Tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam
sau 1975: Diện mạo và khuynh hướng
Với không khí đổi mới và tinh thần dân chủ của xã hội, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại đang có sự vận động không ngừng vừa theo kịp với thế giới đồng thời khẳng định được bản sắc riêng của mình. Đây chính là những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội để các nhà văn tự do thể hiện cá tính sáng tạo cũng như khẳng định phong cách, thử nghiệm những bút pháp mới lạ trong việc khám phá, luận giải lịch sử, văn hóa và thân phận con người.
1. Bối cảnh lịch sử, văn
hóa thẩm mĩ và trường tri thức thời đại
Đại thắng mùa Xuân lịch sử
1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, mở ra một thời
kì mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời cũng đưa đến một chặng đường mới của nền
văn học Việt Nam. Cả dân tộc nô nức trong niềm vui thắng lợi, song cũng lập tức
phải đối mặt với muôn vàn thử thách của cuộc sống thời hậu chiến. Nhưng cũng
chính vào lúc này, với nội lực phi thường, cả dân tộc lại thực hiện một cuộc vượt
thoát táo bạo ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng để tạo tiền đề cho sự phát triển đi
lên.
Với phương châm đổi mới để
tồn tại và phát triển, Đại hội Đảng lần VI (1986) đã mở ra bước ngoặt, đem lại
những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực về nhiều mặt. Quyết định “mở cửa” của Đảng
đã có những tác động hết sức lớn lao đến đời sống xã hội, kích thích những cải
cách kinh tế, khơi dậy những suy nghĩ, những tìm tòi, sáng tạo mới trong giới
trí thức, văn nghệ sĩ. Ở một phương diện khác, nền kinh tế thị trường với tất cả
sự phức tạp, gai góc của nó buộc người ta không thể nhìn cuộc sống bằng nhãn
quan sử thi thuần khiết như trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh. Cuộc
sống biến thiên không ngừng với sự xuất hiện những chuẩn mực mới khiến các thước
đo giá trị xưa cũ trở nên lạc thời. Cùng với đó, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật,
sự bùng nổ thông tin truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại đã kéo con
người từ khắp nơi trên thế giới xích gần với nhau. Giao lưu kinh tế và hội nhập
văn hóa trên thế giới tạo điều kiện cho mỗi cá nhân làm phong phú hơn bản sắc của
mình. Đấy chính là cơ hội để người cầm bút có điều kiện mở rộng tầm nhìn, khả
năng tư duy, tiếp thu tinh hoa văn hóa, văn học và lí luận nước ngoài để làm
giàu trí tuệ và khai phóng sức sáng tạo của mình. Dần dà quan niệm về hiện thực
và con người được nới rộng, mở đường cho sự đổi mới tư duy tự sự cùng những tìm
tòi cách viết phù hợp với tâm thế, thị hiếu thẩm mĩ trong không gian văn hóa mới.
Sự chuyển biến trong đời sống xã hội, môi trường văn hóa thẩm mĩ cùng những
thay đổi trong định hướng văn học từ chính trị chuyển sang văn hóa, đã ảnh hưởng
không nhỏ đến sự chuyển dịch và vận hành của diễn ngôn tiểu thuyết nói chung và
tiểu thuyết lịch sử nói riêng.
Tinh thần đổi mới đã truyền
được cảm hứng, tạo dựng không gian văn hóa mới cho những khát khao của người
nghệ sĩ thăng hoa thành sinh thể nghệ thuật có sức sống mạnh mẽ. Từ sự chuyển đổi
trong hệ hình ý thức nhà văn gắn với nhiều đổi mới quan niệm về mối quan hệ văn
học – hiện thực, nhà văn – công chúng, nhà văn – chính mình đã làm nên những bước
chuyển mình cho văn học dân tộc 1.
Trong tình hình chung của
sự “phục hưng” thể loại, tiểu thuyết lịch sử sau Đổi mới cũng đang làm cuộc
chuyển mình với những tìm tòi, đổi mới trong quan niệm thẩm mĩ về lịch sử và tiểu
thuyết lịch sử, về cảm thức và tư duy tự sự lịch sử gắn với tinh thần hiện đại
và giá trị nhân văn sâu sắc. Nhiều tác phẩm đã không chỉ mang lại thành công
cho nhà văn mà còn tạo ra những luồng dư luận sôi nổi trên văn đàn, đặc biệt thể
loại vốn kén người đọc này đã hút về mình một lượng độc giả không ngừng tăng
lên theo thời gian. Tiểu thuyết lịch sử bây giờ nghiêng theo mạch cảm thức phân
tích, giả định gắn với chiêm nghiệm, luận giải lịch sử từ góc độ cá nhân. Nhiều
tác phẩm tiêu biểu nằm trong dòng chảy này không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề
theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời tư thế sự,
đời sống văn hoá, tâm linh, mà quan niệm của các nhà văn trên một số vấn đề về
thể loại cũng mang màu sắc thẩm mĩ mới. Nhiều tác phẩm trở thành món ăn tinh thần
độc đáo, thu hút sự quan tâm, bàn luận của độc giả. Tiểu thuyết lịch sử đã trở
thành thể tài để lại nhiều dấu ấn và thành tựu quan trọng trong đời sống văn học
đương đại. Nó nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng bằng những tác phẩm đặc sắc,
khuấy động dư luận bằng những cuộc tọa đàm, hội thảo quy mô. Có thể nói rằng,
tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi trên văn đàn Việt Nam sau Đổi mới.
Một yếu tố nữa cũng rất
quan trọng góp phần tạo nên trường tri thức thời đại chi phối sự hình thành diễn
ngôn tiểu thuyết lịch sử sau Đổi mới, đó là sự thức tỉnh của cái tôi nhà văn,
khát vọng vượt thoát cái cũ, truy tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật về đề
tài lịch sử. Khi mà những chuẩn mực, chân lí chỉ là tương đối; lúc mọi giá trị
đời sống biến thiên một cách mạnh mẽ, bản thân người cầm bút cũng phải không ngừng
đổi mới chính mình trong tư duy và lối viết. Từ góc nhìn của chủ thể sáng tạo,
giờ đây văn học không chỉ là tiếng nói chung của dân tộc và thời đại, cộng đồng
mà trước hết là phát ngôn của mỗi cá nhân nghệ sĩ, là phương tiện tự biểu hiện
bao gồm cả việc phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính kiến của nhà văn về các vấn
đề hôm qua và hôm nay. Nhà văn có quyền bày tỏ công khai sự thức nhận của cá
nhân trước những chân lí tưởng như bất di bất dịch, nghi ngờ những tín điều, giải
thiêng các thần tượng, đề xuất những chuẩn mực mới… Các sáng tác về đề tài lịch
sử của Nguyễn Huy Thiệp, Sương Nguyệt Minh (ở truyện ngắn), Nguyễn Xuân Khánh,
Võ Thị Hảo, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Quang Thân, Trần
Thu Hằng, Phạm Ngọc Cảnh Nam, Uông Triều, Trần Thanh Cảnh, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn
Thế Quang, Bùi Anh Tấn, Lưu Sơn Minh… (ở tiểu thuyết) đều thể hiện tinh thần nhận
thức lại lịch sử với mong muốn nhận chân các giá trị quá khứ một cách sâu sắc
và toàn vẹn, nối kết với thực tại hôm nay để khai phóng về phía tương lai.
Cái nhìn về lịch sử của
nhà văn giai đoạn này mang màu sắc và kinh nghiệm cá nhân rõ nét. Các tiểu thuyết
gia thiên về luận giải lịch sử hơn là mô tả, minh họa lịch sử. Sự diễn giải ấy
bao chứa quan niệm mới về lịch sử và diễn ngôn về lịch sử. Không có một thứ
chân lí lịch sử duy nhất, không có một diễn ngôn thống trị, trung tâm, mà chỉ
có lịch sử trong cảm nhận, hình dung chủ quan của cá nhân nhà văn, và sự tồn tại
đa dạng, bình đẳng của các diễn ngôn về lịch sử. Từ đây mở ra chân trời mới cho
những tưởng tượng và diễn giải lịch sử, làm xuất hiện nhiều khuynh hướng, cùng
những lối viết độc đáo, mới lạ. Hiện thực đời sống không chỉ thu gọn trong những
biến cố, sự kiện lịch sử và đời sống cộng đồng qua cái nhìn ngưỡng vọng, chiêm
bái mà rộng hơn, sâu hơn, “đời hơn”. Văn học đã đi đúng vào bản chất, khám phá
lịch sử, văn hóa và con người ở tầng vỉa sâu của những bí ẩn, khuất lấp, ý thức
và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường. Trong khi miêu tả lịch sử,
nhà văn đã mang lại cho lịch sử những “gương mặt người”. Tiểu thuyết chú tâm
vào cái thường nhật, những góc khuất nội tâm, những trạng huống tâm lí phức tạp,
với bao quan hệ chồng chéo ẩn chìm. Cái nhìn đời tư – thế sự – nhân văn đã thực
sự giữ vai trò cốt yếu trong cảm quan nghệ thuật của các nhà văn sáng tạo về đề
tài lịch sử. Lịch sử trong tiểu thuyết lúc này trở thành lịch sử trong cảm nhận
cá nhân, được nhà văn nhìn nhận bằng điểm nhìn văn hóa, triết học lịch sử và thụ
hưởng trên tinh thần nhân văn hiện đại.
Lịch sử là sự diễn giải,
là cách hình dung, là lối tự sự – diễn ngôn về lịch sử của chủ thể (sử gia/ tiểu
thuyết gia, cá nhân/cộng đồng). Khi đó, sự tiếp nhận các quan điểm khác nhau,
những diễn giải trái ngược nhau trở nên bình thường. Con người trở nên bao dung
hơn. Sự bao dung đó có mục đích trước hết là để làm sáng tỏ sự thật, sau đó mới
là giúp cho cuộc sống được đa dạng, an toàn. Từ thực tiễn tiểu thuyết lịch sử
sau 1975, chúng ta thấy có sự chuyển dịch mạnh mẽ của hình thái diễn ngôn so với
giai đoạn trước đó: từ diễn ngôn mang tính khẳng định, chiêm bái, ngưỡng vọng
sang diễn ngôn mang tính giả định, phân tích, luận giải, giải thiêng; từ diễn
ngôn dân tộc, đạo lí, giai cấp sang diễn ngôn đời tư, thế sự, nhân văn; từ diễn
ngôn lịch sử – đấu tranh sang diễn ngôn lịch sử – văn hóa phong tục. Chủ thể diễn
ngôn cũng có sự thay đổi từ vị thế con người, chủ nhân của lịch sử đến con người,
nạn nhân nhỏ bé mang bi kịch và hệ lụy lịch sử; từ vị thế con người bị giới hạn
bởi kinh nghiệm cộng đồng đến con người thụ hưởng, đối thoại, đánh giá lại lịch
sử bằng điểm nhìn và suy tư cá nhân.
2. Đổi mới quan niệm về lịch
sử và tiểu thuyết lịch sử
Những thay đổi quan niệm
về lịch sử, về diễn ngôn của/trong lịch sử mang một ý nghĩa quan trọng không chỉ
với hành trình sáng tạo của nhà văn mà còn chi phối tâm thế thưởng thức của độc
giả. Lịch sử được cấu trúc như một diễn ngôn, tiểu thuyết gia cần hơn bao giờ hết
trí tưởng tượng và những thao tác “có tính nghệ thuật” trong khi phục hiện lịch
sử. Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân
duy sử cùng tinh thần hoài nghi hậu hiện đại, người ta tin rằng lịch sử đầy rẫy
sự ngụy tạo, đáng ngờ vì được viết theo quan điểm cá nhân của người làm sử.
Hayden White, một trong những nhà lí luận của chủ nghĩa tân duy sử, khi bàn về
“siêu lịch sử” (metahistory) đã thể hiện cảm quan hậu hiện đại khá rõ nét. Luận
điểm nền tảng để từ đó ông triển khai toàn bộ tư tưởng của mình là: Lịch sử như
là tự sự (history as narrative), một trò chơi – ngôn ngữ (language – game).
Quan điểm đó thể hiện tinh thần hoài nghi với cái gọi là “sự thật lịch sử”; lịch
sử với ông chỉ là “sự tưởng tượng về lịch sử” được diễn ngôn hóa 2.
Trước đó, Karl Popper (1902-1994), một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất
thế kỉ XX đã nhận ra “sự nghèo nàn của thuyết sử luận” bởi “họ [các nhà sử luận]
không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải (lịch sử)
về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy có thể
nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng – một điều ít nhiều có ý nghĩa)”3 .
Ông cho rằng “ta có thể diễn giải “lịch sử” như lịch sử đấu tranh giai cấp, hoặc
như lịch sử đấu tranh chủng tộc để giành quyền là chủng tộc thượng đẳng, hoặc
như lịch sử tư tưởng tôn giáo hoặc lịch sử đấu tranh xã hội “mở” và xã hội
“khép kín”, hoặc như lịch sử của tiến bộ khoa học và công nghệ”. Trong khi bàn
về vấn đề tiến trình diễn ngôn qua các thời đại cụ thể trong lịch sử, Michel
Foucault cũng có những quan niệm đáng chú ý về lịch sử. Ông cùng quan điểm với
Popper khi không coi lịch sử như là một tiến trình đơn giản hướng tới văn minh
hoặc như một chuỗi các cuộc đấu tranh giai cấp để đạt được công bằng, như các
nhà marxist quan niệm. Khi đề cập đến sự diễn giải lịch sử, không chỉ thừa nhận
lịch sử như là một diễn ngôn như White mà ông còn bổ sung thêm luận điểm rất độc
đáo, “lịch sử là một sự đứt đoạn”, do vậy mà không có một trần thuật liền mạch
mà chúng ta giải mã trong dòng chảy lịch sử. Foucault nhấn mạnh đường đi của lịch
sử là quanh co, chao đảo, không tuân theo bất kì sự liên tục nào, khiến con người
không thể nắm bắt được, và cũng không thể nào kiểm soát được4 .
Trong quan điểm của Foucault, một khi lịch sử là những bước đi không liên tục,
cấu trúc diễn ngôn cũng có sự thay đổi qua các thời đại khác nhau. Đối với ông,
các diễn ngôn thường xuyên biến đổi chứ không phải là cái gì bất biến, vĩnh cửu;
nó không phải là một tập hợp các phát ngôn ổn định qua các thời đại; và quan trọng
là người ta có thể truy tìm nguồn gốc của chúng để thấy được những bước thay đổi
cụ thể của chúng trong lịch sử.
Sự phát triển của tiểu
thuyết lịch sử ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã đặt ra nhiều vấn đề lí luận
quan trọng: sự khác nhau trong nhiệm vụ của nhà viết sử và nhà viết tiểu thuyết
lịch sử, mối quan hệ giữa sự khách quan, chân xác của lịch sử và vai trò của hư
cấu, tưởng tượng nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử và nhiệm vụ soi sáng đời sống
thực tại, sự đồng cảm của nhà văn với các nhân vật lịch sử và thời đại lịch sử,
các kiểu tiểu thuyết lịch sử trong kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn, đặc
trưng của tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Cùng với đó, sự trỗi dậy của ý thức cá
nhân, sự tiệm cận với những tri thức về lịch sử và thể loại văn học lịch sử
trên thế giới đã không ngừng thôi thúc mỗi nhà văn tự đổi mới chính mình, từ
quan niệm về thể loại, về sứ mệnh, vai trò của người nghệ sĩ, về nghệ thuật viết
tiểu thuyết. Đó chính là những tiền đề quan trọng để các tác giả khai phóng
trong ý tưởng, phiêu lưu trong bút pháp, tạo nên bức tranh đa chiều, sinh động
của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.
Một là, đổi mới quan niệm
về tiểu thuyết lịch sử
Theo quan niệm truyền thống,
tiểu thuyết lịch sử cần đảm bảo tính chân thực và khách quan của lịch sử. Với sứ
mệnh khơi dậy niềm tự tôn dân tộc, đánh thức tinh thần yêu nước, gửi vào lịch sử
sức mạnh tuyên truyền, giáo dục, các tiểu thuyết gia những giai đoạn trước đã lựa
chọn điểm nhìn từ giác độ kinh nghiệm cộng đồng và quan điểm chính thống. Tuy vậy,
quan niệm này đã bộc lộ không ít những giới hạn lịch sử của nó: Sự phân tích,
luận giải lịch sử còn khá ít ỏi, tác phẩm đậm chất truyện kể mà nhạt chất tiểu
thuyết; diễn ngôn tự sự khá đơn điệu, tính cách nhân vật còn nguyên phiến, một
chiều…
Các tiểu thuyết gia đương
đại nhận thấy tiểu thuyết lịch sử theo mô hình truyền thống này rất khó có đất
tồn tại bởi nếu lấy tiêu chí về độ chân thực và chính xác lịch sử làm nền thì
có thể nói nó thua xa những thể loại phóng sự, kí sự lịch sử. Hơn nữa, nếu cần
cung cấp kiến thức lịch sử, người ta có thể tìm đến với sách sử, hoặc nhanh
hơn, chỉ cần một cái nhấp chuột, người đọc được cung cấp những hiểu biết về các
triều đại, các nhân vật lịch sử ở bất kì một đất nước nào trên thế giới.
Bên cạnh đó, những quan
niệm mới về lịch sử của các sử gia, triết gia đã tạo nên những tiền đề không nhỏ
cho việc hình thành nên quan niệm mới về thể loại. Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu
cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử cùng tinh thần hoài nghi hậu
hiện đại, người ta tin rằng lịch sử đầy rẫy sự ngụy tạo, đáng ngờ vì được viết
theo quan điểm cá nhân của người làm sử. Theo đó, sách sử thực chất mang hình
hài của một “tự sự về lịch sử”. Karl Popper (1902-1994), một trong những triết
gia có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX đã nhận ra “sự nghèo nàn của thuyết sử luận” bởi
“họ (các nhà sử luận) không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những
cách diễn giải (lịch sử) về cơ bản tương đương nhau”5 . Sau khi
bức tường Berlin sụp đổ, Fredric Fukuyama tuyên bố “lịch sử đã cáo chung”,
nhưng với lí thuyết hậu thực dân, nữ quyền luận, chủ nghĩa tân lịch sử… lịch sử
không chết mà đang được tái cấu tạo và phục sinh với hình hài mới do sự cộng hưởng
nhiều sự tương tác, nhiều cách nhìn, nhiều đối thoại. Những quan niệm đó đã góp
phần nảy sinh một cách nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử. Theo đó, quan niệm về
thể loại được mở rộng, tiểu thuyết lịch sử lấn sân sang nhiều địa hạt, nhiều
lĩnh vực khác, nghĩa là nó có khả năng dung nạp cả tiểu thuyết sử thi, tiểu
thuyết văn hóa phong tục, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết lãng mạn, bao hàm
cả dã sử, huyền sử, thậm chí phản lịch sử… Người ta đã bắt đầu hình dung khuôn
mặt tiểu thuyết lịch sử trong tương lai, đó là loại tiểu thuyết “trở về với văn
hóa dân gian, hệ thống nhiều điểm nhìn của người dân thường, diễn ngôn trần thuật
của con người đời thường, loại bỏ diễn ngôn của nhà viết sử, diễn ngôn chính trị.
Tiểu thuyết lịch sử ngày nay thay đổi khuynh hướng tự sự vĩ mô chủ yếu gồm vĩ
nhân và quốc gia đại sự bằng tự sự mảnh ghép, gia tộc, cá nhân, từ lịch đại
chuyển sang đồng đại…”6 . Sự đổi mới đó không những không hạn
chế tự do sáng tạo của nhà văn mà còn giúp tiểu thuyết lịch sử hồi sinh dưới những
dạng thức mới.
Hai là, đổi mới quan niệm
về vai trò, sứ mệnh của nhà văn
Công cuộc đổi mới đất nước
sau khi hòa bình đã mở ra cơ hội để văn học Việt Nam cọ xát với những kinh nghiệm
mới mẻ đến từ nhiều “kênh” văn hóa khác nhau trên thế giới. Dân chủ hóa trở
thành quy luật cơ bản chi phối khát vọng sáng tạo của các nghệ sĩ và việc công
bố tư tưởng không chỉ là nhu cầu riêng của cá nhân mà còn là tiêu chí của nghệ
thuật. Hơn thế nữa, chính phẩm chất ấy đã đặt ra nhiều nhiệm vụ, sứ mệnh mới
cho các tiểu thuyết gia khi họ được giao trọng trách vô cùng thiêng liêng là phục
dựng và làm sống lại quá khứ dân tộc, nối kết với hiện tại và tương lai, tìm ra
những bài học ý nghĩa cho cuộc sống hôm nay.
Trong xu hướng dân chủ
hóa, nhà văn hôm nay vẫn làm nhiệm vụ công dân nhưng ý thức rõ hơn tính chất đặc
thù của nghề nghiệp: họ là một công dân – nghệ sĩ, một chiến sĩ – nghệ sĩ. Khi
giá trị của mỗi cá nhân được quan tâm, cá tính sáng tạo được khai phóng, nếu
nhà văn không xác lập được giá trị riêng của mình thì anh ta có gì khác với cá
nhân khác. Hơn thế, văn học còn là phương tiện cần thiết để nhà văn tự biểu hiện,
bao gồm cả việc phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính kiến của mình về xã hội và
con người.
Nam Dao, tác giả hải ngoại
được dư luận trong và ngoài nước chú ý với hai tiểu thuyết lịch sử khá độc
đáo Gió lửa và Đất trời đã nhận thức rất rõ
vai trò của mình và đồng nghiệp khi tiếp cận đề tài lịch sử: “Với một nhà văn,
lịch sử không là những xác chết và những sự cố biên niên ù lì. Trong tiểu thuyết
lịch sử, quá khứ là lịch sử nhìn bởi nhà văn, nhà văn như chủ thể. Đó là quá khứ
tái chiếm hữu và tái tạo từ vị thế hiện tại của chủ thể, với ý thức về giới hạn
sự truy lùng chân lí “khách quan”7 . Với ông, người viết tiểu
thuyết lịch sử không phải là người “kẻ lông mày cho xác chết”, mà là một công
việc khó khăn đòi hỏi sự dấn thân của nhà văn nhằm: “phục sinh một hiện tại cần
tháo gỡ hầu thoát khỏi những bế tắc và tiêu vong… Và tiểu thuyết lịch sử, nói
cho cùng, phải là máu cũng như nước mắt người viết”8.
Viết trong tinh thần dân
chủ, bối cảnh hậu hiện đại, các tiểu thuyết gia đã thể hiện khát vọng khám phá,
giải mã và đối thoại với lịch sử bằng chính quan điểm cá nhân của mình. Không
còn minh họa cho chính trị, không bị hối thúc bởi hoàn cảnh chiến tranh, các tiểu
thuyết gia trở thành “nhà thám hiểm cuộc sống” (Milan Kundera). Sứ mệnh thiêng
liêng của họ là khơi mở những khuất lấp, nhìn vào “bề sâu, bề sau, bề xa” của
quá khứ để nối kết thực tại, gửi gắm niềm tin và sức mạnh “vượt thoát” vào
tương lai. Để thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy, nhà văn buộc phải tìm kiếm hình thức
mới cho thể loại và không ngừng cách tân nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết.
Ba là, đổi mới trong nghệ
thuật viết tiểu thuyết lịch sử
Cùng với sự đổi mới trong
quan niệm về thể loại, trong vai trò, sứ mệnh của nhà văn, bằng thực tiễn sáng
tạo, các tiểu thuyết gia luôn tìm tòi, thể nghiệm nhiều phương thức xây dựng tiểu
thuyết mới mẻ. Cùng với đó, sự mở rộng giao lưu văn hoá đa chiều đem tới nhiều
kinh nghiệm nghệ thuật mới lạ trong bút pháp của mỗi nhà văn.
Đối với các tiểu thuyết
gia giai đoạn trước, dường như câu hỏi “viết về cái gì” quan trọng hơn là “viết
như thế nào”. Thay vì tìm tòi những hình thức kết cấu mới cho tiểu thuyết, họ
quan tâm nhiều đến yếu tố chất liệu cũng như độ hoành tráng của bức tranh lịch
sử. Xem phương thức nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết quan trọng như chính chất
liệu lịch sử, các tiểu thuyết gia đương đại đã chủ động làm mới, làm khác bằng
việc kiếm tìm những lối kết cấu hiện đại, hậu hiện đại. Các nhà văn đã mạnh dạn
đột phá, thay đổi tư duy tự sự lịch sử qua các phương thức trần thuật độc đáo,
từ người kể chuyện, điểm nhìn đến diễn ngôn tự sự. Từ đó, họ nhấn mạnh vai trò
của cá tính sáng tạo cũng như quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
Có thể nói rằng, việc
nghiên cứu lịch sử là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với người nghệ sĩ,
nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế sự sáng tạo. Có khi người nghệ sĩ chỉ
cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử; có khi nghệ sĩ đưa vào
tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí, trong một chừng mực
nào đó, có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử, bởi vì tác giả chỉ
cần sự đúng đắn lí tưởng mà thôi.
Nam Dao trong cuộc đối
thoại về nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết với Nguyễn Mộng Giác xoay quanh hai
tác phẩm Gió lửa và Sông Côn mùa lũ đã bật mí
“chiêu thức” cũng như công việc bếp núc của mình: “Trong Gió lửa, cái khung lịch
sử đã được sử dụng như phương tiện cấu tạo tiểu thuyết, và sau đó thì tiểu thuyết
lại là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dự phóng cho
chủ đề trên lịch sử”9 . Đối thoại lại với quan điểm của Nam
Dao, Nguyễn Mộng Giác cho rằng: “căn bản của tiểu thuyết là chuyện thế sự, là
chuyện con người và cuộc đời”. Vì vậy, trong tiểu thuyết của mình, nhà văn quan
tâm đến “đám đông dân chúng vô danh không ghi trong sử sách”, bởi lẽ thông qua
những nhân vật này, ông được “tự do tưởng tượng và dùng họ để diễn giải lịch sử
theo ý mình, và qua họ, cho lịch sử thêm phần da thịt của tiểu thuyết”10 .
3. Các khuynh hướng chủ yếu
Trong xu hướng dân chủ
hóa và tự do sáng tác, lĩnh vực thể loại văn học lịch sử bắt đầu sống lại và trở
thành một trong những đề tài chủ chốt của văn học nước nhà. Văn học đã đi đúng
vào bản chất, khám phá lịch sử, văn hóa và con người ở tầng vỉa sâu của những
bí ẩn, khuất lấp, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường.
Trong khi miêu tả lịch sử, nhà văn đã mang lại cho lịch sử những “gương mặt người”
(Vương Trí Nhàn). Lịch sử trong tiểu thuyết lúc này trở thành lịch sử trong cảm
nhận cá nhân, được nhà văn nhìn nhận bằng cái nhìn triết học và thụ hưởng trên
tinh thần nhân văn hiện đại. Cùng với đó, sự mở rộng giao lưu văn hoá đa chiều
đem tới nhiều kinh nghiệm nghệ thuật mới lạ trong bút pháp của mỗi nhà văn. Nhiều
sự thể nghiệm độc đáo về cấu trúc tiểu thuyết, phương thức trần thuật… đã mang
lại những thành tựu bước đầu cho thể loại tiểu thuyết lịch sử. Với những tác phẩm
tiêu biểu như Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân
Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Gió lửa, Đất trời (Nam
Dao), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Bão táp triều
Trần, Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Minh sư (Thái
Bá Lợi), Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công Khanh), Đàn đáy (Trần
Thu Hằng), Người trăm năm cũ (Hoàng Khởi Phong), Hội
thề (Nguyễn Quang Thân), Sương mù tháng Giêng (Uông
Triều), Thế kỉ bị mất (Phạm Ngọc Cảnh Nam), Đức Thánh
Trần, Trần Thủ Độ, Trần Nguyên Hãn (Trần Thanh Cảnh), Trần
Khánh Dư, Trần Quốc Toản (Lưu Sơn Minh), Từ Dụ Thái hậu, Công
chúa Đồng Xuân (Trần Thuỳ Mai), Gốm, Huyền Trân, Vua Thành
Thái, Vua Duy Tân trong tôi (Nguyễn Hữu Nam), Bí mật hậu cung,
Nguyễn Trãi, Bảo kiếm và giai nhân (Bùi Anh Tấn), Khúc hát những
dòng sông, Nguyễn Du, Thông reo Ngàn Hống, Hồ Xuân Hương (Nguyễn Thế
Quang)… tiểu thuyết lịch sử đã trở lại một cách vô cùng ngoạn mục và chiếm vị
trí “thống lĩnh” trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại.
Sau những thử nghiệm
thành công của Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác, dường
như khung tiểu thuyết lịch sử truyền thống tỏ ra chật hẹp, không còn phù hợp.
Nhiều nhà văn đã mạnh dạn đề xuất những cách nhìn mới về lịch sử, mở rộng cái
nhìn đối với nhiều thời đại trong quá khứ. Sự đổi mới đó không những không hạn
chế tự do sáng tạo của nhà văn mà còn giúp tiểu thuyết lịch sử hồi sinh dưới những
dạng thức mới. Với cái nhìn tổng quan về bức tranh tiểu thuyết lịch sử trong nền
văn học Việt Nam đương đại, và xét theo góc độ mục đích và quan niệm nghệ thuật
của nhà văn, chúng tôi cho rằng có thể nhận diện những khuynh hướng chủ yếu
trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam như sau:
Thứ nhất, khuynh hướng tiểu
thuyết lịch sử chương hồi khách quan
Đây là xu hướng chịu ảnh
hưởng khá đậm nét từ mô hình tự sự truyền thống Trung Quốc, cụ thể là mô hình
tiểu thuyết lịch sử chương hồi của La Quán Trung. Ngay trong Hoàng Lê
nhất thống chí, một tác phẩm khá tiêu biểu về đề tài lịch sử của văn xuôi
trung đại Việt Nam đã mô phỏng văn phong kể chuyện của La Quán Trung. Điều dễ
dàng nhận thấy là mở đầu mỗi hồi đều có hai câu văn theo thể biền ngẫu tóm lược
tinh thần nội dung của hồi đó và để kết thúc hồi, mở ra hồi mới là câu kết – mở
quen thuộc: “Muốn biết sự việc xảy ra thế nào, xem hồi sau sẽ rõ”. Ngoài ra,
các tác giả còn sử dụng những mẫu lời dẫn để chuyển đoạn, chuyển câu chuyện
như: “Lại nói…”, “Một hôm…”, “Nói về…”, “Nguyên vốn là…”. Xu hướng này kéo dài
cho đến tận thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, mặc dù ở mỗi tiểu thuyết gia đã có những
cách tân, biến đổi ít nhiều.
Điển hình cho xu hướng
này trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại là Ngô Văn Phú, một trong những
nhà văn có một số lượng tác phẩm khá đồ sộ về đề tài lịch sử. Trong các sáng
tác của mình, Ngô Văn phú không rập khuôn theo mô hình tiểu thuyết chương hồi cổ
điển. Ông không đặt ra các “hồi” mà gọi là “chương”, thậm chí có những tác phẩm
ông không gọi tên chương mà chỉ đánh số; ông cũng không lặp lại mô hình hai câu
mở đầu biền ngẫu và câu kết mở hồi, nhưng lối kể chuyện của nhà văn vẫn gợi cho
người đọc phong cách của tiểu thuyết chương hồi cổ điển. Không sử dụng các câu
văn biền ngẫu, thay vào đó tác giả đưa những câu cách ngôn, châm ngôn, ca dao cổ,
thơ ca… làm lời đề từ ở đầu mỗi chương.
Bên cạnh Ngô Văn phú, Lê
Đình Danh (Tây Sơn bi hùng truyện), Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sĩ (Nam quốc sơn hà),
Vũ Ngọc Đĩnh (Mười hai sứ quân) cũng tuân thủ khá nghiêm ngặt mô hình tiểu thuyết
lịch sử chương hồi cổ điển. Dù có biến tấu đôi chút về hình thức, nhưng trong
các tác phẩm này nhà văn đã lặp lại khá đậm nét phong cách La Quán Trung.
Trong số những cây bút
tiêu biểu cho khuynh hướng này, gần đây phải nhắc đến Phùng Văn Khai. Gần 10
năm, kể từ khi tiểu thuyết lịch sử đầu tay ra mắt độc giả – Phùng Vương (2015),
tác giả đã xuất bản đều đặn sáu tiểu thuyết lịch sử dày dặn: Ngô Vương (2018), Nam
Đế Vạn Xuân (2020), Triệu Vương Phục Quốc (2020),
Lý Đào Lang Vương (2021), Lý Phật Tử Định Quốc (2022), Trưng
Nữ Vương (tập 1-2023). Vẫn là lối viết chương hồi truyền thống, duy
trì mạch cảm hứng đã được xác quyết ngay từ Phùng Vương và Ngô
Vương, tiểu thuyết của Phùng Văn Khai đưa người đọc trở về với quá khứ hào
hùng của dân tộc, nơi ý thức tự tôn, tinh thần tự cường, tự chủ luôn tuôn chảy
trong huyết tủy mỗi thực thể Việt. Không những vậy, qua sự luận giải đa chiều của
mình, Phùng Văn Khai góp phần thông diễn và đối thoại với nhiều vấn đề lịch sử,
văn hóa của tiền nhân, kết nối với tình hình thực tại của đất nước.
Nhìn chung, những tác giả
theo xu hướng này đã cố gắng thực hiện nhiệm vụ tái hiện các sự kiện lịch sử
theo tinh thần khách quan, ít có sự can thiệp trực tiếp từ người viết. Nhà văn
muốn xoáy sâu vào lịch sử, đi tìm những hằng số có tầm phổ quát về dân tộc tính
đã và đang định hình nên tính cách, số phận người Việt từ xa xưa đến hôm nay. Hằng
số đó có thể biến thiên qua mỗi thời đại, mỗi thế hệ, song cái lõi của nó vẫn
mãi trường tồn cùng dân tộc: truyền thống yêu nước thương nòi, tinh thần cố kết
cộng đồng, ý thức tự chủ, tự cường, khát khao hòa bình, phồn vinh. Thời gian trần
thuật chủ yếu theo dòng tuyến tính, ngôn ngữ mang sắc thái cổ điển, giọng văn
khách quan của kể chuyện ngôi thứ ba và dày đặc ngôn ngữ đối thoại của nhân vật.
Sức hấp dẫn nằm ở các sự kiện, tình tiết và hành động nhân vật chứ không phải ở
yếu tố bình luận của tác giả hay chiều sâu thế giới nội tâm nhân vật. Dù đã có
ý thức cách tân, song những tác phẩm theo xu hướng này có vẻ như ít hấp dẫn với
độc giả hiện đại.
Thứ hai, khuynh hướng tiểu
thuyết lịch sử giáo huấn
Thay vì lối viết thuần
túy khách quan, ít bàn luận như tiểu thuyết chương hồi, một số tác giả đã chủ động
lựa chọn lối kể chuyện giáo huấn mang tính sư phạm rõ nét. Tiêu biểu cho xu hướng
này là nhà văn Hoàng Quốc Hải.
Trong Lời tựa của bộ tiểu
thuyết Bão táp triều Trần (6 tập), Hoàng Quốc Hải đã bộc lộ
tâm nguyện của mình khi chọn lịch sử làm đề tài sáng tác: “Khát vọng của tôi là
mở to đôi mắt nhìn vào quá khứ, thấy được những điều kì diệu, và cả những đau
khổ xưa cha ông ta đã tạo dựng và nếm trải” [tr.7]. Khát vọng này trở thành niềm
trăn trở, day dứt khôn nguôi của nhà văn trước thực trạng phần lớn thanh thiếu
niên hững hờ với “quá khứ dựng nước và giữ nước đầy nhọc nhằn và kiêu dũng” của
dân tộc: “Những sự thật đau lòng ấy cứ dần dần thôi thúc tôi phải viết một cái gì
đấy về lịch sử; để con cháu hiểu được cội nguồn, tổ tiên” [tr.9].
Trong tiểu thuyết của
mình, thông qua các nhân vật, nhà văn dành khá nhiều tiết đoạn để bộc bạch những
lời có tính giáo huấn về nhân tình thế thái, về vai trò lịch sử của các danh
nhân, anh hùng dân tộc. Ông cũng đưa ra những lời giáo huấn về nhân cách, về đạo
làm người, đạo nhân nghĩa, đạo làm vua trị nước an dân. Ví như để dẫn dắt người
đọc ghi nhớ vai trò của đạo Phật đối với sự ra đời của triều Lý và hình thành hồn
cốt văn hóa Việt, trong Thiền sư dựng nước, Hoàng Quốc Hải đã dựng
nên đại cảnh du ngoạn Dâm Đàm, đồng thời gửi gắm trong những lời vua Lý Thái Tổ
dặn Thái tử Phật Mã: “Này con, ta sở dĩ được nước, công lao chủ yếu từ các bậc
đại thiền sư, bản thân ta cũng được sinh ra và được giáo dưỡng nơi cửa Phật.
Cho nên trách nhiệm của con sau này vừa phải giữ nước vừa phải giữ đạo. Giữ sao
cho đạo hòa được với đời, nhưng không được đời quá, không được thế tục quá. Thế
tục quá thì đạo suy. Nhưng cũng đừng siêu việt quá. Siêu việt quá thì đạo nhạt,
vì dân không theo được” [tr.625].
Những đoạn giáo huấn như
vậy xuất hiện khá nhiều trong hai bộ tiểu thuyết viết về triều Trần (Bão táp
triều Trần) và triều Lý (Tám triều vua Lý) làm nên phong cách không thể lẫn với
ai của Hoàng Quốc Hải. Mặc dù còn nhiều điều cần trao đổi như vấn đề xây dựng
nhân vật mang nặng quan điểm “dùng văn để dạy sử”, sự gò bó vào sự thật lịch sử
khiến cho nghệ thuật hư cấu bị hạn chế, từ đó làm cho hiệu quả nghệ thuật, sức
hấp dẫn chưa thỏa mãn được người đọc; song với sức mạnh giáo dục, tinh thần của
lịch sử từ phong cách sử thi truyền thống là một trong những đóng góp tâm huyết
của ông cho đời sống xã hội và cho thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng.
Thứ ba, khuynh hướng tiểu
thuyết lịch sử luận giải, đối thoại
Trong các xu hướng của tiểu
thuyết lịch sử đương đại, đây là xu hướng đạt được nhiều thành tựu và gây được
sự quan tâm, chú ý của dư luận hơn cả. Không chọn lối viết theo phong cách
chương hồi khách quan, cũng không đặt mục tiêu “phổ cập hóa lịch sử bằng văn
chương hóa lịch sử” như Hoàng Quốc Hải, mà các tác giả theo khuynh hướng này đã
lựa chọn lịch sử như là phương tiện, phông nền để khám phá và luận giải những vấn
đề lịch sử, văn hóa và số phận con người.
Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn
Quang Thân, Võ Thị Hảo, Trần Thu Hằng, Nam Dao, Trần Thanh Cảnh, Uông Triều, Trần
Thuỳ Mai, Lưu Sơn Minh, Phạm Ngọc Cảnh Nam, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Thế Quang…
là những nhà văn tiêu biểu cho xu hướng này. Trong quan niệm của mình, Nguyễn
Xuân Khánh tuyên bố tiểu thuyết lịch sử phải đi sâu khai thác các yếu tố luận đề,
tâm lí. Nguyễn Quang Thân nhấn mạnh sự tự do phóng khoáng của trực giác nghệ
sĩ. Nam Dao trong Lời ngỏ tiểu thuyết Gió lửa quan tâm đến tính chất đối thoại
với lịch sử như là cách nhà văn thể hiện quan điểm cá nhân của mình: “Soi rọi
vào những vấn đề nhân quần xã hội và thân phận con người trong quá khứ là một
cách đi tìm sự sống tàng ẩn trong lịch sử. Lịch sử đó là lịch sử sống. Nó tạo
được khả năng nhìn vào tương lai dưới một góc độ nào đó”11 . Với
Trần Thuỳ Mai, tiểu thuyết lịch sử có thể giúp thế hệ hôm nay có cơ hội trở
thành những vị quan tòa trong tòa án lương tâm. Bằng quan niệm và trí suy luận
của thời chúng ta sống, ta có thể đem tới cho người đọc những lý giải mới, đánh
giá mới về những việc đã xảy ra trong quá khứ12 .
Trong Hồ Quý Ly,
người kể chuyện đã lựa chọn và tái hiện giai đoạn cuối Trần đầu Hồ thế kỉ XIV,
XV đầy biến động và phức tạp. Viết về nhà Trần, một trong những triều đại hưng
thịnh nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam, Nguyễn Xuân Khánh không chọn những
thời điểm vàng son, chói lọi, cũng không chọn để tôn vinh những nhân vật anh
hùng, hào kiệt mà ông lại khắc sâu vào thời điểm suy tàn, khủng hoảng nhất của
một triều đại, tập trung quan tâm đến một trong những nhân vật phức tạp nhất
trong lịch sử – Hồ Quý Ly. Nhiệm vụ của nhà văn lúc này là phải nhìn xoáy sâu
vào những cơn sóng khủng hoảng để truy tìm, suy ngẫm và giải mã những vấn đề
trong quá khứ, ráo riết tìm lời giải đáp cho các câu hỏi thiết thực của hiện tại.
Cách nhìn của Nguyễn Xuân Khánh về Hồ Quý Ly và công cuộc canh
tân đất nước có tính phản biện, đối thoại lại cách nhìn của sử sách chính thống
và kinh nghiệm cộng đồng. Trong khi đó, viết về những ngày cuối cùng của khởi
nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Quang Thân trong Hội thề tập trung tái
hiện cuộc đấu tranh của nội bộ tướng lĩnh nghĩa quân trước “kế lạ xưa nay chưa
từng có” của Lê Lợi và Nguyễn Trãi. Tác phẩm không chỉ dừng lại tái hiện các sự
kiện, biến cố trọng đại mang tính chất bước ngoặt của dân tộc mà còn khắc họa tấn
bi kịch của những số phận cá nhân trong cơn lốc xoáy của lịch sử… Rõ ràng, với
Nguyễn Quang Thân, lịch sử như một “công cụ” để nhà văn làm một “giải minh lịch
sử” theo cách riêng của mình.
Các tác giả theo khuynh
hướng này không hài lòng với cái nhìn phiến diện, một chiều khi viết về các vĩ
nhân, anh hùng trong lịch sử. Họ không quan tâm nhiều đến “tư thế lịch sử” của
nhân vật, không miêu tả con người trong khi mặc quân phục diễu hành, mà chú trọng
khai thác yếu tố đời tư cũng như tấn bi kịch cá nhân trong dòng chảy lịch sử. Bằng
cái nhìn đời thường hóa, nhiều nhân vật đã hiện lên như những con người đời thường,
thậm chí là tầm thường với sự đa chiều, phức tạp trong tính cách, tâm lí. Các
tiểu thuyết gia đã kéo thần tượng của cộng đồng trở về với kích cỡ của con người
mang thân phận làm người trước cơn lốc lịch sử. Mỗi cá nhân mang khát vọng “vượt
thoát” trên hành trình kiếm tìm sức mạnh của cộng đồng, cùng những thành tố kết
tinh trong nhân cách Việt.
Sự mở rộng biên độ hư cấu,
sáng tạo cho phép Trần Thanh Cảnh trong tiểu thuyết Đức Thánh Trần tiếp
cận, soi rọi, giải mã những nhân vật tưởng chừng như đã “đóng đinh” trong kinh
nghiệm, hiểu biết của cộng đồng. Từ điểm nhìn đời tư – thế sự – nhân văn, tác
giả đã soi rọi, khám phá nhiều khía cạnh mới mẻ trong cuộc đời Đức Thánh Trần –
thần tượng dân tộc, huyền thoại tôn giáo. Ông thấy được ở con người vĩ đại này
không chỉ mang phẩm chất thần thánh, sứ mệnh thiên định, mà còn có những giây
phút rất đời, rất người. Bên cạnh diễn ngôn chiêm bái, ngưỡng vọng, tác giả đã
kiến tạo diễn ngôn đời tư, thế sự, nhân văn, khiến những diễn giải của ông về
Trần Quốc Tuấn trở nên hấp dẫn, cuốn hút. Ngòi bút của tác giả đã chạm vào những
rung động tế vi tình yêu đầu đời, cháy bỏng đam mê của chàng trai trẻ Trần Quốc
Tuấn trước công chúa Thiên Thành; sẻ chia mọi cảm giác trần tục, đắm say của
người anh hùng dân tộc Đại Việt với người con gái hái dâu Quế Lan; thấu cảm trước
những ngậm ngùi nhớ thương, khắc khoải cô đơn của vị tướng già khi những người
yêu thương đã ra đi. Suy cho cùng, dẫu là các vĩ nhân, anh hùng dân tộc, thì
trước tiên trong hình dung của Trần Thanh Cảnh, họ cũng là con người, mà đã là
con người, tất cả luôn bị tác động bởi muôn vàn mối quan hệ phức tạp, hội tụ những
cảm xúc đa chiều, bị bủa vây bởi những giới hạn thường tình của kiếp nhân sinh.
Đây là một xu hướng khá
phù hợp với “tầm đón nhận” của công chúng thời hiện đại và có thể coi là “viễn
cảnh của tiểu thuyết lịch sử” tương lai. Mặc dù vậy, xu hướng này không giữ vị
trí độc tôn, mà nó bổ sung cho những khuynh hướng khác làm phong phú cho bức
tranh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.
Thứ tư, một vài khuynh hướng
khác
Trong những năm trở lại
đây, nhiều cây bút trẻ bắt đầu thử sức với thể loại này. Họ đã không ngần ngại
đổi mới thể loại, hư cấu lịch sử gần gũi với nhu cầu và thị hiếu độc giả trẻ. Lịch
sử lúc này như là phông nền cho những sáng tạo, hư cấu, đằng sau đó là tâm thế
sẵn sàng đối thoại với lịch sử để kiến tạo giá trị mới. Họ lựa chọn lối viết dã
sử thay vì “nệ sử” để thu hút cộng đồng độc giả trẻ tuổi. Một số tiểu thuyết dã
sử tiêu biểu được đánh giá tích cực như: Cầm Thư quán, Thiên địa phong
trần – Hà Thuỷ Nguyên, Thiên hạ chi vương, Vũ tịch, Hồ Dương –
Trường An, Thượng Dương – Hoàng Yến, Nữ sĩ thời gió bụi –
Lê Phương Liên…
Giữa bối cảnh phát triển
công nghệ, truyền thông, xu hướng toàn cầu hoá, người viết trẻ hiểu những cơ hội
và thách thức đối với thế hệ mình. Họ biết cách tận dụng ưu thế của các phương
tiện truyền thông hiện đại, kêu gọi sự chung tay cho các dự án sáng tác về đề
tài lịch sử. Có thể kể đến dự án Sử văn Các của tác giả Thành
Châu (sinh năm 1991 tại Bến Tre). Dự án được bắt đầu hoạt động từ năm 2019, là
nơi tập trung tiếng nói của những người trẻ yêu thích lịch sử Việt Nam. Với các
dự án gây quỹ cộng đồng trên blog cá nhân Sử Văn Các, Thành Châu đã
xuất bản được một số tác phẩm đáng chú ý như Thánh Dực Dũng Nghĩa truyện, Hỏa Dực
và gần đây nhất là Tây Sơn Phụng thần ký nằm trong bộ trường thiên tiểu thuyết Tây
Sơn ký.
Ngoài các xu hướng trên,
các nhà văn còn chêm xen vào tiểu thuyết lịch sử yếu tố kiếm hiệp huyền ảo (Bức
huyết thư, Bí mật hậu cung – Bùi Anh Tấn…), trinh thám và kinh dị (Đại Nam dị
truyện, Lý triều dị truyện – Phan Cuồng…) như là một trong những cách để làm mới
thể loại, phù hợp nhu cầu và thị hiếu của người trẻ hiện nay.
Sự phân chia trên đây chỉ
mang tính chất tương đối, ở một số tác phẩm vừa có những đặc điểm ở xu hướng
này, vừa có những đặc điểm ở xu hướng khác. Đặt tác phẩm ở xu hướng này hay xu
hướng kia, chúng tôi căn cứ vào mục đích, quan điểm nghệ thuật của nhà văn cũng
như những phẩm chất nổi bật hơn trong sự đối sánh với các phẩm chất khác. Đây
không phải là cách phân chia tối ưu nhất, chính sự không rõ ràng về ranh giới
đó là biểu hiện rõ nét nhất đặc tính đang phát triển, chưa định hình của tiểu
thuyết. Nó góp phần gia tăng sức hấp dẫn của tiểu thuyết cũng như sự phù hợp với
nhiều “tầm đón nhận” khác nhau của độc giả.
4. Kết luận
Với không khí đổi mới và
tinh thần dân chủ của xã hội, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại đang có sự
vận động không ngừng vừa theo kịp với thế giới đồng thời khẳng định được bản sắc
riêng của mình. Đây chính là những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội để các nhà
văn tự do thể hiện cá tính sáng tạo cũng như khẳng định phong cách, thử nghiệm
những bút pháp mới lạ trong việc khám phá, luận giải lịch sử, văn hóa và thân
phận con người. Ngày càng xuất hiện nhiều các phong cách, các xu hướng bên cạnh
những đổi mới trong quan niệm về thể loại, về vai trò của nhà văn và nghệ thuật
xây dựng tiểu thuyết.
Chú thích:
1.
Xem thêm Nguyễn Thị Bình: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995, những đổi mới cơ bản,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.13-64.
2.
Trần Ngọc Hiếu: “Giới thiệu lí thuyết tự sự của Hayden White”, trong Trần Đình
Sử (chủ biên), Tự sự học (Phần 2), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2008, tr.117.
3.
Popper Karl: Sự nghèo nàn của Thuyết Sử luận, Chu Lan Đình dịch,
Nxb Tri thức, Hà Nội, 2012, tr.257.
4.
Mills Sara: “Một số định nghĩa và quan điểm nghiên cứu diễn ngôn” (Nguyễn Thị
Ngọc Minh dịch), Tạp chí Văn học nước ngoài, số 8/2011, tr.152.
5.
Karl Popper (2012), Sự nghèo nàn của Thuyết Sử luận, Chu Lan Đình dịch,
NXB. Tri thức, Hà Nội, tr.257.
6. Trần
Đình Sử (2013), “Cần đổi mới suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử”, nguồn:
http://vannghequandoi.com.vn/
7. Nam
Dao (2005), “Lời ngỏ tiểu thuyết Gió lửa”, nguồn: http://vnthuquan.net/
8. Nam
Dao, tlđd.
9. Nam
Dao và Nguyễn Mộng Giác, “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử”, nguồn:
http://nguyenmonggiac.info/
10. Nam
Dao và Nguyễn Mộng Giác, tlđd.
11. Nam
Dao, tlđd.
12. Hà
Thanh Vân, “Nhà văn Trần Thùy Mai: Tôi quan niệm viết là đối thoại”, nguồn:
https://vanvn.vn/.
21/12/2024
Nguyễn Văn Hùng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét