Đến với bài thơ
hay: "Núi
đôi" của Vũ Cao
Nhà thơ Vũ Cao tên thật
là Vũ Hữu Chỉnh quê ở Nam Định. Ông làm thơ viết văn khá sớm. Ông có nhiều năm
làm việc ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội và giữ chức vụ Tổng Biên tập.
Sau năm 1975, Vũ Cao rời quân ngũ làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội. Ông đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam. ‘Sớm nay’; ‘Đèo trúc’, ‘Núi Đôi’ là tên ba tập thơ của Vũ Cao nhưng có lẽ bài thơ ‘Núi Đôi’ được bạn đọc biết đến nhiều hơn cả.
Bài thơ có 16 khổ gồm 64
câu. Trước hết, đấy là câu chuyện cảm động về tình yêu của cô du kích và anh bộ
đội. Vũ Cao sáng tác bài thơ này dựa trên câu chuyện có thật, nguyên mẫu của
nhân vật “em” là cô du kích Trần Thị Bắc quê ở Phù Linh, Sóc Sơn, Hà Nội đã hy
sinh vào ngày 21.3.1954 khi lọt vào ổ phục kích của địch và nhân vật “anh” là
chiến sĩ Trịnh Khanh (cùng xã với chị Bắc). “Núi Đôi” được viết vào năm 1956,
lúc Vũ Cao về công tác ở Sư đoàn 312 đóng quân ở Sóc Sơn sau khi ông nghe dân
làng kể lại câu chuyện trên.
Nhà thơ đã có lý khi hóa
thân vào nhân vật anh trong bài thơ để diễn đạt thấm và sâu tình cảm của mình đối
với người hy sinh vì đất nước trên nền cảm xúc rất đẹp là tình yêu đôi lứa: “Bảy
năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục, Đoài Đông
hai cánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang”. Đừng ai bắt bẻ một cách
máy móc vì sao tuổi mười bảy, đôi mươi là trẻ nhất làng. Cái tuổi ấy mới hội tụ
đầy đủ nhất sự trẻ trung, tươi mới, tinh khôi của tình yêu trai gái.
Hay, bởi tại niềm yêu dào
dạt trước “hai cánh lúa” của vùng quê Xuân Dục, Đoài Đông mà tác giả nói quá đi
một chút thì cũng chả sao cả. Thơ luôn mang trong nó sự huyền ảo. Tình yêu của
chàng trai và cô gái trẻ nhất làng ấy được gắn vào một không gian quá lãng mạn:
“Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi Núi Đôi/ Em vẫn đùa anh sao
khéo thế/ Núi chồng, núi vợ đứng song đôi”. Núi đôi ngọn đứng bên nhau, gắn
bó khăng khít muôn đời giữa bao mưa nắng bão giông ắt phải là núi chồng núi vợ
rồi, vậy anh và em… không cần nói ra hết cũng đủ hình dung nó phải thế nào.
Tình yêu đẹp như thế lẽ
ra phải được ra hoa kết trái, cô thôn nữ và chàng trai làng sẽ sớm thành vợ
thành chồng, sống bình yên trong miền quê có ngõ chùa, bóng cau và hương lúa
chiêm thoang thoảng bay đến từ cánh đồng mùa gặt. Lẽ ra, núi vẫn đôi và anh chẳng
mất em…Thế mà, mọi cái đã xảy ra không như ý muốn bắt đầu từ khi: “Bỗng cuối
mùa chiêm quân giặc tới/ Ngõ chùa chảy đỏ những thân cau/ Mới ngỏ lời thôi đành
lỡ hẹn/ Ai ngờ từ đó mất tin nhau”. Chàng trai vào bộ đội, cô gái trở
thành du kích.
Cuộc chiến tranh kéo dài
dằng dặc. Ở hai đầu xa cách đôi người vẫn dành trọn vẹn tình yêu cho nhau. Tình
riêng hòa quyện trong tình chung, cùng góp sức đánh giặc giải phóng đất nước
quê hương. Và, đau đớn thay, khi hòa bình lập lại, chàng trai trở về quê thì cô
gái không còn nữa: “Mới đến đầu ao tin sét giết em rồi, dưới
gốc thông/Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa/ Em sống trung thành chết thủy chung”…
Câu chuyện được kể bằng
những hình ảnh, ngôn từ đặc sắc kết hợp tài tình chất tự sự và trữ tình trong một
thi phẩm đầy rung động. Không hiếm những câu thơ hay, rất hay ghim vào trí nhớ,
tâm hồn người đọc: “Mỗi tin súng nổ vùng đai địch/ Sương trắng người đi lại
nhớ người”. Hay “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông, bờ cỏ,
con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói /Núi vẫn đôi mà anh mất em”.
Bi kịch mà không u ám,
đau thương mà không ủy mị là đặc điểm viết về sự hy sinh trong thơ ca kháng chiến.
Cái chết gieo mầm sự sống, đó là ý tưởng chung cho những bài thơ viết về liệt
sĩ. Có người cho rằng thơ ca kháng chiến đã thi vị hóa cuộc sống gian khổ, mất
mát đau thương của chiến sĩ và Nhân dân ta.
Theo tôi, nếu thơ ca
kháng chiến đánh mất lòng lạc quan và niềm tin thì sẽ không làm được nhiệm vụ
“đánh giặc” của mình. Lúc đó, rất cần những vần thơ động viên cổ vũ chiến sĩ và
Nhân dân biết gạt nước mắt để nhìn rõ mặt quân thù. Nhà thơ viết ra điều đó
cũng rất thật lòng mình, nói chính xác hơn là người cầm bút tin vào chiến thắng
của dân tộc, tin vào những giá trị tốt đẹp của sự cống hiến hy sinh sẽ sống mãi
với non sông đất nước này: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao
sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”.
Ngôi sao trên mũ, bông hoa trên đỉnh núi là những hình tượng đẹp về anh bộ đội Cụ Hồ, về nữ liệt sĩ đã biết sống trung thành, chết thủy chung cho đất nước. Cái đẹp ấy không chỉ tỏa sáng một thời mà nó còn lấp lánh dài lâu cùng các thế hệ mai sau trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
NÚI ĐÔI
Bảy năm về trước em mười
bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất
làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai
cánh lúa
Bữa thì anh tới bữa em sang.
Lối ta đi giữa hai sườn
núi
Đôi ngọn nên làng gọi Núi
Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo
thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.
Bỗng cuối mùa chiêm quân
giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những
thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỡ
hẹn
Ai ngờ từ đó mất tin nhau.
Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại
năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục, Núi Đôi chăng?
Anh nghĩ quê ta giặc chiếm
rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ
nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai
địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.
Đồng đội có nhau thường
nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ
trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba
xóm
Em vẫn đi về những bến sông.
Náo nức bao nhiêu ngày trở
lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về
xuôi
Hành quân qua tắt đường
sang huyện
Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.
Mới đến đầu ao tin sét
đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc
thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn
Thứa
Em sống trung thành chết thủy chung.
Anh ngước nhìn lên hai dốc
núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường
quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ
bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em.
Dân chợ Phù Linh ai cũng
bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng
trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.
Từ núi qua thôn đường nghẽn
lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ
ngút dày
Sân biến thành ao nhà đổ
chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.
Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi góc
cau
Nứa gianh nửa mái lều che
tạm
Sương trắng khuây dần chuyện xót đau.
Anh nghe có tiếng người
qua chợ:
Ta gắng, mùa sau lúa sẽ
nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng
nhát cuốc
Lòng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!
Nhưng núi còn kia, anh vẫn
nhớ
Oán thù còn đó, anh còn
đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã trọn niềm tin gửi đất này.
Ai viết tên em thành liệt
sĩ
Bên những hàng bia trắng
giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em: đồng
chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.
Anh đi bộ đội, sao trên
mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn
đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh
núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.
VŨ CAO
28/1/2025
Nguyễn Hữu Quý
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét