Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Huyết chiến Bạch Đằng 4

Huyết chiến Bạch Đằng 4

CHƯƠNG 16
Thoát-hoan nằm trong trướng hổ với mấy chiếc gối xếp kê cao, mặt quay vào tường, Bình rượu quý mở nắp với chiếc chén bạc còn đầy rượu màu vàng óng đặt trên mặt kỷ.
Áo-lỗ-xích viên phó tướng bình chương chính sự vừa bước vào nội trướng đã ngửi thấy mùi rượu thơm, hai cánh mũi y phập phồng. Bình chương dặng hắng vẫn không thấy Thoát-hoan nhúc nhích, y bèn lên tiếng:
- Bẩm Trấn Nam vương!
Lúc này nghe mấy tiếng “Trấn Nam vương”, Thoát-hoan ghét cay ghét đắng. Y thầm rủa: “Trấn cái mả cha chúng nó, ta đang ngồi trên đống lửa đây”. Chẳng nhẽ lại cấm không cho các tướng gọi cái danh xưng này. Cấm tức là ta mắc tội khi quân. Chính phụ vương ban cho ta chức đó trước khi nam chinh. Và quả nhiên người có ý cho ta trị vì sau khi bình xong Giao Chỉ.
- Bẩm Trấn Nam vương! - Áo-lỗ-xích lại nói to hơn.
- Áo-lỗ-xích đấy à. Thoát-hoan vừa hỏi vừa ngồi nhỏm dậy. - Kế lui quân của ông đến đâu rồi? Ta nóng ruột quá. Ở lại thêm ngày nào là bất lợi thêm ngày đó. Ta nói để ông biết, nếu quân đói trong ba ngày thì không có cách nào giữ yên được đâu. Chúng nó sẽ làm loạn, sẽ ăn thịt nhau, rồi chúng ăn thịt cả ta và ông đấy. Nhớ nhời ta dặn, tuyệt nhiên không được để quân Mông Cổ phải ăn đói. Quân miền bắc nếu thiếu quá cũng có thể bắt chúng phải ăn bớt bát, còn quân tân phụ cho ăn một bữa cũng được. Lũ này theo ta biết thì ngay khi ở nhà chúng cũng thường phải ăn đói. Thì Giang Nam năm nào chẳng có dân chết đói.
Thấy Thoát-hoan đã có vẻ bình thường, bình chương Áo-lỗ-xích liền nói:
- Thưa chủ tướng, tôi đã cử tướng A-ba-tri đem năm ngàn kỵ binh lên Nội Bàng dò la xem quân Giao Chỉ có ngăn giữ gì ghê gớm không. A-ba-tri đã diễu đi diễu lại không gặp bất cứ một cản trở gì. Trịnh Bằng Phi cũng đem năm ngàn quân bộ hộ tống cho khoảng một trăm chiến thuyền của Phàn Tiếp xuôi sông Đại Than, đến ngã ba Dương Nham thì quay lại, cũng không có đụng độ.
Hai sự việc trên tôi chưa lý giải được. Có đúng là quân nó yếu, nó chỉ dám đối đầu với những toán quân nhỏ lẻ của ta thôi, còn như với số quân đông đúc thì giặc né tránh ta. Hoặc giả đó lại là kế hư hư thực thực để lừa ta. Vậy xin Trấn Nam vương cho ý chỉ.
Chẳng cần phải so đo tính toán gì, Thoát-hoan nói luôn:
- Kế! Đó là kế của Hưng Đạo nhằm úp quân ta đấy. Vậy ta phải làm thế nào để cho toàn quân mà về.
- Tôi cũng ngờ là kế giặc định lừa ta. Nhưng nếu gần chục vạn quân với hơn sáu trăm chiến thuyền băng băng trên sông nước rồi tiến ra ngoài biển khơi, thì người Giao Chỉ lấy lực lượng tàu thuyền và quân thủy ở đâu mà dám đối đầu với quân thủy của thiên triều. Lại nữa mấy chục vạn quân mã bộ, gươm giáo sáng lòa, cung cứng, nỏ căng nườm nượp trên đường thiên lý, liệu giặc có dám đối đầu.
- Thôi không bàn chuyện đó nữa. Bàn ngay vào việc rút quân, tương hỗ nhau thế nào nếu gặp giặc còn có thể kiềm chế chúng để quân về được toàn vẹn.
- Bẩm, thế thì cái kế bữa trước ta đã bàn, Trấn Nam vương đã chẳng bảo chỉ rút quân theo hai đường thủy bộ. Mặt bộ chỉ giữ đường qua Lạng Giang về Tư Minh chứ không đi đường Vân Nam nữa. Tôi đã cho các tướng lo liệu việc rút quân rồi, chỉ chờ lệnh Trấn Nam vương là lên đường. Đương nhiên phải giữ kín không cho quân lính biết, ngay cả đám đô tướng coi một hai quân cũng chưa nên cho chúng biết.
- Thôi được, ông về triệu các tướng cuối giờ mão sáng mai đến dinh ta nhận mệnh.
Sớm hôm sau các tướng đã tề tựu phía ngoài sảnh đường đại bản doanh của Thoát-hoan.
Khi Trấn Nam vương sai mở cửa, các tướng lĩnh ùa vào. Nhìn khắp lượt, không một bộ mặt nào còn có chút sinh khí, Thoát-hoan buồn bã nói:
- Ta xem phần đông các ông có mặt ở đây đều đã tham gia đánh dẹp nhà nam Tống cho tới khi tiêu diệt nó trong trận cuối ở Nhai Sơn. Thời đó, ta cảm thấy các ông thật sự là các bậc tướng thao lược hễ ra quân là thủ thắng. Thấy các ông, các tướng Tống như không còn hồn vía, nếu không tháo chạy cũng quy hàng. Các ông đều đã được thiên tử tri ân, tước lộc đều ưu hậu cả. Nhiều trong số các ông còn được suy tôn là dũng sĩ. Vậy sao vừa gặp khó, ta thấy tinh thần các ông đã sa sút quá. Thật không ngờ!
Với vẻ thất vọng, Thoát-hoan nhìn khắp lượt các tướng rồi gieo tấm thân nặng nề xuống ghế.
Một nỗi buồn sâu sắc len lỏi trong tâm khảm những kẻ đã từng cầm quân tung hoành trên khắp đất Trung nguyên mà chưa từng một lần thất trận. Nghe chủ tướng khơi gợi lại thời oanh liệt, các tướng đều cảm như mình bị xúc phạm. Kẻ hạ giá uy danh của các hổ tướng ngồi đây không ai khác ngoài quân Giao Chỉ, mà đứng đầu là tướng Trần Hưng Đạo. Điều tệ hại nhất không phải đây là lần đầu.
Không dằn nổi sự bực giận, Ô-mã-nhi đứng phắt dậy xin nói:
- Ta đem năm, sáu chục vạn quân đi bình Giao Chỉ, qua mấy chục trận giao tranh, thiệt hại bất quá chỉ trên dưới mười vạn quân là cùng. Chỉ với số quân hiện có cũng đủ xéo nát nước nó, xin Trấn Nam vương cho chúng tôi quyết tử chiến với đám man di này chứ lui quân thì nhục quá.
Tinh thần nộ khí xung thiên của viên dũng tướng Ô-mã-nhi bị chìm đi trong tiếng bàn tán xôn xao của các tướng:
- Quân không lương là quân chết.
- Lui là thượng sách.
- Lui quân càng sớm càng tốt.
- Vì đâu quân ta bị mất lương?
- Lòng quân đang rối, đánh đấm gì được.
- Quân đói không thể sai khiến nói chi đánh trận.
Tất cả những lời bàn tán thì thầm đó đều lọt tai Ô-mã-nhi và Thoát-hoan.
Không muốn các tướng bàn tán rồi sẽ dẫn đến chuyện bất hòa, Thoát-hoan vội gạt đi:
- Giặc quỷ quyệt khiến quân ta bị hãm lương, nay phải toàn quân mà về để mưu việc lớn. Ta nói để các ông biết, hàng trăm quốc gia đều sụp đổ dưới chân đại Hãn. Mênh mông, đông đúc như nước Trung Hoa cuối cùng cũng phải quỳ gối. Chính các ông đã sát cánh với A-lí Hải-nha, với Lý Hằng cùng hàng ngàn tướng tài khác dưới sự thống lĩnh của thiên tử làm nên sự nghiệp lớn. Nay Giao Chỉ khác gì một chiếc gai trên đường chinh chiến của ta. Lúc này ta tạm thời lui quân, trận sau ta sẽ cùng các ông làm cỏ xứ này. Vậy các ông phải sẵn sàng để vài ngày nữa rút quân. Quân thủy rút trước, quân bộ rút sau. Từ ngày mai phải tỏa quân ra các hướng mà quân ta sẽ rút qua đó để thăm dò xem giặc có mai phục, có hầm hố, bẫy gài gì không. A-ba-tri, Trịnh Bằng Phi đem hai quân mã, bộ yểm trợ trên bờ cho Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp dẫn hơn sáu trăm chiến thuyền cùng tất cả quân thủy của ta rút về. Quân mã bộ của hai tướng phải luôn tảo thanh hai bên bờ đuổi quân phục của chúng ra xa, để giữ yên mặt sông cho đại quân xuôi ra biển. Dừng lại giây lâu như để cố nhớ ra một điều gì, chợt Thoát-hoan “à” lên một tiếng rồi nói tiếp: - Việc lui quân là vô cùng gian nan, các ông phải hết sức cẩn trọng mới có thể bảo đảm an toàn. Các ông có nhớ trước khi xuất quân, thiên tử thết yến và ngài bắt chúng ta phải viết vào vạt áo lời răn gì không? Các tướng im lặng cúi đầu, dường như là một sự sỉ nhục với họ, vì lại một lần nữa thua người Giao Chỉ. Bây giờ phải lui quân trong lo âu.
Không thấy ai trả lời, Thoát-hoan liền nhắc: - Thiên tử dạy rằng: “Chớ thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”. Điều đó có ý nghĩa gì, chắc lúc này các ông đã hiểu.
Lại nhìn khắp lượt các tướng, Thoát-hoan hỏi: - Các ông có còn điều gì cần bày tỏ? Nếu không, ta nhắc một lần nữa, tướng nào đem theo thê thiếp nên về theo quân thủy. Đường bộ gian nan lắm, đàn bà không theo được, nó không dễ dàng như khi ta vào đất Giao Châu đâu.
Các tướng nghe xong ai về trại ấy.
Thoát-hoan đêm đó trằn trọc không ngủ được, hết nghe tiếng chim rừng kêu lại nghe tiếng sóng Lục Đầu giang rì rầm vỗ nhẹ. Viên tướng được xem là bách chiến này được vua cha tin cậy giao phó cho việc nam chinh, bình xong Giao Chỉ, thâu tóm nốt mấy nước còn lại thời nghiệp bá của phụ vương mới được viên mãn. Ấy thế mà quân Giao Chỉ đã làm đại quân ta tan nát phải rút về từ giữa năm Ất Dậu, bao nhiêu tướng tá phi phàm phải bỏ mạng. Có kẻ mãi mãi là ma không đầu như Toa-đô. Ngay bản thân ta nếu các tướng không xả thân vì chủ, mệnh ta chắc cũng khó toàn. Ấy là lần trước quân Giao Chỉ đã bị ta đánh cho tan tác, vua tôi thất tán chạy quanh, cơ đồ nó thập phần chao đảo mà kết cục chúng lại thắng ta. Còn như lần này lực lượng chưa hề suy chuyển, thế nó vững như bàn thạch. Nó lừa cướp hết mấy chục vạn thạch lương khiến đại quân ta rơi vào thế chết. Cho nên lần này đưa quân về thật ta chẳng yên tâm, chín phần nguy chưa chắc còn được một phần an. Ta căm giận vua nó một, ta căm giận viên tướng Trần Hưng Đạo này mười. Hóa ra thiên binh, thiên tướng của thiên triều rốt cuộc chỉ là trò cười cho người Giao Chỉ. Nếu lần này ta thoát nạn trở về, nhất định phải xin vua cha dốc hết binh mã thiên triều sang làm cỏ nước Nam, để rửa mối thù bất cộng đới thiên này.
Lại nói các tướng sau khi nhận mệnh của Quốc công tiết chế lập tức khai triển công việc, hàng mấy ngàn quân binh khỏe mạnh chia ra cả chục khu vực thay nhau làm việc suốt ngày đêm. Người thì đo đạc lấy mực, người thì cưa cắt, người thì đẽo vát đầu cọc. Tiết xuân nhưng trời vẫn còn lạnh giá. Binh lính làm việc cởi hết áo quần, mỗi người chỉ đóng một chiếc khố mà mồ hôi vẫn cứ chảy ròng ròng, thân hình người nào cũng rắn chắc như cục sắt nguội, trên cánh tay ai cũng xăm hai chữ “Sát Thát” màu chàm chìm vào trong da trong thịt. Những thân gỗ lim rắn như đá, lưỡi rìu đẽo phát ra tiếng coong coong như tiếng gõ kim loại. Mới làm việc có nửa ngày mà đã mẻ hàng trăm chiếc rìu.
Có hẳn một đội chuyên mài lưỡi rìu vẫn không kịp. Lý Hồng, một thợ rèn nổi tiếng của làng Đoan Lễ phải đưa hết thợ cùng tất cả các bễ rèn của làng đến tận nơi đẽo cọc để rèn và sửa rìu. Để giữ bí mật, bễ rèn đều đặt trong các hang núi gần đó. Tính ra có tới hơn chục bễ với hàng trăm thợ rèn suốt ngày đêm đỏ lửa. Tiếng quai búa đập sắt chan chát làm rung động cả vách hang. Một người thợ dùng chiếc kìm dài lôi cục sắt đỏ hồng đặt lên đe, hai người khác giơ búa quai nhịp nhàng và cứ vài lần đỏ lửa, vài lần cục sắt đỏ đặt lên đe đã biến dần cục sắt thành hình chiếc rìu. Và khi họ tôi cho lưỡi rìu cứng và sắc đều phải nung đỏ rồi nhúng vào chậu nước phát ra tiếng réo sôi xèo xèo, hơi nước bốc mù mịt.
Vài ba vạc cháo loãng đặt xen kẽ giữa các bễ rèn làm đồ giải khát cho thợ. Vạc nào cũng đậy kín mít một chiếc vung đan bằng cật tre đã ngả màu nâu xỉn nay đều phủ trắng tàn than, mỗi khi có người uống nước cháo lại thổi phù phù trước khi mở vung, khiến tàn than bốc bay như một đàn bướm.
Những người thợ dù thân trần đóng khố nhưng mồ hôi vẫn toát ra như tắm, thỉnh thoảng họ lại cúi xuống kéo chiếc vạt khố lau khuôn mặt đẫm mồ hôi để lại những vệt hoen nhọ.
Cùng với những người lính cưa, đẽo hàng ngàn chiếc cọc lim, những người thợ rèn cũng thay nhau làm việc như không hề biết mệt mỏi. Tất cả đều đồng tâm hiệp lực sao cho công việc xong sớm, để quân ta có phương tiện lừa bắt giặc. Ai nấy đều ý thức được rằng công việc mình đang làm cũng chính là việc đánh giặc.
Sau năm ngày đêm hối hả làm việc cật lực với tinh thần “Sát Thát”, số cọc do những người lính mình đồng da sắt cưa cắt, đẽo vạc xếp thành từng đống cao như những trái núi, phân chia loại nào ra loại đó. Có loại thân dài tới hơn sáu sải tay, có loại bốn, năm sải, có loại chỉ hơn ba sải, lại cũng có loại dài tới gần chục sải. Trước khi đưa cọc xuống thuyền chở về từng khu vực, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương đích thân đến tận nơi yên ủi những người lính và những người thợ, tiện thể ông kiểm xét cả về số lượng cọc, chủng loại cọc và chất lượng của cọc nữa. Tuy nhiên, ông giấu biệt tung tích nên mọi người chỉ biết Quốc công là một mệnh quan do triều đình cử về. Ông hỏi han từng người lính, người thợ. Ông húp cháo loãng, hút thuốc lào và nhai trầu với họ, trò chuyện thân mật như tình cha con, tình ông cháu. Ông hỏi thăm gia cảnh từng người. Nắm cánh tay trần có xăm hai chữ “Sát Thát” của một chàng trai, ông hỏi:
- Con xăm hai chữ này từ bao giờ?
Chàng trai bẽn lẽn đáp:
- Bẩm ông, con mới xăm năm ngoái, trước khi đầu quân.
Lại kéo cánh tay của một chàng trai khác, ông hỏi:
- Vậy chớ con xăm “Sát Thát” vào lúc nào?
- Bẩm ông, con xăm từ năm Giáp Thân (1284) trước khi quân giặc vào cõi. Tức là khi nghe Hịch truyền của Quốc công Trần Hưng Đạo, thế là trai tráng làng con đi đầu quân đánh giặc.
Hưng Đạo rất hài lòng về bầu nhiệt huyết của con dân Đại Việt được biểu hiện bằng hành vi của những người lính trẻ.
Bỗng ông đặt câu hỏi với các chàng trai:
- Đuổi xong giặc, các con định làm gì?
Tất cả đám lính trai trẻ ngồi quanh ông cười vỡ ra:
- Bẩm ông, sau chiến tranh nếu còn sống, việc đầu tiên con phải chạy về nhà ngay để cho bố mẹ mừng cái đã, rồi ngủ một giấc vài ba ngày liền. Sau đó lại đi cấy đi cày, đi chài lưới, câu kẹo thôi ạ.
Hưng Đạo ngửa mặt cười hồn hậu:
- Ôi các con thật đáng yêu, ước mơ của các con thật là giản dị, thế mà Hốt-tất-liệt lại toan cướp đi của chúng ta tất cả, kể cả mạng sống và đất đai sông núi.
Vừa chợt nhìn thấy một người lính trẻ cố gắng đặt cây cọc lim dài gấp ba, bốn lần thân thể anh ta lên vai để đưa xuống thuyền, Hưng Đạo vội chạy lại đỡ, thay vì nâng lên vai anh ta, ông đặt xuống đất. Gọi viên đô tướng đến, ông căn dặn:
- Mỗi người chỉ được vác một cây cọc dài từ ba sải tay trở xuống, từ ba sải tay trở lên nhất thiết phải hai người khiêng. Rồi ông dạy họ cách lấy cọc thế nào để tránh xô, và khi cọc xô nó sẽ lăn, phải tránh như thế nào để cọc không xô vào người sẽ gây tai nạn gãy chân gãy tay, đôi khi chết người.
Trước khi chia tay, Quốc công còn căn dặn:
- Các con không nên vung phí sức lực. Phải giữ sức để đánh giặc.
Nói xong, thoắt ông đã leo lên mình ngựa. Đám lính trẻ đồng thanh hỏi:
- Bẩm ông đến bao giờ thì chúng con được đánh giặc ạ?
- Sắp! Sắp đánh đến nơi rồi! - Nói xong ông ra roi vút ngựa.
Vài ngày sau các thuộc cấp đã làm đúng như chỉ dẫn của Quốc công về bố trí trận địa cọc.
Hưng Đạo tự mình đi kiểm xét các bãi cọc một lần nữa. Đêm về ông mở bản đồ xem lại rất kỹ. Cái khó của ông lúc này là làm sao hãm không cho giặc tiến nhanh quá, cũng không để cho nó nhẩn nha mà phải dụ được giặc vào bãi cọc đúng lúc nước triều xuống mạnh khoảng từ cuối giờ mão trở đi, nhưng phải đúng sáng mùng tám tháng ba chứ không thể trước hoặc sau ngày đó, trước hoặc sau giờ đó. Đây là một việc cực khó. Bởi lực lượng giặc không phải là nhỏ. Hơn sáu trăm chiến thuyền với hơn tám vạn quân giặc. Nếu Thoát-hoan lại cho thêm quân bộ về đường thủy, số quân chắc sẽ đông hơn nhiều. Nhưng cũng vì thế mà sức chiến đấu của chúng sẽ giảm đi đáng kể.
Thoát-hoan cho quân thủy rút trước. Y cho viên hữu thừa A-ba-tri dẫn hai ngàn quân kỵ đi trước dọn đường. Lại cho Trịnh Bằng Phi dẫn năm ngàn quân gươm giáo sáng lòa đi sát bên bờ tả ngạn hộ tống cho đoàn binh thuyền rút lui.
Trên đường đi quân giặc bị chặn đánh liên miên. Ngay cả kỵ binh giặc cũng không phát huy được sở trường. Giặc phải tiến binh rất chậm, hơn nữa cầu đường lại bị phá, khi đến Đông Triều thì hai quân mã, bộ không có phương tiện sang sông, chúng đành phải quay lại Vạn Kiếp, nhưng không dám đi theo đường cũ sợ quân ta mai phục, nên chúng bắt người già dẫn đi theo đường khác để chúng tháo lui ngay trong đêm tối.
Hai viên hữu thừa A-ba-tri, Trịnh Bằng Phi về tới Vạn Kiếp vừa kịp nhập với đoàn quân rút chạy. Thoát-hoan không yên tâm ở lại, dù chỉ thêm một ngày.
Thế là đoàn chiến thuyền của Ô-mã-nhi không có quân bộ hộ tống nên chúng đi rất thận trọng, rất chậm. Trên chặng đường giặc rút chạy, Hưng Đạo thường cho quân mai phục khi thì bên tả ngạn khi thì bên hữu ngạn của dòng sông khiến địch luôn luôn ở thế bất ngờ và phải bị động đối phó. Mục đích của Quốc công là làm chậm bước tiến của giặc, buộc chúng phải nộp mạng theo lịch con nước triều mà ông đã tính toán và dàn bày thế trận.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng phải dàn lực lượng đón lõng diệt gọn các toán quân giặc nào chạy thoát ra biển. Vì thế phó tướng Trần Khánh Dư đã cho quân vào đồn trú trong một số hang núi cùng thuyền bè mai phục trên các luồng lạch buộc giặc phải chạy qua. Khu vực Trần Khánh Dư phải bao quát là từ Vân Đồn về đến Cửa Suốt. Khu vực Trần Quốc Tảng đảm trách là từ Cửa Suốt đến Cửa Lục.
Tướng Trần Quốc Bảo dẫn một vạn quân cùng với hơn một vạn hương binh, yểm quân tại các điểm giặc có thể ghé thuyền đổ quân lên bờ suốt dãy Tràng Kênh. Tại đây có cả máy bắn đá, có các loại pháo từ song sảo đến ngũ sảo, các loại tên tẩm độc, tên dẫn chất cháy và quân ta còn có lợi thế là chiếm lĩnh các điểm cao để khống chế mặt nước, nhưng tất cả đều nằm trong tầm bắn có hiệu quả của tên, đạn.
Tướng Phạm Ngũ Lão được sai chuẩn bị một số thuyền nhỏ chở đồ dẫn lửa để đánh hỏa công. Tướng Trần Toàn lĩnh một vạn quân cùng hai vạn dân binh với đầy đủ thuyền bè đón lõng ở cửa các sông Chanh, sông Kênh, sông Rút là các chi lưu của sông Bạch Đằng đổ ra biển, đề phòng nếu một phần giặc chạy thoát ra đây thì đón đánh, và nếu ở đây lại có một số thuyền giặc chạy thoát thì đã có vòng vây của Trần Quốc Tảng. Kẻ nào thoát qua cửa Trần Quốc Tảng tức là sống sót chạy qua Cửa Lục, Cửa Suốt lại sẽ lọt vào vòng vây của Nhân Huệ vương phó tướng Trần Khánh Dư ngoài ải Vân Đồn.
Bố trí trận địa vòng trong vòng ngoài, tầng tầng lớp lớp là Quốc công muốn tận diệt thủy quân của Hốt-tất-liệt, nhằm làm thui chột ý đồ ngạo mạn của viên chúa thảo nguyên này, rằng không phải y muốn làm gì thì làm.
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn cùng nhiều tướng khác thống suất ba mươi vạn quân chẹn các cửa quan trọng yếu buộc giặc phải chạy qua, đang chờ giặc đến nộp mạng.
Quân ta được ăn uống no đủ lại háo hức chờ đánh giặc lập công từ mấy tháng nay. Các chiến binh không có ước vọng gì hơn là đánh tan quân giặc dữ đem lại yên bình cho đất nước, để được sớm trở về nơi hương ấp đoàn tụ với gia đình, trở về với ruộng đồng cày cấy như xưa.
Từ Vạn Kiếp, Thoát-hoan cho quân rút theo hai đường như khi y tiến quân vào Đại Việt.
Thoát-hoan cho Sic-tua cầm đầu cánh quân rút qua hướng tây, tức từ Vạn Kiếp theo đường thiên lý qua cửa quan Chi Lăng theo đường Khâu Ôn, Vĩnh Bình rồi vào đất Tư Minh (Trung Hoa). Thoát-hoan sẽ rút theo cánh phía đông, tức là từ Vạn Kiếp vượt sông Bình Giang vào Nội Bàng, theo đường Động Bản ngược lên Lộc Châu để vào Tư Minh.
Thoát-hoan sai A-ba-tri và Trịnh Bằng Phi đem hai đội quân mã, bộ đi trước mở đường.
Cánh quân của Sic-tua dọc đường bị chặn đánh tơi bời, y cố gắng đưa quân vượt qua các cánh quân phục của Đại Việt, bỏ lại không biết bao nhiêu xác chết mà không dám tranh hơn thua, chỉ cốt cướp được đường mà chạy. Thế nhưng đến trước ải Hãm Sa thì toàn quân của y không thể nào vượt nổi. Đánh suốt nửa ngày, quân chết như rạ mà không nhích được bước nào.
Cửa Hãm Sa đâu đã hiểm trở bằng cửa Chi Lăng, nếu liều chết mở đường máu vượt qua Hãm Sa tới được Chi Lăng thì chắc chắn trước sau thụ địch, nếu không bị giết ắt sẽ bị bắt. Nghĩ vậy, Sic-tua bèn cho quân quay lại nhập với cánh quân phía đông để rút qua đường Nội Bàng, Lộc Châu. Ngay cả khi Sic-tua cho quân quay lại, việc đó thật không dễ. Những chặng đường khi quân của Sic-tua quay lại, lúc trước thì yên ổn còn bây giờ đầy rẫy quân phục, đánh nhau suốt ngày mới tranh được một đoạn đường, trong khi quân vừa đói vừa mệt vừa sợ hãi.
Thấy tình thế nguy ngập Thoát-hoan giữ Áo-lỗ-xích và viên thần nỗ Giả Nhược Ngu ở bên mình và ra lệnh phải gấp rút đi suốt ngày đêm.
Trong đám hàng thần, Thoát-hoan chỉ cho Trần Ích Tắc đi theo, còn Trần Lộng, Trần Tú Hoãn cùng đồng bọn phải đi theo quân.
Được tin giặc từ Vạn Kiếp chia hai đường thủy bộ rút quân, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải xin hai vua xuất quân theo đường thủy đuổi gấp bọn Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đang trốn chạy.
Quân thánh dực và quân phủ Chiêu Minh đều đóng tại Giáp Sơn, ngay sát mấy con sông và nằm trong vùng rừng núi hang động rất hiểm trở, tuy cách Vạn Kiếp không xa nhưng tựu trung nó lại rất an toàn.
Khi hai vua và Chiêu Minh vương kéo quân đi, hàng vạn hương binh của hai vùng Giáp Thạch và Trà Hương cũng theo quân triều đình đi bắt giặc.
Không thấy có quân yểm trợ mà dọc đường luôn luôn bị quân Đại Việt tập kích, phục kích mỗi ngày bị chết, bị thương từ vài ba trăm tới vài ba ngàn đứa, lương thực và mọi thứ đều thiếu thốn, tinh thần binh sĩ hoang mang, sợ sệt khiến Ô-mã-nhi không khỏi lo lắng, y cho triệu Phàn Tiếp, Tích-lệ-cơ vương, vạn hộ Trương Ngọc, tham chính Sầm Đoạn, Điền nguyên soái và cả Lý Thiên Hựu là viên quan đi theo chuyên ghi chép mọi việc cũng được mời dự. Kỳ lạ, Ô-mã-nhi còn đem theo tên phù thủy Nguyễn Bá Linh là một kẻ có nhiều tà thuật cũng được dự bàn.
Tuy không ngày nào không xảy ra giao tranh và quân lính vừa ăn đói vừa phải đánh nhau, cái sống cái chết cặp kè, vậy mà trong soái thuyền của tham tri chính sự nguyên soái Ô-mã-nhi không thiếu một thứ gì từ rượu quý cho tới các đồ ăn uống theo kiểu Trung Hoa. Người Mông Cổ chỉ cần ở Trung Hoa vài ba tháng, được các đầu bếp Quảng Đông, Phúc Kiến hầu hạ bằng các món ăn Trung Hoa thì các loại đồ ăn vùng thảo nguyên của họ chỉ là những thức ăn ngon trong dĩ vãng.
Các tướng vừa có mặt đông đủ, Ô-mã-nhi hất hàm cho viên đô tướng hầu cận đem rượu ra đãi khách. Rượu bồ đào được hâm nóng rót trong các bát sứ có nắp đậy tỏa mùi thơm khiến cánh mũi các tướng cứ phập phồng, phập phồng.
- Mời các ông uống rượu rồi ta bàn việc, Ô-mã-nhi vừa nói vừa tự mình bê một bát. Khi mọi người đều mở nắp bát rượu của mình thì cả khoang thuyền sực nức mùi men nồng. Xem ra không khí đã bớt phần ảm đạm. Nguyên soái cho uống tới bát thứ ba, các tướng bắt đầu râm ran trò chuyện. Nét mặt mọi người đều hồng hào, khí sắc có phần sinh động. Nhưng với phù thủy Nguyễn Bá Linh thì lại khác, y càng uống mặt y càng tái đi. Y có dáng người dong dỏng, đôi lưỡng quyền nhọn hoắt, nom như hai cái gai ốc nhồi úp lên gương mặt choắt, cặp mắt một mí ti hí luôn nhìn xuống, lông mày thưa và nhỏ như một vết mực nhạt quệt ngang cùng với mớ tóc dài tới khoeo chân để xõa. Cổ y đeo một chiếc bùa đỏ như màu máu, bện to như chiếc chão dài thõng tới bụng. Bá Linh luôn mặc trên người bộ quần áo đen khiến y trở nên bí hiểm vô cùng. Nghe nói tên này có nhiều phép thuật cao cường nên Ô-mã-nhi thâu vào dưới trướng để khi cần phải dùng đến, nhưng trước hết là để hộ mạng cho y.
Giữa cái không khí như trong tiệc rượu ấy, Ô-mã-nhi lên tiếng:
- Như các ông đã biết từ bữa ta rời Vạn Kiếp tới nay, không ngày nào không phải giao chiến với quân Giao Chỉ. Các trận giao tranh không lớn, nhưng số quân chết và bị thương gom lại không phải là ít. Điều ta quan ngại là việc lui binh bị cản trở nên quân đi quá chậm. Nếu để kéo dài tình thế quân ta sẽ vô cùng bất lợi. Vì lương thực cạn nhanh, tinh thần sĩ tốt căng thẳng, sức chiến đấu sẽ giảm sút. Càng kéo dài thời gian đi trong sông càng nguy hiểm. Chỉ có sớm thoát ra biển thời việc đưa quân về ta mới an tâm. Vậy các ông có kế gì xin cho nghe.
Phàn Tiếp liền nói:
- Có nhẽ đoạn đường vừa qua ta thận trọng quá nên quân đi khá chậm. Tuy vậy, từ đây vào sông Bạch Đằng cũng không còn xa nữa. Vào được sông Bạch Đằng ít phải lo tới chuyện giao chiến. Bởi sông thì rộng mênh mông mà thuyền của giặc lại nhỏ bé, chọi sao nổi với quân ta. Từ sông Bạch Đằng ra biển chỉ còn trong gang tấc. Cái thuận của ta là xuôi nước. Vậy từ ngày mai xin nguyên soái cho quân đi thần tốc.
Trương Ngọc cũng nói:
- Phải cướp lấy đường mà đi. Gặp giặc quây lại mà đánh, đổ quân lên bờ làm thế ỷ dốc, đánh cho chúng không mở mắt ra được, phải tiêu diệt không còn một mống nào sống sót khiến chúng phải sợ hãi không dám cản đường quân ta nữa.
Quanh đi quẩn lại ý các tướng đều giống nhau cả. Tức là phải đi nhanh hơn. Phải đánh cho quân địch khiếp sợ.
Tướng nào cũng nói cứng vậy thôi chứ trong lòng đều không tin ở lời mình nói. Vì rằng quân Việt lúc ẩn lúc hiện thiên biến vạn hóa, lúc chặn đầu, lúc khóa đuôi, khi tạt sườn, đánh ngày đánh đêm xuất quỷ nhập thần chẳng biết đâu mà lường.
Bàn đi bàn lại, bỗng Điền nguyên soái hỏi:
- Ta nghe Bá Linh là bậc siêu nhân có thể sai khiến được cả âm binh vào trận, nay đã ở dưới trướng của tham tri nguyên soái, gặp giặc sao ta chưa thấy ông trổ oai thần.
Điền nguyên soái nói trúng ý các tướng nên ai cũng đón nghe Bá Linh mở lời. Nhưng y lại thản nhiên như không nghe thấy gì hết.
Chính Ô-mã-nhi cũng muốn biết điều đó nên giục:
- Bá Linh pháp sư, ông trả lời cho các tướng đi chứ.
Bá Linh liền đứng dậy co một chân, lấy chân còn lại làm trụ xoay tít người, mái tóc của y tỏa thành một vòng tròn tựa như chiếc lọng đen che trên đầu, và chiếc bùa ở cổ y cũng xoay tròn như một chiếc vòng lửa lóe sáng, một lát y thả chân kia xuống, mái tóc lập tức buông sõng về phía sau lưng, chiếc vòng cũng đứng im trước ngực và hai luồng khí trắng từ hai lỗ mũi phun ra thẳng tắp như một cặp kiếm quang.
Trước sự thán phục của các tướng, viên phù thủy liền phán:
- Nguyên soái mời ta sang Giao Chỉ để bắt Hưng Đạo về cho thiên tử xem gan nó, chớ có phải ta sang đây để bắt mấy thằng lính nhãi ranh đâu mà các ông đòi hỏi.
Các tướng đều cảm thấy người này hợm hĩnh, nhưng nể mặt Ô-mã-nhi, họ không thèm nối lời với tên phù thủy nữa.
Thân vương Tích-lệ-cơ nói:
- Không thể coi thường người Giao Chỉ, họ thu mình giả rằng yếu kém không đủ sức kháng cự, nhường thế thượng phong cho binh uy thiên triều, để rồi mấy chục vạn thạch lương không đến tay quân ta một hạt, hãm quân ta vào thế đại bất lợi buộc phải lui quân. Như thế họ không chiến mà thắng. Tới lúc này họ lại truy đánh quân ta thường ngày, vì lợi thế đang thuộc về họ. Vậy ý các tướng đã bàn, ta thấy nên theo. Tức là phải thoát ra khỏi đất họ càng nhanh càng tốt, và nếu phải đối đầu thì đối đầu quyết liệt buộc họ phải tránh cho ta đi.
Cuộc hội bàn thật là nhạt nhẽo, chẳng ai hiến được kế gì hay ho, Ô-mã-nhi vớt vát vài lời tỏ ra cứng cỏi:
- Các tướng về lo chỉnh bị quân ngũ, từ ngày mai ta phải lui binh thần tốc, nếu giặc cản trở phải đánh cho chúng những đòn khốc liệt.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương đang dụ giặc vào kế do ông sắp đặt. Ông hãm không cho giặc rút quân nhanh, vì nếu để cho chúng vào trước ngày tám tháng ba, con nước chưa lên tới đỉnh cao nhất, các bãi cọc nhô lên để giặc trông thấy từ xa sao còn lừa được chúng nữa. Có nhẽ ngày mai mồng bảy sẽ cho giặc vào trú ở đoạn đầu sông Đá Bạc, để sớm mồng tám sẽ dụ cho chúng vào sâu.
Quốc công đang xem xét lại các nơi đã bài bố binh lực, xem có còn gì phải bổ cứu trước khi cho giặc vào bẫy thì nhận được tin từ biên ải báo về. Giặc bị chặn trước ải Hãm Sa nên bỏ con đường Khâu Ôn - Vĩnh Bình, tất cả dồn về nẻo Nội Bàng - Động Bàn - Đôn Kỷ - Lộc Châu rồi về Tư Minh. Hưng Đạo mừng lắm, mắt ông sáng bừng lên. Ông thầm khen “Chiêu Văn vương quả là một tướng tài kiệt xuất”. Hưng Đạo bèn sai thư nhi đem giấy bút cho ông viết lệnh. “Ta có nhời khen thượng tướng. Giặc đang lâm vào tử địa. Tất cả đều kéo về lối Lộc Châu. Hưng Vũ Vương đã chặn biên thùy. Tướng quân kíp đem quân đánh tập hậu. Gắng bắt lấy Thoát-hoan. Nên cảnh giới tên thần nỗ Giả Nhược Ngu luôn đi cặp kè bên chủ. Thư nói chẳng hết nhời. Chờ ngày toàn thắng”.
Viết xong ông gọi Yết Kiêu vào và dặn:
- Con sai đám chim câu đưa thư này cho Chiêu Văn vương. Hiện nay vương đang ở vùng Khâu Ôn quanh mấy ải Hãm Sa, Chi Lăng.
Yết Kiêu lĩnh thư rồi lui ra cuộn gói gọn ghẽ, ngoài bọc sáp. Sau đó tướng quân chọn ra năm con chim bồ câu, buộc thư vào âu cánh con đầu đàn, làm các ám hiệu căn dặn rồi thả cho chúng bay đi.
Theo tính toán thì ngày mai giặc tất sẽ tới Trúc Động. Đầu xã Trúc Động là nơi gặp gỡ giữa hai dòng sông Giá và sông Đá Bạc. Đương nhiên binh thuyền giặc sẽ đi vào sông Giá. Vì từ sông Giá ra sông Bạch Đằng gần hơn sông Đá Bạc. Và sông Bạch Đằng ở quãng này cũng gần cửa biển hơn. Cho nên sống chết giặc cũng chọn sông Giá làm đường lui binh. Vì vậy quốc công đã ém một lực lượng khá lớn để ngăn không cho binh thuyền của giặc vào. Cách ngã ba sông Giá và sông Đá Bạc độ non chục dặm lại có một nhánh ăn thông với nhau giữa hai dòng sông này, quốc công đặt ở đây một lực lượng lớn đề phòng giặc cố tình vượt sang sông Giá. Thêm vào đó còn có cả vạn dân binh trong vùng kéo đến xin được quốc công sai khiến. Ngay cả các đội bạch đầu ông, các đoàn đội trạo nhi cũng xin được ở vùng ngoài thanh viện như đánh trống, đánh chiêng, reo hò, hoặc tiếp tế cơm nước, hoặc khiêng thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Cuộc chuẩn bị cho trận đánh tuy âm thầm nhưng sôi động và có một điều kỳ lạ là từ các vị tướng đến người bình thường, từ quan đến dân, từ người già đến trẻ nhỏ cứ được tham gia đánh giặc là nức lòng. Ai ai cũng coi việc đánh giặc là việc của mình, của nhà mình, của hương ấp mình nên chẳng có một người nào thoái thác. Tuy vậy trong sâu thẳm tâm tư của mỗi người đều mong muốn được sống trong yên bình, đất nước không còn có giặc giã và không phải đánh giặc.
Lại nói về Ô-mã-nhi và các tướng muốn lui quân thần tốc để sớm được ra biển cho an toàn, thế nhưng đoạn đường phía trước một bên bờ sông thì áp sát với rừng già ăn sát tới mép sông, một bên thì loáng thoáng có núi cao dựng như vách thành, sợ có quân mai phục nên nguyên soái sai dừng thuyền và hai đầu cũng như hai bên tả hữu ngạn phải đổ quân lên tuần tra canh gác chứ không cho đi đêm. Sáng ra, sau một hồi tù và thổi bằng sừng dê, các thuyền của quân Nguyên đều nhất loạt treo cờ Đại Nguyên trên đỉnh cột buồm.
Chiếc soái thuyền của Ô-mã-nhi ngoài treo cờ của nước Đại Nguyên ở đầu mũi thuyền còn cắm lá cờ đuôi nheo sắc đỏ, tua vàng giữa cờ thêu một chữ “SÚY” bằng chỉ đen. Trong thuyền bày biện các đồ sang quý và có cả màn sáo vây quanh các con tiện, các cửa sổ của lâu thuyền.
Sau khi các thuyền đã treo cờ Đại Nguyên lại có ba hồi kèn thúc và bảy phát pháo hiệu bắn lên nền trời mù sương, ấy là lệnh xuất phát cuộc hải hành.
Ô-mã-nhi lui quân tháo chạy mà cờ giong trống mở cứ như đoàn quân chiến thắng khải hoàn. Làm ra vẻ của một đoàn quân chiến thắng khải hoàn là Ô-mã-nhi muốn lấy lại tinh thần cho binh sĩ đang suy sụp, vì mệt mỏi chống đỡ hằng ngày với quân Đại Việt đang truy đuổi, và nữa sức lực của chúng cũng sa sút bởi ăn uống thiếu thốn. Mặt khác, đô nguyên suý cũng muốn ra oai với phía Đại Việt rằng: “Binh lực của ta còn hùng hậu lắm, chớ có đụng vào”.
Từ Vạn Kiếp ra đi Ô-mã-nhi có hơn sáu trăm chiến thuyền, qua hơn chục ngày giao tranh đã mất non một trăm chiếc với hơn mười ngàn quân. Tuy vậy, với hơn năm trăm chiến thuyền cờ xí giăng giăng, lại thuận đường xuôi nước rùng rùng kéo dài cả chục dặm sông, thiết tưởng cũng đủ sức uy hiếp đối phương. Ở đất này chỗ nào cũng là rừng, là núi âm u, là sông ngòi chằng chịt nên bầu trời lúc nào cũng lãng đãng khói sương.
Đoàn chiến thuyền kéo dài như vô tận, thuyền nào cũng giương buồm đón gió, dù rằng mới sớm tinh sương lá cây ngọn cỏ vẫn im lìm như còn ngái ngủ. Mấy bữa nay không còn mưa bụi, cái lạnh cũng chỉ hơi se se. Tuy chưa có gió nhưng xuôi nước, quân thay nhau chèo, thuyền đi cũng khá nhanh. Chừng cuối giờ thìn, mặt trời đã lên khỏi ngọn tre, màu nắng hoe hoe làm tan dần khí mù từ rừng cây và sông suối bốc lên khiến bầu trời quang đãng. Màu trời xanh lơ, lúc này đứng trên cao nhìn được toàn cảnh đoàn chiến thuyền uốn lượn theo hình thể dòng sông mới thấy vẻ đẹp bề ngoài của một đội quân lớn.
Ô-mã-nhi đứng trước mũi lâu thuyền nhìn xuôi về phía trước, lại nhìn ngược về phía sau thấy thuyền quân và cờ xí rợp trời, lòng đầy kiêu hãnh, y vẫy tay gọi Phàn Tiếp lại gần và hỏi:
- Ông thấy đại quân của thiên tử thế nào?
- Đúng là một chủng quân kiêu dũng của thiên triều. Chỉ tiếc ta chưa kịp lập công dâng thiên tử - Phàn Tiếp đáp.
- Ta chưa rõ trận Xích Bích của nước Trung Hoa thời Tam quốc thế nào. Nghe nói nó vĩ đại lắm. Nhưng ta cam đoan với ông nếu Hưng Đạo dám trêu tức ta thì ta sẽ cho ông ta một trận Xích Bích.
Phàn Tiếp im lặng nhìn về phía trước.
Càng gần về trưa bầu trời càng quang đãng. Sự uy nghi của đoàn thuyền chiến càng làm Ô-mã-nhi hài lòng. Ô-mã-nhi cho là mình đã quyết định đúng, ấy là phải tiến nhanh ra biển, phải giương uy khiến kẻ địch run sợ tránh xa. Quả là quân Giao Chỉ thấy ta phô bày binh lực nên chúng sợ uy ta mà trốn biệt đi rồi. Mọi ngày ta tiến binh cầm chừng thì không ngày nào không phải giao tranh, thế mà bữa nay từ sớm tinh sương tới giờ có thấy bóng dáng một tên giặc nào đâu.
Một lát, Phàn Tiếp quay lại nói với Ô-mã-nhi:
- Nguyên soái, còn vài dặm nữa ta sẽ đến ngã ba nơi sông Giá và sông Đá Bạc gặp nhau, ta cho quân xuôi theo sông nào.
Ô-mã-nhi thuộc nằm lòng mấy con sông nên đáp:
- Cả hai sông đó đều đổ vào sông Bạch Đằng rồi ra biển. Nhưng nên đi nẻo sông Giá. Sông Giá vào Bạch Đằng gần hơn.
Phàn Tiếp sai truyền lệnh lên những thuyền đi đầu tới ngã ba thì rẽ theo bên hữu.
Khoảng giữa trưa đoàn thuyền chiến rẽ vào sông Giá chừng một dặm, tức là địa phận xã Trúc Động thì bị quân Đại Việt chặn lại.
Thoạt tiên là một loạt tên bùi nhùi dẫn chất cháy tập trung bắn vào mấy thuyền đi trước. Các tay lái thuyền bị dính tên kịch độc rời tay lái, thuyền nọ xô thuyền kia lập tức gãy vỡ, cùng lúc bốc cháy. Những chiếc đi sau không hãm kịp cứ liên tiếp đâm vào nhau làm tắc nghẽn cả dòng sông vốn đã hẹp. Cũng lúc đó, ở trên bờ tên bắn xuống như mưa và tiếng tù và, tiếng trống đồng, trống đại lược phối với nhau phát ra những tiếng rền vang như tiếng sấm. Và nữa tiếng hô “Sát Thát!” của hàng vạn dân binh đang sát cánh chiến đấu với quân triều đình cứ xoáy vào tai giặc như những mũi kim nhọn hoắt. Lại nữa, từ phía hạ lưu sông Giá, từng đoàn thuyền chiến giương cờ Đại Việt đang băng băng rẽ nước tiến về phía binh thuyền của Ô-mã-nhi.
Giặc đang thung thăng với tinh thần của kẻ đi dạo, bị đánh bất ngờ, quân chúng trở nên rối loạn.
Ô-mã-nhi vừa sai quân chống cự với lực lượng trên bờ vừa ra lệnh cho các tướng dưới quyền bắt quân kéo những thuyền cháy, thuyền đắm dẹp sang một bên lấy đường mà đi tiếp. Nhưng khi chợt thấy các chiến thuyền Đại Việt cứ trùng trùng điệp điệp tiến thẳng về phía quân Nguyên, và quân Đại Việt ở trên bờ cũng chặn đánh quyết liệt không cho quân Nguyên nhích qua khu vực các thuyền vừa bị đánh đắm thì Ô-mã-nhi sai Phàn Tiếp và Trương Ngọc lấy tiền quân làm hậu quân để cản quân Đại Việt, còn Ô-mã-nhi sẽ đưa quân quay về sông Đá Bạc để từ đó tìm đường ra biển.
Thực ra chưa cần có lệnh của nguyên soái, khi thấy các thuyền đi đầu bị chặn đánh, lập tức các thuyền đi sau cứ tự ý rẽ vào sông Đá Bạc. Việc đơn giản là ở đó không có quân Đại Việt.
Mặc cho giặc chạy vào sông Đá Bạc, nẻo sông ấy quân ta không ngăn cản, nhưng các lực lượng thanh viện vẫn cứ nổi trống, chiêng, tù và cùng những lời hô “Sát Thát” đuổi theo quân giặc mỗi lúc một ráo riết hơn.
Trong khi cánh quân ở phía hạ lưu sông Giá do tướng Trần Toàn chỉ huy gần áp sát binh thuyền quân Nguyên thì tướng Đỗ Hành chỉ huy quân bộ đang từ trên bờ đánh vào phía hậu quân của đoàn binh thuyền giặc, thanh thế rất lớn, khiến giặc không dám dừng lại giao chiến mà vừa chống đỡ vừa chạy thật nhanh chỉ mong thoát chết. Trận đánh ở Trúc Động kéo dài đến gần tối thì lùa được toàn bộ binh thuyền của giặc vào sông Đá Bạc và không có một chiến thuyền nào của chúng lọt được qua sông Giá vào sông Bạch Đằng.
Khuya đêm đó, hai vua và thượng tướng Trần Quang Khải cùng tướng Nguyễn Xuân đã đem toàn bộ quân thánh dực, cả hơn hai vạn quân của phủ Chiêu Minh cùng hơn một vạn điền binh vùng Giáp Sơn cũng theo vua đã tới Trúc Động, nơi chiến trường còn ngổn ngang xác giặc và thuyền giặc bị đắm trôi dật dờ trên mặt sông.
Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đã đưa được hết binh thuyền vào trú trong sông Đá Bạc. Lúc này giặc tạm hoàn hồn. Quân chúng bắt đầu bữa ăn chiều vào lúc non nửa đêm. Phàn Tiếp tỏ ra bằng lòng với thiệt hại qua cuộc giao tranh, liền nói với Ô-mã-nhi:
- Nguyên soái có thấy quân Giao Chỉ phô trương thanh thế thật là ghê gớm, nhất là khi binh thuyền của chúng từ phía hạ lưu ào ào tiến thẳng về phía quân ta phối với đám quân đang quấy rối mà ta phải đối phó, lúc ấy tôi đã hơi lo. May mà sự thiệt hại không đáng kể.
- Thì lúc ấy ta đã chẳng ra lệnh lấy tiền quân làm hậu quân để ngăn giặc, còn hậu quân biến thành tiền quân tiến thẳng vào sông Đá Bạc đó sao. Ô-mã-nhi nói với vẻ tự phụ. Chợt nhìn các chiến thuyền cứ sát lại gần nhau, Ô-mã-nhi biết nước triều đang xuống mạnh, lòng sông hẹp lại, hai bên bờ bãi rừng cây và lau sậy mọc um tùm, che khuất hết tầm nhìn, viên tướng dày dạn chiến trường này giật mình nghĩ đến trận hỏa công Xích Bích, quân Đông Ngô đốt trụi hết cả chiến thuyền của Tào Tháo, y bèn ra lệnh chỉ để một phần ba số quân ở lại giữ thuyền, còn hai phần ba phải lên trên bờ, chiếm các nơi hiểm yếu mai phục, phòng giặc tập kích hoặc hỏa công. Khen thay Ô-mã-nhi quả là một tướng giỏi, nhưng y không thuộc địa hình, vì rằng đoạn sông y trú quân hai bên tả hữu ngạn đều là rừng sú vẹt dày đặc mọc trên bãi lầy và không có đường bộ có thể đưa được quân vào, thành thử y chỉ làm khổ đám quân mệt nhọc phải thức trắng để đối phó với muỗi độc. Chừng quá nửa đêm nước triều dâng lên ngập cả đôi bờ, ngập tới quá nửa các thân cây của rừng sú vẹt. Quân Nguyên hốt hoảng kéo hết về thuyền.
Đĩa đèn sáu ngọn bấc hắt một thứ ánh sáng lờ mờ lên vách tranh của khuôn lán hẹp, Quốc công tiết chế bồi hồi nghĩ về trận đánh ngày mai. Và ông chợt nhớ khi phải bỏ lại con voi bị thụt bùn tại A Sào, con voi có nghĩa này đã gắn bó với ông, vào sinh ra tử với ông từ cuộc chiến năm Ất Dậu. Chính là con voi mà Chiêu Văn vương đã đưa từ lộ Đà Giang về biếu ông từ năm Nhâm Ngọ (1282). Nhớ lúc phải nói lời vĩnh biệt nó, ta không cầm nổi nước mắt và nó cũng rầu rầu nhìn ta nước mắt chảy giàn giụa lộ rõ vẻ đau buồn. Ta đã rút kiếm chỉ xuống dòng sông thề rằng: “Nếu trận này không giết hết giặc Nguyên, ta không trở lại khúc sông này”. Ta thề với khí thiêng Đại Việt, nhưng cũng là lời hứa của ta trước sự hy sinh của con nghĩa tượng.
Ngày mai tất cả đều đã sẵn sàng. May sao con nước triều ta mong đợi đang diễn ra đúng như bà lão hàng nước mách bảo, đúng như dân chúng trong vùng mách bảo. Và cũng thật đúng lúc quân thánh dực của hai vua và quân của phủ Chiêu Minh đã đến kịp thời. Đội quân hùng hậu ấy sẽ bịt đường quay lại của giặc. Và cũng là đội quân đánh vào sau lưng giặc khi đại quân của chúng đã vướng vào các bãi cọc của ta.
Hưng Đạo là một bậc tướng quán thông, ông có đức giữ được sự bình tĩnh trước mọi nguy nan. Vậy mà sắp lâm trận, một thế trận ông bày sẵn, buộc quân thù phải hành động theo sự sai khiến ngầm của ông - Trận quyết chiến mà dường như ông đã nắm chắc phần thắng. Vậy mà ông vẫn hồi hộp. Ông nhớ trong đời làm tướng dường như đã có một lần ông trải qua cảm giác này. Có nhẽ là năm Đinh Tỵ ông nhận mệnh của đức Thái tông đem binh lên trấn biên thùy, trong vùng Quy Hóa giang để cản giặc. Ông đã dạy cho các thủ lĩnh người man là Hà Khuất, Hà Bổng biết cách đánh quân Mông Cổ và trong trận phục kích để diệt hai vạn quân Thoán-Bặc của Đoàn Hưng Trí theo quân Mông Cổ vào xâm lược nước ta. Cái cảm giác trước khi xảy ra trận đánh hồi ấy, nó cũng na ná như lúc này đây. Nhưng đánh tan hai vạn quân Thoán-Bặc cũng không sung sướng bằng khi đánh quân Mông Cổ tháo chạy trở về Vân Nam, tuy nhiên cái cảm giác hồi hộp thì không còn nữa. Lần này mới thấy lại, âu cũng là một sự lạ.
Quốc công mở bản đồ xem lại nơi bố trí trận địa, tướng nào cầm bao nhiêu quân đánh phía nào, ngăn chặn những chỗ nào, bao bọc ở đâu, tiếp ứng ở đâu, vòng trong vòng ngoài, tiền hậu, tả hữu đều đã bưng kín, nay giặc cũng đã dẫn xác vào nơi ông đón lõng, và nước triều cũng đang lên mạnh… Lòng dào dạt niềm phấn hứng, Quốc công bước ra ngoài ngửa mặt nhìn bầu trời sao loáng thoáng. Ông biết ngày mai trời đẹp, có nắng, có thể còn có gió. Tự nhiên ông chắp tay vái Trời, cúi xuống vái Đất rồi vái bốn phương, ông khấn: “Nước tôi nhỏ bé ở nép một góc trời, luôn bị người phương Bắc hà hiếp lấn xâm. Trời đã cho làm Người ắt cho quyền được sống. Nay dân tôi quyết đòi lại quyền được sống ấy. Nếu thiên lý chí công xin cho tôi giết hết bầy quỷ dữ đem lại cuộc sống yên bình cho người lương thiện. Xin các bậc tiền nhân và hồn thiêng sông núi phù trợ cho quân ta ngày mai vào trận được toàn thắng, quyết lấy máu giặc để rửa hờn non nước, giữ cho xã tắc được vững bền”.
Lòng thanh thản Quốc công vào trong lán cuốn lại búi tóc cho thật chặt, quấn chiếc khăn vành dây bằng nhiễu giắt mối chặt chẽ, đoạn ông cởi áo ngoài mặc giáp hộ tâm áp sát vào lồng ngực, ngoài phủ chiếc áo dài lửng đến đầu gối màu nâu bạc.
Quốc công khoác lên vai một cây cung, một giỏ tên rồi với tay lên giá lấy cây trường kiếm đeo bên sườn trái. Ông sai đứa thư nhi đi gọi Yết Kiêu, Dã Tượng.
Hai người vừa ló vào, ông vội hỏi:
- Ta muốn hỏi các con, trước khi vào trận các con có nhận thấy điều gì khác không?
- Dạ từ khi được tin quân ta bịt chặt sông Giá buộc đại quân của Ô-mã-nhi phải vào hết sông Đá Bạc, con mừng quá, khi đêm suýt mất ngủ. - Yết Kiêu nói.
Dã Tượng cũng thưa:
- Bẩm đức ông mấy đêm nay con mất ngủ vì các vong nó kêu ai oán quá, vong nhiều vô số kể, tiếng nó sà xuống sát mặt đất rồi, chắc trận này giặc chết nhiều lắm đây.
Quốc công gật đầu: - Chắc vậy! Nhưng các con đi ngủ tiếp đi, bây giờ mới gần cuối giờ sửu, ngủ được tí nào hay tí đó. Trận đánh chắc không ngoài dự liệu.
Hai người không chịu đi ngủ lại, bởi cũng chẳng còn mấy nữa thì trời sáng.
Quốc công lại hỏi:
- Đỉnh nước triều hôm qua có ngập hết cọc không?
- Dạ cọc ở gần bờ thì ngập xâm xấp nhưng đã có cỏ lác phủ lên, người vô tình không thể biết. Còn các bãi cọc đóng ở cửa các sông Chanh, sông Kênh, sông Rút phải hơn một gang tay nữa mới ngập.
- Dạ, tất cả đều đúng như Quốc công chỉ dẫn, - Yết Kiêu nói.
- Phải, hôm nay mùng tám tháng ba mới là đỉnh con nước triều, nó cao hơn đỉnh hôm qua tới hơn hai sải tay kia. Cả mùa xuân chỉ có con nước triều mùng tám tháng ba là cao nhất. - Quốc công giảng giải.
Gần sáng thấy nước sông dâng cao, mấy viên đô tướng vội vào đánh thức Ô-mã-nhi bẩm báo. Y vén rèm nhìn xuống mặt sông, quả đúng như lời các viên đô tướng.
Ô-mã-nhi sai lập tức truyền lệnh:
- Nước sông đang cường, phải cướp thời gian để thoát ra biển. Bữa sáng, bữa trưa hôm nay các đô tướng phải cho quân ăn no, nhưng ăn bằng lương khô, vừa đi vừa ăn.
Khoảng giữa giờ dần, đại đội binh thuyền của Ô-mã-nhi đã tăm tắp khởi hành. Bữa nay chúng đi trong câm lặng chứ không trống giong cờ mở như hôm trước.
Đại quân thủy bộ của hai vua Thánh tông, Nhân tông và Chiêu Minh vương đóng cách quân Nguyên chỉ năm, sáu dặm theo đường chim bay trong một khu vực giặc khó có thể ngờ, nhưng vẫn cho quân thám dõi theo, giám sát chúng rất chặt chẽ. Chợt thấy hậu quân của Ô-mã-nhi rục rịch, quân ta cũng chuẩn bị lên đường.
Nước triều đang xuống, binh thuyền của giặc đi khá nhanh, khoảng đầu giờ thìn, tướng Nguyễn Khoái dẫn khoảng năm mươi chiếc khinh thuyền từ trong cửa sông Chanh tiến thẳng về phía thuyền giặc còn đang ở phía mờ xa. Chừng một canh giờ sau, hai bên đã nhìn rõ nhau. Nguyễn Khoái phất cờ cho đoàn thuyền dàn hàng ngang xông thẳng vào đoàn chiến thuyền hùng hậu của Ô-mã-nhi khiêu chiến.
Giặc thấy lực lượng quân ta nhỏ bé tới thảm hại mà dám liều lĩnh gây sự chẳng khác lũ thiêu thân, chẳng khác con kiến gió đòi thách đấu với cả đàn voi. Ô-mã-nhi sai quân tức tốc truy đuổi để bắt sống.
Thuyền giặc to lớn cồng kềnh di chuyển khó khăn, trong khi thuyền của quân ta nhỏ nhẹ thoắt lui thoắt tới, chạy vòng chạy vèo nhưng luôn giữ một khoảng cách ngoài tầm tên bắn. Giặc tản thuyền ra kín mặt sông quyết bắt sống cho bằng được đám thuyền kia.
Chừng đã sang giờ tỵ, nước triều xuống rất nhanh. Từ trên cao quan sát, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương thấy thuyền giặc đã vào sâu, ông hạ lệnh cho nổ pháo hiệu và đốt khói khắp triền sông cho Nguyễn Khoái biết.
Nhận được lệnh, Nguyễn Khoái phất cờ thu quân rút chạy trở lại sông Chanh và trốn trú nơi phía bãi Yên Giang. Thuyền giặc ầm ầm lao đuổi giữa lúc nước triều xuống mạnh, cọc ngầm chỉ còn cách mặt nước vài gang tay, dòng nước hút thuyền giặc như nước chảy qua miệng phễu. Những chiếc đi đầu đã va vào hàng cọc chắn ngang sông. Vài ba chiếc bị xô gãy, thuyền đắm khiến những chiếc đi sau vấp nhau chồng đống. Những chiếc tiếp sau hãm kịp, giăng giăng trùng điệp trước cửa sông.
Đúng lúc này hai bên bờ sông dân binh nổi trống đồng, trống cái lại thêm tiếng kèn, tiếng tù và rúc inh ỏi, tiếng hô “Sát Thát” vang vang. Và Phạm Ngũ Lão dẫn đội hỏa công chừng hơn một trăm chiếc thuyền nan chất đầy cỏ khô, diêm tiêu thả xuôi dòng nước triều đang rút mạnh. Mỗi thuyền chỉ có một người cầm lái núp sau đống cỏ chất cao ngất nghểu, và khi chỉ còn cách thuyền giặc chừng vài trăm sải tay thì nhất loạt phóng hỏa thả cho thuyền trôi, còn các chiến binh thì nhảy xuống nước lặn vào bờ. Cùng lúc Nguyễn Khoái dẫn quân quay trở lại, thuyền quân ta ẩn trong các khe lạch nhất tề xông lên áp sát thuyền giặc. Các tướng Trần Toàn, Nguyễn Chế Nghĩa ba bề bốn bên dẫn quân ập tới. Giặc quay cuồng tháo chạy va vào bãi cọc Yên Giang lúc này đã chạm sát đáy thuyền. Nước rút nhanh, số thuyền giặc bị cọc đâm thủng đáy hoặc bị cọc ngáng mỗi lúc mỗi vón lại nhiều thêm. Những chiếc thuyền nan bốc cháy đùng đùng và như có trời phù, tự nhiên gió tây nam lại nổi, đẩy những chiếc thuyền lửa phi nhanh như tên bắn, và chúng giăng thành hàng như một vành đai lửa ôm lấy các chiến thuyền quân Nguyên đang giãy giụa tháo chạy. Cơ man nào là thuyền giặc bốc cháy, biến sông Chanh thành dòng sông lửa thiêu xác đội quân xâm lược của thiên triều. Từ các thuyền bị cháy, giặc nhảy ào xuống sông hoặc nhảy sang các thuyền chưa bị cháy, chưa bị đắm.
Lúc này quân ta đang xông vào hỗn chiến với quân giặc. Thuyền nhỏ dễ len lách trong các hàng cọc, quân ta dùng câu liêm giật đứt cổ từng tên giặc, dùng giáo cán dài xỉa giặc trên các mạn thuyền của chúng cao hơn. Và cuối cùng là quân ta đổ bộ lên thuyền giặc dùng mã tấu, đoản đao mà đâm mà chém, hàng chục thuyền giặc lao vào bãi cọc ven bờ, cọc xuyên thủng, thuyền không nhúc nhích, giặc lóp ngóp kéo nhau lên bờ. Phạm Ngũ Lão đã ém binh chờ giặc từ lâu. Khi chúng vừa ló cổ lên đã bị quân ta chém rụng đầu, hàng trăm chiếc đầu cùng rụng một lúc, máu phụt lên thành dòng đỏ tươi. Giặc bị chém hết lớp ấy đến lớp khác tới khi những tên ập ụa ở phía sau chợt nhận ra số phận những kẻ ngoi vào bờ, chúng liền quay lại nơi những chiếc thuyền đắm. Lập tức hàng ngàn tay cung nỏ từ trên bờ bắn xuống. Dòng sông lúc này đã biến thành dòng sông máu đỏ lòm. Lửa vẫn cháy rừng rực, quân ta và quân thù đang hỗn chiến trên nhiều chiến thuyền giặc khi nó đang tìm cách tụm lại với nhau. Tiếng sắt thép chém vào sắt thép nghe ghê rợn, tiếng kích gãy, tiếng đao chém khi thì bay đầu khi thì bay binh khí giặc. Quân giặc tuy cố sức chống đỡ, nhưng chủ yếu chúng tìm đường hòng chạy thoát. Trong khi tiếng khua gõ, tiếng thúc dập dồn của các loại nhạc khí sắc nhọn như những mũi tên, những tiếng sấm tiếng sét cứ đâm vào tai vào óc giặc khiến tâm thần chúng trở nên hoảng loạn, thành thử cùng một lúc giặc vừa phải chống đỡ với giáo gươm vừa phải chống đỡ với âm thanh của quân ta. Những điền binh trợ chiến cũng xông lên giết giặc hăng hái không kém quân triều đình. Những đống lửa ngún khói bốc cao khắp các triền sông do các đội bạch đầu ông, các đội trạo nhi đốt lên uy hiếp giặc khiến chúng cảm thấy đang mắc vào thiên la địa võng, cùng đường hết kiếp.
Binh thuyền giặc tranh cướp nhau mở đường máu tháo chạy, một số đã dạt sang sông Kênh, sông Rút nhưng các cửa sông này đều đã có cọc chắn, nước rút cạn, cọc nhô cao, chúng đang định quay mũi thuyền trốn chạy liền bị các tướng Đỗ Hành, Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa với vô số chiến thuyền đang khép vòng vây. Cũng như khu vực sông Chanh, hai bờ sông Kênh, sông Rút hàng trăm đống lửa ngún khói bốc cao và các âm thanh nhạc khí cùng tiếng hô “Sát Thát” bám riết lấy quân thù. Cuộc giao chiến buộc quân thù phải tiếp nhận cách đánh mà nó không có quyền chọn lựa, và giống như con thú cùng đường, giặc phải kháng cự để giành lấy sự sống. Còn quân ta đã nuôi chí căm hờn từ bao ngày ẩn nhẫn, nay mới có dịp trút lên đầu ngọn giáo lưỡi đao. Vì vậy cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt, giằng co, níu kéo. Có những chiến binh vừa tròng được lưỡi câu liêm vào cổ tên giặc liền giật phắt một cái, đầu giặc đã rơi lăn lóc trên sạp thuyền, máu từ cổ nó phun thẳng đứng như một chiếc vòi rồng trước khi thây nó ngã vật xuống. Dùi nhọn, giáo đâm, đao chém, kích, búa những tiếng kim khí va nhau tóe lửa, những lưỡi đao đỏ lòm cứ vung lên hạ xuống loang loáng, những tấm thân trần đóng khố lao vào ôm cổ giặc hoặc húc đầu vào bụng nó, để cả hai cùng lăn xuống sông, và dìm những tên giặc Bắc khiến nó sặc sụa sủi bong bóng lên mặt nước, trước khi người lính Việt ngoi lên. Những tiếng va đập đối kháng tưởng như không bao giờ dứt. Trời đất dường như cũng đau đớn với nỗi đau của con người nên tối sầm lại. Một lát sau nắng lại bừng lên soi thấu cả dòng sông đỏ lòm máu. Giặc núng thế tháo chạy. Quân ta bám riết, vả lại thuyền của ta nhỏ, quân ta no đủ, nuôi sức nuôi chí từ lâu nên thừa thắng rượt đuổi. Nhìn phía trước có dãy núi trải dài, Trương Ngọc, Phàn Tiếp sai quân mở hết tốc lực vượt lên chiếm lấy điểm cao để hỗ trợ cho Ô-mã-nhi kháng cự. Vừa đúng lúc quân thánh dực của hai vua, quân tinh nhuệ của phủ Chiêu Minh, và cả quân điền binh do Nguyễn Xuân thống lĩnh theo vua ra đi từ Hiệp Thạch cũng sát cánh vào trận.
Từ trên đài cao quan sát thấy giặc đã bị đánh lui ở phía Ghềnh Cốc, sông Kênh, sông Rút đang dồn về cả Tràng Kênh, Quốc công sai Phạm Ngũ Lão đem ngay chiến thuyền đi tiếp ứng. Đoàn binh thuyền của Phạm Ngũ Lão từ bãi Yên Giang sông Chanh phải gạt xác giặc, tránh những chiến thuyền giặc đắm ngổn ngang đang làm ùn tắc dòng sông để lấy đường đi ứng viện cho cánh quân của Trần Quốc Bảo bên Tràng Kênh.
Trương Hán Siêu đứng cạnh Phạm Ngũ Lão trước mũi thuyền nhìn về phía đang diễn ra trận chiến, thấy bầu trời u ám, khí bốc lên mờ tối liền nói:
- Anh Ngũ Lão nhìn kìa, cả chục dặm chiến trường mờ mịt.
Phạm Ngũ Lão vẫn căng mắt dõi nhìn về phía đó.
Vẻ tiếc nuối, Hán Siêu lại nói:
- Anh Ngũ Lão có thấy cái khiếm khuyết nhất của Quốc sử viện là đã không cử một ai đi cùng chúng ta vào trận, để tận mắt thấy sự cam go ác liệt trong việc giữ gìn quốc thổ, phải hao tổn máu xương như thế nào. Tôi cam đoan với anh, ngàn năm hồ dễ có được một trận thắng quy mô và oanh liệt như thế này. Chỉ tiếc Lê sử quan tuổi đã cao không còn đủ sức theo quân như cuộc kháng Nguyên năm Ất Dậu. Rồi đấy mà xem, họ sẽ chép biên vào quốc sử rất sơ sài, đôi khi còn lộn xộn hoặc bỏ sót, hoặc mù mờ. - Ngũ Lão, ý anh thế nào?
Phạm Ngũ Lão vẫn không rời mắt nhìn về phía bầu trời mờ xám, nơi trận đánh đang diễn ra khốc liệt, ông rút lá cờ lệnh nơi mũi thuyền phất ba lần, tức là ông thúc quân tiến nhanh hơn nữa. Chứng tỏ ông không hề nghe biết những điều Hán Siêu vừa nói. Đoạn Ngũ Lão nhấc chiếc mũ trụ tết múi bằng da dê để tránh tên từ đầu mình úp lên đầu Trương Hán Siêu và nói:
- Anh vào trong khoang thuyền mà quan sát. Phải giữ lấy cái này thời mới có thi văn. Nói đoạn, Phạm Ngũ Lão vỗ nhẹ tay lên đầu Trương Hán Siêu và khẽ đẩy ông vào phía trong.
Giặc đang áp sát thuyền vào dãy núi Tràng Kênh, chúng đang loay hoay chọn chỗ đổ quân lên. Phàn Tiếp, Trương Ngọc đang hò hét xua quân lên bờ. Thương thay những tên giặc vừa đặt chân xuống đất, nhiều đứa còn chưa kịp đặt cả hai bàn chân tiếp đất đã bị hàng ngàn mũi tên từ nỏ liên châu bắn xuống khiến chúng gục ngã. Quân ta từ trên sườn núi ào xuống, hai bên giáp chiến kiên cường, giặc cố đổ quân lên để tìm nơi ẩn trốn bởi các chiến thuyền của chúng đã bị quân ta bọc kín phía sau không có phép lạ nào có thể thoát ra được. Lại nữa, những máy bắn đá, những song sảo, ngũ sảo pháo đặt trên cao cứ nhằm vào thuyền giặc mà bắn như bắn vào những tấm bia cố định, nên ít khi sai chệch. Phạm Ngũ Lão đã dẫn quân đến kịp phối với quân thánh dực, quân của thượng tướng Trần Quang Khải, quân của các tướng Nguyễn Khoái, Trần Toàn, Đỗ Hành, Nguyễn Chế Nghĩa đánh rất rát ở phía sau lưng giặc.
Ô-mã-nhi tự mình chỉ huy quân sĩ kháng cự. Tên phù thủy Nguyễn Bá Linh đầu tóc rũ rượi, một tay cầm chiếc bùa đỏ to như chiếc chão màu đỏ chót, tay kia cầm một bầu hồ lô lấp lánh ánh bạc sát cánh bên Ô-mã-nhi, miệng y luôn lẩm nhẩm đọc thần chú.
Ô-mã-nhi nửa tin nửa ngờ, thỉnh thoảng lại giục:
- Pháp sư ra tay đi chứ!
Phía bên sườn núi, Phàn Tiếp đã nhảy được một chân lên bờ. Trần Quốc Bảo kịp xông đến bổ một nhát đao lên đầu, hắn né tránh, lưỡi đao phập xuống khiến sã một bên cánh không gượng nổi liền lăn xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt được.
Quân Nguyên mất tướng hoảng hốt lùi thuyền ra xa. Tên ở trên bờ vãi xuống như mưa, và các máy bắn đá, các loại pháo cứ liên tiếp rót vào đầu giặc, quân giặc chết xác chồng lên xác, máu chảy đỏ cả nước sông.
Tại một đoạn khác, viên vạn hộ Trương Ngọc dẫn đầu một toán quân nhảy lên bờ, lập tức chúng bị chặn lại bằng nỏ liên châu với tên tẩm độc, Trương Ngọc chết gục ngay trên bờ cùng với đám quân vừa rời thuyền. Thuyền giặc lại hốt hoảng quay ra. Lúc này khắp nơi đều rung lên tiếng “Sát Thát” cùng tiếng trống đồng, tiếng chiêng, tiếng tù và. Từ đâu đó bật lên tiếng thét:
- Bắt lấy Ô-mã-nhi!
- Giết chết thằng giặc già Ô-mã-nhi!
- Ô-mã-nhi phải đền tội ác!
- Ô-mã-nhi… i…!
Cùng lúc Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão nhảy lên thuyền Ô-mã-nhi, hắn cởi trần, toàn thân vấy máu, tay lăm lăm chiếc thuẫn cán dài, mắt ngầu đỏ nhìn hai viên võ tướng Đại Việt. Tướng Đỗ Hành cũng vừa xốc tới, cả ba người cùng khống chế Ô-mã-nhi. Các tướng Đỗ Hành, Nguyễn Khoái và Ngũ Lão đều nghi tên này là Ô-mã-nhi nên muốn bắt sống, các tướng đều cảnh giác xem hắn có dám ra tay động thủ. Tên phù thủy giậm mạnh gót chân hú lên một tiếng man rợ. Nguyễn Khoái giơ đao chém chéo thân tên giặc cổ quái khiến thân nó xẻ làm đôi và cả chiếc hồ lô trên tay nó cũng vỡ toác. Máu trên thân nó tóe ra đỏ tươi và từ chiếc hồ lô phụt ra một luồng khí trắng[84].
Ô-mã-nhi kinh hoàng về nội lực của viên tướng trẻ Đại Việt, y nhích dần hai bàn chân lùi về phía vách thuyền giữ thế thủ trong khi quân của y đã bị quân ta hạ sát không còn một mống nào trên thuyền. Dường như y không có ý kháng cự.
Phạm Ngũ Lão chỉ tay vào chiếc thuẫn y đang cầm trên tay ra hiệu cho y buông xuống. Ô-mã-nhi buông cả hai bàn tay, chiếc thuẫn rơi bịch ngay dưới chân y.
Nguyễn Khoái sai quân vào trói. Ô-mã-nhi nhếch mép cười đau đớn. Y không chống cự.
Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái sai lấy một con thuyền nhẹ dẫn y vào trong khoang có hai mươi người lính có võ thuật canh phòng. Cả ba tướng Đỗ Hành, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái tự dẫn tên tù binh nguy hiểm vào bậc nhất này đến báo tiệp trước hai vua.
Quân giặc còn lại hết thảy đầu hàng trong đó có một thuyền còn nguyên vẹn chở viên Tích-lệ-cơ.
Tên này điềm đạm nói y là bậc thân vương, em họ Hốt-tất-liệt, chú của Thoát-hoan.
Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương vội đi thuyền nhẹ tới ra mắt hai vua và tâu báo việc quân ta toàn thắng. Hưng Đạo nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, nhờ hồng phúc của tổ tông cùng khí thiêng sông núi, cánh quân phía đông của giặc không một chiếc thuyền nào, không một tên giặc nào trốn thoát.
Xin thượng hoàng và quan gia đem tù binh về Thăng Long chuẩn bị làm lễ hiến phù, thần xin phép lên biên thùy chỉ huy việc bắt giặc.
CHƯƠNG 17
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng đem quân phục kích từ Cửa Lục đến Vân Đồn nhằm đón đánh cánh quân Ô-mã-nhi rút chạy, nhưng tuyệt nhiên không có một chiến thuyền, một tên quân lọt được qua cửa Bạch Đằng. Kíp khi các vương được tin quân ta đã tiêu diệt và bắt sống hoàn toàn cánh quân thủy của giặc cũng là lúc nhận được mệnh của Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương:
“Đem hết quân bản bộ, ngày đêm đi gấp lên các ải Đình Lập, Lộc Châu để đón bắt Thoát-hoan”.
Lại nói sau khi xa giá và quân thánh dực hồi kinh, các tướng khác đều cấp tốc dẫn quân lên biên thùy truy đuổi giặc, việc thu dọn chiến trường trao lại cho các binh đội của địa phương cùng điền binh các hương ấp quanh vùng.
Trương Hán Siêu không về kinh sư cũng không lên biên ải, ông ở lại vì muốn thăm lại chiến trường.
Chiến trường kết thúc vào khoảng gần cuối giờ thân ngày mùng tám tháng ba, lúc ấy mặt trời đã rơi về phía bên kia ngọn Yên Tử. Sớm nay tuy còn rất mệt định ngủ cho đẫy giấc, nhưng trời vừa hửng sáng, Trương Hán Siêu đã bị lũ quạ đánh thức. Và không biết từ đâu chúng bay về rợp trời và kêu réo như một sự reo vui. Tự nhiên như có mùi tanh tưởi tràn ngập cả không gian. Và hình ảnh những tên giặc máu chảy vọt lên như những con lợn, con trâu bị chọc tiết túa ra ào ào đổ xuống nhuộm đỏ cả dòng sông, khiến dòng sông của cá tôm và bờ bãi trở thành dòng sông máu. Tất cả những sự ghê rợn của trận chiến ngày hôm trước cứ hiển hiện trong đầu óc buộc Trương Hán Siêu phải vùng dậy. Ông lên ngựa và đi thăm lại chiến trường.
Càng gần tới khu vực bờ sông, mùi tanh tưởi càng đậm đặc. Vật đầu tiên trông thấy từ xa là những đàn quạ, chúng bâu lại từng đám đen sì trên mặt sông, hoặc đậu trên đỉnh các cột buồm của những chiếc thuyền đắm và chúng vẫn lũ lượt bay về.
Trương Hán Siêu ghìm cương ngựa trên bờ, nơi gần sát với bãi cọc lớn nhất ở ba bãi cọc nằm trong khu vực sông Chanh. Hôm nay nước cạn trơ ra bãi cọc nằm im lìm bất động. Xác dăm bảy chục con thuyền cháy nham nhở, một số thuyền bị cọc đâm vào vỡ toác, một số khác bị cọc xuyên thủng đáy, thuyền bị đắm tại chỗ không nhúc nhích, tựa như một võ sĩ thượng thừa dùng hết công lực phóng ngọn giáo xuyên suốt con vật và găm nó vào một thân cây vậy.
Nhìn những con thuyền đắm nằm ngổn ngang, những xác giặc bị ghim vào cọc, bị kẹt giữa hai con thuyền hoặc những thân người nằm phơi ra ngoài bãi còn đầu bị mắc vào chùm rễ sú; đây đó những mảnh vỡ của thân thuyền, rải rác khá nhiều những cây kích bị cong, những cán giáo gãy và cả những chiếc đầu lâu lăn lóc dưới chân hàng sú vẹt. Những thây người ấy không phải tất cả đều là xác giặc. Lòng ngùi ngùi, Trương Hán Siêu lội xuống bãi lật ngửa mấy xác người chết, ông chưa nhận ra được gương mặt nào là gương mặt Việt bởi phần nhiều các gương mặt đã trương lên, đã biến dạng. Cởi hàng khuy áo một người lính chết thấy hở ra một chiếc bùa thấm nước, ông khéo léo đem tới vũng nước tở dần ra đọc được hàng chữ triện: “Tổ sư sắc lệnh trấn”. Hóa ra đây là bùa hộ mệnh của đám quân người Hán.
Trương Hán Siêu lên ngựa nhìn về phía cửa sông Chanh, thấy có nhiều người đi lại, ông bèn phóng ngựa tới đó.
Một cảnh tượng tan hoang thật là khủng khiếp. Một hàng cọc chắn ngang sông như cọc đáy thuyền chài và hai bãi cọc ở hai bên tả hữu dòng sông đều đã nhô cao. Nước cạn, dòng sông hẹp lại. Một đống thuyền cháy nham nhở, và thuyền va vào cọc bị đắm nằm chen chúc nhau chật cả dòng sông. Trên mặt nước dật dờ những tấm ván sạp thuyền cùng cả một bè xác chết len lách giữa các con thuyền đắm hoặc bập bềnh bên mép nước, tất cả đều bị ngáng lại trước hàng cọc vắt ngang sông. Một dòng sông chật cứng xác người và xác thuyền kéo dài tới mấy dặm.
Trương Hán Siêu rùng mình. Hôm qua là dòng sông máu. Hôm nay là dòng sông xác. Những điền binh và quân sĩ đi thu dọn chiến trường, lượm thây tử sĩ đã khiêng tới cả trăm cỗ quan tài đặt trên bờ sông, và họ còn tiếp tục khiêng ra nữa.
Đội quân thu dọn chiến trường chắc phải đánh nhau với bầy quạ mới lấy được xác người. Cơ man nào là quạ. Cứ chỗ nào thấy đen kịt, ấy là quạ đang xúm lại rỉa xác chết. Có những con lôi được cả một khúc ruột dài đậu tít trên đỉnh cột buồm mà rỉa.
Những người lính đang đẩy thuyền đi lượm xác. Trương Hán Siêu hỏi viên đô tướng:
- Làm thế nào để phân biệt quân ta với quân giặc?
- Bẩm ông, quân ta từ sĩ tốt đến điền binh đều xăm hai chữ “Sát Thát” vào cánh tay, dễ nhận lắm ạ. Còn quân giặc là người Hán đứa nào cũng đeo bùa hộ mệnh. Viên đô tướng đáp.
- Vẫn có người chưa kịp xăm “Sát Thát” thì sao?
- Dạ, có nhiều cách nhận ra người mình lắm, tướng quân khỏi lo.
Trương Hán Siêu để ý, những con thuyền cắm cờ Đại Việt và có bình hương đang bốc khói, ấy là thuyền lượm thây các tử sĩ Đại Việt. Còn thuyền chỉ có cờ đen, ấy là thuyền lượm xác giặc. Ông dõi nhìn và nhận ra cứ năm bảy thậm chí cả chục xác giặc mới có một người bên mình.
Phóng tầm mắt nhìn bãi chiến trường bao la, Trương Hán Siêu thốt lên:
- Giặc đã làm rách nát, làm ô uế cả dòng sông. Lặng lẽ cúi đầu và chắp tay vái các liệt sĩ đã bỏ mình vì nước, ông quay ra dắt ngựa thả bộ, vừa đi vừa ngẫm nghĩ: - Như một giấc mơ, giờ này hôm qua trận chiến mới vào hồi ác liệt. Giờ này hôm nay đã sạch bóng quân thù, đất nước đã yên bình. Thật là kim cổ đệ nhất chiến công.
Lại nói đại quân Thoát-hoan rút khỏi Van Kiếp, y được biết Hưng Đạo đã sai ba mươi vạn quân chẹn hết các đường trở về của quân Nguyên, khắp nơi đều có quân mai phục, có bẫy ngựa và quân Việt còn đào cả hầm xỉa ngựa ven núi trên đường thiên lý. Thoát-hoan sai viên hữu thừa A-ba-tri là một tướng mưu lược toàn tài dẫn quân kỵ đi trước mở đường cho quân bộ theo sau. Nhưng vừa ra khỏi doanh trại chưa được mười dặm đã phải dừng lại đánh nhau. Khác với khi quân Nguyên mới tràn vào cứ như đi vào chỗ không người ở, các cửa quan quân Việt tuy có chống trả, nhưng đó là sự chống trả yếu ớt, cầm chừng rồi tháo chạy. Trái lại, bây giờ phải giành giật với họ từng tấc đất mới có đường đi, cho nên việc lui quân rất chậm chạp.
Thoát-hoan mới đưa được hơn hai chục vạn quân qua sông Bình Giang, tiền quân gần tới ải Nội Bàng thì bị quân Đại Việt chặn lại. Viên hữu thừa A-ba-tri với năm ngàn kỵ binh cùng hàng vạn quân bộ theo sau, đánh nhau từ sáng tới quá trưa vừa đói vừa mệt mà tiền quân không nhúc nhích được bước nào, đôi ba phen bị đẩy lùi rồi người chết, ngựa chết lăn quay. Xác người, xác ngựa chồng đống lên nhau ngáng trở đường quân đi.
Thấy tiền quân không nhích lên được, Thoát-hoan sai Áo-lỗ-xích phái thêm viện binh hợp lực với A-ba-tri để thoát khỏi Nội Bàng mới có đường chạy tiếp về đất Trung Hoa.
Thấy có quân tiếp viện, A-ba-tri gom nhanh số quân còn lại thúc chúng tiến lên. Nhưng xem ra cả người và ngựa đều đói và đã mệt nhoài, quân uể oải không đứa nào chịu tiến. Để làm gương cho binh sĩ, A-ba-tri hét một tiếng thật to rồi bấm ngựa lao về phía trước. Quả nhiên đám kỵ binh đều lao theo chủ tướng.
Quân Đại Việt ngăn cản quyết liệt, không biết họ ở đâu và từ đâu bắn ra, chỉ biết bốn phía, phía nào cũng có tên bay về phía kỵ binh Mông Cổ. Cùng một lúc A-ba-tri trúng ba mũi tên độc. Một mũi cắm trên đỉnh đầu, một mũi xuyên từ cổ ra phía sau gáy, mũi thứ ba xoáy vào đùi sau khi đã xuyên thủng lớp quần da. Loáng một cái mặt A-ba-tri đã sưng húp lên, da tím đen văng từ trên mình ngựa xuống chết không kịp ngáp. Quân Nguyên hoảng hốt, người ngựa lùi lại rất xa. Chúng vón lại với nhau như một bầy kiến gặp nước, chứ không dám tản ra hai bên đường là những rừng cây rậm rạp tối om. Trong khi đó, tiếng trống đồng, tiếng tù và, tiếng kèn vẫn cứ sôi sục từ mọi phía khiến tâm thần quân giặc càng thêm bấn loạn.
Thấy tình thế nguy ngập, bình chương chính sự Áo-lỗ-xích cùng mấy ngàn quân tinh nhuệ phải luôn đi sát để hộ vệ Thoát-hoan. Viên thần nỗ Giả Nhược Ngu xông xáo chống đỡ, che chắn cho chủ tướng và y không dám rời khỏi Thoát-hoan nửa bước.
Các viên vạn hộ hầu Lưu Thế Anh, Đa-ra-tri dấn quân lên, liều chết mở đường máu mới dẫn Thoát-hoan qua cửa tử Nội Bàng. Vừa qua Nội Bàng được vài dặm thì được tin quân Đại Việt đã án ngữ dày đặc ở cửa quan Nữ Nhi và núi Khâu Cấp. Trên một trăm dặm đường thiên lý không nơi hiểm yếu nào là không có quân Đại Việt mai phục, còn hố bẫy ngựa thì rải rác không biết đâu mà lường. Sự thật số ngựa sa hố kéo theo cả người rải khắp dọc đường không phải là ít.
Quân Nguyên đã bỏ đường Khâu Ôn, nay lại bỏ cả đường Khâu Cấp tìm qua đường Đơn Kỷ để vượt về Tư Minh qua ngả Lộc Châu. Nhưng không một nơi nào giặc tìm được sự yên ổn. Ngay các đầu mục người man, lúc giặc mới vào họ cho quân tản vào rừng, nay họ cũng tập hợp lại đón đánh quân giặc bằng mọi loại khí giới mà họ được triều đình cung cấp hoặc họ tự chế ra.
Xác giặc rải trên đường vô số kể. Bị đánh ở bất cứ chỗ nào, chúng đều liều chết cướp lấy đường mà chạy, chứ không dám dừng lại giao tranh hoặc chia quân vây hãm đối phương như hồi chúng mới đem quân vào đất Giao Châu cách đây mới có hơn ba tháng.
Vừa qua Đơn Kỷ được vài dặm thì trời đổ tối, cũng là lúc giặc rơi vào ổ phục kích của quân ta. Tại đây không có lửa đốt, không có tiếng trống tiếng kèn thôi thúc, chỉ có sự tĩnh lặng đến ghê rợn. Con đường độc đạo heo hút len lách một bên là rừng rậm một bên là vách núi tối om như một chiếc bẫy khổng lồ. Tiếng ngựa thở phì phì, tiếng chân giẫm đạp của đoàn quân trên lớp lá khô mục đều bị rừng đêm nuốt chửng.
Mấy chục vạn quân như một con rắn khổng lồ mà đầu, mình nhiều khúc đã bị băm vằm cứ oằn mình trườn đi chậm chạp. Bỗng một tiếng nổ đinh tai, ánh sáng lóe lên như một tia chớp rồi tiếng tên vun vút lao tới.
Vậy là bị đánh tạt sườn tại khúc giữa đoàn quân. Giặc hốt hoảng cắm đầu chạy. Bước qua xác nhau mà chạy. Giẫm đạp lên cả những đứa bị thương đang kêu cứu mà chạy. Đang bám riết phía sau Thoát-hoan, Giả Nhược Ngu nghe thấy tiếng xé gió. Biết mũi tên sẽ bay thẳng vào Thoát-hoan, y rướn lên nửa bước ngựa để kịp đưa thân mình ra chắn. Mũi tên xuyên trúng bả vai viên thần nỗ. Khen thay Giả Nhược Ngu có cái tai thần, ngay trong đêm tối cũng “nhìn rõ” đường bay của mũi tên. Đúng là Giả Nhược Ngu có lòng xả thân cứu chủ, nếu không Thoát-hoan đã phải đền tội ác. Vạn hộ Lưu Thế Anh cùng tả thừa Đa-ra-tri dẫn quân liều chết mở đường máu mới thoát ra được.
Chạy được khoảng nửa dặm đường, Giả Nhược Ngu níu áo Thoát-hoan nói giọng thều thào: “Trấn Nam vương bảo trọng!”. Viên thần nỗ gục chết trên lưng ngựa.
Thoát-hoan sai quân mang xác Giả Nhược Ngu đi theo và bắt phải giữ lại bộ cung tên mà vị thần nỗ thường dùng.
Lòng trống trải và hãi sợ đến vô cùng, Thoát-hoan nói với Áo-lỗ-xích: “Phải chia quân làm hai ngả không thể dồn hết về phía Lộc Châu được. Để các tướng A-li, A-ruc, Đa-ra-tri, Trịnh Bằng Phi… dẫn một cánh quân về đường Lộc Châu, ta với ông đem một cánh quân đi về phía đông nam - phía Đình Lập. Con đường này tuy xa hơn, hiểm trở hơn, nhưng ta tin rằng Hưng Đạo không nghĩ tới đâu”.
Thật ra giặc chạy theo đường nào cũng là con đường chết cả. Tới lúc này không chỉ quân chúng hoảng loạn, mệt mỏi mà cả lũ tướng soái cũng hoang mang lo sợ vì đói khát, và cái chết lúc nào cũng cận kề, cho nên chúng phải liều chết cướp lấy đường mà chạy, tự băng bó vết thương lê lết theo quân, đứa nào không đủ sức phải nằm lại ắt sẽ bị bắt hoặc bị chết dọc đường. Tới lúc này thì Trần Ích Tắc quả là một gánh nặng cho Thoát-hoan trên đường tháo chạy, nhưng Ích Tắc lại giữ vai trò khá lớn trong mưu toan xâm chiếm Đại Việt của cha con Hốt-tất-liệt. Vì vậy Thoát-hoan sai bọn tướng soái dưới quyền phải bảo vệ y bằng mọi giá.
Trần Ích Tắc không phải không biết thân phận của mình. Đôi khi cảm thấy tủi thân và không phải không có lúc ân hận vì đã quy thuận thiên triều. Nghĩ lại năm Ất Dậu mệnh nước như trứng để đầu dẳng, như vật nặng ngàn cân treo trên đầu một sợi tóc thế mà Quốc Tuấn lại xoay chuyển được thế nước, biến bại thành thắng, biến nguy thành an không thể không thừa nhận đó là bậc chân tài. Trước đây ta cùng mấy người anh em đều nghi Quốc Tuấn có lòng kia khác, hóa ra cả ta và họ đều lầm. Nếu muốn lấy ngôi nước thì sau cuộc chiến năm Ất Dậu sao Quốc Tuấn không nhân đó mà cướp lấy ngai vàng, dù không ưa Quốc Tuấn ta cũng phải thừa nhận anh ấy có lòng trung với nước. Lại tới cuộc chiến tranh này, ta cứ nghĩ theo tính toán của thiên tử (Hốt-tất-liệt), với một đội quân hùng hậu như thế, tướng tài như thế tưởng phen này sẽ bình xong An Nam, ngôi nước sớm tối sẽ về tay ta, ai ngờ lại hỏng cả. Dù thế nào cũng không thể không thừa nhận Quốc Tuấn là bậc tướng siêu tuyệt. Ta đang băn khoăn không biết có nên coi Quốc Tuấn là kẻ thù của riêng ta không?
Quả nhiên Thoát-hoan chạy về nẻo Đình Lập có ít bị đánh hơn, và thường chỉ phải đối phó với lực lượng phục kích nhỏ hơn, Thoát-hoan nghi đó là quân man chứ không phải quân triều đình. Dù ít bị đánh hơn, song không vì thế mà Thoát-hoan cho phép đi chậm hoặc dừng nghỉ, mặc dù cả tướng và quân đều kiệt sức. Thoát-hoan thường răn các thuộc cấp: “Gắng về đến Tư Minh ta sẽ cho nghỉ ngơi dưỡng sức. Mệt cũng phải gắng mà đi. Mệt chưa hẳn đã chết, nhưng nếu chậm, gặp giặc vào lúc này chắc là chết đấy”. Nghe lời Thoát-hoan, đám tàn quân lê lết đi trong nhọc mệt, đói khát, có kẻ còn mang trên mình nhiều thương tích vẫn bám lấy nhau mà đi.
Khi Thoát-hoan về cách biên giới còn khoảng non chục dặm thì quân chạy ầm ầm từ dưới lên chen chúc nhau vít kín cả mặt đường vốn đã chật hẹp. Hỏi ra mới biết quân Đại Việt do các tướng Trần Khánh Dư, Trần Quốc Tảng đã cắt hậu quân thành nhiều khúc và họ đã cho quân đi tắt lên biên ải để chặn đường về của quân thiên triều.
Nghe xong, Thoát-hoan và các tướng bủn rủn hết cả người. Lát sau, dường như đã định thần trở lại, y ra lệnh: “Áo-lỗ-xích dẫn một ngàn quân kỵ đi mở đường, A-ruc lấy một ngàn quân kỵ đoạn hậu. Mặc cho các quân phía sau chống đỡ, bằng mọi cách phải về bên kia biên ải trước khi quân Trần kịp đến”. Vậy là bộ phận đầu não kén lấy đám ngựa tốt, quân khỏe để hộ tống cho chúng chạy thục mạng về đất Trung Hoa.
Khi các tướng Trần Khánh Dư, Trần Quốc Tảng áp sát biên thùy cũng là lúc Thoát-hoan đã chạy sâu vào đất Trung Hoa non chục dặm.
Vậy là trời vẫn còn dung kẻ ác. Các tướng chỉ huy quây đánh và bắt sống bọn tàn quân đang trốn chạy nhiều vô kể. Hai ngày sau trên toàn tuyến biên thùy đã sạch bóng quân thù.
Nói về đoàn thuyền của hai vua mang chiến thắng vang dội trở về Thăng Long có đem theo một ít tù binh là bọn đầu sỏ. Trong đó có Tích-lệ-cơ là một đứa thân vương, xin được gặp người có quyền cao nhất ở đây. Vua cho lên thuyền, nhưng không cho biết danh tính. Hỏi han qua loa rồi vua sai rót rượu cho y uống.
Sau hai tuần rượu, y nói:
- Tôi là thân vương, bà con với thiên tử, các ông chuyển lời tôi tới quốc vương An Nam.
- Để làm gì kia? Vua Nhân tông hỏi: - Vậy chớ sứ mệnh của ông vào nước tôi để làm gì?
- Chúng tôi tới đây là để thuyết phục quốc vương An Nam vào chầu thiên tử.
- Nếu chỉ có việc như thế cần gì phải đem theo mấy chục vạn quân sang tàn sát nước tôi?
- Để răn đe, nếu như các ông chống lại.
- Thế nhưng đội quân đó đã tàn sát dân tôi ngay từ khi nó vừa bước chân qua biên ải. Tàn sát lương dân và cướp bóc, phá, đốt không bỏ sót một thứ gì. Có phải thiên tử muốn triệt nguồn sống của dân tôi, tiêu diệt dân tôi, thế mà lại bảo thiên tử thi ân tới tận cùng trời cuối biển.
- Đúng vậy, thiên tử nhà đại Nguyên thi ân tới tận cùng trời cuối biển, và chỉ trừng trị kẻ nào chống lại người thôi.
- Tới nay, ngoài những lời nói suông, dân tôi chưa có cơ hội nào được thiên tử mông ân. Và chúng tôi chỉ đánh kẻ xâm lược, bảo vệ lương dân, bảo vệ bờ cõi mà thôi.
- Này người kia hãy ăn nói thận trọng, - Tích-lệ-cơ lên giọng kẻ cả. Y nói tiếp: - Các ông đã dám chống lại binh uy thiên triều làm thiệt hại người, của không biết đâu mà lường. Không những thế còn làm giảm sút cả thiên uy của thiên tử đối với thiên hạ nữa chứ. Vậy các ông liệu đối xử với ta như thế nào đây để ta còn về tâu báo với thiên tử.
- Các ông đem binh vào nước tôi, tàn sát dân tôi, đương nhiên đối với dân nước tôi, các ông là quân giặc rồi. Nay giao chiến các ông lại là bên thua trận bị bắt làm tù binh, ắt các ông sẽ được đối xử như một tên tù binh. Ấy là nước tôi có lượng bao dung, nhân hậu. Thử hỏi nếu các ông là kẻ chiến thắng, có thể nào các ông lại cư xử được như chúng tôi đang cư xử với ông không. Nếu may mắn được quốc vương tôi tha mạng sống trở về Yên Kinh, hãy tâu báo trung thực với thiên tử những điều ô nhục mà đội quân tàn bạo của thiên tử đã làm ở nước tôi.
- Sự thực là các ông đã mưu mô chống lại thiên triều, dám tiêu diệt cả một đội hải binh hùng hậu của thiên tử, mà trước đây đi đánh Nhật Bản đội hải binh kiêu dũng với mười lăm vạn quân cũng đã không trở về, nhưng chỉ có sức mạnh của thượng đế mới làm cho nó thất bại[85]. Còn như ông bảo nếu chúng tôi chiến thắng, các ông sẽ không được cư xử như thế này. Đương nhiên là như vậy, đời nào các danh tướng của thiên triều lại có thể ngồi đàm đạo với man di bại trận.
Đến như Trần Nhân tông mà cũng không kìm nén được tức giận và sự khinh bỉ đối với tên tù binh ngạo mạn đến lố bịch kia. Ngài quắc mắt nhìn đứa tù binh gọi là thân vương, và mắng:
- Ngươi cứ việc tâu lại sự thất bại nhục nhã của đạo quân xâm lược khổng lồ với tất cả những điều mắt thấy tai nghe. Sự tàn bạo đến điên cuồng của kẻ xâm lược và sự đánh trả quyết liệt của toàn dân tộc ta. Và nên nhớ đây là lần thứ ba chứ không phải lần đầu. Ngươi nhớ chứ, lần thứ nhất vào năm Đinh Tỵ (1257), có nhẽ lần ấy ngươi chưa đến tuổi tòng chinh. Lần thứ nhì vào năm Ất Dậu (1285) và lần này là năm Mậu Tý (1288). Ngươi về đọc lại lịch sử chinh chiến của nước ngươi đi. Vào Nhật Bản, ngươi bảo chỉ có thua thượng đế, nhưng xâm lược Đại Việt chỉ có người Đại Việt đánh trả thôi và lần sau lại thua đau hơn lần trước. Có phải Đại Việt là quốc gia duy nhất các người không thể chinh phục. Vì sao ư? Vì dân tộc ta biết tự trọng nên không chịu sống quỳ. Khi đã đụng đến lòng tự trọng của cả một dân tộc, không một kẻ thù nào không bị đánh bại, các ngươi nên nhớ kỹ điều đó.
Vua tôi các ngươi đều không biết liêm sỉ mà chỉ biết lấy thịt đè người. Một nước khổng lồ như đế quốc Nguyên, trong vòng chưa đầy ba năm đã tiến hành hai cuộc chiến tranh xâm lược cực kỳ man rợ đối với một nước người ít, đất hẹp như nước ta. Chính vì các ngươi không tuân theo mệnh trời nên trời lìa bỏ. Vua ngươi nối đời tiếm xưng thiên tử nên bị trừng phạt bởi Thượng đế Ngọc hoàng đâu có sinh ra loại con vô đạo đó.
Chỉ thẳng vào mặt Tích-lệ-cơ vương, vua Nhân tông lại mắng: - Ta không hiểu ở cái xứ du mục của các ngươi có gì gọi là cao quý mà ngươi dám ngạo mạn. Tên tù binh kia, ngươi không biết thân phận là một kẻ thua trận, một tên tù binh lại còn vô lễ, xấc xược, ta không cho phép ngươi được chầu hầu mệnh quan nữa. Đây là bài học dành cho kẻ ngạo mạn, hãy nhớ lấy. Nói xong, Trần Nhân tông sai đưa y về giam lại trong chiếc thuyền tù.
Đuổi tên tù binh đi rồi, vua Nhân tông nói với thượng hoàng:
- Bẩm phụ vương, con mắng giặc thế có quá lời?
Thượng hoàng Thánh tông cười độ lượng:
- Không đâu vương nhi. Con nói vậy là phải lắm. Chúng ỷ thế nước lớn cứ mở mồm ra là đòi dạy thiên hạ, bắt thiên hạ phải phục tùng, nếu nước nào trái ý là cử đại binh đến thôn tính. Trong khi bài học vỡ lòng lại không chịu học. Vì rằng tạo hóa sinh ra muôn loài, mỗi loài đều có quyền sống mà không loài nào được phép chèn ép, bức bách loài khác. Thế mà cùng trong loài người với nhau, chúng ỷ thế nước lớn đòi lấy đi quyền sống của nước nhỏ, là chúng đã không tuân theo cái luật chung tạo hóa đã an bài, cũng tức như cha vừa nói, là bài học vỡ lòng chúng cũng chưa thuộc lại còn đòi dạy dỗ thiên hạ. Cứ như nhời Phật dạy thì kẻ nào nói điều ác, làm việc ác, thảy chúng đều thuộc loài trọc trược chưa tiến hóa, chúng chính là lũ quỷ ác đầu thai làm người để gieo họa. Chúng sẽ phải trả nghiệp, bởi nhân nào quả ấy con ạ. Còn như có sợ y đem những điều con nhiếc mắng nó về tâu với Hốt-tất-liệt không. Nếu y dám nói, ta chắc y sẽ mất mạng trước khi Hốt-tất-liệt đem binh xâm lấn ta một lần nữa. Vả lại, kẻ đã thua trận có nói điều gì cũng chẳng ai tin. Nhược bằng y dám nói, Hốt-tất-liệt nghe được điều đó càng tốt cho y. Nhưng tốt cho ta hơn, bởi Hốt-tất-liệt sẽ hộc máu ra mà chết trước khi y có ý định nam chinh.
Ô-mã-nhi cũng nhiều lần đòi gặp người có chức vị cao nhất trong đoàn quân này, nhưng hai vua không cho gặp bất kỳ ai. Còn Phàn Tiếp bị chém sã một bên cánh tay, máu ra nhiều. Sau khi được quân ta buộc bó lại vẫn đau đớn nằm rên như một con chó ốm.
Lý Thiên Hựu viên văn thư ghi chép mọi việc trong quân ở bên cạnh Ô-mã-nhi ôm theo một đống sổ ghi chép về thuyền của thượng tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, lúc này đang được thượng tướng tra vấn.
Trở về Thăng Long nom cảnh tượng thật đau lòng, trước khi giặc chạy về Vạn Kiếp còn kịp gây tội ác, chúng đốt phá hầu hết các điện coi chầu và cung thất. Điện Thiên An là ngôi điện khởi dựng từ đầu đời nhà Lý, nhà Trần lại tu bổ và mở rộng vẫn trên nền đất cũ, nguy nga tráng lệ, sứ nhà Tống trước kia và nhà Nguyên sau này đều khen: “Đại điện bên nước tôi cũng không hơn được”, đã tồn tại ngót ba trăm năm bỗng chốc hóa thành tro than phơi ra các mảng tường gạch khói ám đen thui. Ngay điện Chí kính, nhà thái miếu là nơi thờ cúng tổ tông, chúng cũng đốt phá không còn một tí gì. Nhiều nhà dân ngoài phố còn sót lại mời hai vua về ngự, gia chủ nhường hẳn nhà dọn đi nơi khác. Cũng có người may mắn có ngôi nhà thờ họ còn nguyên vẹn mời nhà vua tạm dùng làm nơi coi chầu. Sự sẻ chia đùm bọc của người dân với triều đình như vậy khiến vua Nhân tông cảm động, ngài nghĩ những gì triều đình đã làm cho dân là tốt, nhưng quả thật chưa xứng với những gì người dân đã làm cho nước. Và bản thân nhà vua thầm nghĩ: - Có nhẽ ta phải làm một cái gì khác, đem lại phúc hạnh trường cửu cho con cháu muôn đời sau nữa.
Số giặc bắt sống được qua hai đường thủy bộ là hơn mười vạn, còn đang sàng lọc tìm ra những tên cầm đầu, những tướng lĩnh gây nhiều tội ác với dân ta.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương xin nhà vua cho phép đưa tất cả tù binh về giam tại hai lộ Thanh Hóa, Nghệ An đã được chấp thuận. Vua Nhân tông đang chuẩn bị cho ngày lễ hiến phù, có nhiều điều phải cân nhắc nên ngài cho triệu gấp một số đại thần về nghị triều.
Trưởng tộc coi sóc ngôi nhà thờ họ là một cụ già ngoài bảy mươi tuổi lưng còng, râu bị mấy thằng giặc đốt, cằm bỏng còn đang sưng tấy, tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc, chân đi đôi dép mo ngước cặp mắt lờ đờ cùi nhãn nhìn viên đô úy đô tùy long nói:
- Thầy đô úy, kể cũng còn nhờ phúc ấm tổ tiên và hồng phúc của nước, nên thân già này chưa bị giặc giết và ngôi tổ đường này cũng không bị giặc đốt. Nay vì nạn nước triều đình mới cần đến, vậy già xin giao lại chìa khóa nhà cùng các thứ vật dụng hiện có để các ông tiện dùng. Khi nào triều đình khôi phục xong cung điện chúng tôi mới dám xin lại.
Viên đô úy lễ phép cúi xuống nhận chùm chìa khóa từ tay cụ. Cụ già lại nói thêm:
- Gọi là khóa, chứ thực già này chưa dùng đến bao giờ, bởi trong đó thuần có đồ thờ, già chưa từng thấy kẻ nào dám lấy trộm đồ thờ.
Viên đô úy kính cẩn hỏi:
- Thưa cụ, chắc thời gian triều đình mượn cũng hơi lâu, vậy khi nào có giỗ tổ, có họp họ, cụ cứ báo trước, chúng con tâu báo lên để triều đình thu xếp dời việc coi chầu sang ngày khác.
Cụ già vội xua tay:
- Ấy chết, chúng tôi đâu dám thế. Phải lấy việc nước làm đầu thầy đô úy ạ. Các việc trong nội tộc, chúng tôi sẽ thu xếp trong họ được.
Viên đô úy lễ phép hỏi thêm:
- Thưa cụ, bây giờ cụ về đâu để con sai quân lấy xe ngựa đưa cụ về?
Cụ già xua tay:
- Quanh quẩn vài bước đây thôi ông ạ, để già tự đi kẻo gân cốt nó chùng quá rồi. Nói xong cụ chống gậy đi ra khỏi cổng rồi thong thả ngước nhìn lại ngôi nhà thờ và nhẩm đọc: “Đỗ tộc tổ đường” trong lòng rất mãn nguyện. Cụ nghĩ, nhà nào đại phúc mới được “thiên tử đáo gia” một lần. Tức là vua đến thăm tại nhà, thế mà dòng họ nhà mình có ngôi tổ đường được thiên tử mượn làm nơi coi chầu. Vậy là ngoài thiên tử còn có bá quan luôn lui tới. Đúng là phúc đáo trùng lai, vừa không bị giặc đốt phá, vừa được nhà vua và cả triều quan biết đến.
Các quan được giấy triệu về triều hội đều ngơ ngác đi tìm ngôi “Đỗ tộc tổ đường”.
Vì theo sát xa giá nên Chiêu Minh vương Trần Quang Khải biết nơi vua tạm trú trong nhà dân, nên trước khi dự thiết triều, Quang Khải ghé thăm thượng hoàng, vì ông biết các việc điều hành triều chính từ lâu ngài đã trao cho quan gia, kể cả mấy cuộc chiến tranh vừa qua ngài chỉ kiểm xét các công việc quan trọng, nhất là việc bang giao với nhà Nguyên. Bởi đối sách với lũ con trời này là muôn khó. Chúng cứ lắt léo nói theo kiểu nào cũng được. Nó đem quân xâm lược nước mình rành rành thì nó bảo mình chống nó. Nó bị thất bại đau đớn không chịu nổi phải tháo chạy về nước thì nó bảo nó thương dân mình vô tội phải chết oan nên “thiên tử thí ân”. Tướng nó hèn để thua trận và bị mình bắt thì nó bảo mình vô cớ giữ người của nó nếu không sớm thả về sẽ bị nó trừng phạt. Những việc lắt léo như thế, người chưa từng trải thường xử theo lẽ phải, tình hình vì thế trở nên căng thẳng. Vì vậy thượng hoàng giám sát sao cho đối sách thật mềm mại để hạ hỏa bên Yên Kinh mà vẫn giữ được quốc thể, tức là ta chấp nhận chịu nhún nhưng không chịu nhục.
Thấy Quang Khải đến, thượng hoàng vui lắm. Ngài tươi cười hỏi han:
- Chú Chiêu Minh thấy anh Quốc Tuấn đánh trận Bạch Đằng vừa qua thế nào?
- Thật là kim cổ kỳ trận! Đệ đọc sách cổ kim cũng đã nhiều, chưa thấy có trận nào so được với trận Bạch Đằng này. Rồi cả ngàn năm sau khó có ai lập nổi kỳ tích này. Mai phục để lừa giặc vào trận thì nhiều tướng làm được. Nhưng bắt giặc phải tiến quân theo lịch trình của con nước, từng ngày, từng giờ theo kế đã lập sẵn. Điều khiển giặc mà giặc vẫn lầm tưởng nó luôn ở thế mạnh, đối phương chỉ chờn vờn quấy rối chứ không làm gì được nó. Huynh nên biết, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đều là các tướng dạn dày chiến trận, bách chiến bách thắng. Hốt-tất-liệt từng phong Ô-mã-nhi là dũng sĩ. Hai tướng này đều tham gia đánh quỵ nhà Nam Tống, lập công cao được Hốt-tất-liệt cho vào hàng tướng tâm phúc.
Ngẫm nghĩ giây lát, vua Trần Thánh tông nhẹ hỏi:
- Chú Chiêu Minh có nghĩ đến trận Bạch Đằng này rồi sẽ đi vào lịch sử không?
- Không những đi vào lịch sử mà Bạch Đằng còn là một trận đánh mẫu mực mà không một bậc tướng kỳ tài nào có thể lặp lại được. Ngay như trận Xích Bích và cả trận Hàn Tín kết liễu sự nghiệp và cuộc đời của Hạng Vũ trên Ô Giang đều là hai trận đánh hay trong lịch sử chiến tranh kim cổ cũng không so được.
Trận Bạch Đằng của ta quy mô, hoành tráng không bằng hai trận kia, nhưng mưu lược của anh Quốc Tuấn quả là hơn hẳn, khỏi cần bàn. Dù sao thì các trận Ô Giang, Xích Bích cũng đều là nội chiến cả, thuần người Trung Quốc đánh người Trung Hoa, còn với ta là cuộc chiến chống ngoại xâm, khác nhau nhiều lắm. Hơn sáu trăm chiến thuyền với hơn chục vạn quân rong ruổi chui vào một trận địa đã bày sẵn, đánh cho tan nát hết thảy, không một chiến thuyền nào, không một tên giặc nào chạy thoát. Tất cả các tướng soái giặc khi bị bắt bị trói, còn ngơ ngác nhìn dòng sông cạn với các bãi cọc bạt ngàn, khiến đầu óc chúng không thể nào tưởng tượng nổi cái vũ khí đã biến chúng thành kẻ bại trận lại là con nước triều và những cây cọc chôn chặt vào lòng đất như những người lính thép kia.
Cái siêu tuyệt của tài năng Quốc Tuấn là ở chỗ, biến tất cả những gì hiện có trên đất nước mình thành vũ khí đánh giặc hiệu nghiệm nhất, huynh trưởng cứ nghĩ điều đệ nói có đúng không hay là vì tình riêng mà đệ khen nịnh anh Quốc Tuấn.
- Đúng! Đúng như chú Chiêu Minh nói, cả trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên, quyền tiết chế thống lĩnh chư quân sự ở trong tay Quốc Tuấn, anh ấy đã huy động những gì có thể huy động vào công cuộc chống giặc thắng lợi. Ví như việc đánh giặc theo con nước triều và những bãi cọc đều nằm ngoài sự hiểu biết và tính toán của tướng giặc. Chỉ riêng các điều đó cũng đủ lớn rồi. Từ nay chú đừng so sánh với người Trung Hoa nữa nhé. Chuyện tế vi lắm, dù sao họ cũng là nước lớn, phải giữ thể diện cho họ chứ. Như sực nhớ ra điều gì Trần Thánh tông cười ngặt nghẽo một lúc lâu sau rồi mới nói: - Ta phải khoe Chiêu Minh một điều khá bật cười. Rồi nhà vua thuật chuyện quan gia mắng tên Tích-lệ-cơ thậm tệ.
Nghe xong Trần Quang Khải lấy làm hỉ hả:
- Làm như quan gia là đúng. Nó muốn là cái gì thì ở nước nó, chứ nó đã mang danh một thằng giặc với thân phận một tên tù binh, chẳng việc gì phải nương nhẹ, phải trọng đãi nó. Đệ khai thác qua thằng giặc Hán gian Lý Thiên Hựu thì được biết thằng này đúng là dòng dõi của Thành-cát Tư-hãn, anh em họ với Hốt-tất-liệt đấy. Nhưng y tham gia vào đám tông vương do chư vương Nayan cầm đầu[86] để chống lại Hốt-tất-liệt. Tất cả đều bị bắt và bị đi đày. Tích-lệ-cơ chẳng qua cũng chỉ là kẻ trích thú theo quân đi lập công chuộc tội. Những điều quan gia xỉ vả không những y không dám tâu lại với Hốt-tất-liệt mà cũng chẳng dám hé răng với ai đâu. Vì rằng đã thua trận lại còn để đối phương làm nhục thiên tử. Tội đáng tru di sao y không biết.
Nói xong, Trần Quang Khải từ tạ vua anh rồi vội vã tìm đến “Đỗ tộc tổ đường” để dự buổi thiết triều đầu tiên sau khi kết thúc chiến tranh.
Một căn nhà năm gian, ba gian giữa bày ban thờ các đời, phía trước là căn đại bái ba gian nối với hậu đường bằng ba nhịp xuyên đường (nhà cầu). Với một dòng họ thì ngôi tổ đường này quá rộng rãi, nhưng là một ngôi điện để thiết triều thì lại quá chật hẹp. Vì vậy từ chỗ ngồi theo thứ bậc của các vị đại thần cho tới các ban đều không phân biệt, miễn sao có chỗ ngồi. Người ta chỉ kiếm tạm được chiếc ghế chắc chắn, phủ mảnh gấm để nhà vua ngự, còn các quan hết thảy đều ngồi xuống chiếu trải trên nền nhà hoặc ngồi quanh bậu cửa.
Tuy là buổi thiết triều sau khi đã đuổi hết giặc ra khỏi bờ cõi, nhưng vua Nhân tông và các quan đều không vận phẩm phục đại triều mà chỉ mặc thường phục, đeo phẩm hàm để dễ phân biệt.
Nhà vua bắt đầu bằng việc khen ngợi tướng sĩ đã chiến đấu anh dũng, bảo vệ được non sông gấm vóc, đất nước đã sạch bóng quân thù; khen ngợi các quan trong bộ máy từ triều đình đến các lộ, phủ, huyện, hương, ấp động viên toàn dân tham gia đánh giặc. Vua nhiệt liệt biểu dương hết thảy dân chúng, nam phụ lão ấu đều không tiếc của tiếc công, không tiếc cả máu xương cho việc giữ nước. Vì vậy ngoài quân đội ra thì trong dân cũng nên có sự bình chọn để triều đình vỗ về người có công. Việc này không thể làm một lần mà xong được. Phải chia ra nhiều lần trong ba năm, cốt sao khen cho đúng công, nhất là không được bỏ sót người có công, dù là công nhỏ. Bởi giặc Bắc có thể lại còn sang lần nữa.
Vua vừa dứt lời, Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự liền tâu báo.
Quốc công nói tóm tắt về sự toàn thắng của quân ta và sự đại bại của giặc. Đại khái, số tù binh năm nay bắt được nhiều hơn năm Ất Dậu, số tướng soái của giặc chết trận cũng nhiều hơn mà ta bắt sống cũng nhiều hơn. Chiến trường năm nay không trải rộng như năm Ất Dậu, nhưng nơi nào giặc tràn qua, nhất là nơi chúng trú quân thì chúng vơ vét không còn một tí gì, lúc rút quân là chúng đốt hết. Vì vậy lúc này dân trong các vùng giặc trú quân hoặc tàn phá đều rất khó khăn trong việc làm ăn cày cấy. Thóc giống, trâu bò, cày bừa giặc đều cướp và đốt phá sạch sành sanh. Trước mắt, xin triều đình trợ cấp gạo ăn và lúa giống cho dân.
Tâu hoàng thượng dù nhà nước còn rất khó khăn, nhưng phải cấp ngay số tiền tuất cho các chiến sĩ đã bỏ mình vì nước, cấp một tháng gạo ăn cho các người trong đội điền binh và cho họ trở về nhà càng sớm càng tốt. Việc bảo vệ biên cương thần đã cắt đặt. Trong quân sẽ thay nhau về phép nghỉ ngơi. Về tù binh, sẽ thanh lọc bọn tướng lĩnh đầu sỏ, nhốt riêng từng đứa, xét đứa nào nguy hiểm, đứa nào gây nhiều tội ác phải trừng trị không cho chúng đường về. Ngoài ra, bọn lính trơn ta đưa biểu sang nhà Nguyên rồi trả cho chúng về càng sớm càng đỡ tốn cơm. Nếu cần, có thể giữ một số đứa khỏe mạnh cho chúng đi khẩn đất. Tù binh trận này ta bắt cũng nhiều đấy. Có giữ chúng lại cũng là cứu cho chúng thoát khỏi ách làm nô lệ cho người Mông Cổ. Dần dà ta sẽ tạo lập cuộc sống gia đình cho họ, coi họ như dân mình.
Hưng Đạo vừa dứt lời, Trần Quang Khải hỏi ngay:
- Tâu hoàng thượng, lễ hiến phù sắp tới làm ở đâu. Nhà thái miếu, điện Chí kính giặc đều đập phá đến chiếc bình hương cũng không còn.
- Đưa tù binh về làm lễ ngay tại sơn lăng tận Thái Đường. - Vua đáp.
Nội minh tự Đỗ Hành xin nói:
- Tâu hoàng thượng, trong lễ hiến phù có chém tù binh không ạ?
Theo lẽ thường, lễ hiến phù thường chém một vài tên tù binh có tội ác nhiều nhất, để tế cáo tổ tiên và lấy máu rửa binh khí. Thế nhưng với nhà Nguyên thì lại không xử như thế được. Dù mình thắng, nhưng vẫn cứ phải xử nhún để hạ hỏa Hốt-tất-liệt ở Yên Kinh. Thực ra vua Nhân tông rất muốn chém tất cả bọn tướng lĩnh gây ra tội ác tầy trời. Chúng tàn sát không biết bao lương dân, đốt cháy không biết bao nhiêu làng mạc. Cung điện, thành quách chúng đốt phá trơ trụi, đến như mồ mả tổ tiên ta chúng còn khai đào. Vậy thì có chém dăm bảy đứa cũng là hợp lẽ thôi. Tuy nhiên, nhà vua vẫn còn phân vân, bèn hỏi:
- Quả tình ta muốn chém tất cả lũ tướng giặc đã gây tội ác, nhưng lòng vẫn thấy phân vân. Không phải ta sợ Hốt-tất-liệt mà bởi ta thương dân. Chưa đầy ba năm, một đất nước nhỏ bé như thế này mà phải đương đầu hai cuộc chiến tranh khổng lồ. Vua tôi, quân dân đều phải gồng sức lên mà đánh giặc nên mới có ngày nay. Sự thật, chỉ cần yếu bóng vía là phải khom lưng quỳ gối chịu bao đắng cay tủi nhục trước quân thù. Vậy các quan thử cùng nhau bàn bạc xem ta nên xử như thế nào.
Các quan tranh nhau nói. Mọi người đều căm giận khôn cùng trước tội ác của giặc. Và đòi chém tất cả lũ tướng giặc từ nguyên soái đến đô tướng cộng hơn một trăm tên trong đám quân bị bắt mà ta phát giác ra được.
Trần Thì Kiến nói:
- Tâu hoàng thượng, lòng căm giận loài giặc dữ của các tướng và muôn dân cao như núi. Dù có chém tất cả lũ giặc này cũng không thể làm dịu được nỗi đau mất mát người thân do chúng gây ra. Theo thần, không thể không chém đầu một vài tên tướng giặc gây nhiều tội ác, để làm dịu bớt nỗi đau của mọi người, và để làm gương cho lũ giặc còn được sống bớt thói kiêu ngạo.
Một tiếng nói từ phía xa, giọng đau đớn:
- Bệ hạ thương dân lo giặc trả thù. Điều này thật không có gì đáng ngại. Thử hỏi, năm Ất Dậu ta có đụng gì đến nhà Nguyên đâu mà sao nó đánh ta tàn bạo thế. Cho nên lần này giặc gây thuần tội ác thâm độc, nhằm tiêu diệt nguồn sống của người mình. Nếu không giết chúng, lòng dân không thuận.
Thấy các quan khăng khăng muốn giết tướng giặc cho hả giận, Trần Quang Khải biết đây không chỉ là ý nguyện của các tướng mà còn là ý nguyện của dân chúng nữa. Nhưng nếu giết tướng giặc, chọc giận con sói già ở Yên Kinh khiến chinh chiến liền năm dai dẳng phỏng có ích gì cho dân, cho nước. Nghĩ vậy, ông liền nói:
- Mong muốn giết hết bọn tướng giặc của các quan và dân chúng là chính đáng. Tội ác của giặc thực không gì có thể ghi xiết kể. Có thể nói, khắp non sông Đại Việt ta từ ngọn cỏ lá cây, từng viên sỏi hạt cát, từ đồng ruộng, núi non, sông suối không nơi chốn nào lại không có tội ác của giặc dính vào. Các vật vô tri còn bị giặc tàn sát huống chi con người. Tôi đã xem toàn bộ số sổ sách mà tên vạn hộ Lý Thiên Hựu đi theo Ô-mã-nhi ghi chép hằng ngày. Chúng thản nhiên ghi các tội ác như đốt nhà, giết người, ném trẻ nhỏ vào những ngôi nhà đang cháy, ngồi quây quần uống rượu chờ nghe tiếng bong bóng tử thi nổ rồi cười khả ố. Còn nhiều tội ác ghê tởm khác của giặc mà trí óc của người lương thiện khó có thể nghĩ ra được. Giết người bằng hình thức man rợ khác nhau là thú tiêu khiển của tướng giặc, chúng coi như một cuộc đánh bài, hoặc một cuộc thưởng thức ca lâu vậy. Cứ xem các hành vi của giặc đủ biết chúng đều là loại ác thú đội lốt người chứ không thể gọi chúng là người được.
Trong các tội ác thì tội khai đào mồ mả là đại ác. Mưu này do tên Hán gian Phàn Tiếp xướng xuất. Ô-mã-nhi thúc giục phải làm ngay. Vì vậy khi qua Long Hưng chúng đã xâm phạm đến lăng mộ tiên đế. May chúng chưa đụng được tới quan quách. Nay hai kẻ phạm tội ấy đều đã bị quân ta bắt sống. Trong lễ hiến phù bắt chúng phải về tận lăng mộ tiên đế quỳ lạy tạ tội. Và làm việc hư trảm thôi chứ không giết chúng làm gì cho bẩn gươm nhân ái của Đại Việt.
Nghe Chiêu Minh vương nói, vua Nhân tông có vẻ hài lòng. Nhưng phần nhiều các quan vẫn nhao nhao đòi giết nếu không tất cả bọn tướng soái thì cũng phải chém đầu hai thằng giặc Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp.
Một vị khác lại nói với vẻ gay gắt:
- Cả nước gồng sức lên đánh giặc không chỉ bằng sức lực, tiền của và xương máu mà còn với lòng tự trọng của mỗi con người và danh dự của cả dân tộc. Giặc giày xéo đất nước ta, tàn sát dân ta với tâm địa của loài lang sói là tiêu diệt quyền sống của cả một dân tộc, tội ác ấy không gì có thể biện minh được. Nay chúng đã hai lần bại trận, tội ác đầy mình, thế mà chúng vẫn cứ nhơn nhơn hạch sách. Nếu bệ hạ không cho giết loài hổ dữ này mà lại thả nó về rừng thì không lấy gì để răn đe chúng. Nó về rồi nó lại sang. Tới chín phần mười lũ tướng giặc sang ta lần này là những tên tướng bại trận năm Ất Dậu. Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp trận trước chúng chỉ chậm chân một lát nữa, nếu không bị bắt cũng rơi đầu như Toa-đô. Trịnh Bằng Phi, Lưu Thế Anh, A-ba-tri, A-gu-rúc-tri, Thoát-hoan, A-li… Chẳng phải là lũ bại tướng lần trước sao. Tâu, nếu bệ hạ không chém đầu lũ tướng giặc có tội ác tày trời này, không chỉ lòng tướng không thuận mà lòng dân cũng khó yên. Và nếu giặc Bắc lại sang, sẽ khó bề gây được khí thế “Sát Thát” như hai cuộc kháng giặc vừa qua.
Đòi hỏi của các tướng không có gì là quá đáng, nhưng trong thế cờ bang giao, như thế là bôi tro trát trấu vào mặt thiên tử nhà đại Nguyên, và cũng là động lực thúc đẩy cho y trả thù. Đành rằng không phải mỗi lúc mỗi động binh được. Nhưng nếu ta nhún thêm một chút, cứ trải thảm cho giặc trở về, hận thù chắc sẽ nhẹ vơi dần. Nhưng nói sao để các quan hiểu được ra điều đó. Nghĩ vậy, nhà vua đưa mắt về phía Trần Hưng Đạo, vẻ như là một sự cầu cứu.
Quốc công chậm rãi nói:
- Tâu bệ hạ, thưa các đồng liêu. Cả nước đổ bao xương máu để đánh giặc giữ nước không phải khi thắng giặc, bắt được những tên đầu sỏ gây tội ác lại để cho chúng được nhởn nhơ sống rồi lo sắp đặt tàu thuyền xe ngựa mời nó về nước. Như thế khác gì chuyện giặc xâm lược nước ta, tàn sát dân ta chỉ là một cuộc đi dạo chơi của loài ác quỷ. Hưng Đạo ngừng lời nhìn nhà vua và nhìn khắp lượt các quan, thấy mọi người đều vui vẻ chờ đợi còn gương mặt nhà vua tỏ ra căng thẳng. Hưng Đạo nói tiếp: - Tâu bệ hạ, thưa các đồng liêu, tất cả những kẻ cầm đầu đội quân xâm lược đã gây tội ác với dân ta đều phải chết.
Hưng Đạo lại ngừng lời như dò thăm ý tứ mọi người. Vua Nhân tông trong lòng tỏ ra lo lắng và tự hỏi: “Sao bá phụ lại hùa theo sự tức giận nhất thời của các quan thế nhỉ. Bá phụ đã chẳng từng “Nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa” vì thương dân, vì lo kế chống giặc đó sao. Nay dẫu ta có xử nhũn đi một tí thì việc tránh voi cũng là tránh họa cho dân chứ sao”.
Trong không khí im lặng, mọi người đều hướng về phía Quốc công chờ xem ông định giết bao nhiêu đứa ác tặc trong lễ hiến phù. Quốc công lại lên tiếng: - Tất nhiên ta không chém cổ chúng trong ngày lễ hiến phù, nhưng chúng không được toàn mạng trở về, ta hứa với các quan như vậy. Nếu thả cho lũ ác tặc này toàn mạng trở về chẳng hóa ra công lao đánh giặc của cả nước thành công dã tràng sao. Dẫu sao ta vẫn cứ phải hy sinh cái tiểu tiết để hoàng thượng dùng nó làm phương tiện đối sách với nước giặc.
Không khí triều hội như oải ra, có người hỏi:
- Tâu, nếu không giết lũ chó ngao này thì lấy máu đâu để rửa binh khí?
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật liền nói:
- Tâu bệ hạ, thưa các đồng liêu. Tội ác của đội quân thủy do Ô-mã-nhi làm đô nguyên súy Giao Chỉ hải thuyền, Phàn Tiếp làm phó đô nguyên súy Giao Chỉ hải thuyền, tội ác hằng ngày do giặc gây ra được tên vạn hộ Lý Thiên Hựu ghi lại khá trung thực, về sự tàn ác thì lũ tướng giặc dù người Mông Cổ hay người Hán cũng như nhau cả thôi. Riêng ngón đòn đốt phá các nơi đền miếu thờ tự tổ tiên và các tiên đế, cũng như khai đào huyệt mộ để làm rung động tâm linh, khiến triều đình phải đầu hàng, chính là mưu của tên Hán gian Phàn Tiếp, một tên chó săn đắc lực đã dâng bao kế sách cho kẻ thù giết hại đồng bào mình. Nay hai tên đầu sỏ gian ác ấy ta đều bắt được cả. Tới lễ hiến phù, ta đem vài chục tên tướng giặc về tận sơn lăng để tế cáo ngay trước lăng mộ đức Thái tông. Bắt hai thằng giặc Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp phải quỳ lạy trước lăng. Rồi mở sổ tội ác do chính chúng ghi lại, đọc cho chúng nghe. Nghe xong chúng phải quỳ lạy, nói lời sám hối. Bắt chúng cúi đầu đi vòng quanh lăng đức Thái tông ba vòng. Sau đó dẫn chúng ra pháp trường, khi viên đô tướng phát lệnh khai đao, các đao phủ thay vì chém đầu nó thì bê vại máu chó đổ lên đầu từng đứa. Những đứa ấy tuy được sống tạm, rồi sau đó sẽ lần lượt cho chúng về chầu Diêm vương theo dự kế của Quốc công, xin hoàng thượng y chuẩn và các quan yên tâm.
Nghe Chiêu Văn vương nói từ nhà vua đến các quan đều cảm thấy hài lòng. Vua gặng hỏi:
- Theo như kế của Chiêu Văn vương, các quan thấy thế nào?
Các quan đồng thanh hô:
- Hoàng thượng vạn tuế!
Nhà vua nhắc nhở các quan phải xem xét tình trạng lương thực của người dân, mở kho nhà nước cấp phát kịp thời. Những vùng giặc tràn qua đều miễn tô thuế cho dân một năm, những vùng bị giặc tàn phá nặng nề nhà nước tha tô thuế hai năm. Các chính sách khác vẫn như thời kỳ sau chiến tranh năm Ất Dậu. Nơi nào không còn lúa giống, nhà nước cấp phát đủ cho dân cày cấy. Nếu nơi nào các quan để dân phải chết đói vì thiếu ăn, bỏ ruộng hoang vì không có thóc giống, quan trị nhậm địa phương đó phải chịu tội.
Nhìn các quan hồi lâu, nhà vua cân nhắc rồi ban ý:
- Nay đã là hạ tuần tháng ba, chiến tranh vừa kết thúc, dân chúng còn phải lo khôi phục nhà cửa, lại sắp đến việc gieo cấy vụ mùa, nên ta muốn hoãn việc cầu siêu vào lễ Vu lan, khi ấy vào lúc nông nhàn, chẳng hay ý các quan thế nào.
Quan hữu nhai tăng thống liền thưa:
- Tâu bệ hạ, việc làm lễ cầu siêu cho các tử sĩ và bất kỳ người nào đã bỏ mình vì nạn nước là điều tối quan trọng. Nhưng còn nhiều việc khác lại có liên quan đến mùa vụ, đến quốc kế dân sinh nên đành phải nán lại, nhưng xin bệ hạ giao bên tăng thống lo liệu sớm kẻo tháng bảy cũng chẳng còn là mấy thời gian nữa. Vả lại các lộ cũng phải chuẩn bị từ bây giờ, sau khi Thăng Long làm lễ đại cầu siêu cho toàn quốc thì đến lượt các lộ, các châu, quận phải làm tiếp. Thần xin tâu lại các lệ cũ, sau khi từ Thăng Long đến các trấn, lộ làm lễ cầu siêu, đối với các liệt sĩ còn thân nhân thì rước vong về thờ tại gia, nhà nước cấp hẳn ba sào quốc điền cho con cháu nối đời thờ tự. Nhà nào có nhiều người bỏ mình vì nước, số ruộng được cấp cho con cháu không quá bảy sào. Liệt sĩ nào không còn thân nhân thì rước vong vào chùa nương cửa Phật, nhà nước cấp cho chùa một sào ruộng để thêm vào việc hương đăng. Vậy tâu bệ hạ, liệu lần này các chính sách đó vẫn giữ nguyên hoặc có gì thay đổi không, để lũ thần còn kịp bố cáo cho toàn dân được biết. Tâu bệ hạ, sở dĩ thần phải hỏi lại các chính sách đối với liệt sĩ là bởi hai cuộc chiến tranh do Hốt-tất-liệt áp đặt cho dân ta tựa như hai cuộc sóng thần, nó gieo tai họa thật là khủng khiếp, nhiều gia đình bị giặc tàn sát không còn một ai. Lần này, tuy giặc chỉ chiếm đóng và đi qua có mấy lộ, nhưng sự tàn bạo của chúng thật là thâm độc với chính sách cướp sạch, giết sạch, đốt sạch. Thành thử mỗi vùng giặc tràn qua hoặc giặc chiếm đóng đều trở thành vùng đất chết. Vì vậy, nếu triều đình có gì bù đắp thêm cho các liệt sĩ hoặc nạn nhân cũng là điều nên làm.
Gương mặt nhà vua thể hiện sự đau khổ ở trong lòng với những điều day dứt, khó nói. Một thoáng, với giọng đượm buồn, vua nói:
- Sao ta không biết sự hy sinh tính mệnh con người là lớn nhất, không gì bù đắp được. Vài ba sào ruộng gọi là tri ân cũng chỉ đối với thân nhân liệt sĩ thôi, chứ bản thân liệt sĩ một khi đã liều mình cứu nước, không ai nghĩ đến lợi quyền của bản thân mình, sinh mệnh của mình, mà chỉ nghĩ đến sinh mệnh của nước. Ai cũng đòi hỏi hoàng thượng sao không gia ân cái này, ban phát cái kia. Thử hỏi, ta có gì mà ban phát, tất cả đều là của dân cả đấy. Ta chỉ là người giữ chiếc cân mà dân nước trao cho. Đất đai hẹp, của nả có hạn, người chủ của nước lại chi tiêu quá mức thời còn tai hại hơn là giặc cướp phá. Giả dụ số ruộng ta cấp cho thân nhân liệt sĩ nhiều gấp đôi, gấp ba thì vẫn không nói lên được điều gì cho bản thân người chết. Nhưng nếu giặc Bắc lại sang và cứ thế thì lấy gì mà cấp phát. Người có thể sinh thêm chứ đất đai thì không thể. Ai dám bảo giặc Bắc không sang nữa. Trong vòng hơn ba năm thì giặc Bắc đã ụp xuống đầu dân ta hai cuộc chiến tranh kinh thiên động địa, khiến một đất nước nhỏ bé như Đại Việt ta buộc phải kháng cự. Vả lại còn một điều này mọi người phải ý thức được. Tức việc giữ nước là bổn phận thiêng liêng của mỗi người dân, còn như bộ máy cầm quyền là giữ vững mối rường của nước để dân được yên ổn làm ăn, tự thân nó không giữ được nước nếu như dân nước không đồng tâm hiệp lực.
Các quan dường như đã thấu hiểu điều vua vừa giáo hóa. Không khí trầm hẳn xuống. Rồi bỗng có ai đó cất lời:
- Thánh thượng vạn an!
Thế là mọi người đồng thanh hô đi hô lại tới mấy lần, chứng tỏ sự đồng tình với lời phán bảo của nhà vua.
Kết thúc phiên chầu vua nói:
- Thịnh suy tùy thời, nhưng mệnh nước thì không bao giờ đứt được, hơn lúc nào hết triều đình phải hiệp sức với muôn dân để dựng lại cơ nghiệp từ đống đổ nát này. Nhìn khắp lượt các triều quan vua dụ: - Ba ngày nữa tất cả các quan phải có mặt ở Thái Đường làm lễ hiến phù.
CHƯƠNG 18
Sau lễ hiến phù, bọn tướng soái nhà Nguyên nhao nhao phản kháng, rằng chúng bị ta làm nhục và đòi phải sớm trả chúng về nước. Tất cả những điều đó chúng đều nói qua ngục lại. Nói rằng giam, nhưng thực ta vẫn cho chúng hưởng một chế độ ăn uống đầy đủ, không đánh đập tra khảo, nhưng phải khai báo những điều cần thiết. Và chúng bị giam trong các cung thất mà chúng phá phách, hoặc đốt cháy nham nhở nay được che chắn lại bằng tre, nứa, lá.
Bữa nọ Phàn Tiếp lâm chung, vợ con y đều được quây quần săn sóc và nghe lời trăng trối.
Thấy có tiếng khóc thút thít, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ló vào. Biết tên ác tặc đã phải đền tội, ông nói một câu tiếng Việt, như là một sự bâng quơ: “Trời thật có mắt!”.
Không ngờ câu nói làm cho Phàn Tiếp tưởng như đã chết lại từ từ hé mắt rồi mở dần ra. Vợ con y mừng quýnh, tưởng như y có thể sống lại, tiếng khóc im bặt.
Phàn Tiếp cứ đưa tròng mắt lờ đờ về phía Chiêu Văn vương như muốn nói với ông điều gì. Người nhà biết ý liền vái Trần Nhật Duật và thưa:
- Bẩm đại vương, quan tham tri Phàn đại nhân tôi muốn có lời với ông.
Trần Nhật Duật bèn ngồi xuống cạnh giường Phàn Tiếp, cánh tay bị chém gần đứt trong trận Bạch Đằng của y đã bốc mùi thối khẳn. Tuy khó chịu, nhưng vương nín thở không bịt mũi. Nom ánh mắt vẻ như cầu khẩn của Phàn Tiếp, Trần Nhật Duật liền hỏi vừa đủ mọi người nghe:
- Chắc có điều gì ân hận?
Phàn Tiếp mấp máy môi phát ra những âm ngắt quãng, mọi người nghe và chắp nối được hai điều y ân hận. Một là y đã hơi quá tay với dân chúng Đại Việt, nhất là việc khai đào mồ mả. Hai là chưa được diện kiến Trần Hưng Đạo - người đánh bại chúng tôi, một vị tướng nhà trời.
Trần Nhật Duật nói ngay:
- Tội ác tày trời, lại hối hận quá muộn nên không chuộc được lỗi lầm. Còn Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương của chúng ta là một bậc nhân tướng siêu việt. Ông là người có nhân cách cao thượng nên không thèm nhìn mặt loại ác nhân huống chi là ác tặc. Loại người như ngươi muốn diện kiến Trần Hưng Đạo, tưởng còn khó hơn lên cung trăng gấp vạn lần. Thôi, hãy yên lòng nhắm mắt mà lìa bỏ thế gian. Chắc phải trải qua trăm kiếp đọa đầy, nhưng phải thành tâm hối cải mới được trở lại kiếp người.
Nghe Trần Nhật Duật nói xong, Phàn Tiếp dường như mãn nguyện và tỏ lòng biết ơn, nhưng nỗi ân hận về những tội ác mà y đã gây ra dường như vẫn còn day dứt, tất cả đều hiện lên tròng mắt và gương mặt y. Sau đó cặp mắt y chuyển sang trắng dã rồi từ từ khép lại, nhưng nỗi dằn vặt còn biểu hiện trên gương mặt méo mó và xám xịt, Phàn Tiếp trút hơi thở cuối cùng.
Quan đại an phủ sứ của kinh sư cho gọi một vài tên tù binh đầu sỏ như Ô-mã-nhi và chư vương Tích-lệ-cơ tới nơi Phàn Tiếp vừa qua đời. Lại cho cả vợ con Phàn Tiếp được phép dự bàn. Quan đại an mở lời:
- Phàn tướng quân vào xâm lăng Đại Việt, bị đánh trọng thương tại trận Bạch Đằng, chúng tôi đã cho thày thuốc chữa trị, kể cả việc ăn uống đều có vợ con ông giám sát và thường xuyên nếm thử cả thuốc và thức ăn. Nhưng vết thương quá nặng, ông đã thọ tử. Thể theo lòng bác ái, vị tha của nhà Phật, quốc chủ tôi thuần lấy ân báo oán nên cho phép vợ con của người thất lộc và các người có quan hệ gần gũi với ông ta, được phép chọn một trong hai cách chôn cất cho tướng Phàn Tiếp. Một là dùng quan quách bằng gỗ quý chôn ông ta trên đất Đại Việt. Phía Đại Việt chúng tôi cam kết, sẽ không xâm phạm đến mồ mả của Phàn Tiếp và khi nào người nhà muốn đưa hài cốt về lại cố quốc và cố hương, chúng tôi sẽ giúp đỡ hết lòng. Hai là hỏa táng rồi gia đình đem luôn tro hài về nước. Các người chọn cách nào chúng tôi cũng sẵn lòng giúp đỡ.
Sau một hồi bàn bạc, họ xin được hỏa táng và mang theo tro hài về nước.
Sau cái chết của Phàn Tiếp, lũ tướng giặc cảm thấy lo sợ cho số phận của chúng, luôn đòi gặp vua ta và đòi phải trả chúng về nước sớm ngày nào hay ngày đó. Phía ta không trả lời. Nhưng vào một ngày bất chợt tướng quốc Tá Thiên vương Đức Việp cho triệu Ô-mã-nhi, Tích-lệ-cơ, Sầm Đoàn và tên nguyên soái họ Điền tới nhà công quán để nghe chỉ dẫn.
Cùng tiếp lũ tướng giặc còn có thượng tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Các tướng Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu cũng được mời dự.
Mở đầu Trần Quang Khải nói:
- Bữa nay tướng quốc Đại Việt tiếp các ông. Có mong muốn gì các ông được phép đề đạt.
Quen thói kiêu căng ngạo mạn, Ô-mã-nhi nói ngay:
- Bữa các ông làm lễ hiến phù ở Long Hưng cư xử với ta và tham tri chính sự Phàn phó đô nguyên súy như vậy là bất kính, không chỉ với thiên tử mà còn với chúng ta, đương kim tham tri chính sự, Giao Chỉ hải thuyền đô nguyên súy, ta đòi quốc vương An Nam phải xin lỗi. Ngay cái chết của tham tri Phàn Tiếp cũng có điều đáng ngờ.
Nghe tên ác tặc được tha mạng sống vẫn chứng nào tật ấy, các tướng trẻ Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu đều cảm thấy nóng mắt. Biết ý, Quang Khải đưa mắt khiến các tướng phải bình tĩnh.
Tá Thiên vương tướng quốc Đức Việp nhã nhặn hỏi thêm:
- Các ông còn có điều gì cần bày tỏ nữa không? Ta nghe nói trong số các ông ngồi đây có vị thân vương bà con với thiên tử, việc đó có đúng không?
Viên thân vương đại quý tộc Tích-lệ-cơ liền đứng dậy chào tướng quốc rồi nói:
- Tôi theo quân tòng chinh chẳng may thất trận, được đối đãi tử tế, xin có lời cám ơn. Mong các ông thu xếp để chúng tôi sớm trở về nước chầu thiên tử.
Các tướng khác đều phụ họa theo ý của Tích-lệ-cơ.
Tướng quốc đáp lời:
- Tôi chấp thuận việc xin hồi hương của các ông, nhưng việc đó còn phải chuẩn bị chứ không thể diễn ra ngày một ngày hai được. Vậy các ông ráng chờ. Các việc khác cần bàn, tôi đã trao cho hai vị thân vương đây được toàn quyền.
Nói xong tướng quốc bước ra khỏi nhà công quán.
Liền đó Chiêu Minh vương lên tiếng:
- Việc tướng bại trận Ô-mã-nhi đòi quốc vương ta phải xin lỗi là một đòi hỏi vừa phi lý vừa ngạo mạn. Tù binh được đối xử như vầy là chúng ta nể mặt thiên tử đó. Tội ác của ông dù có bị phanh thây làm muôn mảnh vẫn còn là nhẹ. Ông có biết hôm ở Long Hưng, hàng vạn dân chúng phẫn nộ đòi xé xác các ông ra không. Nếu quốc vương ta không mở lượng trời bể sai lấy máu súc vật đổ lên người ông và Phàn Tiếp khiến dân chúng tưởng các ông đã bị giết, nên họ mới chịu lui. Phải nói, nhờ lòng nhân ái của quốc vương, ta coi như ông được sinh ra lần thứ hai. Nếu là người biết nhẽ phải trái thời ông phải chịu ơn suốt đời, và thờ ngài như bậc phụ mẫu. Vô ơn với người đã cho mình mạng sống, kiến thức của ông ngang với loài cầm thú.
Nói xong Chiêu Minh vương giận dữ ném tập giấy ghi tội ác từng ngày từ khi y đem quân vào Đại Việt do vương tịch thu được từ Lý Thiên Hựu.
Ô-mã-nhi tái mặt và cứng họng, cũng từ bữa ấy y không dám hỗn láo nữa.
Buổi lễ hiến phù hình ảnh hai tên đại ác tặc Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp được tắm máu chó đỏ lòm. Chúng được tha mạng nhưng phải mang nỗi nhục muôn đời. Bữa đó từ Chiêu lăng trở về, quan gia đi trước chợt trông thấy chân ngựa đá có vết lấm bùn, nhà vua ứng khẩu đọc lên cái tứ vừa lóe ở trong đầu lại thành một đôi câu đối rất chỉnh, nói lên sự gian nan qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lăng:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Đất nước hai phen chồn ngựa đá,
Non sông ngàn thuở vững âu vàng).
Im lặng một lát, viên vạn hộ Sầm Đoàn là tên tướng đánh bộ, bị bắt khi y đã chạy trốn tới gần biên ải, nhẹ nhàng hỏi:
- Chúng tôi muốn được biết khi nào quý quốc có thể cho chúng tôi hồi hương? Việc chúng tôi bị bắt, các ông đã tâu lên thiên tử chưa?
Nghe tướng giặc hỏi đến ngứa cả tai, Phạm Ngũ Lão liền đáp:
- Các ông đâu chỉ có vài ba người mà bảo muốn đi lúc nào cũng được. Nếu tất cả các ông và quân lính bị bắt muốn về bộ, chúng tôi quả thực không có xe, có ngựa cho các ông đi, mà phải đi bằng đôi chân. Từ đây về đến Tư Minh đi mất hai mươi ngày. Ấy là chưa kể ốm chết dọc đường phải dừng lại chôn cất. Tuy nhiên, việc chuẩn bị lương thực cho tù binh về nước với chúng tôi lúc này hết sức khó khăn. Vì rằng lúa gạo trong dân đã bị các ông cướp hoặc đốt hết rồi. Hiện nay dân tôi cũng đang đói, cho nên thả các ông về sớm ngày nào chúng tôi đỡ tốn kém ngày đó.
Sao, các ông muốn về bằng đường thủy cả à? Tức là quân thủy xin về đường thủy, quân bộ xin về đường bộ. Được thôi! Phạm Ngũ Lão ngừng lời nhìn lũ tướng giặc, rồi hỏi:
- Ô-mã-nhi, ông có biết số thuyền của ông bị quân tôi đốt cháy bao nhiêu chiếc, bao nhiêu chiếc bị đâm vào cọc, bao nhiêu chiếc xô nhau vỡ toác rồi chìm xuống đáy sông… và còn lại bao nhiêu chiếc? Việc này không thấy Lý Thiên Hựu biên chép trong sổ sách của các ông.
Ô-mã-nhi có vẻ bực tức. Nhưng rồi y cũng phải đáp:
- Ta có hơn sáu trăm chiến thuyền với hơn tám vạn quân thủy và hơn một vạn quân bộ đi theo. Vậy các ông định trả lại thiên triều bao nhiêu thuyền và các ông đã bắt người của ta là mấy vạn có trả về cùng với thuyền không.
Trương Hán Siêu cười khẩy đỡ lời Phạm Ngũ Lão:
- Ô-mã-nhi bạt-đô thật khéo khôi hài, ông định đòi bao nhiêu thuyền và bao nhiêu người? Ông chẳng thấy hôm đó nước triều xuống nhanh như thác đổ, đại quân của ông và Phàn thất lộc đuổi quân tôi nhanh hơn cả ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường đó sao. Và thuyền của các ông to lớn kềnh càng đã quần nát tất cả các bãi cọc của chúng tôi. Như thế là các ông tự đâm vào nhau chết nhiều và đắm nhiều hơn là chúng tôi đốt và giết các ông. Không biết quân ông có bao nhiêu, nhưng xác người chết và xác thuyền đắm làm nghẽn tắc suốt mấy cửa của ba con sông Chanh, sông Kênh, sông Rút và cả Ghềnh Cốc nữa. Nếu ông đếm được số xác chết thì biết được số quân bị bắt. Tuy nhiên, không phải chúng tôi bắt được hết những kẻ sống sót đâu. Chúng chạy trốn và chui nhủi nơi đầu rừng góc biển, ai mà biết được. Nhưng số thuyền chúng tôi thu được thì biết rõ, khoảng trên dưới hai trăm chiếc, phần nhiều trong số đó phải sửa chữa, nếu không sóng biển chỉ dồn cho vài hồi thì chúng sẽ vỡ tung mỗi nơi mỗi mảnh. Nếu các ông muốn về sớm thì phải đi trên các thuyền đó. Và nếu không muốn làm mồi cho cá thì phải nán chờ sửa chữa. Không, quân của các ông phải làm việc đó, chúng tôi cho vật liệu và cho người chỉ bảo kỹ xảo tu bổ. Chúng tôi có thể cho các ông thuyền về, nhưng thuyền của chúng tôi nhỏ không chịu được sóng lớn. Nếu các ông làm giấy cam kết và tự chịu trách nhiệm khi xảy ra tai nạn, thì chúng tôi sẵn sàng cấp thuyền cho các ông về ngay. Và như ông nói chúng tôi mới biết rằng chúng tôi đã diệt của các ông mất hơn bốn trăm chiến thuyền. Các ông không dám về bằng thuyền rách của mình cũng như không dám đi bằng thuyền nhỏ của chúng tôi? Vậy vui lòng chờ bao giờ sửa xong thuyền thì về. Giữ các ông ở lại vừa tốn kém vừa lo dân chúng lúc nào cũng đòi giết các ông vì tội đã tàn sát người thân của họ.
Nghe các quan phía ta giãi tỏ, đám tướng giặc tỏ ra thất vọng và cả sợ hãi, nhưng cũng không có lý để mà cãi nữa.
Liền đó thượng tướng Trần Nhật Duật nói tiếp:
- Vừa nãy ông vạn hộ Sầm Đoàn có hỏi việc các ông bị bắt, chúng tôi đã tâu lên thiên tử chưa. Thiết tưởng đứa trẻ ba tuổi cũng không ngớ ngẩn đến thế. Thử hỏi, khi phái binh sang cướp nước tôi, thiên tử có gửi quý danh của các vị cho chúng tôi biết đâu. Lỡ chúng tôi tâu báo, thiên tử không nhận mà lại quở bắt được ba tên cướp biển cũng vu cho là đại tướng của thiên triều, nhằm bôi nhọ thanh danh thượng quốc sao? Các ông nên hiểu cho cái thế của chúng tôi bị kẹt là vậy đó.
Cuối cùng Tích-lệ-cơ thay mặt đám tướng giặc nói lời thành thực:
- Quý quốc đã nói vậy, ắt chúng tôi phải chờ, khi nào sửa chữa xong tàu thuyền mới nói chuyện hồi hương được. Nhưng sở nguyện của mọi người là muốn được diện kiến tướng quân Trần Hưng Đạo - người đã làm cho tướng lĩnh của chúng tôi hai lần bại trận, đó là điều chưa nước nào, chưa tướng nào dưới gầm trời này có thể làm được. Và đây là sự ngưỡng mộ của chúng tôi thôi chứ không có ý gì khác.
- Chúng tôi sẽ trình lên Quốc công cái sở nguyện đó của các ông. Tiếp hay không còn chờ ngài hồi âm.
Lại nói về đám tàn quân Thoát-hoan sau khi chạy được về đến Tư Minh, y cho giải tán số quân còn lại đâu về đấy. Ví như đám thân vương A-ruc đem quân sống sót về Vân Nam, Áo-lỗ-xích đem số tàn quân của mình về miền bắc, bọn Việt gian tay sai Trần Ích Tắc cùng những kẻ tòng vong lại trở về Ngạc Châu (Hồ Bắc).
Thoát-hoan buộc phải về đại đô Yên Kinh trình diện vua cha. Hốt-tất-liệt nổi cơn thịnh nộ đuổi đứa con bất tài làm nhục cho nước phải ra trấn tại Dương Châu, và buộc y suốt đời không được gặp mặt vua cha nữa. Viên phó tướng của Thoát-hoan là Áo-lỗ-xích đã từng được Hốt-tất-liệt ưu trọng, cất nhắc cả hai cha con, bây giờ bị đuổi ra coi một tỉnh nhỏ Giang Tây.
Hốt-tất-liệt sai lùng bắt Trương Văn Hổ về trị tội. Y căm giận Đại Việt tới mức đòi động binh ngay lập tức. Nhưng việc đó thật không dễ, bởi nhiều tỉnh phía nam dân chúng nổi dậy đánh đuổi quân Mông Cổ thống trị lại tỏa nhanh như vết dầu loang, khiến Hốt-tất-liệt như ngồi trên đống lửa.
Hai lần liên tiếp dùng đại binh không thắng nổi Đại Việt, Hốt-tất-liệt lại dùng thủ đoạn hăm dọa như đã từng làm. Y đòi trước hết phải trả hết tù binh, nhưng số quân chúng bị bắt và ra hàng bao nhiêu thì chúng không biết. Đặc biệt gay gắt là y đòi Đại Việt phải trao trả ngay Ô-mã-nhi, không được viện cớ trì hoãn.
Về phía ta chỉ trao trả nhỏ giọt, lấy cớ quân thiên triều tàn sát dã man, dân chúng vì căm giận nên nổi dậy chống lại quyết liệt, một khi đã bắt được họ đều giết để trả thù. Một số khác chạy tản mác trốn tránh vào hang sâu rừng rậm, tìm thấy người nào chúng tôi lại đưa sang trao trả quý quốc.
Việc các tướng giặc xin gặp Hưng Đạo vì lòng kính phục cũng có, vì tò mò cũng có, tuyệt nhiên Quốc công không tiếp một viên tướng nào. Duy có Ô-mã-nhi là kẻ nguy hiểm và cũng gây nhiều tội ác, nên ta còn phân vân chưa muốn thả, nhưng thủ tiêu y trong lúc này cũng không dễ vì Hốt-tất-liệt đã có mấy đạo thư đòi trả đích danh Ô-mã-nhi.
Trong khi Ô-mã-nhi vừa quyết liệt đòi ta phải trả y về nước, y cũng thiết tha xin gặp Hưng Đạo vương.
Quả thật Hưng Đạo không muốn nhìn mặt những tên tội phạm đã tàn sát nhân dân mình. Nhưng vì y quá khẩn thiết xin gặp, vả lại mạng sống của tên ác tặc này cũng chỉ tính từng ngày, do vậy Quốc công bằng lòng tiếp y trong một nửa khắc canh giờ.
Vào một ngày đẹp trời, quân ta sửa soạn một chiếc thuyền khá chắc chắn, trang hoàng lộng lẫy, đồ ăn đồ uống đầy đủ nhưng bốn bề bịt kín, ánh sáng không lọt được vào khoang thuyền. Trong thuyền cũng không có một khe nào nhìn ra ngoài được, nhưng nến thắp đủ sáng để ăn uống và trò chuyện. Đi đường có hai người trò chuyện với y, đó là một vị hòa thượng cùng với thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và ba người phục vụ cũng là ba vệ sĩ hộ vệ. Ngoài ra còn có một đô quân vừa chèo thuyền vừa giám sát, lại có hai thuyền đi trước, hai thuyền đi sau hộ vệ.
Có mặt vị hòa thượng, thái độ của Ô-mã-nhi dịu hẳn, y ăn nói từ tốn, lại có phần lễ độ nữa.
Nhà sư chủ động hỏi:
- Thí chủ sức lực có vẻ dư thừa nhưng trong tâm lại đang bấn loạn.
- Hòa thượng nói đúng, trong lòng tôi lúc nào cũng bồn chồn như sắp có một sự nguy hiểm sắp xảy ra, nó tựa như những ngày trước khi xảy ra trận giao tranh đẫm máu trên sông Bạch Đằng.
- Vậy chớ thí chủ ngủ có được ngon giấc không.
- Chập chờn! Vừa nói tới đây Ô-mã-nhi bỗng biến sắc mặt và như có sự giằng xé ở trong lòng khiến gương mặt y như méo xệch đi, thật không hợp một chút nào với tấm thân cao lớn, đẫy đà, đôi lông mày rậm và xếch lên như hai mũi mác, hai chòm ria mép vểnh lên nhọn hoắt như hai chiếc mỏ chim ưng, mắt y một mí híp lại nom như một chiếc đũa nằm ngang, và đôi lưỡng quyền như hai cục thịt to tròn như hai nắm đấm làm cho gương mặt y trở nên phá cách thật là kỳ cục. Và không hiểu đó có phải là gương mặt biểu thị của cái ác không.
Một lát sau Ô-mã-nhi mới mở miệng hỏi: - Hòa thượng, đêm về, tôi vừa nhắm mắt thì lập tức cả một đám đông lính tráng có, đàn bà trẻ con có, người già cũng có, tất cả máu me đầy người chúng cứ nhao nhao đòi mạng. Đứa đòi trả đầu, đứa đòi trả chân, trả tay… Chúng khóc lóc, rên gào, chửi bới, đe đánh không thể nào có thể ngủ lại được. Nếu ngồi dậy thắp nến mọi chuyện coi như không có gì. Nhưng khi đèn nến vừa tắt, chưa kịp ngả lưng thì ma quỷ lại hiện đầy nhà kêu khóc thảm thiết, chửi bới lung tung. Cứ kéo dài mãi tình trạng này chắc tôi không sống nổi, mong hòa thượng có cách gì trừ giúp tôi lũ ma quỷ để tôi được sống yên.
Hòa thượng lặng thinh chắp tay niệm Phật. Không khí trong khoang thuyền trở nên tĩnh tịch chỉ nghe thấy tiếng lửa nến reo và hơi thở nặng nhọc của Ô-mã-nhi.
Lát sau hòa thượng quay lại nói với Ô-mã-nhi:
- Thí chủ, những linh hồn ấy không phải là ma quỷ, họ là những người lương thiện bị chết oan nên không thể trừ bỏ họ được.
- Vậy làm thế nào để giải thoát khỏi lũ quỷ đó, Ô-mã-nhi hỏi với vẻ bực dọc.
- Nếu thí chủ muốn giải thoát, trước hết phải giác ngộ. Chưa giác ngộ, tức là chưa nhận ra điều phải quấy, lỗi lầm, thiện ác cũng tựa như người mù đi trong đêm tối sao có thể nhận biết được đường đi lối lại. Thí chủ chớ gọi họ là quỷ, họ đang nhao nhao phản bác xin với bần tăng kêu cầu Phật tổ trừng trị kẻ ác.
- Thôi được, ta không gọi họ là quỷ nữa, nhưng làm thế nào để họ khỏi quấy ta, xin hòa thượng giúp ta, tốn bao nhiêu tiền ta cũng trả.
- Muốn giác ngộ thí chủ phải sám hối. Tự thân sám hối chứ không ai có thể làm thay mình được. Vàng bạc chẳng có nghĩa lý gì hết. Bởi sinh mạng con người không gì có thể mua được. Bần tăng biết thí chủ có nhiều thứ quý hơn vàng. Của cải thí chủ nhiều vô kể, nhưng nếu có ai đòi lấy mạng sống của thí chủ, liệu có thể đem của cải ấy chuộc được không. Khó lắm đấy, bây giờ có hàng vạn vong hồn bị chết dưới lưỡi đao oan nghiệt của thí chủ hoặc thí chủ sai quân giết, họ đang đòi mạng đấy. Thí chủ cũng là người tin theo Phật pháp sao không biết luật nhân quả. Thí chủ đã gieo biết bao nhân ác thời phải gánh chịu nghiệp báo.
- Hòa thượng, liệu bây giờ ta thành tâm sám hối thì còn kịp không?
Chắp tay hòa thượng niệm hồng danh Phật tổ: “Nam vô Thích Ca Mâu Ni Phật!”. Rồi ngài nhìn thẳng vào gương mặt đồ tể của Ô-mã-nhi khẽ nói:
- Khổ hải vô biên hồi đầu thị ngạn (Bể khổ mênh mông quay đầu là bến).
- Vẫn còn kịp, thế thì tốt lắm. Ta sẽ biếu hòa thượng chuỗi tràng hạt một trăm lẻ tám viên làm bằng ngọc bích, cách đây mười năm khi đánh vào Nhai Sơn qua chùa Bảo Phúc ta giết viên hòa thượng lấy được chuỗi ngọc đó. Sở dĩ ta phải giết vị hòa thượng đó là vì ông cố ý can ta giết đám tàn quân Tống.
- A-di-đà-Phật! Ta không coi hạt ngọc quý hơn hạt cát. Vậy mà vì nó thí chủ đã giết cả một vị tăng khi vị đó ngăn không muốn cho thí chủ dấn sâu vào tội ác. Giết cả người định cứu mình cho tới nay vẫn chưa chịu sám hối, quả báo còn nặng nề lắm, đầu óc thí chủ còn si mê trọc trược lắm, nếu không thực tâm sám hối, ta e rằng thí chủ phải trải qua cả ngàn kiếp khổ lụy để trả nghiệp.
- Làm thế nào để đầu óc khỏi si mê, xin hòa thượng chỉ giùm ta, Ô-mã-nhi nói ra điều đó từa tựa như một sự tỉnh ngộ.
- Dĩ trí tuệ kiếm phá phiền não tặc (phải lấy trí tuệ làm gươm để phá tên giặc phiền não tức là sự u tối đang lẩn khuất trong ta).
Tuy nhiên thí chủ không thể phá chấp ngay được đâu, phải bình tâm nhìn thấu vào chính mình và phải biết hối hận bởi các hành vi gây ra cái ác, dốc lòng từ bỏ nó, làm quen dần với điều thiện, việc thiện rồi hành thiện lìa ác, đó là cả một quá trình đi tới giác ngộ, thí chủ nên nhớ lấy và phải kiên nhẫn, bởi làm điều thiện, việc thiện khó hơn làm điều ác nhiều lắm đấy. Nói xong hòa thượng quay đi và người tìm một chỗ quang đãng để tọa thiền.
Ô-mã-nhi thấy bâng khuâng trong dạ và tự hỏi: - Vậy chứ những thành tựu đưa ta tới vinh quang chói lọi, thiên tử tôn vinh ta là bạt-đô, chức tước tới hàng cực phẩm lại là việc ta giết được nhiều người ư? Câu hỏi đó cứ luôn ám ảnh trong đầu Ô-mã-nhi như là một sự tự vấn cái gọi là lương tâm của y.
Đã có lúc Ô-mã-nhi lân la bắt chuyện với Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, nhưng việc đó không thành. Bởi cứ nghĩ tới việc y và Phàn Tiếp khai đào huyệt mộ của vua cha thì vương chỉ muốn xé xác y thành trăm mảnh.
Sự có mặt của Chiêu Văn vương là để giám sát dọc đường xem y có giở trò càn rỡ hoặc liều lĩnh quyên sinh. Khoảng gần cuối giờ sửu thuyền cập bến Bình Than, quân dẫn y vào một căn nhà nhỏ bốn bề màn sáo chăng kín, cửa chính nhìn vào phía tường sau một căn nhà có nền cao ngang mái căn nhà dùng để tiếp Ô-mã-nhi. Rõ ràng những căn nhà này được dựng ven sườn đồi.
Ô-mã-nhi được dẫn vào phía trong, có buồng ngủ và có nến thắp sáng. Y mệt quá thiếp đi. Giấc ngủ chập chờn lúc hiện ra hình ảnh vị hòa thượng và những lời khuyên, lúc thì hàng đoàn đông đúc những người thân thể đỏ lòm máu me, người cụt đầu, người lòi ruột, người mất chân, mất tay và cả những chiếc đầu lâu lăn lông lốc, tất cả đều đòi “Trả mạng ta đây!”…
Ô-mã-nhi vật lộn với giấc ngủ nặng nề khiến y trở nên bơ phờ mệt nhọc. Đang trằn trọc bỗng cửa chính mở toang, ánh sáng ùa vào, Ô-mã-nhi bừng tỉnh, y đã toan ra ngoài để ngắm nhìn trời đất. Tuy vậy, y cũng chỉ được ngắm một khoảng trời hẹp đóng khung bởi hai nếp nhà.
Những người hầu trong phủ Hưng Đạo bê vào cho Ô-mã-nhi một khay gồm hai bát trà nóng có nắp đậy. Vừa mở nắp bát trà, một mùi hương quen thuộc xộc vào mũi, khiến y vô cùng kinh ngạc, cầm chiếc muôi dừa nhỏ xíu khuấy bát trà lên, Ô-mã-nhi nhận thấy trong đó có trà nghiền thành bột đun với gạo thơm, lại có cả mùi gừng, mùi vỏ cam, mùi hành khô cùng với chất sữa trắng đục.
Ô-mã-nhi băn khoăn không hiểu tại sao Hưng Đạo lại biết được cách pha hãm trà của người Mông Cổ mà thết ta như thế này. Y bê bát trà lên hít hà hương thơm rồi lấy thìa múc vài giọt một, như thể nếm lại mùi vị quê hương. Khi uống hết một bát trà, hình ảnh quê hương và những ngày tuổi trẻ trên thảo nguyên bao la cùng với bạn bè trong mùa chăn thả ngựa và cừu, khiến Ô-mã-nhi nhớ đến mùi cỏ thơm, mùi sữa ngựa và những cánh đại bàng chao liệng trên bầu trời thăm thẳm xanh. Có nhẽ trong quãng đời mà y cho là đẹp nhất lại ở những mùa xuân với đồng cỏ xanh trải rộng tới chân trời, những đàn ngựa, đàn cừu như những đám mây trắng, mây hồng đang di chuyển, trong đó bạn bè và những chú chó chăn cừu gọi nhau, liên hệ với nhau bằng những tiếng tù và vang vọng khắp thảo nguyên.
Uống trà và ăn sáng xong có người báo cho Ô-mã-nhi biết, một khắc canh nữa y sẽ được Hưng Đạo vương cho tiếp kiến.
Bữa nay Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương vận theo kiểu đạo sĩ. Trên đầu ông quấn chiếc khăn vàng trùm lên búi tó phía sau gáy. Chiếc áo dài màu vàng, tay và nách đều rộng, ngang bụng được thắt hờ bởi một dải đai màu vàng có đính những hạt hồng ngọc, bích ngọc nhỏ li ti.
Từ sau khi thắng giặc một cách oanh liệt, quét sạch giặc ra khỏi bờ cõi, Hưng Đạo thấy trong lòng thư thái, bởi thế nước trở nên vững chãi, giặc không thể không kiêng nể ta. Và nếu như Hốt-tất-liệt có mưu toan xâm chiếm ta một lần nữa thời cũng không dễ gì động binh được trong vòng vài ba năm tới. Chính vì thế mà trong ông có sự ung dung tự tại. Nom gương mặt Quốc công như nhuận sắc hẳn ra. Da dẻ hồng hào, mắt sáng. Chòm râu dài bạc trắng và sóng như cước thả trước tấm áo thụng màu vàng, nom Quốc công có dáng của một tiên ông đạo cốt. Ông ngồi trước án thư thong thả mở từng trang nhật ký mà ông hướng dẫn cho Trương Hán Siêu ghi chép về trận đánh Bạch Đằng từ khi nó còn chửa manh nha tới khi kết thúc hoàn toàn thắng lợi khiến ông hài lòng. Cả chục vạn quân giặc, không một tên nào chạy thoát. Và hơn sáu trăm chiến thuyền đều bị diệt và bị bắt hết.
Quốc công đang mải đọc, Phạm Ngũ Lão và Chiêu Văn vương dẫn Ô-mã-nhi vào. Vừa nhác thấy Trần Hưng Đạo, Ô-mã-nhi dừng lại vẻ như sửng sốt về người đã hai lần đánh bại y. Lần thứ nhất suýt bị bắt cùng với Toa-đô năm Ất Dậu, còn lần này thì hết thảy đạo quân của y đều lọt vào tay một ông già ngồi kia, vẻ ung dung thư thái như một bậc tiên thánh. Quả nhiên y không thể hình dung đối thủ của y, một bậc trí tướng phi phàm lại ẩn trong một cốt cách ung dung nhàn tản như một nho sĩ, một đạo sĩ như thế kia.
Để cho Ô-mã-nhi chiêm ngưỡng Hưng Đạo một thoáng, Trần Nhật Duật lên tiếng:
- Bẩm huynh trưởng, tù binh Ô-mã-nhi được vương cho phép đã tới.
Hưng Đạo xoay người ra phía cửa thấy Ô-mã-nhi chăm chú nhìn mình. Ông nhướng mi dõi thần nhãn vào đôi mắt ti hí như mắt lươn của tên tướng giặc to béo kềnh càng như một cơn trâu đực mộng. Ô-mã-nhi không chịu nổi ánh mắt và cái uy toát ra từ vị tướng đã hai lần làm y ngã ngựa khiến y phải cúi mặt xuống.
Hưng Đạo nhìn Chiêu Văn vương và mỉm cười thân mật hỏi:
- Đệ cùng Ngũ Lão giải y đến gặp ta sao? Đã bảo ta không muốn tiếp tên ác tặc này kia mà.
- Huynh trưởng, đệ cũng chỉ muốn phanh thây xé xác nó, nhưng ngày nào nó cũng lải nhải xin gặp huynh trưởng. Vì vậy thượng hoàng bảo: “Thôi thì trước khi nó chết cho nó được toại nguyện, nói anh Quốc Tuấn bố thí cho nó một lần”. Vả lại nó cũng gở mồm nói ra: “Dù có chết mà được nhìn thấy dung nhan người đã đánh bại mình cũng là sự mãn nguyện”.
- Đệ và Ngũ Lão ngồi tạm vào hai chiếc đôn này, còn nó không được phép. Nó nói được tiếng Hán, đệ bảo nó cần gì thì cứ hỏi, nhưng ta chỉ tiếp nó có nửa khắc thôi.
Khi Trần Nhật Duật nói lại với Ô-mã-nhi điều đó, xem ra y rất vui vẻ và có phần hãnh diện nữa.
Ô-mã-nhi cúi đầu chào theo kiểu người Hán. Trần Hưng Đạo vẫy tay cho y bình thân.
Ô-mã-nhi nói giọng lí nhí như người có mặc cảm lỗi lầm, cũng có thể y còn e ngại. Nhưng sau giọng y cứ to dần lên rồi oang oang đúng với tính cách của dân du mục thảo nguyên:
- Có phải chính ngài đã hai lần đánh bại đội quân khổng lồ của thiên triều, cũng là hai lần đánh bại tôi?
- Đó là sự thật hiển nhiên sao còn phải hỏi.
- Trước khi đánh An Nam, các tướng Mông Cổ chưa từng biết đến thua trận.
- Quân xâm lược Mông-Nguyên chỉ thua ở Đại Việt, đó cũng là điều hiển nhiên.
- Tại sao nước Tống đất đai rộng gấp năm, sáu chục lần, dân Tống cũng nhiều gấp mấy chục lần dân An Nam mà chúng tôi bình Tống dường như không gặp trở ngại nào đáng kể như chúng tôi đã gặp ở An Nam.
- Đó là bài học mới, các người cần phải học.
- Thật tình tôi vẫn chưa hiểu, chưa lý giải được vì sao đại Nguyên là một quốc gia hùng mạnh, một đế quốc mênh mông không giới hạn, tướng lĩnh tài ba chưa từng biết đến thất bại cùng với đội quân khổng lồ thiện chiến, một đạo quân như thế mà lại không thắng nổi Đại Việt chỉ bé bằng cái bàn tay là cớ làm sao?
Trần Hưng Đạo nhìn thẳng vào mặt tên tướng Mông Cổ đã hai lần đại bại cười khẩy và thong thả nói:
- Đó là điều bí ẩn trong binh pháp giữ nước của Đại Việt ta, kẻ thù sao hiểu nổi. Và không một kẻ thù nào hiểu nổi dân tộc ta đâu. Quân thù càng tiếp tục xâm lược nước ta, lại sẽ càng thua. Trận thua sau đau hơn trận thua trước. Đó là bài học ta cho không các ngươi đấy.
Ô-mã-nhi cảm thấy khiếp phục người mà y khao khát được diện kiến. Những điều cần biết về vị tướng này và binh pháp của ông ta hóa ra còn bí ẩn hơn cả trước khi ta được biết về ông.
Phạm Ngũ Lão đứng lên giục:
- Đã hết giờ đại vương tiếp kiến.
Ô-mã-nhi giơ tay:
- Cho tôi nói một câu cuối cùng.
- Được! - Hưng Đạo đáp.
- Thiên triều thế thiên hành đạo, là một nước hùng mạnh nhất gầm trời, nước nào chống cự không phục thì nước ấy không khỏi bị diệt vong.
- Kẻ nào ưa chinh chiến ắt vong quốc. - Hưng Đạo nói dõng dạc.
Các tướng lại dẫn Ô-mã-nhi xuống thuyền. Bây giờ là một chiếc thuyền lớn hơn trong đó gồm cả vợ con thê thiếp của y được Đại Việt tha cho về nước. Nhưng số phận Ô-mã-nhi như đã được trời định, đêm ấy thuyền xuôi về tới Bạch Đằng vấp phải dải đá ngầm trên Ghềnh Cốc. Thuyền chìm, các thủy thủ Đại Việt chỉ cứu được vợ con thê thiếp của Ô-mã-nhi, còn y bị chết ngạt dưới đáy sông, mãi gần trưa ngày hôm sau mới tìm thấy xác. Vợ con y bằng lòng chôn xác y trên bờ sông Bạch Đằng nơi đã xảy ra trận huyết chiến khiến toàn quân của y bị chết và bị bắt. Không biết Ô-mã-nhi bị chết vì thân xác y quá to béo, y lại không biết bơi hay còn bởi các oan hồn thuộc đám quân Nguyên đã vì y thúc bách mà tử trận nên dìm chết y, buộc y phải nằm lại, phải mãi mãi là một hồn ma lạc loài trên khúc sông mà y đã gây biết bao tội ác và chuốc lấy tiếng ô nhục tới muôn sau trong cuộc đời làm tướng giặc.
Thời hậu chiến, biết bao việc phải làm. Nhà vua trước hết tha tô thuế nhiều ít do sự thiệt hại của từng vùng, lo cứu đói, lo làm tiếp các mùa vụ để ổn định đời sống và cũng là ổn định nhân tâm. Tiếp đó, vua ban chiếu khen thưởng công trạng cho các công thần trong cả hai lần kháng giặc. Ai lập được công lao xuất sắc thì cho chép vào sách Trung hưng thực lục và sai vẽ tượng để lưu lại cho đời sau.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương dâng biểu xin giảm bớt số quân của triều đình và quân của các vương hầu, nhưng phải tinh luyện số quân còn lại cho thật thiện xảo. Số điền binh đã tập trung cho hết về quê quán làm ruộng, nhưng phải giữ nghiêm chế độ luyện tập của các nông phu theo chính sách ngụ binh ư nông như từ trước đã làm. Vua y cho.
Hốt-tất-liệt vẫn giương đông kích tây làm ra vẻ động binh đánh Đại Việt cốt gây sức ép đối với ta, chứ thực ra y không có khả năng làm tiếp một cuộc chiến tranh như thế nữa.
Vài năm sau Hốt-tất-liệt (Nguyên Thế tổ) chết, con Hốt-tất-liệt lên ngôi tức Nguyên Thánh tông xuống chiếu bãi bỏ việc Nam chinh.
Từ đấy nước ta vừa ổn định để xây dựng lại đất nước, vừa củng cố binh bị, nhưng nhà Nguyên thì ngày càng khốn đốn đối phó với các cuộc nổi dậy của dân chúng Trung Hoa.
Hưng Đạo vương tiến cử Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu về triều, cũng như trước đây ông đã tiến cử Trần Thì Kiến, Phạm Lãm, Ngô Sĩ Thường… là các gia tướng, gia thần của phủ Hưng Đạo cho triều đình, và họ đều trở thành những người hữu dụng cho nước. Trước khi về kinh sư, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu xin với Hưng Đạo cho đi một vòng từ Bình Than xuôi Bạch Đằng ra tới Vân Đồn. Hưng Đạo dặn khi qua bến Rừng, nhớ tìm lại một lần nữa bà lão hàng nước để tạ ơn. Khi thuyền vừa tới khu vực sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu bỗng thấy lòng rung động, ông nói với Phạm Ngũ Lão dừng lại đi khắp các địa điểm diễn ra trận đánh đẫm máu, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đạo quân thủy lớn nhất của giặc. Nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy quán nước và bà lão hàng nước. Đêm về cắm thuyền nghỉ tại cửa sông Chanh, nằm nghe tiếng sóng biển vọng vào, tiếng sóng biển lao xao khiến Trương Hán Siêu không thể nào ngủ được. Cảnh huyết chiến trên khúc sông này mấy năm trước như bừng sáng trong óc não ông rõ mồn một như sờ nắm được, lòng đầy thi hứng Trương Hán Siêu lấy bút giấy ra ngồi trước sạp thuyền ngắm nhìn trăng sao, nhìn dòng sông cuồn cuộn chảy, khiến ông có cảm giác từ khi nước mình đánh tan quân giặc dữ, thời núi sông của ta cũng trở nên rạng rỡ hơn, mỹ lệ hơn và ông phóng bút viết một mạch bài: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG.
PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG
P
HÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG [87]
Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió khơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu giang, Ngũ hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người qua, đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều,
Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
Qua cửa Đại Than ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng, nổi trôi mặc chèo.
Lớp lớp sóng kình muôn dặm,
Xanh xanh đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc: phong cảnh ba thu.
Bờ lau xao xác: bến lách đìu hiu.
Sóng chìm giáo gãy: gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm: đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Mà nay dấu vết luống còn lưu.
Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở cầu.
Có kẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau,
Vái ta mà thưa rằng:
“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô-mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.
Đương khi:
Muôn đội thuyền bày: rừng cờ phấp phới.
Hùng hổ sáu quân: giáo gươm sáng chói.
Thắng bại chưa phân: Bắc Nam lũy đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp hoại.
Kìa Tất-liệt thế cường; Lưu Cung chước dối.
Nó tưởng rằng:
Phen này một trận gieo roi,
Quét sạch nước Nam bốn cõi.
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người, hung đồ hết lối.
Khác nào:
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Bến Hợp Phì giặc Bồ Kiên lát giây chết rụi.
Đến nay nước sông tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi!
Tái tạo công lao muôn đời ca ngợi”.
Tuy nhiên,
Từ có vũ trụ;
Đã có giang san.
Thật là:
Trời đất đặt ra nơi hiểm trở;
Bậc anh hào tính cuộc tồn an.
Hội nào bằng hội Mạnh tân, như vương sư họ Lã;
Trận nào bằng trận Duy Thủy, như quốc sĩ họ Hàn.
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi Đại vương xem thế giặc nhàn.
Tiếng thơm còn mãi: bia miệng không mòn.
Khách chơi sông chừ ủ mặt;
Người hoài cổ chừ lệ chan,
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh.
Khách nối lời mà ca rằng:
Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thăng bình,
Tại đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.
KẾT THÚC
Khi về tới Vạn Kiếp, Trương Hán Siêu dâng bài phú này lên Trần Hưng Đạo. Đọc tới đâu nét mặt vị Quốc công bừng sáng tới đó. Đọc xong toàn bài Hưng Đạo bèn đứng dậy vái Trương Hán Siêu một vái và nói:
- Vậy là ta đã tiến cử cho triều đình thêm được một người tài nữa.
Hán Siêu kinh sợ trước cử chỉ của Quốc công liền sụp lạy, tạ ơn.
Hưng Đạo lại nói:
- Ta đồ rằng Hán Siêu không chỉ là danh sĩ của thời nay, về triều hãy gắng góp phần làm rạng danh đất nước cho xứng với hương thơm của bậc quốc sĩ.
Kết thúc vào giờ Thân ngày Giáp ngọ 30 tháng chạp Kỷ Sửu
(Ngày 13 tháng 2 năm 2010)
CHÚ GIẢI:
[1] Lệ xưa, sau khi thắng giặc phải làm lễ hiến phù để cáo yết sự thắng giặc ở nhà Thái miếu. Trong đó có việc chém tù binh và lấy máu giặc rửa binh khí.
[2] Ải Lão Thử: còn có tên gọi là ải Chi Lăng.
[3] Bình Lệ Nguyên nay là khoảng Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.
[4] Tương đương Bộ trưởng bộ quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh quân đội ngày nay.
[5] Ông nội (Trần Cảnh - Trần Thái tông) của vua Nhân tông và cha của Quốc Tuấn (Trần Liễu) là hai anh em ruột. Vì vậy vua Nhân tông phải gọi Hưng Đạo vương bằng bác. Ngoài ra nhà vua còn lập con gái của Hưng Đạo làm hoàng hậu.
[6] Năm Giáp Thân (1284) có cuộc đại duyệt toàn quân ở bãi Đông Bộ Đầu. Sự việc Quốc Tuấn tắm cho Quang Khải trước quân sĩ khiến mọi người yên tâm hai ông đã giũ bỏ tị hiềm.
[7] “Sát Thát” là giết quân Thát-đát, tức quân Mông Cổ xâm lược.
[8] Thanh dã: tức là kế vườn không nhà trống để giặc tới không có nơi trú ẩn, không có lương thực, thực phẩm mà ăn. Kế này mới chỉ xuất hiện trong cuộc kháng Nguyên lần thứ hai (1285).
[9] Luật lệ nhà Trần hễ ai theo giặc đều bị trị tội và tịch thu gia sản. Người trong hoàng tộc thì bắt phải đổi sang họ khác, riêng Ích Tắc là con vua nên không nỡ bắt phải đổi họ, nhưng xếp ngang với đàn bà nên gọi là “Ả”.
[10] Sông Rừng là tên gọi đoạn sông Bạch Đằng tại quãng rộng nhất bởi hai bên tả hữu ngạn đều là rừng rậm, nhất là phía tả ngạn thuộc đất Quảng Yên vốn là rừng đại ngàn. Tên gọi đó còn dùng tới ngày nay: bến Rừng, đò Rừng.
[11] Mũi Ngọc Sơn thuộc châu Vạn Ninh nay là Trà Cổ - Móng Cái.
[12] Tháp Sơn tức vùng Đồ Sơn, Hải Phòng ngày nay. Tại đó trên một ngọn núi cao 98m vua Lý Thánh tông cho dựng chùa và ngọn tháp Tường Long vừa là nơi vọng Phật vừa là nơi quan sát động tĩnh biển xa.
[13] Canh năm khoảng từ 3 đến 5 giờ sáng.
[14] Tước Trần Thái tông truy phong cho Trần Thủ Độ sau khi ông qua đời.
[15] Tức là vùng Cửa Ông thuộc Bái Tử Long ngày nay - nơi Trần Quốc Tảng trọng trấn.
[16] Cửa biển vào sông Bạch Đằng (sông Rừng). Cửa Văn Úc ngày nay.
[17] Đại An nay thuộc xã Quần Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
[18] Hồ Quảng tức là Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây lúc này thuộc về nước Nguyên do người Mông Cổ thống trị.
[19] Lê Phụng Hiểu người làng Cổ Bi, hương Băng Sơn thuộc Châu Ái có sức khỏe hơn người, mỗi bữa có thể ăn hết mấy đấu gạo và nhổ tre trong bụi làm gậy đánh nhau. Ông có công giúp Lý Thái tông dẹp loạn Tam vương năm Mậu thìn (1028).
[20] Mỗi sải tay tương đương 1 mét. Với mớn nước này như ngày nay, tàu từ 5 đến 10 vạn tấn có thể ra vào được.
[21] Đại Đô thế kỷ 13 của nhà Nguyên tức Yên Kinh cũ của nhà Tống và Bắc Kinh sau này của các nhà Minh, Thanh, Trung Hoa dân quốc và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
[22] Phao-lồ - là tên mà Hốt-tất-liệt gọi Marco Polo một thương nhân và là nhà thám hiểm người Ý đi theo “Con đường tơ lụa” (Route de la soie) ở lại triều đình của Hốt-tất-liệt mười sáu năm, khi về Ý có viết lại nhiều chuyện về nhà Nguyên trong cuốn “Livre de Marco Polo”.
[23] Nghĩa là: giết một người khiến cả vạn người khiếp sợ.
[24] Vua tôi nhà Nguyên thường gọi hai vua Trần (Thánh tông và Nhân tông) một cách hỗn hào là “cha con Nhật Huyên”.
[25] Tống Huy tông (1101-1109) được mệnh danh là một vị hoàng đế nghệ thuật của nhà nam Tống. Ông đam mê vẽ tranh quên cả việc trị nước (theo Wikipedia thì Tống Huy tông trị vì từ 1100 đến 1126 – Caruri).
[26] Ý nói mới gặp nhau lần đầu mà tình như đã từ xưa.
[27] Giặc vào theo đường sông Hồng từ Lào Cai (xưa gọi là trại Quy Hóa).
[28] Sông Đuống ngày nay.
[29] Chuyện này xảy ra từ thời Chiến Quốc ở nước Tàu. Kể rằng Sở Chiêu vương chạy loạn ra nước ngoài có người làm thịt dê tên là Duyệt đi theo. Sau Chiêu vương về nước, thưởng cho Duyệt. Duyệt từ chối không nhận và tâu rằng: Nhà vua mất nước, tôi không được mổ dê, nay nhà vua về nước, tôi lại được làm nghề mổ dê, tước lộc thế là đủ, còn thưởng gì nữa.
[30] Chính là cửa Hải Triều nơi gặp gỡ giữa sông Luộc và sông Hồng, nơi có đường thông ra biển.
[31] Từ cổ xưa Việt Nam đã có phong tục kính trọng người già, khai thác kinh nghiệm và trí tuệ của người già. Dân gian có tục ngữ: “Gừng càng già càng cay, người già lắm mưu”. Vì vậy từ xa xưa trong các hương ấp có một tổ chức gọi là Hội đồng Tứ Toát (tương tự ngày nay là Hội đồng cố vấn) gồm bốn lão ông có đạo đức và có tri thức nhất trong hương ấp tuổi từ 50, 60, 70, 80. Tuổi cao nhất là Toát nhất. Cụ Toát nhất giữ chức chánh làm tư vấn cho cả Hội đồng, Toát nhì, Toát ba là hai cụ thay nhau thường trực, Toát tư là chân chạy của Hội đồng. Khi nào cụ Toát nhất viên tịch thì đôn các cụ kế tiếp lên và chỉ chọn bầu bổ sung cụ Toát tư.
[32] Lời chiếu này có ghi trong Nguyên sử. Trích theo bản An Nam chí lược của Lê Tắc, quyển hai. Nguyên văn:
“Đại Nguyên chiếu chế
Trung thống Nguyên niên thập nhị nguyệt sơ tam nhật, Thế tổ Thánh đức thần công văn võ Hoàng đế chỉ dụ An Nam quốc… Dụ nhĩ quốc quan liêu sĩ thứ, phàm y quan điển lệ, phong tục bách sự, nhất y bản quốc cựu lệ, bất tu canh cải… Trừ giới Vân Nam đẳng xứ biên tướng, bất đắc thiện hưng binh giáp, xâm lược cương trường, náo loạn nhân dân, khanh quốc quan liêu sĩ dân, các nghị an đồ như cố. Cố tư chiếu thị, niêm nghi tri tất”.
[33] Quỳnh Châu tức là đảo Hải Nam ngày nay.
[34] Đấu là đơn vị dung lượng của Trung Quốc. 1 đấu = 10 lít tương đương với 10 kg. Một người gánh 5 đấu gạo tức là gánh khoảng 50 kg đi đường xa rất cực.
[35] Thạch là đơn vị dung lượng của Trung Quốc. 1 thạch = 10 đấu = 100 lít tương đương với 100 kg.
[36] Mộc-hoa-lê phiên âm theo Hán tự. Tên Mông Cổ là Mugali (Mu-kha-li). Y là một viên tướng tâm phúc của Thành-cát Tư-hãn (ông nội của Hốt-tất-liệt) có công lớn trong việc đánh chiếm miền đông bắc Trung Quốc.
[37] Thoát-hoàn Bất-kha tên Mông Cổ là Tô-gan Bu-kha (Toyan Buga).
[38] Tất cả những điều Áo-lỗ-xích nói về quân ta phần nhiều sai sự thật. Y nói vậy cốt để làm đẹp lòng Hốt-tất-liệt. Về số quân, năm Ất Dậu (1285) khi chuẩn bị phản công giặc, riêng bốn người con trai của Hưng Đạo vương đã điều khiển hai mươi vạn quân.
[39] Theo cách gọi dân gian thì tháng một là tháng 11. Còn tháng đầu năm gọi là tháng giêng.
[40] Bạt-đô: tiếng Mông Cổ có nghĩa là dũng sĩ.
[41] Nay là Ba Chẽ thuộc Quảng Ninh.
[42] Nghĩa là: Đây là cửa quỷ, một trăm người qua mới có một người trở về.
[43] Quân tân phụ là quân các tỉnh miền nam Trung Quốc.
[44] Cửa Lãnh Kinh nằm trên tuyến đường Sông Cầu hiện nay.
[45] Một loại nỏ bắn nhiều mũi tên một lúc.
[46] Sông Bình Giang tức sông Chũ thuộc huyện Lục Ngạn, Bắc Giang.
[47] Tam Đái giang chính là nơi gặp gỡ ba dòng sông sông Thao, sông Đà và sông Lô.
Tam Đái giang cũng chính là ngã ba Bạch Hạc.
[48] Dặm xưa tương đương 500 m.
[49] Một giờ cổ xưa bằng hai giờ ngày nay.
[50] Giờ tuất khoảng từ 19-21 giờ.
[51] Giờ hợi từ 21-23 giờ.
[52] Giờ thân từ 15-17 giờ.
[53] Giờ dậu từ 17-19 giờ.
[54] Một khắc bằng ¼ giờ thời cổ tương đương với 30 phút.
[55] Một tên khác của sông Hồng.
[56] Giờ sửu tương ứng từ 01-03 giờ.
[57] Giờ dần tương ứng từ 03-05 giờ.
[58] Tên lửa còn gọi là tên bùi nhùi. Cấu tạo gồm diêm tiêu trộn với bùi nhùi (bùi nhùi là loại mùn rơm rạ dễ cháy), khi mũi tên cọ xát với vật rắn sẽ xiết ra lửa và bốc cháy. Giặc rất sợ loại tên này của quân ta.
[59] Hà Bá là thần đứng đầu trong các loài thủy tộc và thủy quái.
[60] Mũ đan bằng sợi mây chuốt nhỏ.
[61] Quảng Yên ngày nay.
[62] Thái Bình, Nam Định ngày nay.
[63] Khác với châu Âu, dặm biển và dặm bộ của ta thời cổ không phân biệt. Mỗi dặm xưa khoảng từ 400-500m. Dặm của nhà Thanh là 300 m.
[64] Từ Khánh, phó tướng của Trương Văn Hổ, y chạy thoát được trên chiếc thuyền lương của mình, nhưng dạt mãi tới đất Chiêm Thành rồi sau mới tìm đường về Quỳnh Châu thì chiến tranh đã kết thúc.
[65] Phí Củng Thìn cũng là phó tướng của Trương Văn Hổ, y xuất phát hơi muộn nên gặp bão, loay hoay mãi rồi cũng dạt vào Quỳnh Châu.
[66] Tích-lệ-cơ vương là anh em họ với Hốt-tất-liệt (cha của Thoát-hoan). Xưa trong nhiều sách thường gọi người này là Tích-lệ-cơ Ngọc. Sự thật do một bản in nào đấy nhòe mực có thêm một chấm đã biến chữ vương thành chữ ngọc.
[67] Sông Cái là sông Hồng. Dòng sông này gọi tên theo địa danh từng vùng. Sông Hồng chỉ là tên gọi do người Pháp thấy dòng nước phù sa đỏ nên trên bản đồ địa lý họ ghi Fleuve Rouge (nghĩa là Sông Hồng).
[68] Kỵ binh Mông Cổ thường được trang bị hai loại cung tên. Cung nhỏ bắn các mục tiêu ở gần, cung lớn bắn các mục tiêu ở xa, họ thường vừa phi ngựa vừa bắn cung.
[69] Có nghĩa là:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Cõi bờ đã định tự sách trời
Cớ chi quân giặc sang xâm lược?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
[70] Có nghĩa là tuân theo mệnh trời thì tồn tại, cưỡng lại mệnh trời thì bị tiêu diệt. Mệnh trời ngày nay ta hiểu là quy luật của tạo hóa.
[71] Điện Chí Kính là nơi thờ tổ tiên từ năm đời trở xuống.
[72] Nhà Thái miếu là nơi thờ từ thủy tổ dòng họ trở xuống.
[73] Điện Thiên An là cung điện lớn nhất khởi dựng từ thời nhà Lý (1010) dùng làm nơi thiết triều.
[74] Độ dài mỗi thép mai chừng 0,35 - 0,40 m.
[75] Nghi Dương, nay thuộc vùng Kiến Thụy, Hải Phòng.
[76] Tháp dựng trên đỉnh núi có tên Mẫu Sơn do vua Lý Thánh tông cho xây cất vào năm 1057, theo thơ cổ để lại thì ngọn tháp cao tới 9 tầng, dựng trên ngọn núi có độ cao 91,7 m so với mặt biển, nay thuộc phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
[77] Nghĩa là cách xa một trăm bước chân vẫn bắn trúng chiếc lá liễu.
[78] Truyền thuyết Đường Minh Hoàng mơ lên chơi cung trăng.
[79] Nguyên văn câu ngạn ngữ Trung Hoa: Tam thập lục kế tẩu vi thượng sách. Trong 36 kế thì chạy trốn là hơn cả.
[80] “Núi cùng biển độc, Giao Châu là nơi vực sâu bụi rậm dày dặc sương mù, hơi độc xông lên làm cho diều quạ đang bay bị rơi xuống; khí ẩm thấp theo gió tràn lan làm cho người sinh bệnh, cơ hồ không phải một cảnh giới có người, tuy có lấy được hết toàn cõi cũng không ích gì cho thiên hạ”.
[81] Đây là vùng đất thuộc hai huyện Kinh Môn, Kim Thành (Hải Dương), hai sông Kinh Thầy và sông Thái, một xuôi Bạch Đằng, một xuôi về cửa Đại Bàng.
[82] Truyện xưa kể một người có thanh kiếm quý, anh ta ngồi bên mạn thuyền chẳng may thanh kiếm tuột ra khỏi vỏ rơi xuống sông. Anh ta liền đánh dấu vào mạn thuyền chỗ thanh kiếm trượt rơi. Lúc thuyền tới bến, anh ta chiếu theo chỗ đánh dấu nhảy xuống nước mò kiếm.
[83] Nơi gò đó nay vẫn còn dấu tích thuộc làng Trung Bản huyện Yên Hưng thuộc lộ An Bang thời Trần. Sau đổi là Quảng Yên nay thuộc Quảng Ninh. Chính nơi đây dân lập đền thờ Trần Hưng Đạo và tạc bức tượng ngài xõa tóc dài đến tận lưng. Đây là bức tượng Trần Hưng Đạo duy nhất có mớ tóc dài buông sau lưng.
[84] Từ việc này, những người lính ở xa chỉ nhìn thấy tên phù thủy bị chém, thân đổ xuống phụt ra máu trắng. Cũng từ đấy người ta thêu dệt tên này có phép chém đầu ấy nó mọc ra đầu khác, và cái tên Phạm Nhan cũng mọc ra từ truyền thuyết của dân gian.
[85] Tích-lệ-cơ nhắc đến cuộc xâm lược Nhật Bản đại bại năm Tân Tỵ (1281) đã có chú thích ở phần trước.
[86] Bản in thiếu từ in nghiêng - Caruri.
[87] Người dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên. Trong bài phú có các tên đất, tên người thuộc nước Trung Hoa, tác giả mượn làm điển tích cho thêm phần súc tích như: Ngũ hồ, Cửu giang, Tam Ngô, Bách Việt, Duy Thủy, Xích Bích, Hợp Phì… Tử Trường, Bồ Kiên, Lưu Cung… tưởng không cần chú thích độc giả cũng tự hiểu được.
NGOÀI LỀ
Trong tập tiểu thuyết Huyết chiến Bạch Đằng, ông Hoàng Quốc Hải đã đi suốt năm chuyến điền dã tìm kiếm chất liệu và cảm xúc để viết. Ông chèo thuyền ra tận bãi cọc xưa, rồi lần mò nhiều ngày ở hai bờ sông.
Nhà văn còn vào quân cảng hiện ở Vân Đồn, tìm hiểu mực thủy triều cho đoạn mô tả chiến trận. Vị chỉ huy ngần ngại không muốn thông tin. Ông Hoàng Quốc Hải nói thẳng: “Anh giấu thì người Trung Hoa, người Pháp đã biết lâu rồi và tôi cũng có thể tìm thông tin được. Tôi chỉ muốn biết thực tế để viết chính xác lịch sử cha ông oai hùng, chứ không ý gì”.
Sau đó, đích thân vị chỉ huy này dẫn nhà văn đi đo thủy triều. Và ông phát hiện đây có thể chính là quân cảng của các danh tướng nước Việt xưa từng đánh bại kẻ thù phương Bắc.
Điền dã sáu tháng ở chiến trường Bạch Đằng, ông về nhà viết ròng rã suốt sáu tháng đến 16g ngày 30 tết thì hoàn tất Huyết chiến Bạch Đằng.

8/10/2020
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...