Quả nhiên chỉ chưa đầy một khắc canh giờ thì các quan lục tục vào chầu. Thoạt tiên là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, quyền tướng quốc Tá Thiên vương Trần Đức Việp, phiêu kỵ phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư.
Vừa an tọa xong Tá Thiên vương đã vội nói:
- Tâu phụ hoàng, tâu quan gia, năm ngoái ta cử hai chánh phó sứ Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh sang nhà Nguyên cống phương vật, giặc giữ sứ ta lại không cho về, thế mà năm nay thúc phụ lại hối thúc con phải cử sứ bộ sang cống tiếp, trong khi Hốt-tất-liệt sắp đánh ta rồi.
Thượng hoàng Thánh tông nhìn Quang Khải rồi nhìn Đức Việp, ngài mỉm cười:
- Thúc phụ dạy con như thế rất hợp ý ta. Dù giặc sắp vào cõi như năm Ất Dậu mà ta vẫn hai ba lần sai sứ sang Kinh Hồ xin hoãn binh, lại khi giặc đã vào cõi, ta vẫn cử sứ vào trại giặc xin nó lui binh. Chắc chắn rằng giặc sao có thể nghe ta. Song đó là ta chủ tâm làm cho giặc sinh lòng kiêu mạn coi thường quân ta, từ đó giặc nảy sinh sơ hở khiến quân ta dễ đánh. Vậy chớ con đã cử ai đi sứ chưa?
- Bẩm, các quan khởi xuất hai ông thiện trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn và thông thị đại phu Lê Trọng Khuê làm chánh phó sứ đi cống phương vật năm nay.
- Hai người này thế nào quan gia? - Thượng hoàng Thánh tông hỏi.
Nhân tông vội đáp:
- Tâu, hai người học thức cao, vừa thông tuệ mưu lược vừa biện bác giỏi, lại nói được tiếng của giặc, đây là hai người có tư chất trung dũng thật đáng tin.
- Vậy thời chuẩn bị gấp cho sứ đoàn lên đường trước khi giặc vào cõi bờ ta.
Khi mọi người đã tề tựu đầy đủ, vua Nhân tông lên tiếng:
- Xin bá phụ cho nghe tình hình giặc sắp vào xâm lấn.
Hưng Đạo vương đưa hai tay lên rờ chiếc khăn trùm đầu xem lại mối giắt đã chặt chưa, kiểm lại cổ áo có ngay ngắn rồi ông đưa năm đầu ngón tay vừa vuốt vừa chải chòm râu dài trước ngực, vứt miếng bã trầu vào ống nhổ, đoạn ông kéo chiếc tráp gỗ nhỏ như chiếc khay trầu, xoay cho ngay ngắn và mở nắp lấy ra một cuốn sổ đặt trên mặt tráp. Nhìn hai vua, nhìn khắp các chư tướng, quốc công lên tiếng:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia cùng chư vị, theo tin tức ngoại gián của ta thu được thì giặc đang điều động quân các nơi về tập trung tại Ngạc Châu. Tin nói từ cuối tháng tám, nay đã cuối tháng chín, có nhẽ giặc đã lên đường. Cũng như năm Ất Dậu, giặc vào đất ta ước tính khoảng trung tuần tháng một[39] hoặc đầu tháng chạp.
Tâu thượng hoàng, các nơi hiểm yếu, thần đã sai các tướng lão luyện trấn giữ. Thần xin nói tiếp về lực lượng giặc. Phải nói, lần này Hốt-tất-liệt chuẩn bị rất công phu, bài bản. Y mới đích thực là người hoạch định kế sách đánh Đại Việt, còn cái gọi là “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” chỉ là cơ quan thực hiện việc điều động các chủng quân, khí giới, lương thảo cho đội quân viễn chinh theo ý đồ của Hốt-tất-liệt mà thôi.
Tâu, ngay các tướng soái đặt dưới quyền sai khiến của Thoát-hoan đều là những danh tướng kiệt hiệt nhưng đường hướng tiến quân và kế sách xâm lăng đều phải tuân theo các dự mưu do Hốt-tất-liệt bày sắp cả.
Khác với lần xâm lăng năm Ất Dậu, lần này giặc chuẩn bị thuyền bè và quân thủy hết sức quy mô. Số chiến thuyền Hốt-tất-liệt sai các tỉnh Hồ Quảng đóng dư sáu trăm chiếc, các tỉnh dâng nạp thêm cũng được vài ba trăm chiếc, ấy là chưa kể số thuyền chiến cũ vẫn còn dùng được cũng tới vài ba trăm chiếc nữa. Riêng đội quân thủy được điều vào Đại Việt lần này đã lên tới trên mười hai vạn do tham tri chính sự Ô-mã-nhi làm đô nguyên súy, tham tri chính sự Phàn Tiếp làm phó đô nguyên súy.
Chiêu một hụm nước, Trần Hưng Đạo lại nói tiếp: - Tâu, giặc thất bại năm Ất Dậu có nhiều nhẽ, trong đó có một nhẽ quan yếu là giặc luôn ở trong tình trạng thiếu lương. Vì vậy lần này giặc bổ cứu bằng cách chuyển tải lương thực bằng đường biển vừa được nhiều vừa đỡ tốn sức người. Vả lại chuyển đủ lương thực nuôi đội quân năm, sáu chục vạn người trong nửa năm phải dùng tới vài ba triệu binh phu gồng gánh mang vác, vừa cồng kềnh phức tạp vừa rủi ro trắc trở. Hốt-tất-liệt trù liệu tới bảy mươi thuyền lớn có thể chở được trên dưới bốn mươi vạn thạch thóc gạo mỗi lần.
- Thật là xảo quyệt! Trần Thánh tông nói chen vào. Và ngài tiếp: - Không thể coi thường những toan tính độc ác của con sói già Hốt-tất-liệt. Quả là lần này y muốn dứt Đại Việt ta. Vậy thử bàn xem, triệt phá giặc bằng cách nào đây.
Chiêu Minh vương thượng tướng Trần Quang Khải liền nói:
- Tâu, chúng thần đã bàn đánh giặc lần này thuận hơn, vì quân dân ta đã trải qua thử thách, còn quân giặc lại vừa bại trận chắc chửa hoàn hồn.
Biết chỗ yếu của mình, nên lần này Hốt-tất-liệt trù liệu khá công phu, bài bản như anh Quốc Tuấn vừa nói. Về phía ta cũng đã chuẩn bị cho cuộc chiến này từ khi vừa đuổi được giặc ra khỏi bờ cõi. Hiện nay tinh thần quân dân trong cả nước đều bình tĩnh đón đợi giặc vào là đánh chứ không bỡ ngỡ, hoang mang như lúc mới bắt đầu cuộc chiến năm Ất Dậu.
Và nếu đúng như anh Quốc Tuấn phán đoán, cuối năm giặc mới vào đến biên thùy, thì ta còn những ba tháng nữa để bổ cứu những gì ta thấy còn khiếm khuyết. Vả lại cuối năm giặc mới vào là giặc lấy thời tiết khí hậu để tăng sức mạnh sở trường của nó. Ta sẽ có cách chế khắc nó, năm Ất Dậu ta đã chẳng cản được bước tiến của giặc và gây cho nó nhiều thiệt hại đến nỗi nó không thể phát tác được sức mạnh của nó, kể cả kỵ binh. Tới đây, anh Quốc Tuấn sẽ tâu báo kế phá giặc để thượng hoàng và quan gia xem xét.
Sau khi nghe một số điều từ bá phụ và thúc phụ nói, vua Nhân tông bèn lên tiếng:
- Thưa phụ hoàng, thưa bá phụ và thúc phụ, như vậy là giặc tính kế ở lâu dài với mục đích đánh bại nước ta, lập ra một nhà nước tay sai của nó. Rồi lấy nước ta làm bàn đạp chinh phục nốt mấy nước phương nam. Do đó ta phải tìm kế phá cho bằng được mưu giặc ngay từ khi nó mới đặt chân vào cõi bờ ta.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư xin nói:
- Tâu, quan gia bảo phải phá mưu giặc từ khi nó mới đặt chân vào cõi bờ ta, thần xin hiến kế.
Khánh Dư ngừng lại chờ xem ý bề trên, trong khi mọi người lại nóng lòng muốn biết kế của ông.
Thượng hoàng giục:
- Nhân Huệ vương mau nói kế của đệ phá giặc như thế nào.
- Tâu, cứ xem cung cách Hốt-tất-liệt trù hoạch, quả thâm ý của y lần này quyết dứt mệnh nước Nam ta, nên y bổ khuyết hai việc yếu nhất của quân nó đã bộc lộ năm Ất Dậu. Tức là lương thực và quân thủy. Ta biết chắc nó vận lương bằng đường thủy ắt quân nó và lương nó phải phát xuất từ cảng Khâm Châu rồi qua cửa Vạn Ninh và mũi Ngọc Sơn của ta mà vào Vân Đồn, Hạ Long để vào Bạch Đằng giang ngược lên Vạn Kiếp. Cũng có thể giặc qua cửa An Bang hoặc cửa Đại Bàng nhưng rốt cục đều vào Bạch Đằng để tiến chiếm Vạn Kiếp hội với quân bộ của chúng để vào Thăng Long.
Ngưng lại giây lát, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nói tiếp: - Vậy tại sao ta không tập trung binh lực để chặn đánh suốt chặng đường dài hàng nghìn dặm đó để tiêu hao sinh lực trọng yếu của giặc.
- Đó chính là trách phận của vương. - Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương nói xen vào. Tuy nhiên Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp là những danh tướng lão luyện được Hốt-tất-liệt tin cậy trao trọng trách dẫn hơn mười hai vạn quân với bảy trăm chiến thuyền không dễ gì bọn y lơ là việc bảo vệ hơn bảy mươi thuyền lương, là nguồn sống độc nhất của một đạo quân hơn nửa triệu người để ta có thời cơ tiêu diệt nó. Song nếu ta biết vờn giặc, biết cách thua như cuộc chiến năm Ất Dậu thượng tướng Chiêu Minh vương đã dụ được Toa-đô từ Thanh Hóa ra Trường Yên, cũng tức là ta bẻ được một gọng kìm, tới khi Thoát-hoan nhận ra mưu ta, sai Toa-đô đánh ngược lại chiếm Thanh Hóa thì đã bị Chiêu Minh vương chẹn cứng. Giặc lúng túng đi ứng cứu cho nhau để rồi Toa-đô mãi mãi là con ma không đầu trên đất ta, còn Ô-mã-nhi thì trốn chạy ra biển và nay mai y sẽ dẫn đạo quân thủy hùng mạnh vào đất ta.
- Lừa được tướng giặc đã từng xông pha trăm trận là việc cực khó. - Chiêu Minh vương Trần Quang Khải nói. - Ngày ấy anh Quốc Tuấn giao trọng trách phải đánh địch như thật và phải thua thật, nhưng không để thiệt hại nhiều cho quân ta và không để cho địch biết là ta thua vờ. Toa-đô là một tướng lão luyện, còn mình thì lần đầu tiên đánh giặc mà dụ được giặc vào kế của mình tưởng khó như đường lên trời. May thay non sông còn vượng khí lại được liệt tổ hộ trì mới biến cải được thế trận mau lẹ như vậy.
Mọi người tham bàn thật sôi nổi, nhưng xem ra không có một ý nào bàn lùi như trong Đại hội Bình Than năm Nhâm Ngọ. Thượng hoàng Thánh tông lấy làm đẹp ý, ngài liền dụ:
- Ta xem các tướng đều có mưu phá giặc cả, biết sức giặc, liệu sức ta ấy là điều căn cốt của nghiệp làm tướng. Nhưng chớ thấy ta vừa thắng giặc vài năm trước mà tỏ ra khinh giặc ắt sẽ bị giặc đánh bại. Bây giờ xin Quốc công cho trẫm nghe kế phá giặc.
Cung Thánh từ vốn đã tĩnh lặng, nay lại càng thêm tĩnh lặng. Sau khi nghe lời dụ của Thượng hoàng Thánh tông thì từ vua Nhân tông đến các quan hết thảy đều đổ nhìn về phía vị tướng già - Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, người vừa cứng cỏi vừa mưu lược đã đánh bại cuộc xâm lăng với quy mô rộng lớn và tàn ác chưa từng thấy của tên cáo già Hốt-tất-liệt ngạo xưng là thiên tử nhà đại Nguyên.
Hưng Đạo thong thả lật mở cuốn sổ đặt trên mặt tráp rồi điềm đạm nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, thưa chư vị, kế sách phá giặc lớn nhất của Đại Việt ta là toàn quân đánh giặc, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, núi non, sông suối rừng cây, biển đảo tất tận thảy đều đánh giặc và trên từ nhà vua dưới đến bách tính đều muôn người như một quyết tâm đánh giặc để giữ gìn cương thổ, bảo vệ giống nòi, thà chết chứ không chịu khuất phục giặc. Tâu, đó là kế sách lớn nhất để giữ nước, và cuộc chống quân xâm lược nhà đại Nguyên năm Ất Dậu, nhờ áp dụng kế sách này mà Đại Việt ta đã đuổi được giặc, giữ yên bờ cõi.
Tới nay, xét ra không kế nào hay hơn kế đó. Còn như để đánh bại đạo quân khổng lồ kia lại tùy thuộc vào việc nó triển khai thế trận ra sao ta mới tùy nơi, tùy lúc, tùy thời mà ứng phó. Còn khi đánh giặc phải tỉnh táo. Phải tránh mạnh đánh yếu. Phải tránh khi quân giặc tập trung mà đánh khi chúng phân tán. Vì vậy phải kéo địch về mọi phía khiến quân nó phải tản ra để giữ đất, lực nó sẽ mỏng dần. Khi giặc đã phân tán thì ta dễ đánh hơn, thậm chí ngay cả dân binh cũng có thể đánh lại chúng. Và ta phải chủ động quấy rối giặc sao cho đêm đêm chúng không thể ngủ yên, còn ban ngày hễ ra khỏi nơi đóng quân là bị dân binh chặn đánh hoặc bắn tỉa khi chúng đi cắt cỏ ngựa, chúng vào thôn ấp lùng sục thóc gạo, trâu bò, gà lợn. Tức là phải cho giặc thấy đi về bất cứ hướng nào, đụng vào bất cứ thứ gì cũng là đụng tới cái chết. Và như vậy thì ngoài việc chặn đánh còn phải dạy cho dân binh, hương binh giăng bẫy từ trên cao đến mặt đất, trong lòng đất và toàn dân phải thực hiện triệt để kế “thanh dã”.
Ngưng lại giây lâu, Hưng Đạo sai căng tấm bản đồ vẽ trên nền vải lên tường đại sảnh.
Thượng tướng Trần Khánh Dư vừa giúp Quốc công treo xong bản đồ liền đưa cho ngài chiếc que dài chừng một sải tay.
Đứng trước bản đồ ta thấy một người oai phong lẫm liệt, mắt sáng, râu dài, lông mi bạc trắng vẻ mặt nghiêm cẩn. Tựa như Quốc công đang chỉ huy một trận đánh lớn, ngài nói, giọng sang sảng:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia năm nay giặc vào hẳn sẽ đi theo các đường sau đây. Ngọn roi ngài chỉ vào nơi có tên Thiện Xiển và nói: - Giặc sẽ xuất phát từ Thiện Xiển trên đất Vân Nam rồi theo đường Quy Hóa giang mà vào nước ta. Hẳn là giặc sẽ đi theo cả hai đường thủy bộ xuôi về Bạch Hạc. Lại từ Bạch Hạc chúng có thể lấy sông Phú Lương để tiến chiếm Thăng Long. Tuy nhiên, đây không phải là cánh quân chủ yếu, nên chúng không đủ sức vào Thăng Long mà có thể nó sẽ là một mũi đánh về Vạn Kiếp.
Tiếp đó đầu que lại chỉ vào chữ Tư Minh rồi kéo thẳng sang Vĩnh Bình đều nằm trên đất giặc, ngài nói: - Giặc sẽ tập hợp đại lực lượng ở đây để tiến vào nước ta. Sẽ có một cánh quân từ Vĩnh Bình tiến vào Khâu Ôn lấy đường thiên lý tiến chiếm ải Lão Thử (Chi Lăng). Cánh quân này có thể tiến thẳng về Thăng Long, nhưng có nhẽ nó sẽ về hội tại Vạn Kiếp. Rồi Quốc công đẩy đầu que ngược về Tư Minh: - Tại đây sẽ có một cánh quân nữa đánh vào Lộc Châu quặt sang cướp ải Khả Ly qua đường Động Bản (Sơn Động) chiếm ải Nội Bàng rồi băng về Vạn Kiếp, chắc đây sẽ là cánh quân lớn nhất.
Đầu que lại giật về phía đông và dừng lại nơi chữ Khâm Châu của tỉnh Quảng Đông là nơi giặc tập trung quân thủy, Quốc công nói: - Khoảng hơn mười hai vạn quân thủy với hơn bảy trăm chiến thuyền, trong đó có gần một trăm thuyền tải lương sẽ xuất phát từ đây để vào mũi Ngọc Sơn của ta, từ đó tiến vào Vân Đồn qua Cửa Lục và Bạch Đằng giang ngược về Vạn Kiếp. Tới đây Quốc công dừng lại nhìn mọi người.
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải hỏi:
- Theo dự liệu của anh Quốc Tuấn thì các mũi tiến quân của giặc đều hướng về Vạn Kiếp. Vậy có phải anh cho ý đồ của giặc lần này quyết chiếm Vạn Kiếp rồi lấy đó làm căn cứ đầu cầu để chúng tỏa đi khắp nơi?
Trần Thánh tông cũng hỏi:
- Không thấy anh Quốc Tuấn nói giặc đánh chiếm Thăng Long. Vậy lần này có thể Thăng Long phi chiến địa chăng.
Hưng Đạo vương có ý chờ mọi người hỏi tiếp rồi ông giãi tỏ mọi việc luôn thể.
Vua Nhân tông cũng hỏi:
- Bá phụ dự liệu đường tiến binh của giặc như vậy có nghĩa rằng lần này giặc quyết chiếm Vạn Kiếp. Ai cũng biết Vạn Kiếp giữ vị trí chiến lược trọng yếu, vậy chớ nếu ta bỏ Vạn Kiếp thì phòng tuyến chiến lược của ta là vùng nào?
Thấy các câu hỏi đều xoay về một ý, và cùng có vẻ băn khoăn, Hưng Đạo liền nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, về các đường tiến quân của giặc lần này không khác mấy so với lần trước, bởi vào đất ta hiện nay chỉ có bằng ấy con đường, duy có điều khác là lần này giặc coi trọng về quân thủy nên có một mũi tiến binh rất lớn bằng đường biển. Cuộc chiến năm Ất Dậu ta phản công giặc vào mùa mưa lụt lại đúng lúc triều cường nên giặc bị động, với địa thế nước ta sông ngòi chằng chịt, mùa lụt mỗi bước đi là phải dùng đến thuyền, bè nhưng giặc lại không có thuyền thành thử các trại giặc đều bị cô lập, khi ta tiến công chúng không thể ứng cứu cho nhau được. Để phá thế cô lập ấy, lần này giặc dùng quân thủy và thuyền chiến với số lượng khá lớn. Vậy giặc phải chiếm cái địa bàn xung yếu vào bậc nhất của ta để cho quân thủy của chúng làm chủ. Vì thế, nhất thiết giặc phải chiếm Vạn Kiếp, nếu không đám quân thủy ấy phải trụ ở Vân Đồn. Quân thủy của giặc trụ ở Vân Đồn thì hai quân thủy bộ chúng khó liên kết được với nhau để tạo ra sức mạnh. Và nếu giặc hội quân ở Vạn Kiếp thì giặc có tiến chiếm Thăng Long không? - Tâu, Thăng Long là mục tiêu tối thượng của giặc. Thôn tính một nước mà không tóm thâu được kinh đô của nước đó thời cuộc xâm lăng ấy không đạt được mục đích. Lại như nếu ta để cho giặc chiếm từ Lạng Châu - Vạn Kiếp - Vân Đồn - Thăng Long và cả Thiên Trường nữa thì quân ta giữ địa bàn nào làm địa bàn chiến lược để phản công đuổi giặc? - Tâu, nếu ta dụ được giặc rải quân trên địa bàn trải rộng như vừa nêu, tức là ta đã căng mỏng sức giặc ra và như thế cũng có nghĩa là việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, ta đã đi được nửa chặng đường.
Địa bàn chiến lược của ta lần này theo ý thần nên chọn vùng Chí Linh, Đông Triều, Giáp Sơn, Bằng Hà, Long Hưng, Tháp Sơn. Còn Nam Sách, Vân Đồn có thể đánh chặn giặc từng khúc gây tổn thất nặng nề cho chúng, nhất là về lương thực rồi mở đường cho nó đi qua, sau đó ta lại nhanh chóng chiếm lấy. Địa bàn này có thể phải giành giật mất đi, chiếm lại tới nhiều lần. Tâu, muốn căng mỏng giặc ra thì phải khéo dụ giặc. Giặc không chỉ muốn chiếm địa bàn chiến lược của ta, mà còn chiếm cả Thăng Long và hơn hết là phải bắt được vua của ta. Cho nên phải lừa cho chúng lúc nào cũng tưởng như vua ta đang ở phía trước nó; kỳ thực thượng hoàng và quan gia đang ở một nơi an toàn nhất để coi thế trận và điều hành ba quân đánh giặc. - Tâu, cuộc kháng giặc lần này, thần xin được sắp đặt như sau:
- Thượng tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải điều hành toàn bộ quân Thánh dực hộ giá thượng hoàng và quan gia, cùng bàn bạc việc quân trong trướng hổ.
- Thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật thống lĩnh quân bản bộ thêm mười lăm đô quân của triều đình chặn đánh giặc từ Quy Hóa giang về đến Bạch Hạc.
- Tướng Hưng Trí vương Trần Quốc Hiến trấn ải Khâu Ôn.
- Tướng Phạm Ngũ Lão trấn ải Lão Thử, mỗi người lĩnh một vạn quân chặn giặc.
- Tướng Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn cùng tướng Nguyễn Thức lĩnh hai vạn quân chặn giặc trên ải Khả Ly.
- Tướng Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng ngoài quân bản bộ lĩnh thêm một vạn quân nữa trấn từ Cửa Suốt đến Cửa Lục, chặn giặc tiến vào sông Bạch Đằng.
- Phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư ngoài quân bản bộ, nhận thêm một vạn quân thủy nữa trấn từ mũi Ngọc Sơn về đến Vân Đồn để chặn giặc.
- Tướng Nguyễn Khoái lĩnh hai vạn quân thủy trấn tại Tháp Sơn để cản giặc trên biển.
- Tướng Hưng Hiếu vương Trần Quốc Uất lĩnh một vạn quân bộ ngăn giặc đổ quân lên Tháp Sơn.
Ta nhắc thêm phó tướng Nhân Huệ vương, trách phận của ông là phải bao quát toàn bộ miền biển và bằng mọi cách phải đánh đắm hoặc đốt hết đoàn thuyền tải lương của giặc. Đành rằng việc này là muôn khó, nhưng nếu làm được chắc sẽ tiết kiệm được nhiều máu xương sĩ tốt và việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi chỉ còn là chuyện sớm tối mà thôi.
Đoạn Hưng Đạo quay ra vái hai vua và nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia thần tạm sai các tướng trấn ải và các vùng trọng yếu để cản giặc, xin thượng hoàng và quan gia cho ý chỉ.
Thượng hoàng Trần Thánh tông tỏ vẻ hài lòng, ngài dụ:
- Giặc chưa vào cõi mà Quốc công đã chuẩn bị chu đáo từ việc luyện quân, tập trận đến việc điều động tướng lĩnh và binh lực trấn giữ các nơi hiểm yếu, xem ra lần này vào trận ta giữ thế chủ động, hẳn đúng như Quốc công nói: “Kim niên tặc nhàn”.
Vua Nhân tông cũng nói thêm:
- Quyền tiết chế thống lĩnh chư quân sự và ấn kiếm vẫn thuộc về Quốc công, nên việc điều binh khiển tướng Quốc công có toàn quyền. Nhưng đưa ra nghị bàn khi ta còn có đủ thì giờ cũng là việc nên làm để có điều gì cần bổ cứu vẫn còn kịp.
Lại nữa giặc tập trung quân từ cuối tháng tám, tin tức về tới ta cũng phải mất một tháng. Nay đã là đầu tháng mười, vậy, ta thử ước định xem khi nào giặc tới biên thùy nước ta.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nói:
- Tâu, nếu giặc đã tập trung quân đầy đủ ở Ngạc Châu thì từ Hồ Bắc giặc có hai đường, một đường qua Hồ Nam đến Quảng Tây rồi tiến vào đất ta; đường thứ hai qua Giang Tây sang Quảng Đông, quân thủy về Khâm Châu, Liêm Châu, quân bộ qua Quảng Tây để vào nước ta. Như vậy giặc có đi nhanh cũng phải mất từ bốn mươi ngày đến hai tháng.
- Tâu, chắc nay mai sẽ có tin ngoại gián của ta đưa về, - Hưng Đạo nói. Nhưng mọi việc đều gấp gáp lắm rồi, nay là đầu tháng mười, chậm nhất là trung tuần tháng một giặc sẽ giáp biên thùy nước ta, chứ không thể là tháng chạp như lần giặc vào ta năm Ất Dậu. Thần sẽ cùng các tướng chia nhau đi kiểm xét các nơi bố phòng và đốc thúc các đội quân người man khi giặc tới phải rút nhanh vào rừng sâu, sau đó mới đánh vào sau lưng giặc hoặc tiêu diệt các đoàn binh phu tải lương của giặc như trước đây Nguyễn Lộc, Nguyễn Địa Lô, Hà Đặc, Hà Bổng… đã từng lập công và làm cho quân thù khốn đốn.
Hưng Đạo ngừng lời nhướng cặp mi bạc trắng nhìn hai vua, nhìn mọi người và ngài thong thả tiếp lời: - Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, để bảo toàn lực lượng đánh giặc lâu dài và nếu chớp được thời cơ đuổi giặc ra khỏi cõi bất cứ lúc nào thần xin gắng sức. Vì vậy việc cản giặc tùy nơi tùy lúc, nếu thấy sức giặc yếu ta sẽ đánh không tiếc sức, khiến giặc phải thua đau đớn và gây cho chúng sự hãi sợ khôn nguôi. Trái lại nơi nào sức giặc quá mạnh, ta chỉ đánh cầm chừng rồi rút hoặc chỉ chặn đoạn cuối lại mà đánh. Như vậy giặc sẽ vào được Thăng Long. Ta tạm cho chúng ở trọ ít hôm rồi sẽ lấy lại, xin thượng hoàng và quan gia rộng lượng. Tuy nhiên, ta phải cố gắng vun đắp cho lòng kiêu ngạo của giặc cao như núi, thời việc phá giặc sẽ thuận hơn. Nhìn về phía Tá Thiên vương, Quốc công nói - Xin Tướng quốc sai Trung thư sảnh đốc thúc các lộ, các châu, quận trong nước phải kiểm tra ngay việc thực thi kế thanh dã, và các đội dân binh phải tập trung ngay từ bây giờ chứ không chờ khi giặc vào tới bờ cõi sẽ hoang mang, lúng túng. Tại Thăng Long trước hết xin tướng quốc sai Ty Thái chúc cho cất giấu ngọc phả và chuyển các đồ thờ tự trong nhà thái miếu đi nơi khác, kẻo giặc vào sẽ đốt phá hung hãn. Và nữa, các người già, trẻ nhỏ khuyên họ di tán về các làng quê hẻo lánh, tránh xa đường to, sông lớn là nơi giặc có thể lại qua.
- Các điều Quốc công nói phải cấp kỳ thực hiện, quan gia và tướng quốc dụ cho trung thư sảnh, các đài, đô phối hợp cùng làm. - Thượng hoàng Thánh tông dụ bảo và ngài buông một tiếng thở dài. Đoạn nhà vua quay ra hỏi Hưng Đạo: - Sống cạnh anh hàng xóm khổng lồ vừa gian hiểm, ác độc vừa lăm le thôn tính ta bất cứ lúc nào, nước ta vừa nhỏ bé vừa ít người, trong ba năm phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh lớn tưởng không còn gì khắc nghiệt hơn, tàn bạo hơn. Ước sao nước ta là một con thuyền, nhất định ta sẽ dời đi nơi khác chứ không làm hàng xóm với lũ bất hảo - Quốc công, liệu sau cuộc chiến này giặc có còn xâm lược ta nữa không?
Hưng Đạo đưa tay lên siết lại chiếc khăn màu tía biếc ở trên đầu cho chặt lại, bởi tóc ông dài phải dùng loại khăn này mới bao gọn được. Quốc công chậm rãi:
- Tâu, thượng hoàng vì thương dân và căm ghét giặc nên nói vậy. Chứ thực ra: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư - Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Trời đã phân định bờ cõi như thế, sao ta còn phải tính chuyện chuyển dời đi đâu nữa. Mà chẳng việc gì ta phải đi đâu. Tâu, nước lớn chưa hẳn là nước mạnh, nước nhỏ chưa hẳn là nước yếu. Suy như nước Tống lớn gấp mấy chục lần nước Liêu nước Hạ thế mà mấy đời vua Tống liên tiếp phải cắt đất cầu hòa, thường niên cống nạp cho Liêu, Hạ rồi cuối cùng mất về tay người Mông Cổ. Lại như nước ta chắc gì đã bằng một tỉnh của Trung Hoa, thế mà năm Đinh Tỵ (1257) đánh cho quân Mông Cổ phải tháo chạy nhục nhã, ba lần sứ đến hỗn hào đều bị tống giam. Và mới đây năm Ất Dậu Hốt-tất-liệt đem cả sức mạnh của đế quốc Nguyên sang xâm lấn tưởng như chúng phải nghiền nát Đại Việt ta thành cám. Thế nhưng cỗ xe khổng lồ ấy đã bị sức mạnh Đại Việt đánh cho tan tành, cả tướng và quân bị chết và bị bắt đến quá nửa phải vội vã trốn chạy, gây vết nhơ khó xóa trong lịch sử thiên triều.
Hưng Đạo ngừng lời đưa tay lên chải chòm râu dài trước ngực rồi thong thả nói tiếp: - Như bệ hạ đã biết, ta đánh giặc xiết bao gian nan, nhưng ta đã thắng. Vì sao ta thắng? Bởi ta có sức mạnh chụm lại của cả một bó đũa, ấy là cả nước muôn người như một dốc lòng đánh giặc, quyết giữ lấy giang san, nòi giống. Còn như nhà đại Tống thua người Mông Cổ, đầu hàng người Mông Cổ, chịu làm nô lệ cho người Mông Cổ không phải vì dân Trung Hoa không yêu nước, không căm giận ngoại bang và không dám cầm vũ khí đánh giặc, mà bởi vua tôi nhà nam Tống nhát hèn vì sợ giặc đã tháo cả bó đũa ra ném tung tóe mỗi nơi mỗi chiếc. Và điều họ có thể làm là bằng mọi cách cố kìm nén hoặc hãm hại những bề tôi lương đống, có khả năng đánh giặc cứu nước như Nhạc Phi, như Văn Thiên Tường, chỉ cốt cho giặc hài lòng, đâu có ngờ đó lại chính là hành vi tiếp tay cho giặc, phản dân hại nước, ngay kẻ thất phu cũng không làm.
Bệ hạ hỏi “Sau cuộc chiến này giặc có còn xâm lược nước ta nữa không”. Tâu, cái đó còn tùy thuộc vào việc ta làm cho giặc thất bại đến đâu. Nếu như ta đánh cho chúng đại bại, tiêu diệt đáng kể sinh lực nó và trừ được nhiều tướng giỏi của nó, chắc phải trăm năm sau kẻ làm thiên tử nhà đại Nguyên cũng chưa dám nghĩ tới việc “chinh Giao Chỉ” nữa. Tâu bệ hạ, không phải vì nước Nguyên mạnh mà nó muốn đánh ta lúc nào cũng được đâu.
Tâu, nếu triều đình ta nhu nhược, dân ta chia rẽ, binh ta suy yếu rệu rã nhát hèn, thì quả là việc tồn vong của nước ta đã trao vào tay giặc tựa như vua tôi nhà nam Tống vậy.
Gương mặt nhà vua như bừng sáng, ngài đứng dậy hướng về phía Hưng Đạo vương vái một vái và dụ:
- Quốc công làm cho trẫm tỉnh ngộ. Bây giờ trẫm không còn chút do dự nào nữa. Trẫm và quan gia cùng thượng tướng Chiêu Minh vương nắm giữ quân thánh dực bảo vệ kinh thành Thăng Long để Quốc công cùng chư tướng yên tâm vào trận.
Sau cuộc nghị bàn mưu kế phá giặc của triều đình, cả nước sục sôi khí thế giết giặc lập công. Khắp các làng quê, dân binh luyện tập, dân chúng tải lương, chuyển vận binh khí; binh sĩ rầm rập kéo quân lên tận biên thùy hoặc đi trấn giữ các vùng hiểm yếu.
Đầu tháng một (tháng 11 âm lịch) ngoại gián báo về: “Quân Nguyên đã rời Ngạc Châu đi Quảng Tây từ đầu tháng chín, chậm nhất là thượng tuần tháng một giặc sẽ đến biên thùy nước ta. Ích Tắc và bọn tòng vong đều được Thoát-hoan cho theo về nước…”.
Ngoại gián của ta ở Quảng Đông, Quảng Tây cũng dồn dập đưa tin về. Tất cả đều nói lên một điều: “Giặc đông chưa từng thấy, không thể ước được con số chính xác. Chỉ vài ngày nữa giặc sẽ tới biên thùy…”.
“… Giặc đã đóng lương thực xuống thuyền. Thuyền nào cũng khẳm nặng ước chở tới năm, sáu trăm thạch gạo. Tổng số thuyền lương khoảng non một trăm chiếc. Thuyền chiến cũng đậu san sát từ ngoài vào trong tới mấy vòng, ước tính hơn bảy trăm chiếc. Tất cả đều đậu tại cảng Khâm Châu…”.
Trước khi giặc vào cõi, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương đã có lời răn các tướng: “Khi giặc mới vào, lực nó còn đang sung mãn, tùy nơi tùy lúc nếu chắc thắng mới đánh, còn không chỉ ngăn cầm chừng rồi lui quân về các nơi quy ước. Phải bảo toàn được lực lượng, phải tiết kiệm máu xương sĩ tốt để dành cho các trận đánh lớn khi cần…”.
Giữa tháng một, quân kỵ, quân bộ, quân thủy giặc ào vào đất ta như một trận sóng thần. Tất cả các con đường từ biên ải Lạng Châu tiến về Vạn Kiếp giặc đều chiếm lấy.
Đại quân của giặc từ Tư Minh qua Vĩnh Bình ào vào Lộc Châu thì tách ra làm hai cánh. Cánh phía tây do Bôn-kha-đa, Trịnh Bằng Phi chỉ huy tiến về phía ải Chi Lăng (Lão Thử).
Cánh quân phía đông do Thoát-hoan và Áo-lỗ-xích sau khi qua Lộc Châu tiến về chiếm ải Khả Ly và vòng qua lối Sơn Động (Động Bản).
Về phía tây bắc giặc từ Vân Nam do tướng A-rúc chỉ huy cùng các tướng A-tai và Mang-kha-đai đưa quân theo sông Quy Hóa mà vào nước ta.
Ngoài biển đông, giặc xuất phát từ Khâm Châu nhằm mũi Ngọc Sơn trực chỉ, chiến thuyền rợp biển, buồm căng rợp trời dưới sự chỉ huy của Ô-mã-nhi bạt-đô[40], tham tri chính sự Phàn Tiếp, dẫn quân đi hừng hực khí thế.
Hơn bốn trăm chiến thuyền do Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp thống lĩnh mở đường đi trước. Các thuyền lương do Trương Văn Hổ, Phí Củng Thìn, Từ Khánh chỉ huy tiếp theo đoàn thuyền chiến. Đoàn thuyền tải lương do Trương Văn Hổ dẫn đầu, Phí Củng Thìn, Từ Khánh đoạn hậu. Tiếp sau đoàn thuyền tải lương là hơn hai trăm chiến thuyền do các tướng Trương Ngọc, Lưu Khuê hộ tống.
Cứ xem cách hành binh thế này đủ biết Ô-mã-nhi là một tướng tài lão luyện, chẳng trách Hốt-tất-liệt phong cho y mỹ danh là dũng sĩ. Giặc bảo vệ quân lương như vậy đến một cánh chim sẻ cũng khó lọt vào được nói chi đến việc cướp lương của chúng.
Lại nói Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư từ bữa đi hội bàn kế phá giặc ở Thăng Long về, ông nhớ mãi lời nhắc nhở của Quốc công tiết chế: “Phó tướng Nhân Huệ vương trách phận của ông là phải bao quát toàn bộ miền biển và bằng mọi cách phải đánh đắm hoặc đốt hết đoàn thuyền tải lương của giặc…”.

Điều Hưng Đạo nhắc nhở không phải ta không biết. Nếu triệt được lương của giặc thì đạo quân của Thoát-hoan dù lớn đến đâu, hùng mạnh đến đâu cũng trở nên vô dụng. Ta chỉ có bốn vạn quân, Quốc công cho thêm một vạn để trấn cả một vùng biển trải dài tới non ngàn dặm, nay phải chống trả một đạo quân trên mười hai vạn. Ta phải phân tán để đối phó, còn giặc thì tập trung vào một điểm nên sức mạnh của chúng được phát tác đến tối đa. Nhưng phải lấy đoản chế trường, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh mà vẫn giành phần thủ thắng như Hưng Đạo thường căn dặn. Đấy là phương sách, song biến được phương sách ấy thành thuật đánh, thành chiến thắng như ta mong muốn thực là việc muôn khó. Nhưng nếu ta không làm được việc này thì cuộc chiến sẽ vô cùng cam go và máu xương sĩ tốt cùng bách tính đổ ra không biết bao nhiêu mà kể.
Qua mấy ngày đêm suy nghĩ bỗng nảy ra một kế ở trong đầu. Vương bèn sai viên phó đô tổng quản chuẩn bị mấy lá thuyền cùng vài đô quân lập tức lên đường đi Vạn Ninh khảo xét một lần nữa. Lên hướng bắc ngược gió, thuyền cứ phải chạy vát để buồm ăn gió. Đi được chừng vài chục dặm kể từ khi thuyền rời cảng Vân Đồn thì qua cửa Tiên Yên. Đây là vùng cửa biển có luồng tiếp giáp với một con sông, ngược sông này bắt gặp nguồn Tam Trĩ[41]. Luồng sông này thuyền giặc có thể vào nhưng càng đi ngược lên lòng sông càng hẹp và độ sâu giảm dần. Giặc có thể lấy đường sông này đổ quân lên bộ. Nhưng đường bộ là đường sạn đạo vô cùng hiểm trở nên chưa bao giờ giặc bắc tiến quân bằng đường này. Ông nhớ năm Đinh Tỵ (1077) quân thủy của giặc Tống bị giam chân tại cửa ải này, không nhúc nhích lên được một bước. Chợt Trần Khánh Dư hỏi viên phó tổng quản:
- Ông có biết cuộc chiến năm Đinh Tỵ, đám quân thủy của giặc Tống bị hãm ở cửa bể này như thế nào không?
Viên phó tướng lắc đầu:
- Dạ, tiểu tướng không biết. Đầu đuôi thế nào, nó có liên đới đến ta bây giờ không xin chủ tướng cho nghe.
Nhân Huệ vương mỉm cười và nhìn lại phía cửa Tiên Yên, ông nói:
- Chẳng là mấy chục vạn quân xâm lược nhà Tống bị thái úy Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến sông Như Nguyệt ngăn không cho giặc sang sông. Chúng phải đóng quân lại phía bờ bắc chờ đám quân thủy này lấy đường Vân Đồn vào sông Bạch Đằng, rồi ngược lên Vạn Kiếp để vào sông Như Nguyệt đón bọn kia sang sông. Vì chúng đã đóng bè vượt sông mấy lần đều bị Lý Thường Kiệt đánh bại. Quân thủy của giặc do tướng Dương Tùng Tiên cầm đầu dẫn quân vào Vân Đồn tức chỗ quân ta đang đóng bây giờ. Tướng giữ ải Vân Đồn của ta là Lý Kế Nguyên. Dương Tùng Tiên đã đánh tới trên mười trận, trận nào cũng bị Lý Kế Nguyên đánh cho đại bại. Sau y biết là không thể vượt qua lũy ải Vân Đồn mà vào nội địa ta, đành đem quân chốt tại cửa Tiên Yên này. Điều nực cười là chiến tranh đã kết thúc. Bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết buộc phải ký hòa ước rút số quân sống sót về nước thì Dương Tùng Tiên vẫn không hay biết gì. Sau triều đình nhà Tống phải sai người đi gọi y về, còn bên ta cũng thương tình không truy đuổi.
Viên phó đô tổng quản cười sung sướng:
- Bẩm chủ tướng, liệu có cách nào ta hãm được thủy binh giặc nếu sắp tới nó lại vào xâm lấn cõi bờ ta.
- Chính ta với ông đi chuyến này là để tính chuyện đối phó với thủy binh giặc. Nếu thời cơ đến, sao ta có thể tha mạng cho giặc được. Ta đang nghĩ kế cùng Quốc công phải đánh thế nào cho lũ con trời chừa cái thói ngông ngạo tự phụ cho mình cái quyền định đoạt số phận toàn thiên hạ.
- Đúng đấy chủ tướng, nó có phải trời đâu mà dám hỗn láo. Mấy năm trước cái thằng được cha nó phong làm Trấn Nam vương chẳng bị ta đánh cho suýt chết phải chui vào rọ tre bọc ống đồng để quân kéo đi như một con chó bị cũi. Nghe đâu lần này nó lại lĩnh ấn thống lĩnh đạo quân Nguyên xâm lược nước ta. Cứ như ý tiểu tướng, lần này bắt được nó thì phải xử theo tội tùng xẻo. Bọn này bị tùng xẻo thì phải khiếp sợ tới cả trăm đời.
- Ta cũng không mong gì hơn thế, Trần Khánh Dư đáp và ông nói tiếp: - Trận chiến sắp tới là hết sức cam go, ta buộc phải thắng. Nếu không thắng, sinh mệnh nước ta khó tồn. Vậy ông gắng cùng ta quan sát lại một lần nữa, xem từ đây ra Ngọc Sơn những chỗ nào có thể phục quân đánh tạt sườn chiến thuyền giặc được.
- Bẩm chủ tướng, đoạn đường này tiểu tướng thuộc nằm lòng, tiểu tướng có thể nhắm mắt cũng có thể vẽ ra được không thiếu một đặc điểm nào.
- Không, ta muốn ông mở mắt cùng ta nhìn xem chỗ nào nên phục quân, phục bao nhiêu là vừa. Chỗ nào chỉ nên nghi binh. Và một khi đã đánh giặc cũng phải tính đường thoái sao cho an toàn, chứ không thể chỉ tính có một đường tiến. Nước ta nhỏ, dân ta ít, làm gì cũng phải sẻn kiệm, phó đô tướng quân nên nhớ điều đó.
Sau khi đã tới Ngọc Sơn xem lại địa thế kỹ càng, phiêu kỵ thượng tướng quân Trần Khánh Dư lập tức lên thuyền trở lại Vân Đồn. Trên đường về ông tâm sự với phó tướng: - Hơn mười hai vạn quân thủy với gần bảy trăm chiến thuyền giương hết buồm lên lại được gió đông bắc thổi mạnh, thời khí thế của nó hiên ngang ngạo nghễ lắm. Giặc vốn coi thường ta, dù đã thua ta nhưng nó vẫn không chịu thừa nhận. Vì thế ngay từ lúc giặc mới vào tới cõi bờ ta, phải làm thế nào để giặc thấy quân thủy của ta rất sơ sài, quân thủy của ta không có gì để giặc coi là đối thủ. Phải nuôi cho giặc cái tâm lý ngông cuồng ngạo mạn coi thường quân ta, từ đó nó mới nảy sinh sơ hở.
- Chủ tướng định tạo cho nó sơ hở để ta cướp lương nó ư? Không được đâu, chúng là quân kẻ cướp lọc lõi cho nên đi đầu, đoạn hậu và kèm cả hai bên tả hữu thuyền lương đều là thuyền chiến cả, mình len vào đâu để mà đánh cướp thuyền lương của nó.
- Hãy cứ nghe ta nói đã. Thuyền chở quân của giặc nhẹ, sẽ đi rất nhanh, thuyền chở lương của giặc nặng nề lắm, sẽ đi rất chậm. Vậy thời ta nên có vài trận đánh khi giặc mới vào. Ta phải làm như là đánh thật sự, đánh gan góc khiến giặc phải vất vả lắm mới đẩy lui được quân ta, nhưng cũng để lộ ra là lực lượng ta nhỏ, yếu không đáng cho giặc dừng lại giao chiến. Bởi mỗi lần đánh như vậy ta chỉ đưa mươi mười lăm lá thuyền nhỏ ra khiêu chiến rồi bỏ chạy. Cứ như thế vài ba lần giặc sẽ khinh thường ta. Thôi được, kế dụ giặc sẽ bàn kỹ với ông, nhưng từ hôm nay ông hãy suy ngẫm điều ta nói sao cho nó nhuần nhuyễn trong ông rồi biến thành kế của ông thì mới lừa được giặc.
Lại nói giặc vào tới Lộc Châu quân chia làm hai cánh. Cánh phía tây do Bôn-kha-đa và Trịnh Bằng Phi thống suất, chúng đã đánh ào ạt cướp được mấy ải rồi tiến thẳng xuống ải Chi Lăng. Cuộc chiến năm Ất Dậu hai tướng này cũng vào nước ta bằng con đường này và người trấn ải trước là Phạm Ngũ Lão, năm nay cũng là Phạm Ngũ Lão cản giặc ở đây. Nếu như các đoạn từ biên thùy vào, Bôn-kha-đa, Trịnh Bằng Phi có đôi ba lần phải dừng bước, nhưng chúng cũng nhanh chóng đánh bật quân ta để lấy đường tiến khiến chúng càng tự phụ.
Tướng giặc có cảm giác như chúng đang đi vào chỗ không người. Bôn-kha-đa ngoái đầu ngựa lại nói với Trịnh Bằng Phi:
- Ông hữu thừa có thấy lần này quân Giao Chỉ sợ binh uy thiên triều bỏ trốn cả rồi không?
- Cứ xem cách chúng đem quân ra cản thiên binh đủ chứng tỏ lời của tướng quân nói là đúng.
Trong khi đó hàng nghìn kỵ binh của giặc cứ rầm rập phi nhanh về phía ải Chi Lăng. Những tên Mông Cổ vẻ mặt nghênh ngang đầy ngạo mạn vừa phi ngựa vừa chĩa cung lên trời nghe rõ những tiếng dây buông phừn phựt. Tên nào tên ấy mặt đỏ gay như chúng đang lên cơn say máu.
Bỗng từ đâu đó một tiếng nổ xé trời, lửa lóe sáng như những tia chớp, khói đen bao phủ kín cả núi rừng, con đường độc đạo hẹp vanh vanh hai bên là hai vách đá dựng đứng lúc này mù mịt khói đen, giáp mặt cũng không nhìn thấy nhau và từng viên đá to bằng những chiếc thúng từ hai bên vách núi cứ đều đều lăn xuống như tiếng thác reo. Đá lăn vào đầu vào chân ngựa, đá đập vỡ sọ những tên giặc ngạo mạn. Tiếng ngựa rống, tiếng giặc la hét hoảng loạn. Những con ngựa còn sống sót hốt hoảng nhảy dựng lên hất ngã những tên kỵ sĩ không còn đủ sức bám yên cương liền bị lũ ngựa chạy quẩn đạp cho gãy xương, vỡ sọ. Toán đi trước hàng mấy trăm đứa gồm cả người lẫn ngựa bị diệt không còn một đứa nào sống sót. Đám quân phía sau người ngựa dồn lên chen chật như nêm khiến ngựa không thể quay đầu. Trong khi đó quân ta từ trên những chỏm rừng cây bắn tên lửa bùi nhùi xuống khiến lũ ngựa lồng lên và thế là chúng giẫm đạp lên nhau loạn xạ, quân chúng không còn sức chống đỡ, cũng không biết quân ta bắn chúng từ phía nào. Rồi hàng loạt, hàng loạt tên tẩm độc bắn xuống như mưa, giặc chết ngổn ngang, xác người xác ngựa chồng đống lên nhau. Trịnh Bằng Phi, Bôn-kha-đa phải bỏ ngựa leo qua đầu lính tháo chạy mới thoát chết. Và chúng phải lui quân trở lại phía sau.
Mặc dù lệnh tiến quân như lửa đốt đầu, nhưng tướng giặc không dám xem thường quân Đại Việt nữa. Chúng lắc đầu bảo nhau cái cửa quan này đúng là “Quỷ môn quan, bách nhân khứ nhất nhân hoàn”[42].
Hai ngày sau giặc vẫn phải lấy đường này để vào sâu trong đất ta, nhưng chúng xua quân tân phụ[43] đi trước. Cứ mỗi toán một trăm tên lính tân phụ lại có mười tên kỵ sĩ Mông Cổ đi kèm sau. Nói là để bảo vệ nhưng thực ra là để thúc ép. Giặc đi dò dẫm từng bước, toán nọ cách toán kia tới cả dặm đường. Nhưng Phạm Ngũ Lão đã lui binh về phía sau chỉ còn để lại những nghi binh dọc đường. Chỗ thì một ụ đất mới đắp với tấm bia mộ bằng thân cây mới đẽo, và hàng chữ ghi trên mộ chí: NƠI ĐÂY LÀ MỒ CHÔN QUÂN XÂM LƯỢC NHÀ NGUYÊN. Những nấm mồ giả và mộ chí như thế này làm chột dạ đám quân tân phụ lót đường, nhưng bọn quan quân Mông Cổ thì hết sức căm tức. Và khi không có dấu hiệu quân ta cản đường nữa, chúng tỏ vẻ hung hăng thúc quân như vũ bão. Chợt lại hiện ra một đoạn đường có dây căng từ mép rừng bên tả sang mép rừng bên hữu, cứ liên tiếp dày dặc và kéo dài tới mấy chục trượng.
Tướng giặc sai quân lui, và cho cắt thử vài đoạn không thấy có dấu hiệu gì, biết quân Việt nghi binh trêu tức, Bôn-kha-đa cả giận quát:
- Kỵ binh tiến trước, lấy dao chặt hết dây chằng dọn đường cho quân đi.
Lập tức cả trăm kỵ binh xông lên, chúng lăm lăm các thanh đao để ngửa lưỡi và phóng ngựa thật nhanh, đao sắc tới mức khi lưỡi đao chạm phải những dây chằng tựa như chạm vào những sợi tơ nhện. Bất chợt tới đoạn gần cuối dây đứt làm cho bẫy đá từ hai bên sườn núi lăn xuống ầm ầm khiến quân giặc kinh hoàng. Chúng hét la inh ỏi tưởng cảnh mấy ngày trước lại tái diễn và chúng sẽ bị chôn sống trên đoạn đường này. Nhưng loáng thoáng chỉ có dăm con ngựa và mấy tên lính Mông Cổ bị đá đè chết, mươi đứa gãy chân tay cùng gần chục con ngựa què không đi được phải bỏ lại. Đi được một đoạn thấy có tấm bảng bằng thân cây mới đẽo vỏ với hàng chữ nét mực còn tươi: “Quân giặc muốn thoát chết hãy quay đầu trở về Bắc quốc!”.
Toán quân đi trước sợ hãi dừng lại. Bôn-kha-đa hét lớn: - Đi thẳng, không được đụng vào nó!
Quân giặc tuy tiến nhanh nhưng nỗi sợ hãi vẫn đeo bám hoài. Tới một đoạn đường như rộng ra, rừng lùi về hai phía tả hữu thấy căng một tấm bảng với hàng chữ: “Lũ chó săn Hán gian hãy coi chừng!”. Bôn-kha-đa mỉm cười khoát tay cho quân cứ tiến. Trịnh Bằng Phi chạnh lòng, sai quân bắn đứt sợi dây treo, tấm bảng rơi úp mặt có chữ xuống đất. Hắn căm tức tự hẹn: “Ta thề sẽ mổ bụng moi gan quân Giao Chỉ hỗn xược”.
Giặc tiến chừng năm bảy dặm nữa bắt gặp một hình nộm bằng rơm to như người khổng lồ bị treo cổ lên một cành cây vươn dài gần tới giữa đường, ngang ngực thằng hình nộm có tấm cót với dòng chữ: “Quân du mục Mông Cổ nộp mạng ở đây!”.
Đám quan tướng Mông Cổ có đứa biết chữ Hán, chúng gầm lên và sai quân đốt thằng hình nộm rồi đốc thúc quân tiến càng nhanh. Đường rẽ sang nẻo phía tây, mặt đường cứ hẹp dần, hai ngựa sóng đôi đã rất khó đi vì rừng tre gai ăn lấn ra mép đường. Đoạn đường này không có vách đá dựng đứng hai bên như hai bờ tường thành ở cửa quan Chi Lăng, mà thuần tre gai ken dày đặc chẳng kém các vách thành. Đoạn này thường gọi là “Thích trúc quan” tức cửa tre gai.
Tới đoạn đường tre mọc dày tới mức các ngọn tre đan khít vào nhau che lấp hết ánh sáng mặt trời khiến đi trên đường mà có cảm giác đi trong hang tối. Thình lình hiện ra một thằng hình nộm bị treo cổ ở trên ngọn tre, trước cổ đeo một viên đá to gấp mấy lần viên đá nén cà và một dải vải trắng buông dài như chiếc phướn nối từ ngực thằng hình nộm xuống với hàng chữ thật bất ngờ: “Thoát-hoan nộp mạng tại đây!”.
Lòng đầy tức giận vì quân Giao Chỉ dám xúc phạm đến Trấn Nam vương, Bôn-kha-đa liền giương cung bắn vào sợi dây, chẳng may bị chệch, tên cắm đúng mắt trái thằng hình nộm, cũng tức là mắt trái của Thoát-hoan hình nộm. Đó là một điềm gở. Bôn-kha-đa giận điên cuồng, y lệnh cho đám kỵ sĩ Mông Cổ phải bắn đứt sợi dây kia ngay lập tức. Liền đó mấy chục cánh cung giơ lên, chỉ nghe thấy tiếng phựt thằng hình nộm đã rớt xuống, mấy ngọn tre bật lên cũng làm rơi xuống một bọc gì đó vỡ tung. Từ trong đó những con cào cào, châu chấu, cánh cam, bọ dừa bay vù vù đậu vào mặt mũi, áo quần đám quân tướng và lừa ngựa bốc mùi thối khủng khiếp. Đây là một đòn đánh bất ngờ giặc không thể lường được. Cái mùi thối nồng nặc do những con vật có cánh bay, đậu lăng xăng khiến hàng ngũ giặc cả người và vật đều rối loạn. Giữa mùa đông lạnh giá kiếm đâu ra nước để tắm rửa, thậm chí những viên tướng muốn ra lệnh cũng không dám mở mồm vì những con châu chấu đã bâu vào môi, vào mũi, vào mắt chúng rồi vù bốc bay đi, há mồm ra thì sợ các thứ dính phân kia sẽ rơi vào miệng.
Miếng đòn này quả không nằm trong binh pháp nào cả. Bởi khi quân triều đình đã rút đi thì việc đánh nhỏ lẻ vào hàng ngũ giặc thuộc về các đội hương binh. Và cách đánh tinh nghịch này chắc lại xuất phát từ các chàng trai có chút chữ nghĩa nghĩ ra lắm trò, như những chàng trai ở Hảo Thôn đã vẽ một con gà tự treo cổ thề không đẻ trứng cho quân Mông Cổ ăn. Còn như cái mùi thối kia là gồm các loại phân chó, phân trâu, phân lợn hòa trộn nhuyễn vào nhau pha thêm nước đái trâu rồi bắt các loại cào cào châu chấu nhốt chung vào đó. Khi bọc vỡ ra chúng bay đi tìm cách thoát thân và gặp cái gì chúng bâu đậu vào cái đó.
Sau này nghĩ lại Trịnh Bằng Phi và cả Bôn-kha-đa đều không thể quên được một trận thua nhục nhã - một trận phải nếm phân súc vật của Giao Chỉ mà địch thủ chỉ là những con sâu con bọ. Và tất cả lũ bại tướng này chiến công thì dư thừa, chữ nghĩa cũng không thiếu mà phải suốt đời ngậm tăm giấu biệt không dám kể với bạn bè một trận thua mất mặt và cũng nực cười, và hầu như bọn họ không dám viết lại một chữ nào lưu quốc sử thiên triều.
Khi Hưng Trí vương và Phạm Ngũ Lão làm nhiệm vụ cản giặc xong rút đi, có để lại một số quân cho các cửa ải tiếp sau. Nhưng dù có được tăng quân thì các cửa quan ải cũng chỉ làm chậm bước tiến của chúng chứ không thể giữ đất đến cùng.
Hai ngày sau Bôn-kha-đa cho quân tiến đánh cửa Lãnh Kinh[44] rất gấp. Cửa ải này do Hưng Đức hầu Trần Quán cầm cự quân giặc.
Nhờ địa thế hiểm trở và vũ khí tinh xảo, Hưng Đức hầu chỉ dùng ba ngàn quân tinh nhuệ để ngăn giặc.
Quân Nguyên vẫn có lối đánh sở trường là dùng sức mạnh của kỵ binh áp đảo đối phương. Giặc cho hàng trăm con ngựa chiến với các kỵ binh Mông Cổ phóng như bay và chúng vừa cưỡi ngựa vừa bật dây cung, tên bay vun vút rít lên trong gió tưởng như lũ chúng có thể quần nát cả cái ải này chỉ trong thoáng lát.
Nhưng cửa quan đã đóng sập, đám kỵ sĩ dừng ngựa trước ải. Những con ngựa chiến vùng thảo nguyên to cao lừng lững bị ghìm cương bất ngờ chúng đều chồm hai vó trước lên và hí vang tức tối. Quân giặc vón lại thành một đám đông chờ lệnh.
Đúng lúc đó, Hưng Đức hầu cho thúc trống đồng và hàng nghìn cung thủ với nỏ liên châu[45] tẩm độc. Chỉ cần đầu mũi tên chích xước da thì ngay cả lũ ngựa chiến cũng trong giây lát là tê liệt toàn thân, mắt trắng dã như mắt cá luộc, miệng sùi bọt và giãy đạp vài cái rồi tắt thở. Ngựa còn thế, lũ lính kia sao chống đỡ nổi. Mặc dù đám quân Mông Cổ đều đội mũ da, có mảnh giáp da nịt khít vào lồng ngực làm giáp hộ tâm lại có cả khiên để che người. Song một khi chúng đã dồn nhau lại lúc nhúc như cá trong chậu, thử hỏi làm sao mà che chắn được, làm sao mà chống đỡ lại được với các cung thủ thiện xạ và những mũi tên như có mắt thần của ta.
Người và ngựa giặc chết hàng loạt, chúng cứ khuỵu chân xuống rồi vật ngã như những thân cây bị luỗng gốc.
Từ phía sau, tướng giặc Bôn-kha-đa giận đến sôi máu, y quay lại nói với Trịnh Bằng Phi như gắt:
- Lũ giặc nhãi ranh này làm quẩn chân ta. Từ khi vào đất nó tới nay mới có sáu bảy ngày trời mà ta phải giao chiến tới gần hai chục trận rồi; trong khi Trấn Nam vương mong ta từng ngày. Ta thề phải giết hết dân nó, xé nát giang san nó. Rồi y lấy roi ngựa vẫy lũ quân phía sau tiến lên.
Thương thay lũ người và ngựa Mông Cổ liên tiếp gục ngã chồng đống không kịp ngáp, không kịp kêu. Kỵ binh vốn là niềm kiêu hãnh của Hốt-tất-liệt, bởi nó đã từng làm nghiêng đổ biết bao quốc gia từ đông sang tây, vậy mà nó phải thúc thủ trước một ải lũy sơ sài ở cái xứ Giao Chỉ bé bằng bàn tay. Càng nghĩ, Bôn-kha-đa càng tức giận, do đó lại càng thúc quân vào chỗ chết. Tới mức không chịu nổi trước hàng đoàn người ngựa cứ chết lăn quay chồng đống lên nhau, Trịnh Bằng Phi mới lựa lời: - Tướng quân, ta hãy tạm lui quân rồi trị tội giặc sau.
Bôn-kha-đa “hừm” một tiếng rồi quay đầu ngựa. Trịnh Bằng Phi biết ý vẫy quân lui rồi sai lũ quân tân phụ tiến lên khiêng xác những tên Mông Cổ chết trước ải.
Đám quân tân phụ bị đẩy lên nhặt xác, tưởng sẽ làm mồi cho quân Đại Việt, chúng run sợ bước đi ngập ngừng, trong lòng luôn nghĩ đến cái chết nhưng không một đứa nào dám quay đầu lại. Bởi tiến lên, sống chết còn nhờ vào sự may rủi chứ quay đầu lại thì nắm chắc phần chết.
Lạ thay từ lúc kỵ binh Mông Cổ quay đầu ngựa tránh xa khu vực cửa ải thì quân Đại Việt không bắn thêm một mũi tên nào nữa, mặc dù quân tân phụ kéo đến lấy xác bọn lính chết rất đông. Đám quân tân phụ đứa nào cũng đeo lủng lẳng một chiếc bùa hộ mệnh trước ngực với mấy chữ triện: “Tổ sư sắc lệnh trấn” bện rất săn, nhưng chúng không tin vào thần linh Trung Hoa nữa, bởi thần linh Trung Hoa cũng sợ người Mông Cổ, vì rằng mỗi khi tướng Mông Cổ nổi sung thì mạng sống của quân tân phụ không hơn một con ngóe, thế mà giờ đây quân Đại Việt lại không giết họ, họ thầm biết ơn.
Dừng lại hai ngày chôn cất các xác chết và cho quân nghỉ ngơi, Bôn-kha-đa lại thúc quân tiến như vũ bão vào cửa quan Lãnh Kinh. Bữa nay quân Nguyên tựa như một võ sĩ thượng thừa gồng hết sức lực để đấm vào một cánh cửa đã mở toang, vì rằng quân Đại Việt sau khi chặn đứng được sức tiến công của giặc và làm cho chúng thương vong tới mức không chịu nổi phải quay đầu tháo chạy, thì họ cũng lui quân ngay để bảo toàn lực lượng.
Bôn-kha-đa cho quân tiến thẳng về ải Nội Bàng mà không vấp phải sự cản trở nào nữa của quân Đại Việt. Tới Nội Bàng, y được biết Trấn Nam vương cũng mới qua đây ba ngày.
CHƯƠNG 9
Lại nói cánh quân lớn nhất của giặc đi với Thoát-hoan có bình chương chính sự Áo-lỗ-xích làm phó tướng, lĩnh một vạn quân tinh nhuệ tháp tùng Trấn Nam vương và tướng A-ba-tri lĩnh một vạn quân kỵ đi trước mở đường. Chúng nhanh chóng đoạt được ải Nữ Nhi, ải Khả Ly rồi tiến về Sơn Động để đánh qua ải Nội Bàng. Sức tiến quân của giặc thật là nhanh, mạnh, ào ạt tựa như một trận cuồng phong tưởng không có một sức nào cản được hoặc chống lại nó.
Thoát-hoan đem theo Trần Ích Tắc, còn Lê Tắc bị gạt lại ở Tư Minh để đi với cánh quân sau.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương sau khi cử các tướng về những nơi hiểm yếu cự giặc, ông tự mình dẫn một đạo quân lên trấn ải Nội Bàng. Nội Bàng là cửa ngõ tiến vào Vạn Kiếp. Vạn Kiếp là một địa bàn chiến lược tối quan trọng. Nếu quyết giữ Vạn Kiếp ngăn không cho giặc vượt ải Nội Bàng. Nhưng lần này giặc đưa quân thủy và chiến thuyền sang nhiều lại được quân kỵ, quân bộ hợp sức mạnh mẽ, chắc Thoát-hoan nỗ lực chiếm lấy Vạn Kiếp. Giặc giữ Vạn Kiếp tức là giặc phải lưu đóng xung quanh khu vực ít nhất cũng phải hai chục vạn quân để giữ đất. Và một khi ta kìm chân được hai mươi vạn quân giặc thì số còn lại vài ba chục vạn nữa sẽ không đủ sức khống chế quân ta trên một chiến trường trải rộng khắp đất nước từ Lạng Châu đến Thăng Long, Thiên Trường và cả vùng Hoan, Ái. Ấy mới chỉ nói trên bộ, còn trên sông, trên biển thì bao la bát ngát, giặc sao đủ sức kiểm soát. Tới lúc đó sẽ xem khâu nào xung yếu, khâu nào dễ dứt điểm, rồi đem quân nhiều đánh quân ít bóc gọn từng mảng, giặc không có phương cách gì có thể chống lại quân ta được. Còn bây giờ, hãy cứ để cho nó giương uy, hãy cứ để cho nó phát tác lòng kiêu ngạo.
Quân ta từ các ải Nữ Nhi, Khả Ly một phần tản vào rừng sâu phía sau lưng giặc, một phần rút về Nội Bàng. Sau khi nghe các tướng tâu báo, Quốc công nhận thấy lần này Thoát-hoan rất hung hăng ngạo mạn, muốn ra oai sấm sét để tạo lập khí thế cho ba quân. Bởi phần đông số quan tướng và lính tráng hiện diện trong hàng ngũ Thoát-hoan đều là đám quan quân đã thua trận tại đây năm Ất Dậu chắc chửa hoàn hồn.
Tính toán trù liệu mọi việc xong xuôi, Quốc công liền cho quân lui về phía sông Thiên Đức để ngăn giặc tiến về Thăng Long. Vì vậy khi Thoát-hoan qua ải Nội Bàng, vượt sông Bình Giang[46] tiến vào Vạn Kiếp không gặp một trở ngại nào.
Lập tức Áo-lỗ-xích cho quân chiếm lĩnh các ngọn núi cao lập làm đồn trại. Các bến đò Phả Lại, Bình Than đều có quân án ngữ. Các bãi trống trong thung lũng nhìn ra Lục Đầu giang được lập thành mấy trại quân lớn. Các đầu sông hợp về hai ngã ba đều có thuyền bè tuần giang nghiêm ngặt. Các con đường thiên lý cũng có các chốt quân án ngữ. Áo-lỗ-xích còn cho một đội du binh đi dọc triền sông Bình Than xuôi về phía hạ lưu là có ý dòm ngó tới con sông Bạch Đằng. Chúng chỉ đi vài chục dặm rồi quay lại. Tất cả đều yên tĩnh không hề thấy bóng dáng quân Đại Việt.
Một sự yên ắng đáng nghi ngờ, Thoát-hoan bèn triệu bình chương chính sự Áo-lỗ-xích, hữu thừa A-ba-tri vào trướng hổ để hội bàn việc quân.
Các tướng vừa an tọa thì Bôn-kha-đa và Trịnh Bằng Phi cũng đưa quân về hội.
Các tướng vào chào Trấn Nam vương và kể lể về sự cam go dọc đường, phải đánh nhau trên dưới hai mươi trận và quân chết kể tới hơn ba ngàn đứa.
Thoát-hoan nói lời an ủi rồi sai lấy rượu ngon ra khoản đãi. Sau vài tuần rượu, chủ tướng nói:
- Đánh Giao Chỉ lần trước ta cũng đi lối mà lần này ta vừa đi. Nhưng lần trước không một ải nào không phải đánh nhau với giặc. Ác chiến nhất diễn ra tại ải Nội Bàng. Ta chia quân làm sáu mũi vây đánh Nội Bàng. Hưng Đạo chống nhau với ta suốt từ giờ tí đến giờ thân rồi trốn thoát. Khi ta đưa quân vào Vạn Kiếp, Hưng Đạo chống trả quyết liệt, ba ngày sau ta mới đuổi hết quân Giao Chỉ ra khỏi khu vực này. Tới khi ta đem quân vào Thăng Long, Hưng Đạo lại luồn về phía sau ta chiếm lại Vạn Kiếp với số quân đông tới mấy chục vạn, uy hiếp Thăng Long. Cũng may Toa-đô phá vỡ cửa quan Nghệ An đem quân ra Thanh Hóa đánh vào sau lưng giặc khiến quân Trần nao núng. Trần Kiện đem hai vạn quân ra hàng, thân vương Trần Ích Tắc cùng nhiều người trong hoàng tộc đem cả nhà và quân bản phủ tới cửa ta xin quy thuận thiên triều. Ấy thế mà năm nay Hưng Đạo lại bỏ ngỏ Nội Bàng, bỏ rơi Vạn Kiếp cho ta lấy, không mất một mũi tên nào là cớ làm sao. Có phải cuộc chiến năm Ất Dậu ta đã làm cho Giao Chỉ kiệt quệ, nay nó chưa gượng dậy được và không đủ sức kháng cự lại đại binh thiên triều. Có đúng là quân Giao Chỉ yếu hay đây lại là kế của Hưng Đạo, các ông nói thử ta nghe.
Bôn-kha-đa vừa nếm đòn đau đớn trước ải Lãnh Kinh xin nói:
- Bẩm Trấn Nam vương, cánh quân phía tây lũ thần đi qua, giặc chống trả quyết liệt lắm. Từ đó suy ra đủ biết đây là kế của Hưng Đạo chứ không phải quân Giao Chỉ kiệt quệ đâu.
Hữu thừa A-ba-tri lên tiếng:
- Đất nước bé bằng cái bàn tay, người thì một dúm, nó gồng sức lên đỡ trận đòn năm Ất Dậu cũng kiệt sức rồi. Các ông bị quân nó chống trả quyết liệt nhờ vào mấy cửa quan mà thủ hiểm nhưng rồi cũng phải bỏ chạy chứ sức đâu kháng cự mãi với thiên binh của thiên triều. A-ba-tri huơ tay lên chém gió, miệng nói oang oang: - Bẩm Trấn Nam vương, đúng là giặc cố gắng đến tuyệt vọng để kháng mệnh thiên tử, nhưng quả thực nước nó kiệt quệ lắm rồi không dám chống lại thiên binh nữa, tướng tài như Hưng Đạo mà còn chạy không dám ngoảnh đầu lại, chắc chỉ vài trận kịch chiến nữa là vua tôi nước nó phải ra hàng, xin Trấn Nam vương chớ ngại.
Hữu thừa Trịnh Bằng Phi nói:
- Tâu, các ông tả, hữu thừa nói đều có lý cả, song ta chớ nên coi thường giặc. Coi thường giặc sẽ dẫn tới đánh giá không đúng về nó và vì thế đôi khi gây cản trở cho chính ta.
Không khí trở nên yên lặng, mọi người nhìn nhau, dường như họ đều chờ ý chỉ của Thoát-hoan.
Bỗng Thoát-hoan nghiêng đầu về phía Áo-lỗ-xích nói:
- Ông bình chương, theo ông phán đoán tình thế quân Giao Chỉ hiện nay thế nào. Và vì sao Hưng Đạo bỏ cả Nội Bàng lẫn Vạn Kiếp một cách dễ dàng như vậy. Liệu đây có phải là kế của Hưng Đạo không. Nếu là kế thì ta có nên giữ Vạn Kiếp không?
Áo-lỗ-xích với vẻ suy tư cân nhắc rồi nói:
- Chắc chủ tướng còn phân vân. Bản thân tôi cũng rất phân vân. Chúng ta đều biết An Nam là một nước nhỏ không thể so được với những nước mà các đại Hãn đã chinh phục. Nhưng ta không thể không thừa nhận họ có nhiều tướng giỏi mà Hưng Đạo là một tướng mưu trí, ngoan cường thắng không kiêu, bại không nản. Còn như về phần nội lực của nước họ khó có thể nói họ đủ sức chịu đựng trong cuộc chiến tranh này. Cứ suy như nhà đại Nguyên ta, đất đai trải rộng mênh mông, nhiều người nhiều của, thế mà đầu năm Bính Tuất (1286) thiên tử hạ chiếu “Chinh Giao Chỉ”, các đại thần đã xúm vào can như Sen-ghê ở hành tỉnh Hồ Quảng đã tâu về triều: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn bảy mươi sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn ở lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân… Năm ngoái bình chương A-lí Hải-nha xuất chinh, thu ba vạn thạch lương dân còn kêu khổ, nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết”. Còn như tuyên úy ty Hồ Nam thì can: “Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ mỏi mệt vì vận chuyển phú dịch nặng nề, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng… Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương quân dân…”. Còn rất nhiều lời can với tình cảnh bi đát hơn nhiều. Vì thế, thiên tử mới hoãn việc nam chinh tới nay.
Áo-lỗ-xích ngước nhìn Thoát-hoan nói tiếp: - Chủ tướng, đến như nước đại Nguyên ta không bị chiến tranh tàn phá đã gần chục năm nay mà dân chúng còn khổ sở đến thế, thử hỏi An Nam bị quân ta tàn phá cách đây chưa được ba năm, sao họ đã có thể kịp hồi phục mà nói nội lực họ khá lên được. Phải nói Giao Chỉ kiệt quệ rồi. Ấy là so sánh để biết việc đánh dẹp năm nay, Giao Chỉ sẽ cầm cự được bao lâu. Còn như chủ tướng hỏi, có nên giữ Vạn Kiếp không? - Theo ý riêng tôi, nếu lần này Hưng Đạo quyết giữ Vạn Kiếp thời bằng mọi giá ta cũng phải đẩy ông ta ra mà chiếm lấy. Nay cả một vùng chiến lược quan trọng vào bậc nhất đã vào tay, đó là trời cho ta đấy, sao chủ tướng còn phải băn khoăn nữa. Nếu không có vùng này làm căn cứ, nay mai Ô-mã-nhi đem hơn bảy trăm chiến thuyền với hơn mười vạn quân thủy đến sẽ neo đậu ở đâu, lấy đâu làm căn cứ xuất phát để truy đuổi Hưng Đạo, truy bắt Nhật Huyên, dẹp yên Giao Chỉ.
- Vậy thời ta yên tâm! Thoát-hoan đáp và nói thêm: - Tới nay vẫn chưa có tin tức cánh quân Vân Nam và ta cũng nóng lòng về đội hải binh của Ô-mã-nhi cùng đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ. Ta chờ Ô-mã-nhi tới mới có phương tiện đánh vào Thăng Long. Ta chờ Trương Văn Hổ đem lương thực đến thì mới yên tâm đưa mấy chục vạn quân vào trận.
Về cánh quân Vân Nam mà Thoát-hoan trông đợi, hữu thừa tỉnh Vân Nam là tướng A-ruc cùng với chư vương A-tai và Mang-khu-đai cầm đầu, một đạo quân chừng năm vạn gồm quân kỵ, quân bộ và quân thủy chúng vào nước ta bằng đường Quy Hóa giang. Lần này giặc vào đông hơn lần trước và cũng trên con đường quen thuộc mà chúng đã đến và đã tháo chạy. Ỷ thế quân đông nên chúng có vẻ hung hăng. Quân kỵ thì xông xáo sục sạo hai bên vệ đường, gặp nhà thì đốt nhà, gặp lều quán chợ búa thì đốt lều quán chợ búa. Cái gì lấy đi được thì chúng lấy đi, không lấy đi được thì chúng đập, phá hoặc đốt. Dân chúng triệt để dùng kế thanh dã, giặc đến đâu cũng chỉ thấy vườn không, nhà trống, chúng càng tức giận.
Giặc đi sâu vào đất ta tới năm, sáu chục dặm mà không gặp một sự chống trả hoặc cản trở gì, chúng đều cho là qua cuộc chiến năm Ất Dậu, Giao Chỉ kiệt quệ không còn sức chống trả, nên đã bỏ trốn. Vì vậy chúng nghênh ngang như vào chỗ không người.
Sẩm chiều, mưa phùn lây phây, gió bắc thổi mạnh. Những cánh buồm no gió lại xuôi nước cứ chạy băng băng như ngựa phi nước đại. Bầu trời như sà thấp xuống gần sát với các tàng cây trên đỉnh núi. Từ nửa chiều đã không còn nhìn thấy mặt trời. Những tên lính Mông Cổ, những tên lính Hán ở phương bắc thường quen với thời tiết có băng tuyết lạnh giá, nhưng gặp cái lạnh ở xứ nóng ẩm này thật khác thường. Cái lạnh như cứa vào thịt da, lạnh xuyên cả vào trong tâm can tì vị khiến cơ thể như bị teo tóp lại. Lính Mông Cổ có áo da che chắn được cả gió và những hạt mưa nhỏ li ti không len lách được vào cơ thể, và những chiếc ủng da khiến chân không phải xúc tiếp với nước nên chúng chưa cảm thấy cái rét kèm thêm cả sự buốt giá. Nhưng lính Hán chỉ có áo bông, giày vải một khi đã thấm nước thời cơ thể nhiễm một sự buốt lạnh không cách gì chống đỡ nổi, trừ khi được ngồi trong căn nhà kín gió bên đống củi than đỏ hồng. Kỵ binh giặc đi trước bỏ xa đoàn thuyền. Những cánh buồm đỏ thấm nước đã chuyển sang màu đen. Trong bóng chiều chạng vạng, vài chục con thuyền nhỏ ẩn trong khe lạch chờ xông ra đánh chặn khúc đuôi của đoàn chiến thuyền giặc. Bỗng một tiếng nổ xé trời, trống đồng khua thúc vang dội, và hàng ngàn cây cung nỏ với tên tẩm độc nhằm về phía những tên cầm lái thuyền. Một, hai, ba, bốn, năm chiếc mất lái, gió tạt buồm, khiến thuyền quay ngang, những chiếc đi sau không kịp chuyển hướng, và cứ thế chiếc nọ đâm thẳng vào chiếc kia vỡ toác gây ra tiếng động khủng khiếp như tiếng sét đánh bất ngờ. Quân giặc trên các chiến thuyền gãy, vỡ nước tràn vào khiến chúng hoảng loạn xô đẩy nhau. Ngay lập tức những chiếc thuyền nhỏ của quân Đại Việt xông thẳng vào đám thuyền giặc đang ngổn ngang chồng đống, các dũng sĩ tay lăm lăm mã tấu nhảy lên thuyền giặc, người thì đốt thuyền, người thì tìm giết những tên xâm lược. Sự việc xảy ra quá bất ngờ và quân Việt xốc tới nhanh như quân nhà trời làm cho giặc hốt hoảng trở tay không kịp. Nhiều đứa bị chết do thuyền va đập, nhiều đứa nhảy ào xuống sông vừa rét buốt vừa không biết bơi nên chìm nghỉm. Đứa giơ tay xin hàng, đứa chui đầu vào khe góc khuất, mông chổng ra ngoài tưởng như thế là thoát chết. Trong thoáng lát, quân phục của thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đã bứt được hơn ba chục chiến thuyền ra khỏi đoàn thuyền giặc, tất cả đều bị đốt hoặc bị đánh chìm, số quân bị bắt chỉ có bốn chục đứa, nhưng số bị giết và bị chết đuối lên tới con số ngàn. Chắc hẳn có một số tên biết bơi cũng trốn thoát. Và rất nhanh đoàn quân đánh chặn rút đi, để lại mặt sông với những cây cột buồm nghiêng ngả như những cánh tay chới với giơ lên cầu cứu.
Đoàn thuyền giặc đi trước, khi biết bị chặt mất đuôi không còn cách gì quay lại để ứng cứu được. Bởi một chiếc dừng thì cả đoàn sẽ xô vào nhau gãy vỡ và chìm đắm hết.
Đoàn quân chiến thắng giải tù binh về trình chủ tướng. Trông thấy những tên giặc mặt tái mét rét run cầm cập chẳng khác đám chuột đồng chạy lụt, Trần Nhật Duật sai đốt lửa, lấy quần áo cho chúng thay rồi cho ngồi sưởi ấm, khi chúng đã tạm hoàn hồn lại cho ăn no. Được đối xử tử tế chúng thật không ngờ. Ăn xong, tất cả bọn chúng đều sụp lạy tạ ơn.
Thượng tướng cho phép chúng ngồi tự nhiên và hỏi:
- Ta với các ngươi có thù oán gì không?
Đám tù binh lí nhí đáp:
- Bẩm không ạ.
Thấy chúng nghe hiểu được tiếng Tàu, thượng tướng lại hỏi:
- Vậy chớ các ngươi là người Hán, trong số này có ai là người Mông Cổ không?
Một tên mạnh dạn đáp:
- Bẩm quan, chúng con là người Hán, quê ở Giang Nam, không có ai là người Mông Cổ. Bọn Mông Cổ chúng chỉ ở kỵ đội thôi, bọn nó sợ nước đâu dám xuống thuyền.
Trần Nhật Duật lại hỏi:
- Trong số các ngươi đây ai là đô tướng?
Mấy đứa nhìn nhau rồi nhìn về một góc tối chỗ đồng bọn đang chúi đầu sưởi ấm.
Trần Nhật Duật biết chỗ ấy có đứa chỉ huy, ông gọi chúng ngồi xích lại gần nhau rồi nói: - Các người đều là người Hán, là dân nước Trung Hoa chứ không phải nước Nguyên đúng không?
- Đúng ạ! - Chúng đồng thanh đáp lời.
- Vậy chớ nước Đại Việt ta với nước Trung Hoa các ngươi có thù oán gì với nhau không?
- Bẩm không ạ.
- Ta biết nước các ngươi đang bị người Mông Cổ thống trị. Các ngươi bị ép phải đi đánh nhau.
- Bẩm đại quan đúng thế ạ. Đại quan đèn trời soi xét chúng con bị ép buộc phải xuống thuyền.
- Các ngươi có thấy người Mông Cổ phân biệt đối xử, họ khinh miệt các ngươi, thường đẩy các ngươi vào chỗ hiểm nguy, các ngươi là vật lót đường, thế mạng.
- Bẩm thượng quan dạy rất đúng, thân phận chúng con bị rẻ rúng, nhục lắm ạ. Xin thượng quan thương tình tha cho chúng con về.
- Đã biết nhục, bị bức bách đi vào chỗ chết, lại biết Đại Việt với Trung Hoa vốn không có thù oán gì. Vậy sao khi vào nước ta các ngươi cũng hung hăng tàn bạo không kém quân Mông Cổ?
- Bẩm đại quan, chúng con vừa đi tới đây đã bị bắt, chúng con đã kịp lên bờ đâu mà bảo chúng con gây tội ác.
Trần Nhật Duật nghiêm dạy:
- Đúng là các ngươi vừa tới đây đã bị bắt. Nhưng ta biết cuộc chiến năm Ất Dậu mới đây lũ quân người Hán các ngươi đã gây nhiều tội ác cho dân ta không kém quân Mông Cổ. Vơ vét của cải, xăm xoi mọi góc xó tìm kiếm báu vật, đồ đạc, đốt nhà, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái, không một tội ác nào các ngươi không làm. Các ngươi có thể cãi các ngươi mới bị bắt vào lính, các ngươi vừa tới đây. Nhưng ta dám chắc trong số các ngươi đây, ít nhất cũng có dăm bảy đứa đã theo quân Mông Cổ vào cướp nước ta trong cuộc chiến năm Ất Dậu vừa rồi. Nước ta độ lượng, biết các ngươi có tội nhưng không tra khảo đánh đập, không giết, để các ngươi tự vấn lương tâm mà hối cải, - Trần Nhật Duật nghiêm khắc nhìn vào mặt những đứa mà ông nghi là nó đã đến nước ta trong cuộc chiến tranh lần trước, và cả những đứa mà ông nghi nó là đô tướng. Lạ thay ông nhìn vào đứa nào, đứa ấy tái mặt đi, hoặc cúi gằm xuống với vẻ ngượng nghịu, sợ sệt như là một sự tự thú. Đoạn ông hỏi: - Trong đám các ngươi đây có ai biết chữ thì giơ tay lên.
Chúng rụt rè mãi sau mới có dăm đứa giơ tay.
- Vậy ta chia các ngươi làm năm nhóm, mỗi nhóm do một người biết chữ cầm đầu. Ta sẽ phát giấy bút cho các ngươi khai họ tên, quê quán, ngày đầu quân, ngày bị bắt, phần gia cảnh phải ghi rõ: Bố mẹ còn hay mất, bao nhiêu tuổi. Vợ con cũng vậy. Mấy vợ, mấy con. Con cái cũng phải khai tuổi tác. Quê quán phải khai rõ làng xã, châu quận, phủ huyện, tỉnh. Tỉnh nào phải khai rõ chứ không được khai chung chung là Giang Nam. Bởi phía nam sông Trường Giang có tới cả chục tỉnh, ngày xưa là cả nước Đông Ngô đấy.
Nhìn vào tận mặt từng đứa, Trần Nhật Duật nhắc thêm:
- Ngoài phần bản thân ra, các người còn phải khai chức vụ, ở đô quân nào, ai làm đô tướng, ai làm đô tổng quản, phiên chế ở thuyền nào, tên thuyền, số hiệu thuyền, mỗi thuyền chở bao nhiêu quân, bao nhiêu lương thực. Tất cả có bao nhiêu thuyền, bao nhiêu quân thủy, quân bộ, quân kỵ. Các ngươi giúp nhau mà khai cho thành thật thì sẽ được hưởng ân huệ của Đại Việt ta. Nếu man trá ắt ta sẽ tìm ra và khi ấy các ngươi cũng đừng trách ta không báo trước.
Thượng tướng sai quân đưa chúng về năm nơi khác nhau và cho từng đứa khai báo. Nhưng chúng khai rất chậm vì những đứa tự nhận là biết chữ, thực ra chúng có thể đọc được những thứ văn tự thông thường, còn như viết thì chúng lại không đủ chữ.
Sau khi bị đánh bất ngờ viên hữu thừa A-ruc cùng các chư vương A-tai, Mang-khu-đai mới giật mình và không dám coi thường quân Đại Việt nữa. Mỗi lần trước khi cho cả đạo quân thủy bộ xuất phát, A-ruc thường phái một đội khinh thuyền đi trước thăm dò chừng vài ba trăm quân cùng với khoảng hai trăm quân kỵ đi trên bờ yểm trợ. Nắm chắc không có quân mai phục, tướng giặc mới cho quân đi. Như vậy giặc vừa có đội mở đường vừa có đội đoạn hậu.
Quân thám của ta về tâu báo cung cách tiến quân của giặc từ sau ngày nó bị chặt đuôi, Trần Nhật Duật mỉm cười nói cùng hạ cấp:
- Do ta cắt đuôi giặc, chúng hoảng hốt nên bây giờ đuôi nó phình ra khá lớn. Các ông tính sao, có chặt tiếp đuôi hay ta chặt đầu nó.
Đô tướng Nguyễn Khoái vội đáp:
- Bẩm chủ tướng, chặt đầu nó có nghĩa là ta đánh vỗ mặt đám du binh. Chỗ này phải tính kỹ bởi nó có khoảng hai trăm thằng kỵ binh Mông Cổ đi tiên phong, nếu hơi có động tĩnh gì chúng ào đến rất nhanh hoặc chúng biến đi cũng nhanh như gió thoảng.
Đô tướng Ngô Thùy bèn lên tiếng:
- Bẩm thượng tướng, phải đánh vỗ mặt đám kỵ binh Mông Cổ để lấy khí thế cho quân ta. Đành rằng trận mở màn vừa đây đã khiến giặc co lại và không dám ngông nghênh như trước nữa. Nhưng như thế không có nghĩa là ta không thể tạo ra được thế bất ngờ khác.
Nghe hai viên đô tướng hiến kế đánh vỗ mặt quân kỵ Mông Cổ, thượng tướng Trần Nhật Duật lấy làm đẹp ý, ông hào hứng hỏi:
- Hai ông thử cho nghe dự kế đánh quân kỵ Mông Cổ, đành rằng giặc vào nước mình dù nó là quân Mông Cổ chứ quân nhà trời ta cũng đánh. Nhưng nên nhớ, đã đánh là phải đánh thắng mới dẹp được lòng kiêu ngạo của chúng. Ví như trận Quốc công đánh vào trại A Lỗ năm Ất Dậu khiến ngựa Mông Cổ như lũ chuột đồng chạy lụt, còn lính Mông Cổ phần thì chết đuối phần phải ra hàng. Vậy là tinh thần kỵ binh Mông Cổ còn thấp hơn ngọn cỏ.
Tướng Nguyễn Khoái nói:
- Bẩm chủ tướng, thật ra đánh bọn du binh có dăm chiến thuyền với sáu trăm tên quân thủy cùng khoảng hai trăm quân kỵ hộ tống không phải là chuyện khó. Nhưng sau nó là cả một đạo quân đông tới mấy vạn thì lại là một việc không dễ. Tuy vậy theo mạt tướng vẫn có thể đánh được. Thông thường giặc rất sợ rừng cây và những nơi cây cối rậm rạp, núi non khuất lấp. Cách đây chừng năm chục dặm về phía tả ngạn có một cánh rừng, quân kỵ của giặc buộc phải đi qua. Vì vậy giặc sẽ rất thận trọng. Ta sẽ không phục quân ở nơi giặc có phòng bị. Song phải nghi binh để nó rối trí. Tức là trước cửa rừng ta đốt củi lấy khói làm hiệu. Trong rừng, ta chặt cho cây đổ ngáng đường đi, giặc tất phải dừng lại sục sạo. Ta cũng nên đào một vài hố bẫy ngựa. Nếu ngựa nó bị sa hố thì cả người lẫn ngựa đều hoảng loạn. Ra khỏi rừng xuôi thẳng về quãng ngang với ta đang đóng quân đây khoảng hơn hai chục dặm đường bằng phẳng, quang đãng. Ta nên đánh nó trên quãng đường này. Đây là đoạn giặc không thể ngờ lại có quân phục vì tầm nhìn xa và không có rừng cây hoặc đồi núi quanh co.
- Giữa thanh thiên bạch nhật, đường bằng phẳng mà ông định phục quân đánh vỗ mặt kỵ binh của giặc, vậy ta phục ở đâu? - Trần Nhật Duật hỏi và ông nói thêm: - Đường tốt, kỵ binh giặc có thể lướt nhanh như gió, và các ông nên nhớ, loài ngựa đánh hơi thính không kém gì chó săn. Nếu quân ta mai phục ngược chiều gió, chúng đánh hơi thấy ngay. Khi có hơi lạ, giống ngựa thường không chịu đi hoặc cảm thấy nguy hiểm chúng sẽ quay đầu chạy và hí rầm rĩ.
Đô tướng Ngô Thùy đáp:
- Bẩm chủ tướng, đang mùa gió bắc thổi xuôi, nếu có quân phục không lo việc ngựa đánh hơi thấy mùi lạ. Hơn nữa từ bữa vào đất ta tới nay, kỵ binh giặc chỉ đi theo phía tả ngạn của sông chứ chưa một lần chúng sang sông. Cách đây hơn hai chục dặm có một cánh đồng mới gặt, ruộng khô, nông phu đã chống rạ thành từng mô to hơn cả chiếc nơm đại, và cao ngang ngực người lại nằm bên hữu ngạn dòng sông về phía ta đang đóng quân đây, chúng tôi đã đến tận nơi xem xét thấy ta có thể giấu được năm trăm quân cung nỏ mà giặc không thể ngờ, cũng không thể phát giác ra được. Cạnh đó lại có một con ngòi. Mùa này nước cạn, ngòi khô tới đáy có thể đi trên lạch ngòi này như đi trên mặt ruộng.
- Rồi sao nữa? - Trần Nhật Duật hỏi.
- Bẩm, ta cho quân thiện xạ dùng nỏ liên châu phục sau các mô rạ. Khi thấy thuyền và kỵ binh giặc tới, ở bên này nhất loạt bắn xuống sông và bắn sang sông. Phải chia ra, một nửa bắn quân thủy, một nửa bắn quân kỵ. Loạt tên đầu tiên cứ nhằm vào các con ngựa đi đầu mà bắn. Những con đi đầu gục ngã, những con đi sau sẽ xô vào nhau mà dừng lại, lúc này phải nhằm vào lũ kỵ sĩ mà bắn. Nỏ liên châu với tên tẩm độc bắn bất ngờ giặc không có cách gì chống đỡ nổi. Còn lũ giặc ở trên thuyền phải nhằm bắn chết đứa cầm lái và bắn đứt dây lèo, thuyền lập tức quay ngang và chúng sẽ đâm vào nhau mà nát bét.
- Các ông đã xem xét khoảng cách hai bờ cái đoạn ta mai phục đó lòng sông có rộng không, tầm tên bắn lũ kỵ binh có còn đủ độ căng không?
- Bẩm thượng tướng, chúng tôi có đặt bia ở bên kia sông và đã bắn thử. Vả lại quân ta có thể bất ngờ tung các mô rạ nhảy ra tận mép sông vừa bắn vừa uy hiếp giặc. Chỉ cần bắn vài loạt tên cũng không cần tiêu diệt hết lũ tanh hôi đó mà chỉ giết một số tên để gây hoảng loạn trong hàng ngũ giặc. Và một khi quân kỵ của nó đã bị đánh bại thì các sắc quân khác cũng mất hết tinh thần. Dạ khi ta đã giết một số tên gây hoang mang và cản trở đường tiến quân của giặc, thời tất cả đều rút về con lạch khô kia mà vào làng xóm, dẫu giặc có đổ quân lên bờ cũng là một sự vô ích.
Trần Nhật Duật tỏ vẻ tâm đắc:
- Kế của các ông có vẻ diệu dụng đấy. Nào các ông dẫn ta đi thị sát, nếu được có thể ngày mai ta phục đánh luôn, bởi giặc cũng tiến gần sát đây rồi.
Nhìn quang cảnh nơi mà hai vị đô tướng chọn để tập kích quân xâm lược, thượng tướng Trần Nhật Duật có vẻ hài lòng và ông kéo cả hai người ra phía bờ sông. Nhìn dải nước hẹp lững lờ chảy như chảy trong lòng máng, thượng tướng hỏi: - Đoạn này gần thượng nguồn, ta ngờ ngựa có thể lội qua. Nếu ngựa lội qua được thời phải có mưu kế khác.
Vừa nghe chủ tướng nói xong, hai vị phó tướng liền lắp tên vào cung bắn xuống giữa dòng sông, một lúc cả hai mũi tên cùng nổi trên mặt nước và bồng bềnh trôi theo dòng nước chảy xuôi.
Trần Nhật Duật bèn với lấy cây cung và tự mình lắp tên bắn xuống sông một lần nữa, mũi tên lại nổi phềnh lên. Ông liền kéo hai vị đô tướng cùng ngồi xuống mặt ruộng khô nẻ bàn luôn kế đánh giặc:
- Ý các ông là chỉ cần đánh phủ đầu lũ quân kỵ và quân thủy, gây cho chúng nỗi hoang mang hãi sợ rồi ta lui quân ngay để bảo toàn lực lượng có phải không?
- Bẩm, đúng là như vậy.
- Theo ta, nên diệt gọn không cho một đứa nào sống sót để chúng bớt cái thói huênh hoang ngạo mạn. Ấy là ta nói nó bớt thôi chứ nó không chừa đâu. Trước kia Hán-Đường-Tống đã thế, nay đám nhà Nguyên kế tiếp cũng không hơn gì.
- Bẩm, chủ tướng định diệt hết đám du binh thì diệt bằng cách nào?
- Các ông nghe ta nói, nếu còn gì chưa chắc ăn thì phải bổ cứu ngay chứ đánh đội du binh mà không xong là ê mặt ta đấy. Về đại thể kế của các ông là được, chỉ cần đào một đường hào sâu ngang ngực để quân đứng dưới hào bắn thì người lính mới tự tin, vì nó đỡ chông chênh. Ta định chia quân làm hai cánh phục ở hai bên tả hữu con ngòi này. Ta muốn đưa hẳn một ngàn quân, mỗi cánh quân phục năm trăm người. Khi quân kỵ đi hộ tống ít khi nó đi song song lắm mà thường quân kỵ đi trước thuyền độ một hai dặm. Nếu quân kỵ đi vào giữa ổ phục của quân ta, thì cả hai cánh quân với một nghìn cung thủ thiện xạ lại bắn bằng nỏ liên châu, tên tẩm độc nữa thì chỉ cần một nghìn cánh cung cùng nhả tên một lần, nhưng phải bắn chéo cánh sẻ, ta tin rằng hai trăm thằng giặc Mông Cổ với hai trăm con ngựa nhận năm nghìn mũi tên một lúc thời không còn một mống nào có cơ may sống sót. Cùng lúc nếu thuyền giặc nhận ra quân kỵ bị đánh thì cũng không thể dừng lại kịp, nếu quay mũi thuyền hoặc buông dây lèo, thuyền đi trước có thể dừng được nhưng thuyền đi sau sẽ đâm nát con thuyền vừa quay ngang và hàng loạt các thuyền phía sau cứ thế mà đâm vào nhau và cùng chết chìm. Vả lại dòng sông quãng này hẹp lại mùa khô, nước cạn thuyền cồng kềnh rất khó xoay trở. Còn như đội kỵ binh đi song hành với thuyền thì loạt tên đầu tiên phải ưu tiên cho đám quân kỵ, và ngay lập tức bắn xuống thuyền. Lại cũng phải tập trung bắn vào thuyền thứ nhất, thuyền thứ hai. Hai chiếc đi đầu mất lái, những chiếc đi sau cứ thế tuần tự đâm vào nhau gãy nát hết. Có thể đám quân thủy này chưa diệt hết được nó như đám quân kỵ, nhưng ta tin chúng sẽ trúng tên chết quá nửa. Phần còn lại nhờ hà bá diệt nốt. Ngay trong lúc đại binh của nó chưa nhận biết du binh bị đánh thì hai cánh quân luồn qua đường hào đổ về phía con lạch, và từ phía con lạch đó quân rút về doanh trạm ở trong làng.
Trần Nhật Duật gặng hỏi hai vị đô tướng:
- Các ông thấy ta bổ túc thêm kế của các ông liệu có phần nào diệu dụng không?
Hai vị đô tướng đều hân hoan đáp:
- Đúng là thượng tướng hơn lũ tôi một cái đầu.
- Ta hơn làm sao được các ông, có điều rằng một khi đã bổ túc cho nhau thì nó hoàn hảo hơn. Vậy còn điều gì băn khoăn nữa không? Mọi việc kiến tạo trận địa phải tiến hành gấp trong đêm nay. Đất đào hào phải rải ra rồi phủ rạ lên, mọi điều phải kín nhẹm, cho quân canh gác hai đầu không cho người qua lại. Vẻ suy nghĩ, Trần Nhật Duật dừng lại giây lâu rồi nói: - Còn một việc nữa, cần phải bàn cho cạn nhẽ, rằng ta bày trận chưa bao quát đầy đủ, tức là ta quy ước giặc chỉ đi phía tả ngạn. Đúng ra tả ngạn thuận cho giặc hơn, bởi đường sá tốt hơn và nếu giặc có bị đánh bật lại thì đường lui về Vân Nam không cách trở sông ngòi như bên hữu ngạn. Tuy nhiên, nếu giặc đổi ý lại đổ quân kỵ sang bờ hữu ngạn thì các ông xử lý thế nào?
Tới đây hai vị đô tướng đều ngớ người ra:
- Chủ tướng! Chủ tướng quả là bậc trí tướng. Thảo nào năm ngài mới hai mươi sáu hai mươi bảy tuổi một mình vào trại Trịnh Giác Mật, thuyết phục được viên đầu lĩnh người Man này toan làm phản trở thành phên dậu vững chắc của triều đình, trong cuộc chiến năm Ất Dậu, cả hai cha con Mật đều lập công lớn.
Trần Nhật Duật khoát tay nói:
- Việc đó không khó, về doanh trại ta bàn tiếp. Bây giờ các ông phải lo cắt cử quân đi lập trận địa mai phục. Và phải có quân thám sát suốt hai triền sông, phải bám sát xem khi nào du binh giặc khởi hành, lại phải xem nó có bất ngờ đổi hành trình, tức là quân kỵ của giặc chuyển từ tả ngạn sang hữu ngạn hoặc ngược lại.
Ngày hôm sau các đô tướng cho quân ra trận địa mai phục từ cuối canh tư khi trời còn tối đen như mực, mưa phùn rắc nhẹ làm cho những người lính vốn ít áo ấm càng thêm rét. Nhưng trong lòng họ thật là hào hứng, họ không ngại dấn thân vào nơi máu lửa thậm chí chết chóc, chỉ mong đuổi được loài giặc dữ, lấy lại sự yên bình cho nước, cho nhà mà làm ăn yên ổn. Họ không có khao khát nào lớn hơn là đất nước được yên bình. Một loáng, các chiến binh đã vào hết các vị trí mai phục. Trời sáng dần, bầu trời mờ đục dưới làn mưa mỏng nhẹ, gió hơi phơ phất. Từng bầy vạc ăn đêm quay về tổ đang hối hả bay ngang trời thả ra những tiếng kêu khan. Những tiếng gà gáy sáng cuối cùng còn rải rác trong xóm thôn cứ vẳng lên ấm áp. Xa xa trong hương ấp loáng thoáng có những làn khói trắng bốc lên trên những mái rạ, nơi đó chắc là bếp nấu ăn của các đội dân binh, đội hương binh còn ở lại bảo vệ làng quê và giúp đỡ quân triều đình khi cần. Chính cái màu khói bếp kia lại làm cho các chiến binh đang mai phục nơi trận địa thêm vững dạ. Các chiến binh khi ra trận địa đã ăn no, lại đem theo nước uống và cơm nắm cho bữa trưa để tiện việc phục kích lâu dài.
Mặt trời đã lên ngang ngọn cây, hoe hoe nắng nhạt, mưa bụi đã tạnh hẳn, những giọt mưa đọng trên lá cây ngọn cỏ như những hạt sương đã thấm hết vào cỏ cây hoa lá. Bầu trời lúc này xuất hiện mấy con chim cắt dang rộng hai cánh lượn lờ trên cao với vẻ thanh thản tưởng như chúng đang thảnh thơi chơi nhởi, kỳ thực những cặp mắt tinh ranh kia đang soi mói tìm mồi nơi mặt đất.
Bầu trời và cả mặt đất lúc này yên ắng đến lạ thường. Quá trưa, quân thám về báo hôm nay chưa có dấu hiệu gì giặc sẽ tiến quân. Và từ sáng vẫn chưa có đội du binh nào xuất trại. Trái với lệ thường, hàng ngày giặc cho du binh ra khỏi trại tới vài chục dặm để thám sát tình hình rồi quay lại. Hoặc nếu là ngày giặc tiến quân vẫn cho du binh đi trước vài chục dặm rồi quay lại đón đại quân xuất phát. Nếu có đại quân ở phía sau thì du binh chỉ đi trước một đoạn khoảng mười dặm.
Vì chưa có dấu hiệu gì căng thẳng, các đô tướng được lệnh cho quân ngủ tại chỗ để lấy sức. Chừng một canh giờ sau quân được đánh thức dậy và chuẩn bị sẵn sàng chờ giặc đến. Quá giờ mùi, vẫn chưa có tin tức gì, ai nấy đều nghĩ hôm nay có nhẽ giặc cấm trại để mai mốt tiến quân đánh lớn. Các tướng đã nghĩ đến việc chập tối sẽ cho quân rút khỏi trận địa mai phục. Thế nhưng chừng giữa giờ thân, quân thám về báo, du binh của giặc đã ra khỏi trại.
Các đô tướng đi kiểm tra lại trận địa, đến từng nơi người lính mai phục vỗ về, khích lệ. Mọi việc đã sẵn sàng. Thời cơ lập công đã đến, sĩ khí lên cao chưa từng thấy.
Khoảng cuối giờ thân, toán quân kỵ của giặc đã đi gần ngang trận địa quân ta mai phục thì tên đi đầu dừng ngựa. Y quay đầu ngựa nói gì với đám quân ở phía sau rồi y giơ roi ngựa trỏ xuống lòng sông, lập tức mấy đứa hất bả vai ra lấy cung lắp tên bắn xuống nước. Giặc có ý định vượt sông, các tướng thầm đoán. Nếu chúng vượt sông ở quãng đó thì quân ta phải chạy bộ về phía ấy đón đánh, chắc không một tên Mông Cổ, một con ngựa Hồ nào có thể sống sót mà lên bờ. Thế nhưng giặc lại đi vào khu vực quân ta ước định cho quân bắn chéo cánh sẻ thì chúng dừng lại. Dường như chúng bàn nhau cho ngựa vượt sông. Đúng lúc đó một tiếng nổ ầm vang như sét đánh, trống đồng, trống da thúc đến lộng óc và hàng loạt tên bay chéo đan cài vun vút về phía quân kỵ bên kia bờ sông. Giặc còn chưa định thần xem chúng bị quân phục từ đâu thì người, ngựa cứ rầm rập đổ ngã như những cây chuối bị phạt gốc. Thây người, thây ngựa nằm đè lên nhau, tiếng ngựa rống, tiếng người kêu cứu nghe thảm thiết. Những tên kỵ mã ở cuối hàng quân quay đầu ngựa chạy không còn hồn vía, bỏ mặc đám thuyền bè đang thuận gió lao xuôi. Khoảng mười lăm con thuyền buồm căng gió khi chiếc đi đầu vừa nhận ra quân kỵ phía trước bị đánh, viên cầm lái nới dây lèo cho cánh buồm vát gió để lựa quay mũi thì hàng loạt tên ở trên bờ hữu ngạn bắn xuống như mưa, dây lèo đứt, tên cầm lái gục xuống buông cả tay lái lẫn tay lèo, con thuyền quay ngang, các thuyền khác cứ thế đâm vào nhau răng rắc gãy. Tên bùi nhùi bắn xuống chồng đống tạo ra các đám cháy trên thuyền. Giặc hết đường chống trả ào ào nhảy xuống sông. Lúc này quân ta bật ra khỏi hào cứ đứng trên bờ bắn thẳng xuống. Dòng sông đã dần dần nhuốm một màu đỏ nhờ như màu phù sa. Ấy là máu giặc.
Hoàng hôn trùm xuống, bầu trời thâm lại. Các viên đô tướng thu quân về trại. Trận đánh diễn ra nhanh chóng và quá bất ngờ nên giặc không biết đường nào mà chống cự. Số hai trăm quân kỵ may ra vài chục đứa chạy thoát, còn khoảng ba, bốn trăm quân thủy không biết có đứa nào còn sống sót.
Về trại, thượng tướng Trần Nhật Duật cho mở tiệc khao quân ngay trong đêm. Khích lệ quân sĩ và vinh thăng những người có công cao. Ông nói:
- Từ ngày giặc xâm phạm cõi bờ ta đến nay đã sáu, bảy ngày rồi. Quân ta mới có hai trận phục kích nhỏ. Trận này do có chuẩn bị tốt, lại bất ngờ nên ta vừa nhàn sức vừa giết được nhiều giặc. Sau trận này, ắt giặc phải dò chừng khi đi lại trên đất ta.
Ngừng lại giây lát, thượng tướng nói tiếp: - Các ông thử phán đoán xem, hôm nay du binh giặc xuất trại muộn, ta ngờ giặc sẽ kéo đại binh về thẳng Bạch Hạc. Vì vậy chỗ thuyền giặc đắm buổi chiều, ta muốn đưa thêm vài thuyền đá đến chặn giặc ngay đêm nay. Sau đó chỉ để một số quân nhỏ cùng với dân binh phục xung quanh khu vực để bắn tỉa khi chúng cho quân dọn các thuyền đắm lấy đường cho chúng xuôi Bạch Hạc.
Đô tướng Ngô Thùy nói:
- Ý của chủ tướng là đêm nay giặc có thể xuôi về vùng Tam Đái[47] và vì thế ngài muốn lui về phối cùng số quân tại đó lập trận địa kháng giặc.
- Đúng thế, theo ta nếu đêm nay giặc cho quân dọn dẹp lòng sông, nhanh lắm cũng phải giờ thân ngày mai mới thông được. Ngay bây giờ các ông phải cho quân đi lấy thuyền xếp đầy đá rồi đánh đắm cùng với đám thuyền giặc vừa bị quân ta đánh đắm chiều nay. Và dõi theo tình hình giặc cho chặt chẽ, nếu đêm nay chúng đến thì phải đánh để làm chậm bước tiến của giặc.
Nửa đêm, vẫn chưa có tin tức gì về việc giặc sắp tiến binh, thượng tướng Chiêu Văn vương liền cho lệnh nhổ trại. Nửa canh giờ sau hai quân thủy bộ đã lên đường xuôi về Bạch Hạc.
Trong tay có ba vạn quân nhưng Trần Nhật Duật chỉ tung vào trận hai vạn, còn một vạn quân nữa dùng vào việc ứng cứu, tiếp viện. Biết rằng A-ruc, A-tai và Mang-khu-đai đem theo năm vạn quân thủy, quân kỵ, quân bộ từ nẻo Vân Nam tiến vào, qua vài trận đánh nhỏ lẻ, giặc tuy có sứt mẻ nhưng chưa đáng kể. Nay ông định đánh một trận lớn để tiêu hao sinh lực giặc và cũng làm bớt nhuệ khí của giặc rồi lui quân để bảo toàn lực lượng toan tính việc đánh bại giặc, đuổi nó ra khỏi cõi bờ như Quốc công dự liệu.
Về trận đánh quy mô ở ngã ba Bạch Hạc này, cuối năm ngoái đầu năm nay ta đã cho diễn tập, đích thân quan gia đã về đây thị sát. Nhà vua tỏ vẻ hài lòng vì binh sĩ khỏe mạnh, tận tâm luyện tập và đều có chí giết giặc lập công. Sau đó, ta lại được điều làm tướng cầm đầu một đạo quân trong cuộc đại diễn tập đánh vào Vạn Kiếp. Có nhẽ cuộc xâm lăng của giặc diễn ra năm nay đúng như anh Quốc Tuấn dự đoán chăng.
Lại nói về mấy chục đứa tù binh bắt được hôm trước, thuần một lũ quân Giang Nam khờ khạo chẳng biết gì, trong đó chỉ có ba tên là tiểu đô tướng cai quản mấy chục tên quân và tất cả đã yên phận làm nô lệ cho ngoại bang Mông Cổ, chúng chẳng hề quan tâm đến sự mất còn của nước Trung Hoa, và chúng cũng không hề biết việc chúng vào xâm lược nước ta là việc làm có tội. Cho tới khi chúng bị bắt và được ta giảng giải chúng mới vỡ lẽ và tỏ ra vô cùng sợ hãi, đứa nào cũng run sợ, quỳ lạy, xin tha mạng.
Nửa đêm quân đã về hội đủ, Trần Nhật Duật cho nhóm họp ngay các tướng.
Quân thám về báo rằng cả ngày hôm nay phía trại giặc đều cấm trại, không có du quân, chỉ có quân tuần canh rất nghiêm ngặt quanh khu vực giặc hạ trại. Và tại đại bản doanh của tướng giặc treo cờ rủ. Chúng nó để tang nhau như vậy là chết nhiều, cả số quân kỵ lẫn quân thủy và trận trước đó nữa phải tới hơn nghìn tên. Việc này không thể không ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ giặc.
Trần Nhật Duật không chỉ triệu mấy vị phó đô tướng mà ông cho triệu tất cả đô tướng các cấp, một phần cho họ thông hiểu chức phận của từng công việc, phần khác cho họ hình dung đầy đủ chiến trận sẽ diễn ra trên một địa bàn rộng lớn như thế nào và cả sự ác liệt nữa để cho họ trở về khích lệ ba quân.
Treo tấm bản đồ lên vách trại, nhìn khắp lượt chư tướng, Trần Nhật Duật nói:
- Bữa nay không bàn nữa, vì ta với các ông đã bàn kỹ rồi. Địa hình các ông cũng thuộc nằm lòng rồi, cho nên ta chỉ nhắc lại phận sự các ông phải đánh cho thật linh hoạt. Đây là một đại trận, không còn yếu tố quá bất ngờ với giặc nữa. Giặc vừa có quân kỵ, quân bộ và quân thủy, ta lừa giặc vào ngã ba sông hãy đánh, khi ấy quân bộ và quân kỵ của giặc không còn liên kết được với nhau nữa sẽ thuận cho ta hơn. Các ông nhớ răn các đô tướng dưới quyền, chớ có ham đuổi giặc sát bờ, quân kỵ Mông Cổ có thuật quăng thòng lọng bắt người rất giỏi, phải răn cả binh sĩ nữa, chớ ham chiến mà phải hối đấy.
Ngừng một lát, Trần Nhật Duật lại gạn hỏi:
- Các ông còn điều gì cần nói hoặc cần hỏi nữa không.
Nguyễn Khoái xin nói:
- Thượng tướng cho biết khi quân ta rút thì rút về thẳng Thăng Long hay về giữ sông Thiên Đức để chặn giặc tiến vào Thăng Long?
- Phải giữ sông Thiên Đức để che chắn cho Thăng Long và chờ soái lệnh của Quốc công tiết chế. Và các ông phải nhớ kỹ, tuy đây là một trận đánh lớn nhưng cũng chỉ là đánh ngăn bước tiến của giặc, đánh tiêu hao giặc chứ chưa tiêu diệt hết được nó đâu. Giặc mới vào, sức nó đang cường, phải tản mỏng nó ra rồi mới đánh tiêu diệt từng cụm nhỏ của nó, vừa chắc thắng, vừa đỡ hao tổn máu xương sĩ tốt.
Mọi người vẫn im lặng lắng nghe, Trần Nhật Duật nhìn về phía đông đảo các đô tướng và tiểu đô tướng hỏi:
- Những điều ta vừa nói, chư vị hiểu cả chứ? Có ai còn điều gì mắc mớ muốn hỏi cứ hỏi tự nhiên. Trận mạc là chuyện có quan hệ đến sinh mệnh con người, phải hiểu cặn kẽ từ việc rất nhỏ chứ không thể qua loa đại khái được.
Nghe chủ tướng hỏi, mọi người thấy ấm lòng và đồng thanh đáp:
- Tạ ơn thượng tướng, chúng hạ cấp thông tỏ phận sự cả rồi, xin chủ tướng cho về trại quân còn lo việc nghênh địch.
Trần Nhật Duật sai quân rót rượu mời mỗi người một bát. Tay nâng bát rượu đi vòng quanh mọi người, ông nói: - Bữa nay ta mời các ông mỗi người một bát, thắng trận này ta sẽ khao lớn và uống thật say.
Mọi người vui vẻ nâng bát rượu lên ngang mày và cùng hô:
- Chúc chủ tướng vạn an! Chúc quân ta đại thắng!
Các tướng ra về rạo rực niềm vui.
Thượng tướng Trần Nhật Duật cho quân mai phục đón lõng ở ngã ba sông và cho mười lăm chiếc thuyền nhẹ ngược sông Thao để dụ giặc.
Mấy ngày nay thời tiết xấu, bầu trời ảm đạm và như thấp hẳn xuống, gió phơ phất, mưa dầm cứ lây phây lất phất suốt ngày. Vì mưa kéo dài nên đường sá đi lại trở nên trơn lầy, vài ba chục vết chân người hoặc trâu bò đi qua đã làm cho mặt đất nhão ra. Đồng ruộng, rừng cây xa trông chỉ là một đống mờ nhòe nhức mắt. Mặt sông lúc nào cũng có màu trắng nhờ nhờ, cách vài mươi trượng đã không còn phân biệt được hình người với bụi cây nữa.
Từ sớm tinh mơ thượng tướng Trần Nhật Duật đã ra bến sông xem trận địa và quan sát thời tiết. Trời vẫn lắc rắc mưa. Mưa giăng mờ cả mặt nước sông và bờ bến. Trần Nhật Duật mừng lắm, nếu thời tiết cứ kéo dài thế này rất lợi cho quân ta, mà giặc thì không thể chờ mãi cho tới khi nào thời tiết đẹp mới tiến binh. Vả lại, nếu giặc không động binh ta sẽ cho quân tập kích.
Khoảng giờ thìn quân viễn thám báo về: - Từ cuối giờ tí sớm nay, hết thảy quân giặc đã chuyển quân, mã, bộ, thủy đều theo đường sông Thao tiến xuống phía ngã ba Bạch Hạc và hiện thời quân kỵ và quân bộ của chúng mới chiếm lĩnh phía tả ngạn chứ chưa có dấu hiệu chúng chuyển sang hữu ngạn. Vậy là giặc còn cách Bạch Hạc chừng bảy mươi dặm nữa. Trần Nhật Duật ra ngoài trời xem thời tiết, vẫn mưa bụi lây rây, bầu trời vẫn u ám và đứng gió. Ông nhẩm tính: - Tuy xuôi nước, nhưng vào những ngày này là ngày nước lừa lúc lên lúc xuống, giặc lại dùng thuyền to nên không thể đi nhanh được. Quân kỵ của chúng có sức đi nhanh tới sáu, bảy chục dặm[48] một giờ[49] nhưng chúng không thể bỏ mặc quân bộ và quân thủy. Vì vậy, nếu thời tiết không thay đổi thì trong khoảng giờ tuất[50] đến giờ hợi[51] giặc sẽ lọt vào khu vực trận địa ngã ba sông này. Thế nhưng nếu trời hửng nắng lại có gió, thuyền đi nhanh mặt đường lại se thì quân bộ cũng đi nhanh hơn, giặc có thể tới Bạch Hạc vào khoảng giờ thân[52] hoặc giờ dậu[53]. Ông nhẩm tính - về mùa này cuối giờ thân đầu giờ dậu đã vào khoảng tranh tối tranh sáng.
Thượng tướng Trần Nhật Duật nhẩm tính: - Ngoại trừ giặc dừng lại giữa chừng cắm trại thì không kể, còn như giặc cứ đi tiếp thời vào các giờ đó rất thuận cho quân ta tác chiến. Từ Bạch Hạc ngược lên khoảng ba chục dặm rất nhiều nhánh sông nhỏ thông ra với sông Cái, chỉ thuyền nhỏ mới ra vào được. Từ các nhánh sông nhỏ này ta đã cho quân phục đổ ra khiêu chiến làm rối loạn hàng ngũ giặc, làm cho binh sĩ giặc hoảng loạn khi đi sâu vào đất ta. Tính ra cứ năm, mười dặm lại có một nhánh sông nhỏ ăn thông ra với Thao giang. Xem ra tới lúc này giặc vẫn chưa có ý định đưa quân kỵ và quân bộ sang hữu ngạn.
Trần Nhật Duật đã sai các tướng và chia quân đi các ngả đón lõng giặc để lùa nó vào nơi mà ta đã mai phục. Ông tự biết quân mình chưa bằng phân nửa quân nó, nên chỉ có thể đánh tiêu hao làm nhụt nhuệ khí giặc rồi lui quân bảo toàn lực lượng, chờ khi giặc mệt mỏi ta mới phản công đánh lớn. Tới thời cơ đó hoặc là diệt sạch sành sanh, hoặc là đuổi không còn một bóng quân thù nào trên đất nước ta.

Nghĩ tới đội quân xâm lược, Trần Nhật Duật thấy lần này ông lại chạm trán với những tên tướng giặc lần trước đã bị ông chặn đánh và khi quân ta phản công đuổi giặc vào phút chót, lũ tướng giặc này đã lâm tình thế thập tử nhất sinh mới ra khỏi được đất ta, thế mà bây giờ lại vênh vang, cả tên đầu sỏ Thoát-hoan được cha nó phong cho làm Trấn Nam vương cũng đều là một lũ bại tướng cả thôi. Tuy nhiên, ta phải răn bảo nhiều lắm các thuộc hạ không được coi thường giặc. Kẻ nào dám coi thường giặc cũng có thể xem như kẻ đó đã thua trận.
Gần trưa, mặt trời hơi lóe trên nền mây xám xịt, mưa dầm đã tạnh hẳn nhưng không gian vẫn nhuốm màu sương trắng đục, tầm nhìn trong khoảng vài dặm có thể phân biệt được người với vật. Khoảng đầu giờ thân thì mây đen ùn ùn kéo kín cả bầu trời, gió bắc thổi vù vù lạnh buốt. Và tới khoảng giữa giờ dậu, gió ngừng thổi, mưa bụi giăng mắc khắp bầu trời khiến tầm nhìn trở nên mung lung mờ ảo, cách chừng một dặm đã khó phân biệt được vật này với vật khác.
Tin tức quân thám đưa về từng khắc[54] theo dõi chặt chẽ mỗi bước đi và mỗi động tĩnh của giặc. Đúng là giặc không có ý định đưa quân sang phía hữu ngạn. Nhưng cũng không có dấu hiệu giặc có ý định dừng quân giữa đường. Vậy là giặc tiến thẳng về Bạch Hạc rồi từ đó xuôi sông Phú Lương[55] về Thăng Long hoặc giặc xuôi Vạn Kiếp phối cùng Thoát-hoan. Căn cứ vào tốc độ hành binh của giặc từ nửa đêm tới giờ, thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ước đoán trong khoảng giờ tí hoặc giờ sửu sớm mai giặc mới về tới Bạch Hạc. Như vậy cuộc đối đầu với giặc sẽ diễn ra từ giờ sửu[56] tới giữa giờ dần[57] thì kết thúc. Phải đánh cho giặc những đòn đau nhớ đời mà giặc không nhận biết rõ ràng về thuyền bè, khí giới và cả quân sĩ của ta. Và nếu như giặc lọt vào trận địa mai phục của ta sớm hơn thời ta cũng kết thúc trận đánh sớm hơn. Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào diễn biến của trận đánh.
Trăng thượng huyền vừa nhô lên với một quầng sáng mờ nhòe đã bị mây đen bao phủ, và nó cũng mất hút luôn để lại một bầu trời đen kịt. Mưa phùn vẫn dai dẳng rắc nhẹ bụi nước lâu dần đọng thành giọt và thấm ướt cả lần áo ngoài của những người lính đang căng tai ra lắng nghe động tĩnh từ xa. Cho quân lặn xuống nước sâu hoặc chèo thuyền sang phía bờ tả ngạn, áp tai xuống mặt đất lắng nghe tiếng động, cả hai mặt thủy bộ đều chưa có âm thanh nào vọng lại, chứng tỏ giặc còn ở khá xa. Lại nữa, quân thám về báo giặc còn cách ta vài chục dặm, thượng tướng cho phép quân được hút thuốc lào nhưng không được để lộ ánh lửa. Lại cho quân được phép vào trong khoang thuyền ngủ ngồi nửa khắc canh giờ.
Lệnh vừa ban xuống, mùi khói thuốc hăng nồng phảng phất khắp đó đây. Và ngay lập tức những người lính vừa ôm vũ khí vừa ngủ lăn lóc mặc cho gió bấc lạnh buốt như cào da xé thịt.
Khoảng giữa giờ hợi, quân thám về báo, giặc chỉ còn cách ngã ba Bạch Hạc non hai chục dặm, nhưng chúng đi thận trọng hơn chứ không đi nhanh như các đoạn trên. Trần Nhật Duật sai đánh thức binh sĩ dậy và phải vào ngay các vị trí sẵn sàng chiến đấu. Sang đầu giờ tí, mưa tạnh hẳn, không khí vẻ như ấm hơn, bầu trời trong lại, và sáng dần lên, thoáng lát mây mù phủ trắng trời, chỉ cách mươi bước chân là không còn nhìn rõ mặt nhau nữa. Lớp lớp những mảng mây trắng nhẹ như khói bồng bềnh trôi không còn phân biệt đâu là mặt sông đâu là bờ bến.
Từng vào sinh ra tử đương đầu với các tướng giặc khét tiếng hung bạo từ những năm hai mươi sáu hai mươi bảy tuổi, chưa bao giờ Trần Nhật Duật cảm thấy hồi hộp như lúc này, thượng tướng có cảm giác như Trời - Đất đang tỏ lộ sự giận dữ với kẻ ác, che chở cho người thiện và dường như hồn thiêng sông núi cũng dâng hiện về phù giúp con cháu vững tâm đánh giặc nên mới tạo ra được thời tiết như thế này. Thời tiết này là che mắt giặc.
Thượng tướng chỉnh lại chiếc mũ đâu mâu khâu ghép bằng bốn lần da dê có đuôi phủ kín gáy và nắn lại tấm giáp hộ tâm rồi đứng nghiêm trang mặt ngửa lên Trời vái năm vái, lại cúi xuống Đất vái năm vái và lầm rầm khấn: “Xin Trời - Đất chứng cho, dân Đại Việt hiếu hòa mà bỗng dưng trong bốn năm giặc Nguyên tàn bạo hai lần xâm lấn gây không biết bao nhiêu tội ác man rợ. Xin Hoàng Thiên - Hậu Thổ phò trợ dân tôi đánh tan loài quỷ hôi tanh để giữ yên bờ cõi bảo vệ giống nòi. Xin anh linh các liệt tổ và hồn thiêng sông núi độ cho toàn dân sức mạnh đánh bại kẻ thù!”.
Đâu đó từng đàn vạc bay ngang trời đánh rơi mấy tiếng kêu thảng thốt, và chốc chốc lại có đàn vịt trời bốc bay phả tiếng đập cánh vào không gian tĩnh lặng. Bỗng tiếng sóng dội ầm ào, tiếng vó ngựa dập dồn và cả tiếng người nói hòa vào với tiếng sóng nước mỗi lúc một rõ hơn, to hơn. Thượng tướng biết giặc đang ló khúc đầu vào trận địa ông đã mai phục sẵn. Và giờ khắc đi vào lịch sử của ngã ba sông này đã sắp điểm. Dường như hàng vạn quân sĩ của ông đang nín thở giương cung chờ tiếng pháo lệnh.
Bất chợt một tiếng nổ ầm vang như tiếng sấm rồi tiếng chiêng, tiếng trống đồng, tiếng kèn, đồng loạt khua vang tạo thành một sóng âm dồn dập, dồn dập. Và hàng trăm quả pháo thăng thiên rạch bức màn sương trắng xóa soi rõ đoàn thuyền giặc đang ngỡ ngàng, nhốn nháo và cả đám quân kỵ của giặc ở phía bên kia sông cũng đang lọt vào tầm ngắm của các cung thủ Đại Việt.
Lập tức hàng ngàn mũi tên bùi nhùi bắn chụm vào mấy chiếc soái thuyền đi đầu của giặc. Cùng lúc cả trăm chiến thuyền cỡ nhỏ của quân ta đang ẩn nấp ven bờ bãi, ngòi lạch nhất tề xông ra đánh xáp lá cà với thuyền giặc. Mấy chiếc soái thuyền của giặc đang đùng đùng bốc cháy, và có nguy cơ cháy lan sang những chiếc khác; quân chúng đang nháo nhác dập lửa cứu thuyền. Những chiếc đi sau không hãm kịp nên đâm vào nhau, chiếc thì vỡ mũi, chiếc thì thủng mạn và chúng cứ dính bện vào nhau không quay trở được trong khi lửa ở các thuyền bên cứ bốc cháy đùng đùng, và quân Đại Việt từ các thuyền nhỏ cứ nhằm bóng quân giặc loang loáng trước ánh lửa mà phóng tên độc. Giặc chết, đứa nọ ngã chồng lên xác đứa kia chất thành đống. Quân Đại Việt bắc thang dây leo lên thuyền giặc dùng đoản đao lao vào những tên giặc to lớn hơn mà đâm mà xỉa. Bọn giặc rất sợ sa chân ngã xuống sông nên thường tìm cách né tránh. Quân ta nhảy bổ vào ôm ngang lưng giặc kéo nó ra mạn thuyền vật lộn và tìm cách đẩy cho nó hẫng chân rồi ôm nó lăn tùm xuống nước. Giặc bỏ những thuyền cháy không cứu chữa nữa mà chúng vón lại tựa vào nhau để chống cự. Trong khi đó các loại chiêng trống, kèn, tù và từ phía bờ hữu ngạn cứ ầm vang khiến kẻ yếu bóng vía phải đưa tay lên ôm đầu, che tai hoặc đỡ ngực. Chừng nửa giờ sau thuyền giặc dồn về với số lượng đông gấp bội thuyền của quân ta, lúc này giặc đã chấn chỉnh được đội hình, hình thành thế bao vây quân ta. Các thuyền của ta nhỏ hơn nên luồn vào giữa hai khe thuyền của giặc, quây chúng lại từng dăm bảy chiếc một mà đánh. Giặc không thể thực hiện được ý đồ của chúng là dùng thuyền lớn với số lượng áp đảo để vây quân ta lại mà bắt sống.
Lúc này các thuyền cháy đã chìm nghỉm, quân bộ của ta từ trên bờ lại nhằm vào các thuyền tới sau của giặc mà bắn tên lửa[58]. Trong khi hậu quân của giặc bị thiêu cháy thì tiền quân của giặc đã bị quân ta kéo xa về phía ngã ba sông, nơi đó mặt nước mênh mông, quân bộ và quân kỵ của giặc chỉ bó tay đứng nhìn và thỉnh thoảng có chiếc thuyền nào đó tháo chạy về phía bờ tả ngạn thì quân kỵ, quân bộ lăm lăm bảo vệ.
Được dặn dò từ trước, thuyền của quân ta tuyệt nhiên không đuổi theo giặc về phía bờ tả ngạn, cả những người lính khi đã dìm chết giặc ở dưới nước nếu không trở lại thuyền được cũng chỉ lặn hoặc bơi về bờ hữu ngạn.
Quân ta đã kéo giặc đứt thành mấy đoạn, nhưng chúng đều cụm lại với nhau để chống cự.
Khi ta kéo được giặc ra giữa ngã ba sông thì âm thanh trên bộ cứ mỗi lúc một rộ lên khủng khiếp, và khi các tiếng trống đồng, tiếng chiêng vừa ngừng khua thì lập tức có tới cả vạn tiếng hô đồng thanh: “Sát Thát! Sát Thát! S…át…Th…á…t!…” Tiếng “Sát Thát” và tiếng chiêng trống cứ thay nhau làm huyên náo cả bầu trời và làm dậy sóng mặt sông. Lại một loạt tiếng nổ rầm trời như tiếng sét và cả ngàn quả pháo thăng thiên phụt lên tạo thành một bầu trời sao phủ kín mặt sông.
Quân ta vẫn áp sát giặc, nhảy lên cả những chiếc thuyền lớn của giặc mà đánh. Nếu giặc tập trung chặn quân ta ở mũi thuyền thì quân ta lại leo lên từ đằng lái và đánh vào sau lưng nó. Tiếng kim khí chém, bổ tóe lửa. Phần nhiều quân ta không đánh những tên đã áp lưng vào khoang thuyền để chống đỡ mà chỉ đánh những tên ở thế chông chênh, một là dồn nó ra phía ngoài rồi đâm nó ngã xuống sông, hai là húc đầu vào bụng nó để cùng ngã. Khi thuyền giặc kéo tới với số đông áp đảo, thì tất cả quân ta đều bỏ thuyền nhảy ào xuống sông. Chưa một tên giặc nào dám nhảy theo quân ta. Bởi chúng rất sợ tài bơi lặn của người Giao Chỉ. Chúng thường phao ngôn trong đám quân người Hán rằng: “Quân Giao Chỉ có thể đi chìm trong nước cả ngày không cần ngoi lên để thở”. Và: “Quân Giao Chỉ có thể đang đêm đục đáy thuyền làm đắm thuyền giết chết đối phương trong lúc đang ngủ là chuyện bình thường”… Chính những lời đồn đại ấy mà giặc sợ quân thủy của ta như sợ thần Hà Bá[59].
Đúng lúc hàng ngàn quả pháo thăng thiên vừa vụt tắt thì từ nhiều phía chiến thuyền của quân ta lại xông ra tiếp chiến. Đây là số quân tiếp viện đông tới một vạn, lúc này thượng tướng Trần Nhật Duật mới tung thêm vào trận. Trong số một vạn quân này chia làm hai cánh do các tướng Hà Anh và Lê Thạch tổng quản.
Tướng Lê Thạch dẫn năm ngàn quân trên hai mươi lăm chiến thuyền, lao thẳng vào trung tâm quân giặc với hàng trăm thuyền lớn nhỏ chúng đang quây chụm vào nhau ở giữa ngã ba sông để chống đỡ với quân ta.
Đoàn thuyền của Lê Thạch như một mũi khoan nhọn hoắt khiến thuyền giặc phải giãn ra về hai phía tựa như chiếc xích sắt vừa bị đứt tung một mắt.
Tưởng quân ta sẽ xông vào cái vòng vây giặc vừa hé cửa, viên hữu thừa A-ruc, tên tướng Mông Cổ đã bị Trần Nhật Duật đánh cho thua liểng xiểng cũng trên khúc sông này mới cách đây bốn năm trước, y hạ lệnh:
- Cứ để cho thuyền Giao Chỉ lọt vào rồi khép chặt vòng vây bắt sống.
Lê Thạch không những không bị giặc lừa mà ông cho quân đánh ráo riết khúc đầu khi giặc vừa tỏa ra. Với tất cả các thứ khí giới lợi hại như hỏa tiễn (pháo sáng) bắn lên để soi tìm giặc, rồi hàng loạt tên bùi nhùi bắn vào một điểm cho thuyền giặc bốc cháy. Chỉ cần một hai thuyền giặc bốc cháy là đủ ánh sáng để quân ta dùng nỏ liên châu vãi tên về phía quân giặc. Không một bóng quân nào của giặc thấp thoáng bên ánh lửa mà không nhận được một vài mũi tên tẩm độc.
Trong khi tướng Lê Thạch và quân sĩ của ông đang gan góc quyết chiến với giặc thì tướng Hà Anh cùng năm ngàn quân và hai mươi lăm chiến thuyền lại chọc thẳng vào sườn bên hữu của giặc buộc chúng phải giãn ra để thủ hiểm. Và như vậy cả hai tướng đã tháo tung chiếc xích khổng lồ của giặc ra và hai tướng đang quây khoảng năm sáu chục chiến thuyền của giặc lại mà tiêu diệt.
Đô tướng Nguyễn Khoái cỡi trên một chiếc thuyền nhỏ xông xáo chỉ huy quân đánh địch và giữ liên hệ chặt chẽ với thượng tướng Chiêu Văn vương.
Cùng với số quân tiếp ứng, hai vạn quân đã dàn trận từ trước vẫn đang bám sát giặc mà đánh. Nhiều chiến thuyền lớn của giặc đã bị quân ta đột nhập đánh giết tơi bời, giặc phải dồn tụ về phía khoang lái, chúng tựa lưng vào vách thuyền, tựa lưng vào nhau chĩa giáo nhọn ra bốn phía để chống đỡ.
Quân ta ném hỏa hổ vào, giặc hoảng loạn hú hét như cả bầy chó ngao bị sa bẫy. Đứa nào liều lĩnh xông ra liền bị đao sắc của quân ta chém bay đầu. Và ngay lập tức quân ta lùng sục những gì có thể cháy đem chất đống xung quanh khoang thuyền phóng lửa đốt và lùi xa về phía mũi thuyền, nỏ liên châu đã giương lên, giặc chạy ra sẽ không một đứa nào thoát chết.
Lửa bốc loang loáng, cháy trùm lên khoang lái và đang cháy lan về phía mũi thuyền. Quân ta nhất loạt nhảy ùm xuống nước, bỏ mặc hàng trăm xác giặc với chiến thuyền mang hiệu cờ Đại Nguyên chìm dần như một chiếc quan tài không nắp đậy.
Vừa khai chiến, quân ta đánh đòn phủ đầu rất gấp, khiến giặc trở tay không kịp, quân lính hoảng loạn lại không quen thạo sông nước nên chúng bị tiêu diệt khá nhiều. Có tới cả chục chiến thuyền giặc bị quân ta ép sát vào bờ hữu ngạn, số thuyền này phần lớn quân giặc bị giết, số còn lại bị bắt sống, thuyền bị đánh chìm xuống đáy sông.
Trong khi đó phía bên tả ngạn đám quân kỵ của giặc cứ xa dần với quân thủy vì mặt sông lúc này trở nên bát ngát, bầu trời vẫn mờ mịt như bị bịt mắt khiến các tướng giặc như A-tai, Mang-khu-đai những danh tướng lẫy lừng, tay chân thân tín của Hốt-tất-liệt được phái đi trợ giúp cho Thoát-hoan mà bây giờ phải bất lực lắng nghe tiếng giao chiến trên mặt sông và không biết quân mình thắng thua thế nào. Tiếng trống khua, tiếng kèn thúc, tiếng hô “Sát Thát” từ bên kia sông dội sang như những lời thóa mạ thách thức của quân Đại Việt khiến những tên tướng Mông Cổ hung hãn và cả đám quân kỵ hung hăng kia tức đến vỡ mật.
Tướng giặc Mang-khu-đai cho quân đi sát mép sông lắng nghe động tĩnh, sẵn sàng dây thừng, thòng lọng để ứng cứu cho đám quân thủy khi cần.
Mang-khu-đai và A-tai thả lỏng cương cho ngựa đi nước kiệu dọc theo hàng quân mà lòng đầy bực bội. Vì rằng quân khỏe, ngựa tốt gặp khi giao tranh thì lại thúc thủ như lũ gà què.
Mang-khu-đai cho ngựa đi song hành với A-tai, y nói với vẻ bực giận:
- Quân Giao Chỉ giảo quyệt, chúng chọn đúng lúc trời mù sương và giữa mặt sông lớn để chặn đánh quân ta khiến kỵ đội thiện chiến của ta trở nên vô dụng. Nếu giữa ban ngày trời quang mây tạnh nơi đồng ruộng ráo khô, ta thề sẽ giết hết bọn chúng không cho một đứa nào được sống. Nếu bắt được Trần Nhật Duật ta phải mổ bụng xem gan mật nó to đến mức nào mà dám chống lại thiên binh, kháng mệnh thiên triều.
Quân ta đang ham đánh, nhưng Trần Nhật Duật biết ta chỉ có thể làm tiêu hao chứ chưa thể tiêu diệt được toàn bộ quân giặc trong trận đầu đấu sức này. Và trận đánh đã kéo từ đầu giờ tí nay cũng tới nửa giờ sửu rồi, ông hạ lệnh thu quân.
Tướng giặc vào loại tinh tường xảo quyệt, khi nghe hiệu trống, hiệu kèn hơi khác, chúng nghi là đối phương có thể lui binh hoặc sẽ thêm quân đánh lớn hơn nữa. A-ruc ngầm sai các đô tướng phải bủa vây đón lõng chờ khi thuyền quân Giao Chỉ tháo chạy thì chặn bắt lấy.
Thấy phía thuyền giặc chuyển dịch khác thường, Trần Nhật Duật sai hơn ba chục chiến thuyền nhỏ, mỗi thuyền chỉ để khoảng mười tay chèo lái giỏi xông thẳng vào giữa trung quân của chúng. Trong khi đó thì kèn, trống lại thúc inh ỏi như thể hiệu lệnh tiến công và tiếng hô: Sát Thát! Sát Thát! lại dội vào tai giặc như những mũi tên tẩm độc.
Quả nhiên đội thuyền nhỏ của quân ta đã hút được giặc về gần bờ tả ngạn. Và khi giặc khép chặt vòng vây dồn quân ta lại cũng là lúc hầu hết các cánh quân của ta đã rút về các ngả sông được quy ước từ trước giờ xuất quân.
Lúc này hơn ba chục chiến thuyền nhỏ của ta đã kéo được vòng vây giặc về gần bờ sông phía tả ngạn. Và một tiếng hô “Sát Thát” cực lớn vang lên cũng là lúc các chiến binh của ta biết hiệu lệnh: Bỏ thuyền! và ai nấy nhanh như rái cá lặng lẽ bám lấy mạn thuyền rồi khẽ tụt xuống lòng sông lặn về bờ hữu ngạn, bỏ lại mấy chục xác thuyền không. Đúng lúc đó, các tướng Lê Thạch, Hà Anh nhô đầu lên quan sát quang cảnh trận địa không ngờ giặc đã rình rập và từ đâu đó hai chiếc thòng lọng chụp xuống quăng đúng cổ và hai ông bị quân Mông Cổ bắt sống.
Chụp thòng lọng là ngón đòn sở trường của đám kỵ binh Mông Cổ đã được Hưng Đạo dạy cách tránh rất kỹ trong “Binh thư yếu lược”. Vậy mà hai viên đô tướng lại là nạn nhân đầu tiên, mặc dù hai ông đã chỉ huy quân sĩ đánh giặc hết sức kiên cường và dũng cảm đảm bảo thắng lợi trọn vẹn cho tới khi lui quân…
Trời đổ mưa nặng hạt rồi tạnh hẳn. Mặt trời lên rụt rè chiếu xuống ngã ba sông ngổn ngang thuyền đắm và các cột buồm lúc lắc như những kẻ chết đuối giơ bàn tay lên kêu cứu một cách tuyệt vọng.
Ngã ba sông rộng là thế mà phủ kín những mảnh ván thuyền, sạp thuyền, mui thuyền cùng những lá buồm còn bám với cột cứ dập dềnh trên mặt nước, kể cả những xác giặc cộn lại thành bè bu bám quanh xác những con thuyền chìm. Và trên trời lũ quạ đen đã kéo về từng bầy lượn lờ trên đống xác chết rồi chúng sà xuống đậu trên các cột buồm thả ra những tiếng kêu “quà”, “quà” như tiếng reo vui.
Các tướng Nguyên nhìn chiến trường ngổn ngang thuyền đắm và xác chết lòng đầy ngao ngán, và dường như chúng còn chưa hết hoài nghi về những gì đã diễn ra trong đêm qua. Mang-khu-đai buột miệng:
- Đúng là một cơn ác mộng!
CHƯƠNG 10
Bọn Lê Tắc, Nguyễn Lĩnh ở lại Tư Minh nghe đại quân của Thoát-hoan đã qua cửa ải Nội Bàng vào chiếm Vạn Kiếp, Hưng Đạo cùng quân Trần không cự nổi phải trốn tránh vào rừng. Lê Tắc nóng lòng muốn về nước để tham dự việc tái lập triều đình do Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đã được Hốt-tất-liệt thiên tử nhà đại Nguyên phong làm An Nam quốc vương.
Đội quân sau rốt vào Đại Việt tập hợp các quân ốm yếu mới khỏi, quân bị lạc gồm năm ngàn tên do Hầu đô sự, Đạt vạn hộ, Tiêu vạn hộ và Thiêm sự Lê Yến cầm đầu. Lê Yến còn được Chiêu Quốc vương ủy thác con nhỏ là Trần Dục mới chín tuổi, tước Đại Thúc hầu về nước.
Đám quân vét này được trang bị đầy đủ khí giới, lại thêm hai trăm quân kỵ hộ tống và vài chục ngựa thồ đi theo lũ lượt qua biên ải như đi vào chỗ không người nên chúng càng dương dương tự đắc. Lê Tắc rất tin vào sự toàn thắng của đại quân thiên triều. Vì rằng Tắc đã tận mắt thấy đất nước Trung Hoa bao la, của nả vô số kể mà người tài đâu có thiếu. Nhưng nhà đại Tống cuối cùng bị người Mông Cổ thống trị. Lại như ngày còn ở Thăng Long, tức là trước khi có cuộc xâm lăng của Trấn Nam vương Thoát-hoan năm Ất Dậu, Lê Tắc từng giao du với Tăng Uyên Tử, Chu Khởi là những cựu thần của nhà vong Tống sang Đại Việt tá túc, họ đều khâm phục sức mạnh của người Mông Cổ, kíp khi quân Nguyên sang đánh Đại Việt, họ đều ra hàng người Nguyên và xin được hồi quốc. Lại như Đại Việt sau khi đã gồng mình chống trả đại quân trong trận chiến năm Ất Dậu, xem ra đã kiệt sức. Cho nên lần này sự nghiệp chinh phục của Trấn Nam vương chắc sẽ sớm viên thành mà ngôi nước đưa về cho Chiêu Quốc vương đã được thiên triều an bài như là một thiên mệnh. Vả lại nếu việc lập quốc sớm thành tựu sao ta chẳng có một chân trong triều chính, vì rằng ta cũng là người có công cùng với Trần Kiện đem cả vạn quân binh ra đầu hàng nguyên soái Toa-đô khiến thế cuộc của vua Trần và Hưng Đạo trở nên chung chiêng nghiêng đảo. Và sau Trần Kiện là Trần Ích Tắc ra hàng kéo theo không biết bao nhiêu người trong hoàng gia, hoàng tộc như Trần Tú Hoãn, Trần Lộng và cả mấy vạn quân và nhiều người khác cùng theo nhau ra hàng.
Vừa đi đường Lê Tắc vừa nghĩ đến một ngày mai tươi đẹp cùng hưởng phú quý với Chiêu Quốc vương. Nhưng cái hận mất vợ mất con trên đường sang chầu thượng quốc thời không bao giờ có thể nguôi quên. Mai đây khi mọi việc đã yên ổn, ta phải tra xét cái trận tháng tư năm Ất Dậu kẻ nào đã cầm quân phục đánh Minh-lý Tích-ban trên ải Chi Lăng, ngăn cản những người có chí ra hàng và đang trên đường sang Bắc quốc để vào Đại đô chầu thiên tử. Trận ấy Trần Kiện đã bị bắn chết trên mình ngựa, ta phải ôm xác ông ta chạy mấy chục dặm về tới Khâu Ôn mới dừng lại mai táng.
Đoàn quân năm ngàn người qua ải Nam Quan vào Lạng Châu, lại qua ải Chi Lăng mọi sự đều yên ổn, không một bóng quân Nam nào lởn vởn kháng cự, Lê Tắc và cả bọn Thiêm sự Lê Yến cùng Tiêu vạn hộ, Đạt vạn hộ cứ ung dung ngày đi đêm nghỉ tựa như một cuộc viễn hành du ngoạn. Trên đường đi họ đàm đạo đủ thứ từ văn chương, lịch sử đến phong cảnh và cả sản vật nữa.
Khi nghe Lê Tắc nói về phong cảnh nước Nam hùng vĩ, sản vật trân quý như trầm hương, đồi mồi rồi mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng… không thiếu một thứ gì và nhiều vô kể, bọn Vạn hộ vô cùng thích thú và trong tâm can chúng lòng tham đã khởi.
Đêm ấy, cái đêm hai mươi tám tháng chạp, năm hết tết đến, ai nấy đều chộn rộn ở trong lòng mong sớm đến đại bản doanh của Trấn Nam vương ở Vạn Kiếp vừa ra mắt ngài vừa chúc một năm mới đại thắng. Và nhận bát rượu lộc đầu xuân do ngài ban tặng.
Sớm dậy trà nước xong, ăn sáng rồi cả đoàn quân thung dung tiến vào ải Nội Bàng.
Hầu đô sự và một trăm quân kỵ dẫn đầu cùng với hai ngàn quân bộ. Đạt vạn hộ, Tiêu vạn hộ coi ba ngàn quân đoạn hậu cùng với một trăm quân kỵ. Thiêm sự Lê Yến cho cậu bé Trần Dục con của Trần Ích Tắc ngồi sau lưng ngựa có Lê Tắc đi cùng, mấy ngựa này đi vào giữa đoàn quân vừa bảo vệ cho Dục vừa gần Lê Tắc để còn hỏi han đường sá và các việc khi cần.
Nội Bàng là ải quan trọng, nó là tiền đồn của Vạn Kiếp, nay đại quân đã chiếm đóng Vạn Kiếp, Nội Bàng coi như bỏ ngỏ. Vì vậy Hầu đô sự cứ cho quân đi nhẩn nha để giữ sức quân. Các kỵ binh đi nước kiệu, quân cung thủ thì tên bó lại nhét chặt vào giỏ đi cho đỡ xóc. Dọc đường quân lính còn nghênh ngang nhìn cảnh vật, nghe tiếng chim “bắt cô trói cột” hót lạ tai. Lạ nữa là mùa đông giá rét mà cây cối vẫn tươi xanh, bốn bề có tiếng nước chảy từ trong các khe lạch dồn về suối lớn. Thỉnh thoảng quân lại phải cởi giày lội suối. Nước suối trong vắt, chỗ sâu nhất chỉ tới đầu gối nhưng nước lạnh buốt hơn băng, quân lính thẩy đều rùng mình. Qua bên kia bờ suối có đứa nhìn xuống hai ống chân khiếp sợ kêu lên: “Rụng hết lông chân rồi!”. Cả bọn đều cúi nhìn xuống đôi chân và hết thẩy mặt chúng đều tái mét vì sợ hãi. Từ đó không còn nghe thấy tiếng cười nói nữa chỉ nghe thấy những hơi thở bên tai và bước chân rậm rịch.
Đám quân kỵ vẫn ung dung thả nước kiệu đi mở đường. Quân kỵ vừa đi vừa phải đợi quân bộ theo sau. Lại một con suối nữa chắn đường đi, lũ ngựa vừa lội qua suối còn đang đứng ngổn ngang trên bãi đá ven rừng. Hầu đô sự ra roi dấn lên vài bước ngựa để ngó đường, bỗng nhiên một tiếng nổ xé trời như tiếng sét đánh và hàng loạt tên từ mọi phía đổ dồn vào đám kỵ binh. Tướng Hầu đô sự là kẻ ngã ngựa đầu tiên. Và đám quân kỵ cả người lẫn ngựa cứ theo nhau đổ lăn trên bãi đá, những đứa còn sống hốt hoảng quay đầu ngựa chạy trở lại đâm bổ vào lũ quân bộ, nhiều đứa bị ngựa giẫm què kêu khóc thảm thiết.
Rắn đã mất đầu, đám quân đi sau tháo chạy hỗn loạn, nhưng tất cả các nẻo đường đều đã bị quân ta bịt kín.
Quân giặc vừa bị chặn đầu vừa bị khóa đuôi nên không có lối thoát.
Đạt vạn hộ, Tiêu vạn hộ và Thiêm sự Lê Yến cùng hỏi Lê Tắc:
- Nguy tai! Nguy tai! Tính sao đây tiên sinh?
Lê Tắc lắc đầu đáp:
- Vô kế khả thi. Bất ngờ! Quá bất ngờ bởi không ai tính đến nước cờ này. Hưng Đạo quả là bậc tướng lão luyện kỳ tài.
- Quân Giao Chỉ thật lợi hại khó lường. - Đạt vạn hộ nói.
- Đúng là bọn Giao Chỉ quỷ quyệt. - Tiêu vạn hộ nói. Nhưng phải làm cách nào thoát ra khỏi vòng vây chứ ở đây chờ chúng nó tới bắt trói làm tù binh sao?
Cậu bé Trần Dục mặt tái mét ôm chặt lấy Lê Yến miệng lắp bắp: “Thúc thúc, cháu sợ lắm. Cha cháu ở đâu?”.
Thiêm sự Lê Yến ngoái tay lại phía sau vỗ vỗ vào vai đứa bé nói:
- Không sợ! Không sợ, đã có các chú với cả năm ngàn quân che chắn cho cháu. Cha cháu hiện đang ở đại bản doanh của Trấn Nam vương cách đây năm, sáu chục dặm thôi. Nay mai vào Thăng Long cha cháu lên ngôi, cháu ở cung hoàng tử có quân cấm vệ canh phòng không kẻ nào dám đụng đến cháu.
- Quân Việt đánh rát quá, làm thế nào thoát khỏi trùng vây? Chẳng lẽ tiên sinh quê quán ở đây mà không thuộc đường sao? - Lê Yến gặng hỏi.
Lê Tắc ghé sát Thiêm sự Lê Yến nói nhỏ vào tai:
- Có đường hẻm có thể thoát ra, nhưng phải chờ đêm xuống, và cũng chỉ có thể đem theo được vài chục người thôi, nếu tham mà dắt díu nhau thì không một ai thoát được đâu. Tôi biết quân Đại Việt thường tránh mạnh đánh yếu, đánh vào chỗ không ai ngờ tới.
- Tôi sẽ mật bàn với Đạt vạn hộ, Tiêu vạn hộ để rỉ tai một số người thôi. - Lê Yến đáp.
- Nhưng phải kháng cự được tới lúc trời nhập nhoạng, trước khi quân Đại Việt xộc vào đây.
Lê Yến gật đầu nói khẽ:
- Chắc được, bây giờ đã cuối giờ thân rồi. Nói xong Yến bấm ngựa đến chỗ Tiêu vạn hộ, Đạt vạn hộ.
Trời vừa nhá nhem, Lê Tắc lấy la bàn ra định phương hướng chờ đêm xuống. Lúc này quân Đại Việt lại im ắng, không nổi kèn trống, không đốt đuốc truy đuổi, chắc họ phục tại những nơi quân Nguyên có thể mở đường máu thoát ra.
Quân Nguyên phải kháng cự suốt một ngày vừa mệt mỏi, đói khát, tới lúc này đã chết tới quá nửa, tinh thần binh lính rệu rã. Trong khi đó các tướng đã chọn ra khoảng gần một trăm quân kỵ khỏe mạnh, cung tên, đao, kiếm sẵn sàng, nói là để mở đường máu gọi viện binh đến cứu.
Khi đã lừa được hàng ngàn quân ở lại, Lê Tắc dẫn các tướng cùng đoàn quân chạy trốn luồn rừng đi về hướng đông bắc.
Cắt ngang cánh rừng để tìm đường sống tức là phải len lách giữa những cây đại thụ chen chúc với cây gai, dây cuốn chằng chịt, người, ngựa xiết bao cực nhọc. Nhiều chỗ phải dắt ngựa lấy sức nó mà mở đường cho người luồn chui theo sau. Gần nửa đêm ra khỏi rừng được vài chục dặm đã có quân đuổi theo, tiếng hô “Sát Thát!” vang khắp núi rừng cứ vọng mãi vào vách núi, thành hang rồi dội lại, cái âm thanh ấy cũng như góp phần vào sự truy đuổi, khiến kẻ chạy trốn thêm bàng hoàng, khiếp nhược.
Lê Tắc dẫn lũ giặc trốn chạy không dám ngoái đầu lại, khi hoàn hồn không thấy đồng bọn. Tắc hốt hoảng quay lại tìm thì thấy một đám người, ngựa xơ xác quần áo rách bươm, không một đứa nào trên đầu còn mũ và mặt thì gai cào xây xước vết máu còn tụ bầm tím dọc ngang như lũ tội đồ bị rạch mặt.
Thiêm sự phán phủ Lê Yến lê lết trên con ngựa gầy lại kèm thêm cậu bé chín tuổi tước Đại Thúc hầu, con của Trần Ích Tắc ký thác cho Yến đem về nước. Thằng bé sợ hãi bạc cả mặt. Kiểm lại, đoàn người chạy trốn đã bị quân Đại Việt cắt đuôi tiêu diệt mất quá một phần ba, số còn lại chưa quá sáu chục tên.
Nhìn Lê Yến cưỡi con ngựa gầy cứ tụt lại phía sau, Tắc động lòng trắc ẩn nói với giọng xúc động:
- Thiêm sự để tôi chở giùm Đại Thúc hầu kẻo ngựa của ngài yếu quá, sợ lại gặp giặc đón đường nữa thì khó cho ngài.
Lê Yến vái Lê Tắc một vái rồi nói với giọng xúc động:
- Đa tạ hảo ý của tiên sinh, nhưng tôi không thể rời công tử được, bởi đức ông Chiêu Quốc vương đã có nhời ủy thác.
Lê Tắc tự nghĩ: Con người này quả là nghĩa hiệp, trọng tín, gian nguy cũng không đổi dạ, thật đáng trọng.
Nghĩ vậy Lê Tắc bèn xuống ngựa vái Thiêm sự Lê Yến một vái và nói:
- Nếu ngài muốn thật lòng bảo vệ công tử xin ngài vui lòng đổi ngựa cho tôi. Nói xong Lê Tắc trao dây cương con ngựa khỏe mình đang cưỡi đặt vào tay Lê Yến.
Lê Yến vội xuống ngựa sụp lạy hai lạy rồi ẵm cậu bé sang yên cương con ngựa mà Lê Tắc vừa trao.
Mọi việc diễn ra trong chớp mắt. Vừa lên ngựa ra roi xông lên trước hàng quân, Lê Tắc giục:
- Các vị mau theo tôi. Tình thế chưa an đâu, phải qua biên ải mới coi là thoát nạn. Rồi Tắc quất roi vào vai con ngựa gầy vút đi.
Đoàn quân thất trận nối đuôi nhau chạy trốn nom tiều tụy như một lũ ăn mày, lê những bước chân mỏi mệt đến gần biên thùy, gặp ngay quân phục của Đại Việt đã chờ sẵn. Đâu đó vang lên tiếng quát:
- Quân giặc muốn sống xuống ngựa nộp khí giới đầu hàng!
Lê Tắc vội ngoắt ngựa chạy qua nẻo đường tắt luồn rừng về được bên kia biên ải, nhưng những kẻ ở cuối đoàn quân đều phải nộp mạng.
Tính ra bọn Lê Tắc đến ải Nội Bàng vào ngày hai mươi tám tháng chạp, chúng bị quân Đại Việt đánh cho tơi tả, hơn năm ngàn quân khi về tới Tư Minh là chiều tối mùng hai tết còn được hơn năm chục đứa. Chúng nhìn nhau ngơ ngác như mới từ cõi chết trở về, tất cả lũ chúng đều sụp lạy Lê Tắc và nói:
- Ơn cứu tử không biết lấy chi đền đáp, xin ông nhận ở chúng tôi mỗi người ba lạy.
Lê Tắc cảm động rưng rưng nước mắt lạy lại một lạy đáp lễ:
- Suốt mấy trăm dặm đường trường chỉ cắm đầu chạy chưa một lần dám ngoái đầu lại, cũng không hiểu tại sao trong lúc muôn chết tôi lại chạy vào sinh địa, lúc ấy là cứ chạy thôi chứ đâu có nhận biết được đường sinh đường tử, âu cũng do mệnh Trời cả; do Trời điều hành cả chứ mình sao tính được.
- Đúng thế! Đạt vạn hộ nói.
- Có trời nhưng cũng phải có ông dẫn lối đưa đường chứ cứ như lũ chúng tôi sao mà thoát hiểm được. – Tiêu vạn hộ nói thêm.
Sớm mồng ba tết năm Mậu Tý (1288) lũ Tiêu vạn hộ, Đạt vạn hộ và Thiêm sự phán phủ Lê Yến nhờ viên quan biên trấn Triệu Tu làm giúp một mâm cơm thịnh soạn khoản đãi Lê Tắc.
Trước khi vào tiệc, cả hai viên vạn hộ đều nói:
- Nhờ có ông sáng suốt dẫn chúng tôi chạy ra cửa ải may còn được sống đến hôm nay, coi như chúng tôi được sinh ra một lần nữa, công của ông lớn lắm, chúng tôi nguyện khắc cốt ghi tâm. Nếu gọi là trả ơn chẳng hóa chúng tôi vô ơn, gọi là một chút lễ mọn, mong ông thâu nhận. Nói xong, họ đem ra mấy tấm gấm và lụa quý. Lê Tắc đều từ chối không nhận.
Lê Tắc băn khoăn giây lát rồi nói:
- Dù tôi đã quy thuận thiên triều, và thiên tử đã mông ân, nhưng gốc tôi vẫn là người Đại Việt. Người Đại Việt bẩm tính nhu hòa, hiếu thiện và rất tự tôn, lại thủy chung như nhất, nên gặp gian nguy không bao giờ bỏ bạn. Các ông chẳng thấy năm Ất Dậu tướng Minh-lý Tích-ban dẫn chúng tôi vào chầu thiên tử, khi qua ải Chi Lăng bị quân Việt đuổi đánh, số người tòng vong chết đến quá nửa, chủ tôi là Hoài vương Trần Kiện bị bắn chết trên mình ngựa, tôi đã vác xác ông về tới Tư Minh mới dừng lại an táng. Việc gặp nguy khốn năm nay với năm trước, tôi hành xử như lẽ thường hằng, mong các ông đừng quá bận tâm về việc nhỏ đó làm gì, điều hệ trọng nhất là chúng ta còn được sống và hãy sống tốt với nhau.
- Quả thực ông là một người cao thượng, chúng tôi không theo kịp. Cả hai vị vạn hộ đều nói.
Quan Thiêm sự phán phủ Lê Yến sửa lại áo mũ chỉnh tề dẫn Đại Thúc hầu Trần Dục tay cầm ngọc tỉ, đầu đội mũ tế đằng[60] có khảm ngọc đến tạ ơn, Lê Tắc đều khước từ.
Lê Yến bèn quỳ xuống nói:
- Nếu không vì tấm lòng nghĩa hiệp mà ông đổi ngựa cho thì tôi với vị hoàng tử này sao còn có hôm nay. Đúng là ông đã sinh ra tôi lần thứ hai, tôi tuy hơn ông bảy tuổi nhưng cho phép tôi được nhận ông là cha và xin dâng ông một hạt hoàng nê thạch này và hai tấm vải của xứ Cao Ly gọi là một vật nhỏ trong lễ tạ ơn.
- Việc xưng hô là tùy tâm ông, tôi không dám nhận cũng không dám từ, còn như các vật kia ông nên giữ lấy. Bình sinh tôi ham sống nên không dám giữ vật quý bên mình, mong ông hiểu giùm cho. Lê Tắc cố từ, không nhận của ai một vật gì.
Lũ người bại trận này không dám tiếp tục vào Đại Việt, cũng không dám trở lại Yên Kinh mà cứ nằm lại Tư Minh chờ chiến cuộc. Nếu Thoát-hoan chiến thắng thì việc vào Đại Việt chẳng có khó khăn gì, nếu Thoát-hoan bại ắt phải chạy về nước theo con đường này, lúc ấy đều là quân bại trận cả, chẳng còn ai xét đến tội lỗi nữa mà phải lo.
Lúc này đại bản doanh của Thoát-hoan đã trụ vững cả một vùng rộng lớn mà Vạn Kiếp là trung tâm. Đóng quân tại Vạn Kiếp, Thoát-hoan kiểm soát con đường thủy huyết mạch của Đại Việt. Nó đảm bảo việc nối liền với chính quốc bằng sông Bạch Đằng ra cửa An Bang[61] hoặc cửa Đại Bàng để ra biển. Đây là con đường tiến, thoái vừa thuận tiện vừa lợi hại vào bậc nhất. Ngược lên sông Bình Giang có thể lấy viện binh từ trong nước qua ải Nội Bàng xuôi về Vạn Kiếp. Còn như lấy sông Thiên Đức có thể kéo một mạch về tới Thăng Long, lại từ Thăng Long xuôi Long Hưng, Thiên Trường[62] mà ra cửa Hải Thị. Lại từ cửa Hải Thị mà ra biển rồi vòng về Tháp Sơn, Vân Đồn qua sông Bạch Đằng ngược về Vạn Kiếp.
Thoát-hoan tỏ vẻ hài lòng vì lần này y quyết giữ Vạn Kiếp làm căn cứ huyết mạch, hơn nữa việc chiếm Vạn Kiếp lần này hao tổn máu xương binh sĩ không đáng kể. Đúng là Giao Chỉ đã kiệt sức qua cuộc chiến năm Ất Dậu vì thế Hưng Đạo phải bỏ địa bàn trọng yếu này mà chạy. Kiểm lại, các tướng đã về hội dưới trướng khá đầy đủ. Viên phó tướng Áo-lỗ-xích hùm sói được Thoát-hoan luôn giữ bên mình. Còn các tướng khác dẫn quân vào các đường khác nhau như tả thừa Mang-khu-đai và các chư vương A-ruc, A-tai từ Vân Nam tiến về Bạch Hạc cũng khá chật vật, tổn thất không nhỏ. Lại như Bôn-kha-đa, Trịnh Bằng Phi đi nẻo Vĩnh Bình, Chi Lăng bị quân Giao Chỉ cản phá quyết liệt, đánh nhau tới gần hai chục trận mới cướp được đường về Vạn Kiếp. Bên cạnh Thoát-hoan còn có Lưu Thế Anh bị Hưng Đạo đánh bật ra khỏi căn cứ A Lỗ năm trước cùng nhiều tướng tâm phúc khác.
Thoát-hoan hơi ngạc nhiên, lần này y cầm quân vào Giao Chỉ vẫn đi theo đường cũ mà gần như không gặp một trở ngại nào đáng kể. Quả là Hưng Đạo kiệt sức nên không dám đối đầu với ta nữa. Thoát-hoan đang nóng lòng chờ đội quân thủy hùng mạnh của tham tri chính sự Ô-mã-nhi bạt-đô và tham tri chính sự Phàn Tiếp về hội là sẽ tung quân đi chiếm Thăng Long, Thiên Trường. Tuy nhiên, Thoát-hoan không thể không trông ngóng Trương Văn Hổ, bởi quân hùng tướng mạnh mà không có lương thực cũng trở nên vô dụng.
Lại nói về Ô-mã-nhi sau khi nhận mệnh lệnh của Thoát-hoan bèn lên đường tới Khâm Châu. Điểm quân xong, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp dẫn đầu, các tướng Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê lĩnh hơn hai vạn quân đoạn hậu. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đi giữa. Hơn sáu trăm chiến thuyền với gần một trăm thuyền chở lương to vào hàng bố đại cồng kềnh. Thuyền nào thuyền ấy đều kéo cả buồm mũi buồm lái, và thuyền nào cũng treo lá cờ Đại Nguyên trên đỉnh cột buồm gió đánh phần phật.
Buồm giăng, cờ xí, quân reo, trống thúc khí thế ngút trời. Đoàn hải binh rời bến vào một ngày đẹp trời khoảng trung tuần tháng một (tháng 11) năm Đinh Hợi (tháng 12-1287) nhằm vào hướng Đại Việt. Cuối năm gió mùa đông bắc thổi mạnh, buồm nào cũng no gió căng phồng kéo thuyền đi băng băng.
Sau ba ngày lênh đênh trên biển, toán đi đầu đã vào tới đầu châu Vạn Ninh. Ô-mã-nhi rất sốt ruột vừa đi vừa phải chờ đoàn quân tải lương. Các tướng Lưu Khuê, Trương Ngọc đi đoạn hậu cũng lấy làm sốt ruột.
Khi chiến thuyền của Ô-mã-nhi hùng hổ kéo qua mũi Ngọc Sơn, quân ta do tướng Trần Đa đã phục quân đánh rất quyết liệt. Giặc cậy số đông quây thuyền lại đánh. Bên ta dùng nỏ liên châu, máy bắn đá gây cho giặc tổn thương không đáng kể. Trời đã sâm sẩm chiều, giặc cướp được đường đi và chúng lái thuyền xa mép nước ngoài tầm bắn của cung nỏ.
Nhân Đức hầu Trần Đa đã được thượng tướng Trần Khánh Dư giao phó nhiệm vụ và căn dặn rất kỹ:
- Tướng quân phải đánh như thế nào cho giặc thấy quân ta tuy gan góc chống cự, nhưng rất yếu không đủ lực cản giặc. Phải nuôi cho tính kiêu căng của giặc phát triển đến cao độ, khiến đi tới đâu giặc cũng coi thường quân ta. Và chỉ được đánh một trận đầu rồi thả cho giặc đi. Nhiệm vụ của tướng quân chỉ có thế, tôi nghiêm cấm không được chặn đánh giặc dọc đường chúng dẫn quân và lương từ Vạn Ninh về đến Vân Đồn. Sau trận đánh, tướng quân dồn quân về nơi đã quy ước.
Thừa thắng Ô-mã-nhi cho quân thẳng tiến. Dọc đường đi không gặp một cản ngại nào do quân Đại Việt gây ra. Gió lộng, buồm căng, đoàn chiến thuyền tựa như đoàn kỵ mã đang sải vó trên sa mạc. Đứng trên mũi thuyền, Ô-mã-nhi cười sằng sặc rồi quay nói với viên phó tướng:
- Phàn tướng quân, ta nhớ trận Chương Dương mấy năm trước quân Giao Chỉ đã dồn ta vào cửa tử, may ta cướp được chiếc thuyền nhỏ chạy ra biển mới thoát. Lần này vào Giao Chỉ, ta cảm như vào chỗ không người, ông có biết vì sao không?
Phàn Tiếp ngửa mặt nhìn bầu trời xanh cao vút, mặt biển mênh mông, đoàn chiến thuyền băng băng rẽ nước tưởng không một sức mạnh nào cản nổi, lòng đầy tự hào, viên tham tri chính sự đáp:
- Tôi chắc cuộc chinh phạt của đại quân thiên triều năm Ất Dậu mới đây, Giao Chỉ đem toàn lực ra chống đỡ khiến nước nó kiệt quệ, binh nó rệu rã. Cứ xem trận vừa rồi nó phục đánh quân ta ở mũi Ngọc Sơn, có khác nào đám con nít chơi trò đánh trận tại một góc sân hẹp.
- Chính thế! Ô-mã-nhi đáp, vì vậy lần này ta quyết bắt bằng được Hưng Đạo về dâng thiên tử. Thiên tử từng nói ngài muốn biết gan của Hưng Đạo to như thế nào mà dám kháng mệnh thiên triều.
- Phải, chỉ có bắt được Hưng Đạo mới diệt được mầm phản loạn tại Giao Chỉ. Như sực nhớ ra việc gì hệ trọng, Phàn Tiếp liền hỏi:
- Bẩm chủ tướng, quân ta đi quá xa đoàn thuyền tải lương, nếu quân Giao Chỉ tập kích thì nguy lắm.
Nghe Phàn Tiếp hỏi, Ô-mã-nhi cười rung cả hàng ria mép, đoạn ông ta nói với vẻ đầy kiêu hãnh:
- Quân Giao Chỉ coi như đã chết, chẳng việc gì phải bận tâm, biển Nam Hải khác chi ao nhà của ta, tướng quân còn phải lo gì nữa. Còn thuyền lương ư? Với năm ngàn quân tinh nhuệ đi theo, Trương Văn Hổ thừa sức tự bảo vệ mình. Vả chăng, ông có biết, cha con Trương Văn Hổ vốn là kẻ đàn anh trong nghề cướp biển, thiên tử dụ mãi y mới chịu về hàng, thế thì nó tha cướp của người khác chứ còn ai cướp được của nó. Hơn nữa còn có bọn Lưu Khuê, Trương Ngọc, Ô Vy với hơn hai vạn quân đoạn hậu lo gì.
Lại nói bọn Lưu Khuê, Trương Ngọc dẫn quân đi sau đoàn thuyền tải lương chậm rì rì mà phía trước đoàn chiến thuyền của Ô-mã-nhi đã khuất dạng từ lâu. Các tướng đều nóng lòng đến hội quân tại Vạn Kiếp như nhời Trấn Nam vương căn dặn. Lo đến trễ sẽ lỡ việc lớn mà mang tội, Lưu Khuê liền bàn với hai tướng Ô Vy, Trương Ngọc:
- Mấy hôm nay ta đi đều thuận gió, thuận thì tiết mà yên tĩnh như đi trong ao làng vậy. Ta chắc quân Giao Chỉ sợ hãi đi trốn cả rồi, vậy mà chúng ta cứ phải núp bóng Trương Văn Hổ thử hỏi đến bao giờ mới kịp ra mắt Trấn Nam vương, sao còn cơ hội cho chúng ta lập công nữa, ý các ông thế nào?
Trương Ngọc liền đáp:
- Đại nhân nói rất phải, ta theo Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ là để lập công, tại sao lại cứ phải quẩn quanh với Trương Văn Hổ và đám thuyền lương của nó. Nó đã xin thiên tử năm ngàn quân tinh nhuệ để tự bảo vệ kia mà.
Ô Vy cũng nói vào:
- Lúc ra đi chủ tướng Ô-mã-nhi nói chúng ta đi đoạn hậu, là đoạn hậu của đoàn thủy binh chứ có ai trao cho ta trọng trách áp tải thuyền lương.
- Đã vậy thời phải hỏi lại Trương Văn Hổ xem y có tự đảm đương được công việc không, - Lưu Khuê nói. Và khi họ tách thuyền ra khỏi hàng băng băng vượt lên chẳng mấy chốc đã đuổi kịp thuyền Trương Văn Hổ đi ở đầu đoàn thuyền tải lương. Ngay trên cột buồm treo lá cờ súy thật to màu đen, giống như cờ của bọn hải tặc, trên nền đen, có hàng chữ màu đỏ tươi: “Giao Chỉ hải thuyền Vạn hộ Trương tướng quân”.
Khi thuyền của các tướng Lưu Khuê, Ô Vy, Trương Ngọc đi song hành và ra hiệu muốn nói chuyện, Trương Văn Hổ khéo nới dây lèo cho hai thuyền gần áp sát, đoạn trao dây lèo vào tay cho viên tướng đang trợ giúp, y lấy đà tung người bay sang thuyền của tướng Lưu Khuê. Thoắt y đã đứng giữa ba vị tướng kia, lên tiếng cười khanh khách:
- Các đại huynh gọi đệ sang, chẳng hay có chuyện gì dạy bảo đây?
Các tướng đều tỏ lòng khen ngợi, Lưu Khuê nói:
- Tướng quân quả là danh bất hư truyền. Miệng khen mà trong lòng Lưu Khuê lại nghĩ: - Chẳng trách người ta đồn cha con tên này là cướp biển khét tiếng một thời quả không sai.
Khi các tướng bày tỏ muốn bứt khỏi đoàn thuyền lương, Trương Văn Hổ cười khà khà:
- Vẫn tưởng các đại huynh muốn rong chơi trên biển cả, chứ bảo vệ thuyền lương là việc của Hổ này rồi. Nói thật với các huynh, Hổ tha cướp của bọn chúng là phúc cho chúng lắm rồi chứ kẻ nào còn dám cướp của Hổ này nữa. Nói xong y vẫy tên lái thuyền của y ra hiệu:
- Vát! Vát.
Thuyền vừa vát buồm, hai mạn còn cách nhau vài bước nhảy, y nhún chân lấy đà thoắt đã trở về thuyền của mình, miệng nhoẻn cười vẫy chào bọn Lưu Khuê phô cả hai hàm răng cải mả.
Thấy Trương Văn Hổ tự tin, vả lại y cũng có năm ngàn quân hộ vệ, hơn nữa mấy ngày nay các chiến thuyền đi trong không khí yên bình, chắc quân Giao Chỉ sợ oai đại quân thiên triều đã đi trốn hết rồi. Nghĩ vậy, các tướng bảo nhau phải mượn sức gió, mau đến hội quân kẻo Trấn Nam vương trông đợi. Vì thế đoàn chiến thuyền lao đi vun vút suốt ngày đêm. Tuy vậy bọn Lưu Khuê, Trương Ngọc không thể bắt kịp với các chiến thuyền của Ô-mã-nhi đã băng lên từ trước.
Khi giặc vừa áp sát biên thùy thì tại đại bản doanh Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương nhận được tin ngoại gián cấp báo về: “Sau mấy trăm chiến thuyền của Ô-mã-nhi là cả trăm thuyền lớn tải lương thực. Giặc có thể qua Vân Đồn hoặc qua cửa An Bang mà vào Bạch Đằng”.
Một nguồn tin vô cùng quý giá, nhưng đến lúc này có nhẽ hơi muộn vì giặc đã tới biên thùy, ông không thể điều kịp quân để phối cùng Trần Khánh Dư. Nếu cướp được hoặc đánh chìm được đoàn thuyền tải lương này, cầm chắc giặc sẽ thua trong sớm tối mà máu xương quân ta cũng đỡ hao tổn khá nhiều. Hưng Đạo suy nghĩ lung lắm, điều quan yếu nhất trong lúc này là phải thông được tin tức tới Nhân Huệ vương. Nghĩ vậy, ông bèn thảo tờ quân lệnh sai Yết Kiêu ngày đêm ra gấp Vân Đồn.
Nhận tờ mật thư, Nhân Huệ vương mở đọc, gương mặt ông tươi hẳn lên, mỉm cười, vương nói:
- Tướng quân về tâu với Quốc công, ta sẽ y kế của Quốc công, nhất định không sai một li.
Trên đường về, Yết Kiêu ghé thăm phu nhân của Đức ông, tức công chúa Thiên Thành đang di tán tại vùng Giáp Sơn. Phu nhân và gia nhân di tán trong một thung lũng khá kín đáo, xung quanh bao bọc bởi những ngọn núi đá vôi được bao phủ bởi rừng rậm um tùm, quanh năm có sương mù phủ trên các tàng cây khiến trời đất cả khu vực này trở nên mông lung huyền ảo. Trong thung lũng người ta dựng lên những chiếc lán ở tạm. Nơi đây gió không lọt vào được nhưng trời rét căm căm suốt ngày đêm phải đốt củi để xua khí lạnh.
Thấy Yết Kiêu đến, phu nhân mừng rỡ:
- Ôi Yết Kiêu ngươi đã về đấy ư? Ta mong con quá. Đức ông thế nào, người có được bình thường không? Giặc đã vào cõi chưa? Dạo này trời lạnh lắm, ta đã gói thêm vài chiếc áo ấm chờ con về để đem cho Đức ông.
- Bẩm phu nhân, Quốc công vẫn bình an mạnh khỏe, chỉ có điều người đang dốc tâm lực vào việc kháng giặc. Lúc này giặc đang áp sát biên thùy, Đức ông nhắn phu nhân cứ yên tâm, chiến trường có thể quyết liệt, nhưng vùng đất này lại là vùng giặc bất khả xâm nhập, xin phu nhân giữ gìn sức khỏe, bởi ở đây lam sơn chướng khí.
Phu nhân chỉ tay vào gói áo ấm nhắc Yết Kiêu:
- Trong này có chiếc áo bông chẽn ta may kỹ đấy, trời rét nhắc Đức ông mặc sát mình rồi hãy mặc áo ngoài cho ấm kẻo đêm hôm sương lạnh, Đức ông tuổi cũng đã cao, sức lực không còn được sung mãn. Ngươi chớ nói ở trong này có khó khăn thiếu thốn gì nhé. Không ai có thể khổ bằng người lính chiến đấu ngoài sa trường. Vậy chớ con có thể nán lại ăn một bữa cơm để ta sai sửa soạn. Phải đi ngay à. Việc quân ta không dám giữ, con và Dã Tượng là chân tay của Đức ông, ta cậy các con kín đáo săn sóc người, và ta chỉ nhắc Đức ông phải bảo trọng tấm thân muôn quý để dùng cho nước. Ta ở nhà chờ ngày Đức ông khải hoàn.
Yết Kiêu nhận lấy gói áo ấm, chắp tay bái biệt phu nhân rồi lên ngựa.
Phu nhân đứng nhìn theo bóng ngựa Yết Kiêu lòng rưng rưng cảm động. Bà nghĩ về hai người gia nô có tấm lòng trung nghĩa và cao thượng hơn nhiều kẻ tự cho mình là chính nhân quân tử, thoắt một cái đã đi hàng giặc.
Lại nói về phó tướng Trần Khánh Dư được Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương tin tưởng trao phó cho toàn quyền trông coi miền đông hải, ông biết phận sự phải làm gì khi giặc vào cõi. Chính vì vậy ông đã sai đô tướng Nhân Đức hầu Trần Đa phục quân ở mũi Ngọc Sơn, nhưng phải đánh thế nào để giặc tăng phần kiêu ngạo, coi thường quân ta. Cho nên khi nhận thêm quân lệnh của Quốc công phải đón đánh đoàn thuyền tải lương của giặc thì việc ông sai Nhân Đức hầu đánh trận Ngọc Sơn coi như phù hợp với kế này.
Lập tức Nhân Huệ vương sai triệu tướng Nguyễn Khoái và tướng Nguyễn Chế Nghĩa vào dinh, bởi Nguyễn Khoái cũng vừa được phái về dưới trướng.
Trần Khánh Dư nói rõ mục tiêu của trận đánh này là nhằm củng cố lòng kiêu ngạo của giặc vốn cho rằng Giao Chỉ đã kiệt sức, việc chống đỡ chỉ là thoi thóp.
Bàn bạc xong, phó tướng ra lệnh:
- Mỗi tướng lĩnh năm trăm quân, chọn quân tinh khỏe, dũng lược, bơi lặn giỏi cùng với hai mươi chiến thuyền nhỏ, phục kích trên đường vào cửa An Bang. Mỗi tướng phục một nơi, nhưng phải cách nhau khoảng vài mươi dặm[63]. Trong năm ngày tới thế nào giặc cũng qua đây. Vì ta quân ít, thuyền nhỏ nên chỉ đánh quấy rối giặc vào ban đêm. Các ông chỉ nên đem một ít tên thường, không cần nỏ liên châu. Và ban đầu tập trung tên bùi nhùi bất chợt bắn vào thuyền giặc, nếu gây thành đám cháy, chắc giặc sẽ rối loạn. Khi biết quân ta thiểu lực, giặc sẽ quây bắt, các ông cho quân bỏ thuyền, lặn xuống nước rồi bơi về các điểm hẹn đón. Trên thuyền đem sẵn ít giáo búp đa cùn nhụt, han rỉ và ít cung tên thường cùng ít cuộn dây thừng, ít mo cơm nắm ăn dở, vài ba chiếc điếu cày, mấy chiếc khố… tất cả đều bỏ lại trên thuyền để cho giặc chiếm. Trận này các ông buộc phải nhường thế thượng phong cho giặc, tức là các ông phải thua. Nếu ham đánh, để quân bị giặc giết, giặc bắt khiến hỏng kế lớn của ta các ông phải chịu tội nặng đấy.
Các tướng vui vẻ nhận mệnh, hứa thực thi nghiêm chỉnh rồi ai nấy ra về thu xếp công việc.
Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa là hai tướng trẻ, nhất là Nguyễn Khoái trong cuộc chiến năm Ất Dậu tỏ ra một tướng dũng lược, lập công cao, lại mới đây chiến đấu dưới cờ Chiêu Văn vương ở Bạch Hạc cũng lập công lớn. Nguyễn Khoái tuy là tướng trẻ nhưng có nhiều sáng kiến đánh giặc, và chàng lại có duyên lập công nên bề trên thường điều động đến các mặt trận mới mở. Nguyễn Chế Nghĩa ít tuổi hơn nhưng cũng là một tướng quả cảm. Vì vậy trao việc hệ trọng này cho họ, Nhân Huệ vương rất yên tâm. Ông đang hoạch định kế sách tiêu diệt đoàn thuyền tải lương của giặc. Đây là một việc làm cực khó, tướng giặc thuần những kẻ chinh chiến từng trải, đưa quân đi xa thì lương thực là việc quan yếu bậc nhất, sao giặc có thể sơ hở được. Nguồn tin chài lưới đưa về có gần bảy trăm chiến thuyền do tham tri chính sự Ô-mã-nhi làm nguyên soái hải binh đô tổng quản, tham tri chính sự Phàn Tiếp làm nguyên soái phó đô tổng quản dẫn đầu. Đoạn hậu có các tướng Lưu Khuê, Trương Ngọc, Ô Vy cùng hơn hai vạn quân tinh nhuệ, gần một trăm thuyền lương của Trương Văn Hổ đi giữa. Tổng số quân của giặc trên mười vạn với hơn bảy trăm chiến thuyền. Nếu ta đánh chặn đầu thời đụng với Ô-mã-nhi và lực lượng mạnh nhất của nó, khó có thể tiếp cận được với đoàn thuyền lương; nếu đánh đoạn cuối thì chẳng khác nào xua cho đoàn thuyền lương đi nhanh hơn và giặc càng thận trọng bảo vệ. Còn như xông vào đánh thuyền lương thì đầu cuối giặc sẽ vây chặt lấy quân ta, sao còn có cơ hội diệt lương của nó.
Còn đang loay hoay với kế phá lương của giặc, may thay Nhân Đức hầu Trần Đa đã đánh một trận quyết liệt nhưng đủ cho giặc thấy lực lượng của ta chẳng có gì để chúng phải bận tâm. Và Ô-mã-nhi cứ yên tâm thẳng tiến để mặc cho đoàn thuyền lương đi sau với hơn hai vạn quân đoạn hậu của các tướng Lưu Khuê, Trương Ngọc đảm trách. Và chỉ nay mai đại binh thuyền của Ô-mã-nhi sẽ tiến vào cửa An Bang lấy sông Bạch Đằng, ngược lên hội quân với Thoát-hoan tại Vạn Kiếp.
Nhân Huệ vương cấp kỳ điều gấp một số quân men theo đường bờ biển từ Vân Đồn đi ngược lên phía bắc phối hợp với số quân đã ém sẵn ở cửa sông Tiên Yên. Những trạm canh ở trên núi cao hoặc trên các ngọn cây cao trên đỉnh núi, tức là những vọng hải đài đặt dọc bờ biển và rải khắp trong khu quân cảng, thương cảng Vân Đồn ngày đêm dõi theo động tĩnh.
Từ bữa Trần Đa cho chạy ngựa lưu tinh về báo tới nay đã ba ngày vẫn chưa thấy bóng dáng thuyền quân của Ô-mã-nhi.
Chừng giờ tỵ ngày thứ tư thì từ trạm quan sát Tiên Yên cho chạy ngựa về phi báo: “Ngay lúc này Phó tướng lên đài quan sát có thể nhìn thấy binh thuyền giặc bằng mắt thường”. Nhân Huệ vương lập tức leo lên núi và trèo lên đài quan sát bắc bằng mấy gióng tre lát nứa làm sạp trên đỉnh ngọn mấy cây sến cao vút. Định thần một lúc quả có thấy hình ảnh di động lờ mờ từ rất xa. Và chừng một khắc canh giờ, mặt trời lên cao, bầu trời quang đãng thì hình ảnh đoàn thuyền kéo dài dằng dặc nom như một đàn chim sẻ. Chừng một canh giờ sau thì hình ảnh đó đã to dần bằng hình đầu người. Ông liền sai hai đứa thư nhi và khẩu dụ: “Ngươi đến ngay doanh của tướng Nguyễn Khoái và tướng Nguyễn Chế Nghĩa nói rằng binh thuyền của giặc khoảng chiều tối hoặc đêm mai sẽ tới vùng An Bang. Cũng có thể chúng đến sớm hơn hoặc muộn hơn là phụ thuộc vào sức gió”.
Sau đó ông giao nhiệm vụ cho các trạm quan sát phải đếm từng chiếc thuyền một cho chính xác.
Ngay lập tức ông bày thế trận xung quanh vùng căn cứ, nếu giặc vào sẽ dụ chúng tới gần sát bờ để đánh hỏa công. Nếu giặc đi thẳng về An Bang thì chúng coi như quân ta đã sợ hãi bỏ trốn hết. Và như vậy giặc sẽ càng thêm kiêu ngạo mà nảy sinh sơ hở.
Chừng cuối giờ dậu chiến thuyền đầu tiên của giặc lướt qua khu vực có luồng dẫn vào vùng căn cứ Cửa Vạn mà phó tướng Nhân Huệ vương đã bày trận. Thượng tướng căng mắt nhìn thấy cả chục chiến thuyền nối đuôi nhau lướt qua và không có một dấu hiệu nhỏ nào chứng tỏ giặc muốn dừng lại, Trần Khánh Dư yên tâm rằng ông đã lừa được giặc. Nước triều đang lên, gió đông bắc thổi mạnh, xuôi gió thuyền giặc càng lao nhanh như ngựa chạy. Mặt trời đã chìm xuống đáy biển từ lâu để lại một không gian tĩnh lặng và tối om. Trần Khánh Dư đang băn khoăn tự hỏi: - Không biết giặc có tải lương bằng đường biển hay là chúng phao tin nghi binh mà ta đếm có tới cả trăm chiến thuyền, không thấy một thuyền nào có dấu hiệu tải lương, vì rằng thuyền nào cũng nhẹ, phần nổi của thân thuyền khá cao; nếu là thuyền lương thì nó phải chở tới khẳm mạn và đi chậm như rùa bò. Khoảng quá nửa đêm thì toàn bộ chiến thuyền giặc đã đi khuất. Các trạm quan sát lần lượt cho người về tâu báo số lượng thuyền đã đếm được. Trạm đầu tiên ở phía trên Tiên Yên quan sát lúc trời còn đủ sáng đếm được cả thẩy bốn trăm bảy mươi hai chiến thuyền. Trạm Tiên Yên đếm tới khi kết thúc đã vào đêm, tổng số có bốn trăm bốn chín chiếc; trạm cuối lại chỉ đếm được bốn trăm hai mươi chiếc.
Nhân Huệ vương vui vẻ nói:
- Ta chắc trạm đầu đếm chính xác nhất, bởi lúc ấy ánh ngày còn soi tỏ. Ông hỏi rất kỹ các người về tâu báo có ai nhìn thấy thuyền nào chở nặng đi lẫn vào với các chiến thuyền, hoặc các chiến thuyền có lai, dắt thêm thuyền khác không.
Các đô tướng đều nói chỉ thấy các chiến thuyền đều chở nhẹ và thuyền nào cũng đi nhanh như gió.
Trần Khánh Dư bụng đã mừng thầm: - Thuyền lương chúng nó đi sau thật rồi, vì thuyền lương chở nặng nên đi chậm.
Chiều hôm sau tự nhiên trời tắt gió nên đoàn thuyền chiến của Ô-mã-nhi tiến lên khá chật vật, quân lính thay nhau căng sức ra mà chèo thuyền vẫn cứ ì ạch như rùa bò.
Mấy toán quân phục của Nguyễn Chế Nghĩa, Nguyễn Khoái cứ thấp thỏm lên núi xuống núi quan sát xem đã thấy thuyền giặc ở đâu để mà sẵn sàng quyết chiến. Tới quá nửa chiều khi thấy gió đông bắc lại bắt đầu thổi mạnh, nhóm quan sát từ xa bắt đầu nhìn thấy một cánh buồm đỏ, rồi dần dần nó hiện lên như một đàn bươm bướm. Nghĩa là đã xác định đó là những cánh buồm nối nhau dài như là vô tận từ chỗ nó chỉ là những chấm mờ nhỏ bé như con chim sẻ nay đã to dần bằng cả bàn tay. Như vậy là tốc độ thuyền di chuyển khá nhanh. Trưởng trạm sai quân truyền tín hiệu cho các trạm sau. Trong chốc lát các tướng Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa được tin vội leo lên đỉnh núi quan sát về phía biển xa, nhưng các ông không thể nhìn thấy, bởi núi non trong vịnh càng chuyển dịch về phía cửa An Bang càng thấp dần, nhưng các ông tin những gì cấp dưới tâu báo. Vì vậy các ông cho quân ăn uống và chuẩn bị ra trận địa mai phục, lại sai nắm cơm để ăn bữa khuya, nếu không đêm phải đánh giặc, quân sẽ đói. Mặt trời vừa gác núi, các ông đã rải quân đón lõng và cho phép quân thay nhau ngủ để lấy sức. Gần cuối giờ hợi vẫn chưa thấy thuyền giặc qua, các tướng cho đánh thức quân dậy, ăn uống xong mọi người vào tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Khoảng đầu giờ tí, nghe tiếng vọng ào ào như xé nước biết thuyền giặc đã gần tới. Độ một khắc canh nữa thì thấy các đốm sáng lấp lóa chạy thành một đường dài hun hút trên mặt biển tựa như dải ngân hà vừa từ trên trời cao sà xuống.
Tướng Nguyễn Khoái hừm một tiếng:
- Đúng là giặc ngạo mạn, cứ như là chúng đưa nhau đi dạo chơi chứ không phải đi chinh chiến. Quả là chúng coi thường ta, chúng coi biển của ta như ao nhà của chúng. Và như vậy thì vận số chúng bay sẽ ngắn đấy! Nguyễn Khoái thầm nghĩ vậy và ông len lỏi tới từng chiến thuyền để vỗ về binh sĩ.
Cữ giữa giờ tí làn sóng do chiến thuyền giặc xé nước tạo thành những âm thanh ràn rạt và mặt nước biển cứ dồi lên cứ phập phồng khiến các chiến thuyền nhỏ của quân ta cũng dập dềnh và các chiến binh lòng cứ rạo rực và miệng lẩm bẩm hai tiếng “Sát Thát!”.
Thuyền giặc đã đi vào khu vực quân ta phục kích, Nguyễn Khoái bỏ qua bốn chiếc đi đầu vì nó nhỏ hơn và ít ánh đèn hơn chiếc đi sau. Vậy là ông chọn chiếc thứ năm. Một phát pháo thăng thiên vút lên giữa nền trời tối đặc và một mũi tên sáng như lân tinh lao về phía chiếc thuyền lớn. Lập tức năm trăm cây nỏ cứng cùng bắn chụm về một điểm. Chiếc thuyền bốc cháy trên mặt sạp. Nó lập tức quay ngang, nhưng các thuyền đi sau tránh được vì mặt biển rộng. Đám cháy không lớn, tên rơi tản mạn vì gió to. Quân ta khua chiêng, gõ trống và đồng thanh hô: “Sát Thát!”. Lúc đầu có gây cho giặc hốt hoảng, nhưng lực lượng của ta quá ít, giặc vừa dập lửa cứu thuyền vừa quây lại đánh quân ta. Hàng trăm thuyền lớn của giặc quây thành một vòng tròn rộng và chúng cứ khép hẹp dần. Bỗng một tiếng nổ lớn bùng lên một đám cháy và một cột khói trắng bốc lên cao, chắc là quân ta đốt thùng thuốc pháo nhồi chặt. Đang giữa lúc giặc còn hoảng hốt, còn ngơ ngác chưa biết điều gì vừa xảy ra thì nhất loạt quân ta bỏ thuyền lặn vào chân các hòn núi rồi bơi về những điểm đã có thuyền chờ đón.
Giặc hí hửng khép chặt vòng vây rồi xả cung nỏ bắn như mưa vào hơn hai chục chiếc thuyền đã bỏ không của quân ta. Không thấy quân Việt đánh trả, các thuyền cứ trôi dập dềnh như không có người điều khiển. Giặc đốt đuốc sáng rực cả mặt biển và lần dò sang thuyền ta. Chúng biết đã mắc mưu, thu lấy toàn bộ các chiến lợi phẩm buộc sau thuyền của chúng kéo đi. Từ đây giặc yên tâm: “Quân Giao Chỉ kiệt sức rồi, chúng chỉ có thể làm được mỗi một việc là quấy rối đại quân thiên triều”.
Giặc chết và bị thương dăm chục tên, cháy mấy mảng ván thuyền, thiệt hại không đáng kể, bù lại chúng thu được hơn hai chục chiến thuyền và một ít vũ khí cùn nhụt của đối phương.
Sắp xếp đội ngũ lại cho tiếp tục hành trình, Ô-mã-nhi nhìn Phàn Tiếp rồi phá lên cười giọng đầy sảng khoái, y nói:
- Cứ xem thuyền bè, vũ khí của quân Giao Chỉ đủ biết khả năng chống đỡ của chúng đến đâu. Ta nóng lòng muốn đến Vạn Kiếp sớm để kịp vào Thăng Long cùng với Trấn Nam vương bắt cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo. Nhớ bữa ở Đại Đô, thiên tử ngỏ ý muốn xem gan của Hưng Đạo. Trận này ta quyết bắt bằng được Hưng Đạo đem về Đại Đô dâng thiên tử để người xem gan viên tướng man này.
Phàn Tiếp đỡ lời:
- Thật ra chỉ cần bắt được Hưng Đạo coi như đã bình xong Giao Chỉ.
- Ông nói đúng, - Ô-mã-nhi phụ họa. Và y nói thêm - Viên tướng này lợi hại lắm. Ta nhớ cuộc chiến năm Ất Dậu, Trấn Nam vương suýt bắt sống cha con Nhật Huyên và cả Hưng Đạo, nước nó tưởng như sắp phải quỳ gối đầu hàng, thì thân vương, quý tộc và cả binh lính đã chẳng ra đầu Trấn Nam vương tới mấy vạn người, thế mà rồi Hưng Đạo lại chuyển xoay được tình thế khiến quân ta phải bỏ cuộc. Trên đường rút về, hữu thừa Lý Hằng bị chúng dùng tên độc giết chết, Lý Quán cũng mất mạng, ngay Trấn Nam vương cũng phải nằm trong rọ, ngoài bọc đồng lá mới tránh được tên độc của quân Giao Chỉ. Nhưng thôi, lần này giặc đã kiệt sức rồi, ta cứ thong thả vừa đánh vừa nghỉ ngơi chơi bời cũng thắng.
Hai viên chánh phó tướng đều muốn nói chuyện cho rút ngắn đường dài, bỗng Phàn Tiếp nhìn trời nói:
- Nếu gió cứ thổi như thế này mà không đổi hướng, chắc chỉ đêm mai ta tới chầu Trấn Nam vương được.
- Ta cũng chỉ mong có vậy.
Thuyền vẫn chạy băng băng trong đêm tối. Cả Ô-mã-nhi và Phàn Tiếp đều không mảy may nghĩ tới việc quân Giao Chỉ dám mạo phạm một lần nữa. Cả đoàn binh thuyền bỗng đi chậm lại bởi sắp vào một vùng nước hai bên có hai dãy núi đá cao che chắn, chỗ thì nhô ra chỗ thì lõm vào khiến luồng đi vừa thu hẹp vừa uốn lượn như một dòng sông. Chính tại cái khúc uốn lượn này tạo ra một góc khuất che hết tầm nhìn của người lái tàu thuyền mà Nguyễn Chế Nghĩa lập trận địa. Ông sai quân lấy đá xếp cho các thuyền có sức nặng, lại sai giằng néo các thuyền lại với nhau như một chiếc bè chắn ngang luồng nước, hai đầu dây cột chặt với hai mỏm đá.
Đoạn thuyền giặc bị quân Nguyễn Khoái chặn đánh cách đoạn Nguyễn Chế Nghĩa phục quân chỉ hơn chục dặm nên giặc cũng ít phòng bị. Vả lại, qua hai trận từ mũi Ngọc Sơn tới trận vừa xảy ra khiến tướng giặc coi quân thủy của Giao Chỉ chẳng khác gì mấy đứa trẻ nít chơi trò đánh trận giả. Ví dù có gặp các trận phục kích như vậy thì đại quân của thiên triều cũng nhanh chóng quét sạch.
Mấy chiếc thuyền tiên phong thấy sắp phải qua chỗ nguy hiểm nên đánh tín hiệu xin lệnh thuyền của nguyên soái ở phía sau. Ô-mã-nhi trợn mắt quát:
- Ra lệnh cho chúng nó thẳng tiến! Ta đang nóng lòng về Vạn Kiếp vào chiều mai đây, kẻ nào dám cản đường ta, kẻ ấy ắt phải chết.
Nhận được tín hiệu đi tiếp, mấy chiến thuyền tiên phong không còn gì phải do dự nữa, chúng lại giong buồm đi tiếp như đi vào chỗ không người. Thuyền lựa chiều đi vào một khúc quanh khuất lấp, viên lái thuyền thấy vẻ rờn rợn, linh tính mách bảo cho y về sự hiểm nguy đang rình rập từ phía trước, y vội giật dây lèo cho thuyền đi chậm lại nhưng không kịp. Mũi thuyền của y đâm phải vật cản cực rắn gãy răng rắc, nước tràn vào, theo đà những chiếc sau cứ dồn đâm những chiếc đi trước trở thành một cuộc va đập liên hoàn. Mấy chiếc thuyền trong đội tiên phong đã chìm nghỉm. Quân chết bao nhiêu chưa biết, nhưng quân bị thương chắc nhiều vì tiếng la ó, tiếng kêu thét, tiếng khóc, tiếng rên rỉ vang vọng khắp mặt biển tối đen. Lúc này thuyền giặc đậu ken kín mặt nước, nhiều chiếc gần như áp mạn với vách núi dựng đứng.
Bỗng từ một chỏm núi nào đó vang lên một tiếng nổ và một vệt sáng lóe lên như một lằn chớp. Lập tức đá từ trên đỉnh núi ở hai bên luồng nước cứ đuổi nhau rơi xuống mặt nước, những tảng đá to như chiếc thúng xô vào nhau nhảy lộc cộc và nhiều tảng đá nhảy vào trúng thuyền. Nhiều tên giặc bị đá đè bẹp tan xác tựa như con trâu đè lên con nhái. Nhiều tảng đá lớn rơi lọt xuống đáy thuyền xuyên thủng ván, lập tức nước ùa vào đầy khoang, thuyền đắm.
Khác với Nguyễn Khoái cho quân chen vào đánh vỗ mặt giặc rồi tự nhiên biến mất không để lại dấu vết, Nguyễn Chế Nghĩa chọn địa hình cản giặc, dùng sức quân lên núi làm bẫy đá và chỉ ém lại đó vài ba chục người khi nghe có tiếng nổ thì cắt dây bẫy cho đá lăn rồi bò về phía bên kia chân núi đã có thuyền đón. Trận đánh tưởng như nhẹ nhàng, nhưng nghĩ ra được cái kỳ mưu ấy thực không dễ. Và việc đục núi lấy đá bẫy giặc là cả một kỳ công, gian nan, cực nhọc.
Trận đánh không mất một người lính, không mất một mũi tên mà cản đường giặc ngay giữa biển khơi.
Khi đá không còn lăn nữa, không còn gì đe dọa nữa nhưng giặc vẫn loay hoay không gỡ ra được vì một số thuyền va đập vào nhau, mắc vướng vào nhau phải xem cho rõ chiếc nào có thể dắt đi theo để sửa chữa, chiếc nào đành phải bỏ lại. Lúng túng với nhau trời sáng lúc nào không hay biết.
Khi nhìn rõ mọi vật, thấy trận địa mà quân mình vấp phải nó đơn giản như một trò chơi con trẻ, Ô-mã-nhi giận điên lên, y quát:
- Đi giữa ban ngày, một tên lính tốt của ta nó cũng phá được thế trận này. Có phải đây là thần mưu của Hưng Đạo? Chỉ bực vì lũ giặc này lại dám cản đường ta.
Trận này giặc vừa chết vừa bị thương nhiều hơn trận giặc vừa mới bị đánh lúc nửa đêm, thuyền đắm mất vài chiếc, thuyền bị thủng, vỡ phải sửa chữa cũng năm sáu chiếc. Một đạo quân lớn mà thiệt hại như vậy chưa có thể làm cho giặc phải quan tâm còn nói chi đến việc kinh động đến nó.
Quá nửa đêm hôm ấy tiền quân của giặc đã về tới Vạn Kiếp.
Đang ngủ say, quân vào bẩm: “Ô-mã-nhi đã đem quân đến, xin được gặp Trấn Nam vương”.
Nghe Ô-mã-nhi đã đem cả chục vạn quân thủy tới Vạn Kiếp, Thoát-hoan vùng ngay dậy.
Ô-mã-nhi chưa kịp cúi chào, Thoát-hoan đã lên tiếng:
- Ôi tướng quân, ta mong ông quá. Đường đi có thuận không? Sức khỏe vẫn tốt chứ? Trong quân có đứa nào bị say sóng không?
Ô-mã-nhi lúng túng và cảm động bởi sự quan tâm của chủ tướng.
Sau giây lát, Ô-mã-nhi lên tiếng:
- Tạ ân Trấn Nam vương có lời thăm hỏi. Chúng tướng và binh sĩ thẩy đều bình an. Lác đác trong quân cũng có kẻ ốm đau. Chừng vài ba ngàn đứa quân bị say sóng, ấy là binh thuyền đã lựa đi đường ven biển, sóng gió không đáng kể. Bẩm, dọc đường quân Giao Chỉ có vài ba lần quấy rối, nhưng chúng bị dẹp tan ngay tức khắc, quân ta có thu được vài ba chục chiến thuyền đem về ra mắt Trấn Nam vương.
Thoát-hoan mừng rỡ khen ngợi:
- Bạt-đô tướng quân quả là danh bất hư truyền. Chờ Trương Ngọc, Lưu Khuê về hội đủ cùng với Trương Văn Hổ nữa ta sẽ cho quân tiến về Thăng Long vây bắt cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo luôn thể.
Ba ngày sau khi Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đưa quân về Vạn Kiếp thì các tướng Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê cũng đưa nốt hơn hai vạn quân thủy về ra mắt Trấn Nam vương.
Trước đó thì tướng A-ruc các vương A-tai, Mang-khu-đai cũng đã có mặt tại khu vực Vạn Kiếp.
Cả vùng Vạn Kiếp, Lục Đầu giang sông nước, núi non, đồng bằng rộng mênh mông lúc này quân Nguyên đã lập các trại thủy bộ dày như bát úp.
Từ ngày vượt qua biên ải, đánh chiếm Nội Bàng rồi xuôi về chiếm Vạn Kiếp tới nay, không thấy một bóng quân Trần nào xuất hiện, cũng không thấy bị quấy rối hay phục kích, biệt kích gì. Thoát-hoan tự nghĩ: - Việc đánh dẹp Giao Chỉ lần này ta cầm chắc có thể kết thúc trước mùa hè.
Thoát-hoan cho gom các thuyền chiến mà quân Nguyên thu được của quân Đại Việt từ ngã ba Bạch Hạc và từ mũi Ngọc Sơn đến cửa An Bang. Tính cả thuyền lành, thuyền bẹp được hơn bảy chục chiếc. Thoát-hoan lại ngầm sai lấy cả những chiến thuyền của quân Nguyên bị quân Việt đánh cho bẹp dúm dó, đục bỏ chữ và phiên hiệu cùng những chỉ dấu có thể nhận ra đó là thuyền của người Nguyên, xong đâu đó gộp cả vào với đám thuyền cùng khí giới thu được của quân Việt để số chiến lợi phẩm có thể nhiều lên đáng kể. Sau đó đem ra trưng bày để cổ vũ khí thế cho đoàn quân viễn chinh. Ngón đòn tâm lý của Thoát-hoan quả có làm cho khí thế của đoàn quân viễn chinh thêm chộn rộn. Và dưới con mắt họ từ tướng đến quân đều coi thủy binh Đại Việt là đội quân xoàng xĩnh không như họ nghe nói trước khi vào đất Việt.
Thoát-hoan lại cho phao tin: - Đại quân thiên triều sắp tiến vào Thăng Long, nếu nhà Trần không quy hàng thì sẽ làm cỏ vương đình. Và nữa đang truy bắt Trần Khánh Dư. Tiếp đó Thoát-hoan lại đưa thư dụ hàng triều đình nhà Trần.
Tất cả những tin tức ấy bay về Thăng Long cùng một lúc.
Lập tức tin loang đi khắp nơi: - Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư thua trận liên tiếp, làm mất cả Vân Đồn và miền biển Đông Bắc, quân tan tác, lực lượng chẳng còn gì.
Đùng một cái triều đình lại có chiếu bắt Khánh Dư và sai trung sứ xiềng lại đem về Thăng Long trị tội. Thăng Long rục rịch di tán. Tiếng loa nói suốt ngày đêm thúc giục người già, trẻ nhỏ và đàn bà phải rời khỏi kinh thành ngay. Phố phường vắng vẻ, ban đêm lạnh tanh không một ánh đèn. Khắp nơi chỗ nào cũng thấy hai chữ “thanh dã” thật to. Và trên những bức tường bao quanh các lâu đài, dinh thự, hoặc nơi quán xá, đình đền, chùa tháp đều thấy các dòng chữ viết nét mực còn tươi nguyên, cũng có những bảng chữ chắc viết từ cuộc chiến năm Ất Dậu có chữ đã bị mưa xói làm cho mờ nhòe vừa tô lại. Dù cũ, dù mới đều cùng một nội dung: “Tất cả các quận huyện trong nước nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”.
Đang đêm Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương lên ngựa vào cung Thánh Từ.
Vừa thấy Quốc công, thượng hoàng Thánh tông đã ra tận bậc thềm chào hỏi:
- Có việc gì mà Quốc công phải tới vào giờ này.
Quốc Tuấn toan quỳ, thượng hoàng Thánh tông vội đỡ ông dậy và nói:
- Anh Quốc Tuấn, giặc sắp vào đến vương thành mà sao anh vẫn cứ thủ lễ vậy?
- Tâu, thượng hoàng có thương thần mà miễn lễ, thần cũng không dám bỏ. Chiến tranh, nhiều việc hệ trọng, thượng hoàng cho phép thần vào cung tâu báo bất kể khi nào có việc cần kíp.
- Cái đó thì đã hẳn rồi, Thánh tông đáp. Nhưng quan gia đã trao cho Quốc công toàn quyền thống chế việc quân sao anh không cứ tự tiện mà quyết, đi lại nhiều vừa mất sức đôi khi lại chậm việc.
Lúc này nhà vua mới kịp nhìn lại Quốc Tuấn ông ăn vận quê mùa như một lão binh phu. Đầu quấn chiếc khăn vành dây màu nâu trùm lên và ép chặt búi tóc phía sau gáy, mình khoác chiếc áo dài bông chần hình quả trám, vải màu thanh cát, dưới là chiếc quần dài nâu, phía ống chân quấn xà cạp nâu, chân đi giày vải. Râu tóc đều bạc. Chòm râu dưới cằm dài tới ngang ngực. Da mặt ông hồng hào. Mắt sáng, vẻ tinh anh quắc thước hiện lên từ cặp mắt. Cứ nom cách ăn vận, không ai nhận ra ông là một vị tướng, nhưng cũng không ai dám bảo ông là một thường dân.
Thấy Quốc công tuổi cao mà vẫn phải xông pha trận mạc, nhà vua có vẻ mủi lòng.
Nghe Thánh tông nói, Hưng Đạo vội đáp:
- Điều thượng hoàng gia ân đó thần sẽ thực hiện khi ở chiến trường, còn như lúc nào có thể tâu báo được, thần vẫn xin được tâu báo để thượng hoàng và nhà vua yên tâm mà thần cũng yên tâm. Lúc này thần đến xin bệ hạ một việc rất hệ trọng.
Quốc công chưa nói được điều định nói thì vua Nhân tông vào.
Thấy phụ hoàng (cha đẻ) và nhạc phụ (cha vợ) đang trò chuyện, vua Nhân tông vội cúi chào.
Hưng Đạo toan đứng dậy vái chào cho đúng lễ vua tôi. Thượng hoàng Thánh tông vội kéo tay ông ngồi xuống:
- Quan gia chẳng là con anh, con tôi sao anh còn phải giữ lễ. Thượng hoàng lại hỏi vua Nhân tông:
- Khuya, sao con không đi nghỉ còn vào đây làm gì?
- Con vừa đi thăm đội quân của chú Chiêu Văn về nên đến vấn an phụ hoàng hơi muộn. Nhưng sao bá phụ giờ này vẫn còn ở đây? Xin bá phụ bảo trọng vì cuộc chiến mới chỉ bắt đầu.
- Thần đến đây vì một việc cần kíp, xin quan gia cùng nghe với thượng hoàng. Việc cũng có liên quan đến Chiêu Văn đấy. Hưng Đạo nhìn về mọi phía trong cung điện rồi nói với vua Nhân tông:
- Có nhẽ quan gia sai trà nô pha trà xong cho chúng về trà thất để thần tâu báo việc cơ mật.
Một thoáng đám trà nô đã làm xong việc hầu trà và chúng đều đã lui về trà thất.
Chợt thượng hoàng Thánh tông lại hỏi:
- Quốc công bàn việc cơ mật, sao quan gia không cho thỉnh chú Chiêu Minh nghe bàn luôn thể.
Hưng Đạo liền tâu:
- Bẩm thượng hoàng, hiện thượng tướng Quang Khải đang ngầm đem quân ra Vân Đồn tăng viện cho Nhân Huệ vương. Nhân đây thần xin tâu báo rõ ràng mọi việc. Tức là nhờ ngoại gián tốt mà ta biết được mưu giặc từ đầu. Vì vậy, các cánh tiến quân của giặc khi chúng tràn vào quốc thổ ta chỉ chống đỡ cầm chừng, đủ cho giặc thấy thực lực quân ta không có gì có thể gây trở ngại lớn cho công cuộc nam chinh của Thoát-hoan lần này. Sắp tới giặc có thể tiến chiếm Thăng Long, xin thượng hoàng và bệ hạ tạm nhường Thăng Long cho giặc. Chúng sẽ truy đuổi mưu bắt hai vua và cả thần nữa. Vì vậy thượng hoàng và quan gia nên về trước các vùng căn cứ của ta để giữ mệnh nước. Khi giặc vào Thăng Long, tất chúng sẽ cho quân truy đuổi. Vì vậy ta cứ đóng giả xa giá để cho giặc lao theo. Và như thế càng dễ lừa giặc rằng lực lượng ta chẳng có gì cho đến khi nào Nhân Huệ vương diệt xong đám quân lương của giặc thời ta mới ra mặt phản công.
- Liệu có thể lừa nổi giặc không anh Quốc Tuấn, thượng hoàng Thánh tông hỏi. - Tướng giặc như Áo-lỗ-xích, Trịnh Bằng Phi, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, A-ba-tri… đều là những tay gian hùng lão luyện, ngay cả Thoát-hoan đâu phải tay vừa.
Hưng Đạo chưa kịp đáp, vua Nhân tông đã vội thưa:
- Bẩm phụ hoàng, cho tới lúc này giặc vẫn đang mắc mưu ta. Vả lại thói kiêu ngạo của kẻ xâm lược bao giờ cũng đánh giá rất thấp và luôn coi thường đối phương. Không bao giờ chúng thừa nhận đối phương là đối thủ cả. Cho nên kế nhún, tự nhận mình là kẻ yếu của bá phụ, con thấy rất chi là diệu dụng. Nhìn về phía Hưng Đạo, vua Nhân tông nói tiếp: - Xin bá phụ cho nghe nốt diệu kế.
Hưng Đạo ve vuốt chòm râu và chậm rãi:
- Tâu, xin thượng hoàng cùng quan gia gia ân thả hết những tên giặc mà thượng tướng Chiêu Văn bắt được chúng trong trận đối đầu ở ngã ba Tam Đái (Bạch Hạc). Dạ đây chỉ có vài tên tiểu đô tướng còn thuần quân Giang Nam, ta đã khai thác, tin tức chúng biết được không có mấy giá trị. Trước khi thả cho về với Thoát-hoan ở Vạn Kiếp nên cho chúng đi qua các phố xá vắng hoe không một bóng người. Lại cho chúng qua các bến đò để chúng thấy cảnh người già, trẻ nhỏ đang di tán về các miền quê, cốt sao cho chúng thấy được một Thăng Long không có sức kháng cự để chúng thuật lại các điều mắt thấy, tai nghe nhằm làm tăng lòng tự phụ của tướng giặc. Tâu, chỉ cần che mắt giặc cho tới khi Nhân Huệ vương tiêu diệt gọn đoàn thuyền lương của chúng. Tới khi đó, ta chỉ còn một việc là chặn các đường tháo chạy của giặc mà tiêu diệt. Nếu trong cuộc kháng giặc lần này, ta tiêu diệt đáng kể các tên tướng giặc gian ác và phần lớn số quân của nó, thời có thể đánh bại được mưu đồ thôn tính nước ta của con rắn độc Hốt-tất-liệt.
Dạ, còn chiếu bệ hạ sai xiềng Trần Khánh Dư đem về triều đình trị tội, thần đã làm thành cáo trạng lên án Trần Khánh Dư để quân thua liên tiếp, khiến cả một vùng biển, đảo mênh mông rơi vào tay giặc làm cho thế nước chao đảo. Tin này đã loang khắp nơi, chắc đã đến tai giặc. Nay mai ta lại thả tù binh nữa hẳn giặc càng tin thế và lực của ta đều rệu rã.

8/10/2020
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...