Tình yêu sau chiến tranh – Nhớ lại chuyện làm sách ở Mỹ
Tuyển tập truyện ngắn Việt
Nam mang tên “Tình yêu sau chiến tranh – Văn xuôi Việt Nam đương đại” (Love
after War: Contemporary Fiction from Vietnam) do nhà xuất bản Curbstone Press ở
Mỹ ấn hành năm 2003. Cho đến nay, đây vẫn là tuyển tập dày dặn nhất xuất bản ở
Âu – Mỹ, dày 650 trang khổ lớn, tập hợp truyện ngắn của 45 tác giả Việt Nam.
Đã hơn hai mươi năm qua đi, kỷ niệm về việc hợp tác làm tuyển tập này với các nhà văn và nhà xuất bản Mỹ vẫn còn sống động trong ký ức của nhiều nhà văn Việt Nam.
Bộ tuyển tập dày dặn nhất
Một tuyển tập lớn
như Tình yêu sau chiến tranh chỉ có thể được xuất bản ở một số
nước Đông Âu trước năm 1990 vì tình hữu nghị, chứ ở phương Tây thì chưa thấy.
Người đọc nước ngoài sẽ gặp ở đây các thế hệ nhà văn Việt Nam, từ Tô Hoài sang
Chu Văn, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Bão đến
Nguyễn Quang Thân, Lê Văn Thảo tới Nguyễn Huy Thiệp, Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Phạm
Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân, rồi Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải cho đến Nguyễn Ngọc Tư. Có nhà văn đã khuất và người
đang sung sức, có nhà văn của các vùng miền, có cả nhiều gương mặt nhà văn nữ
tiêu biểu.
Là đồng chủ biên của tuyển
tập này, nhà văn Mỹ Wayne Karlin và tôi đã phải viết giới thiệu gần 100 truyện
ngắn Việt Nam để cuối cùng nhà xuất bản chọn lấy một nửa trong số đó. Cũng đành
phải bằng lòng với sự phán quyết của nhà xuất bản, người bắt mạch được gu của
người đọc Mỹ. Chúng tôi tổ chức toàn bộ truyện ngắn vào năm phần sao cho cấu
trúc liên hoàn này khiến độc giả có thể đọc từ đầu đến cuối, tuần tự như một cuốn
tiểu thuyết, hình dung ra một phần đời sống xã hội Việt Nam, phần nào tâm lý
con người và tâm trạng thời ta đang sống. Có thể là ít nhiều diện mạo văn
chương Việt Nam từ sau chiến tranh nữa.
Bộ sách văn chương Việt
Nam và một nhà văn Mỹ
Người đứng tên chủ biên bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam của NXB Curbstone Press là nhà văn Wayne Karlin. Ông tham gia dịch, hiệu đính và trau chuốt tất cả các bản dịch sách Việt Nam: hợp tuyển truyện ngắn hậu chiến của các nhà văn Việt Nam và Mỹ mang tên Phía bên kia góc trời (The Other Side of Heaven). Nhân tiện xin nói, chữ heaven ở đây không phải là thiên đường như có người dịch, mà có nghĩa là bầu trời. Việt Nam và Mỹ ở tận hai góc trời, giờ đây cần bắc một nhịp cầu hòa giải bằng văn chương nối liền hai góc trời xa xôi ấy. Đó là ý tưởng của Wayne Karlin khi làm cuốn sách được Hội Các nhà phê bình Văn học Mỹ bầu chọn là cuốn hợp tuyển hay nhất của năm 1995. Ông đã cộng tác với nhiều dịch giả người Việt và người Mỹ để cho ra những bản dịch Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Những ngôi sao, trái đất, dòng sông của Lê Minh Khuê, Thời gian của người của Nguyễn Khải, Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo của Hồ Anh Thái, Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Nghĩa địa xóm Chùa của Đoàn Lê…
Năm 1998, sau khi xuất bản
sách của nhà văn Lê Minh Khuê và của Hồ Anh Thái, NXB Curbstone Press mời chúng
tôi làm cố vấn biên tập cho bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam (Voices
from Vietnam), bộ sách kéo dài hơn mười năm với những cuốn sách nêu ở trên. Tuy
nhiên thời gian chủ yếu dành cho việc sáng tác, chúng tôi lượng sức khó theo
cho hết bộ sách còn kéo dài. Chính vì vậy, Wayne Karlin và tôi đề xuất nhà xuất
bản làm một tuyển tập, cố gắng giới thiệu càng nhiều càng tốt tác giả Việt Nam
trong đó, coi như một sự hoàn tất, trước khi rút về viết sách của mình. Còn nhiều
tác phẩm chúng tôi đã giới thiệu nhưng không được NXB chấp nhận, kể cũng đáng
tiếc. Tuy vậy nói cho cùng đây chỉ là nỗ lực của cá nhân những người làm sách,
trong khi chưa có một công trình cấp nhà nước cho việc đối ngoại bằng văn
chương.
Trước khi kể về Wayne
Karlin ở khía cạnh một người dịch sách và hiệu đính có nghề, xin giới thiệu đôi
nét về sự nghiệp văn chương của ông. Wayne Karlin là tác giả của nhiều cuốn tiểu
thuyết gây dư luận như Đường cắt, Cho chúng ta, Vai phụ, Những người
tù, Tiếng đồn và bia mộ, Xứ sở ao ước, Genizah, trong đó Những
linh hồn phiêu dạt đã được dịch ra tiếng Việt, kể về việc tác giả đã kết
nối để đưa kỷ vật một chiến sĩ về với gia đình ở Việt Nam – anh đã hy sinh khi
đối đầu với một người lính Mỹ…
Wayne Karlin đã đoạt một
số giải thưởng văn học có uy tín của Mỹ. Ông là nhà văn có văn phong đẹp, ngôn
ngữ chắt lọc và giàu nhạc điệu. Thời báo New York, một tờ báo được
tiếng là có gu khi ấy, đã hạ một lời khen những cuốn sách Việt Nam kể trên “được
dịch bằng một thứ ngôn ngữ tiếng Anh hạng nhất” (first-rate English language).
Công này chủ yếu là của Wayne Karlin.
Hợp tác giữa những đồng
chủ biên
Tôi trực tiếp dịch một nửa
trong số gần 50 truyện ngắn của tuyển tập, nhưng với tư cách chủ biên, cả Wayne
Karlin và tôi đều phải vất vả nhiều với toàn bộ tập sách. Trong quá trình cùng
nhau dịch, không thể nhớ hết những lần tranh luận. Chúng tôi đều cầu toàn, và tất
nhiên tranh luận phát sinh cũng vì độ chênh giữa hai ngôn ngữ vốn sẵn có nhiều
điểm khác biệt, giữa lối tư duy của hai dân tộc cũng rất nhiều khác biệt.
Chẳng hạn ở đầu truyện Cô
gái đầm sen, nhà văn Nguyễn Phan Hách viết: “Một lần về quê, tránh nắng,
anh khởi hành đi bộ từ sáng tinh mơ… Sương sớm mù mịt. Gió nhẹ hây hây đem theo
mùi sen thơm ngát. Đang đi trong ánh trăng mờ, Tuệ thấy một cô gái từ đầm sen
bên đường bước lên…” Người đọc Việt Nam dễ dàng xác định được thời gian của câu
chuyện này: đó là lúc sáng sớm, trời còn mờ tối, còn sương và còn trăng. Nhưng
Wayne Karlin đã thêm vào đây hai chữ xác định thời gian: That night (đêm
ấy). Tôi không đồng ý, trong nguyên bản là sáng sớm, làm sao có thể
đổi thành đêm được? Wayne Karlin cũng giữ ý kiến của ông, độc
giả Mỹ sẽ không sao hình dung nổi là early in the morning (sáng
sớm) lại có thể xảy ra câu chuyện trong sương mù, trong ánh trăng và trên trời
còn sao.
Tranh luận mãi, cuối cùng
tôi nhượng bộ. Lý do: bản tiếng Anh là dành cho độc giả Mỹ, những người vốn duy
lý, đòi hỏi sự chính xác về không gian, thời gian, về sự sở hữu… chứ không chấp
nhận sự mập mờ thấp thoáng. Tất nhiên đây là do hai cách tư duy và tiếp nhận
khác nhau, còn trên thực tế khoảng ba bốn giờ sáng như thế, bên này có thể gọi
là sớm hôm ấy, bên kia lại gọi là đêm ấy thôi mà.
Sang đến truyện Lúa
hát của Võ Thị Xuân Hà, đúng là tư duy chính xác của người Mỹ cũng khiến
ta phải lưu ý. Tác giả viết rằng ở làng ấy có tục làm lễ rước muối quanh cánh đồng,
rồi người ta rắc muối vào bếp, lấy tro bón ruộng cho lúa xanh. Wayne Karlin giật
mình: người Mỹ tin rằng đất mặn là đất xấu, không trồng trọt được, đọc thế ai
mà tin nổi? Tôi điện thoại hỏi tác giả, chị bảo đó chẳng qua là tín ngưỡng của
làng, như là làm phép, người ta đâu có đổ muối xuống ruộng làm cho đất mặn. Đoạn
này cũng không thể lược đi, người dịch phải trung thành. Rốt cuộc hai người dịch
chúng tôi chấp nhận đặt thêm cái chú thích về lễ rước muối như một tín ngưỡng,
bằng cách ấy hạn chế được phản ứng của người đọc bản tiếng Anh. Cũng vẫn ở truyện
này, Wayne Karlin bàn, cái tít Lúa hát có thể gây hiệu quả
trong tiếng Việt, nhưng trong tiếng Anh nó véo von văn vẻ và quá nhẹ. Ông đề
nghị đổi tên truyện gây ấn tượng hơn cho người đọc Mỹ: Lúa và muối
(Rice and Salt).
Còn ở truyện Cầu
thang, Nguyễn Thị Thu Huệ vẽ ra khung cảnh một cái ngõ Hà Nội mà chúng ta đều
dễ hình dung: “Đầu ngõ là một hàng phở. Họ bán chui bán lủi nên phải giấu mỗi
nơi một thứ. Bánh phở thì treo lủng lẳng ở giữa ngõ. Cuối ngõ thì có hai chậu
bát lình sình nước và những chiếc bát nổi cùng hành ớt và váng mỡ”. Nhưng một
người ngồi tít ở bang Maryland bên Mỹ, dù đã sang Hà Nội nhiều lần cũng khó
hình dung ra. Ông hỏi tôi: chủ hàng phở là người trong cái ngõ ấy hay sao mà
ông ta được chiếm chỗ để bán hàng? Và ông ta treo bánh phở lên ngõ bằng cách
nào? Người Mỹ không thể tưởng tượng được sự chiếm dụng một cái ngõ chung, cản
trở mọi người qua lại, cũng không hiểu được cách người ta chỉ kinh doanh một thời
điểm nào đó trong ngày thì để thực phẩm vào đâu? Tôi giải thích rằng chủ hiệu
phở có thể là người trong ngõ, cũng có thể là người ở nơi khác chỉ đến để bán
hàng. Lại còn vẽ cho ông thấy một trong những cách người ta có thể treo bánh phở
trong ngõ: đóng đinh lên tường, nối tạm một đoạn dây, hoặc đơn giản trong thúng
trong túi… Wayne Karlin thích thú: Có thể đưa thêm câu này vào truyện được
không? Tất nhiên, phải hỏi ý kiến Thu Huệ, chị vui vẻ bằng lòng. Đúng là tất cả
vì người đọc ở bên kia đại dương, những người còn thiếu nhiều kiến thức thực tế
về Việt Nam.
Nhưng ở trường hợp sau
đây thì ngược lại. Nhiều khi một khái niệm nghe rất thuận tai ở đây lại khó tiếp
nhận ở bên kia. Câu cuối cùng trong truyện Tiếng hát và tiếng khóc của
nhà văn Trang Thế Hy: “Nó nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm
tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông người thầm lặng”. Cụm
từ “số đông người thầm lặng” tôi chuyển chính xác thành “the silent majority”.
Wayne Karlin bàn: ở Mỹ, cụm từ này thường được những chính khách cánh hữu dùng
như một thứ bánh vẽ để mỵ dân, vì thế người Mỹ dị ứng với nó. Để tránh gây phản
cảm cho người đọc, ông đề nghị lược bỏ chữ majority (số đông),
câu văn còn lại là “nỗi đau khổ lớn của những người thầm lặng”, vẫn giữ được
khá chính xác nội dung.
Còn truyện Bố con
là đàn bà của nhà văn Vũ Bão, tôi đã đọc nhiều lần, nhưng phải đến khi
bắt tay vào dịch, phải nghiền ngẫm từng câu từng chữ như chính mình là người viết
thì mới phát hiện ra những chi tiết nhỏ. Nhỏ đến mức tác giả không biết, biên tập
viên tiếng Việt cũng bỏ qua, bao nhiêu người đọc cũng bỏ qua nốt. Nhưng đọc nó
bằng con mắt của người đọc nước ngoài duy lý, tôi không bỏ qua được nữa. Ví dụ
đoạn này: “Vừa mới nhận buồng, Mì đã xắn tay áo, xắn ống quần, lấy chổi quét
nhà, quét tường, treo một loạt tranh diễn viên, cắm hoa vào vỏ đạn 37 li,
đóng đinh treo gương mỏ neo, xé cánh tay áo đã rách lau giường, gấp
chăn màn vuông bánh chưng đặt ngay ngắn ở đầu giường. Mì chạy đi mượn búa đóng
đinh treo mắc áo, căng dây kéo ri đô…” Tôi vừa đánh dấu vào hai lần
đóng đinh và độc giả dễ dàng nhận ra rằng lần đóng đinh thứ hai cô Mì mới có
búa, còn lần đầu cô đóng bằng gì thì chỉ có nhà văn Vũ Bão cây hài hước mới biết
được. Một đoạn khác, “Ngát bực mình ngồi trong giường nói vọng
ra”, nhưng chỉ qua sáu dòng đối thoại thì lại là “Ngát vẫn nằm trên
giường”. Tất nhiên tôi đã phải hỏi ý kiến của tác giả và xoay chuyển lại
theo kiểu một người dọn vườn văn. Chưa hết, khi bản tiếng Anh vào tay Wayne
Karlin, ông kêu lên rằng trong truyện chỉ nhắc đến hai cô bạn cùng phòng đi lấy
chồng, tại sao ngay từ dòng đầu tác giả lại viết: “Trong phòng có bốn chị em
thì ba người đã lần lượt đi lấy chồng”. Trong văn cảnh này, độc giả Việt Nam vẫn
ngầm hiểu là tác giả có quyền chỉ nhắc đến hai trường hợp nổi bật trong số ba
cô bạn cùng phòng đã đi lấy chồng, nhưng độc giả Mỹ tính đếm rõ ràng không chịu
“ngầm hiểu” như vậy. Cuối cùng chúng tôi phải xoay lại: “tất cả” chị em trong
phòng đã lần lượt đi lấy chồng…
Như vậy, là đồng chủ biên, chúng tôi không chỉ làm người dịch sách, chọn lựa tác phẩm, sắp xếp truyện vào các phần theo một cấu trúc gắn kết tương đối hợp lý, mà còn phải làm người biên tập hiểu rõ gu của độc giả, thậm chí phải làm người dọn vườn văn. Chắc rằng người đọc nếu có đối chiếu song ngữ sẽ nhận ra trong bản dịch những chỗ mà dịch giả và người chủ biên đã xoay chuyển như đã nói ở trên.
Một nhà xuất bản yêu văn
chương Việt Nam
Hệ thống giáo dục Mỹ vẫn
thường để ngỏ một phần giáo trình cho các trường tự tìm thêm sách giảng dạy.
Nhà văn Wayne Karlin là giáo sư Đại học St. Mary ở Maryland, ông cùng với NXB
Curbstone quảng bá bộ sách Việt Nam đến các trường đại học và nhận được sự hưởng
ứng nồng nhiệt.
Cũng nhờ sự quảng bá của
Wayne Karlin và NXB Curbstone, các trường đại học Mỹ còn mở rộng giáo trình
sang những cuốn sách xuất bản ở nhiều nước khác như Thời xa vắng của
Lê Lựu (nhà xuất bản Đại học Massachusetts), Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiệp (nhà xuất bản Đại học Oxford ở Malaysia), Người đàn bà
trên đảo và Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh
Thái (nhà xuất bản Đại học Washington và Đại học Texas), Thiên sứ của
Phạm Thị Hoài (Hyland House ở Australia), Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh (Secker & Warburg ở Anh), tập thơ Đường xa của
Nguyễn Duy…
Người Mỹ ít đọc sách dịch.
Hàng nghìn nhà xuất bản tất nhiên chú trọng đến việc sách in ra có bán được
hay không. Họ không có nghĩa vụ tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Wayne Karlin đã tìm ra NXB Curbstone nhận in sách Việt Nam và đưa sách hiện diện
chính thức trên thị trường sách toàn quốc, có mặt trong hệ thống hiệu sách và
bán cả trên mạng (hãng Amazon.com). Số lượng phát hành lần đầu, như mọi NXB
khác ở Mỹ, thường là 5.000 bản, nhưng khác một điều là sách của NXB Curbstone
hàng năm vẫn đều đều được in nối bản. Còn sách do các trường đại học xuất bản
chủ yếu chỉ bán trong hệ thống trường đại học ở Mỹ và những nước liên kết, với
số lượng hạn chế là 1.000 bản. Số lượng sách phát hành là một bí mật kinh
doanh, chỉ có NXB và cơ quan thuế biết với nhau, không ghi đằng sau mỗi cuốn
sách như ở ta.
Curbstone Press là nhà xuất
bản không lợi nhuận. Tính chất không lợi nhuận khiến thu nhập của người làm xuất
bản và nhuận bút cho tác giả và dịch giả đều mang tính tượng trưng. Không lợi
nhuận còn có nghĩa là nhà xuất bản không phải nộp thuế thu nhập. Để đáp lại việc
không phải đóng thuế, họ phải làm nghĩa vụ phát triển văn hóa xã hội bằng cách
tặng sách cho các thư viện trên toàn quốc, cho các trường học… Sách của NXB vì
thế được in ít nhất 5.000 cuốn bán trong toàn quốc để trang trải chi phí in ấn,
phát hành và dịch vụ, ngoài ra còn có một số lượng đáng kể được đem tặng đến tận
tay sinh viên và trí thức.
Sau khi giám đốc
Curbstone, ông Alexander Taylor qua đời cuối năm 2007, toàn bộ dự án và công
trình xuất bản của Curbstone Press đã được chuyển giao sang nhà xuất bản Đại học
Tây Bắc Mỹ.
Những luồng dư luận
Tuyển tập truyện ngắn Việt
Nam phát hành và tạo được dư luận tốt trên báo chí. Đây là ý kiến của nhà văn
Robert Olen Butler, tác giả cuốn sách đoạt giải Pulitzer Hương thơm từ
núi lạ (đề tài Việt Nam): “Nhiều nhà văn Việt Nam là những tác giả tầm
cỡ và tuyển tập bằng tiếng Anh này là biểu hiện đầy đủ nhất. Wayne Karlin và Hồ
Anh Thái đã làm chủ biên và dịch một cuốn sách bậc thầy sẽ còn lại mãi”[1].
Báo Biên niên sử San Francisco ngày 2-11-2003 nhận định: “Tình
yêu sau chiến tranh là tuyển tập văn xuôi đương đại Việt Nam lớn nhất
bằng tiếng Anh và không còn lời nào khác ngoài chữ hoành tráng để nói về cuốn
sách này. Tuyển tập có thể dễ dàng sánh với những bậc thầy truyện ngắn được khuếch
trương nhiều của chúng ta như Raymond Carver, John Cheever và Grace Paley hoặc
những nhà văn có tính thưởng thức của tạp chí New Yorker và Playboy. Chủ ý so
sánh với Playboy bởi vì trái ngược với huyền thoại về các nước cộng sản, không
có chủ đề nào là không thể đối với những nhà văn ở đây, ít ra là trong mọi sự
thể hiện đa dạng và phức tạp về năng lượng sắc dục của con người”[2].
Còn Thời báo St. Petersburg ra ngày 14-9-2003 bình luận: “Tình yêu sau chiến tranh là một tuyển tập văn xuôi sinh động của những tác giả mà tác phẩm xếp vào hàng những gì hay nhất của văn chương thế giới. Là chủ biên đồng thời là dịch giả, Wayne Karlin và Hồ Anh Thái xứng với một tấm huy chương vì đã tập hợp được những tác phẩm này trong một tuyển tập. Văn phong đẹp, Tình yêu sau chiến tranh cho thấy rằng văn học Việt Nam, và cả đời sống ở đó, đang phát triển mạnh”[3].Năm 2003 báo Biên niên sử San Francisco bình chọn tuyển tập này vào bản danh sách 100 cuốn sách hay. Có lẽ ngay cả ở một nước có văn hóa đọc phát triển, khó có ai đọc hết 100 cuốn sách hay nhất trong năm. Nhưng việc bình chọn này có ý nghĩa với những nhà phê bình văn học và đội ngũ biên tập viên theo dõi xuất bản ở Mỹ, sau đó là độc giả yêu văn chương.
Chú thích:
[1] Many
of the writers of Vietnam are world-class artists, and this is the most
comprehensive demonstration of that to be found in English language. Wayne
Karlin and Ho Anh Thai have edited and translated a masterful volume that will
endure (Robert Olen Butler, author of “A Good Scent from a Strange Mountain”).
[2] “Love
After War” is the largest collection of contemporary Vietnamese fiction
writers in English translation, and there is no word for it other than
magnificent. This collection could easily hold its own alongside our own
much-vaunted short-story masters such as Raymond Carver, John Cheever and Grace
Paley, or the best literary entertainers from the New Yorker and Playboy. The
comparison with Playboy is deliberate, because, contrary to the myths about
communist countries, no topic is off-limits for these writers, least of all the
multifarious, convoluted expressions of the human libido (San Francisco
Chronicle, November 2, 2003).
[3] “Love After War” is a vital collection of fiction by authors whose work ranks with the best world literature. Working as translators as well as editors, Karlin and Thai deserve a medal for gathering these fictions up in one omnibus. In high style, Love After War shows that Vietnamese literature, and life, are going strong (St. Petersburg Times, September 14, 2003).
12/3/2025
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét