Luận đề "Gia đình có bốn chị em gái"
“Sự lộn ngược của luận đề “Gia đình có bốn chị em gái” thực ra hầu như đã hoàn tất sau ba chương truyện đầu tiên. Lý thuyết sinh ra từ châm ngôn “Một người làm quan cả họ được nhờ” đã tỏ ra đắc dụng và đắc thắng trong thực hành thực tế của một lòng tham, mang tính tham tàn, mang tính cấu trúc nó khiến cái phiên bản lô can của thứ được gọi như là “tư bản thân hữu” này trở nên một ý luận, mà có thể được một trong các đúc kết sinh động minh họa trong diễn đạt đầy thỏa mãn của nhân vật Sỹ, chồng nhân vật cô em út tên Yên” – nhà lý luận phê bình Nguyễn Chí Hoan nhận xét về tiểu thuyết “Gia đình có bốn chị em gái” của nhà văn Phạm Thị Bích Thủy vừa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024.
Tiểu thuyết “Gia đình có
bốn chị em gái” là một tiểu thuyết luận đề, nhưng, ngược với mẫu luận đề kinh
điển, lại có cái kết không ưu ái cho các ý-luận lành mạnh đương đại hay tốt
lành thuộc truyền thống, luôn được xiển dương rõ rệt và phổ biến, trong cuộc
đương đầu với sự tha hóa biến chất bắt nguồn từ chính các ý luận đó. Như vậy,
nó thành một tiểu thuyết luận đề lộn ngược trên phương diện một mô hình – và
tình thế lộn ngược này, mỉa mai hay trớ trêu, hoàn toàn tương hợp với cái phần
của hiện thực cũng lộn đảo mà nó mô tả-phản ánh bằng bút pháp thực tại luận riết
róng, tỉ mỉ, mà cung giọng phê phán thấy rõ.
Tình thế lộn ngược đó có
một trong các biểu hiện đầy chủ ý và nhuốm vẻ hài hước đen ở một dàn tên
nhân vật mà, chỉ trừ một vài, còn thì đều sắm những vai mà tính cách, thân phận,
ứng xử đối nghịch cái tên, chẳng hạn tên là Thương lại luôn luôn “cay nghiệt
cãi bố”, chửi các em gái em rể hay rủa xả mắng nhiếc chồng mình, hay có ba gã
trai kia tên Đạt tên Hạnh tên Phúc thì ở vào các cảnh bần hàn tục tĩu ngỗ nghịch;
và vân vân. Các nhân vật, như thế, được kiến tạo bởi luận đề, cô đọng vào mình
phần thực tại tương ứng với phần hiện thực ngoài kia – nơi mà cái viết theo thực
tại luận quy chiếu về, chặt chẽ; bởi thế nhân vật ở đây bước ra ngoài một khuôn
khổ quen được gọi là nhân-vật-điển-hình của chủ nghĩa hiện thực được xem như
truyền thống. Dàn nhân vật như thế làm hiện thân của lối luận đề.
Sự cố ý trong tình tiết
những cái tên nhân vật như vậy sẽ cho phép gợi nghĩ về ý nghĩa bên trong cái
tên của chính tiểu thuyết: cái gia-đình-có-bốn-chị-em-gái gồm Bình Bằng
(ông&bà) Thương Ái An Yên ; và hẳn người ta có thể nhận ra ở đó, cách không
thể nhầm lẫn, cái ý hướng tiểu thuyết này đề cao về loại hình mẫu gia đình lý
tưởng dựa trên hai trụ cột – công bằng và thương yêu. Vậy nên cái tên tiểu thuyết
này chứa đựng phần chính đề cho cuộc luận giải dưới hình thức văn chương tiểu
thuyết.
Phản đề đã ở ngay trong
cái nền tảng lý tưởng đó cùng cái trụ cột thứ ba, thuộc thực tế sống, thiết
thân còn thiếu của nó, đã được luận giải và bày ra mâu thuẫn cản trở ngay trong
ba chương truyện đầu tiên. Chương thứ nhất, mở đầu, dẫn nhập, gồm hai trường đoạn,
rất minh bạch khúc chiết, mà với một chút tưởng tượng có thể nhận ra đấy thực
chất là màn độc thoại của nhân vật An. Toàn bộ tinh thần cốt lõi của chính đề
trong luận đề của tiểu thuyết này được gói gọn trong những câu cảm thán hùng hồn,
chẳng hạn: … “Phải chăng Chúng ta đã quá ích kỷ, đã quá tha hóa, chúng ta đã
nghĩ mình là trên hết, mình là duy nhất đúng? Chúng ta đã quên đi mất những giá
trị của tình yêu thương, sự ruột thịt máu mủ đồng loại.”…
Loạt câu hỏi tu từ thống thiết, thốt ra trên bối cảnh những đường phố vắng tênh vì dịch bệnh, làm xuất hiện một hiệu quả sân khấu. Hiệu quả đó tiếp liền ở cảnh lặng lẽ kéo dài, trong trường đoạn thứ hai của Chương 1, nhân vật An làm bữa giỗ bố, một mình, vì tình trạng cách ly trong dịch Covid-19, cứ ngóng chờ một cuộc điện thoại hỏi han từ các chị em gái của cô ta vào cái ngày đặc biệt này của gia đình họ. Nhưng chẳng có gì; cho đến cả tuần sau đó. Độc thoại và câm lặng – cả hai trường đoạn này tạo một ấn tượng bi kịch khởi phát, cân đối với các màn kết thực sự bi kịch của tiểu thuyết này, về sau, hoàn tất cuộc lộn ngược luận đề của nó.
Chương thứ hai, hồi tưởng
về lịch sử gia-đình-có-bốn-chị-em-gái, và chương thứ ba kể một bữa giỗ mẹ của bốn-chị-em
này, trong buổi đó ông bố tuyên đọc di chúc của ông. Hai chương truyện này, như
đã nói, trình bày và luận giải hình mẫu lý tưởng một gia đình – tinh thần trí
thức, đồng cam cộng khổ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, giữ cốt cách và nề nếp
thanh cao, cùng dốc lòng cho sự nghiệp phụng sự xã hội cũng ngang như dốc lòng
vì gia đình cùng họ hàng thân thích – tất cả, một hệ những thực hành đạo hạnh
khắc kỷ vị tha, tạo nên một hệ giá trị được dán nhãn “Gia đình” và rồi sẽ thành
một ý-luận; và nút thắt, hay cái đầu mối của phản đề, tức tiến trình dường như
tất yếu của tha hóa và biến chất, bắt đầu hiện diện rõ rệt trong cuộc tranh cãi
con cãi bố chị cãi em xung quanh một châm ngôn cũ nói “Một người làm quan cả họ
được nhờ.”
Luận đề của tiểu thuyết
này, phần chính đề, không chỉ thuần lý thuyết, hiện thân ở nhân vật ông Bình (bố)
và cô An, những người tùy theo mức văn minh hiện đại của thời đại mình thụ hưởng
mà diễn giải/thực hành châm ngôn đó theo hướng phụng sự xã hội. Và bữa cỗ đó chứng
kiến các quan điểm thuộc chính đề đó rơi tõm vào im lặng. Phản đề nổi lên quyết
liệt qua nhân vật người chị cả tên Thương – sự quyết liệt, trong tuyệt vọng bức
bối, của cái người tin cả vào, đặt hết tham vọng và sĩ diện vào lý thuyết cậy
thân-cậy thế-cậy thần; và nổi lên qua những phô phang đắc ý của hai gia đình nhỏ
của cô em gái thứ hai và thứ tư – những nhà thực hành thành công trong thực tiễn
của lý luận cậy thân-cậy thế-cậy thần đó.
Sự lộn ngược của luận đề
“Gia đình có bốn chị em gái” thực ra hầu như đã hoàn tất sau ba chương truyện đầu
tiên. Lý thuyết sinh ra từ châm ngôn “Một người làm quan cả họ được nhờ” đã tỏ
ra đắc dụng và đắc thắng trong thực hành thực tế của một lòng tham, mang tính
tham tàn, mang tính cấu trúc nó khiến cái phiên bản lô can của thứ được gọi như
là “tư bản thân hữu” này trở nên một ý-luận, mà có thể được một trong các đúc kết
sinh động minh họa trong diễn đạt đầy thỏa mãn của nhân vật Sỹ, chồng nhân vật
cô em út tên Yên. Anh ta, giữa lúc rượu vào lời ra, khen nhân vật “thằng rể
tương lai” của mình, bảo:
“Đấy! Thằng này giỏi, mọi
thứ không qua được cái chủ trương, cái chỉ đạo, cái luật lệ của nhà mình. Mình
mới là người đưa ra, mình ban hành!… Đại để là mọi con đường đều dẫn về cái ao
nhà ta!”
Dĩ nhiên, nói cuộc đảo lộn
đã hầu như hoàn tất, thì chưa phải thực chấm dứt. Vả lại, nơi có kẻ thành công
sẽ phải có nhiều người thất bại. Luận đề “Gia đình có bốn chị em gái” là luận đề-tiểu
thuyết, một tiểu thuyết thực tại luận, cho nên nó chuyển biến, theo biện chứng.
Sau ba chương như đã nói, chương truyện thứ tư đánh dấu khởi sự một bi kịch mà
xuất nguồn chính ở cái ý-luận gia đình trị “Một người làm quan cả họ được nhờ”
đó. Tức là từ mối mâu thuẫn nội tại của cái lý luận và thực tiễn tha hóa biến
chất đó. Gói thuốc chuột cố ý (?) bỏ quên (?) trong cái túi đựng chai nước mắm
mà nhân vật Thương đem biếu nhân vật Thường em rể mình, chồng của cô em gái tên
Ái – tình tiết nắm một đầu dây của nút thắt kịch tính truyện này, đầy tính kịch,
và do đó, tính tượng trưng và luận đề.
Hẳn nên lưu ý ở đây về một
đặc điểm nổi bật trong phong cách tiểu thuyết của Phạm Thị Bích Thủy: tác giả
này, ngay từ những truyện ngắn đầu tiên, cho thấy một thói quen suy nghĩ văn
chương bằng các nhân vật, hơn là bằng cốt truyện. Nhà văn này có biệt tài trong
việc rút ra câu chuyện từ các nhân vật của cô. Hẳn đó là một nguồn cơn, ngoài
phong cách tiểu thuyết thực tại luận kinh điển nói chung, khiến cô luôn chú trọng
vào mô tả, gần như ham muốn tạo ra các phản ánh 1-1 cho những gì mình kể đến; đồng
thời cũng chưng cất chúng lên các mức ẩn dụ. Chẳng hạn, tác giả này tả cái cây
xà cừ gần cổng nhà nhân vật Thương, khiến thấy hồn cốt nhân vật như đã nhập vào
cái cây, và, nói rộng ra là, cả các khung cảnh ấy:
“Từ gốc lên khoảng hai mét, cái cây lại một lần nữa bị vẹo thêm, do ở đó có một cái bướu to bằng chiếc chậu sành với những vết xoắn xoáy trôn ốc gồ ghề nâu đỏ đậm. Nhìn xa người ta có cảm giác đó là một vết máu khô nham nhở trên bắp tay của một võ sỹ, còn bết lại đó sau một vụ đánh chém vừa xảy ra. Vỏ của nó như một bức mosaic hỏng với vô số mảng miếng lớn bé hình thù kỳ dị trộn lại từ rêu, mốc và nấm khô, tất cả tạo nên một màu sắc khổ hạnh, gai góc, thờ ơ, vô cảm và bất cần đến ám ảnh.”
Với cùng phong cách đó,
tác giả sẽ đưa vào trình thuật tiểu thuyết cả một trường đoạn như thể trích dẫn
nguyên văn bản cáo trạng của bên công tố đối với nhân vật Thương trong phiên
tòa xử vụ nghi án đầu độc nhân vật Thường. Có lẽ cũng nên hãy đọc nó như một ẩn
dụ khác, một ẩn dụ bậc hai.
Và dĩ nhiên, nói về nhân
vật của Phạm Thị Bích Thủy, trong tiểu thuyết này thì nhân vật An, ngoài nhân vật
Thương, là gương mặt thực sống động và độc đáo hơn cả. Nhưng cốt yếu hơn, đó là
nhân vật gánh cái gánh luận đề của tiểu thuyết này. Cô ta, thông qua những mô tả
đầy chăm chút của tác giả, là người đảm trách duy trì cái mô hình lý tưởng ở
“Gia đình có Bốn Chị Em Gái” này – lý tưởng mà bố mẹ họ đã trao lại cho họ, một
cách tượng trưng thông qua bản di chúc của ông bố. Một truyền thống chỉ còn tồn
tại khi, và chỉ khi, nó luôn luôn được nhúng trở lại, liên tục không gián đoạn,
vào thực tại biến chuyển, thích ứng theo cách tích cực, tốt lành, tử tế và đồng
thời không bao giờ bỏ rơi các yếu tố hay phẩm chất tinh hoa của mình. An là
nhân vật đảm trách cái vai như thế trong vở “Kịch Con người”* ở cái gia đình
ngày càng lan rộng của cô ta, “Gia đình có Bốn Chị Em Gái.”
Mô tả dành cho nhân vật
An xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, không biểu hiện sự phát triển tính cách, trừ ra
quá trình hình thành nhân cách đã được mô tả/kể gọn ghẽ trong chương thứ hai. Sự
bất biến tương đối này đảm bảo cho nhân vật này đi song song xuyên suốt, như một
đối trọng đầy trọng lượng, với các chuyển biến ác hại tham tàn của vết dầu
loang gia-đình-trị từ chính cái gia đình của cô. Những trường đoạn mô tả đầy ắp
chi tiết về An, trong các ứng xử xã hội, đường phố, công việc, toát ra không
khí duy lý văn minh hiện đại, đối lập với những lạm dụng duy tình và duy kinh
nghiệm thô sơ, chính là dòng chính đề vẫn tranh đấu để không đứt mạch biện chứng
của mình trong nỗ lực chuyển hóa dòng phản đề đồ sộ và lan tràn rộng khắp kia.
Nhưng tiểu thuyết này đã
tuân theo logic của chính nó. Những tiếng cười hả hê của mấy thành viên bè
Nepotism ở cái công ty “NEPO” trong đoạn truyện kết thúc vẫn để ngỏ thách thức
với nhân vật An và công trình của cô và những người như cô.
21/10/2024
Nguyễn Chí Hoan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét