Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Huyết chiến Bạch Đằng 3

Huyết chiến Bạch Đằng 3

CHƯƠNG 11
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải dẫn một vạn quân tăng viện cho mặt trận Vân Đồn, đi đường tắt từ Đông Triều ra trú tại Hoành Mô nằm bên tả ngạn bờ sông Trới. Con sông này ăn ra Cửa Lục; thuyền bè lương thực đều đã đưa về đó từ trước.
Được tin có viện binh của Trần Quang Khải, phó tướng Nhân Huệ vương liền viết thư tạ.
Thư rằng: Kính gửi thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương.
Được tin vương tận lòng chi viện, thật là phúc lớn cho vương triều. Đệ đang băn khoăn vùng Cửa Lục chưa có quân chặn giặc. Vậy xin vương trấn cho cửa ải quan yếu này, phòng khi thuyền lương giặc thoát khỏi Vân Đồn chạy về đây, rồi chúng tìm đường vào Bạch Đằng đem lương thực tiếp tế cho Thoát-hoan sẽ gây khó cho quân ta.
Có nhẽ chỉ nay mai binh lương giặc sẽ chạy qua đây, xin vương bắt chúng phải đền tội ác.
Thư nói chẳng hết lời.
Kính bái.
Vậy là Trần Khánh Dư yên tâm. Quân ông đã bài bố các nơi hiểm yếu để đón giặc suốt từ Tiên Yên về đến Vân Đồn và cả vùng Bái Tử Long; từ Bái Tử Long đến Hạ Long đã có quân của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng.
Lại nói Nhân Huệ vương khi tiếp chiếu của triều đình do trung sứ tuyên dụ trước thanh thiên bạch nhật, lại kèm theo cả gông và cũi. Tức là trung sứ sẽ gông cổ phó tướng Trần Khánh Dư rồi tống ông vào cũi vì tội để thua trận, quân tan tác cả một vùng biển đảo lọt vào tay giặc khiến cuộc chiến trở nên cam go.
Tội trạng đó Khánh Dư đã biết từ trước khi trung sứ tới. Ông thụ chiếu, nhưng xin trung sứ về tâu lại với triều đình hãy thư cho ông một thời gian để lập công chuộc tội.
Chiếu vua đã ban xuống, sao có thể cải đổi hay trì hoãn, trung sứ sao có thẩm quyền chấp thuận lời tâu xin tạm hoãn thi hành án của kẻ có tội. Thế mà trung sứ đã chấp nhận lời cầu xin của Trần Khánh Dư. Hẳn là viên trung sứ đã hiểu ý nơi bệ ngọc từ trước khi lĩnh mệnh đi bắt phó tướng Trần Khánh Dư ngoài ải Vân Đồn.
Tại trung quân, Trần Khánh Dư và các tướng đang hoạch định kế sách đánh vào đoàn thuyền tải lương của giặc. Quân thám báo về từng giờ, số thuyền giặc không có gì thay đổi. Tức là có mười chiến thuyền đi trước, mười chiến thuyền đi sau là các thuyền có mớn chở khá nhẹ, tới hai phần ba thân thuyền nổi trên mặt nước. Quân ta ngờ đó là thuyền binh áp tải cho lũ thuyền lương chở rất nặng đi giữa, cả thẩy là tám mươi hai chiếc.
Hai mươi chiếc thuyền quân áp tải, mỗi chiếc có thể chở được từ ba đến bốn trăm quân. Ước tính số quân chiến đấu bảo vệ thuyền lương vào khoảng từ năm đến tám ngàn người. Và mỗi thuyền cỡ ấy có thể tải đến cả ngàn thạch lương.
Phó tướng Trần Khánh Dư liền cho triệu gấp các tướng dưới quyền về hội gồm: Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa, Nhân Đức hầu Trần Đa…
Khi các tướng đã tề tựu đông đủ, Nhân Huệ vương nói:
- Ta có nhời khen các ông, mỗi ông đã đánh thua một trận kiệt xuất. Mỗi người thua một cách khiến giặc không thể ngờ.
Trần Khánh Dư cười sảng khoái, nhìn các thuộc tướng, ông nói tiếp: - Thật tình, đến ta cũng không ngờ rằng các ông mỗi người lại có một cách đánh riêng, cách thua riêng. Giỏi! Các ông giỏi lắm!
- Bẩm, chúng tôi làm được như vậy là do tướng quân thường dạy chúng tôi bằng Hưng Đạo binh pháp. - Tướng Nguyễn Chế Nghĩa nói.
- Nhưng tại sao ông lại chọn được thế đánh độc đáo vậy? - Khánh Dư hỏi.
- Bẩm, ở đoạn trên tướng Nguyễn Khoái đánh trong thế bất ngờ. Tôi không còn lợi thế của Khoái nên chọn chỗ núi có thế như khe sâu, bờ dựng và giặc buộc phải đi qua. Nhờ vào địa hình nên nhàn sức quân mà giặc vừa thua đau vừa lúng túng không thoát ra được, cứ như gà mắc tóc.
- Thế còn Nguyễn Khoái, tại sao chỉ có mấy trăm quân mà ông dám xông vào giữa đám quân hùng hổ đông tới cả chục vạn, đánh và ngừng đều theo ý mình lại không thiệt đến một tên quân.
- Bẩm chủ tướng, quân giặc ỷ thế đông đúc lại đi trong thế liên hoàn trên mặt biển nên chủ quan cho rằng quân ta không dám giao chiến.
Tôi dựa vào hai điều có thể đánh địch: - Một là giặc không ngờ. Tức là đánh vào chỗ bất ngờ của giặc. Hai là dựa vào đêm tối, giặc không biết lực lượng của ta từ đâu đánh tới, cũng không biết quân ta nhiều hay ít. Tới khi giặc biết quân ta ít ỏi chỉ có vài chục thuyền nhỏ, chúng bao vây toan bắt sống. Ấy là lúc tôi cho quân bỏ thuyền, lặn ra ngoài vòng vây rồi bơi về chỗ có thuyền đón. Cả điều ấy nữa, giặc cũng không ngờ tới. Sở dĩ quân tôi làm táo bạo và mau lẹ, là bởi tôi cho thực hành nhiều lần và loại dần những quân thiếu can trường, không giỏi bơi lặn.
- Vậy còn tướng Nhân Đức hầu?
- Thưa chủ tướng, tôi dựa vào lợi thế của địa hình, từ trên cao nhìn thấy giặc từ xa và đánh giặc khi nó vừa mới ló đầu vào vùng biển của ta giữa lúc nhuệ khí nó đang hừng hực. Tôi cho cung thủ khỏe, dùng nỏ cứng bắn vào quân giặc đang hung hăng kiêu ngạo. Và khi thấy chúng cho quân quây lấy chúng tôi thời chúng tôi đã lui quân theo con đường mà giặc không hề biết.
Phó tướng Trần Khánh Dư nhìn các thuộc cấp với vẻ hài lòng, ông nói:
- Đúng là các ông đều biết cách thua khiến tướng giặc đinh ninh rằng quân ta yếu, quân ta nhát tới mức bỏ cả thuyền bè khí giới mà chạy. Vì thế quân ta không đủ sức cản giặc. Vậy là ta đã tạo được mấy lợi thế:
Một là ta đánh vào lúc giặc không phòng bị.
Hai là giặc có muốn đánh ta cũng không biết ta ở đâu mà đánh.
Ba là ta đã lừa được giặc vì ta luôn tỏ ra yếu kém, luôn thua trận, nên nuôi được lòng kiêu ngạo của giặc.
Bốn là ta đã phát lộ ra đoàn vận tải quân lương của giặc không còn được bảo vệ vững chắc như khi nó mới xuất phát.
Năm là hơn mười vạn quân thủy của giặc đều bỏ xa đoàn thuyền lương tới mấy ngày đường. Giả dụ bây giờ có xảy ra điều gì nguy cấp, giặc hết khả năng ứng cứu cho nhau.
Ta có năm điều trên là bởi ta giấu được hình tích. Nay chỉ còn một việc là phải tiêu diệt đoàn thuyền lương khổng lồ này của giặc. Có nhẽ chỉ đêm nay hoặc sớm mai là chúng đi vào địa phận Tiên Yên, cách Cửa Vạn nơi ta đang đóng đại bản doanh chừng hai chục dặm. Vậy ta hỏi kế các ông làm thế nào có thể diệt gọn được chúng để Quốc công hãm đại quân của Thoát-hoan vào thế bị tiêu diệt.
Các tướng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ, Nhân Huệ vương liền giục:
- Thời gian không còn nhiều đâu, ta phác thử vài ý, các ông hãy cùng ta suy ngẫm để tìm ra diệu kế.
Quanh khu vực ta đây có mấy cửa có luồng lạch sâu giặc có thể vào.
Một là cửa Tiên Yên, hai là Cửa Vạn, ba là Cửa Đối. Cửa Tiên Yên vừa nhỏ vừa không có đường vào Bạch Đằng để ngược Vạn Kiếp, coi như giặc không vào cửa này. Còn lại Cửa Vạn và Cửa Đối đều nằm trong khu vực Vân Đồn. Từ đây giặc qua Bái Tử Long vào Hạ Long qua Cửa Lục mà vào sông Bạch Đằng rồi ngược Vạn Kiếp. Vậy theo ý các ông ta nên mai phục thế nào để dìm chết lũ quân lương này?
Tướng Nhân Đức hầu lên tiếng trước:
- Bẩm vương, đám thuyền lương của giặc theo phỏng đoán chúng có khoảng từ năm ngàn đến non một vạn quân bảo vệ. Số quân ấy hẳn chúng vừa tập trung vào các chiến thuyền đi trước đi sau vừa tản về các thuyền lương để hộ vệ. Hiện thời giặc đang tự xem việc vào đất nước ta như đi vào vùng đất vô chủ. Nếu ta tập trung một số quân đủ lớn, đánh bất ngờ có thể diệt gọn cả quân hộ vệ lẫn thuyền lương, xin vương cân nhắc.
Tướng Nguyễn Khoái nói tiếp:
- Tôi nghĩ thuyền giặc chở nặng nên chúng đi rất thưa thoáng vì chúng sợ va đụng vào nhau, bởi vậy nó trải dài tới cả mấy chục dặm. Nếu chúng ta rải quân trên một thế trận kéo dài như vậy e rằng thuyền giặc sẽ chạy tứ tán, ta không thể diệt được nhiều. Chi bằng chia cắt giặc thành từng cụm mà diệt. Nếu diệt được nửa số lương thực của giặc thì cuộc chiến rút ngắn được nửa thời gian, nếu diệt được hoàn toàn số lương thực này thì đại quân của Thoát-hoan không hơn lũ bù nhìn rơm, Quốc công muốn tiêu diệt hoặc muốn đuổi nó về đều khuôn theo ý mình cả.
Nguyễn Chế Nghĩa chăm chú theo dõi những điều Nguyễn Khoái nói. Khoái vừa ngừng lời Chế Nghĩa xin nói:
- Bẩm chủ tướng, tiểu tướng cho rằng kế của tướng Nguyễn Khoái nên dùng. Mạt tướng không có ý gì khả thi hơn hai bậc đàn anh.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư trỏ vào tấm bản đồ treo trên vách nói:
- Thời cơ cướp lương của giặc, cũng tức là triệt lương thực của chúng chưa bao giờ thuận lợi như lúc này. Bởi đại quân thủy bộ của chúng đã kéo hết về Vạn Kiếp. Bây giờ chúng chỉ còn chờ lương thực tới là triển khai thế trận. Ta chắc nó sẽ tiến đánh Thăng Long nay mai.
Bởi vậy, ta thử vạch kế đánh tiêu diệt đoàn quân lương của giặc, các ông nghe, thấy chỗ nào sơ hở phải bổ cứu cấp kỳ.
Đây là cửa Tiên Yên, tướng Nhân Đức hầu lĩnh năm ngàn quân với thuyền bè đầy đủ khi thấy thuyền giặc đi qua quá nửa thì xông ra đánh chia cắt giữa đám thuyền hộ vệ và thuyền lương. Khi ấy thì toán quân đi đầu của giặc tới ngang Cửa Vạn, giặc có thể lấy Cửa Vạn vào Vân Đồn rồi qua Bái Tử Long, Hạ Long, Cửa Lục tiến vào Bạch Đằng. Ta sẽ phục năm ngàn quân ở đây đánh vỗ mặt cánh quân hộ vệ này. Khi quân hộ vệ giao chiến thì Nguyễn Chế Nghĩa đã phục sẵn năm ngàn quân cùng thuyền bè khí giới phía ngoài để đánh tạt sườn đoàn thuyền lương. Như vậy ta chặn đầu, chặn đuôi và tạt sườn buộc chúng phải đi vào Cửa Vạn. Nếu chúng chui vào Cửa Vạn thì ta đủ sức tiêu diệt tới ba vạn quân thủy của giặc, và các thuyền lương không bị đắm trong lúc giao tranh ắt bị ta bắt sống và thâu lấy lương thực.
Hai mũi chặn đầu và khóa đuôi giặc đều phải dùng nỏ liên châu và tên bùi nhùi bắn cháy hết buồm của giặc. Phải nhanh chóng đánh gục đám quân hộ vệ này thì việc bắt thuyền lương của giặc sẽ bớt khó khăn. Tuy nhiên, quân của Nguyễn Chế Nghĩa phải dùng nỏ liên châu bắn tên bùi nhùi, diêm tiêu đốt cháy một số thuyền lương. Khi có ngọn lửa bốc lên, giặc sẽ hoảng loạn. Ta giả định, nếu giặc lọt vào trận địa ta vào buổi trưa hoặc non chiều, thời ta có thể tiêu diệt chúng như ta mong muốn. Ngược lại, nếu chúng tới đây vào lúc đêm tối, có thể chúng sẽ chạy tứ tán ra biển khiến ta khó bề truy đuổi.
Nhân Huệ vương ngừng lời, ông nhìn các tướng xem họ có đồng tình hay phản bác cái kế ông vừa đưa ra.
Nhân Đức hầu Trần Đa gương mặt tươi rói, ông thầm vui bởi chủ tướng hoạch định kế bại giặc trong đó có dụng đến kế của ông. Trái lại Nguyễn Khoái mặt đỏ gay, xin nói:
- Bẩm vương, Khoái này là đồ bỏ hay sao mà không thấy chủ tướng sai bảo.
- Không phải không có việc cho tướng quân, nhưng ta còn phải cân nhắc, bởi ta e hơi quá sức ông, vì việc này lớn lắm.
Với vẻ quả quyết, Nguyễn Khoái nói:
- Bẩm vương, dời núi lấp biển quả là ngoài tầm với của Nguyễn Khoái, còn như đánh giặc thì đúng là việc của mạt tướng đấy, xin vương chớ ngại trao việc khó cho Khoái.
- Vậy thì Nguyễn Khoái nghe lệnh: - Tướng quân lĩnh một muôn quân, thuyền bè, khí giới đầy đủ, một nửa phục trước Cửa Đối, nếu thuyền lương của giặc có ý định không vào Cửa Đối mà tìm đường đi thẳng vào cửa An Bang thì tấn công kịch liệt, buộc nó phải chui vào Cửa Đối. Một phần quân phục ở đây đánh phủ đầu nó. Một phần phục rải ra trên nhiều đoạn Sông Mang, đánh cho nó tan tác. Chắc sẽ có một ít thuyền sống sót chạy vào Bái Tử Long, ở đó đã có tướng Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Kẻ nào thoát chết ở đây chạy về Cửa Lục đã có Chiêu Minh vương đón đợi.
Nắm chặt hai bàn tay thành hai nắm đấm, cứ như vương đang siết bóp một vật gì ở trong lòng tay, và với vẻ quả quyết Trần Khánh Dư nói: - Trách phận của chúng ta là phải diệt bằng hết không để một thuyền lương nào của giặc lọt được vào tay Thoát-hoan. Kế sách của chúng ta là như vậy, mục đích của chúng ta là như vậy, ý các ông thế nào.
- Xin tuân mệnh chủ tướng! Các tướng đều đồng thanh nói.
Ta quên dặn các ông một điều rằng tướng giặc chỉ huy đoàn quân tải lương này là Giao Chỉ hải thuyền Vạn hộ Trương Văn Hổ. Hổ vốn là con tên cướp biển khét tiếng được tên du mục Hốt-tất-liệt chiêu dụng. Y có biệt tài ném phi tiêu, các ông phải hết sức bảo trọng cho mình và cho binh lính. Trước khi ra quân phải tính toán thật cặn kẽ, để hễ đã đánh là thủ thắng. Phải luôn luôn coi kẻ địch là địch mạnh, chớ có coi chúng là quân tải lương không thiện chiến.
Trong vùng Cửa Vạn này ta chịu trách nhiệm, ta sẽ cố gắng tận thu tối đa lương thực của giặc để nuôi quân mình. Các ông ở chỗ vận động, tranh chấp, ai nhanh hơn, mạnh hơn, dũng hơn sẽ thắng. Trách phận của các ông không phải việc thu lấy lương thực mà là đánh chìm thêm các thuyền lương của giặc, chớ có tham mấy đấu lương mà hỏng việc. Các ông nhớ kỹ nhời ta dặn chưa?
- Dạ nhớ!
- Nên biết, gặp giặc tới ban ngày, đánh ban ngày, giặc tới ban đêm, đánh ban đêm. Đây là thời cơ tốt nhất để các ông lập công. Và nếu không còn gì hỏi, bàn nữa thì các ông về ngay kịp bắt tay vào công việc.
Các tướng cúi chào Nhân Huệ vương rồi ai về trại ấy.
Các trại quân, trại nào trại ấy đều đã sẵn sàng, chỉ chờ có lệnh là lên đường. Quân sĩ thẩy đều háo hức lập công, bởi từ ngày nghe tin giặc đã vào cõi, giặc diễu võ giương oai, thuyền giong, cờ xí rầm rập đi trên vùng biển của ta cứ như đi trong ao nhà của chúng. Trong khi quân ta phải lánh đi, phải nén giận nhìn giặc ngang nhiên lướt qua mặt mình, khiến lòng quân sục sôi căm uất cho nên khi các tướng vừa nói sửa soạn ra trận, hết thẩy quân sĩ đều nức lòng.
Trên vùng biển này quân sĩ ai cũng thuộc nằm lòng từ luồng lạch chỗ nào sâu, nông, chỗ nào có đá ngầm thuyền chỉ đi được vào lúc nước cường, còn khi nước rặc lại phải vòng theo đường khác, lạch khác. Rồi chỗ nào ẩn nấp chờ đánh quân phục… tất thẩy mọi người đều nhập tâm, bởi thường ngày họ phải tuần tra và tháng tháng lại có một cuộc diễn tập. Hơn nữa họ còn là con em của các nhà chài lưới, quanh năm sống bằng nghề lọc nước lấy cái, họ không còn lạ lẫm gì với biển, đảo của vùng này. Dù đã quen thuộc như vậy, nhưng các tướng đều lấy cát rắc thành sa bàn, lập lại mô hình, bố trí đội hình thật là chi tiết, cụ thể. Vị trí từng đô quân, từng người lính ở chỗ nào đều nhận rõ trên sa bàn và tự đối chiếu với mặt biển.
Các tướng gặng hỏi các thuộc cấp không ai còn chút nào hồ nghi, lại hỏi bất chợt những người lính xem họ có nhận ra vị trí của họ là chỗ nào trên sa bàn và ứng với chỗ nào trên mặt biển. Có thể nói, cả vạn người không một ai không thông hiểu nhiệm vụ đánh giặc, không một ai không biết vị trí của mình, công việc của mình trong thế trận sắp diễn ra.
Các tướng cho quân nghỉ ngơi, ăn uống và chuẩn bị thêm một hai bữa nữa để sẵn trên thuyền, phòng khi phải mai phục chờ giặc. Ngay đêm đó các đội binh thuyền đều được đưa tới các vị trí để chiếm lĩnh trận địa.
Sau gần một ngày chờ đợi mãi tới khi mặt trời rơi xuống đỉnh núi thì chiếc thuyền đầu tiên của giặc mới ló vào ngang cửa Tiên Yên. Chiếc thuyền tiên phong của giặc có dáng gọn, nhẹ giương hai lá buồm đỏ thắm, trên đỉnh cột buồm treo một lá cờ có màu hao hao với màu nắng, hẳn nó là màu vàng, loáng thoáng có những chấm đen hoặc đỏ ở xa không nom rõ, chắc đó là mấy chữ Hán hoặc chữ Mông Cổ.
Đang lúc nước triều lên, gió thổi mạnh hơn nên thuyền giặc cũng đi nhanh hơn. Thuyền giặc nối nhau thưa thoáng, đứng trên cao nhìn xuống thấy chúng giăng giăng thật là nghịch mắt. Trời nước êm ả thanh bình, mấy cánh hải âu chao liệng trên mặt biển ngay sát với đoàn thuyền khiến ta có cảm giác đây là một đoàn du thuyền hơn là chiến thuyền, hoặc thuyền vận tải quân lương cho một đội quân khổng lồ đang nằm sâu trong đất ta, ngày ngày chúng sục sạo vào các hương ấp vơ vét của cải, tàn sát dân ta.
Khoảng gần cuối giờ hợi, mặt biển bừng sáng, vài thuyền giặc bốc cháy, rồi nhiều thuyền bốc cháy, ngọn lửa càng lúc càng dâng cao, từ đỉnh núi nhìn xuống tựa như một đêm hội hoa đăng. Tuy vậy, tại đó chiến trận đang diễn ra hết sức ác liệt. Thoạt đầu là tướng Nhân Đức hầu cho quân xuyên một mũi tách đám thuyền lương và thuyền chiến rồi khóa đám thuyền chiến lại đánh xáp lá cà.
Quân chúng trên thuyền vừa vào giấc ngủ, vả lại từ bữa qua Vạn Ninh, quân Việt chỉ quấy rối nhì nhằng rồi tháo chạy. Và từ đó quân Nguyên cứ men theo bờ biển của Giao Chỉ đi trong cảnh thuận buồm xuôi gió, sóng yên biển lặng, ngày vài bữa ăn xong quân lại xúm quanh chiếu bạc đêm thì ngủ vùi, chỉ còn vài đứa thức thay nhau giữ tay lái tay lèo cho thuyền đi êm ả như đi vào cõi mộng mơ. Bất chợt bị quân Đại Việt chặn đánh, thuyền chúng xô vào nhau gãy vỡ răng rắc, buồm lật thuyền quay nghiêng, lái không còn điều khiển được nữa. Quân giặc hốt hoảng chưa kịp định thần, chưa biết điều gì vừa xảy ra thì quân Đại Việt đã ào ào nhảy lên thuyền giặc, dao nhọn giắt lưng, mã tấu cầm tay đâm chém lia lịa.
Cùng lúc tướng Nguyễn Chế Nghĩa phục quân từ ngoài biển đánh tạt sườn đoàn thuyền lương, và ở phía trên Cửa Vạn quân của phó tướng Trần Khánh Dư đánh vỗ mặt đám binh thuyền giặc, theo như kế đã vạch là lùa cho binh lương giặc phải vào Cửa Vạn. Bởi trong Cửa Vạn là căn cứ, là sào huyệt mênh mông của đại bản doanh Trần Khánh Dư ở Vân Đồn. Và tại đó ông đã bố trí binh lực có thể nghênh chiến với đại binh của giặc. Mặt khác ông cũng chuẩn bị cả kho tàng trong hang núi, nhằm hót lương của giặc tích chứa vào đó để nuôi quân mình.
Lại nói tướng Trần Đa sau khi cho quân khóa đám chiến thuyền của giặc, dăm bảy chiếc xô vào nhau gãy vỡ khiến quân chúng hốt hoảng, lại cũng có phần chúng còn đang ngái ngủ. Vì vậy trong các chiến thuyền đó, quân Đại Việt hạ sát quân Nguyên nhanh tới mức không một tên nào kịp chống cự.
Những chiến thuyền ở phía sau, giặc đã nhanh chóng hạ buồm cho giống với các thuyền của quân Đại Việt, và lợi dụng đêm tối chúng tìm đường trốn chạy. Một số đã chạy thoát.
Phía trên Cửa Vạn từ hướng đông nam, quân của Khánh Dư đánh rất rát, giặc ùn lại trước Cửa Vạn, một số thuyền lương của giặc đã rẽ vào Cửa Vạn và cứ theo lạch chúng chạy miết vào trong.
Phía sau, tức là từ hướng tây bắc, quân của Nhân Đức hầu vẫn đánh thúc vào lưng giặc, và Nguyễn Chế Nghĩa vẫn giăng quân đánh tạt sườn. Chiến trận trải quá dài, mặt biển lại mênh mông, quân dù dũng cảm nhanh nhẹn nhưng không đủ để khép kín vòng vây tiêu diệt hết chúng ngay từ trận đầu.
Trương Văn Hổ đi trong chiếc thuyền chỉ huy gọn nhẹ, khi thấy tiền quân, hậu quân đều bị chặn đánh, tinh thần của hắn bỗng nhiên suy sụp. Quân Đại Việt xuất hiện bất thình lình và với quy mô đông đúc ào ạt nằm ngoài sức tưởng tượng của hắn.
Tuy đã quen thạo với biển cả lại đã từng theo cha hắn làm nghề cướp biển, cha con hắn từng là nỗi kinh hoàng cho các tàu thuyền qua lại vùng biển Triết Giang, Phúc Kiến. Bây giờ đến lượt hắn phải hết sức kinh hoàng về tài xuất quỷ nhập thần của hải binh Đại Việt. Không biết họ rình rập ở đâu mà cùng lúc ào ra như từ trên trời cao ụp xuống. Hắn có ngón phi tiêu sở trường giúp hắn luôn giành chiến thắng. Ấy là khi đã biết rõ thủ lĩnh của nhóm đối đầu, nhưng bây giờ thì đông, tây, nam, bắc… chỗ nào cũng ào ào khí thế xung sát nhằm vào hắn, nhằm vào cả đoàn quân lương của hắn, cho nên hắn lúng túng không biết ném phi tiêu vào đâu và cũng không biết ném vào ai. Nhưng chẳng lẽ ta lại để cho chúng bắt sống làm tù binh hoặc bị chúng chặt đầu sao. Thế thì có khác gì cá kình bị chết đuối. Lòng tự ái của một tên cướp từng vẫy vùng ngang dọc như thôi thúc hắn phải thoát khỏi trùng vây. Trương Văn Hổ lấy đà phi thân sang một chiếc thuyền ở phía ngoài, rồi chuyển tới chiếc ở phía ngoài nữa, hắn đi về đằng lái chỉ cho tên cầm lái hướng thoát thân.
Một số những chiếc thuyền khác lặng lẽ vượt ra khỏi vòng vây. Trong khi ấy lửa vẫn còn leo lét cháy ở một số thuyền lương bị đốt và tiếng hô “Sát Thát!” cùng với tiếng tù và, tiếng trống đồng của quân Đại Việt vẫn vang ầm cả mặt biển.
Quân Đại Việt do thông thạo địa hình lại giỏi nghề bơi lội, được chủ tướng dạy cho phép đánh cận chiến và thường xuyên được luyện tập nên khi gặp giặc họ chẳng còn lạ lẫm gì. Hơn nữa phần đông trong số họ đã từng tham gia đánh bại quân Nguyên trên các bến Chương Dương, Hàm Tử và Vạn Kiếp trong trận chiến năm Ất Dậu mới cách đây có ba năm, lòng căm giận loài giặc dữ còn chưa nguôi, nay lại bùng cháy lên như một bể dầu sôi.
Hai chiến sĩ vừa nhảy sang thuyền giặc lập tức có năm tên quây lại đánh. Hai chiến sĩ lấy đao gạt bay các đồ khí giới của giặc, mấy tên khác liền xông vào. Vừa lúc Nguyễn Chế Nghĩa cùng mấy dũng sĩ khác nhảy lên thuyền giặc tiếp ứng. Chế Nghĩa dùng đao chém rụng đầu một đứa, máu từ cổ y phun lên thành cột. Trong lấp lóa ánh đêm mờ ảo, quân giặc sợ xanh mắt lùi về một góc thuyền. Quân Việt đành phải hóa kiếp chứ không lý gì lại nương tay với giặc, bởi chỉ trong ba, bốn năm chúng đã hai lần gieo tội ác tày trời.
Trương Văn Hổ chạy cùng với bao nhiêu thuyền lương, thuyền chiến chạy theo, y cũng không biết nữa. Y hò hét ra lệnh cho quân vừa dùng sức gió chạy buồm, vừa dùng sức người chèo cho thuyền chạy nhanh. Chạy nhanh hơn nữa chỉ mong sao cho thoát chết.
Thuyền ra khỏi vùng chết độ mươi dặm, Trương Văn Hổ thấy bốn bề tĩnh lặng chỉ có trời nước mênh mang và tất cả đều chìm trong cái màu mờ xám đến nhức mắt, duy chỉ có chòm sao Bắc Đẩu ngự trên cao kia là nhấp nháy sáng. Nhìn vào vị cứu tinh của biển cả, Trương Văn Hổ cảm thấy ấm lòng và y chợt nghĩ đến mấy viên Giao Chỉ hải thuyền phó đô tướng Phí Củng Thìn và Từ Khánh, chẳng biết chúng đang ở đâu. Liệu chúng có chạy thoát hay đã rơi vào miệng cá hoặc bị quân Đại Việt bắt làm tù binh. Trong khi y còn chưa nghĩ tiếp được điều gì thì nghe phía trước có tiếng nước reo như thác đổ. Trương Văn Hổ hốt hoảng không biết là điềm triệu gì. Trong bản đồ hải trình không thấy ghi quãng này có đặc điểm gì. Tiếng nước reo ào ào nghe mỗi lúc một rõ hơn. Đêm tối không nhìn thấy vật gì để mà phân biệt, nhưng với linh giác Trương Văn Hổ cảm thấy có điều gì nguy hiểm đang rình rập. Y quay lại nói với tên cầm lái: “Ta nghe như đâu đây có một miệng nước có sức hút lớn lắm, các ngươi phải cẩn trọng, tinh tường kẻo đắm thuyền như chơi đấy”.
Thuyền giặc đi được khoảng vài dặm nghe phía trước có tiếng à à như tiếng quân reo. Và bỗng nhiên trên nền trời tối sẫm xuất hiện mấy vệt sáng như lân tinh, rồi nhiều vệt như thế in hằn trên nền trời. Rõ là bên địch bắn pháo thăng thiên làm hiệu cho nhau. Tiếng reo rõ dần, rõ dần. Đó là những tiếng “Sát Thát” quen thuộc của quân Giao Chỉ, Trương Văn Hổ nhận ra mọi sự hiểm nguy vẫn còn đang ở phía trước. Y thầm nghĩ: - Chẳng nhẽ ta đã đến ngày tận số rồi sao. Nhớ bữa sắp ra đi, tên thầy số bảo ta năm nay có hạn nhẹ, nhưng con đường công danh đang rộng mở. Lần này thoát nạn trở về, ta phải lấy đầu nó. Thôi thì nhắm mắt đưa chân, đường xa, xứ lạ ta biết tính sao đây. Muôn sự tại trời cả. Chẳng ai đoạt được quyền của tạo hóa. Trương Văn Hổ đang phân vân, phía trước có quân địch đang chặn đường, gần kề lại có miệng nước đang réo sôi. Hổ nghĩ ngay đến việc phải thoát thân, phải chạy ngay ra biển. Hắn quay lại phía viên lái thuyền quát: Hữu! Hữu! Nhẽ ra phải ra lệnh cho thuyền quay mũi ra biển như hắn nghĩ, đương nhiên phải nói “rẽ trái”, thế nhưng hắn lại quát “rẽ phải”. Ngay lập tức thuyền bị hút vào miệng nước. Nước đội thuyền lên cao chót vót, gió lật làm cánh buồm đổi hướng khiến thuyền chao nghiêng và ngay lập tức cả một khối nước cao lừng lững đổ ập xuống, mũi thuyền chúi chúc tưởng nó sẽ lao xuống đáy biển, và như có phép lạ nước lại cuộn dâng nâng bổng mũi thuyền lên làm cho phía lái như chìm xuống rồi dòng nước ném cả con thuyền lao đi một quãng khá xa. Trương Văn Hổ hú vía, đêm tối không ai nhìn thấy gương mặt hắn thất thần như thế nào. Quả thật trong cuộc đời giang hồ trên biển cả, chưa bao giờ tính mạng hắn lại bị cái chết đe dọa liên tiếp như thế này. Hổ đang rất hoang mang, không biết phía sau có bao nhiêu thuyền thoát nạn theo hắn vượt qua cửa tử này. Theo định hướng la bàn, hắn biết đường đi đang hướng vào cửa Bạch Đằng, nhưng sao phía trước lố nhố không biết bao nhiêu trái núi đang hiện lên cản đường, cứ như hắn đang đi vào cửa tử của một trận đồ bát quái. Khen thay tên lái thuyền cũng vào tay quái kiệt, không những y thoát được cái miệng nước khủng khiếp, lại tránh được cả những trái núi sừng sững kia. Vừa không va vào vách núi, vừa tránh được đá ngầm. Tránh đá ngầm phải là những tay lái thuộc luồng lạch và ban ngày ban mặt trông màu nước mà biết nông sâu, chứ ban đêm sao tránh nổi. Có nhẽ bọn chúng còn gặp may chưa chết ấy là bởi đang lúc nước triều lên.
Không biết có mấy chiếc thuyền lương đã thoát qua miệng nước vào trong vịnh, nhưng có một chiếc do lái thuyền điều khiển thế nào mà mũi thuyền đâm thẳng vào vách núi, thuyền gãy đôi, như người ta bẻ miếng bánh đa vừa mới nướng. Chỉ nghe một tiếng gãy khô khốc rồi thuyền chìm mất tăm. May mà thuyền giặc đi thưa thoáng, nếu không sẽ nối đuôi nhau chìm nghỉm.
Mãi rồi đêm tối cũng lùi xa và bình minh dần hé mở. Khi đã nhìn được bằng mắt thường, một quang cảnh hiện ra khiến Trương Văn Hổ ngỡ ngàng. Mặt biển trắng một màu sữa, sương khói bốc lên chầm chậm phủ quanh các ngọn núi và chỉ còn phơi một chỏm trên chóp đỉnh. Các ngọn núi như đang đội sương mù mọc lên. Trương Văn Hổ như quên mình là kẻ thất trận, thoáng lát y có cảm giác như đang lạc vào thế giới của thần tiên.
Lại nói Nguyễn Khoái cho quân ngăn giặc không để chúng vượt qua Cửa Đối, còn Nguyễn Chế Nghĩa vẫn bủa quân ở phía ngoài săn những thuyền giặc trốn chạy. Đêm tối không rõ số thuyền chiến và thuyền lương chúng lọt vòng vây trốn chạy được bao nhiêu chiếc, nhưng từ khi trời hửng sáng thì những chiếc nào còn lại nếu không bị đánh đắm tại chỗ cũng buộc chúng phải chui vào Cửa Đối.
Mặt trời mùa đông lên chậm chạp, ánh nắng yếu ớt khiến bầu trời không được quang đãng, nhưng khoảng cuối giờ thìn thì sa mù cũng tan dần, trả lại cho mặt biển và núi non cái màu xanh vốn có. Trương Văn Hổ nhìn quang cảnh núi và biển hùng vĩ mà đẹp đến nao lòng, nhưng cũng trắc trở khôn lường, y bắt lái thuyền đi chậm lại để chờ các thuyền đi sau. Chính mắt y đếm đã thấy khoảng non chục chiếc, thuần thuyền lương, chưa nhìn thấy bóng dáng một chiếc thuyền hộ tống nào. Y thầm nghĩ: - Chẳng nhẽ bọn này bị quân Giao Chỉ giết chết hết rồi sao. Tuy nhiên, y đã thấy hơi âm ấm lòng. Lúc này y muốn các thuyền lương đi gần nhau hơn, rủi có gặp địch còn tựa vào nhau để có sức mạnh kháng cự.
Trương Văn Hổ đứng trên mũi thuyền nhìn mãi về phía sau, y không đếm cũng như không ước lượng được còn bao nhiêu thuyền tiếp nối, bởi có những trái núi nhô ra che khuất tầm nhìn. Yên tâm, Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ Trương Văn Hổ vẫy cờ ra lệnh cho đoàn thuyền tiếp tục lên đường. Chừng một giờ sau thuyền giặc đã vào tới một vùng mà y thấy gợn tóc gáy, bởi hai bên là hai dãy núi dựng đứng giữa là một khe nước, nom tựa như một dòng sông. Tuy nhiên, các dãy núi đó không liền một mạch mà nó bị đứt từng khúc, nhưng xa trông nó như một dãy tường thành, kẻ lạ lẫm không biết cái thạch lũy này và dòng sông kia sẽ dẫn tới đâu. Dân chài lưới vùng này nom cái đoạn từa tựa dòng sông liền đặt cho nó cái tên là Sông Mang. Thủy quân Đại Việt do nắm chắc địa hình, lợi dụng những quãng đứt nối kia mà ém quân phục, giặc không thể lường được. Chúng vẫn cứ đi một cách thận trọng, tựa như một đội quân vừa khiếm thính vừa khiếm thị, vừa đi vừa dò dẫm.
Tỏ ra một kẻ thành thạo nghề biển và cũng biểu thị cái liều của tên cướp biển, Trương Văn Hổ nghênh ngang dẫn đầu đoàn thuyền lương sau khi bị đánh tơi tả. Khi thuyền của Hổ và bốn chiếc đi sau vừa ra khỏi mạch núi bị đứt thì quân phục của Nguyễn Khoái xông ra chặn khúc giữa, chia đoàn quân lương của giặc làm ba đoạn, nhưng chỉ quây đánh các thuyền sau, còn năm chiếc thuyền đi trước để nhường cho các đoàn quân mai phục ở phía trong.
Chiếc thuyền thứ năm nhìn lại thấy các bạn thuyền đi sau bị chặn đánh, nó liền phát tín hiệu cấp báo cho các thuyền đi trước. Trương Văn Hổ vẫy cờ phát lệnh cho các thuyền đi nhanh hết tốc lực. Trương Văn Hổ không lường trước được cơ sự lại hiểm nguy đến như vậy. Y đã cẩn thận xin thêm năm ngàn quân để hộ tống và đoàn quân lương đã đi vào giữa các viên hổ tướng như Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đi tiên phong; Trương Ngọc, Lưu Khuê đoạn hậu với cả hơn mười vạn quân. Thế rồi bọn tướng lĩnh này thấy quân Giao Chỉ hèn yếu không đủ sức đánh đấm, nên đã bỏ mặc đoàn quân lương cho ta mà chúng vượt lên để sớm về hội với Trấn Nam vương. Hóa ra quân Giao Chỉ dùng mẹo để lừa đại quân thiên triều. Và chúng đã đánh tan tác đoàn quân lương của ta. Ối Trấn Nam vương ơi là Trấn Nam vương, quân của ngài không có lương thực ắt phải chết thôi. Hưng Đạo quả là tướng của nhà Trời. Thảo nào thiên tử (Hốt-tất-liệt) căm ông ta đến vậy. Nhớ buổi thết yến, hai ba lần thiên tử nhắc Trấn Nam vương và Áo-lỗ-xích phải bắt bằng được Hưng Đạo về cho ngài xem gan. Đến nước này không biết rồi ai bắt ai đây. Nếu quân đói lâu ngày ắt sẽ nổi loạn. Chính cái đám quân đói ấy nó sẽ bắt chủ tướng đem nộp cho địch để kiếm miếng ăn, giữ mạng sống. Tội ta thật lớn, nhưng Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, Lưu Khuê, tội chúng còn nặng hơn ta nhiều. Ta đang bị quân Giao Chỉ dồn tới bước đường cùng, ta quyết lấy sinh mạng bảo đảm số lương thực ít ỏi này để góp phần cứu nguy cho Trấn Nam vương và tâu báo để ngài rõ thêm trách phận của Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp…
Chạy tiếp khoảng hơn chục dặm, cảm thấy tạm yên ổn, Trương Văn Hổ nán lại chờ các thuyền sau. Khi tập hợp đủ cả năm thuyền, y cho triệu đô trưởng của các thuyền đến hội. Trương Văn Hổ vừa nói vừa lấm lét thả tầm mắt về mọi phía canh chừng xem có dấu hiệu gì của đối phương xuất hiện. Y nói:
- Ta có nhời khen các ông cùng sĩ tốt đã gan dạ chiến đấu đánh bại được quân Giao Chỉ, bảo toàn được lương thực. Nay mai về hội dưới trướng, ta sẽ tâu Trấn Nam vương ban khen cho các ông. Tuy vậy, chặng đường sắp tới chưa biết an nguy thế nào. Có thể quân Giao Chỉ còn quấy nhiễu, nhưng sức quân nó thực không hơn đám giặc cỏ. Chỉ cần khi gặp giặc, ta phải bình tĩnh nhằm sơ hở của nó mà tìm đường thoát cho thật nhanh. Nên nhớ, thuyền của ta vừa to lớn cồng kềnh vừa chở nặng, việc di chuyển thật khó khăn. Bởi vậy phải biết tựa vào nhau, kết liên lại làm sức mạnh. Hiện thời chưa biết quân hộ tống chạy đâu hết, nhưng mỗi thuyền vẫn còn tới năm sáu chục quân, nếu biết chia ra mà đối phó thật gan dạ, thời quân ít vẫn có thể thắng quân nhiều. Chỗ này ta thấy tạm yên, các ông về cho thuyền ẩn sát vào chỗ khuất lấp quanh sườn núi, chờ xem còn thuyền quân, thuyền lương nào chạy thoát thì gom cả vào đây. Có nhẽ quân ít, ta không thể đi ban ngày được đâu, một khi giặc đã phát lộ ra thì khó bề tẩu thoát.
- Bẩm vạn hộ thế thì ta phải đi trong đêm sao. Một viên đô tướng mạnh dạn hỏi.
- Phải, chúng ta đi đêm, Trương Văn Hổ đáp.
- Bẩm đi đêm như người mù, mà lũ hạ cấp đâu có biết được luồng lạch sâu nông thế nào, lại còn san hô, đá ngầm nguy hiểm lắm.
- Được, ta sẽ đi tiên phong dẫn đường, các ông cứ theo luồng ta đã đi thì không sợ vấp. Nói xong Trương Văn Hổ khoát tay ra lệnh: - Mau cho thuyền tìm chỗ trú ẩn kín đáo.
Lại nói các tướng Nhân Đức hầu Trần Đa, Nguyễn Chế Nghĩa, Nguyễn Khoái chặn đánh tan tác mấy chục thuyền quân hộ tống và cả đoàn thuyền lương dài dằng dặc từ cửa Ba Chẽ qua Cửa Vạn tới Cửa Đối. Đám thuyền binh giặc những chiếc nào bị quân ta quây lại đánh, biết nguy ngập không chạy trốn được, chúng chống cự rất yếu ớt rồi ngồi tụm lại ở một góc thuyền, khi quân ta ùa vào chúng đều xin hàng cả. Còn những chiếc ở ngoài vòng vây, chúng không hề có ý định cứu nhau hoặc cứu các thuyền lương mà mạnh thuyền nào thuyền ấy tháo chạy.
Nhiệm vụ của ba vị tướng quân ngoài việc tiêu diệt giặc còn phải ngăn không cho chúng nó chạy thoát và dồn chúng vào Cửa Vạn và Cửa Đối để các lực lượng phía trong tiêu diệt nốt.
Sau khi đã trao nhiệm vụ cụ thể cho từng vị tướng dưới quyền, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tự mình cầm quân bày trận chờ bắt giặc trong vùng Cửa Vạn.
Quả nhiên thuyền giặc trong khi hỗn chiến biết mình núng thế phải tìm đường trốn chạy nhưng lại không xác định được phương hướng. Vì thế các thuyền hộ tống và thuyền lương chạy vào Cửa Vạn khá nhiều.
Trần Khánh Dư lập kế bắt sống tất cả quân giặc một khi chúng đã chui đầu vào Cửa Vạn. Vì vậy ông cho quân phục kích khắp các luồng lạch ngang tắt và chỉ để một luồng chính cho thuyền giặc chạy thẳng vào sâu trong quân cảng cũng tức là vào sào huyệt của ông.
Khi giặc đã vào trong cái túi mà ông mở sẵn thì ông chỉ việc siết miệng túi lại tựa như người cất vó bè. Quả nhiên quân giặc lũ lượt kéo nhau chạy vào. Trước nhất là năm chiếc thuyền binh đầy lính, đứa nào đứa ấy cung, nỏ đã giương sẵn chỉ chờ buông dây hoặc bật lẫy. Tiếp đó cả chục thuyền lương chở nặng lặc lè cũng nối đuôi nhau chạy vào. Bởi tất cả các luồng lạch khác quân ta đã bịt kín, chỉ còn một lối để ngỏ cho giặc chạy vào khu bến cảng.
Thuyền giặc vừa chớm vào bến cảng trời đã mờ mờ sáng. Cho tới lúc trời sáng trắng, hết thẩy quân giặc đều khiếp sợ vì trước mặt là dãy núi làm bình phong của bến. Cờ xí Đại Việt giăng giăng, quân mai phục tầng tầng lớp lớp bên sườn núi. Vòng cung phía sau bến áp sát bờ, sừng sững một dãy núi cao chạy song song với bờ biển, trên núi là rừng cây rậm rạp, ngang sườn núi không thấy cờ xí nhưng trong các lùm cây, nhìn kỹ đều thấy động. Chắc là quân mai phục ken dày chứ giờ này… thú ăn đêm thì đã đi ngủ, thú ăn ngày lại chưa ra khỏi hang. Ngoảnh nhìn bên tả một đoàn thuyền cờ xí tung bay, các mái chèo băm nước phăm phăm bọt tung trắng xóa, thuyền lao nhanh như ngựa chạy, ngoái nhìn bên hữu lại một đoàn thuyền khác cũng đang lao nhanh y hệt đoàn thuyền bên tả. Vậy là tiền hậu, tả hữu tứ phương đều thụ địch.
Lũ giặc trên thuyền dù là thuyền chiến hay thuyền lương thảy đều hốt hoảng, chúng co cụm lại trên mỗi thuyền và các thuyền đều áp mạn vào nhau chứ không tìm đường trốn chạy nữa. Ngay cả những tên lính khi trước lăm lăm cung nỏ nay đều vứt hết xuống sạp thuyền. Chắc là các viên đô chỉ huy biết không thể kháng cự và cũng không thể trốn chạy. Đúng lúc đó, từ trên bờ, ngay phía sau những chiếc thuyền giặc, có tiếng nói phát qua một chiếc loa đồng, giọng trầm sâu chắc nịch, đương nhiên phải nói bằng tiếng Tàu:
“Kẻ xâm lược đã cùng đường! Các ngươi đang bị bao vây bốn mặt. Nếu muốn toàn tính mạng kéo ngay cờ trắng đầu hàng, bỏ hết khí giới lại thuyền và từng người một bước lên bờ”.
Dưới kia, các thuyền lục tục kéo cờ trắng. Đành rằng quân thiên triều không ngờ đến kết cục này nên không mang theo từ lúc xuống thuyền. Vậy mà thuyền nào cũng kiếm được khá nhiều vải trắng và cùng một lúc, màu trắng đã tràn ngập các thuyền binh, thuyền lương của quân đầu hàng.
Trên bờ không biết quân từ đâu ào xuống sát mép nước và kéo dài tới mấy dặm. Khoảng vài chục chiếc thuyền từ trong lạch tiến về phía bến nối nhau thành một chiếc cầu dài đón hàng binh lên bờ.
Quân đầu hàng lần lượt rời thuyền leo lên cầu. Loa lại thét:
- Các viên đô tướng, tiểu đô tướng đi về bên tả. Quân lính đi về bên hữu.
Phó tướng Nhân Huệ vương sai dẫn tù binh tới vùng sâu nội địa và lọc những tên đầu sỏ để lấy cung ngay, lại sai quân đưa hết lương thực vừa thu được vào kho cất giấu. Giao các việc cho thuộc cấp xong, Nhân Huệ vương liền cấp báo cho Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, thượng tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải: “Có một số thuyền lương của giặc chạy thoát đang tìm đường vào Bạch Đằng rồi ngược Vạn Kiếp đem lương cho quân Thoát-hoan. Xin vương ra tay trừng trị không để cho một thuyền lương nào của giặc chạy thoát vào nội địa”. Một mặt sai Nguyễn Khoái đem binh thuyền truy đuổi tàn quân của giặc, mặt khác sai Nhân Đức hầu Trần Đa và tướng Nguyễn Chế Nghĩa chốt đủ thuyền bè và quân tinh nhuệ gần Cửa Vạn, Cửa Đối, nếu giặc lại đưa thêm viện binh hoặc lương thực qua nước ta bằng đường biển phải tiêu diệt sạch sành sanh ngay lập tức. Lần này không cần che giấu nanh vuốt nữa, bởi trách phận lớn lao nhất của hải binh Vân Đồn là tiêu diệt đoàn vận tải quân lương của giặc coi như đã hoàn thành.
Lại nói mấy thuyền lương của Trương Văn Hổ đang ẩn trú trong khu vực Bái Tử Long nơi có những trái núi thấp nằm rải rác thì đột khởi lên mấy trái núi to cao tạo thành một góc ngoặt như hình thước thợ. Chính cái góc ngoặt ấy được Trương Văn Hổ chọn làm nơi trú ẩn. Y hạ lệnh cho các thuyền hạ hết cột buồm và không được đun nấu bất cứ một thứ vật liệu gì gây khói.
Trương Văn Hổ đâu có biết trái núi mà y đang ẩn nấp ở phía sau đó lại đối diện với căn cứ hải đội của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, tính theo đường chim bay chỉ cách chưa đầy chục dặm. Và phía sau trái núi đó lại chính là luồng giao thông mà thuyền buôn cũng như hải đội của Trần Khánh Dư, Trần Quốc Tảng thường qua lại tuần tiễu.
Trương Văn Hổ cho quân lén lên đỉnh núi quan sát. Chừng hơn một canh giờ sau có mấy tên về tâu báo, vẻ mặt chúng hốt hoảng:
- Bẩm tướng quân, khi chúng tôi leo lên đỉnh núi núp trong một lùm cây rậm nhìn về mọi phía thì thấy hút một đoàn thuyền đang lao về hướng tây, lại chừng nửa canh giờ sau có một đoàn từ hướng tây bắc chạy thẳng vào phía sau trái núi này rồi ngoặt sang hướng đông nam. Bẩm, cả hai đoàn thuyền đó đều là thuyền quân Giao Chỉ và phía sau trái núi ta đậu thuyền đây chính là luồng đi của nó đấy.
Trương Văn Hổ mặt hơi biến sắc nếu như quân Giao Chỉ đi theo luồng ta vừa chạy, hẳn nó sẽ nhìn thấy quân ta đang trú tại đây. Và như vậy thì điều gì sẽ xảy ra. Làm ra vẻ cứng cỏi, Trương Văn Hổ nói:
- Vậy là ta đã tính toán đúng. Và ta đang tránh trú bão ngay trong mắt bão.
Chừng một khắc canh giờ sau khi hai tên lính thám vừa xuống núi báo tin, lại có hai tên khác nữa cũng vừa tụt từ trên đỉnh núi xuống thuyền, mặt tái mét, nói lắp bắp không thành tiếng:
- Bẩm chủ tướng, có nhiều thuyền quân Giao Chỉ cứ quanh đi quẩn lại phía sau dãy núi ta đang trú ẩn đây, như là họ đang tìm kiếm cái gì đấy. Ngừng lại giây lát, y tiếp: - Bẩm, hay nó biết quân ta đang trú ẩn ở đây?
Trương Văn Hổ không phải không lo lắng, nhưng y phải tự trấn tĩnh ngay. - Nếu ta nao núng sẽ rối lòng quân. Vì vậy y tìm cách trấn an:
- Chắc là quân Giao Chỉ biết hôm qua đã để sổng một số thuyền chạy thoát, nên hôm nay nó truy lùng. Ta trú quân ở đây là an toàn không sợ giặc tìm thấy đâu. Đêm qua ta chạy thoát được vào đây là bởi ta đi theo luồng có đá ngầm. Sở dĩ thuyền ta không vấp đá là bởi thủy triều lên từ giờ thân đến giờ sửu. Ban ngày thủy triều xuống. Quân Giao Chỉ quen thạo luồng lạch nên nó không đi vào lạch có đá ngầm. Do vậy chúng sẽ không thể phát lộ được ta. Và đêm nay, nước lên ta sẽ phải tính nên đi đường nào.
Khoảng đầu giờ dậu mây đen kéo kín cả bầu trời, thoáng chốc gió nổi đem theo cái lạnh từ phương bắc về. Trương Văn Hổ mừng thầm: - Chắc là trời giúp ta đây, phải mượn sức gió và cả đêm cuối tháng không trăng không sao mà thoát khỏi vòng vây của địch.
Trời càng lúc càng tối đen đặc, gió vẫn thổi ràn rạt, Trương Văn Hổ vội hạ lệnh lên đường. Như dự đoán, cái luồng mà y cho thuyền chạy vào đêm trước là luồng có đá ngầm, chắc là đúng, bởi cả ngày hôm nay không hề thấy một bóng thuyền bè nào qua lại. Nhưng đêm nay, liệu ta có nên đi theo luồng đó không, hay phải đi luồng sâu ở phía sau trái núi này. Đây là luồng chính nên thuyền Giao Chỉ qua lại thường xuyên, liệu ta đi vào luồng này mà gặp quân họ thì sao. Nhược bằng cứ đi luồng cũ, thuyền chở nặng vấp đá ngầm là bục ngay, chiếc đi trước ngáng đường nằm đấy, các thuyền đi sau đều khó bề tiến thoái, chỉ còn nước nằm đợi giặc chứ còn đi đâu được nữa. Nghĩ vậy, Trương Văn Hổ sai quân cho thuyền đi theo hướng lạch sâu.
Thuyền vừa ra khỏi dãy núi chắn, buồm gặp gió kéo thuyền đi băng băng. Trong vịnh nhấp nhô núi lại núi, đường đi vô vàn hiểm trở, Trương Văn Hổ cứ nhắc đi nhắc lại lũ thuộc cấp: “Các ngươi phải căng mắt ra nhìn kẻo thuyền đụng núi là vụn tan như cám”.
Vịnh biển yên tĩnh lạ thường chỉ nghe tiếng thuyền xé nước rào rào, và thỉnh thoảng một đàn cá thấy động bốc bay là là trắng mặt nước, Trương Văn Hổ đang mơ chỉ vài ngày nữa sẽ tới Vạn Kiếp chầu hầu Trấn Nam vương.
Chừng nửa đêm bỗng nhiên thuyền đi chậm lại vì gió đã ngừng thổi, mưa lắc rắc khiến cái rét len lỏi đến tận xương tủy. Tuy rét buốt nhưng Trương Văn Hổ lại cảm thấy ấm lòng bởi không còn sợ quân Giao Chỉ săn đuổi nữa.
Hổ ẩn nấp trong vách núi đâu biết khi đêm Nguyễn Khoái sau khi diệt gọn mấy thuyền ở gần cuối sông Mang, lại rượt đuổi tiêu diệt cả bốn chiến thuyền cùng với ba thuyền lương của giặc Nguyên ngay phía đầu vịnh Bái Tử Long, còn chiều nay, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng cũng lùng được ba thuyền lương giặc đang trú trong một eo núi, na ná như chỗ Trương Văn Hổ ẩn trú. Vương sai bắt hết bọn lính trên thuyền còn lương thực thì đánh chìm sâu dưới biển.
Chừng sang giờ sửu mưa tạnh hẳn, gió lại nổi nhưng cái rét thấm vào da thịt khiến tê buốt mà áo quần dù độn bông hoặc bằng da ngựa da dê cũng không chống đỡ nổi. Trương Văn Hổ loay hoay tìm chiếc áo lông cừu, chợt nghe từ đâu đó vẳng lại tiếng tù và, một lát lại nghe thấy cả tiếng trống đồng và tiếng kèn hối thúc. Càng đi càng nghe như gần lại như rất xa. Tới khi thuyền ra khỏi khu vực có những trái núi cao che khuất, tiếng kèn, tiếng trống được gió và nước chở đi, âm thanh như rót vào tai khiến trống ngực Trương Văn Hổ đập thình thình. Lòng quân nghe như đã rối. Lại lửa, ngọn lửa bốc cao trên mặt nước và cả tiếng quân reo như mỗi lúc mỗi gần hơn.
Mấy viên đô tướng cuống quýt hỏi:
- Bẩm chủ tướng, quân Giao Chỉ đang đốt thuyền lương của quân ta, làm thế nào bây giờ. Nếu cứ đi tiếp, chắc chỉ năm, bảy dặm nữa là đụng quân nó.
Nỗi sợ hãi tự nhiên ập đến khiến Trương Văn Hổ bực mình quát:
- Sao các ngươi không nghĩ đó là Ô-mã-nhi bạt-đô đang đốt quân Giao Chỉ.
- Bẩm chủ tướng ngài lạc tai rồi. Quân ta sao có trống đồng. Tiếng trống đồng đang phóng những âm thanh như búa bổ mỗi lúc một gần, nếu không sớm liệu lại lọt vào ổ phục của quân Giao Chỉ như đêm trước thôi.
Trương Văn Hổ thật sự rối trí, gan kẻ cướp với tài ném phi tiêu của hắn đều trở nên vô dụng. Hắn buông một câu đúng với tâm trạng của kẻ sợ hãi hơn là của một vị tướng chỉ huy:
- Vậy các người bảo ta phải làm gì đây!
Trong lúc các thuộc cấp chưa biết nói thế nào thì từ phía sau lại nổi lên tiếng hò reo như vỡ trời và tiếng thuyền xé nước đang băng băng đuổi theo các thuyền lương của Hổ.
Phía trước có quân chặn, phía sau có quân đuổi, Trương Văn Hổ cuống quýt ra lệnh:
- Chạy! Chạy! Hướng đông nam!
Và Trương Văn Hổ sai quân phải cấp tốc vứt bớt các bao gạo xuống biển cho nhẹ thuyền. Khen thay quân Giang Nam sức khỏe thật phi phàm, mỗi bao gạo chứa đúng một thạch, thông thường hai người khiêng còn nặng, thế mà lúc này mỗi tên vác một bao coi cứ nhẹ bẫng. Nhờ tài năng xuất thần của Trương Văn Hổ thuyền nhẹ hẳn, và vì thế nó bứt được ra khỏi đoàn thuyền lương mà tháo chạy.
Lại nói Chiêu Minh vương Trần Quang Khải từ khi đem quân tăng viện cho vùng biển đảo đông bắc, nơi Nhân Huệ vương tổng quản. Ông được Nhân Huệ vương nhờ trấn vùng Cửa Lục tức là cửa ngõ vào sông Bạch Đằng. Được tin đại quân của Nhân Huệ vương đã đánh tan tác đoàn vận tải quân lương của Trương Văn Hổ từ ngoài Cửa Vạn, Cửa Đối, sông Mang. Và chặn không cho chúng thoát ra biển, còn ta trấn ở đây để diệt tất cả bọn sống sót mưu chạy về Vạn Kiếp tiếp sức cho Thoát-hoan.
Bởi vậy vương cho quân sục sạo suốt đêm ngày. Trong ngày hôm nay ông đã diệt được hai toán gồm năm thuyền lương của giặc đang trú ẩn ở những nơi không được kín đáo lắm. Và đêm nay lại vây và diệt gọn một toán gồm hai thuyền binh và bảy thuyền lương, trong đó đốt cháy tại chỗ hai thuyền lương, và đang truy đuổi tốp năm thuyền lương của Trương Văn Hổ. Nhưng lợi dụng đêm tối và cũng có chút khôn ngoan của một tên cướp biển nên thuyền của y đã trốn thoát.
Trương Văn Hổ một viên hổ tướng mà thiên tử nhà đại Nguyên là Hốt-tất-liệt đích thân chọn lựa và phong chức trao quyền, trao trọng trách Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, kíp khi gặp nguy thì bỏ quân, bỏ lương thực mưu lấy mạng sống cho riêng mình.
Khi Chiêu Minh vương quét nốt đám tàn quân này cũng là chấm dứt hoàn toàn nguồn lương thực cho đội quân khổng lồ của Thoát-hoan ở Vạn Kiếp đang từng ngày từng giờ trông ngóng.
Trương Văn Hổ với vài đứa thuộc hạ cùng vài chục phu thuyền chạy đến sáng thì thấy trời nước mênh mông chứ không có đảo có núi nữa, y biết đã thoát ra ngoài đại dương, đã thoát ra khỏi vùng đất chết. Trương Văn Hổ mở la bàn, chỉ cho mấy đứa lái thuyền hướng đi rồi y sai bày rượu và đồ ăn. Cho tất cả đều được ăn no, nhưng rượu thì mỗi tên chỉ được một bát.
Uống hết chừng nửa bát rượu, Trương Văn Hổ dằn mạnh chiếc bát xuống sạp thuyền nói với vẻ vừa lo lắng vừa bực bội lại vừa như có vẻ tự phụ nữa:
- Thiên tử trao cho ta hơn một trăm chiếc thuyền vận tải tới mấy chục vạn thạch lúa gạo cùng năm ngàn quân hộ tống, nay Giao Chỉ dám kháng mệnh, cướp hết lúa gạo của ta, giết quân ta, tội chúng lớn lắm, phen này ắt thiên tử không tha. Lại mấy đứa chó chết phó tướng của ta như Từ Khánh[64], Phí Củng Thìn[65] không biết đã bỏ xác ở đâu.
Nốc hết bát rượu thứ ba có vẻ hơi ngà ngà, Trương Văn Hổ cười lớn rồi nói bốc phét:
- Vậy là chúng nó chết hết cả rồi, chỉ còn mình ta sống sót. Thế mới biết ở đời khôn chết, dại cũng chết, chỉ có biết là sống. Phải, ta biết, chỉ có mình ta biết. Trương Văn Hổ chỉ vào đám thuộc hạ và phu, lính lại nói: - Chúng bay là những kẻ ngu hèn thì biết cái gì. Sở dĩ sống được là chúng bay được theo người biết.
Nhìn ra bầu trời, Trương Văn Hổ thấy ngờ ngợ, y sai lấy la bàn ra coi. Coi xong y hét lớn: - Tên cầm lái kia mi có say không mà đi lạc hướng rồi.
- Bẩm chủ tướng con chưa uống hớp nào cả.
- Vậy thì mày phải bỏ lái chếch về phía tả. Được, được rồi đấy, cứ giữ đúng hướng đông bắc mà đi, ba ngày hai đêm nữa sẽ cập bến Quỳnh Châu.
CHƯƠNG 12
Sau khi đã lui quân khỏi Nội Bàng, Vạn Kiếp, Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương lại lui quân về giữ sông Thiên Đức và sông Cái là những cửa ngõ vào Thăng Long.
Trước khi rời chiến tuyến sông Thiên Đức để về Thăng Long bệ kiến hai vua, Hưng Đạo vương triệu các tướng vào trong trướng căn dặn:
- Hiện nay Thoát-hoan cùng bè lũ con trời đang rất hung hăng và ngạo mạn, tinh thần đó của giặc cần phải được nuôi dưỡng. Các tướng nên nhớ, tình hình hiện nay chưa đến lúc ta tập trung lực lượng đánh đòn quyết định mà đỡ là chủ yếu. Nhưng đã đỡ ở chỗ nào là phải đỡ hết sức quyết liệt rồi tìm cách lui binh ngay. Phải tỏ cho giặc thấy tinh thần chiến đấu của quân ta so với cuộc chiến năm Ất Dậu tuy không sút giảm, nhưng lực lượng của ta lại quá suy yếu, chứng tỏ quân ta lực bất tòng tâm nên không đủ sức kháng cự. Và như vậy là lực ta yếu kém thật sự, buộc ta phải lui từng bước, phải bỏ từng bộ phận, phải bỏ cả từng vùng rộng lớn cho giặc chiếm. Đó còn thể hiện cho giặc thấy ta quyết giữ nhưng không giữ nổi, chứ không phải ta giả vờ thua.
Nếu các tướng làm đúng như nhời ta dặn, thua đúng như từ ngày giặc vào cõi quân ta đã thua, thời ta có thể lừa giặc vào một thế trận như ta mong muốn.
Quốc công đã biết tường tận Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư vừa đại thắng trên mặt trận Vân Đồn, tiêu diệt hoàn toàn đoàn thuyền vận lương của giặc tới mấy chục vạn thạch lương. Việc đó sẽ hãm giặc vào thế bị bức tử, nhưng Quốc công đã không cho hạ cấp biết, sợ họ vì nông nổi mà sinh lòng kiêu ngạo chủ quan coi thường giặc, khó giữ được cái kế mình đang yếu kém để lừa giặc.
Giây lâu Quốc công liếc nhìn từng vị tướng với vẻ thiện cảm và tin cậy, vương nói thêm:
- Phải căng lực lượng của giặc mỏng ra, và phải nhử nó đuổi theo ta cho nó thật mệt mỏi, sức chiến đấu của nó sút giảm, quân nó thiếu ăn thiếu ngủ, ngày đêm lo sợ, lúc đó ta chỉ ra tay một trận là quét sạch giặc như quét rác trên khắp nước ta.
Quốc công nhìn Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật rồi gặng hỏi: - Trong trận cản giặc ở Tam Đái giang vừa qua, công của đệ lớn lắm. Đệ có biết mình đã giết được viên tướng nào của giặc không?
- Quả là đệ không thể biết. Nếu như quân của đệ đã hạ sát được tướng giặc sao vẫn chưa thấy Quốc công và Hoàng thượng ban khen.
- Giặc không loan tin này. Vì còn giấu mình nhằm che mắt giặc nên phía ta cũng coi như không biết. Vì vậy việc khen thưởng phải nén lại. Nhưng ta báo để đệ biết rằng, trận Ngã ba Bạch Hạc tên vạn hộ Đương Tông đã phải đền tội ác. Chiến công oanh liệt đó thuộc về phủ binh của Chiêu Văn vương.
Trần Nhật Duật không giấu nổi niềm vui, ông liền vái Hưng Đạo rồi nói:
- Tạ ơn Quốc công đã xét ghi công trạng.
Căn dặn các tướng xong, Hưng Đạo vương lên ngựa về thẳng Thăng Long. Và vào ngay cung Thánh Từ. Vẫn biết phải làm việc với quan gia là chính, nhưng Hưng Đạo luôn giữ lễ với thượng hoàng Thánh tông. Mặc dù theo thứ bậc trong hoàng tộc, ông là anh và hơn vua Thánh tông tới cả chục tuổi. Ngay với vua Nhân tông, Hưng Đạo vừa là bác vừa là cha vợ nhà vua nhưng ông vẫn luôn giữ phận thần tử.
Vừa trao ngựa cho giám mã, Hưng Đạo đi thẳng vào tiện điện, viên quan nội hầu khúm núm thưa:
- Bẩm Quốc công, thượng hoàng vừa sang cung Quan Triều.
Hưng Đạo rảo bước xuống thềm rồi ông lên ngựa, ra roi đi về hướng cung Quan triều. Bước vào tuổi sáu mươi, tóc râu đều đã bạc, nhưng sức lực của quốc công xem ra còn chắc vững lắm. Cứ xem dáng ông lúc ngồi, lúc đứng hoặc khi lên ngựa xuống ngựa vẫn nhanh nhẹn, thuần thục chẳng khác mấy khi ông còn trong tuổi trung niên chứng tỏ sức lực ông còn dẻo dai. Song điều đáng nói hơn cả là trí não ông còn sáng suốt và tỉnh táo đến không ngờ. Ông luôn giữ được sự điềm đạm, xét đoán thật chi li trước khi giải quyết một điều gì đó. Thường ông hay tham bác ý kiến của các thuộc cấp trước khi quyết định công việc. Không phải việc gì các thuộc cấp nói ông cũng nghe, nhưng ông không bao giờ gạt bỏ các điều đúng dù người nói đó ở cương vị nào, thứ bậc nào trong quân.
Vừa dừng trước cổng cung Quan Triều, viên đô úy cấm quân đã vội thưa:
- Thượng hoàng và quan gia vừa rời cung cách đây nửa giờ.
- Ngươi có biết hai vua đi ngựa hay đi kiệu, và đi về hướng nào? - Hưng Đạo hỏi.
- Bẩm đức ông, thượng hoàng và quan gia đi bộ ạ, cả hai đấng đều đi về phía Cửa Đông.
Hưng Đạo gật đầu tỏ vẻ cảm ơn, thoắt ông đã nhảy lên mình ngựa ra roi đi nước kiệu. Vừa ngắm phố phường, Hưng Đạo vừa mừng thầm: - Vậy là Thượng hoàng còn khỏe, còn giúp quan gia giám sát được công việc hằng ngày. Chính điều này lại khiến ta yên tâm hơn.
Chỉ còn vài ngày nữa là đến tết Nguyên đán nhưng phố xá vắng hoe. Cửa rả, cổng ngõ các nhà đều gài then, chốt khóa. Vườn tược các nhà trắng một màu hoa mai hoa mận, lác đác có những cây đào nở sớm làm ấm cả một góc phố. Tịnh không nghe thấy một tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, chứng tỏ Thăng Long đã đi đầu trong nhiệm vụ toàn dân thực hiện kế “Thanh dã” của triều đình. Và bất cứ chỗ nào có khoảng tường trống là ở đó có khẩu hiệu “Thanh dã” hoặc lời hiệu triệu đánh giặc của triều đình.
Hưng Đạo vừa đi vừa xem ngắm phố phường vừa suy ngẫm về tội ác giặc đã từng gieo rắc trên mảnh đất này. Hơn ba năm trước quang cảnh cũng y hệt như vầy, cũng vào dịp giáp tết dân chúng Thăng Long phải rời bỏ kinh thành, rời bỏ phố phường tìm về các miền quê khuất lấp hoặc vào ẩn náu nơi núi rừng hiểm trở để tránh giặc.
Trời rét căm căm, đường phố chỉ loáng thoáng mấy tốp lính tuần tra, vả lại Hưng Đạo đội nón cúp vành, vận áo dài nâu, vài người theo hầu ăn vận sơ sài tựa như dân vùng sơn cước mới về nên không ai để ý.
Hưng Đạo đi qua mấy phố rồi rẽ về bến Đông Bộ Đầu vẫn không tìm thấy hai vua, ông lại ngược về phố chợ Cầu Đông thì thấy hai vua và đoàn tùy tùng đang đi về phường Hà Khẩu. Thật ra Hưng Đạo nhận ra vóc dáng quen thuộc của hai vua chứ các ngài cũng hóa trang làm các thương lái. Để giữ cho kín nhẹm, Quốc công sai Yết Kiêu ra tâu nhỏ với hai vua và xin mời nhà vua trở lại cung Thánh Từ.
Quốc công ruổi ngựa về trước, ông đang tha thẩn nơi vườn ngự thì hai vua bước vào sân điện. Ông vái hai vua rồi cùng bước lên thềm điện.
Trà nô vội dâng trà nóng. Những chén trà bốc khói mờ mờ. Cửa cung đóng kín cũng không ngăn nổi khí lạnh len lỏi đến tận cùng huyết quản. Thượng hoàng Thánh tông sai gấy lò sưởi. Hưng Đạo vội ngăn:
- Đa tạ thượng hoàng có lòng săn sóc, thần dầu dãi gió sương đã quen, nếu bây giờ ngồi cạnh lò sưởi ấm, lúc ra ngoài giá lạnh sẽ không còn đủ sức chịu đựng nữa, nay mai dẹp xong giặc dữ, xin thượng hoàng cùng quan gia cho về hưu trí để dưỡng nhàn nhân thể.
Nghe Quốc công nói, vua Nhân tông thấy xót xa lòng dạ, vua nói:
- Bá phụ tuổi cao mà vẫn phải dãi dầu sương gió xông pha trận mạc, lòng con thật không yên, xin bá phụ hãy bảo trọng tấm thân muôn quý để dùng cho việc lớn quốc gia. Chúng con thân nam nhi không làm tròn trách phận để phụ hoàng cùng bá phụ phải cáng đáng các công việc hệ trọng quốc gia, con thấy điều đó thực đáng mừng cho nước nhưng cũng tự thẹn ở trong lòng.
- Bệ hạ quá lời, chắc là xuất phát từ tình thương máu mủ, thần lấy làm cảm kích. Bệ hạ chẳng thấy người xưa thường nói: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” đó sao. Tâu, bây giờ chưa thể bàn đến chuyện dưỡng nhàn, cha con Hốt-tất-liệt còn đang định thui nướng cả dân tộc ta. Có mấy việc cấp kỳ thần xin được trình lên thượng hoàng cùng bệ hạ.
Vua Thánh tông mỉm cười, hỏi:
- Ngoài đánh giặc ra còn việc gì quan yếu nữa anh Quốc Tuấn?
- Tâu, đúng như thượng hoàng phán, thần xin nói ngay. Mấy bữa trước, thần đã tâu về việc Nhân Huệ vương đánh tan đội thuyền tải lương của giặc. Nay thần nói rõ hơn. Trần Khánh Dư khôn ngoan bức được một số thuyền giặc phải vào Cửa Vạn. Bắt sống được gần một ngàn tên giặc đi áp tải thuyền lương, thu được vài vạn thạch lương, cất giấu vào trong kho. Khánh Dư còn cản đường buộc các thuyền chạy thoát ở Cửa Vạn phải vào Cửa Đối. Tại đó Nhân Huệ vương lại cho quân mai phục đón đánh; thuyền nào chạy thoát vào trong, đã có quân của Hưng Nhượng vương Tảng mai phục đón đánh; kẻ nào thoát được khu vực Cửa Suốt của Tảng chạy vào Cửa Lục, đã có quân của Chiêu Minh vương Quang Khải cất vó. Tâu, chưa nắm được có bao nhiêu trong tổng số gần một trăm thuyền lương của giặc chạy thoát, nhưng không có một thuyền lương nào của giặc lọt được vào Bạch Đằng để đem lương thực tới Vạn Kiếp cho Thoát-hoan. Tâu, nhờ hồng phúc của tổ phụ, nhờ hồn thiêng sông núi phù trợ nên cuộc kháng giặc lần này chắc bớt gian nan hơn cuộc chiến năm Ất Dậu.
Nghe tin quân ta tiêu diệt hoàn toàn đoàn thuyền tải lương của giặc, hai vua hết đỗi vui mừng.
Vua Nhân tông nói:
- Thảo nào khi nghe tin giặc bắc lại sang, con hỏi: “Thế giặc năm nay thế nào?”. Bá phụ đáp: “Kim niên tặc nhàn”. Bá phụ xét đoán công việc như thần, trách chi cha con Hốt-tất-liệt chẳng thua hoài.
Trần Nhân tông ngửng nhìn Hưng Đạo lại quay nhìn vua cha, bất chợt ngài hỏi:
- Thưa bá phụ, liệu ta đã đủ sức đuổi giặc ra khỏi bờ cõi chưa? Nếu xét thấy đủ lực thời khởi sự lúc này là đẹp nhất.
- Phải, quan gia nói rất đúng, nếu bây giờ ta loan tin cho Thoát-hoan và toàn quân nó biết rằng nó đã bị thắt bao tử, đồng thời thả một số quân chúng bị bắt rải rác từ Cửa Vạn đến Cửa Lục để chúng báo tin thất trận cho nhau nghe, chắc trong quân nó sẽ rối loạn. Anh Quốc Tuấn thử cân nhắc xem, đã đến lúc làm việc này chưa? - Thượng hoàng Thánh tông vừa hưởng ứng điều quan gia nói lại vừa thăm dò ý tứ của quốc công tiết chế.
- Tâu, thần đã có kế phá giặc, bữa nay về đây là nhằm tâu lên thượng hoàng và quan gia kế đó.
Đúng lúc nghe có tiếng ngựa dồn vó rồi có tiếng chân bước mạnh lên bậc thềm.
- Chắc là Chiêu Minh vương về triều kiến.
Hưng Đạo nói chưa dứt lời thì Quang Khải ló đầu vào và nói lớn:
- Khấu kiến bệ hạ! - Ông cúi chào mọi người.
Thấy em từ mặt trận trở về mặt mày tươi rói, nói năng đi đứng ung dung như người mới đi xem hát về, Thánh tông càng thêm vững dạ. Ngài hỏi:
- Chú hai từ ngoài vào có lạnh không? Nghe nói chú cùng Nhân Huệ vương cắt mất bao tử của Thoát-hoan. Phá hết lương của cả một đội quân năm sáu chục vạn, tài như Trương Lương, Gia Cát cũng chưa từng lập được công ấy.
Quang Khải dịu giọng:
- Người có kỳ mưu để Nhân Huệ vương lập được kỳ công ấy chính là anh Quốc Tuấn chớ đâu phải đệ. Đệ chỉ góp phần cắt cái đuôi của nó thôi.
Quang Khải cười lớn, giọng hồ hởi, nói tiếp: - Tâu bệ hạ, nhẽ ra thần phải đóng gông vào cổ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư rồi nhốt vào cũi khiêng về triều cho thượng hoàng trị tội vì đã để thua trận.
- Khánh Dư thua Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp cũng như mấy năm trước đệ thua Toa-đô. Nhưng sau đó Toa-đô bị quân ta chém đầu ở bến Tây Kết, quan gia thương tình cởi áo đắp cho nó. Năm nay, ta ngờ rằng cả Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp cũng lại đi theo số phận của Toa-đô mà thôi. Thượng hoàng Thánh tông nói với Trần Quang Khải một cách hồ hởi, đoạn nhà vua quay về phía Hưng Đạo giục: - Anh Quốc Tuấn nói kế phá giặc đi. May quá hôm nay có anh Quốc Tuấn và Quang Khải cùng về, tôi đã sai phủ Tông chinh sửa lễ cáo tổ tiên nhân sắp đón tết Mậu Tý. Bàn việc xong, mấy anh em cùng đến nhà thái miếu lễ tổ. Sớm mai cho người cất giấu đồ thờ, ngọc phả và di tán mọi người trong phủ Tông chinh đến nơi an toàn.
Biết thời gian vô cùng eo hẹp, dự liệu giặc sắp đánh về Thăng Long, Hưng Đạo vương bèn nói:
- Tâu thượng hoàng cùng quan gia, quân ta đã triệt bỏ toàn bộ phần lương thực gần một trăm thuyền lớn do Trương Văn Hổ tổng quản. Hiện nay Nhân Huệ vương đang trọng trấn tại Vân Đồn, và Khánh Dư sẽ đối trận với bất kỳ loại quân nào xâm nhập vào nước ta qua nẻo Vân Đồn - Bạch Đằng - Vạn Kiếp chứ không cần phải náu mình như trước khi ta đánh vào quân lương của giặc. Và tiếp ứng cho Khánh Dư đã có Quốc Tảng. Như vậy lực lượng của giặc tuy còn rất lớn nhưng sức chiến đấu lại hết sức mong manh. Hiện thời Thoát-hoan vẫn chưa hay tin quân lương của nó đã bị tiêu diệt.
Vừa nghe Hưng Đạo nói, vua Nhân tông liền bày tỏ:
- Bá phụ, sao ta không thả một ít tù binh giặc bắt từ Vân Đồn với một vài vật lấy từ thuyền lương cho chúng đem về Vạn Kiếp cho Thoát-hoan.
- Phải đấy, Thánh tông nói. - Nếu ta làm như vậy, ắt Thoát-hoan phải tính chuyện lui quân ngay - Anh Quốc Tuấn tính sao? - Thượng hoàng hỏi.
Hưng Đạo chưa kịp trả lời, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đã vội nói:
- Huynh trưởng, không thể làm thế được. Thoát-hoan đưa quân vào nước ta là do mưu toan của cha nó. Hốt-tất-liệt muốn gom cả thiên hạ vào tay. Cuộc tái xâm lăng lần này ngoài ý đồ thôn tính còn có chuyện phục thù trận thua năm Ất Dậu. Từ khi giặc vào cõi tới nay, ngoài việc mất sạch lương, lực lượng của giặc thiệt hại không đáng kể, nếu ta để cho giặc rút an toàn chắc sớm muộn chúng lại kéo nhau sang, khiến nước ta lúc nào cũng phải gồng mình lên chống giặc, lúc nào dân nước cũng phải sống trong tình trạng bất an thì an cư lạc nghiệp sao được?
- Vậy anh Quốc Tuấn tính sao? - Thánh tông hỏi.
- Tâu, đúng như điều thượng tướng Chiêu Minh vương vừa nói. Nếu bây giờ để giặc chạy thoát, chắc rồi giặc lại sớm kéo nhau sang. Thần xin dâng kế đánh giặc như sau:
Lần trước giặc sang, cậy ưu thế về kỵ binh, nhưng ta không tiếp chiến với chúng trong mùa đông khô ráo, mà ta phản công giặc vào mùa nóng bức, mưa lụt khiến kỵ binh giặc trở nên vô dụng, và khi cần chuyển quân hoặc chở quân tăng viện phải vượt qua sông khi nước lớn, chúng đều phải bó tay vì không có thuyền, không có quân thủy. Vì vậy, lần này giặc đem vào nước ta tới hơn bảy trăm chiến thuyền với hơn mười vạn quân thủy. Lại đem theo tới mấy chục vạn thạch lương nhằm tính kế lâu dài.
Quân lương của giặc, ta đã tiêu diệt hoàn toàn, nếu ta lại tiêu diệt được đội quân thủy này và không để cho chúng còn được một chiếc thuyền lành lặn quay về, chắc sẽ gây cho giặc nỗi kinh hoàng để dạ. Và như thế có nghĩa là trong tất cả các chủng quân của chúng, không còn một chủng quân nào mà chúng nuôi hy vọng giữ được ưu thế với quân ta nữa. Từ đó có thể làm cho Hốt-tất-liệt thoái chí, hoặc nếu có muốn xâm lược nước ta chúng cũng phải tính toán kỹ và phải chuẩn bị lâu dài.
- Bá phụ, hiện nay giặc đang quy tụ trong vùng Vạn Kiếp, chúng đóng quân theo thế thủy bộ liên hoàn và với lực lượng lớn như vậy, liệu ta có nên đánh chúng vào lúc này không? - Vua Nhân tông hỏi.
- Tâu quan gia, đúng là ta không nên đánh giặc vào lúc nó đang cảnh giác và có ưu thế phòng thủ. Cho nên ta phải kéo giặc chạy theo ta, phải căng nó ra, buộc nó phải rải quân như rải mành mành. Tới lúc đó, ta muốn tiêu diệt giặc như thế nào là tùy ta chọn lựa.
Khi mới vào nước ta, Thoát-hoan hăm hở đánh chiếm Nội Bàng, Vạn Kiếp không mấy thiệt hại. Nhưng chỉ mấy ngày sau đó, hơn năm ngàn quân giặc vào sau, khi qua ải Nội Bàng đã bị quân ta chặn đứng và tiêu diệt gần hết, chỉ còn dăm bảy chục đứa thoát được về Tư Minh.
Tâu, hiện nay ở sau lưng giặc, quân của các tù trưởng đang quấy rối và chặn đường tiếp tế lương thảo của chúng. Mai đây quân của triều đình sẽ phối hợp với quân của các tù trưởng cắt đứt đường tiếp tế lương thảo, sẽ hãm giặc vào cảnh khốn đốn vì thiếu lương. Đương nhiên giặc sẽ sục sạo tìm cướp lương thực do dân cất giấu. Một đội quân năm, sáu chục vạn mà phải lo kiếm lương thực từng bữa, sao quân có thể yên tâm đánh trận được.
Nghe Hưng Đạo nói, thượng hoàng Thánh tông lấy làm đẹp ý, ngài gật gật đầu vẻ hài lòng. Đoạn ngài hỏi:
- Kế của anh Quốc Tuấn khá vẹn toàn. Nếu gây cho giặc thiệt hại đau đớn, thiệt hại to lớn khiến những kẻ đã tham chiến mỗi khi nghĩ đến Đại Việt là sởn da gà, vì vậy mỗi khi Hốt-tất-liệt có lệnh Nam chinh sẽ có nhiều người can gián buộc y phải cân nhắc. Tuy vậy, làm thế nào mà căng được quân nó ra, làm thế nào buộc nó phải rải quân thưa thoáng như rải mành mành.
- Tâu, chỉ nay mai giặc sẽ đánh qua sông Thiên Đức, quân ta cũng kháng cự vừa phải rồi nhường đường cho nó. Tiếp theo giặc sẽ tiến vào Thăng Long. Mục đích của giặc là truy đuổi hai vua, truy đuổi thần. Vì vậy xin thượng hoàng và quan gia cho phép quân đóng giả xa giá cho chúng cứ đuổi theo hút. Vừa đuổi theo ta, chúng vừa phải rải quân giữ các miền đất quan trọng chúng vừa chiếm được như Thăng Long, Hoa Lư, Thiên Trường. Và sớm mai xin thượng hoàng và quan gia cùng thần quay về lộ Hải Đông để điều hành việc đuổi giặc. Tâu, cũng như lần trước rút khỏi Thăng Long, quan gia có dụ triều quan rằng: “Cho giặc ở trọ ít bữa rồi ta sẽ đòi lại”.
Hưng Đạo mỉm cười, khẽ ve vuốt chòm râu bạc và chậm rãi: - Tâu, lần trước ta cho giặc ở trọ hơi lâu, lần này chắc Thoát-hoan không được phép dây dưa. Vả lại giặc muốn đánh nhanh, thắng nhanh, ắt chúng sẽ bộc lộ nhiều sơ hở, ta càng dễ đánh.
Cả hai vua và Quang Khải đều cho kế phá giặc của Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương là thượng sách.
Việc đóng giả xa giá và dụ giặc trao lại cho thượng tướng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng các tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Toàn… đảm trách.
Lại nói Thoát-hoan ở Vạn Kiếp sau khi đã chiếm được một vùng gồm sáu con sông bao lấy cả lưu vực có đồng bằng rộng lớn lại thêm núi rừng hiểm trở và đường giao thông thủy bộ rất thuận lợi cho việc phòng thủ cũng như tiến công. Cùng với đội quân thủy đông đảo, hùng mạnh với hơn bảy trăm chiến thuyền cùng cả vạn quân kỵ phối với mấy chục vạn quân bộ nữa, Thoát-hoan hi vọng sẽ đè bẹp đội quân còm cõi của nhà Trần vào bất cứ lúc nào, mùa nào, thời tiết nào. Tất cả các chủng quân đã về hội đầy đủ tại Vạn Kiếp, chỉ còn chờ đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ nữa thì sẽ phái binh đi đánh khắp nơi, đi chiếm Thăng Long bắt vua Trần và Hưng Đạo về trị tội.
Đóng quân yên vị, bố phòng cẩn mật Thoát-hoan cho triệu các tướng cầm đầu các đạo quân vào trướng hổ để nghị bàn.
Điểm mặt ta thấy có: Bình chương chính sự Áo-lỗ-xích, hữu thừa A-ba-tri, tả thừa A-li, hữu thừa Trịnh Bằng Phi, tham tri chính sự Ô-mã-nhi bạt-đô, tham tri chính sự Phàn Tiếp và các tướng Bôn-kha-đa, A-ric Kha-y-a, Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê, A-ruc… và các chư vương Mang-khu-đai, A-tai. Đặc biệt hơn cả là vị thân vương Tích-lệ-cơ[66].
Mở đầu Thoát-hoan hỏi:
- Các ông có biết vì sao lần chinh Giao Chỉ này, quân ta tiến nhanh như vậy không?
Các tướng còn cân nhắc chưa kịp trả lời, Thoát-hoan đã lại nói:
- Theo ta, giặc tuy có ra sức chống cự, nhưng lực lượng của chúng yếu và mỏng. Ngay như ải Nội Bàng, cuộc chiến năm Ất Dậu, Hưng Đạo đánh nhau với ta quyết liệt lắm. Nhưng lần này, ta chỉ cho quân đánh dấn lên một tí, Hưng Đạo đã bỏ chạy. Sớm hôm sau ta sai phó tướng bình chương A-gu-ruc-tri (Áo-lỗ-xích) dẫn một vạn quân bộ với hai ngàn kỵ binh tiến chiếm Vạn Kiếp, Hưng Đạo bỏ chạy chứ không dám giao chiến. Thế mà lần trước các tướng A-lí Hải-nha, Lý Hằng, Lý Quán và cả Trịnh Bằng Phi đây nữa phải đánh tới mấy ngày mới lui được Hưng Đạo. Như vậy có phải cuộc chiến năm Ất Dậu, ta đã tiêu diệt gần hết sinh lực của An Nam và nó chưa kịp hồi phục.
Vừa nghe chủ tướng nói, nhiều người gật gù vẻ thán phục. Ô-mã-nhi tiếp lời ngay.
- Tâu Trấn Nam vương, quả là quân An Nam kháng cự không hơn lũ giặc cỏ. Hải binh của tiểu tướng cứ băng băng rẽ nước như đi vào chỗ không người. Vậy mà cứ ngoa đồn An Nam giỏi thủy chiến. Nhân đà quân khỏe, giặc đang sợ hãi trốn tránh xin Trấn Nam vương cho đánh sớm.
A-ruc, viên tướng chỉ huy mấy trận thủy chiến với quân Đại Việt trong khu vực Tam Đái giang, ngoài bị thiệt hại về quân số và chiến thuyền, y còn bị mất viên tướng vạn hộ Đương Tông. Thiệt hại tuy không lớn, nhưng sự thiện xảo của quân thủy An Nam thì không thể coi thường. Nghĩ vậy, A-ruc bèn lên tiếng:
- Bẩm Trấn Nam vương, đúng là tiềm lực của giặc không có gì đáng kể, nhưng quân thủy của chúng cũng vào loại thiện xảo, nên đề phòng thì hơn.
Bôn-kha-đa viên dũng tướng cùng Trịnh Bằng Phi dẫn quân qua ải Chi Lăng bị quân Trần chặn đánh khốc liệt, nhưng rồi chúng cũng qua được ải này. Nhưng bị cái nhục bọ châu chấu cứt vẫn còn hậm hực nên thấy A-ruc tỏ ý khen đám quân thủy của người An Nam, Bôn-kha-đa tỏ vẻ bực giận, vội nói:
- Quân An Nam tuy có kháng cự lại quân thiên triều, nhưng xem ra thực lực quân nó chẳng có gì. Vì vậy chớ có khen nó mà làm mất nhuệ khí của quân ta.
Các tướng kẻ nói quân An Nam yếu, kẻ bảo quân An Nam cũng đánh giỏi nhưng tựu chung đều coi quân An Nam đã suy sụp, thực lực không còn gì đáng kể, chỉ quét vài trận là xong.
Thoát-hoan nhìn các tướng vẻ hài lòng, nhưng vẫn có điều chưa an tâm liền hướng về phía Ô-mã-nhi hỏi:
- Tham tri bạt-đô, cớ sao Trương Văn Hổ và đoàn quân lương vẫn chưa thấy tới là thế nào. Hay là quân Giao Chỉ đã lén cướp mất lương thực của ta rồi?
Tham tri chính sự Ô-mã-nhi bèn thưa:
- Tâu Trấn Nam vương, tải lương là loại thuyền mành to, mỗi thuyền chở tới mấy trăm thạch làm sao mà đi nhanh được ạ. Còn quân Giao Chỉ thì vương khỏi phải bận tâm. Vả lại Trương Văn Hổ, cha con y chuyên nghề cướp biển thì còn kẻ nào cướp được của y nữa. Ấy là chưa kể một đội năm ngàn quân thiện xảo đi hộ tống cho đoàn thuyền lương nữa. Vả lại mỗi thuyền cũng có tới năm sáu chục quân hải hành được trang bị khí giới đầy đủ. Chắc chỉ nay mai Trương Văn Hổ sẽ về chầu dưới trướng.
Thoát-hoan ngoái nhìn viên phó tướng hỏi:
- Việc trong quân thế nào ông bình chương? Ấy là ta muốn hỏi các việc về hậu cần như lương thực cho quân, cỏ cho ngựa, thuyền bè đóng bù vào số đã mất, đã hỏng trong lúc giao tranh; lại cũng phải đóng thêm để dự trữ khi cần. Rồi trong quân có bị đau ốm do thì tiết, thủy thổ không hợp. Kể cả việc ta dự liệu tiến đánh Thăng Long, truy bắt cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo ông trù hoạch đến đâu rồi? Bao giờ thì khởi sự được?
Áo-lỗ-xích là một viên tướng dạn dày kinh nghiệm chiến trường, được đào tạo qua tay của A-lí Hải-nha, Hốt-tất-liệt tin cậy trao cho chức bình chương chính sự, cho ở cạnh thái tử Thoát-hoan ngày đêm giúp rập trong công cuộc Nam chinh. Nghe chủ tướng hỏi, viên phó tướng liền đáp:
- Bẩm Trấn Nam vương, lương thực do quân mang theo đủ ăn trong mươi ngày. Tuy nhiên số lương thực do quân sục sạo vào các nơi cất giấu của dân chúng thu về cũng đủ nuôi quân khoảng hai chục ngày nữa. Hiện còn một số lúa chín muộn dân Giao Chỉ bỏ trốn chưa kịp gặt, tôi đã cho lũ lính Giang Nam đi gặt về và phơi phóng, số lúa này còn đang tận thu chưa tính được. Vả lại nay mai đội quân tải lương của Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ Trương Văn Hổ chở đến mấy chục vạn thạch lúa gạo, cỏ ngựa và cả binh khí nữa thì việc lương thảo có thể yên tâm được. Đúng là cỏ ngựa hiện nay đang là mối lo. Bởi xứ này mùa đông thì cỏ lụi, mùa hè thì cỏ hôi, ngựa của ta chỉ quen ăn cỏ trên thảo nguyên. Nếu không có cỏ khô phải cho ăn bằng lúa thì vô cùng tốn kém, nuôi một con ngựa bằng nuôi cả chục tên quân. Sức khỏe trong quân hiện nay đang tốt bởi khí hậu cũng lạnh se như phương bắc. Tuy nhiên nếu trời đổ mưa dầm thì lũ quân Giang Nam chỉ tìm nơi đốt lửa sưởi mà quân phương bắc cũng rất khó chịu. Lại thêm nỗi tết nhất sắp đến, đám quân người Trung Hoa càng tỏ vẻ nhớ nhà. Việc đóng thuyền bè đang trôi chảy, ngoài việc đóng thuyền mới, quân còn đi cướp được của dân thuyền chài Giao Chỉ cũng được vài trăm chiếc có thể dùng tạm được.
Bẩm Trấn Nam vương theo tôi nghĩ, quân không nên cho nghỉ lâu. Nghỉ lâu sinh trễ biếng, quần tụ dễ nảy chuyện không hay, chi bằng ta cho quân đánh thần tốc về Thăng Long nhân sắp tết, cha con Nhật Huyên đang lo cúng tế tổ tiên, chắc quân nó có phần bê trễ.
Thoát-hoan tỏ vẻ hài lòng bèn hỏi lại:
- Vậy lúc nào ta có thể khởi binh được?
Áo-lỗ-xích đáp:
- Tâu, nếu Trấn Nam vương ra lệnh, quân có thể lên đường bất cứ lúc nào.
- Các tướng nghe ta nói đây, Thoát-hoan hạ lệnh. - Mọi chủng quân đều phải chuẩn bị sẵn sàng, trong hai hoặc ba ngày nữa ta xuất binh đánh Thăng Long. Đầu giờ thìn ngày mai, các tướng đến nhận kế tại doanh của ông bình chương, vừa nói Thoát-hoan vừa chỉ tay vào viên phó tướng Áo-lỗ-xích.
Tiếng hô đồng thanh: - Tuân mệnh!
Rồi ai về trại ấy.
Tại Thăng Long, Hưng Đạo đã rước hai vua xuống thuyền từ nửa đêm xuôi về đại bản doanh của ông để các ngài giám sát thế trận và cả huấn hỗ khi cần. Cùng đi theo hai vua có thượng tướng Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cùng với số quân của phủ Chiêu Minh, các vệ tả hữu Kim ngô, Thần bổng, Tứ thiên, Tứ thánh đều theo vua hộ giá. Và khi cần, quân hộ giá sẽ là quân tăng viện. Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão đã vào cấm thành nhận mệnh, chỉ còn các phó tướng trấn tại cửa sông Thiên Đức nối với sông Cái - cổng vào Thăng Long bằng đường thủy.
Thành Thăng Long vắng hoe, phố phường không một bóng người. Ngay cả đám khách trú cũng buộc phải di tán sâu về các miền quê khuất lấp, bởi như cuộc kháng giặc năm Ất Dậu, dân khách trú ở lại thuần đi lùng sục khắp nơi lấy lương thực, thực phẩm về bán cho giặc. Cũng không ít kẻ chỉ đường dẫn lối cho giặc đi đánh quân ta hoặc moi móc các hầm cất giấu lương thực.
Thỉnh thoảng lại ló một toán dân binh phối với quân tứ sương đi tuần tra các phố, đề phòng quân gian hoặc trộm cắp lọt vào hôi của.
Mờ sáng ngày hai mươi ba tháng chạp, hữu thừa A-ba-tri lĩnh hai ngàn kỵ binh xuất phát từ Vạn Kiếp, hữu thừa Trịnh Bằng Phi lĩnh hai vạn bộ binh xuất phát bằng thuyền từ Lục Đầu giang, ngược về phía sông Thiên Đức, tham tri chính sự Ô-mã-nhi và tham tri chính sự Phàn Tiếp đem theo bốn trăm chiến thuyền cùng năm vạn quân thủy, sau khi đánh chiếm Thăng Long, nếu chưa bắt được cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo thì truy đuổi tiếp, và tách ra một bộ phận cùng với quân kỵ về chiếm Thiên Trường, Long Hưng…
Khoảng đầu giờ thân ngày hai mươi ba tháng chạp quân kỵ của giặc đã tới đoạn gần ngã ba nơi sông Thiên Đức và sông Cái[67] gặp nhau. A-ba-tri ghìm cương ngựa nhìn dòng sông mà ngán ngẩm. Cho dù mùa nước cạn xem ra vẫn còn mênh mang lắm, và nước vẫn chảy xiết như thể ném lao. Y khẽ hất bả vai trái, nơi mắc hai cây cung[68] một dài một ngắn, lập tức cây cung ngắn tách ra khỏi bả vai, tay phải y đỡ lấy và vòng tay trái về phía sau gáy nhón một mũi tên từ trong giỏ đeo sau lưng. Chỉ trong chớp mắt A-ba-tri đã kịp lắp tên và giương cung căng hết cỡ bắn chúc xuống lòng sông, mũi tên nổi bềnh lên ngay sau đó. A-ba-tri xoay ngựa đi lại mấy vòng quanh khu vực để quan sát địa hình. Y phóng tầm mắt nhìn qua sông Cái về phía bờ tây, biết ở phía sau những dải rừng xanh mút tầm nhìn và lúc nào cũng phủ mờ sương khói kia là kinh thành Thăng Long. Muốn vào Thăng Long, đương nhiên phải vượt qua được dòng sông vừa rộng vừa sâu này. Sông rộng, nước sâu kỵ binh muốn qua phải có cầu phao hoặc phải dùng thuyền. A-ba-tri lấy mắt ước lượng chiều rộng của lòng sông Cái. Y vẫy một kỵ đội theo sau đi thám sát nơi nghi là trận địa của quân Đại Việt mà y gọi là nơi quân Giao Chỉ ẩn nấp.
Gần cuối giờ dậu chiến thuyền của Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp cũng đã tới. Quân bộ đưa lên bờ phối với quân kỵ đứng rợp cả bờ sông.
Trời chạng vạng tối, gió bắc thổi miên man, mưa dầm nặng hạt, đâu đó tiếng chuông chùa ngân nghe như ứ nghẹn trong cảnh chiều thê lương. Cả một vùng đồng ruộng, sông nước, rừng rậm tịnh không một bóng người qua lại, không cả một làn khói bếp, nếu không có tiếng chuông nhà Phật cứu rỗi, ta ngỡ đây là vùng đất chết.
Viên bình chương chính sự phó tướng Áo-lỗ-xích đang đứng quan sát xem đối phương phục quân ở đâu và quân Nguyên sẽ giăng thế trận ở đâu, chợt nghe tiếng chuông khiến y thẫn thờ.
Kỳ lạ, viên hữu thừa A-ba-tri dẫn kỵ đội tới đây thì dừng lại, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Trịnh Bằng Phi vừa tới đây cũng cho quân dừng lại. Dường như lũ tướng giặc dạn dày trận mạc này có cái mũi thính của loài diều quạ, thoáng chút là chúng đã đánh hơi được mùi tử khí.
Bóng tối ập xuống nhanh như một cái bẫy sập, và gió rét luồn lách vào tận tủy xương khiến đám quân Nguyên cứ xích lại gần nhau vừa tránh gió vừa truyền hơi ấm cho nhau. Lũ ngựa phương bắc tuy quen cái lạnh băng tuyết của vùng thảo nguyên, cũng tỏ vẻ khó chịu với cái lạnh khác thường của xứ sở xa lạ này, chúng luôn đập móng, đổi chân, cử động thân thể, dường như chúng làm thế là để chống lại cái giá lạnh của phương nam.
Giữa lúc các tướng giặc còn đang quan sát địa hình, bất thình lình có một tiếng nổ rồi nhiều tiếng nổ vang ầm như sấm động, và từ mọi phía quân Đại Việt ào lên đánh vỗ mặt quân Nguyên với các loại binh khí như giáo, mác, mã tấu, đoản đao. Quân Đại Việt xuất hiện như một thứ âm binh đội đất lên và xông thẳng vào đám giặc còn đang ngơ ngác.
Quá bất ngờ, cả tướng và quân giặc đều hốt hoảng giẫm đạp lên nhau tìm đường tháo chạy. Quân ta chém giết mỏi tay cho tới khi lũ giặc lùi khỏi tầm tay thì các chiến binh Đại Việt lại dùng cung, nỏ bắn đuổi. Người ngựa chết lăn quay hoặc giẫm đạp lên nhau, khiến những tên giặc đang ngắc ngoải kêu rên, la thét thật là thê thảm. Đây là đám giặc trên bộ, còn đám giặc dưới sông nơi gặp gỡ giữa sông Thiên Đức và sông Cái, Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đang nghênh ngang cho quân xuôi thuyền về phía hạ lưu, phía kinh thành Thăng Long. Với vẻ coi thường quân Đại Việt và với ý muốn tiến thật nhanh về Thăng Long mưu lập công đầu, Ô-mã-nhi sai quân cứ thế giong buồm chứ không chờ quân kỵ, quân bộ đi trên bờ sông cùng nương tựa vào nhau mà tiến.
Do vậy cùng lúc các quân kỵ, quân bộ của giặc ở trên bờ bị đánh tơi tả, tranh nhau tháo chạy thì trên mặt sông, quân ta tập trung mọi nỗ lực bắn cháy ngay lập tức gần chục chiến thuyền đi đầu. Do buồm bị cháy, dây lèo bị đứt, thuyền chững lại quay ngang và những chiếc đi sau không hãm kịp, cứ thế đâm vào nhau gãy vỡ liên hoàn, trong thoáng lát nước tràn làm chìm hết chiếc nọ đến chiếc kia và chúng dính mắc vào nhau cản đường tiến, thoái.
Trong lúc giặc đang rối loạn thì chiến thuyền của quân ta phục trong các khe, lạch hoặc ẩn trong các bờ cói lác cao lút đầu người ùa ra đông như lá tre quây chặt lấy đoàn chiến thuyền của Ô-mã-nhi. Quân ta đánh rất táo bạo, nhảy ào lên thuyền giặc đâm, chém, giằng co, vật lộn rồi đẩy chúng xuống sông hoặc kéo giặc xuống sông mà dìm chết.
Giữa lúc giặc đang hoảng loạn thì từ bốn phía đều vang lên tiếng tù và, tiếng trống đồng, tiếng hò reo vang dội khắp mặt sông. Khắp bốn bề đều thấy lửa cháy bốc cao ngút trời và các âm thanh nhọn sắc từ trống đồng phát ra làm lộng óc quân thù khiến tâm thần chúng càng thêm hoảng loạn không biết chống đỡ bằng cách nào. Quân ta đánh ào ạt chừng nửa canh giờ vừa đốt vừa đánh đắm tới năm, sáu chục chiến thuyền. Giặc vừa bị quân ta giết trên thuyền, đẩy xuống sông hoặc lôi giặc xuống sông dìm chết, hoặc chúng lúng túng chết theo thuyền chìm, hoặc chúng chạy trốn nhảy liều xuống sông do không biết bơi mà chết. Tất cả những cái chết ấy khiến giặc hoảng sợ và chống đỡ thật là yếu ớt.
Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp ở phía sau thấy tình thế bất lợi, thúc quân tiến lên tiếp chiến. Nhưng trong đêm cuối năm trời tối đen như mực không phân biệt đâu là quân Nguyên, đâu là quân Việt, Ô-mã-nhi sai hàng trăm chiến thuyền chắn ngang dòng sông vừa để trợ chiến cho các chiến thuyền đang đánh nhau ở phía trước vừa ngăn không cho quân Đại Việt tiến lên. Vì thế những chiến thuyền quân Nguyên đang bị quân Đại Việt bao vây mặc nhiên bị bỏ rơi và mặc sức cho quân Đại Việt chém giết tơi bời.
Chừng như việc giáng cho quân Nguyên một đòn như thế là đủ, bỗng một loạt pháo thăng thiên làm sáng rực cả trời đêm và tiếng trống đồng cùng tiếng kèn hối thúc, như phía Đại Việt lại sắp mở một đòn tiến công khốc liệt khiến quân Nguyên thay vì chống đỡ yếu ớt, chúng liền co cụm lại với nhau. Chính lúc đó, quân Đại Việt biến vào bóng đêm như họ đột ngột xuất hiện.
Trận đánh bất ngờ của quân Đại Việt khiến cả quân bộ, quân kỵ, quân thủy của Thoát-hoan thiệt hại nặng nề và chúng phải lui quân tới hai mươi dặm mới dừng quân hạ trại và chờ qua ba ngày sau mới dám tiến binh. Lần này giặc tiến quân thận trọng hơn. Hai quân mã, bộ nương tựa vào nhau và có cả bộ phận đi song hành với quân thủy trên bờ sông. Đoạn đường từ sông Thiên Đức về tới trại Bồ Đề Gia Lâm giặc phải đi ròng rã suốt một ngày đêm, nhưng không gặp bất cứ một sự chặn ngăn chống đối nào của quân Đại Việt.
Thoát-hoan sai lập doanh trại và cho quân mai phục đúng như cách đây mấy năm y đã chiếm đóng khu vực này. Vừa hạ trại xong được vài canh giờ, quân tuần thám đã bắt đưa về đại bản doanh một người bản xứ mà chúng cho là quân gian tế.
Xét hỏi, người đó dâng lên một bức thư. Chúng dâng thư đó đến tận tay Trấn Nam vương Thoát-hoan. Thoát-hoan sai hữu thừa Trịnh Bằng Phi mở đọc. Thư rằng:
Hưng Ninh vương Trần Tung cúi đầu kính dâng thư này lên Trấn Nam vương.
Nghe danh đại vương từ lâu, nay mới được thấy oai trời. Quốc vương tôi run sợ, sai tôi viết biểu trần tình.
Kính bẩm đại vương, nước tôi bé nhỏ nép ở góc cùng trời cuối biển, một lòng thờ thượng quốc, đời đời là nước phên dậu. Không hiểu vì cớ gì năm Ất Dậu thiên tử phái đại binh sang giày xéo vương thổ, đốt phá vương đình, tàn sát sinh linh khiến nước tôi lâm vào suy kiệt.
Chưa được ba năm, tang tóc còn bao phủ khắp chốn cùng nơi, dân tình còn điêu háo; nay không hiểu vì cớ gì thiên binh lại ầm ầm vào cõi, khiến trăm họ sợ hãi trốn chạy vào rừng sâu hang núi, làm quốc chủ tôi hết sức đau lòng.
Thương dân vô tội phải chịu lầm than, quốc vương tôi tự biết phận nước nhỏ không thể chống lại nước lớn, sức con bọ ngựa sao cản nổi chiếc càng đại xa.
Vậy xin đại vương nới tay tàn sát cho dân tôi được sống yên ổn để quốc vương tôi thu xếp ngày một ngày hai sẽ tới diện trình tại nơi trướng hổ.
Thư nói chẳng hết lời, kính mong đại vương đèn giời soi xét. Và xin sớm được hồi âm để hẹn ngày ra mắt.
Tuệ Trung Thượng sĩ Hưng Ninh vương Trần Tung kính bái.
Nghe lời lẽ trong thư tỏ ra nhu thuận, Thoát-hoan gần như có phần hài lòng. Y quay hỏi tả hữu:
- Các ông thấy thế nào? Có phải An Nam núng thế xin hàng hay nó định trá hàng đây.
Hữu thừa Trịnh Bằng Phi tỏ ra am tường người Đại Việt, y nói luôn:
- Bẩm Trấn Nam vương, dân Giao Chỉ tráo trở, xin chớ vội tin.
Bình chương Áo-lỗ-xích lại nói khác:
- Cứ xem cách đánh của người Giao Chỉ cũng có phần kiên cường, quyết liệt, nhưng vì lực nó quá yếu nên từ khi ta đưa quân vào đất nó tới nay, chưa có ải nào nó giữ nổi lấy ba ngày, chưa có trận nào gọi là đại trận. Vì vậy việc nó xin hàng đây có thể tin tới sáu, bảy phần, xin Trấn Nam vương cân nhắc.
Tham tri chính sự Ô-mã-nhi cũng xin nói:
- An Nam thường tự phụ có đội quân thủy thiện xảo thế mà khi thủy binh của ta vào nước nó, chỉ có vài trăm đứa ở mũi Ngọc Sơn đánh đấm nhì nhằng như bầy giặc cỏ, đại binh ta chưa kịp ra tay thì chúng đã trốn chạy không biết đâu mà truy tầm nữa. Cùng với các cửa ải lần này chúng kháng cự đều yếu ớt, chứng tỏ cuộc chinh phạt năm Ất Dậu mới đây của Trấn Nam vương đã làm suy kiệt nước nó. Vì vậy việc Nhật Huyên phải đưa anh họ nó ra xin thương thảo đầu hàng với Trấn Nam vương là bởi An Nam đã tới bước đường cùng. Tuy vậy để chúng không còn khả năng tráo trở như ông hữu thừa Trịnh Bằng Phi vừa tâu báo, xin Trấn Nam vương cho đánh dốc vào Thăng Long, truy bắt cho bằng được cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo. Nếu bắt được mấy người này, cuộc chinh phạt An Nam coi như hoàn tất, Trấn Nam vương chỉ việc chia Giao Chỉ thành quận huyện, đặt quan cai trị và ngài xin với thiên tử ở lại làm tiểu vương ở cái xứ rừng vàng biển bạc này chẳng hay lắm sao.
Nghe Ô-mã-nhi nói, Thoát-hoan cảm thấy nhẹ người và y cảm như chiến thắng trọn vẹn đang trong tầm tay.
Tả thừa A-li cũng phụ họa:
- Tâu Trấn Nam vương, sau khi đặt quan cai trị xong, Trấn Nam vương nên nghĩ ngay đến việc bức hàng Champa, Chân Lạp, Tiêm La… cả một dải đất phương nam mênh mông và giàu có phụ vào đế quốc của thiên tử. Sau kỳ công vĩ đại này, chắc thiên tử sẽ hài lòng ân thưởng cho chủ tướng và tiến phong ngài tước đại vương.
Thoát-hoan nghe tả hữu tâu báo thấy đều có lý. Hắn có vẻ hài lòng, liền phán:
- Nếu được như điều các ông nói, mà ta chắc sẽ được như vậy, ta cũng muốn ở lại đất này. Vả nếu ta được thiên tử mông ân cho ở lại, tất ta không chịu cho các ông về lại Trung nguyên đâu. Chẳng nhẽ khi gian nan có nhau mà khi hưởng phú quý lại chỉ có một mình ta sao. Ngẫm nghĩ giây lâu, Thoát-hoan lại nói: - Ta thấy Ô-mã-nhi nói cũng có lý, nhân nó đang sợ hãi, ta phải cấp kỳ truy đuổi, bắt được bọn đầu sỏ ương bướng trái mệnh, chắc công việc bình định của ta sẽ sớm viên thành. Vậy các ông thử bày kế trong những ngày tới nên tiến binh thế nào? Liệu ta có thể chia binh quây gọn Thăng Long mà bắt lấy chúng không?
Ô-mã-nhi xin nói:
- Tâu Trấn Nam vương, muốn quây gọn Thăng Long ta phải có quân ở mặt nam. Điều này hiện thời chưa làm được, bởi quân ta và quân Giao Chỉ đang phân chia thành hai tuyến bắc - nam. Muốn có quân mặt nam ta phải cho quân thủy đi đường biển vào cửa Đại An chiếm lấy Thiên Trường. Rồi từ Thiên Trường tiến về Thăng Long theo hai đường thủy bộ. Và từ mặt bắc này ta vượt qua sông Cái để úp lấy Thăng Long.
- Không! Không thể làm như vậy được, Thoát-hoan chặn ngay. Làm theo kế của Ô-mã-nhi thì trọn vẹn nhưng quá chậm, e rằng cha con Nhật Huyên chạy trốn đến tận Champa mất. Theo ta phải đánh cấp kỳ, phải dùng đại lực lượng mà uy hiếp nó, phải đuổi thật gấp để nó không trốn chạy đằng nào cho kịp.
Thoát-hoan nhìn chư tướng và dừng lại nơi Áo-lỗ-xích và hỏi:
- A-gu-ruc-tri, ông tính sao?
- Bẩm vương, ý của vương là sáng suốt, nên thực hiện ngay để quân kia không kịp xoay trở.
Hữu thừa A-ba-tri cũng hùa theo:
- Bẩm khi giặc đã ở thế yếu thời phải đánh cho nó không kịp xoay trở, khiến nó chạy không kịp thở nữa kia. Làm theo kế của Trấn Nam vương là thượng sách. Để chặn giặc không kịp tháo chạy, không nhất thiết phải phái thủy đội hùng mạnh như bạt-đô tướng quân nói, mà theo tôi, ta nên phái năm ngàn kỵ binh phi thẳng về Thiên Trường, chặn đứng cửa Hải Thị để giặc không có đường trốn ra biển. Nếu Trấn Nam vương cho phép, tôi xin lĩnh kỵ đội đi chặn giặc.
Với vẻ khoái hoạt, Thoát-hoan nói lớn:
- Các tướng bàn rất hợp ý ta. Các ông về lo liệu việc quân mình cho chu đáo, giờ sửu ngày kia ta tiến đánh Thăng Long. Sau khi đại quân đã qua sông, hữu thừa A-ba-tri đem toàn bộ kỵ đội của ông ruổi ngay xuống Thiên Trường chứ không dừng lại Thăng Long. Ô-mã-nhi bạt đô cũng đem hơn ba trăm chiến thuyền đuổi gấp cha con Nhật Huyên. Hữu thừa Trịnh Bằng Phi đem năm vạn quân đánh qua Trường Yên, chặn đường thiên lý không cho quân An Nam chạy trốn vào Thanh Hóa. Bình chương chính sự phó tướng Áo-lỗ-xích sau khi đã cho quân an vị ở Thăng Long phải trở lại ngay Vạn Kiếp đề phòng Hưng Đạo có thể tập kích lấy lại căn cứ của ta. Các ông nên nhớ Vạn Kiếp vừa là đầu não vừa là huyết mạch của chiến trường An Nam, ai chiếm được nó sẽ làm chủ đất này.
Như có điều gì ám ảnh làm Thoát-hoan đột nhiên biến sắc mặt, giọng có vẻ lo âu quay về phía các tướng và hỏi: - Đã hơn một tháng sao vẫn chưa thấy đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tới là cớ làm sao?
Câu hỏi của Trấn Nam vương khiến mọi người giật thột như bước chân trần lên mặt hồ đóng băng.
CHƯƠNG 13
Đêm lạnh trong chiếc lán dựng tạm nơi rừng sâu, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương vẫn lúi húi rắc cát trên mặt phản ghép từ bốn mảnh gỗ, ông giả định các đường tiến binh của giặc. Đâu là quân thủy, đâu là quân bộ, quân kỵ. Chỗ nào ta đặt phục binh, chỗ nào nghi binh đều có các dấu phân biệt như mũi tên, hình tròn, hình vuông hoặc hình nọ chồng lên hình kia.
Yết Kiêu, Dã Tượng hai gia nô nhưng thực tài của họ chẳng thua vị gia tướng nào của Quốc công. Thấy chủ tướng thức khuya, hai người đều lấp ló, quanh quẩn vừa là bảo vệ chủ tướng vừa xem ngài có cần sai bảo điều gì.
Trời lạnh tới mức nhìn hơi thở của Quốc công phả ra qua mũi có màu trắng đục như hai luồng khói chạy song song, Yết Kiêu chạnh lòng về tuổi tác của chủ tướng đã cao mà vẫn chưa được hưởng nhàn, vẫn phải dầu dãi gió sương ngày đêm nghĩ kế phá giặc.
Yết Kiêu mở tấm áo bông chần do phu nhân gói ghém gởi cho đức ông bữa chàng đi truyền lệnh ghé thăm bà tại nơi di tán, chàng lặng lẽ khoác tấm áo lên vai vị tướng già.
Hưng Đạo khẽ so vai ngửng nhìn người gia nô hỏi:
- Áo nào vậy con? Ta thấy ấm hẳn lên.
- Bẩm Quốc công, đây là tấm áo cũ của ngài, đức bà may sửa lại, bữa con đi truyền lệnh cho Nhân Huệ vương ở Vân Đồn về có ghé thăm nơi đức bà cùng gia nhân di tán, đức bà trao cho con mang đi và dặn khi nào trời lạnh thì đem ra để đức ông vận cho đỡ giá buốt.
Vị tướng già nhìn xuống tấm áo cũ được may chần lại cẩn thận mà lòng se thắt. Ông ngoái hỏi Yết Kiêu:
- Bữa con về nhà, phu nhân có đỡ đau hai bên đầu gối không?
- Bẩm phu nhân nói dạo này đã đỡ hơn.
- Sao con không nói với ta.
- Bẩm, con thấy đức ông ít có lúc rảnh rỗi nên con không dám thưa.
Quốc công đang muốn hỏi thêm về phu nhân ở nơi di tán thì vua Nhân Tôn bước vào. Ngài vận sơ sài nếu bằng vào y phục thời không thể biết ngài thuộc đẳng cấp nào. Chiếc áo bông dài may bằng vải thanh cát, đầu đội mũ bồ đài có dây buộc qua cằm, chân đi giày vải, cổ quấn dải khăn lụa màu nâu, ngang lưng không thắt đai mà buộc bằng sợi gióc to bằng ngón chân cái, hai đầu gút lại thành hai quả cầu tròn to bằng chiếc trứng vịt. Sợi dây dài hơn một sải tay khi cần có thể dùng nó làm vũ khí tựa như cây thiết lĩnh.
Vừa thấy nhà vua, Hưng Đạo vội đứng dậy chào:
- Đêm khuya, sao bệ hạ không đi nghỉ để giữ gìn ngọc thể. Trong công cuộc kình chống với giặc dữ phương Bắc, thượng hoàng và bệ hạ là linh hồn của cuộc kháng chiến thần thánh này, vậy nên phải bảo trọng tấm thân muôn quý để dùng cho nước.
Vua Nhân tông nhẹ giọng, và với vẻ khiêm cung ngài nói:
- Bá phụ, nhẽ ra thời tiết giá lạnh thế này, bá phụ mới cần phải bảo trọng, chứ con sức lực còn đang độ tráng niên, lo gì?
Hưng Đạo mỉm cười đáp:
- Diệt xong lũ quỷ phương Bắc, thần sẽ tuân chỉ lui về điền viên dưỡng nhàn. Ngửng nhìn nhà vua, Quốc công lại hỏi: - Chắc có điều gì quan yếu bệ hạ cần chỉ dụ?
Vua Nhân tông thong thả nói:
- Bá phụ, con nghĩ, ta đã tiêu diệt hết đoàn thuyền chở lương thảo của giặc rồi, coi như đã tiêu diệt được một nửa sinh lực nó. Sao bá phụ không thả một ít tù binh trong đoàn vận lương của giặc cùng ít bằng cớ mà ta thu được ném nó vào trại của Thoát-hoan, gây cho chúng hoảng loạn tinh thần, rồi ta làm cuộc đại phản công đuổi giặc ra khỏi bờ cõi để dân chúng còn làm ăn kẻo lại trễ hết cả mùa vụ.
- Bệ hạ nói rất phải, lòng bệ hạ thương dân như thương con. Nhưng giặc Bắc ngoan cố, nếu đuổi nó về rồi nó lại sang. Vì vậy thần muốn diệt hầu hết đoàn quân này khiến nó khó bề hồi phục, và muốn đánh ta nữa cũng phải chuẩn bị hàng chục năm. Do đấy, thần muốn nhử cho nó đuổi theo quân ta tới khi sức nó mỏi mệt, quân nó rải mành mành đóng đâu thì nằm chết dí tại chỗ chứ không đủ sức cho quân ra khỏi trại cướp phá. Bởi nếu giặc chỉ có dăm ba trăm quân xuất trại, thì dân binh các làng hợp lại dư sức cản phá.
Tâu bệ hạ, hiện nay trên mạn bắc, quân ta phối hợp với quân của các đầu mục người man vừa chặn đường tiếp tế lương thực của giặc từ Tư Minh, Bằng Tường sang, vừa phục kích đánh quân tuần thám, đêm đêm thì quấy rối các đồn trại giặc. Còn tại đồng bằng thì việc quấy rối làm cho giặc mất ăn mất ngủ của Hưng Ninh vương cũng đã bắt đầu. Chắc hẳn giặc còn căng sức truy đuổi ta. Vậy ta phải đánh tiêu diệt cho chúng thiệt hại đáng kể, rồi mới tung cái tin giặc đã bị đánh úp cả một đoàn thuyền lương, khi đó tinh thần giặc sẽ suy sụp hoàn toàn, chỉ còn nghĩ kế tháo chạy. Tâu bệ hạ, ta phải trù tính lực lượng và phục quân ở những ngả nào để tiêu diệt được càng nhiều quân giặc càng tốt. Nhưng chủ yếu vẫn là phải đánh gãy xương sống nó, để Hốt-tất-liệt chừa cái thói ngạo mạn, cậy mình là nước lớn dám nghịch mệnh Trời, coi thiên hạ như cỏ rác.
Nghe Quốc công nói đến việc Hốt-tất-liệt nghịch mệnh Trời, vua Nhân tông trầm ngâm giây lát rồi chậm rãi:
- Bá phụ dạy chí phải, nếu không đánh cho cha con Hốt-tất-liệt gãy xương sống thời không bao giờ chúng chịu để cho ta yên.
Đúng vậy, từ thời vua Lê Hoàn đánh quân xâm lược nhà Tống năm Tân tỵ (981), Trời đã ứng mệnh nước ta qua lời thần mắng giặc trên sông Như Nguyệt. Và nhà vua khe khẽ đọc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư![69]
Và năm Đinh tỵ (1077) Lý Thường Kiệt đánh quân xâm lược nhà Tống, nửa đêm thần lại xuất hiện mắng giặc một lần nữa trên sông Như Nguyệt.
Nhà vua vừa nhẩm đọc xong, Hưng Đạo liền nói với vẻ xác quyết: - “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”[70].
- Dạ đúng như bá phụ dạy, nhưng sao tới lúc này mà Thoát-hoan vẫn chưa nghĩ tới việc quân lương của nó đã bị tiêu diệt gọn rồi sao.
- Bệ hạ còn lạ gì, giặc lúc nào cũng tự phụ, chúng tin vào tên cướp biển Trương Văn Hổ làm Giao Chỉ vận lương đô tổng quản thời một hạt lương cũng không thể sa sẩy. Thuyền lương đến chậm chỉ vì chở nặng không thể đi nhanh hơn. Nhưng tới nay chúng cũng đã hơi lo, nên cho quân đi sục sạo vơ vét lương thực về tập trung ở đồn trại Chí Linh cũng được dăm vạn thạch, tuy vậy chúng phải đổi mỗi đấu lương bằng một đấu máu.
Ngừng lời trong giây lát, Hưng Đạo lại hỏi:
- Bệ hạ tới đây có đem theo chiếu dụ hoặc ý chỉ gì của thượng hoàng không?
Thật ra Nhân tông tới quân doanh của Quốc công là do ý chỉ của thượng hoàng, song nhà vua chưa tìm được cách truyền đạt. Khi được Hưng Đạo hỏi tới, nhà vua liền đáp:
- Thưa bá phụ, phụ hoàng con dạy, phải thưa lại với bá phụ, ta đã diệt được hết thảy quân lương của giặc, sao không nhân đà đánh đuổi chúng ra khỏi cõi bờ sớm đi, để dân chúng đỡ lầm than.
Nghe nhà vua truyền lại ý chỉ của thượng hoàng, Hưng Đạo nuốt một tiếng thở dài vào đáy dạ, và tự nhiên khiến ông nhớ lại cuộc kháng giặc năm Ất Dậu biết bao khó khăn trở ngại trước thế giặc mạnh, phải gỡ bỏ bằng được sự ngờ vực dấy lên từ trong nội tộc. Sau đó là sự phân vân về khả năng chống đỡ của quân ta, cũng chỉ bởi lòng thương dân của thượng hoàng. Lòng thương dân dù sâu xa đến mấy vẫn là chưa đủ. Phải nghĩ đến sự trường tồn của thế nước mới là thương dân trọn vẹn. Nghĩ vậy, Hưng Đạo bèn nói:
- Bệ hạ nên lựa lời tâu lại để thượng hoàng yên tâm. Thời gian đuổi giặc ra khỏi cõi bờ ta cũng không còn phải đợi chờ lâu nữa đâu, thần chỉ muốn tản mỏng quân giặc ra cho dễ đánh, cho đỡ tốn máu xương sĩ tốt, và càng tiêu diệt được nhiều sinh lực nó thì nó mới bớt hung hăng và không dám coi thường ta. Chắc chỉ nay mai là sẽ có những trận đánh lớn, bệ hạ và thượng hoàng chờ nghe tin báo tiệp. Và khi nào cần, thần sẽ xin bệ hạ đem quân thánh dực trợ chiến.
Từ lâu vua Nhân tông đã biết nỗi lòng trắc ẩn của người cha vợ và cũng là bác của mình. Nhà vua đã hiệp tác với ông để hóa giải mọi hiềm khích, để đạt tới sự đồng tâm nhất trí dẫn tới cuộc đại thắng giặc Nguyên năm Ất Dậu. Nay thì Chiêu Minh vương Quang Khải đã có cái tâm hòa ái, độ lượng, ông tự nhường ngôi tướng quốc cho cháu là Đức Việp, lại nhận làm trợ thủ cho Quốc công. Ôi, cái đức đó chẳng phải từ Quốc công mà ra sao.
Đêm ấy vua Nhân tông nghỉ lại quân doanh của Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Hai bác cháu bàn kế phá giặc thâu đêm.
Sớm hôm sau đã có quân về báo tiệp: “Khoảng đầu giờ tuất đêm qua nhằm lúc mưa dầm nặng hạt, trời tối mịt mùng, hai ngàn kỵ binh giặc tiến vào cổng thành Hoa Lư bị hàng vạn tay cung cứng của tướng Trần Toàn phục đánh, giặc chết tới quá nửa phải quay đầu chạy trở lại Thăng Long”.
Lại nói khi Thoát-hoan đem quân vào Thăng Long chỉ bị chống trả sơ sài, thiệt hại không đáng kể; Thoát-hoan ra lệnh cho ba quân phải cấp kỳ đuổi bắt bằng được hai vua mà y thường gọi một cách hỗn hào là cha con Nhật Huyên.
Hơn hai ngàn quân kỵ do hữu thừa A-ba-tri đã bị quân Đại Việt phục kích tiêu diệt tới quá nửa phải tháo chạy trở lại Thăng Long. Ô-mã-nhi với hơn ba trăm chiến thuyền chở đầy ắp quân lính truy đuổi hai vua. Trịnh Bằng Phi cũng dẫn năm vạn quân tiến theo hai đường thủy bộ về thẳng Thiên Trường nhưng y phải chia quân chiếm đóng ở những nơi có vị trí xung yếu có khả năng kiểm soát cả một vùng.
Đoàn chiến thuyền của Ô-mã-nhi cờ xí rợp trời kéo dài tới mấy chục dặm sông. Tới đâu y cũng xua quân lên bộ bắt dân hỏi về tăm tích hai vua. Tất cả mọi người trả lời đều có thấy một đoàn thuyền hàng trăm chiếc chở đầy quân lính, trong đó có cả hai chiếc lâu thuyền trang hoàng màn sáo lộng lẫy, nhưng không biết chở ai… Và họ mới qua đây chỉ có một ngày.
Ô-mã-nhi bèn hội chư tướng nói: - “Quân nó chạy trốn lại hộ giá hai vua nó nữa nên không thể chạy nhanh được. Vậy phải lập đội khinh thuyền đuổi gấp còn đại quân tiến sau”. Ô-mã-nhi sai chọn năm chục chiến thuyền nhỏ hơn so với các thuyền khác, lại chọn các tay thủy thủ khỏe nhất, dạn dày chiến trận cùng một vạn quân cung thủ thiện xảo đích thân Ô-mã-nhi thống lĩnh ngày đêm rượt đuổi hai vua nhà Trần và Trần Hưng Đạo.
Khi chiến thuyền Ô-mã-nhi đến cửa Hải Thị thì không thấy bóng dáng quân Đại Việt, chỉ thấy vài chiếc thuyền thả trôi bồng bềnh giữa ngã ba sông, y bèn cho quân ra thu lấy. Trên thuyền còn bỏ lại vài đồ khí giới như cung, nỏ, giáo, mác với ít đồ ăn như cơm nắm, cá khô, muối vừng. Ô-mã-nhi biết là quân Đại Việt đã đưa vua nó đi trốn nhưng không biết đi về nẻo nào, y sai quân lên bờ bắt dân chúng tra hỏi.
Giặc xua quân lên bờ, chúng kéo nhau vào các trang ấp thuần gặp cảnh vườn không nhà trống chúng liền phóng hỏa đốt, khói lửa rừng rực khắp xóm thôn. Cuối cùng chúng bắt được hơn chục cụ già. Những người già râu tóc bạc trắng run rẩy trong giá lạnh. Vì rằng giặc lột hết áo ấm, hai cánh tay bị trói, hai cổ tay bắt chéo bị trói bởi một dây thừng thắt nhiều nút, và một dây thòng lọng thòng vào cổ, đầu dây do một tên lính Hán kéo căng, thỉnh thoảng y lại giật sợi dây cho người bị trói ngã giúi giụi.
Ô-mã-nhi sai mấy đứa thông dịch hỏi:
- Quan tham tri chính sự bạt-đô tha tội chết cho mấy lão già, đó là phúc lớn sao mấy người không quỳ xuống lạy tạ?
Các cụ rét nổi da gà, mặt tái xám nhưng không một ai kêu xin. Bỗng từ giữa đám đông người bị trói, một cụ nói giọng thều thào:
- Các ông trói, người cứng như khúc gỗ sao còn có thể cúi mà đáp lễ được.
- Cởi trói cho chúng nó. - Ô-mã-nhi ra lệnh.
Dù đã được cởi trói, nhưng trời giá lạnh các cụ vẫn cứ run cầm cập, hai hàm răng chạm vào nhau, hơi thở phả ra mờ như khói như sương.
Tâm địa sói lang như Ô-mã-nhi cũng động lòng trắc ẩn. Y biết những người này sao có thể chống lại quan quân. Vì vậy y bắt bọn thuộc cấp phải trả lại áo ấm cho mấy người già.
Nhận lại áo, hơi ấm dần làm các cụ đã có khí sắc. Một cụ nói: “Tạ ơn ông lớn trả lại áo rét cho người già”. Không một ai quỳ lạy. Dường như điều đó cũng không làm Ô-mã-nhi bực giận. Vì rằng Ô-mã-nhi là người Mông Cổ theo văn hóa du mục, nên không chấp nê như đám tay sai người Hán.
Ô-mã-nhi cất giọng đe:
- Ta hỏi, các người phải trả lời đầy đủ, nếu quanh co giấu giếm, chắc mạng sống của các người sẽ nằm trong bụng cá. Chỉ tay về phía cụ già đứng ở cuối hàng, y hỏi: - Lão già trông thấy đoàn thuyền của vua An Nam và quan quân chạy qua đây từ lúc nào?
Cụ không có vẻ gì là bối rối, nói ngay:
- Bẩm ông, nhà tôi ở sâu trong thôn ấp, không ruộng cấy ngoài bờ bãi, hoặc đi bắt cá bắt tôm gì ngoài sông, nên không biết đã có thuyền bè gì ngoài sông.
Ô-mã-nhi hỏi tới sáu, bảy người, ai cũng tìm cách nói một cách rất hợp lý về sự không trông thấy quân Đại Việt rút qua đây vào lúc nào. Ô-mã-nhi mặt đỏ phừng phừng, y cho rằng các cụ già đã cố tình che giấu. Bỗng cụ già đứng phía đầu hàng liền nói:
- Lão có thấy, lão có biết các việc mà ông lớn đang hỏi.
- Vậy ngươi nói đi!
- Tôi vừa sống bằng nghề nông, vừa sống bằng nghề chài lưới. Cách đây đúng ba ngày tôi đang thả lưới ở cửa lạch giáp với con sông này, bỗng nghe thấy tiếng à à vang khắp mặt sông và sóng gợn mỗi lúc mỗi to hơn, tôi nghi là thuyền giặc tức là các ông sắp qua đây, vội cuộn lưới rồi lui thuyền vào ẩn trong bãi cói. Khoảng nửa canh giờ sau thì thấy thuyền quân đi rợp cả sông, chỉ thấy tiếng mái chèo khua nước, tiếng thuyền xé nước rào rào. Độ bốn năm chục chiếc thuyền cứ ầm ầm lao đi, chiếc đi đầu trương hiệu cờ Đại Việt, tiếp đó là hai chiếc lâu thuyền, tầng trên quây màn sáo, chiếc đi trước vẽ hình con cá vàng (Kim Ngư), chiếc đi sau vẽ hình con rồng vàng (Kim Long). Cả hai chiếc đều lộng lẫy lắm. Nhưng tôi không thể biết trong đó chở những ai.
Chiến thuyền đi cứ rầm rập, chờ mãi không biết đến bao giờ cho hết, tôi bèn bỏ thuyền lội bộ qua bãi cói về làng. Sáng hôm sau tôi ra bãi lấy thuyền thấy mặt sông vắng hoe chỉ còn mấy xác thuyền dập dềnh trên mặt nước. Chắc ra biển, những chiếc thuyền kia nhỏ bé, ọp ẹp nên người ta vứt bỏ lại.
Nghe ông già kể có đầu có đuôi hợp lý hợp tình, Ô-mã-nhi giận dữ rút gươm chỉ về phía biển nói như đe dọa các vua nhà Trần: “Các ngươi chạy lên trời ta theo lên trời, các ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước”. Nói xong Ô-mã-nhi sai hải đội binh thuyền lập tức lên đường.
Lòng đầy tức giận, Ô-mã-nhi nói với tả hữu:
- Ta quyết bắt bằng được vua tôi nước nó để Trấn Nam vương trị tội.
Tham tri Phàn Tiếp bèn thưa:
- Cứ như mấy lão già cung khai thì đúng là hai vua nó đã chạy qua đường này. Nhưng chúng chạy khỏi đây đã qua hai ngày đêm, và biển mênh mông biết nó chạy đường nào mà đuổi, chi bằng chủ tướng cho quân lên bờ giết hết dân nó, cướp lấy của cải của nó, khiến nó vừa sợ hãi vừa lo ta giết hết dân nó thì buộc vua tôi nó phải ra hàng.
Ngẫm nghĩ giây lát, Phàn Tiếp lại nói:
- Tôi có kế này, nếu chủ tướng làm theo ắt cha con Nhật Huyên phải tới cửa Trấn Nam vương xin hàng ngay.
Ô-mã-nhi vụt tươi hẳn lên, hỏi ngay:
- Tham tri có kế gì hay nói thử ta nghe?
Phàn Tiếp làm ra vẻ nghiêm trọng nói:
- Các nước theo về văn hóa Khổng - Mạnh của Trung Quốc thì không có gì quan yếu và kính cẩn bằng tôn miếu và lăng mộ.
- Thế thì sao? Ô-mã-nhi vội hỏi, bởi Ô-mã-nhi theo về văn hóa du mục đâu biết đến lễ nghĩa.
- Tham tri chính sự bạt đô không biết thật sao? - Phàn Tiếp vừa cười lớn vừa hỏi lại. Rồi y tiếp: - Vậy ý tướng quân thế nào?
- Có phải nếu ta phá những thứ đó thì chúng sợ hãi mà ra hàng không? Nếu đúng vậy sao ta không ra tay sớm đi?
- Cuộc chinh Nam năm Ất Dậu, để phá tán cái linh khí của họ Trần, quan hữu thừa Lý Hằng đã xui Trấn Nam vương cho quân vào đóng trong điện Chí Kính[71] và trong nhà Thái miếu[72], trong điện Thiên An[73] của nó. Tướng quân còn lạ gì đám lính ô hợp, nó đóng ở đâu thì nó phá phách, nó gây ô uế ở đó, dù có ngăn cấm cũng không được.
Phàn Tiếp xúi Ô-mã-nhi làm điều thất đức mà không nghĩ đến hậu quả phải gánh chịu. Hai viên hữu thừa, tả thừa Lý Hằng, Lý Quán xúi Thoát-hoan làm điều xằng bậy, chúng đều phải đền tội ác, ngay cả khi chúng đã chạy về Tư Minh là đất Trung Quốc, vẫn bị quân Đại Việt truy đuổi và dùng tên độc hạ sát.
- Vậy mồ mả nhà Trần táng ở đâu, ông có biết dẫn đại quân vào đó quật mả tổ tiên nó lên mà trừng phạt. Ô-mã-nhi như người sắp chết đuối vớ được đám bọt nước liền bấu ngay vào. - Bây giờ chưa biết vua tôi nó chạy ngả nào, để cho quân thám đi dò xét rồi ta sẽ tính sau. Vậy trước hết hãy làm việc cần làm.
Phàn Tiếp liền mở tấm bản đồ ra dò tìm. Một lát y nói: - Đất phát tích của họ Trần ở Thái Đường. Mồ mả tổ tiên họ Trần hẳn phải chôn cất tại đó. Nghe nói tại đó có cả mộ chôn Thái vương tức cha đẻ của Nhật Huyên.
Thế là tiện đường sông, đại binh thuyền của Ô-mã-nhi căng buồm đi thêm vài chục dặm nữa là cập bến rồi xua hàng vạn quân lên bờ. Chúng sục sạo vào trong thôn ấp bắt dân dẫn đi, nói là qua viếng tổ đường nhà Trần và khu lăng mộ.
Dân chúng vô tình dẫn giặc đi mà không lường được dã tâm của nó.
Giặc vào tới nhà thờ họ Trần, chúng thấy các đồ thờ đã di chuyển chỉ còn lại mấy bát bình hương cổ kính và ít hoành phi câu đối.
Ô-mã-nhi không đọc hiểu được các chữ nghĩa kia nói gì, nhưng cái màu vàng son chói lọi của các hoành phi câu đối đập vào mắt khiến y khó chịu. Ô-mã-nhi rút phăng thanh kiếm đeo bên sườn, giương thẳng tay chém chiếc câu đối treo áp vào cột. Kiếm sắc lại được kẻ vũ phu dùng hết sức nên y chỉ chém một nhát là tấm gỗ dày tới cả đốt ngón tay đứt làm đôi và rơi xuống sàn gạch nhẹ như một chiếc lá, còn lưỡi kiếm lại mắc vào thân cột khiến Ô-mã-nhi phải dùng hết sức mới giật được thanh kiếm ra khỏi thân cột. Ô-mã-nhi kinh ngạc không hiểu cây cột kia làm bằng một thứ đá hoặc sắt thép gì mà rắn vậy. Y ra lệnh đốt căn điện thờ.
Phàn Tiếp vội ngăn lại:
- Tướng quân, không nên đốt, vả lại thứ gỗ này rắn như sắt, bền như đá dẫu có đốt cũng không cháy. Để tôi phá các vật trong điện thờ, tổ tiên nhà Trần sẽ mất thiêng. Nói xong y chỉ tay về phía mấy chiếc bình hương bằng gốm men nâu đặt trên những chiếc kỷ thờ chạm trổ khá tinh xảo.
Phàn Tiếp nhặt chiếc vồ gõ chiêng rồi tự tay y đi đập vỡ từng chiếc bình hương.
Ngước nhìn bức hoành phi sơn then với hai hàng chữ vàng chói:
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Tên Hán gian tay sai của người Mông Cổ này dường như không chịu nổi, y sai lính hạ xuống cùng với tất cả câu đối trong ngôi đền rồi bắt chúng phải đốt cho bằng hết.
Nhìn thẳng ra phía trước ngôi đền thấy có mấy gò đất cao như núi, Phàn Tiếp biết ngay đó là khu lăng mộ tổ phụ nhà Trần, y bèn nói với Ô-mã-nhi:
- Bẩm tướng quân, ta phải cho đào mấy cái mả kia mới có thể kinh động đến đám vua tôi nhà Trần, sớm muộn chúng cũng phải ra hàng Trấn Nam vương.
Ô-mã-nhi gật đầu:
- Thấy việc cần làm sao ông không làm ngay đi?
Thế là ngay lập tức, giặc xua tới cả ngàn tên quân ào ạt xông lên các gò đất cao, ngoài võ khí thường mang chúng còn đem theo cả mai, cuốc, thuổng. Những gò đất cao hơn cả ngọn tre và rộng như cả một cánh đồng.
Chúng sục sạo vạch cây vạch cỏ tìm mãi không thấy một chỉ dấu nào về ngôi mộ tổ họ Trần, mà chỉ có tấm mộ chí cắm trên đỉnh gò cao nhất và to nhất với dòng chữ triện khắc sâu vào đó: “Thái vương chi mộ”.
Giặc yên tâm đã tìm thấy mộ của vua Trần Thái tông (Trần Cảnh) liền cho quân khai đào. Cả một trái núi rộng lớn không biết quan quách nằm ở chỗ nào. Mặc dù giặc đã lấy bia mộ làm chỉ dấu để khai một miệng hố khá rộng và đào sâu tới bốn, năm sải tay. Giặc cho quân hì hục đào bới cả buổi chiều tới khi trời đã mờ mờ tối vẫn chưa thấy quan quách, Ô-mã-nhi cho thu quân xuống thuyền và tiến thẳng ra biển để truy đuổi vua tôi nhà Trần, và để lại sau nó những đám cháy rừng rực khắp làng quê. Sự thật giặc đã đào đúng huyệt mộ, chỉ còn cách vài thép mai[74] nữa là tới nắp quan tài, nhưng chúng đã nản, tưởng cách chôn cất các bậc vua chúa An Nam cũng che đậy rắc rối, mù mờ như ở bên Trung Hoa, mộ đấy mà chẳng phải mộ như mả Tần Thủy Hoàng, Khổng Minh, Tào Tháo…
Giặc đã khùng, đã phải dụng đến mạt kế là đào mồ cuốc mả, cũng có thể nói đây là ô nhục kế của kẻ làm tướng, rốt cuộc cũng chẳng ăn thua gì. Vẫn phải quay đảo như quân đèn cù do sự điều khiển vô hình của Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Trong khi đó các tướng Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão sắm vai hai vua chạy trốn khiến quân giặc lẽo đẽo theo sau cho đến khi mất hút. Hoàn thành diệu kế, hai tướng đưa quân về ra mắt Hưng Đạo, ra mắt hai vua được nhà vua ngợi khen và sai ghi tên vào sổ bộ để sau khi đuổi xong giặc triều đình sẽ định công khen thưởng.
Hưng Đạo đã đưa các quân thủy, bộ về tăng cường cho vùng Tháp Sơn, vùng Nghi Dương[75] và đang chuẩn bị cho cuộc phản công đuổi giặc.
Năm nay cả nước hầu như không có tết, giặc vào cõi từ cuối tháng một, qua tháng chạp chúng đánh rộng ra các vùng, chiếm các nơi hiểm yếu, các đường giao thông thủy bộ đi về phía nào cũng đụng phải giặc. Và gần giáp tết thì Thoát-hoan kéo quân về chiếm cả kinh thành Thăng Long.
Cũng như cuộc kháng giặc năm Ất Dậu, theo lời hiệu triệu của triều đình, toàn dân làm kế thanh dã. Giặc đi tới đâu cũng chỉ gặp vườn không, nhà trống, không có gì để cướp nên chúng đốt phá nhà dân, triệt phá hoa màu thiệt hại không biết đâu mà kể.
Qua hai tháng, chờ quân tiếp lương không thấy đến, quân tải lương từ Quảng Tây sang bằng đường bộ đều bị quân man tập kích, mười phần mất tới tám chín phần, số lương thực quân đem theo cũng đã cạn, Thoát-hoan đang lo lắng. Số quân tuy nhiều nhưng phải rải mỏng ra chiếm đất, muốn tập trung quân đi đánh chỗ nọ lại phải bỏ đất đã chiếm ở chỗ kia. Đã thế, đêm đêm quân Việt còn quấy rối, chỗ thì hò reo, đánh trống đồng, chiêng đồng khua náo inh ỏi, quân mất ăn mất ngủ, mỏi mệt, ốm đau ngày một nhiều hơn. Chỗ nào sơ hở, quân Việt cậy đông xông vào, có khi diệt hết một doanh trại tới cả ngàn quân. Lại cũng có khi quân Việt dùng tên bùi nhùi bắn hàng loạt vào doanh trại, nhân lúc trời hanh heo gây cháy hết nơi này đến nơi khác, khiến lòng quân sinh rối.
Từ khi Thoát-hoan sai Phàn Tiếp đem thêm quân và thuyền bè đi tăng viện cho Ô-mã-nhi để đuổi bắt bằng được các vua nhà Trần, Trấn Nam vương chỉ giữ bên mình một phần ba số quân thủy cùng thuyền bè để tiện sai khiến hoặc khi cần chuyển quân qua sông sẽ bớt đi trở ngại.
Thoát-hoan về Thăng Long giao cả vùng Vạn Kiếp cho Áo-lỗ-xích thống lĩnh vẫn không quên dặn viên phó tướng phải đốc quân ngày đêm đóng mới thuyền bè để dự phòng, để bù vào chỗ hao hụt trong khi giao tranh.
Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đã gắng hết sức mình vẫn chưa làm được điều Thoát-hoan cũng như Hốt-tất-liệt trông đợi, trong lòng hai viên dũng tướng này luôn tỏ ra áy náy. Khi thuyền ra gần đến cửa biển, Ô-mã-nhi chợt hỏi:
- Phàn tướng quân, ông thử đoán cha con Nhật Huyên và Hưng Đạo trốn chạy nẻo nào? Chúng vào Thanh Hóa, Champa hay chúng lại trở về Vân Đồn chiêu tập đám quân thất tán rồi đánh vào Vạn Kiếp? Chúng ta phải phán đoán thật thấu đáo và phải quyết ngay cho các viên đô đốc biết hải trình.
Một thoáng ngẫm nghĩ, Phàn Tiếp đáp:
- Thưa tướng quân, quyền nguyên soái trong tay, ngài quyết thế nào tôi cũng xin theo. Nhưng chắc cha con vua Trần và Hưng Đạo chưa bỏ cuộc đâu. Nếu họ trốn vào Champa có khác chi bỏ nước cho ta. Như vậy cũng có khác chi Giao Chỉ đầu hàng. Cho nên cái ý nguyên soái dự phỏng họ chạy về Vân Đồn, tập hợp lại lực lượng để đánh vào Vạn Kiếp là có lý. Vì vậy ta nên càn quét vùng Tháp Sơn, qua cửa Đại Bàng, sau đó trở lại Vân Đồn xem Trương Văn Hổ đã tới chưa, nhân tiện tảo thanh quân nó xong, ta qua nẻo An Bang vào cửa Bạch Đằng rồi ngược Vạn Kiếp. Ta quét một vòng như thế tất sẽ gặp giặc ở chỗ này chỗ khác. Chỉ có thế ta mới có cơ hội vặt trụi lông cánh Hưng Đạo, buộc cha con vua Trần phải ra hàng Trấn Nam vương, công việc bình định của thiên triều mới sớm kết thúc để còn chia nước nó thành quận huyện mà cai trị.
Nghe Phàn Tiếp nói có lý, Ô-mã-nhi bèn hạ lệnh cho đại đội binh thuyền giong buồm qua hướng bắc. Một đoàn mấy trăm chiến thuyền khi còn đi ở trong sông thì trùng trùng điệp điệp nom như binh tướng nhà trời, thế mà khi ra biển lại lọt thỏm giữa mênh mông trời nước chẳng khác chi một đám bèo trôi dật dờ.
Đang mùa gió bắc, thuyền lại đi về hướng bắc nên ngược gió thuyền cứ phải chạy vát để buồm hứng gió, cả mấy trăm chiến thuyền cứ lăng xăng kiếm gió, xa trông như một bầy bướm vỡ đàn. Và vì ngược gió nên đoàn binh thuyền đi có vẻ lờ đờ chậm chạp.
Khoảng một ngày sau khi binh thuyền của Ô-mã-nhi quay đầu về hướng bắc, trên đỉnh ngọn tháp Tường Long[76] những người lính canh phòng trên vọng hải đài này nhìn thấy màu sắc cánh buồm lờ mờ hiện lên từ rất xa. Tin được loan báo rất nhanh bằng đường ngựa trạm về đại bản doanh của Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương.
Trong trướng hổ nhận được tin đại quân giặc sắp tới, Hưng Đạo mỉm cười:
- Thế là ta đã dụ được nó ra khỏi hang ổ. Và ông sai triệu các tướng đến nhận mệnh.
Lát sau thượng tướng Trần Nhật Duật, đại tướng Phạm Ngũ Lão cùng tướng Đỗ Hành và nhiều đô tướng khác đã có mặt đầy đủ.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương ban lệnh:
- Binh đội của Ô-mã-nhi đi ngược gió, chắc phải quá giờ thân mới ló vào khu vực biển Tháp Sơn của ta. Số thuyền giặc ước tính từ ba tới bốn trăm chiếc chở theo từ hai muôn đến hai muôn rưởi quân. Chúng đang hùng hổ đi tìm diệt quân ta, lòng đầy kiêu ngạo nên ít đề phòng. Vậy bắt đầu từ hôm nay ta tuyên lệnh khai chiến với giặc, mở đầu cho công cuộc đánh bại giặc hoàn toàn. Trận này chủ đích của ta không phải tiêu diệt hoàn toàn mà chỉ tiêu diệt một phần binh lực của giặc. Chiêu Văn vương lĩnh bảy ngàn quân với sáu chục chiến thuyền, Phạm Ngũ Lão, Đỗ Hành mỗi tướng đem theo năm ngàn quân với năm chục chiến thuyền. Nói tới đây Hưng Đạo liền chỉ vào tấm bản đồ treo trên vách, ngài lấy đầu que chỉ vào những chấm đen rải rác - đó là những trái núi đá mọc trơ trọi giữa biển cả mênh mông rồi cho các tướng bàn bạc về cách bày trận và phép đánh hỏa công trên biển. Khi mọi người bàn bạc đã thấu đáo, đã lãnh hội được ý đồ của vị chủ tướng thì trở về ngay quân doanh và đưa đại đội binh thuyền đi chiếm lĩnh trận địa.
Bữa nay lại đúng ngày triều cường, nước lên khoảng từ giờ mùi nên gió đông bắc thổi càng mạnh, thuyền của ta ra đi cứ nhẹ tênh còn thuyền của giặc ngược gió di chuyển khá chậm chạp, mãi gần cuối giờ dậu thuyền giặc mới ló vào khu biển địa đầu của vùng Tháp Sơn.
Trời tối, mặt biển đen sì, bầu trời le lói mấy vì sao thưa thoáng, trăng đầu tháng mảnh như chiếc lưỡi liềm treo chênh chếch phía lưng trời tỏa ra một thứ ánh sáng yếu ớt vừa đủ soi cho chính nó. Đúng lúc đó các binh thuyền của ta xuất kích. Binh đội hải thuyền của Trần Nhật Duật xông thẳng vào chính diện đại đội binh thuyền của Ô-mã-nhi. Đánh móc vào sườn bên tả là binh đội của tướng Trần Toàn, đánh xéo vào sườn bên hữu là binh đội của tướng Phạm Ngũ Lão. Mỗi mũi đều có mười chiếc thuyền nhỏ hơn thuyền chiến chất đầy cỏ khô rắc diêm tiêu và mỗi thuyền gài tới cả trăm quả pháo đại. Trên mỗi thuyền lèn đầy chất cháy đó căng tới ba cánh buồm và chỉ có năm thủy thủ dũng mãnh bơi lặn như rái cá và cũng là những tay cung thủ vào loại bách bộ xuyên dương[77] tinh thông các ban võ thuật.
Trời tối mịt mờ, thuyền quân ta xuất kích giặc không hề biết. Khi cách nhau chỉ còn khoảng một dặm, giặc mới phát hiện phía trước có thuyền đang băng băng lao tới.
Ô-mã-nhi sai các tay cung thủ dàn hết lên phía trước nhất loạt bắn đứt dây lèo cho các thuyền kia phải đổi hướng. Nhưng trời tối, giặc sao có thể nhắm trúng dây lèo. Vả lại thuyền nhẹ, gió thuận, buồm căng và khi chỉ còn cách thuyền giặc độ non trăm sải tay, cả ba chục chiếc thuyền từ ba hướng đều nhất loạt phóng hỏa, tất cả bùng lên như một bể lửa lao thẳng vào binh thuyền giặc khiến Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp bất khả kháng. Các dũng sĩ đều nhảy xuống nước bơi trở lại phía quân ta. Mấy trăm thuyền giặc hoảng sợ chạy loăng quăng tránh lửa va vào nhau chiếc quay dọc chiếc quay ngang trở nên ngáng đường nhau. Những chiếc thuyền ở vòng ngoài tiếp giáp với các thuyền lửa của ta đều bốc cháy. Nhất là khi nghe những tiếng pháo đại nổ liên tiếp như sấm sét từ trời cao giáng xuống, khiến quân giặc trên các thuyền bị cháy đều hốt hoảng nhảy xuống biển. Phần nhiều trong số đó bị chết chìm bởi chúng bơi lội kém lại trong lúc hoảng loạn chỉ níu lấy nhau mà chết chìm, đứa nào ngoi lên mặt nước lại bị các thuyền cháy làm bỏng, bơi vài sải tay là đuối sức rồi chìm dần.
Nhân lúc thế trận giặc rơi vào rối loạn, ba mũi quân ta xốc tới, ào ạt nhảy lên thuyền giặc chém giết tơi bời. Các chiến sĩ của ta đã đem tất cả sự căm thù và phẫn nộ dồn hết vào dây cung, mũi giáo khiến trận đánh bất ngờ nổ ra như sấm sét, giặc không chống đỡ nổi. Chừng nửa canh giờ sau, tất cả đại đội binh thuyền của ta lùi ra và giương buồm tiến về hướng nam, thuận gió thuyền đi nhanh như ngựa phi nước đại. Giả như giặc có muốn đuổi theo quân ta cũng không biết hướng nào mà đuổi.
Trong trận đánh táo bạo này, quân ta đốt cháy được hơn bảy chục chiến thuyền của giặc, chúng tự đâm vào nhau, va đập vào nhau khiến thuyền gãy, vỡ chìm mất hơn năm chục chiếc nữa. Số giặc nhảy lên thuyền ta, bị quân ta chém còn hơn chục chiếc đầu lâu rơi trong thuyền của ta, và nhân khi chúng leo lên, ta bắt sống tống vào các khoang nhốt tù cũng được hơn trăm đứa. Không tính được số giặc chết là bao nhiêu, nhưng mấy ngày sau xác giặc nổi thành bè, trôi dạt vào bờ kể có ngàn tên. Phía quân ta ngoài ba chục chiếc thuyền lửa bị cháy tiêu cũng mất hơn chục chiếc nữa bị gãy chìm trong khi lao thẳng vào thuyền giặc, binh sĩ của ta vừa chết vừa bị thương cũng tới vài trăm. Sau trận đánh thắng oanh liệt, ta chỉ dùng số quân và số thuyền bằng một phần ba binh lực của giặc, nhưng đã đánh cho giặc không biết đằng nào mà kháng cự, do vậy tinh thần quân ta hào hứng lên cao chưa từng thấy.
Sau trận kịch chiến Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp thoát chết là nhờ chúng dày dạn kinh nghiệm chiến trường, tẩu rất nhanh khỏi nơi hỏa điểm, Và sau khi quân ta rút đi rồi, giặc vẫn chưa thoát được ra khỏi vùng chiến sự. Mãi gần sáng chúng mới tập hợp được nhau, chấn chỉnh đội ngũ, phiên chế lại thuyền bè. Tính ra có gần bốn trăm chiến thuyền lúc rời khỏi Long Hưng, nay kiểm lại chỉ còn linh ba trăm chiếc, số thuyền hao hụt và số quân chết cũng tương ứng nhau. Sự thiệt hại thật không ngờ. Quân An Nam cũng táo tợn không thể ngờ được.
Phàn Tiếp mở bản đồ rồi chỉ vào nơi chiến sự vừa diễn ra, y nói: - Quân An Nam phục ở chỗ này. Chỗ này gần cửa Đại Bàng. Liệu ta có nên đem quân trở lại Vân Đồn để tảo thanh quân nó, nhân thể đón Trương Văn Hổ như dự định của nguyên soái?
Suy ngẫm giây lát, Ô-mã-nhi đáp:
- Phàn tướng quân nhận định về quân An Nam thế nào? Từ bữa vào đất nó, ta cứ tưởng nó không còn sức kháng cự nữa. Vậy mà tối hôm qua nó xuất hiện cứ như nó là thiên binh từ trên trời đáp xuống.
- Nguyên soái nghĩ thế nào về quân An Nam chứ tôi thấy không thể coi thường mưu lược của Hưng Đạo được đâu. Trong khi ta tưởng quân nó kiệt quệ, vua tôi nó sắp phải ra hàng thì đùng một cái nó hiện ra thật bất ngờ và cũng thật là táo bạo.
- Ta chưa bao giờ chê Hưng Đạo là tướng bất tài, trái lại ông ta luôn làm cho ta ngạc nhiên. Ta những mong bắt sống ông ta đem về nộp thiên tử, việc đó xem ra còn khó hơn cả “Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện”[78]. Vậy ta lưu ý ông từ nay không được coi thường quân An Nam.
- Thưa nguyên soái, hẳn ông còn nhớ trong buổi thiên tử thết yến các tướng Nam chinh trước khi xuất phát, ngài đã dặn rất kỹ rằng: “Không được coi thường Hưng Đạo” và “Chớ thấy Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”.
- Phải, ta nhớ, - Ô-mã-nhi xác nhận. Và y cũng nhớ lại cuộc chiến năm Ất Dậu suýt nữa y đã bị quân An Nam bắt sống trước cửa Hàm Tử. May ta cướp đường chạy thoát được ra biển còn Toa-đô thì bị mất đầu.
Trong khi đó thì Hưng Ninh vương Trần Tung, anh ruột Trần Hưng Đạo, anh họ của Nhật Huyên đưa hết thư này đến thư khác hẹn ngày vua nó ra hàng. Sự thật ta không tin lắm vào lời lẽ của nó. Nhưng sao nó nói tình thế thống thiết gần như là một sự thành thực, khiến ta không thể không tin. Ta trách nó sai hẹn thì nó bảo muốn tự mình ra mắt Trấn Nam vương mà cứ bị quan quân truy đuổi. “Nếu ra hàng trong lúc bị truy đuổi sợ Trấn Nam vương cho rằng vì bức bách mới phải ra hàng chứ không thực lòng quy thuận”. Nó nói thế ai chẳng mủi lòng. Nhưng chẳng lẽ vì lời nói ngọt ngon đó mà ta bắt các tướng phải án binh bất động sao. Thôi được, ta vừa truy bắt vừa chờ vua tôi nó thực lòng quy thuận.
Ô-mã-nhi sau khi bàn bạc với Phàn Tiếp suy đi xét lại quyết định không qua Vân Đồn nữa mà về thẳng An Bang để vào cửa Bạch Đằng rồi ngược Vạn Kiếp xem Áo-lỗ-xích có tin tức gì mới không.
Khi đại đội binh thuyền của Ô-mã-nhi kéo tới gần cửa An Bang thì đã non nửa chiều rồi.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư cho quân phục sẵn chờ giặc từ lâu. Nay chúng mới tới, thật là một cơ hội tốt cho các tướng lập công. Nguyễn Khoái, Nguyễn Chế Nghĩa từng tham gia đánh tan đoàn quân tải lương của Trương Văn Hổ, nay lại có mặt ở đây chờ bắt Ô-mã-nhi.
Mặc dù trận chiến khốc liệt vừa diễn ra ở gần cửa Đại Bàng hôm trước, nhưng sao bữa nay lại có vẻ thanh bình làm vậy. Bầu trời xanh và cao thăm thẳm, nắng xuân chợt lóe hoe vàng, chim hải âu chao liệng trắng trời, bên mạn thuyền cá heo bơi lội từng đàn nhưng khi quân giặc vừa ném cơm, ném bánh xuống biển với những lời cầu khấn thiêng liêng thì chúng lại bỏ đi hết, không một con nào thèm đớp mồi. Lạ thay!
Đoàn hải binh giặc với hơn ba trăm chiến thuyền, buồm nào buồm ấy no gió căng phồng đi phăng phăng như ngựa chạy, thoạt trông có vẻ oai hùng, nhưng nhìn kỹ mới thấy nó xộc xệch, cờ xí nhiều lá đã rách bươm, thứ đến là buồm, nhiều lá đã rách vá hai ba màu vải. Ngay cả những chiếc thuyền to đùng kia nhiều chiếc cũng rệu rã, sàn ván gãy, thủng lỗ chỗ bởi qua các trận giao tranh, trận nào quân Nguyên cũng thiệt hại đáng kể mà chúng vẫn chưa kịp tu bổ hoặc thay thế. Và trận nào quân nó cũng chết la liệt. Có điều rằng quân giặc đông quá, nó lúc nhúc như những đám giòi bọ, vì vậy nếu nó có chết tới cả mấy ngàn, thậm chí cả chục ngàn tên thì cũng chẳng hề hấn gì. Vả lại có chết cũng chỉ là chết đám quân người Hán, một thứ dân nô lệ bị bắt đi lót đường hoặc làm bia che đỡ tên đạn cho quân Mông Cổ.
Đoàn chiến thuyền vẫn nghênh ngang đi trên mặt biển của ta như đi trên ao nhà của nó. Bỗng một tiếng nổ đanh như tiếng sét, rồi từ bên sườn mấy trái núi quanh đó cả trăm chiến thuyền của tướng Nguyễn Khoái xông ra cắt ngang khúc đuôi của đoàn thuyền giặc, chặn lại khoảng trên dưới một trăm chiếc.
Tiếp đó ở phía sau, tướng Nguyễn Chế Nghĩa cũng đưa quân phục với cả trăm chiến thuyền hợp với quân của Nguyễn Khoái tạo thành một vòng tròn quây lấy giặc mà đánh. Thuyền giặc thuận gió vẫn cứ chạy băng băng. Những chiếc đi sau cùng thoát chết truyền được tin tức lên thuyền chỉ huy của Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp mãi tít trên đầu thì đoàn chiến thuyền đã đi quá xa nơi đoạn đuôi bị quân Đại Việt cắt lại. Cái khó cho nguyên soái Ô-mã-nhi là không thể lập tức quay mũi thuyền lấy hậu quân làm tiền quân cự địch được, vả lại thuyền ngược gió, khi đưa quân trở lại thì mọi sự chẳng còn cứu vãn được nữa. Ô-mã-nhi quyết định không quay lại cứu hậu quân, đó là một quyết định đau lòng nhưng cũng là một quyết định sáng suốt của một tên tướng dạn dày kinh nghiệm chiến trường. Vì rằng quân ta dùng lực lượng đông áp đảo để siết giặc trong vòng vây khốc liệt và quân ta từ các vị tướng đến người lính trơn đều nuôi chí diệt thù, trong khi đó quân giặc phần lớn là người Hán, là lính đánh thuê, vả lại vừa chết hụt trong trận thủy chiến ngày hôm trước, nên chúng chỉ đánh trả cốt tìm đường tháo chạy. Khi bị quân ta siết chặt vòng vây, khí thế hừng hực, giáo gươm tua tủa, quân hét, trống thúc vang ầm như mặt biển đang nổi sóng thì giặc co cụm lại rồi đầu hàng.
CHƯƠNG 14
Đã tới lúc có thể xoay đổi thế cuộc, Quốc công tiết chế cho triệu một số tướng lĩnh chủ chốt về đại bản doanh bàn kế. Trong số các tướng có Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Hưng Ninh vương Trần Tung, Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng cùng một số tướng lĩnh khác như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái…
Khi các tướng đã tề tựu đông đủ, Hưng Đạo nói lời yên ủi, tuyên dương công trạng từng vị, và thông báo diễn biến trên các mặt trận cho mọi người được biết. Sau đó Quốc công mời tất cả cùng sang “cung” hai vua để tâu báo mọi việc và xin ý chỉ cho các công việc sắp tới. Gọi là “cung”, nhưng ở nơi di tán trong rừng sâu cũng chỉ là những căn nhà tranh tre nứa lá cất tạm, tường vách là những tấm phên thưa không ngăn nổi gió lùa. Và để tránh rắn rết, trong các lán tranh thường gác sàn làm chỗ ngủ, nghỉ hoặc hội họp.
Thấy các tướng về chầu bất thường, thượng hoàng vui lắm. Chắc có chuyện lớn đây. Vừa trông thấy Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, thượng hoàng bèn vẫy tay cho ông lại gần. Vừa nắm tay Trần Khánh Dư nhà vua vừa nói:
- Tiêu diệt cả một đoàn thuyền lương mấy chục vạn thạch, khanh lập công đầu. Kế giả thua để lừa giặc của khanh cho tới nay giặc vẫn chưa biết, cùng với kế giả yếu của Quốc công để nuôi lòng kiêu ngạo của giặc, cho tới nay giặc cũng vẫn chưa hay, vẫn ngộ nhận là nó mạnh. Quả thật lũ tướng súy Hốt-tất-liệt là một bầy khiếm thị. Thảo nào khi hay tin giặc sắp tràn vào bờ cõi, ta hỏi năm nay đánh giặc thế nào, Quốc công thản nhiên đáp: “Kim niên tặc nhàn”. Nhìn về phía Hưng Đạo, thượng hoàng cười lớn và nói: “Anh Quốc Tuấn quả là một nhà tiên tri bậc thầy”.
Hưng Đạo vương đứng lên vái:
- Tạ ơn thượng hoàng có lời khen. Thần có tài cán gì đâu, chẳng qua thấy cái thế nó đã bày ra vậy thì nói vậy.
Mọi người vừa yên vị, vua Nhân tông bèn nói:
- Tâu thượng hoàng, theo như Quốc công cho biết đã đến lúc ta ra tay đuổi giặc. Vậy xin Quốc công cho nghe kế sách.
Hưng Đạo lại vái hai vua rồi nói:
- Tâu thượng hoàng, tâu quan gia, sở dĩ kế giả yếu, giả bại của ta lừa được giặc cho đến tận lúc này, là do các tướng của ta biết giữ nghiêm quân lệnh và đều có tài lừa giặc, tức là đóng xuất sắc các vai mình phải đóng. Lừa được giặc còn bởi các chiến binh của ta dũng cảm, đánh giặc không tiếc máu xương mình, ngay cả khi đang thắng phải giả thua tháo chạy, cũng không có một ai vì ham thắng mà cưỡng mệnh trên.
Giặc thường tự phụ có ưu thế về quân kỵ, thì nay đang mùa khô lạnh, không khác mấy với thời tiết phương bắc, vậy mà hơn hai ngàn quân kỵ do tướng Mông Cổ chỉ huy đã phải bỏ xác trước thành Hoa Lư; kể như mười phần quân đến, bị giết tới bảy tám phần. Bởi trong số hơn hai ngàn quân ấy chỉ còn hơn ba trăm con ngựa với từng ấy tên lính chạy thoát về Thăng Long. Thế là quân kỵ của giặc đã bị đánh quỵ. Cuộc tái xâm lăng nước ta lần này, người Nguyên cố khoe rằng chính họ chứ không phải ta nắm về ưu thế thủy binh. Vì vậy họ phái đến hẳn một nguyên soái chỉ huy một hải đoàn tới hơn bảy trăm chiến thuyền và hơn mười vạn quân. Thế nhưng mấy trận diễn ra vừa đây đọ sức với quân thủy của ta, giặc tỏ ra yếu thế, đã thua. Lại trước đây hơn một tháng, phó tướng Nhân Huệ vương đánh tan tác cả một hải đoàn chuyên chở mấy chục vạn thạch lương với biết bao khí cụ chiến tranh, khiến không một đấu lương nào đến được với năm, sáu chục muôn quân giặc, mà cho tới nay Thoát-hoan vẫn chưa biết đích xác vì sao tên cướp biển Trương Văn Hổ chưa chở được lương tới.
Ngửng nhìn hai vua, nhìn các tướng Hưng Đạo vương nói tiếp: - Vậy là quân giặc tuy rất đông nhưng không mạnh, ngay cả những chủng quân mà người Mông Cổ kỳ vọng nhất là kỵ binh. - Tâu, ta có hai điều bây giờ trở thành những nhân tố cực mạnh:
Một là ta giả yếu, giả thua nhường tất cả những nơi mà giặc cho là trọng yếu cần phải chiếm nó đều chiếm được cả như Vạn Kiếp, Thăng Long. Và kế xin hàng do Hưng Ninh vương thủ vai đã làm cho giặc từ nghi ngờ chuyển sang tin tưởng, dù cái ngày ra hàng cứ hẹn đi hẹn lại mãi giặc vẫn hơi còn hy vọng.
Hai là Nhân Huệ vương đã diệt nguồn lương của giặc, và hiện nay Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn phối với các thủ lĩnh người man đã bịt hết các nẻo tiếp lương bằng đường bộ của giặc từ Quảng Tây sang.
Nay mai ta thả một ít tù binh bắt được trong đoàn quân tải lương của Trương Văn Hổ cùng một số phiên hiệu thuyền bè vào trại của Thoát-hoan ở Thăng Long, trại của Áo-lỗ-xích ở Vạn Kiếp. Một số quân thủy, quân kỵ ta mới bắt gần đây cũng thả về cho chúng loan tin bại trận, chắc chắn giặc sẽ hoang mang cực độ. Tới lúc này ta đánh đâu chắc thắng đó và nhất định giặc sẽ nghĩ tới việc tháo chạy khỏi nước ta. Hưng Đạo vương ngừng lời như là một sự ngẫm nghĩ. Giây lát lại nói: - Thần xin thượng hoàng và quan gia cho ý chỉ đuổi giặc.
Với niềm xúc động chân thực, Thánh tông nói:
- Kế sách do quốc công đưa ra từ đầu cuộc chiến tới nay đều diệu dụng cả, trẫm hết lòng tin tưởng. Việc đuổi giặc xin quốc công bàn kỹ với quan gia và chư tướng, trẫm chỉ lưu ý một điều sao đuổi giặc ra khỏi bờ cõi càng sớm càng tốt, càng tốn ít máu xương sĩ tốt càng tốt.
Quốc Tuấn vội đáp:
- Thần xin tuân chỉ.
Sau đó thượng hoàng Thánh tông lui về nghỉ, các việc là ở quan gia cùng quốc công tiết chế Hưng Đạo vương và chư tướng bàn bạc.
Cuộc nghị bàn thật là sôi nổi trong đó đánh giá khả năng quân thù sắp tới sẽ đáp trả ra sao khi chúng nhận được các bằng chứng xác thực về đội quân tải lương của Trương Văn Hổ đã chính thức nằm dưới đáy biển Vân Đồn, Cửa Lục… Và Hưng Ninh vương cũng chấm dứt các thư hẹn hàng. Giặc phải đối mặt với sự thật nghiệt ngã đó sẽ có hai khả năng xảy ra:
Một là, chúng sẽ tập trung quân đánh rất khốc liệt vào quân ta.
Hai là, chúng lo đường rút chạy nhưng vẫn làm ra vẻ sắp mở đại trận đánh vào quân ta, nhằm cho cuộc tháo chạy đỡ bị tổn thất do quân ta chặn đường hoặc truy đuổi.
Các tướng đề cập đến nhiều cách đối phó, nhiều cách đánh làm cho giặc kiệt sức, muốn đánh cũng không đánh được, muốn rút cũng không rút được.
Quốc công tiết chế, người tổng chỉ huy kết gút công việc như sau:
- Nếu giặc tập trung quân lớn thì ta phân tán quấy rối và đánh vào phía sau của nó, đánh vào chỗ yếu của nó.
- Kiên quyết chặn đứng việc tiếp lương và việc giặc đi cướp lương trong dân hoặc các vùng cất giấu lương thực của ta.
- Nếu giặc nôn nóng đánh thì ta càng phải nhẩn nha khiến giặc phải giơ búa ngàn cân đánh vào chỗ trống.
- Phải chuẩn bị lực lượng chặn giặc ở cả hai mặt đường thủy, đường bộ. Phải tiêu diệt ít nhất bảy, tám phần quân nó, nhược bằng để sổng sẽ giúp việc tháo chạy của nó được an toàn thì nguy cơ chiến tranh tái diễn là điều khó tránh.
Sau đó Hưng Đạo cử các tướng đem quân đi về các ngả đón đợi thời cơ sẽ có những chuyển biến bất thường.
Tại Thăng Long, Vạn Kiếp cùng một lúc Thoát-hoan, Áo-lỗ-xích và cả Ô-mã-nhi đều nhận được các tù binh được tha về và các bằng chứng thu được từ đoàn thuyền lương giặc như cờ, phiên hiệu và đồ dùng của quân thủy, của phu thuyền, một số binh khí… Lại cũng có một số quân của Ô-mã-nhi mới bị bắt trong mấy trận giao tranh gần đây được tha về nữa.
Tất cả những bằng chứng hiển nhiên khiến Thoát-hoan không thể không tin, mặt y biến sắc và một kết cục xấu đang hiện dần trong não vị hoàng tử mà vua cha tin tưởng trao cho trọng trách phải bình định An Nam, để mở đường cho thiên tử thâu tóm nốt mấy nước phương nam. Bây giờ mọi sự đều dang dở. Nếu lại vác bộ mặt thua trận lần thứ hai nữa mà về Đại đô, chắc vua cha không tha tội.
Thoát-hoan còn đang cùng các tướng trăn trở tìm phương sách đối phó với Đại Việt thì nhận được một bức thư từ đại bản doanh của Hưng Đạo vương gửi tới do phó tướng Trần Khánh Dư thủ bút:
Kính gửi thái tử điện hạ,
Chắc hẳn ngài không thể không nhìn vào sự thật cay đắng. Rằng mấy chục vạn quân dưới quyền thống lĩnh của ngài chỉ vài tuần nữa là không còn một hạt lương. Nếu ngài cố tình xua quân đi cướp lúa gạo của dân ta, ắt phải đổi mỗi hạt gạo, hạt lúa bằng một mạng lính.
Tiện đây ta cũng kính báo để thái tử điện hạ biết rằng, đường thủy, đường bộ từ quý quốc sang Đại Việt đã bị khóa chặt nên đừng hoài công trông đợi ở sự tiếp lương.
Là một người thức thời lại là một bậc tướng từng trải chiến trận được thiên tử trao trọng trách, chắc điện hạ không thể không lo lắng cho quân mình và không tính đến kế an toàn tính mạng cho năm, sáu chục muôn quân. Các tướng dưới quyền người Trung Hoa có thể hiến cho điện hạ một trong ba mươi sáu[79] kế của họ.
Thiết nghĩ, nước tôi là một nước có chủ quyền lãnh thổ chứ không phải cái chợ mà ai muốn vào hoặc muốn ra lúc nào cũng được. Hơn nữa trong cuộc xâm lăng năm Ất Dậu (1285) mới đây, và cả cuộc xâm lăng hiện nay (1288), đứng đầu là điện hạ và binh sĩ đã gây ra xiết bao tội ác trời không dung đất không tha. Vì vậy, không dễ gì dân tôi để cho các ngài trốn chạy mà không mượn lại cái đầu hoặc tay, chân của các ngài.
Đừng nghĩ vượt qua được biên ải là an toàn đâu. Chắc điện hạ nhớ lần trước khi quân Nguyên đã chạy về đến đất Tư Minh của quý quốc, thế mà các vị tả hữu thừa Lý Quán, Lý Hằng vẫn còn phải đền tội. Và bản thân điện hạ, nếu không nằm trong rọ được bọc đồng lá để che chắn tên độc, chắc gì còn có cuộc nói chuyện hôm nay.
Tình thế hiện thời, thì sự được thua, sự sống chết của quân thiên triều ngay đến cả người đui, điếc cũng nhận ra. Vậy xin thái tử điện hạ hãy suy xét và lựa chọn một trong hai điều sau đây:
- Hoặc là ra hàng, sẽ được Đại Việt chúng tôi cấp thuyền bè, xe ngựa và lương thực để quân thiên triều về nước được toàn vẹn.
- Hoặc là tiếp tục giao tranh để phân định thắng thua.
Thái tử điện hạ nhận điều nào Đại Việt chúng tôi cũng đều tôn trọng. Song cũng xin được lưu ý điện hạ, chúng tôi không thể nán chờ lâu hơn nữa bởi nhân dân tôi đã phải chịu quá nhiều đau khổ do tội ác của binh lính thiên triều gây ra.
Mong sớm được hồi âm.
Nhân Huệ vương phó tướng Trần Khánh Dư
Kính bái
Đang rối lòng thì nhận được bức thư mà Thoát-hoan cho là một sự xúc phạm sâu sắc. Thứ nhất là Hưng Đạo lại để cho viên phó tướng giao dịch với ta. Vậy là y có ý khi mạn ta. Thứ hai là Khánh Dư dám dùng những lời lẽ bất kính đối với ta. Thoát-hoan đã toan dốc toàn lực đánh một trận cuối cùng cho vua tôi nhà Trần phải đớn đau, tan nát. Y xé vụn bức thư và sai quân đốt ngay trước mặt. Vậy là y sợ bẽ mặt với hạ cấp nên đã thủ tiêu trọn vẹn bức thư. Tả hữu hỏi thư gì mà khiến Trấn Nam vương bốc giận làm vậy.
Dường như cơn giận đã dịu bớt, y đáp:
- Tên Hưng Ninh vương Trần Tung lẻo mép lại hoãn một hẹn xin hàng nữa. Bắt được tên giặc này phải xử nó vào tội tùng xẻo.
Tình thế quân Nguyên thật là bi đát, nhưng các tướng dưới quyền không dám nói thẳng với Thoát-hoan điều đó.
A-ba-tri tìm cách nói vòng vo:
- Giặc bỏ đất đai, bỏ cả kinh thành trốn biệt vào núi rừng hiểm trở, tránh giao tranh là cốt để bảo toàn lực lượng nấn ná chờ cho xuân qua hạ tới. Khi đó trời nóng bức lại mưa nhiều, chướng khí hoành hành bệnh tật trong quân ta phát triển, ấy là lúc giặc tìm cách phản công. Hơn nữa lương thực trong quân đã cạn mà Trương Văn Hổ thì ngày một biệt tăm. Có nhẽ chủ tướng nên trù liệu sớm đi kẻo không kịp.
Thoát-hoan ngầm hiểu lòng quân đã nản. Và A-ba-tri nói: “trù liệu sớm đi kẻo không kịp” là ý khuyên ta nên lui quân về Bắc chớ để thời cơ cho giặc lấn.
Vài ngày sau tức đầu tháng hai năm Mậu Tý (1288), Thoát-hoan hạ lệnh bỏ Thăng Long lui về giữ lấy Vạn Kiếp.
Việc giặc rút khỏi Thăng Long vào lúc này quả thực không dễ như khi nó đến. Vừa ra khỏi Thăng Long độ mươi dặm thì từ quân thủy, quân kỵ đến quân bộ đều bị quân dân Đại Việt chặn đánh. Có những đoạn chiến sự nổ ra quyết liệt, cả ngày giặc chỉ tiến được non mười dặm. Và cứ đi dăm bảy dặm lại có giao tranh khiến tinh thần binh sĩ giặc vừa mệt mỏi vừa hoảng loạn.
Vừa về tới Vạn Kiếp chưa kịp nghỉ ngơi, Thoát-hoan đã cho triệu Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp đến trách:
- Các ông là tướng hùm sói của triều đình, thiên tử tin tưởng trao cho thống lĩnh quân thủy, hộ vệ đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ, thế mà để mấy chục vạn thạch lương rơi vào tay quân An Nam khiến đại quân của ta rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Các ông thử nghĩ giùm ta xem, nếu giặc triệt để bao vây lương thực thì quân ta sẽ trở thành lũ ma đói. Chúng sẽ nổi loạn. Quân ta tự tan rã mà giặc không cần đánh.
Cảm thấy mình có lỗi, nguyên soái Ô-mã-nhi cúi gằm mặt xuống.
Tham chính Phàn Tiếp vội đỡ lời:
- Trong việc này mạt tướng cũng có lỗi vì chỉ muốn tiến nhanh để hội quân tiện cho Trấn Nam vương sai khiến. Hơn nữa nguyên soái đã hai ba lần gặng hỏi có cần để lại một vài vạn quân hộ tống thì Trương Văn Hổ vội từ chối: “Thiên tử đã cho tôi năm ngàn quân tinh nhuệ hộ tống, mỗi thuyền lại có vài chục tên quân đi kèm. Vả lại tôi tha cướp lương của chúng thì thôi chứ kẻ nào cướp nổi của tôi”.
Trương Văn Hổ nói cứng chỉ là một phần, nhưng quả thật qua mấy trận giao tranh thì lực lượng của giặc chỉ lèo tèo không hơn đám giặc cỏ. Ai ngờ đó lại là kế của chúng.
Được tin Thoát-hoan chạy khỏi Thăng Long, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương liền triệu gấp các tướng về bàn.
Bữa nay thượng hoàng thấy trong người khó ở nên chỉ có quan gia tức vua Nhân tông tham dự. Tề tựu đông đủ, Hưng Đạo liền nói:
- Giặc bỏ Thăng Long cùng tất cả các nơi quan yếu khác, chúng chỉ giữ lại vùng Vạn Kiếp và phòng thủ dày đặc. Do đấy tình thế giặc sẽ diễn tiến theo hai hướng. Một là, giặc co cụm lại để chờ viện binh, chờ tiếp lương. Khi có thêm viện binh và quân lương giặc lại tiếp tục đánh chiếm các vùng khác, bởi Vạn Kiếp là địa bàn trọng yếu khống chế cả hai mặt thủy bộ của nước ta. Hai là, giặc thu quân về đó để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho việc tháo chạy. Vậy xin bệ hạ cùng các tướng thử bàn xem giặc quay trở theo hướng nào? Tuy hỏi kế nhà vua cùng chư tướng, nhưng bản thân Quốc công đang chuẩn bị phương thức đánh giặc khi chúng rút chạy.
Chiêu Minh vương thượng tướng Trần Quang Khải nói:
- Quốc công giả định với giặc lúc này có hai tình huống xảy ra. Nhưng theo tôi giặc không có khả năng tăng quân cũng như không thể tiếp lương được. Vì tăng quân ít ra cũng phải từ hai chục vạn trở lên mới có thêm sức mạnh kiềm chế được Đại Việt. Nhưng giặc sang ta mới được hơn hai tháng, chưa có cuộc đọ sức nào lớn. Giặc tuy có thiệt hại nhưng chưa đáng kể, chưa có gì đe dọa tới toàn quân nó, nên chưa có chuyện Thoát-hoan xin tăng viện. Vả lại nếu có chuyện tăng viện thì nhanh nhất cũng phải một năm sau giặc mới áp biên thùy nước ta được. Cứ xem sau khi giặc thua năm Ất Dậu thì đầu năm Bính Tuất (1286) Hốt-tất-liệt đã xuống chiếu đánh An Nam. Nhưng mãi tới cuối năm Đinh Hợi (1287) giặc mới khởi binh được. Bởi vậy khả năng viện binh là không thể có. Còn như hiện nay Quốc công đã phái quân lên Nội Bàng, Khâu Ôn, Khâu Cấp, Lộc Bình… để phối với quân người man chính là nhằm tiêu diệt quân giặc khi nó trốn chạy, và cũng là ngăn cản đường tiếp lương nhỏ lẻ của nó vẫn lén lút từ Quảng Tây sang. Cho nên theo tôi lúc này ta nên bàn việc chặn đánh thế nào không cho giặc rút được an toàn.
Thượng tướng Trần Nhật Duật nối lời:
- Chiêu Minh vương nói rất có lý. Nhưng thực chất lực lượng giặc tới lúc này, sự thiệt hại của chúng là chưa đáng kể. Mà binh pháp Tôn Tử có nói: “Chớ cản quân về” hoặc “Giặc cùng đường chớ bức bách”. Vậy ta có nên chặn nó hoặc cũng phải mở đường cho nó rút đi, còn ta chỉ nên phục quân đánh tạt sườn hoặc chặn đuôi để tiêu diệt một phần quân của nó thôi. Như thế ta có thể gây thiệt hại cho giặc mà đỡ tốn máu xương quân ta.
Trần Thì Kiến một viên tướng nổi tiếng về tính cương trực, trước là gia thần của phủ Hưng Đạo xin nói:
- Hai vị thượng tướng kiến giải rất hữu lý, tôi không dám lạm bàn. Chỉ xin nói cái thiển ý của riêng tôi. Giặc vốn ngạo mạn, coi quân ta như cỏ rác, coi nước ta như quận huyện của nó. Kể từ năm Đinh Tị tới nay chúng đã ba lần kéo quân sang xâm lược. Hai lần đã thua nhục nhã. Lần này thì chúng đang lâm vào thế chết. Quân không lương là quân chết. Vậy tại sao ta không nhân cái thế thượng phong này mà tiêu diệt sạch sành sanh quân nó, dạy cho thiên triều và cả thiên tử một bài học để chúng phải chừa tới muôn sau.
Các tướng trẻ như Nhân đức hầu Trần Toàn, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái cũng đang nhấp nhổm muốn xin nói. Vua Nhân tông trông thấy liền giục:
- Nào Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão… các tướng trẻ thử nói ý của các khanh xem sao.
Nguyễn Khoái với vẻ cung kính nói:
- Xâm lăng lần này, giặc muốn khoe quân thủy của nó mạnh. Giặc cũng muốn nhân thể đè bẹp cái sở trường đánh thủy của quân ta. Ai dè mấy trận gần đây bất ngờ ta ra quân khiến Ô-mã-nhi trở tay không kịp, hàng trăm chiến thuyền của giặc bị quân ta đánh chìm, mà giặc thì đầu đuôi không cứu được nhau. Vậy theo thiển ý của thần mong sao Quốc công cho tận diệt quân thủy của Thoát-hoan, để từ nay về sau chúng chớ có ngạo mạn tưởng mình là nước lớn muốn làm gì cũng được, quân nào của chúng cũng thiện xảo.
Vua Nhân Tông thấy các tướng trẻ bày tỏ nhiệt huyết giết giặc, ngài lấy làm vui mừng, liền chỉ tay về phía Phạm Ngũ Lão khích lệ:
- Khanh mau nói điều mà khanh đang nghĩ.
Lĩnh ý nhà vua, Phạm Ngũ Lão liền nói:
- Theo ngu ý của thần thì vì lẽ gì giặc rút khỏi Thăng Long, lui hết về giữ Vạn Kiếp.
Bởi Vạn Kiếp là một vùng thông địa có đường thủy bộ tỏa đi bốn ngả, có núi non làm điểm tựa lại có cả đồng bằng tiện việc tiếp nhận binh, lương qua các ngả thủy bộ từ nước nó đưa sang. Vì sao lần này giặc vào lại chiếm ngay Vạn Kiếp và giữ Vạn Kiếp làm căn cứ chính để đánh thông các ngả. Ấy là bởi giặc đem nhiều quân thủy, nên chiếm Vạn Kiếp để giữ cả ưu thế thủy, bộ.
Nhưng sao ta chưa đánh lớn mà giặc đã vội vã bỏ cả Thăng Long để về giữ Vạn Kiếp. Ấy là giặc đang ở vào thế chết vì không lương và quân nó đang rối loạn. Trong khi quân ta no đủ, tinh thần binh sĩ nao nức đánh giặc lập công. Cái thế thắng thua giữa ta và giặc đã bày ra cả. Cho nên giặc giữ Vạn Kiếp là giữ đường tháo chạy chứ không còn khả năng giữ để tiến công như khi nó mới đến. Vậy xin bệ hạ và Quốc công sai chẹn đường về của giặc, đánh cho nó tan tác. Đành rằng phải canh chừng khi đuổi con thú cùng đường. Vì vậy ta chỉ hé cửa cho nó chạy thôi, chứ không mở rộng cửa thênh thang cho nó ung dung trở về. Phải cho chúng khiêng xác nhau mà về, ôm đầu máu mà về. Thần xin được trở lại ải Lão Thử để nghênh địch.
Nghe Phạm Ngũ Lão nói, trên từ nhà vua đến các bậc tướng dạn dày chiến trận đều nở nụ cười vui.
Đến đây Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư xin nói:
- Công cuộc kháng giặc của ta tới lúc này coi như đã nhìn thấy thắng lợi. Nhưng cũng chỉ mới được nửa chặng đường. Song nếu để sổng cho giặc chạy thoát thì lập tức ta phải lo một cuộc chống xâm lăng mới, khốc liệt hơn các cuộc trước nhiều, bởi giặc đã lấy được bài học từ các cuộc thua trước.
Sở dĩ ta thắng được giặc là bởi cả nước một lòng, đồng tâm hiệp lực giữ nước. Trên từ nhà vua thứ đến quan dân, binh sĩ gian nan không nản, máu xương không tiếc, cốt sao giữ lấy nước. Trong đó phải kể đến Hưng Đạo binh pháp và Vạn Kiếp tông bí truyền thư là hai bộ sách vạch ra đường hướng cho công cuộc kháng giặc viên thành và dạy cho tướng lĩnh kế sách đánh giặc, dạy cho binh lính kỹ xảo đánh giặc và truyền cho họ lòng yêu nước, ý chí quật khởi trước kẻ thù. Ví như kế “thanh dã” được toàn dân hưởng ứng đã biến các vùng giặc sẽ chiếm thành vườn không nhà trống. Bởi vậy giặc không kiếm được lương thực, thực phẩm nuôi quân. Giặc vào cõi bờ ta mà không kiếm được lương thực thì chỉ mắt trước mắt sau rồi tìm đường tháo lui chứ ở sao nổi. Lại nữa, với chính sách “ngụ binh ư nông” cũng tức là toàn dân vi binh. Đành rằng chính sách này khởi từ nhà Lý, nay ta vận dụng vào binh pháp nên có chỗ đắc dụng khác thường. Vì vậy giặc tới chỗ nào cũng đụng phải dân binh. Vào đất ta không một chỗ nào cho giặc được ở yên. Ta giả yếu, giả thua để nuôi lòng kiêu ngạo của giặc, vì thế ta diệt gọn đoàn quân lương của giặc, vừa thu được vừa đánh chìm mấy chục vạn thạch lương, đẩy giặc vào thế sống dở chết dở như hiện nay.
Hiện thời ta có một đội quân tinh nhuệ, dũng mãnh hết lòng chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, lại có một đội ngũ đông đảo các vị tướng lĩnh cơ mưu tài trí được nhà vua tin dùng. Chỉ riêng bệ hạ tin dùng tướng lĩnh đã là một nhân tố thắng giặc rồi. Không những thế, cả thượng hoàng và bệ hạ cùng làm tướng cầm quân đánh giặc, thử hỏi có thứ giặc nào không bị đánh bại.
Vậy nên xin bệ hạ và Quốc công sai bảo để kịp chia quân đi bắt giặc phải đền tội ác.
Vua Nhân tông rưng rưng cảm động trước sự tận trung với nước của chư tướng và binh sĩ, ngài nói:
- Thế nước đứng được như hiện nay là nhờ vào tướng súy và binh sĩ cùng muôn dân, triều đình không dựa vào dân, không dựa vào binh sĩ thì lấy ai đánh giặc. Mấy phen giặc vào cõi gây xiết bao tội ác trời người đều không thể dung tha. Vừa mới đây Ô-mã-nhi theo hút ta và thượng hoàng, nhưng thực chất là nó theo chú Chiêu Văn và Ngũ Lão. Thất vọng, giặc nổi khùng làm điều táng tận lương tâm là chúng về Thái Đường, dám đụng đến phần mộ tổ tông khiến lòng ta đau xót. Cũng may mà giặc chưa đụng đến phần quan quách và khi chúng vừa đi khỏi, dân chúng đã kịp hoàn thổ.
Tự nhiên đầu óc nhà vua cảm thấy nặng trĩu, gương mặt ngài hiện rõ nỗi buồn lo.
Người Việt ta có câu: “Sống về mồ về mả, chứ không sống về cả bát cơm”. Đúng là giặc đã đụng đến phần thiêng liêng nhất của tâm linh Việt, mà Nhân tông lại vốn là người chí hiếu, tránh sao khỏi nỗi đau dứt ruột.
Thấy cảnh tượng nặng nề, Hưng Đạo liền lên tiếng:
- Thần hứa với bệ hạ sẽ bắt sống lũ tướng giặc man rợ này, để bệ hạ chém đầu chúng lấy máu rửa binh khí trong lễ hiến phù ở nhà Thái miếu.
Thấy vị Quốc công tiết chế nói cứng cỏi, các tướng đều đồng thanh hô:
- Chúng thần thề sẽ bắt tướng giặc đền tội!
Kế đó Hưng Đạo sai các tướng chia quân đi chẹn các ngả dự liệu giặc sẽ tháo chạy. Và ông đem theo một số tướng trẻ theo mình như Nguyễn Khoái, Trần Toàn, Nguyễn Chế Nghĩa… cùng phó tướng Trần Khánh Dư ra ngay Vân Đồn. Công việc tại đại bản doanh Quốc công trao cho Chiêu Minh vương Trần Quang Khải điều hành, kể cả việc phò giá.
Tới Vân Đồn, Hưng Đạo mật bàn với Trần Khánh Dư:
- Cái thế của giặc ắt phải bỏ cuộc, bỏ nước ta mà trốn chạy, nếu chúng không muốn bị bắt, bị giết toàn bộ giặc tất phải chạy theo hai ngả thủy, bộ. Nhưng bằng cách nào ta có thể giết và bắt được nhiều giặc?
Trần Khánh Dư đăm chiêu suy nghĩ, một lát, ông đáp:
- Phải dồn giặc vào những cái túi, tựa như chiếc giỏ cài hom đặt dưới rốn chiếc vó bè.
- Ông có dự liệu đặt vó ở những chỗ nào chưa? - Hưng Đạo nhìn thẳng vào mắt Trần Khánh Dư chờ câu trả lời.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư cân nhắc rồi đáp:
- Có nhẽ mặt bộ, giặc sẽ rút theo các nẻo đường mà chúng đã vào nước ta. Ngoài ra không còn đường nào khác. Tuy nhiên, không biết Thoát-hoan sẽ chạy đường nào. Còn như mặt thủy, giặc không thể chạy ngược lên Bạch Hạc rồi theo Thao Giang mà về Vân Nam được. Bởi mùa này thượng lưu ít nước sông cạn lại có đá ngầm thuyền quân không thể đi được. Vậy chỉ có con đường duy nhất giặc phải qua là sông Bạch Đằng, rồi từ đó thoát qua cửa An Bang hoặc cửa Đại Bàng mà ra biển. Ta có thể kiềm chế giặc ở sông Bạch Đằng, còn như ở đoạn nào chắc quốc công đã có chủ kiến vì quốc công đã khảo sát kỹ trước khi nổ ra chiến tranh.
Quốc Tuấn gật đầu tán thưởng, ông tỏ ra hài lòng về những kiến giải của Nhân Huệ vương mà ông cho là bậc trí tướng. Đoạn ông mỉm cười đáp:
- Nhân Huệ vương quả là biết rõ cả gan ruột ta. Có mấy quyển binh pháp ta viết đó, dẹp xong giặc ta muốn ông nhuận sắc cho. Còn việc đuổi quân thủy của giặc, ông cùng Quốc Tảng lo bịt cho ta vùng Cửa Lục, cửa An Bang và khu vực Vân Đồn phòng khi giặc từ Bạch Đằng sổng ra.
- Hạ cấp quyết không phụ lòng.
Nhân Huệ vương nhận mệnh với lòng biết ơn và cả sự quả quyết.
CHƯƠNG 15
Từ khi Thoát-hoan kéo quân về đóng đông nghịt vùng Vạn Kiếp, không đêm nào chúng không bị quân Đại Việt quấy rối. Quấy rối làm cho giặc ăn không ngon, ngủ không yên. Quân ta chỉ quấy rối về đêm, ban ngày lại rút ra xa. Giặc có đánh nống ra cũng chỉ dám đi độ non nửa ngày đường rồi quay lại. Nhiều khi tới ba bốn ngày liền vẫn không có đụng độ gì với quân ta. Nhưng bất chợt có ngày giặc đi tới quá trưa, đang định quay về đồn trại thì bị quân ta quây đánh diệt gần hết. Vài ngày sau địch lại nống ra, nhưng chỉ dám đi xa non chục dặm và với số quân đông tới cả vạn tên. Những ngày như thế chúng lại chẳng vấp váp gì, càng làm cho lũ tướng giặc tức đến phát điên. Chúng thường chửi tục: “Quân Giao Chỉ là một lũ quân ma”.
Thấy tình thế khó có thể ở lâu được nữa, Thoát-hoan bèn triệu các tướng về bàn thảo. Ta còn nhớ các gương mặt tướng lĩnh trước khi xuất phát ở Ngạc Châu đều hớn hở vui tươi như đi trẩy hội, thế mà lúc này vào chầu chủ tướng, tướng nào cũng mang bộ mặt nặng như chì và khó có thể nhìn thấy một nụ cười hoặc nghe thấy một tiếng hỏi chào nhau vui vẻ.
Tề tựu đông đủ, Thoát-hoan hỏi:
- Các ông nói rõ tình trạng trong quân ta nghe.
Thấy chủ tướng có vẻ cau có, các tướng cảm thấy ngại nói ra sự thật, họ nhìn nhau vẻ như đùn đẩy khiến Thoát-hoan cáu gắt:
- Cứ nói thẳng đi. Lương thực còn được bao nhiêu ngày nữa. Quân đã phải ăn đói chưa. Có ốm đau nhiều không mà nhiều mả mới chôn người thế. Nếu các ông cứ quanh co không chịu nói thật để trong quân xảy ra các việc bất thường, ta sẽ trị tội nặng gấp đôi.
Áo-lỗ-xích nhìn các tướng với vẻ cảm thông và ông lên tiếng:
- Bẩm Trấn Nam vương, Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ nhận mệnh trước thiên tử chở hơn bốn mươi vạn thạch lương, nhưng tới lúc này quân vẫn chưa nhận được một hạt lương nào từ y. Chắc là quân đã chết đói từ lâu, nếu các tướng không sai quân hằng ngày đi cướp lương, đi tìm kiếm đào bới lương thực mà người An Nam chôn giấu. Bây giờ việc ấy cực khó, có thể nói mỗi đấu gạo phải đổi một mạng lính, nhiều khi cái giá còn đắt hơn thế nữa. Quân thì ốm đau, mệt mỏi, sợ hãi và bất cứ chỗ nào cái chết cũng rình rập. Đi đào bới lương: chết. Đi cắt cỏ ngựa: chết. Đi hái rau: chết. Đi tìm cây thuốc: chết. Đủ thứ chết nên lính đâm nhát sợ. Sợ nhất là lũ người bắn lén bằng tên độc. Người Giao Chỉ chế được loại thuốc kịch độc tẩm vào mũi tên. Ai bị giặc bắn trúng tên độc, dù chỉ xước da, người cũng sưng phù bằng con bò, tím tái toàn thân rồi giãy đành đạch hoặc sùi bọt mép trắng xóa rồi chết thẳng cẳng. Lại nữa, gần đây Hưng Đạo thả các tù binh bị bắt là quân tải lương hoặc quân thủy về các trại, khiến chúng phao đồn cũng làm tinh thần binh lính thêm rệu rã. Mỗi khi điều động quân đi càn quét hoặc tìm lương thảo, chúng rất sợ ra khỏi trại. Khi ra khỏi trại đám quân Giang Nam thường rủ nhau bỏ trốn. Tôi thay mặt các tướng nói lên sự thật, mong Trấn Nam vương thử xem xét ta có nên ở lại cái xứ này nữa không.
Dù là một bậc tướng lão luyện chiến trường được Hốt-tất-liệt tin yêu trao trọng trách làm phó tướng cho Thoát-hoan, dẫn một đội quân viễn chinh đông năm, sáu chục vạn mà để tình trạng như thế này, Áo-lỗ-xích thấy mình cũng có phần trách nhiệm. Nhưng nếu không sớm thoát ra khỏi tình trạng này để phải trắng tay thì tội của ta lớn lắm. Vi vậy Áo-lỗ-xích thấy cần phải cho vị chủ tướng biết rõ thảm trạng đang đến với quân mình.
Nghe viên phó tướng nói xong, mặt Thoát-hoan đỏ lựng rồi tái đi. Các tướng đều cảm nhận cơn thịnh nộ sắp nổ ra. Nhưng không, không có điều gì xảy ra cả khiến các tướng vô cùng ngạc nhiên.
Với vẻ mệt mỏi, đưa mắt nhìn khắp lượt các tướng, dường như ngầm có sự chia sẻ nỗi bất hạnh với mọi người, Thoát-hoan nói:
- Quân ta đang gặp khó. Vậy ý các tướng thế nào, liệu có nên ở lại cái xứ chết tiệt này không. Và ta hỏi thực, quân đã phải ăn đói chưa, đã bỏ trốn sang hàng giặc chưa.
Nhân đó hữu thừa A-ba-tri liền nói:
- Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn. Nếu ở qua xuân sang hè, thời tiết giao mùa, thủy thổ không hợp, quân sẽ ốm nhiều do bệnh thời khí phát sinh. Một khi các bệnh tả lị đã phát thì người ốm và chết hàng loạt tựa như cuộc chiến năm Ất Dậu, đúng lúc thời tiết nóng nực lại nước lũ tràn về quân ốm, ngựa đói thì quân Giao Chỉ mở nhiều trận đánh lớn khiến quân ta trở tay không kịp. Nay chủ tướng đã có ý không muốn ở lại nữa, tại sao ta không về từ lúc quân còn khỏe.
Hữu thừa Trịnh Bằng Phi cũng nói thêm:
- Thật ra đây là vùng đất, nếu chưa chiếm được thì chưa yên tâm, mà chiếm được cũng chẳng để làm gì. Các quan chắc chẳng ai muốn đi thú ở cái miền xa xôi lam chướng mà dân cũng không thuần, họ có thể nổi dậy chống lại quan quân bất cứ lúc nào. Tôi cũng thấy nếu Trấn Nam vương đã không có bụng ở, sao ta không tính việc cho quân về sớm. Lương sắp cạn, quân thì mỏi mệt mùa nóng nực lại sắp tới rồi, nên cho toàn quân về sớm kẻo khi giặc phản công không lấy gì chống đỡ để tai tiếng cho triều đình, về lương thực, tuy vậy quân vẫn chưa bị bớt bữa, nhưng có bị bớt bát. Trong quân thường có hiện tượng quây lại với nhau thành từng nhóm bàn tán và tỏ ra lo lắng, sợ sệt. Nếu giặc vây riết, quân bị đói thì cơ sự thật khó lường.
Đúng là Trịnh Bằng Phi biết đến gan ruột chủ tướng. Điều Trịnh Bằng Phi nói cũng chính là điều các tướng muốn nói, nhưng ai cũng ngại không dám nói ra. Và trong bụng thì ai cũng nghĩ đến cái họa năm Ất Dậu tái diễn. Nhất là những tướng vừa thoát ra khỏi cuộc chiến ấy như Lưu Thế Anh ngồi kia. Vạn hộ Lưu Thế Anh đóng giữ căn cứ A Lỗ thủy bộ liên hoàn. Khi không thì quân kỵ, quân thủy, quân bộ giương giương tự đắc, thế mà bỗng chốc Hưng Đạo giáng cho một đòn tan nát. Hơn hai vạn quân chỉ còn mấy chục đứa hộ vệ Lưu Thế Anh chạy về Thăng Long áo quần rách rưới tả tơi ra mắt Trấn Nam vương. Nghe tin A Lỗ thất thủ, Thoát-hoan đã rụng rời cả tay chân, tới lúc nhìn chủ tớ Lưu Thế Anh phủ phục trước mặt xin tha tội, Thoát-hoan khinh bỉ đuổi ra ngoài. Thoát-hoan phải gánh nhiều trận thua đau nên không nhớ xuể, nhưng Lưu Thế Anh thì chẳng thể nào quên cái nhục của đời làm tướng. Vì vậy, y ngồi thu người lại như muốn che giấu tấm thân phì nộn và cái mặt béo tròn da bóng nhẫy, chỉ cần châm nhẹ cái đầu gai bưởi vào, mỡ sẽ chảy ra ròng ròng. Cứ nghĩ đến cái cảnh người, ngựa ngoi ngóp trong nước lũ, dạt vào mấy mô đất cao tranh chỗ trú chân với đám chuột đồng thì Lưu Thế Anh không còn bụng dạ nào mà bàn bạc nữa. Và cũng chẳng còn tư cách gì mà bàn bạc. Vì thế y cứ cúi gằm mặt xuống, nhưng tai thì dỏng lên nghe không bỏ sót một từ nào.
Nhân đó Trương Ngọc cũng bàn thêm:
- Đọc Tống sử tôi thấy năm Hy Ninh thứ 10 (1077) Giám sát ngự sử là Thái Phụng Hỷ dâng biểu lên vua Tống Thần tông về việc đánh Giao Chỉ trong đó có đoạn viết: “Phù chướng hải cùng sơn, độc vụ chi uyên tẩu, phi diên trụy, độc khí thượng, ôn phong tác lệ; kỳ gian đãi chi nhân cảnh, tuy tận đắc chi, cố hà ích ư thiên hạ?”[80]
Xem thế đủ biết hơn hai trăm năm trước, khi đánh Giao Chỉ người Tống cũng đã cân nhắc và bàn bạc tới cạn nhẽ. Lại xem đất đai, khí hậu Giao Chỉ hiện nay với hơn hai trăm năm trước cũng không có gì khác biệt. Suy cho cùng nếu Trấn Nam vương đã có bụng không muốn ở thì cũng nên về sớm, tránh được lúc thời khắc xuân hạ giao mùa thường nảy sinh dịch bệnh.
Các tướng đều lần lượt nói theo cái bụng không muốn ở lại An Nam của Thoát-hoan. Tất cả đều nói tránh đi cái tình thế sắp thua, nếu ở lại sẽ bị chết đói, bị tiêu diệt hoàn toàn, và họ đều vin vào cái cớ thời tiết, khí hậu không hợp để bàn việc lui quân cho đỡ sái, đỡ nhục. Ai cũng biết cái lý nó nằm ở chỗ khác chứ không phải thời tiết khí hậu. Ấy thế mà họ vẫn cứ phải bấu víu kể cả bấu víu vào lịch sử và cố tình lẩn tránh một sự thật hiển nhiên.
Cái triều đình bù nhìn do Hốt-tất-liệt sai lập và tấn phong từ vua chúa tới một lũ bầy tôi theo chân Thoát-hoan về nước, nay đều thất vọng, đều quần tam tụ ngũ cao đàm khoát luận về những chuyện vu vơ, vờ quên thân phận của một bầy chim mồi, chó săn. Và trong các cuộc bàn bạc nơi màn trướng, họa hoằn lắm Thoát-hoan mới cho Trần Ích Tắc, cái người mà chúng hy vọng đặt lên ngôi quốc vương, nếu chúng chinh phục được nước Nam, ngồi dự nghe chứ không được dự bàn.
Lần này cũng vậy, Thoát-hoan cho gọi Trần Ích Tắc vào trong trướng để được nghe bàn. Thấy bọn tướng giặc thốt ra những lời chua chát, Trần Ích Tắc đau lòng nhận thấy quân thiên triều sắp bị An Nam đánh bại đến nơi. Và trong thẳm sâu tâm tưởng của kẻ phản bội Tổ quốc nhen lên một điều gì tựa như là sự hối hận. Trần Ích Tắc vội xua đuổi cái thứ tình cảm yếu mềm, chấp nhận thân phận tôi tớ, quyết giữ lòng trung với ngoại bang, trọn đời thờ vua nước giặc, đồng tâm hiệp lực với giặc bán rẻ giống nòi để được vinh thân phì gia, mặc cho trăm họ nguyền rủa khinh bỉ, sử xanh chê trách.
Thoát-hoan thoáng nhìn thấy vẻ mặt Trần Ích Tắc đầy âu lo, song y vẫn dửng dưng. Đoạn quay về phía các tướng, y tuyên một cái lệnh mọi người đang chờ đợi:
- Chiều theo ý các ông, ta bằng lòng đưa quân về, chứ cái xứ man di này dẫu có chiếm được cũng chẳng để làm gì. Bỗng nhiên y nổi nóng: - Ta căm ghét vua tôi nó. Ta muốn giết hết dân nó. Nhưng trước khi về nước hãy thiêu tất cả mọi thứ trong cái vùng Vạn Kiếp này ra tro, ra than.
Hai mắt Thoát-hoan đỏ ngầu như hai cục lửa, mặt đằng đằng sát khí. Thoát-hoan trỏ vào Giải Chấn hạ lệnh:
- Ngươi đem quân đi đốt tất cả những gì có thể cháy trong vùng này.
Các tướng xúm vào can:
- Bẩm Trấn Nam vương, nếu ta đốt thành, có khác nào tự báo cho giặc rằng ta sắp rút quân. Điều đó thật sự nguy hiểm.
- Nói rằng đem quân về nước, nhưng có phải ngày một ngày hai đã đi khỏi được đâu. Nếu đốt, trước hết quân ta không có chỗ đồn trú.
Viên thần nỗ tổng quản Giả Nhược Ngu được Thoát-hoan yêu mến luôn giữ ở bên mình cũng nói:
- Đành rằng quân nên về, không nên giữ. Nhưng muốn cho toàn vẹn phải giữ cho kín nhẹm. Nếu ngày mai lui quân thì hôm nay vẫn phải làm cái việc của một đội quân đang tính chuyện ăn ở lâu dài khiến giặc không thể ngờ.
Suy nghĩ giây lâu, Thoát-hoan nói:
- Thể theo ý nguyện của các ông, ta chấp nhận lui quân. Nhưng ta nghe nói Hưng Đạo đã đưa tới ba chục vạn quân lên phía bắc nhằm ngăn chặn quân ta rút về Bắc. Lại nghe nói, chúng đào nhiều hầm xỉa ngựa ở hai bên sườn núi, và nhiều hố bẫy ngựa dọc đường thiên lý. Vậy các ông bàn kế sao cho việc trở về được toàn vẹn.
Hết thảy các tướng đều thấy việc rút quân càng sớm càng tốt. Nhưng rút sao cho được an toàn lại là việc khó. Bởi An Nam đã đem mấy chục vạn quân luồn phía sau lưng quân Nguyên để chặn đánh trên đường rút chạy. Hơn nữa tinh thần quân mình lúc này sa sút mà khí thế trong quân họ lại đang lên.
Chưa thấy một tướng nào khai khẩu, Thoát-hoan đảo mắt nhìn khắp lượt.
A-ba-tri một viên tướng vào hàng thượng thặng xin nói:
- Người Giao Chỉ giảo quyệt, lúc quân ta mới vào chúng giả thua, giả yếu bỏ hết thảy các địa bàn xung yếu cho ta chiếm, để rồi chúng lừa đoạt hết cả đoàn thuyền tải lương tới mấy chục vạn thạch của quân ta, đẩy ta vào tình thế không lương. Quân không lương là quân chết. Mặc dù ta đã chiếm được thế thượng phong như địa bàn vùng Vạn Kiếp, nhưng ta lại không biết quân chúng ở đâu mà giao chiến. Giặc khéo che bịt khiến mọi sự mọi việc đều trở nên mù mờ. Bởi vậy việc lui binh mà muốn bảo toàn được, phải giữ cho kín nhẹm phải lừa được giặc, phải lui trong thế tiến, phải dũng mãnh, áp đảo khi giao tranh mới đẩy lùi được giặc. Hơn nữa các tướng dẫn quân đi đường nào, nay lại về đúng đường đó. Ấy là ta đánh vào cái chỗ không ngờ của giặc.
Nạp-thốc-lạt Đình (Nasir-ud-Đin) nói:
- Quân ta vì mất hết lương thực nên không ở lâu trên đất giặc được. Nhưng lực lượng của ta vẫn hùng hậu có thể áp đảo được giặc. Cớ chi phải lo sợ nhiều quá. Lo sợ nhiều quá tức là đề cao sức giặc, giảm sức ta, làm nhụt nhuệ khí tướng sĩ. Phép cầm quân gặp giặc thì đánh, qua sông thì bắc cầu, không có đường thì băng rừng vượt suối mà đi. Ba cái thứ quân Giao Chỉ giỏi nghề đánh lén, nếu ta biết đề phòng tiền hậu, tả hữu liên kết với nhau thành một khối, giặc dẫu có thế mạnh gấp đôi cũng phải bó tay, Trấn Nam vương cứ kê cao gối mà ngủ, lúc nào muốn về thì về, lo gì ba cái thằng Giao Chỉ.
Tích-lệ-cơ vương, một vị thân vương vào hàng thúc phụ của Thoát-hoan theo quân đi chinh chiến, ông không giữ một đạo quân nào, bản thân ông cũng là một tướng tài thao lược, hiện ông đang bị thất sủng với Hốt-tất-liệt nên muốn đi khỏi Đại đô cho đỡ vướng mắt người anh họ đa nghi. Nghe các tướng bàn thảo, ông biết quân mình đang rơi vào thế bất lợi, nếu không khôn khéo, khó có thể giữ được toàn quân mà về. Nghĩ vậy, ông nói:
- Quân An Nam thực chất chưa khởi sự, tức là họ chưa thật sự giao chiến với quân ta đã khiến ta lâm vào tình cảnh thất lợi, như thế đủ biết Hưng Đạo là bậc tướng như thế nào. Rõ ràng là họ tránh giao chiến với ta, như thế không có nghĩa là họ yếu mà là họ dụng kế đấy. Nay ta bàn việc lui quân sao cho toàn vẹn, vậy nên chớ coi thường họ. Hội quân về, theo ta cứ nên chọn cả hai đường thủy bộ. Đường nào cũng phải phòng bị thật chu đáo, vì đường nào cũng có hiểm nguy rình rập. Tuy nhiên, đường thủy ra khỏi đất họ nhanh hơn, vả lại trong số tướng soái các ông nhiều người đem theo thê thiếp, ta nghĩ đi thuyền tiện hơn là đi bộ. Vả lại đám đàn bà đâu quen việc cưỡi ngựa đi xa hàng ngàn dặm.
Nghe Tích-lệ-cơ vương nói rút quân bằng đường thủy khiến Ô-mã-nhi giật mình. Y nhớ cuộc chiến năm Ất Dậu, trước cửa quan Hàm Tử, y suýt mất đầu cùng với Toa-đô. Lại mấy trận mới đây ở khu vực Tháp Sơn - Đại Bàng bị quân Trần phục kích khiến đầu đuôi không ứng cứu được nhau để hàng trăm chiến thuyền sa vào tay giặc. Thực tình Ô-mã-nhi rất ngại việc trở về bằng đường thủy, mặc dù trong tay y còn một đội thủy binh khá đông cùng với hơn sáu trăm chiến thuyền. Nghĩ vậy, Ô-mã-nhi liền nói:
- Thuyền lương vào trước sau đều bị hãm cả. Bờ biển của họ nhiều chỗ hiểm trở, núi khuất núi quanh co, nhỡ gặp quân phục thật khó quay trở, chi bằng đốt bỏ hết thuyền bè, lấy đường bộ mà về.
Nghe Ô-mã-nhi nói, Thoát-hoan giận dữ:
- Ông là một dũng tướng được thiên tử tin yêu trao giữ chức Giao Chỉ hải thuyền đô nguyên súy, chỉ huy sáu, bảy trăm chiến thuyền với hơn mười vạn quân, thế mà định trắng tay ra về sao? Chẳng nhẽ ông là vị tướng đầu tiên làm ta thất vọng!
Trong vài ngày tới ta sẽ cho quân đánh thông từ Vạn Kiếp đến Bạch Đằng. Sau đó sẽ cử quân kỵ, quân bộ hộ tống cho quân thủy rút trước. Các tướng dẫn quân nào đi thì dẫn quân ấy về, riêng cánh quân vào Giao Chỉ từ Vân Nam qua nẻo Quy Hóa giang thời nay không về theo đường đó nữa, mà về theo đường Lạng Châu rồi vào đất Tư Minh.
Trịnh Bằng Phi và A-ba-tri lãnh quân bộ, quân kỵ hộ tống cho quân thủy của Ô-mã-nhi khi nào quân thủy ra khỏi cửa An Bang thì hai quân mã, bộ trở lại Vạn Kiếp rồi cùng rút với đại quân.
Sau đó hằng ngày giặc vẫn đánh nống ra khỏi đồn trại mươi mười lăm dặm. Thường thì quân ta tránh không đụng độ, chỉ để cho hương binh phục đánh những toán quân giặc đi nhỏ lẻ. Tuy vậy, cũng có ngày giặc ra khỏi trại năm, sáu dặm đã bị quân ta chặn đánh quyết liệt buộc chúng phải quay trở lại.
Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương sau khi đã sai tướng đi chặn các nẻo đường giặc sẽ rút về, cũng như chặn đánh nếu có quân sang tiếp viện, ông tự bày trận bắt giặc trên sông Bạch Đằng. Và hạ lệnh, nếu du binh của giặc qua lại trên sông Bạch Đằng hoặc các nhánh sông Giá, sông Chanh vẫn đánh cầm chừng rồi rút quân chứ không đánh lớn, không bộc lộ lực lượng để giặc yên tâm rằng quân ta vẫn quyết tâm đánh trả, dũng cảm đánh trả nhưng không đủ lực lượng ngăn cản đại quân của giặc một khi chúng rút chạy qua vùng cửa sông Bạch Đằng rồi thoát ra cửa An Bang hoặc cửa Đại Bàng.
Hưng Đạo một mặt gấp rút cho quân vào rừng đốn các loại gỗ lim, gỗ táu có thân thẳng và cao, lấy hết chiều dài của cây, đầu trên vạc nhọn rồi đem về để tại mấy nơi mà ông đã quy định. Lại dặn tất cả đều phải kín như bưng. Gỗ chỉ vận chuyển ban đêm và tuyệt nhiên không cho ai lai vãng tới những khoảnh rừng có khai thác gỗ và những bãi đã dồn gỗ về.
Quốc công đã xem xét kỹ càng các nơi sẽ đóng cọc bẫy thuyền giặc, việc còn lại là xem con nước triều lên xuống rồi mới tính được dộ dài cần thiết của cọc. Tính con nước thì không khó. Cái khó là phải biết rõ tại nơi này khi nước lên tức lúc triều cường đỉnh cao nhất của nó đạt bao nhiêu sải và khi nước rặc, mức thấp nhất của nó còn mấy sải. Biết rõ việc này không ai rành hơn những người dân chài sinh sống trong vùng. Và cả những người dân sinh sống quanh mép nước cũng đều rõ cả. Thuở ấy dân ta sống chủ yếu dựa vào nghề nông, dân ven sông biển, dân vùng trũng ngay cả đứa bé bảy tám tuổi đều biết tính ngày con nước.
Hưng Đạo đã cho mời những người sống ven hai bờ sông như sông Chanh, sông Giá, sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng và dân các làng xã như Trúc Động, Lưu Kiếm, Trung Bản, Yên Giang, Tràng Kênh… để hỏi han về con nước triều trong các tháng mùa xuân như giêng, hai, ba trong các năm về trước. Nhân tiện Quốc công cũng hỏi han đến các đội hương binh.
Thân vương Trần Quốc Bảo là người được triều đình sai coi sóc và tổ chức các đội dân binh trong các trang ấp xung quanh vùng Bạch Đằng giang thuộc lộ An Bang, phải liên thủ lại với nhau và cứ gom mười đội lại thành một đô.
Đô tướng của các đô quân này do thân vương Trần Quốc Bảo xin trên cử người về. Hoặc tìm trong địa phương nếu có người am hiểu việc quân và đã từng ở trong quân, đã kinh qua chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc năm Ất Dậu vừa qua thì mời giữ chức này.
Tuy đã giao việc cho Trần Quốc Bảo và căn dặn kỹ lưỡng, nhưng trước khi lâm trận, Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương lại cho triệu Trần Quốc Bảo đến để ngài kiểm xét lại một lần nữa.
Quốc Bảo vừa tới, Hưng Đạo đã hỏi:
- Tình thế gấp lắm rồi, tướng quân nói chính xác cho ta nghe, hiện trong tay tướng quân có bao nhiêu đô dân binh, thực chất có thể phối hợp với quân triều đình được là bao nhiêu.
Cũng không cần mở sổ, Trần Quốc Bảo liền nói:
- Bẩm Quốc công, quanh vùng Bạch Đằng về hai phía tả hữu ngạn có các trang ấp và các hương cả thảy có tám đô dân binh, cộng hơn một vạn tráng đinh. Ngoài ra còn các đội Bạch đầu ông, Sơn đồng đô, Đoàn đội trạo nhi là các lực lượng gồm các tuổi từ thiếu lão đến trung lão và các thiếu niên trong độ tuổi từ mười bốn đến mười sáu dùng vào các việc tiếp tế, hậu cần.
Tám đô dân binh có thể phối hợp chiến đấu với quân triều đình là: Yên Giang, Trung Bản, Phong Cốc, Trúc Động, Phục Lễ, Phả Lễ, Đoan Lễ, Do Lễ. Trúc Động nằm ở ngã ba sông Giá và sông Đá Bạc nơi mà năm Ất Dậu Quốc công đã qua đây và có ban cho dân xã một thanh kiếm, chắc Quốc công còn nhớ. Bẩm, tinh thần đánh giặc của dân chúng trong vùng lên cao chưa từng thấy. Nhất là mấy trận gần đây thủy binh ta đốt thuyền giặc ở vùng giữa Tháp Sơn - Đại Bàng và vùng cửa An Bang thì tinh thần nô nức đánh giặc từ nam phụ lão ấu cứ sôi lên sùng sục đòi phải được góp sức với quân triều đình đuổi giặc.
Nghe Trần Quốc Bảo tâu báo về lực lượng dân binh và tinh thần nao nức đánh giặc của dân chúng trong vùng lên cao, Hưng Đạo tỏ vẻ hài lòng, yên ủi vỗ về tướng quân rồi Quốc công dặn:
- Từ nay cho tới khi đuổi xong giặc, tám đô quân này phải tập trung tuần tra, canh gác đề phòng giặc đổ quân lên bộ cướp lương thực, tàn sát dân chúng. Nếu giặc chưa tới càng phải đề phòng, không được lơ là coi thường giặc. Tướng quân nên nhắc nhở các đô tướng và các dân binh phải sẵn sàng chờ được sai khiến, ngày đuổi giặc ra khỏi bờ cõi sắp đến rồi.
Trần Quốc Bảo cúi đầu nhận mệnh, ông vừa bước ra khỏi quân doanh thì gặp Phạm Ngũ Lão đi vào. Hai người chào hỏi nhau rất thân tình rồi vội vã chia tay.
Thấy Phạm Ngũ Lão trở về, Quốc công vui hẳn lên, nhưng ông chợt nhớ Ngũ Lão đã xin đi trấn ải Chi Lăng, chặn đường về của giặc, nên hỏi:
- Con về có việc gì vậy?
Phạm Ngũ Lão bèn dâng lên một phong thư. Nhận ra nét chữ của Chiêu Minh vương Quang Khải, Hưng Đạo vội mở đọc:
Kính huynh,
Đệ xét thấy tướng Phạm Ngũ Lão cần phải được ở bên cạnh để huynh sai khiến, đệ sẽ điều tướng khác thay Ngũ Lão trấn ải Chi Lăng, chặn đường tháo chạy của giặc. Và nữa số quân đưa lên mạn bắc như thế tạm đủ. Ta có thể giết nhiều quân nó chứ không thể giết hết. Vả lại đuổi thú cùng đường có lúc phải nới tay, phải hé cửa cho nó chạy thì tinh thần hoảng loạn vẫn luôn đeo bám nó.
Đệ đã dẫn cả quân bản bộ và quân thánh dực về vùng Hiệp Sơn[81], Trà Hương, đón cả thượng hoàng cùng quan gia về đó rồi. Tùy tình hình có thể trợ chiến mặt bắc hoặc mặt đông. Tinh thần giết giặc trong dân chúng vùng này đang dâng cao. Các đội hương binh được tổ chức khá chặt chẽ, hiện nay họ đã tập trung thành từng đô như thường binh, hằng ngày sát cánh với quân triều đình bố phòng tại các nơi hiểm yếu nhằm cản giặc từ xa.
Tuy nhiên, nếu tình hình có gì biến đổi, đệ sẵn sàng tuân sự điều động của Quốc công tiết chế.
Mong huynh bảo trọng để chỉ huy việc trừ khử giặc Nguyên được viên mãn.
Chiêu Minh kính bái.
Đọc xong thư, Hưng Đạo mừng lắm, quay nói với Phạm Ngũ Lão:
- Quả là thượng tướng Chiêu Minh vương rất hiểu ta. Thực tình ta cũng muốn con chiến đấu bên ta.
Phạm Ngũ Lão vội quỳ xuống đáp lễ:
- Cảm tạ đại vương có lòng dạy dỗ, con xin tận tâm báo quốc. Xin đại vương dạy cho con phải làm gì ạ.
Hưng Đạo nhìn Phạm Ngũ Lão với vẻ trìu mến, vương mỉm cười đáp:
- Đánh giặc! Việc của con, việc của ta cũng là việc của toàn quân, toàn dân lúc này là tiêu diệt kẻ xâm lược. Vậy Ngũ Lão có kế gì nói thử ta nghe.
- Bẩm, trước khi giặc vào, đại vương đã đi xem xét địa hình vùng này rất kỹ. Nay đại vương lại đích thân bày trận tại vùng này để bắt giặc. Nhưng nếu giặc đốt bỏ hết chiến thuyền cùng kéo nhau chạy bộ thì sao ạ?
Hưng Đạo cười lớn:
- Ta chắc cũng có nhiều tướng nghĩ như con. Ngay cả tướng giặc cũng nhiều kẻ nghĩ như vậy. Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp là những kẻ sợ phải rút quân bằng đường thủy nhất. Vì sao à? Vì năm Ất Dậu hai tên này cũng suýt bị bắt hoặc bị giết, lại mấy trận gần đây hai tướng này bị quân ta chặt cụt đuôi hoặc đánh tạt sườn mà phải bó tay. Bọn chúng bên ngoài vẫn tỏ ra hung hăng coi thường quân Đại Việt, thực ra trong lòng đã ngầm sợ. Thế nhưng chúng vẫn phải cho quân thủy rút theo đường thủy. Vì rằng tập trung chạy theo đường bộ số lượng sẽ quá đông, nếu quân ta truy đuổi thì không có đường chạy. Vả lại đốt bỏ sáu, bảy trăm chiến thuyền cũng tức là hủy hoại một khối phương tiện quá lớn không một tướng nào dám làm như vậy. Do đó giặc vẫn phải đưa quân thủy của chúng về bằng đường thủy thôi con ạ.
- Theo chỗ con biết, hiện nay giặc còn khoảng hơn sáu trăm chiến thuyền với khoảng non chín vạn quân thủy. Như vậy, chúng đã bị giết khoảng trên dưới ba vạn quân thủy với hơn ba trăm chiến thuyền. Hồi chúng sang có hơn bảy trăm chiến thuyền, nhưng chúng vừa cướp của dân ta vừa đóng thêm cũng bù đắp gần đủ số chiến thuyền đã mất, nhưng số quân chết trận thì không thể nào bù đắp được. Vậy một khối lượng thuyền bè và quân lính của chúng đông như thế, liệu ta có đánh xuể không. Đại vương, con muốn biết điều đó.
- Ta còn đồ chừng sẽ có một số quân bộ cũng rút theo đường thủy, nên số quân của nó ít ra cũng từ mười hai đến mười lăm vạn. Một lực lượng đáng kể cho ta đánh bắt. Ta nói để con hay, đây là cơ hội ngàn vàng đấy, ta đã mất bao công sức dụ giặc vào tròng kể từ khi giặc chưa đặt bước chân tới biên thùy nước ta. Nay lương của nó ta đã diệt không chuyển nổi một hạt, khiến Thoát-hoan phải toan tính việc trắng tay tháo chạy. Ta cũng tính kỹ rồi, nếu đánh quân bộ của nó, quân ta dù mưu trí và thiện xảo thì cũng phải đổi một lấy bốn, năm. Nhưng nếu đánh quân thủy, ta muốn đổi một lấy từ mười đến mười lăm kia. Hơn nữa đánh bộ rất khó bắt hoặc diệt tướng nó. Trái lại đánh thủy thì việc diệt hoặc bắt các tướng giặc lại đơn giản hơn nhiều. Và toàn bộ các phương tiện chiến tranh của nó từ thuyền bè, khí giới cùng quân tướng nó cùng một lúc bị tiêu diệt sạch sành sanh. Cơ hội này mà bỏ lỡ để cho giặc chạy thoát cũng tựa như một sự tiếp tay cho giặc để nó sớm trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, khiến giặc cứ cột dân ta vào cái vòng luẩn quẩn của chiến tranh. Và như thế là có tội với dân, với nước - đó là cái tội ngu dốt làm cho dân bại nước suy.
Quốc công ngừng lời giây lâu rồi khuyên Phạm Ngũ Lão:
- Con xuống trại nghỉ để sớm mai cùng ta đi khảo sát nơi bày trận.
Đêm khuya tịch mịch chỉ nghe tiếng sóng biển xa xa vẳng lại như người nói chuyện thầm thì, và từ đâu đó nơi những lùm cây rậm rạp trong rừng già phía sau lán trại, thỉnh thoảng lại có tiếng cú rúc nghe rờn rợn khiến mấy người lính canh phải căng tai, căng mắt soi tìm vào bóng tối nhằm đem lại sự an toàn cho chủ tướng.
Vào ngả lưng được một lát, dường như chưa kịp ấm chỗ, Hưng Đạo vương lại bật dậy, sai thư nhi thắp đèn và bê cho ông chiếc tráp nhỏ ra nơi làm việc.
Quốc công lấy từ trong tráp ra tấm bản đồ vẽ trên nền vải gấp gọn lại chỉ to bằng cuốn sách, ngài trải rộng ra rồi ngồi ngắm. Ngón tay chỉ vào dòng sông Bình Than khởi từ Vạn Kiếp. Ngài nói thầm: - Ô-mã-nhi sẽ dẫn đoàn hải binh xuôi từ đây qua sông Kinh Thầy về tới Trúc Động nơi ngã ba giữa sông Kinh Thầy, sông Giá và sông Đá Bạc. Ngón tay trỏ của Quốc công lần theo nẻo sông Giá đổ vào sông Bạch Đằng và từ đây đổ thẳng ra cửa biển Đại Bàng. Ngắm nhìn dòng sông nhỏ đổ vào sông lớn rồi ra biển, một lúc lâu sau vương lại đưa ngón tay trỏ lần theo dòng sông Đá Bạc chảy sướt qua dãy núi Tràng Kênh đổ vào sông Chanh, sông Kênh, sông Rút rồi đổ thẳng ra biển, đó là các chi lưu của sông Bạch Đằng.
Vương di ngón tay qua dòng sông Bạch Đằng rồi dừng lại nơi có mấy chấm khuyên đỏ. - Đây là Ghềnh Cốc - dãy đá ngầm giăng ngang sông, khi nước rặc thuyền không qua lại được, nếu thuộc luồng lạch lách vào khe này thuyền có thể qua từng chiếc, nhưng nếu có một chiếc bị đắm ở lạch này thì coi như tắc nghẽn.
Vương đưa mắt nhìn bao quát cả mấy con sông và tự hỏi: - Vậy chớ năm Mậu Tuất (938) Ngô tiên chúa (Ngô Quyền) đóng cọc vạc nhọn, đầu bịt sắt ở chỗ nào để phá quân Nam Hán, bắt giết tên thái tử Lưu Hoằng Tháo.
Lưu truyền Ngô tiên chúa đóng cọc ở sông Bạch Đằng, nhưng sông rộng hút tầm mắt mà nước thì sâu thăm thẳm. Khi nước cường chỗ sâu nhất tới hơn ba mươi sải nước, khi nước rặc chỗ nông nhất cũng tới hơn một chục sải. Vậy đóng cọc giăng ngang sông Bạch Đằng để chặn thuyền giặc là điều không thể. Nếu như ngài đóng cọc ở chỗ khác, đó là những chỗ nào mà tịnh không còn dấu tích. Ngẫm nghĩ một lúc Vương lại tự trả lời. - Đúng thôi, tới nay đã ba trăm năm chục năm, mọi sự đã đổi thay biến cải. Vả lại nếu có tìm thấy dấu tích thì có thể chỗ đó xưa kia đắc dụng chứ nay không còn đắc dụng nữa thì sao. Và nếu không suy xét thời có khác chi kẻ khắc dấu vào mạn thuyền để tìm thanh kiếm quý[82].
Đầu óc ngổn ngang, vương tắt đèn ngồi tĩnh tọa trong đêm và suy nghĩ.
Chừng hơn một canh giờ sau, hốt nhiên đầu óc của vương trở nên sáng láng, và vương quyết: Giặc phải đánh theo cách ta lựa chọn. Giặc phải đi vào con đường ta bắt chúng phải đi. Và vương thắp đèn lấy bút khuyên son vào những chỗ vương sẽ bày thế trận cọc để lùa giặc vào đó mà tận diệt chúng. Việc cấp kỳ từ ngày mai là phải cho quân đi đo lường độ sâu nông của từng khu vực, tính con nước triều và phải biết chính xác đỉnh nước khi cường và mức tụt thấp nhất khi nước rặc.
Sớm hôm sau Trần Quốc Bảo đã dẫn tới trại của Quốc công một số người dân địa phương thông thạo về mọi mặt như đường sá, sông nước như anh em nhà Trần Hộ, Trần Độ ở Phả Lễ, Phục Lễ, Lý Hùng ở Đoan Lễ, Vũ Chí Thắng, Hoàng Thảo cùng một số người dân ở Yên Giang, Điền Công, Trung Bản, Phong Cốc… Cùng đi theo Quốc công còn có các tướng Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Trương Hán Siêu… Tất cả đều đi ngựa, đường đi thật là vất vả. Rừng ăn tận tới mép nước. Các bãi ven sông thì sú vẹt cũng mọc thành rừng, ngồi trên mình ngựa cũng chỉ nom thấp thoáng mặt nước sông. Ngựa men theo các mép rừng dò dẫm từng bước, may còn trong tiết xuân chưa có mưa chứ vào mùa mưa thì phải dùng thuyền đi trên sông hoặc phải lội bộ xuyên rừng.
Đoàn người ngựa vừa thoát ra khỏi mép rừng bắt gặp một cánh đồng lúa chừng vài ba chục mẫu, xa xa thấp thoáng mấy nếp nhà ẩn hiện sau những lũy tre lại có cả những thân cau thẳng đứng. Chợt ngoảnh sang phía tay hữu thấy nổi lên một chiếc gò cao ngang với ngọn cây, Quốc công mừng rỡ liền quất ngựa chạy như bay lên tới đỉnh gò. Ngựa vừa dừng thì tóc của Quốc công cũng xõa tung trùm kín lưng, và dải khăn vành dây quấn trên đầu bị cành cây móc rơi từ lúc nào ngài cũng không để ý. Cưỡi trên lưng ngựa nơi đỉnh gò[83] Hưng Đạo nhìn rất rõ mấy chỗ mà khi đêm ông thức dậy khuyên son vào bản đồ. - Kia là sông Chanh, sông Kênh, xa kia là sông Rút, phía kia là dãy núi đá Tràng Kênh cây rừng chen chúc. Và kia nữa là sông Bạch Đằng mênh mông nước, nhìn mãi chẳng thấy bờ.
Cả một vùng thu vào tầm mắt khiến Hưng Đạo rất hài lòng, trong đầu ông hiện rõ nơi nào đặt quân phục, nơi nào đặt trận địa cọc tức là các bãi cọc để dụ thuyền giặc vào. Và khắp một vùng núi non hang động từ đây ra tới Vân Đồn, nơi nào rải quân phục không cho một tên giặc chạy thoát ra biển, ông đều đã bàn bạc kỹ với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư.
Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Trịnh Bằng Phi được thoát chết năm Ất Dậu, nay chúng vừa gây tội ác trời không dung đất không tha, ấy là việc y dám khai đào mồ mả của tổ tiên nhà ta ở đất Thái Đường. Nhất định lần này ta bắt chúng phải đền tội ác, chứ không thể thả lỏng cho nó trốn chạy.
Thấy quan quân về làng, dân trong hương ấp đồ xôi, giết gà rồi cử các cụ bô lão đem ra nơi gò đống dâng biếu. Hưng Đạo vui vẻ cho quân thâu nhận rồi sai lấy lá làm mâm dọn ra để mọi người cùng ngồi ăn, tiện thể ông muốn hỏi chuyện bà con về địa bàn sông nước vùng này.
Nắm lấy bàn tay gầy guộc run rẩy của một cụ già râu tóc bạc phơ, Hưng Đạo hỏi:
- Chẳng hay niên kỷ cụ là bao?
Cụ già vuốt râu cười móm mém nói giọng thều thào:
- Quý ơn quan ông có nhời hỏi thăm, nhờ ơn trời Phật lão đã qua tuần lục thập được hai năm rồi. Chẳng hay quan ông đã hưởng được bao nhiêu tuổi trời cho…
Hưng Đạo mỉm cười đáp:
- Đa tạ lão ông có nhời thăm hỏi, tôi còn kém lão ông ba tuổi ạ.
- Quý hóa! Quý hóa, năm mươi chín tuổi mà sức lực vẫn còn cường tráng được thế này ư? Hiếm lắm! Hiếm lắm đấy. Phúc đức, phúc đức quá. Chắc quan ông là tướng nhà trời. Cầu chúc cho quan ông cứ hễ ra quân là thủ thắng.
Mọi người vừa ăn uống xong thì có người quẩy từ trong làng ra một gánh nước vối. Vừa uống nước Hưng Đạo vừa hỏi dân làng về đời sống có được no đủ, từ ngày giặc vào chúng đã lên bộ cướp bóc gì chưa.
Bà con đều nói:
- Ơn vua, sau cuộc chiến năm Ất Dậu tha liền tô thuế hai năm, dân đang sắp hồi sức thì giặc lại ập đến. Tuy vậy nhà nhà vẫn có bát ăn, chưa phải tắt bữa. Giặc có qua lại đây nhiều lần, nhưng chỉ ngoài mạn sông mạn biển chứ chúng chưa tràn lên bờ.
Cụ già lên tiếng:
- Có mấy lần đánh nhau ở ngoài biển lớn lắm, trong này chỉ thấy ngọn lửa và khói bốc lên thôi. Nghe nói đấy là quân của đức ông Trần Hưng Đạo đốt thuyền giặc giữa biển, quân nó chết nhiều lắm. Vậy chớ quan ông có biết việc này không?
- Có! Thưa cụ tôi có được biết các trận quân ta đánh giặc ngoài biển, nhưng không được nhìn thấy ngọn lửa đốt thuyền giặc như các cụ. Vậy chớ dân ta có chuẩn bị đánh giặc khi nó lên bờ không, - Hưng Đạo hỏi.
- Sao lại không ạ. - Dân làng tranh nhau trả lời. - Các đội hương binh của chúng cháu đã ngày đêm túc trực từ mấy tháng nay rồi. Nếu quân giặc kéo đến, chúng phải để xác lại đây.
Vừa ăn trầu uống nước Hưng Đạo vừa dò hỏi về thủy chế, về độ nông sâu của các con sông quanh vùng, các ngòi lạch, cồn bãi, bà con trả lời rất khớp những gì mà ông đã đi khảo sát cách đây không lâu, nó cũng khớp với con số mà Thân vương Trần Quốc Bảo và đội khảo sát của ông lấy từ những người kỳ cựu trong vùng đi lặn hụp từng khúc sông hoặc buộc đá thả dây đo lại những nơi có độ sâu mà sức người không thể lặn xuống được. Thấy các con số đều khớp, Hưng Đạo thật sự yên tâm.
Việc còn lại với Quốc công lúc này là xem độ chênh của nước vào ngày triều cường mà ông dự định kéo quân giặc vào để còn tính độ dài ngắn của cọc.
Mọi việc xem đã vãn, Hưng Đạo tỏ lòng biết ơn và nói lời chia tay với bà con trong hương ấp.
Một lão bà lấy ra bọc trầu têm sẵn dúi vào tay Hưng Đạo, nói lời mộc mạc:
- Ông cụ cầm lấy bọc trầu này thỉnh thoảng nhai một khẩu cho nó ấm, đi đường xa nhạt miệng lắm.
Quốc công cầm lấy bọc trầu trong lòng xiết bao cảm động.
Chia tay dân làng, thầy trò Quốc công đi về phía bến Rừng.
Khác với các cánh rừng khác có nhiều chủng cây chen chúc kể cả cây gai và cây bụi, khu bến Rừng là rừng lim thuần chủng bạt ngàn, những thân cây thẳng tắp tàn lá giao nhau che kín mặt đất, nhiều cây lim cổ thụ thân to tới ba bốn người ôm không xuể, nhưng cũng nhiều cây lim nhỏ xen kẽ, vòng cây chỉ khoảng ba bốn chét tay. Rừng lim thuần chủng này các loài cây khác khó chen vào được, bởi lá lim tiết ra nhiều chất độc, cây khác không sống nổi. Trái lại trong các rừng hỗn giao vẫn có lim mọc xen kẽ.
Thoáng trông thấy ngôi quán nhỏ lợp tranh nép dưới bóng đại ngàn gần bến đò và nhận thấy có người đi ra đi vào, Hưng Đạo bảo mọi người ở lại. Ông cho Yết Kiêu, Hán Siêu và Nguyễn Khoái đi theo. Tới quán chỉ thấy lão bà ngồi giã trầu trước cái chõng tre cũ úp dăm chiếc bát uống nước men nâu độc sắc, bên cạnh có chiếc giành lót rơm ủ ấm trà lá to như chiếc nồi hông, nắp đậy làm bằng những mảnh vải vụn khâu chắp vá trong nhồi bông gạo, nom cũng có vẻ sạch sẽ. Trên chõng còn có nải chuối úp, vỏ đã thâm, chứng tỏ quán hàng bà lão ít khách lại qua. Bệ ngồi đắp bằng đất trên trải một tấm đan bằng lá móc, mỗi khi có người ngồi phát ra tiếng kêu sột soạt. Vào trong quán ấm hẳn lên vì bức tường phía sau đắp sát gót kèo chắn hướng bắc. Chiếc nùn rơm ngún khói đặt gần chân chõng, và chiếc điếu cày dựng cạnh đó cùng với một ống đóm tre ngâm cho khách hút thuốc.
Thấy có người vào quán, lão bà dừng tay giã trầu vội đon đả mời khách.
Nhìn ngôi quán nằm sát lối xuống đò mà từ mấy tháng nay chắc không có khách sang sông bởi thuyền giặc có thể bất chợt qua lại, mọi người đã sinh nghi, liền hỏi:
- Lão bà bán nước ở đây có đông khách không?
Trương Hán Siêu đặt câu hỏi có ý dò thăm. Chưa vội đáp lời, bà lão đưa mắt nhìn khắp lượt từng người và dừng lại nơi Trần Hưng Đạo khá lâu. Lặng lẽ lật ngửa từng chiếc bát, rồi bà thong thả mở nắp ấm lấy gáo múc đổ đầy cả bốn bát. Nước chè xanh ngăn ngắt, khói bốc trắng mờ mờ. Tự tay bà lão nâng bát nước đưa mời Trần Hưng Đạo:
- Quý hóa được ông cụ tốt tướng ghé quán nghèo, kính ông xơi nước. Và bà quay mời những người còn lại: - Mời các cậu xơi nước.
- Cám ơn lão bà cho uống nước. Hưng Đạo đỡ bát nước từ tay bà cụ, nói lời cảm ơn và ông uống một cách ngon lành.
Bà lão nhìn qua đầu mấy vị khách về phía sông Rừng rồi thản nhiên giã tiếp cối trầu, cối trầu đã nhuyễn, bà vun gọn, thay vì vuôn vào miệng bà hất hàm về phía Trương Hán Siêu nói:
- Vừa nãy cậu hỏi tôi chưa kịp đáp lời, bởi nom cậu có tư chất của một bậc nho giả, sợ nói hàm hồ cậu lại chê lão bà quê mùa, dốt nát. Cậu hỏi tôi bán nước có đông khách không, tôi không hiểu hàm ý cậu định nói gì. Thực tình tôi không phải là kẻ bán nước. Mà cũng không có người mua nước đâu, từ cổ xưa tới nay là như vậy, chỉ có quân cướp nước thôi cậu ạ. Còn như bán nước thật sự, phải là những ai kia quyền thế như Chương Hiến hầu Trần Kiện, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc… đều là các bậc quan cao chức trọng gần với ngôi nước chứ đám tiện dân chúng tôi thì có gì để bán, bán cho ai. Dạ, tôi vốn quê kệch dốt nát sao biết được các việc lớn đó, nhưng ở chỗ hàng quán lại tiện bến đò người qua lại họ nói năng bàn tán với nhau, không muốn nghe nó vẫn cứ lọt vào tai. Lâu dần do khách khai thị nên cũng biết đôi điều phải quấy, và cái gì hợp lòng người thì nó đọng lại ở trong đầu, có xua đuổi nó cũng không chịu đi. Khổ thế đấy!
Vừa nói xong bà lão vuôn cối trầu vào miệng bỏm bẻm nhai, mắt lại dõi nhìn ra phía bờ sông. Nom cái dáng bà ung dung tự tại như thể bà chẳng quan tâm đến sự đời, và ngay cả mấy vị khách ngồi đây bà cũng chỉ coi thoảng như mọi khách qua đường.
Nghe khẩu khí của một bà lão ngồi quán nước ai cũng lấy làm lạ, Quốc công đưa mắt về phía Hán Siêu.
Biết ý, Trương Hán Siêu vội đứng lên chắp tay vái bà lão và nói:
- Tiểu sinh ăn nói hàm hồ thất lễ, xin lão bà đại xá.
Nói xong Trương Hán Siêu, Nguyễn Khoái đi ra phía bến đò Rừng chỉ còn lại Hưng Đạo và Yết Kiêu ngồi lại quán.
Hưng Đạo mở gói trầu do dân Trung Bản đưa tiễn lúc lên ngựa, ông chọn một chục miếng ngon nhất đặt vào đĩa mời lão bà. Và ông cũng nhón một khẩu trong bọc để nhai. Yết Kiêu mang chiếc điếu cày ra ngoài quán rít kêu ré lên như tiếng kèn.
Hưng Đạo vừa nhai trầu vừa hỏi bà lão một cách bâng quơ:
- Phải chăng lão bà ngồi đây dõi theo quân giặc qua lại sông Rừng.
Bà lão nhìn Hưng Đạo thay vì trả lời.
Quốc công ngắm những thân cây sú, vẹt mọc từ bãi leo tới sát bờ, bỗng nhiên ông thấy những ngấn nước khác nhau, ông thầm nghĩ: - Đây chính là điều ta đang tìm kiếm. Bỗng ông đứng phắt dậy và đi hẳn ra mép bãi nhìn ngấn nước trên thân các cây sú vẹt. Ông lội hẳn xuống bãi đo khoảng cách từ mức thấp nhất đến mức cao nhất. Xong ông lại gọi Yết Kiêu ra xem.
Trong khi thầy trò Hưng Đạo quan sát mực nước lên xuống ghi dấu trên thân cây, thì bà lão hàng nước lại quan sát các hành vi của chính thầy trò ông. Và trong đầu óc bà lão nảy ra biết bao câu hỏi về những người này. Rõ ràng là họ đang kiếm tìm một cái gì đó. Hình như họ muốn tìm biết về mức nước triều lên xuống. Đúng rồi, họ đang đo khoảng cách giữa hai ngấn nước. Để làm gì vậy. Nhất định những người này không phải người của giặc rồi. Cứ trông cái dáng ung dung quắc thước của ông cụ đủ biết ông là bậc chính nhân.
Hưng Đạo phóng tầm mắt bao quát cả khu vực bãi sú đến tít tận bờ sông Rừng và ra tới tận biển. Loáng đã thấy ông xăm xăm lội ra khoảng bãi trống.
Thấy vậy lão bà vội bước ra khỏi quán gọi to:
- Cụ già ơi! Chớ lội ra đó, bãi thụt đấy!
Chừng như nghe rõ tiếng gọi, Hưng Đạo và Yết Kiêu đều quay lại tìm nước khỏa chân rồi bước lên bờ. Lúc này Trương Hán Siêu và Nguyễn Khoái từ ngoài bờ sông cũng đi về quán. Đoạn đường từ bờ sông về quán khoảng dăm trăm bước chân, thường khi nước cường đò chở khách cứ theo con lạch vào đậu sát mép sàn quán, khi nước cạn thì khách phải ra tận bờ sông để xuống đò.
Đoạn này sông Rừng phình ra thật lớn, nhìn sang bên kia bờ sông phải đuối tầm mắt. Khi sóng to, mưa lớn và cả khí trời mù sương nhà đò phải gác chèo chứ không dám sang sông. Lỡ một chuyến đò Rừng, là lỡ cả một ngày công việc.
Vì vậy dân gian đã đặt thành ca vè để răn mọi người phải thận trọng khi qua đò Rừng:
Con ơi nhớ lấy lời cha
Mưa nguồn chớp giật chớ qua sông Rừng.
Khách vừa trở lại quán, lão bà đã đon đả:
- Cái quãng ông lão vừa lội, đi quá độ một trăm bước chân nữa có hố bùn sâu lắm, lỡ bước vào đó không có người cứu là không lên được đâu. Sâu lắm. Sâu đến đâu thì không biết, nhưng cánh dân chài họ đã cắm cả một con sào ngập lút mà vẫn chưa tới đáy.
Yết Kiêu vội hỏi:
- Thưa cụ, nguy hiểm thế sao bà con không cắm một vài cái cọc báo cho mọi người biết.
Lão bà cười trơ cả hàm lợi móm đáp:
- Trước vẫn có đấy quý khách ạ. Cả một hàng cọc vây quanh, nhưng người ta mới gỡ bỏ cách đây vài tháng.
- Sao lại gỡ đi, lỡ người không biết đi vào có chết không?
- Dân vùng tôi đây ai mà chẳng biết. Các cụ trong hương ấp sai dân binh ra gỡ cọc đi để làm hố bẫy giặc đấy.
- Vậy đã có tên giặc nào sa hố chưa thưa cụ, - Nguyễn Khoái hỏi.
- Chưa! Chưa có tên nào sa hố, vì thuyền chúng chỉ qua đây để ngược Vạn Kiếp, ngược Thăng Long chứ nó chưa đổ quân lên bờ.
Nghe lão bà nói, ai cũng biết ý chí quật cường chống quân giặc dữ của dân chúng trong vùng này thật kỳ lạ.
Bà lão lại đổ nước ra bát mời mọi người, và cắt chuối đặt cạnh mỗi bát nước một quả. Những quả chuối tiêu đốm trứng cuốc bị gió táp vỏ đã hơi thâm.
Hưng Đạo vừa uống nước vừa ăn chuối thật tự nhiên, lại giục mọi người cùng ăn. Thái độ cởi mở của khách khiến bà lão thêm niềm nở. Bà hỏi:
- Tôi mạo muội nếu không phải xin quý khách bỏ qua. Mặt trời đã đổ xuống đầu núi, quý khách không lên đường chắc sẽ bị tối, trang ấp lại ở xa, vả lại dân cũng di tán, nhà cửa đều theo kế “thanh dã” chẳng có gì ăn được. Chỉ có hương binh ở lại sống chết với giặc thôi. Nhược bằng quý khách có việc phải nán lại, thì quán nghèo tôi xin được thết lưng cơm muối, tôi lòng thành xin quý khách chớ ngại.
Thấy bà lão không chút nghi ngờ lại có lòng mến khách, thầy trò Hưng Đạo đều cảm động. Quốc công nói:
- Chẳng dám giấu lão bà, quả chúng tôi cũng muốn nán lại xem con nước triều lên. Hình như nó đang lên thì phải. Tôi muốn hỏi lão bà sống tại vùng này đã bao lâu và lão có thuộc con nước triều tại khu vực này lắm không.
Bà lão lại cười phô hàm lợi móm và với vẻ mở lòng, bà nói:
- Nếu ông cụ và các cậu hỏi han để lập mưu đánh giặc thì già này không giấu giếm điều gì mà mình biết, nhưng nếu quý khách có lòng kia khác thì dù có hành hạ đến chết cũng không lấy được nửa lời từ mụ già này đâu.
Hưng Đạo cười rung cả mấy chòm râu, mắt ông sáng lên và đặt hết lòng tin vào bà lão, ông nói:
- Nói thật với lão bà, thầy trò tôi đang lập mưu bắt giặc, bởi đây là nẻo đường chính mà quân thủy của giặc hay qua lại. Tôi chỉ muốn lão bà cho biết điều tôi vừa hỏi.
- Phải, tôi cũng biết các ông là người của mình, chứ nếu là giặc hoặc người của giặc chẳng bao giờ nó có một nhời tử tế đâu. Ông cụ hỏi, tôi cũng nói thật, tôi sinh ra ở vùng này, cả tuổi trẻ đến tuổi già tôi đều sống quanh quẩn ở đây. Tính con nước thì có khó gì đâu. Dân vùng tôi đây chỉ có làm ruộng và đánh bắt cua cá, hết thảy đều phải dựa vào con nước triều mà tính toán làm ăn. Cho nên trẻ con sáu, bảy tuổi đã biết tính con nước rồi. Còn như nhìn mặt nước đầy vơi, nhìn vành trăng tròn trăng khuyết để biết lúc nào thì xuống bãi đào sái sùng, lúc nào thì đi bắt cua, lúc nào thì giong thuyền đi câu dân tôi không ai không biết. Nhưng ông cụ cho già này hỏi thật, liệu mấy người mình có làm gì nổi nó không, kẻo lại chọc giận nó khùng lên thì nó giết hết dân mình đấy.
- Bà lão sợ giặc lắm sao? - Hưng Đạo mỉm cười hỏi.
- Ông cụ ơi, tôi bằng này tuổi rồi không ham sống đâu. Vì rằng tôi lo là lo cho mọi người thôi, bởi tôi thấy thuyền quân nó qua đây đông như lá tre, tôi ngồi đếm từ nửa chiều đến tối mịt mà vẫn cứ thấy nó ùn ùn lao đi như gió lốc. “Đông như quân Nguyên”, đúng như mọi người nói. Đấy, tôi chỉ muốn hỏi ông cụ: - Liệu mình có đánh được nó không?
Nguyễn Khoái nhìn bà cụ vừa có vẻ kính trọng vừa có vẻ thương hại, viên tướng trẻ dẫn giải:
- Cụ chẳng thấy mấy năm trước giặc vào nước ta có kém gì năm nay đâu, thế mà mới từ tháng chạp năm trước, tháng sáu năm sau ta đã quét sạch không còn một mống nào trên đất ta nữa. Chắc cụ nhớ cuộc chiến năm Ất Dậu chứ.
- Nhớ! Tôi nhớ cậu ạ. Nhưng năm ấy nghe đâu có đức ông Trần Hưng Đạo mưu lược lắm, rắn tay lắm mới đuổi được giặc chứ. Sao tôi không biết, nhà vua với đức ông Hưng Đạo qua vùng Trúc Động ở bên kia sông, lúc đi còn ban cho hương ấp thanh kiếm để đánh giặc. Không biết năm nay đức ông có còn đủ sức hay người đã già rồi mà tới nay vẫn chưa đuổi được giặc ra khỏi nước.
Nghe lão bà nói, mọi người có vẻ sửng sốt. Hưng Đạo nhẹ nhàng nói:
- Lão bà ơi, đánh giặc là công sức của cả nước chứ, sao lão bà lại quy cho một người?
- Ông cụ ơi, ông cụ nói không sai, nhưng nhà cháu cứ nghĩ đức ông Hưng Đạo là tướng của nhà giời phái xuống giúp nước mình mới đuổi được loài quỷ dữ ấy, chứ nhà cháu thấy nó hung hăng ác độc hơn cả loài hổ đói, mà quân nó đông lúc nhúc như lũ dòi bọ kia, người thường sao thắng được nó.
Mải nói chuyện, nước đã lên ngập con lạch. Xem sức nước lên nhanh đến bất ngờ, Hưng Đạo liền hỏi:
- Lão bà có biết vào tháng hai tháng ba này ngày nào triều cường cao nhất không.
- Ông cụ ơi hôm nay là mười tư tháng hai, chính là ngày triều cường đấy. Nước bắt đầu lên từ giờ mùi qua giờ hợi là tới đỉnh triều, sang giờ tí là nước bắt đầu xuống. Đỉnh triều cao tới hơn hai sải, xuống thấp nhất chỉ còn độ ba gang tay thôi. Đấy, ông cụ cứ nom cái ngấn nước cao nhất và thấp nhất là mức nước thường ngày đấy.
- Thế còn tháng ba thì sao, lão bà có nhớ tháng ba thì ngày nào nước triều lên cao nhất không ạ, và cả khi nó xuống thấp nhất có chênh nhau nhiều không.
Hưng Đạo khéo gợi chuyện, bà lão hàng nước cứ kể vanh vách:
- Ông cụ à, tôi nghiệm có một điều rất lạ là nước chở mã rằm tháng bảy thường lên cao nhất trong năm. Nhưng sự cao thấp trong các năm lại không đều nhau. Chỉ riêng con nước triều vào thượng tuần tháng ba, tức vào ngày mồng tám tháng ba hằng năm là năm nào cũng như năm nào và đều ở đỉnh cao nhất trong cả ba tháng xuân.
- Thế hả cụ, - Hưng Đạo hỏi chen vào - Khoảng nào nó lên nhanh nhất và nó xuống mạnh vào lúc nào cụ có nhớ không? Đỉnh triều cường độ mấy sải nước?… Hưng Đạo cứ hỏi dồn dập những điều ông cần biết.
Lão bà vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa lắng nghe điều ông cụ hỏi.
Nhả miếng bã trầu cầm tay, miệng nhổ phì phì mấy miếng vụn cau vụn vỏ bám quanh lợi, bà cụ đưa hai ngón tay lên tém nước quết trầu ở hai khóe miệng rồi thủng thẳng đáp:
- Ông cụ à, khoảng nửa đêm mùng bảy tháng ba là nước lên mạnh, tới gần sáng ngày mùng tám tháng ba đỉnh triều lên tới hơn ba sải tay, lúc ấy nước mới bắt đầu rút. Nhưng nước rút mạnh nhất vào khoảng từ giờ thìn đến giờ ngọ. Khi ấy mực nước thấp nhất chỉ còn non một sải thôi, vậy là độ chênh tới hơn hai sải nước đấy ông cụ ạ. Tới chiều nước lại bắt đầu lên, nhưng qua ngày mồng chín thì đỉnh triều thấp hơn ngày mồng tám đến cả sải tay.
Nghe bà lão nói những con số về độ sâu nông của các con sông trong vùng, và mức nước triều lên xuống Hưng Đạo thấy yên tâm về các kết quả do chính ông và đoàn tùy tùng mới khảo sát năm ngoái, nó cũng khớp với những gì mà bà con dân chài trong vùng cho biết. Nhưng điều làm cho vị Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự này kinh ngạc nhất là bà lão hàng nước lại cho biết chính xác con nước vào thượng tuần tháng ba đang nằm trong hoạch định bắt giặc của ông mà ông đang vất vả dò tìm. Đúng là ông chưa thiết lập được bộ phận theo dõi thủy chế ổn định ở khu vực này để khi cần có thể sử dụng. May thay lão bà lại lưu ý tới mức thuộc nằm lòng, về sự ổn định hằng năm của con nước và cả mực nước triều vào thượng tuần tháng ba hằng năm. Liệu có phải bà là sứ giả của vua Thủy tề cử lên giúp Đại Việt ta đánh giặc, cố gắng lắm Hưng Đạo mới không bộc lộ niềm sung sướng, vì ngài mới tìm ra được yếu quyết từ nơi bà lão hàng nước. Ông bình tĩnh đưa câu chuyện sang các việc làm ăn bình thường và thầy trò lại chuẩn bị lên đường.
Không lưu giữ được khách ăn bữa cơm muối, lão bà chỉ mời với theo khách một câu:
- Ông cụ và các cậu có gặp ông tướng nhà trời đã đuổi giặc năm Ất Dậu, cho bà lão hàng nước nơi bến Rừng này kính chúc ngài năm nay lại vùi chôn quân giặc, giữ yên cho nước. Hết giặc, ông cụ và các cậu trở lại đây, nhất định tôi sẽ đãi bữa cơm cá khoai ngon lành!
Đêm về Hưng Đạo sai các tướng ngày mai phải cho quân đi cưa và đẽo cọc. Độ dài thân cọc của từng bãi ông đều ghi rõ kích thước. Cả việc cắm sâu bao nhiêu cho chắc, theo độ thưa mau, hàng ngang hàng dọc như thế nào ông đều vẽ ra chi tiết. Ngay cả mũi cọc đẽo nhọn thế nào, hướng về phía nào, độ nghiêng thân cọc là bao nhiêu đều được hướng dẫn. Và hạn công việc phải hoàn tất trong vòng mười ngày. Cái thuận lợi là ông đã cho khai thác gỗ và đưa về giấu trong bãi từ mấy chục ngày nay rồi. Ông cũng ra lệnh phải ngăn các nẻo đường và cấm các phương tiện qua lại khu vực mấy con sông có sử dụng làm nơi lập trận. Ông cũng cho quân ngăn giặc từ xa không cho chúng tảo thanh ít nhất ba chục dặm quanh vùng ông đang thiết lập trận địa.
Vậy là toàn quân và toàn dân từ biên ải phía bắc tới tận Vân Đồn, đang yên ắng chờ diệt quân giặc tháo chạy.

8/10/2020
Hoàng Quốc Hải
Theo https://isach.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phê bình như là tự truyện

Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại...