Trường ca Việt Nam sau
1975:
Một cuộc chạy tiếp sức
Tinh thần cách tân và sự quyết liệt phá cách trong tiếp cận đời sống, kiến tạo cấu trúc, xây dựng hệ thống hình tượng/biểu tượng, ngôn ngữ cũng là đặc điểm thuộc về phong cách trường ca của Thanh Thảo, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Nguyễn Linh Khiếu, Phan Hoàng, Lê Minh Quốc… tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của cảm thức trường ca hiện đại…
1. Trường ca – từ góc
nhìn thể loại
Là thể loại có vị trí
quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại song cho đến nay, vẫn chưa
có một khái niệm thật đầy đủ, thống nhất về Trường ca, theo nghĩa như một loại
hình sáng tác văn học phản ánh phương thức chiếm lĩnh đời sống và quan niệm thẩm
mĩ của tác giả, những cách thức xây dựng thế giới hình tượng và biểu đạt ngôn
ngữ đặc trưng. Xét về nguồn gốc, trường ca vốn là tên gọi tác phẩm sử thi (anh
hùng ca) cổ đại và trung đại của các dân tộc có nội dung kể về chiến tích anh
hùng của cá nhân hay cộng đồng người trong hành trình lịch sử đấu tranh sinh tồn
của mình. Ba đặc tính nổi trội của trường ca theo nghĩa này là: tính tự sự,
tính sử thi, tính anh hùng.
Khi “di chuyển” vào địa hạt
văn học hiện đại, đặc tính sử thi từ nguyên gốc vẫn được kế thừa, bên cạnh đó
trường ca có sự mở rộng những đặc trưng mới thuộc về tư duy nghệ thuật hiện đại
ở những giai đoạn, thời kỳ lịch sử khác nhau cũng như của mỗi nền văn học. Tính
“bất định” trong sự ổn định của phương thức nghệ thuật, dường như là cách hình
dung phù hợp nhất về trường ca hiện đại, với tư cách một thể loại văn học. Tuy
nhiên, điểm chung nhất của trường ca so với tác phẩm thơ khác là ở “dung lượng
lớn” và “thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình”. Sang thế kỷ XX, yếu tố cốt
truyện giảm xuống, trường ca phát triển theo hướng “trữ tình không có cốt truyện”,
“các xúc cảm cá nhân thường gắn với các chấn động lịch sử lớn lao”. Trong bài
viết “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”, nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Dân đã có khảo lược quan niệm (và cả không ít tranh luận) của các
nhà nghiên cứu về trường ca. Có thể tạm thống nhất ở hai vấn đề cơ bản phản ánh
đặc trưng nghệ thuật thể loại:
1.1 Cũng
như tiểu thuyết trong loại hình văn xuôi, trường ca là một thể loại có khả năng
và đặc tính “ôm chứa” trong các thể loại thơ trữ tình. Điều này không đơn giản
nằm ở độ dài của câu chữ (dù đó là điều kiện cần) mà ở tính chất tổng hợp, kết
nối, kiến tạo trong mạch tư tưởng, cảm xúc liên quan tới những vấn đề lớn của lịch
sử và thế sự nhân sinh. Điều này thể hiện ở khả năng biểu đạt những cảm xúc lớn,
tư tưởng lớn của người nghệ sĩ trong các mối quan hệ đa chiều, phức tạp với cộng
đồng, với đời sống nói chung và khả năng thể nghiệm phong phú các hình thức nghệ
thuật: thể thơ, ngôn ngữ, thi tứ, hình ảnh… nhằm biểu đạt tư tưởng, cảm xúc thỏa
mãn khát vọng sáng tạo nghệ thuật.
1.2. Trường
ca hiện đại, ở giai đoạn đầu tiên thường kế thừa chất sử thi vốn có, mang tầm cỡ
hoành tráng về dung lượng, nội dung lớn, cảm xúc đầy ắp, mãnh liệt, cốt truyện
có sự kết hợp chất tự sự và chất trữ tình song ở giai đoạn sau thường có xu hướng
thiên về trữ tình và mang đậm dấu ấn cái tôi cá nhân.
Như vậy, trường ca không
phải là những câu thơ nối dài như một số quan niệm và cách hiểu giản đơn lâu
nay trong cả sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình. Nó là một chỉnh thể/sinh thể
nghệ thuật. Hơn thế, là một sinh thể với sức vóc vạm vỡ, rộng dài, có khả năng
ôm chứa, bao quát những vấn đề lớn thuộc về cảm quan đời sống và tư duy nghệ
thuật ở mỗi tác giả. “Trường ca hiện đại đòi hỏi phải có tư tưởng quy mô, tầm
vóc lớn, sự trăn trở day dứt triền miên mà các hình thức thơ ngắn không thể biểu
hiện được. Trường ca đòi hỏi hình thức kết cấu phức điệu, dàn hợp xướng nhiều
bè, nhiều giọng điệu, kết cấu nhiều tầng bậc, sự trùng điệp luôn luôn biến đổi
như từng đợt sóng đập vào tâm trí người đọc. Ngôn ngữ trường ca kết hợp miêu tả,
trần thuật, đối thoại có tính thơ và nhiều biểu tượng, chất triết lí”. (Trần
Đình Sử)
Một quan niệm thể loại
như vậy tất yếu dẫn tới những đòi hỏi về phẩm tính những người viết trường ca.
Theo nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn, vì mấu chốt trường ca nằm ở chữ “trường” nên
“một tác giả trường ca ít nhất phải có đủ “tam trường”: trường vốn, trường lực
và trường hơi. Vốn trải nghiệm, vốn tri thức, vốn nhân văn phải dồi dào; năng lực
sáng tạo hình thức trong ngôn ngữ phải sung mãn; và phải nuôi được cảm hứng, cảm
xúc thật bền, không đuối, không hụt, không cụt”.
Xét ở một phương diện nào
đó, mỗi trường ca tựa như một cuộc đối thoại giữa cá nhân với cộng đồng, giữa
cá nhân với lịch sử. Do đó trong cấu trúc nội tại của trường ca bao giờ cũng có
sự hô ứng, bắt nhập, tương tác giữa cảm xúc của nhà thơ với những vấn đề mà cộng
đồng ấy đang đối diện. Ở đây không có sự phân tách rạch ròi đề tài theo các
tiêu chí: viết về quá khứ hay hiện tại, về chiến tranh hay hòa bình, về nông
thôn hay thành thị… Đó là sự tổng hòa của nhiều bối cảnh, thời điểm, cảnh ngộ,
tâm trạng, suy ngẫm… để hướng tới một mục đích cao nhất: đi tìm lời giải đáp về
số phận cộng đồng, về hành trình của lịch sử, trong đó có hành trình và số phận
của mỗi cá nhân. Cái mà nhà thơ đặt ra trong mỗi trường ca là sự suy tư, trăn
trở về số phận con người, về lịch sử dân tộc, về một “con đường” đang còn ở
phía trước. Vì thế viết về quá khứ hay hiện tại, chiến tranh hay hòa bình trong
trường ca chỉ là một lựa chọn nghệ thuật, như một phương thức thể hiện chứ
không phải là đích đến sau cùng.
2. Trường ca trong
dòng chảy Văn học Việt Nam hiện đại: phác thảo một hành trình
2.1. So
với lịch sử trường ca thế giới, trường ca Việt Nam xuất hiện muộn hơn. Thơ Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX – 1945 đã ghi nhận một số bài thơ manh nha đặc điểm
của trường ca ở độ dài của dung lượng và những vấn đề lớn của lịch sử, văn hóa
được đề cập như: Sơn Tinh, Thủy Tinh (Nguyễn Nhược Pháp,
1933), Tiếng địch sông Ô (Phạm Huy Thông, 1935). Trong giai đoạn
Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cũng xuất hiện rải rác
một số trường hợp tương tự như: Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông (Xuân
Diệu, 1945); Bài thơ Hắc Hải (Nguyễn Đình Thi, 1959), Bài
ca chim Chơrao (Thu Bồn, 1964); Theo chân Bác (Tố Hữu,
1970); Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm, 1971). Tuy
nhiên, phải tới những năm cuối thập niên 70 – 80 thi đàn Việt Nam mới chứng kiến
“làn sóng” trường ca với những gương mặt lớn và loạt tác phẩm ghi dấu ấn: Thanh
Thảo (Những người đi tới biển – 1976, Trẻ con ở Sơn Mỹ – 1978, Cỏ vẫn mọc –
1983, Khối vuông ru-bích – 1984), Trần Mạnh Hảo (Đất nước hình tia chớp – 1975,
Mặt trời trong lòng đất – 1981), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố, 1979), Nguyễn
Đức Mậu (Sư đoàn, 1980), Trần Đăng Khoa (Trường ca Giông bão – 1983); Đỗ Trung
Quân (Tạ lỗi Trường Sơn – 1982)…
Đặc điểm chung của trường
ca giai đoạn này là sự kế thừa chất sử thi và âm hưởng anh hùng ca của sử thi cổ
– trung đại ở sự kiện, vấn đề lớn, có tính chất trọng đại liên quan tới vận mệnh
dân tộc thời điểm gần ngay trước đó: các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ
độc lập dân tộc. Đó là những khúc hoan ca về những năm tháng đau thương nhưng
hào hùng, anh dũng của dân tộc. Tâm thế cái tôi trữ tình ở những trường ca này,
dù đóng vai người kể chuyện với mạch tự sự làm nòng cốt thời chống Pháp (cái
tôi phân vai) hay bắt đầu hướng tới giãi bày, bộc bạch (cái tôi tự biểu đạt
giai đoạn chống Mĩ) đều có điểm chung: cái tôi hướng ngoại, đặt mình trong những
mối quan hệ rộng lớn với đất nước, nhân dân, lịch sử. Đó là tâm thế của cái tôi
công dân, cái tôi thế hệ. Tuy nhiên ở một số trường ca xuất hiện sau thời điểm
chiến tranh kết thúc, độ lùi thời gian khiến các tác giả có điều kiện bình tĩnh
suy ngẫm, chiêm nghiệm nhiều hơn về những năm tháng đã qua, về mối quan hệ giữa
cá nhân và cộng đồng, về thân phận con người trong dòng chảy thăng trầm của lịch
sử, về chiến thắng và cả những mất mát: “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy,/
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc…/ Một mình một mâm cơm,/ Ngồi bên nào cũng lệch,/
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền…” (Trích Đường tới thành phố
– Hữu Thỉnh); “Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư
đoàn…?” (Trường ca Sư đoàn, Nguyễn Đức Mậu)… Vì vậy trong nội dung trữ
tình, chất sử thi hòa quyện với chất thế sự, chất trữ tình đan xen với chất triết
lý, chất hùng ca xen lẫn bi ca… tạo nên sự sâu lắng của những biểu đạt cảm xúc
và ý tưởng.
Điều này cũng đồng thời
kéo theo sự dịch chuyển một số đặc trưng thể loại so với những trường ca xuất
hiện trước đó. Sự dịch chuyển này, thú vị ở chỗ, gần như là trùng khít với quá
trình vận động của trường ca trên thế giới theo xu thế “nguyên tắc trữ tình lấn
át nguyên tắc tự sự”. Đây chính là một đặc điểm thuộc về “hiện đại tính” trong
hành trình vận động, phát triển của trường ca từ thời cổ – trung đại đến hiện đại.
Từ chỗ “câu chuyện được kể luôn luôn khách quan, nghĩa là, tác giả không xuất
hiện ở trong đó” tới chỗ “cái tôi” xuất hiện và dẫn tới một thay đổi lớn: “Ngôi
thứ nhất số ít trở thành nhân vật chính”. Và cái bao trùm trường ca lúc này
không phải là những nhân vật khách thể, những hành động và xung đột, nghĩa là
không có những yếu tố làm thành cốt truyện truyền thống mà là hình tượng nhân vật
trữ tình, là sự trình bày hay bộc lộ những cảm xúc, suy ngẫm của chính anh ta.
Mạch tư duy của trường ca được viết theo lối hiện đại kiểu như thế này, do đó,
được dẫn dắt và nương theo mạch phát triển của cảm xúc trữ tình.
Tuy nhiên, trong bài viết
dẫn ra ở trên, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã chỉ ra và cảnh báo “tính hai mặt”
của nguyên tắc này trong các trường ca Việt Nam thời đó. Bởi lẽ trường ca trong
bản chất là một thể loại tổng hợp, có khả năng “ôm chứa”. Nó vừa mang tính chất
trữ tình, lại vừa mang tính chất tự sự, thậm chí phải là những “đại tự sự”. Sự
“nương tựa” lẫn nhau của hai yếu tố này tạo nên tính chỉnh thể cân đối ở một thể
loại đòi hỏi cả dung lượng và nội dung đều phải “lớn”. Thiếu đặc trưng này sẽ dễ
khiến trường ca trở thành những chùm thơ hoặc một bài thơ dài. Chính vì thế
trong hành trình vận động thể loại, những dịch chuyển đã nêu ở trên vừa là
thành tựu, nhưng cũng có thể vừa mang theo nguy cơ làm “biến dạng” cấu trúc
khung thể loại cần có. Dĩ nhiên sự vận động phát triển thể loại là một nhu cầu,
một đòi hỏi mang tính tất yếu. Điều còn lại thuộc về kinh nghiệm nghệ thuật và
trải nghiệm đời sống riêng của mỗi người viết.
2.2. Trong
tương quan với nền thơ kháng chiến, một số trường ca giai đoạn này thể hiện dấu
ấn phong cách qua lối tư duy và cách biểu đạt: vừa giàu chất trữ tình, vừa giàu
có chất suy tư triết luận, thi ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng và vẻ đẹp thẩm mĩ;
hình thức thơ tự do khá phóng khoáng. Chẳng hạn về thể thơ: trước đây Nguyễn
Đình Thi thể nghiệm kết hợp thể thơ truyền thống thơ bảy chữ thời Thơ mới, thơ
lục bát trong Bài thơ Hắc Hải; Thu Bồn xây dựng tổ hợp thơ khổ 4
câu đan xen ít hoặc nhiều hơn 7 chữ trong Bài ca chim Chơrao, Tố Hữu
chọn thơ 7 chữ trong Theo chân Bác với dư âm thơ mới trong giọng
điệu; Nguyễn Khoa Điềm kết hợp giọng trữ tình – triết luận trong hình thức thơ
đa dạng có hơi hướng “thơ văn xuôi” và xu hướng khai thác chất liệu, thi ảnh từ
trầm tích văn hóa trong Mặt đường khát vọng…
Đây là tiền đề “tiếp sức”
cho cuộc bứt phá về tư duy nghệ thuật và hình thức thể nghiệm nghệ thuật trong
trường ca giai đoạn sau 1975, đặc biệt là “làn sóng thứ hai” của trường ca ở
hai thập niên đầu thế kỷ XXI với những đổi mới và kết tinh trong đa dạng ở nhiều
cây bút sung sức, tràn đầy nội lực muốn tìm kiếm một lối đi riêng cho thể loại
và cho chính hành trình sáng tạo của mình: Thanh Thảo “tái xuất” trong diện mạo
mới cho thấy tầm vóc của một cây bút trường sức và vạm vỡ về trường ca với Metro (2009), Chân
đất (2012), Đám mây hình người thợ săn và con chó (2014), Dạ
– Tôi là Sáu Dân (2014) …; Hữu Thỉnh có thêm Trường ca Biển (1994)
tiếp tục khẳng định dấu ấn, Trần Mạnh Hảo “Rạch chân trời một lối đến
tương lai” trong Đất nước hình tia chớp và Mặt
trời trong lòng đất (1996), Nguyễn Trọng Tạo với Con đường của
những vì sao (Trường ca Đồng Lộc) (1981 – 2008), Biển mặn (2015),
Trần Anh Thái “Chung tình” với vệt trường ca Đổ bóng
xuống mặt trời (1999), Trên đường (2004), Ngày
đang mở sáng (2007); Trần Nhương dạt dào thi cảm trong Người
làm ra cổ tích (2008), Mai Văn Phấn “tân kỳ” từ Người cùng thời (1999)
đến Thời tái chế/Era of Junk (2019); Thi Hoàng Gọi
nhau qua vách núi (1995) với “những tiếng gọi quyến rũ bằng thơ”;
Hoàng Trần Cương và “vần thơ nhức buốt về miền Trung” trong Trầm tích (1996),
Văn Công Hùng thể nghiệm hiện thực phong phú trên mảnh đất Tây Nguyên
cùng Ngựa trắng bay về (2006), Nguyễn Quang Thiều day dứt ám ảnh với
“lời con bò” trong Lò mổ, Nguyễn Linh Khiếu rạo rực thi cảm Phồn
sinh (2007); Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Hữu Quí, Lê
Thị Mây với những khúc tâm tình biển đảo trong Tổ quốc nhìn từ biển (2009), Tổ
quốc – Đường chân trời (2011), Hạ thủy những giấc mơ (2013), Người
sau chân sóng (2011). Cũng sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới Vương
Tâm với Những nhịp cầu mùa thu (2009), Ngọc Bái: Lời cất
lên từ đất (1999), Miền quê thao thức (2007), Con
của phù sa (2009), Vầng trăng và cánh rừng (2009);
Nguyễn Hưng Hải: Mảnh hồn chim Lạc (1992), Mưa mặt trời (2005);
Lê Minh Quốc: Hành trình của con kiến (2005), Phan
Hoàng: Bước gió truyền kỳ (2010)… Đáng chú ý là lứa tác giả trẻ
hơn thế hệ 7X, 8X cũng bắt đầu thể nghiệm thể loại “nặng kí” này như một trải
nghiệm dũng cảm và táo bạo để vượt lên chính mình trong sáng tạo: Lưu Thị Bạch
Liễu (Trường Sa ơi Trường Sa, 2014), Nguyễn Quang Hưng (Nước non mặt biển,
2015); Đoàn Văn Mật (Sóng trầm biển dựng, 2018); Lữ Mai (Ngang qua bình minh,
2020 và Chư Tan Kra mây trắng, 2021); Phạm Vân Anh (Sa mộc, 2016), Nguyễn Thị
Kim Nhung (Từ phía sương buông, 2021)…
Trong bản hòa ca Trường
ca sau 1975, không thể thiếu trường ca của tác giả dân tộc thiểu số. Đơn cử:
dân tộc Thái có Cầm Hùng với Những người con của bản (2000);
dân tộc Mường có Vương Anh với Hồn chiêng gánh núi (2008); dân
tộc Tày có Y Phương với Chín tháng (1998), Đò trăng (2009);
Ma Trường Nguyên với Mát xanh rừng cọ (1985), Nông Thị Tô Hường: Hằn
sâu trên đá (2008), Nông Thị Ngọc Hòa: Nước hồ mãi trong xanh;
Hoàng Chiến Thắng: Lời đá núi; dân tộc Chăm có gương mặt thi ca đầy
cá tính Inrasara: Quê hương (1995), Lễ tẩy trần tháng
Tư (2002); dân tộc Dao có Lý Hữu Lương với Bình nguyên đỏ (2016)…
Khu vực văn học người Việt
ở hải ngoại, bên cạnh tiểu thuyết, trường ca vẫn là một lựa chọn nghệ thuật
kiên trì ở một số gương mặt nổi bật: Du Tử Lê (Trường khúc Mẹ về biển Đông –
1990), Trần Nghi Hoàng (Mở cửa tử sinh -1997, Kỳ tích từ phương Đông – 2007, Nhật
ký thời gian – 2014), gần đây tác giả Đỗ Quyên trở thành hiện tượng với 14 trường
ca, mới đây nhất là trường ca thứ 15 – Quần đảo tráo tên (tháng 10.2024). Ông
cũng dành nhiều tâm sức đọc, nghiên cứu, suy ngẫm về một số cây bút trường ca
trong nước, minh định thể loại, đồng thời dày công kê cứu 438 tác giả, 1142 tác
phẩm trường ca và thơ dài trong văn học Việt Nam hiện đại.
Hấp lực của trường ca còn
thể hiện ở sáng tác của một số cây bút “ngoại đạo” thời gian gần đây: Lê Quý
Anh/ GS Vũ Gia Hiền (Trường ca đôi giày, 2014), TS sử học Nguyễn Nhã: Trường
ca biển Đông và Giữ hồn dân tộc (2015), Hữu Đạt: Cuộc
chiến mười ngàn ngày (2015) … và gần đây nhất là trường ca Cúc (NSND
Hoàng Cúc, 2024) với nhiều yếu tố tự thuật/tự truyện gây ít nhiều bất ngờ, thú
vị với độc giả. Đặc tính “ôm chứa” của trường ca, dường như mở rộng cả ở biên độ
người sáng tác, tựa như một cuộc chơi văn chương không giới hạn, nơi mỗi người
viết có thể tự do thể hiện những câu chuyện và xúc cảm của riêng mình trong
tương quan đời sống, xã hội. Theo nghĩa đó, và với đội ngũ tác giả đông đảo thuộc
nhiều thế hệ, nhiều thành phần khác nhau; số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú về
đề tài, cảm hứng, bút pháp, trường ca cho thấy địa vị quan trọng trong đời sống
văn học Việt Nam, hòa cùng dòng chảy đổi mới, cách tân thơ ca mạnh mẽ giai đoạn
sau 1975, nhất là chặng đường sau đổi mới từ sau 1986.
3. Trường ca sau 1975: Xu
hướng và kết tinh
3.1. Sự
mở rộng chiều kích hiện thực và cảm thức trữ tình
Từ sau năm 1975, bối cảnh
hậu chiến đặt văn chương trước thử thách và nhu cầu đổi mới, ngay cả ở những đề
tài quen thuộc, vốn là chủ lưu của văn học giai đoạn trước như đề tài về chiến
tranh, lịch sử, dân tộc với tư duy cùng hệ giá trị thẩm mĩ mới khác với mĩ học
thời chiến. Nếu trong mỹ học thời chiến chủ nghĩa yêu nước, cái phi thường được
ưu tiên thì trong mỹ học hậu chiến chủ nghĩa nhân bản, cái bình thường được
quan tâm đề cập, luận bàn ở nhiều tương quan đa chiều, phức tạp. Trong xu thế
cách tân thơ ca và văn chương, những đợt sóng trường ca tuy không liên tục
nhưng lại hết sức mạnh mẽ, đổi mới và kết tinh trong đa dạng, trước hết là ở
chiều kích hiện thực và cảm hứng trữ tình. Ở phương diện này có thể thấy hai xu
hướng vận động chính của trường ca. Thứ nhất, xu hướng tiếp nối mạch cảm hứng sử
thi truyền thống về dân tộc, nhân dân trong dòng chảy thăng trầm của lịch sử mà
trung tâm là các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc và hình
tượng người lính.
Xu hướng này thể hiện ở
hai nhóm: nhóm các trường ca sáng tác ngay sau khi chiến tranh kết thúc mang
tính chất tổng kết và chiêm nghiệm về hiện thực chiến tranh vừa hào hùng vừa khốc
liệt cả dân tộc vừa trải qua, tiêu biểu là các trường ca của Thanh Thảo (Những
người đi tới biển – 1976, Trẻ con ở Sơn Mỹ – 1978), Trần Mạnh Hảo (Đất nước
hình tia chớp – 1975, Mặt trời trong lòng đất – 1981), Hữu Thỉnh (Đường tới
thành phố, 1979), Nguyễn Đức Mậu (Sư đoàn, 1980)… và nhóm trường ca về sự kiện
lịch sử hiện thời liên quan tới vấn đề chủ quyền biển đảo: Trường ca biển (Hữu
Thỉnh), Hạ thủy những giấc mơ (Nguyễn Hữu Quí), Biển mặn (Nguyễn
Trọng Tạo), Lòng hải lý, Quần đảo tráo tên (Đỗ Quyên), Tổ
quốc – Đường chân trời (Nguyễn Trọng Văn); Người sau chân sóng (Lê
Thị Mây), Trường Sa ơi Trường Sa (Lưu Thị Bạch Liễu), Giọng
biển (Lưu Đình Hùng), Nước non mặt biển (Nguyễn Quang
Hưng), Sóng trầm biển dựng (Đoàn Văn Mật), Ngang qua
bình minh (Lữ Mai)… Trên nền của các câu chuyện, sự kiện hiện thực
liên quan tới cuộc chiến đấu ngoan cường và anh dũng bảo vệ nền độc lập tự do của
dân tộc và chủ quyền biển đảo Tổ Quốc, các tác giả triển khai mạch tư tưởng, cảm
xúc và hình tượng trữ tình trong sự phong phú, linh hoạt, uyển chuyển, đan xen
giữa chất sử thi và thế sự, hùng ca và bi ca, giữa câu chuyện thời sự có tính
thời điểm cụ thể và suy tư liên tưởng rộng dài về dân tộc, nhân dân trong dòng
chảy thăng trầm của lịch sử.
Bên cạnh những giá trị
tinh thần bất biến thuộc về cảm thức công dân như tình yêu quê hương đất nước,
khát vọng tự do độc lập, niềm tin vào tương lai, nội dung và cách thức biểu đạt
cái tôi trữ tình trong những trường ca giai đoạn này được mở rộng và có xu hướng
thiên về hướng nội. Đó là cái tôi nhiều suy tư, thậm chí có cả không ít những
âu lo, bối rối trong thơ Trần Anh Thái: “Giông bão đổ về đâu/ Giận dữ đổ
vào đâu?”, “Ánh ngày về đâu?”… (Đổ bóng xuống mặt trời); “Lạc
Long Quân Người sinh ra từ đâu?”, “Đâu ánh sáng ban mai/ Đâu bụi nắng tinh khôi
khơi mở rạng ngời”, “Gió vì sao?/ Mây vì sao?”, “Họ đi theo đường nào?”, “Đỉnh ở
đâu?”, “Lửa soi đường nào?”, “Bạn tôi đi đường nào?”, “Người ở đâu/ Nơi kết
thúc chiều/ Nơi bắt đầu bóng tối”… (Trên đường); “Ngôi mộ xưa/
Con đường ký ức/ Con đường nào tổ tiên tôi đi”, “Vì sao nước mắt chị tôi rơi”,
“Mộ bạn tôi ở đâu?”, “Mẹ các anh ở đâu?/ Em gái các anh đâu?”, “Con đường bắt đầu
từ đâu?/ Câu hỏi vang bao thế kỷ/ Hạnh phúc thật con người?/ Mơ hồ đêm tối”,
“Con đường tới đâu?”… (Ngày đang mở sáng); những câu hỏi đầy băn
khoăn, hồ nghi trên hành trình mở cõi và giữ nước của cha ông trong thơ Phan
Hoàng: “Gió ơi, đất trời cao rộng bốn phương, / bay đường
nào con người bớt khổ đau?/ bay đường nào con người bớt nghèo đói?/ Bay đường
nào con người bớt phản trắc?/ bay đường nào con người tin được nhau?” (Bước gió
truyền kỳ)… “Chất vấn thói quen” gắn với xu hướng giải thiêng, giải sử
thi trong trường ca và văn học giai đoạn này là biểu hiện của ý thức cá nhân
trên hành trình kiếm tìm và giải mã những “băn khoăn bản thể”, một bản thể mang
yếu tính NGƯỜI từng bị quên lãng hoặc co lại tối đa trong văn học sử thi.
Cảm hứng thế sự, những
suy tư bản thể gắn với trạng huống hiện tồn của đời sống cũng là một chiều kích
mới trong tư duy về đời sống của trường ca sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới
1986. Con người hiện đại luôn phải đối diện trước nhiều hiện thực ngổn ngang,
phi lý khiến họ luôn cảm thấy hoang mang, thậm chí cô đơn, sợ hãi: “bây
giờ cò đứng mười chân/ ruộng mình cứ mất/ đất mình chẳng còn/ đành một chân run
run cánh đồng thoi thóp/co thắt từng ngày như miếng da lừa” (Thanh Thảo), “Chúng
ta bị dối lừa trong lời tụng ca rối rắm, giấc mơ vấy đục./ Gã hề lăng xăng sàn
diễn u mê”, “Không có gì là tôi nơi đây, không có gì thuộc về tôi ở thế giới
này” (Trần Anh Thái); “Những trang thánh kinh vàng ố/ Những
con dao ém trong chéo khăn/ Những chiếc lưỡi mọc xương/ Những mũi tên bắn lén/
Những khuôn mặt bịt kín/ Những vỏ đạn gỉ hoen mở mắt/ Những nét vẽ ăn gian trên
tấm bản đồ/ Những nét chữ đóng đinh vào lí lịch/ Những trái tim vừa được khởi động
sau phẫu thuật/ Những giọt nước mắt chẳng khô chạy nhanh về đất/ Cùng ngọn cỏ
hoàn hồn run run xưng tên…” (Mai Văn Phấn).
Trong một trạng huống đời
sống được cảm nhận với nhiều “rối rắm”, bất an thì việc tìm về và nương vào trầm
tích văn hóa và căn tính tộc người dường như là cứu cánh tinh thần giải đáp những
câu hỏi về tồn tại và khát vọng hoàn nguyên bản thể. Trong các trường ca Trầm
tích (Hoàng Trần Cương), Phồn sinh (Nguyễn Linh Khiếu),
đặc biệt sáng tác của tác giả dân tộc thiểu số như Cầm Hùng (Những người con của
bản), Vương Anh (Hồn chiêng gánh núi) (2008); Y Phương (Chín tháng, Đò trăng),
Ma Trường Nguyên (Mát xanh rừng cọ), Nông Thị Tô Hường (Hằn sâu trên đá), Hoàng
Chiến Thắng (Lời đá núi); Inrasara (Quê hương, Lễ tẩy trần tháng Tư)… không
gian văn hóa nguyên thủy, cổ xưa mang giá trị nguồn cội và chiều sâu của những
suy cảm văn hóa, vừa ôm chứa vấn đề lớn, đa dạng về cộng đồng dân tộc, tộc người
(lịch sử, phong tục, bản sắc…), vừa hướng tới câu chuyện, cảm xúc riêng tư cá
nhân, ở một số trường hợp có tính đại diện cho những vấn đề phổ quát nhân tính.
Hơn nữa, việc bám chặt,
khai thác chất liệu folklore đã góp phần tạo nên biểu đạt nghệ thuật vừa gần
gũi cụ thể, vừa độc đáo mới lạ ở không ít cây bút, đem đến sự phong phú, sinh động
của mĩ cảm trường ca thời này: “Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi/ Nặng nhọc một
bầu vú phì nhiêu như đất/ Nặng nhọc một bầu vú mọng căng như nước/ Đất Nước
sinh ra từ ngực người đàn bà/ Sau đó sinh ra làng quê xóm mạc/ Sinh ra tình
yêu” (Y Phương); “Trong sự khởi đầu khó nhọc này/ Các nguyên âm, phụ
âm làm thành từ mà tôi nhặt được. Từ/ lớp sỏi đá, đống gạch vụn. Từ/ Ngụ ngôn của
Đất/ đã tắm gội/ đã làm lễ Tẩy trần/ linga lingal lingam liwa langal/ vẫn cứ
trì hoãn/ như là thèm được chết trở lại./…” (Inrasara). Ngay cả ở một tác
giả trẻ như Lữ Mai, sự trưng dụng các lớp ý nghĩa của trầm tích văn hóa về “bùa
ngải”, “bùa yêu” (Ngang qua bình minh) cũng trở thành một tín hiệu thẩm mĩ mang
thông điệp về thân phận con người, thân phận phụ nữ trong dòng chảy thăng trầm
của lịch sử: “rồi chợt ta thấy mẹ/người suốt đời trồng ngải gọi bùa
yêu/vườn ngải già thành nơi trông cậy/sau cuối chỉ còn đắng đót giọt đau”; “Những
kiếp đàn bà nuôi ngải đắng gọi bùa/trò thiêng cũ phiêu linh theo đời lính/hạnh
phúc hình hài hoa bão táp/năm cánh trắng mong manh một phía xếp về…”. Sự kết
hợp một cách khéo léo chất liệu đời sống hiện thực và chất liệu văn hóa, tín
ngưỡng dân gian, từ đó mở rộng phạm vi và trường liên tưởng về hiện thực, sự cộng
hưởng của những cảm xúc suy tư, sự linh hoạt trong các thể nghiệm ngôn từ, thi ảnh,
giọng điệu cũng là dụng ý của những tác giả trẻ trong nỗ lực vượt qua rào cản
những cái quen thuộc đã thành khuôn mẫu thể loại.
3.2. Thể
nghiệm hình thức đa dạng
Có thể nói, sau làn sóng
đầu tiên định vị dấu ấn thể loại trên thi đàn những thập niên cuối cùng thế kỷ
XX, từ đầu TK XXI đến nay trường ca đã “trở mình” theo một tâm thức chung gắn với
cảm quan hiện đại (thậm chí hậu hiện đại) theo xu hướng “giải sử thi” từ thể
tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ.
Ở phương diện thể tài,
bên cạnh những trường ca tiếp nối nguồn mạch sử thi truyền thống về dân tộc,
nhân dân, lịch sử, người lính và chiến tranh cách mạng (có sự mở rộng chiều
kích hiện thực và nội dung trữ tình), đáng chú ý là sự xuất hiện của những trường
ca lấy cảm hứng từ vấn đề thế sự gắn với nhịp sống đời thường, hàng ngày. Chẳng
hạn trường hợp Thanh Thảo với trường ca Metro, Lê Minh Quốc với Hành
trình của con kiến, Nguyễn Quang Thiều với Lò mổ, … Sự xuất hiện
của chất liệu đời sống, một đời sống của những cái bình thường, thậm chí ngổn
ngang, bất toàn trong thể loại vốn có nguồn gốc sử thi là thể nghiệm phá cách mạnh
mẽ, táo bạo khuôn mẫu hình thức thể loại, kéo gần khoảng cách trường ca với nhịp
điệu, hơi thở cuộc sống đương đại. Ở các giai đoạn trước, rất khó để hình dung
những hình ảnh hiện thực trần tục kiểu như: “ầm ĩ phấn son/ mặt nạ hóa
trang/ ỏng à õng ẹo/ theo đóm ăn tàn/ xúng xang xúng xính/ võng giá nghênh
ngang/ đánh trống thổi kèn/ khua chiêng gõ mõ…” (Hành trình của con kiến)
lại có thể trở thành chất liệu nghệ thuật của trường ca. Thậm chí, ám ảnh từ…
lò mổ cũng có thể trở thành nguồn cơn cho những hình dung và suy tưởng đầy trăn
trở, day dứt, bất an về đời sống và bản thể: “- Con bò nào sẽ khóc? –
Con bò nào nguyền rủa ta?/ – Ta đang đi về đâu?/ – Đêm nay ta có đến được cái
chết như những con bò ta từng giết?/ – Ai đang gọi tên ta/ Trên những cánh đồng
quen thuộc? – Ai đang đợi chờ ta/ Nơi bến bờ cuối cùng của đau khổ?”. Trong
bài viết Tản mạn về trường ca, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng từng thẳng thắn
chia sẻ quan niệm của ông về việc “trường ca Việt Nam phải trở về với đời thường,
với những số phận con người của thời hiện tại” như một đòi hỏi rốt ráo để tự
làm mới mình và chinh phục độc giả hiện đại. “Trường ca phải được đông đảo bạn
đọc đón nhận thưởng thức chứ không chỉ viết cho một số bạn văn và nhà phê bình
phạm vi hẹp. Con đường đến với độc giả rộng rãi chính là con đường đa dạng hoá
trường ca, con đường đi gần với nhiều truyền thống nghệ thuật trên thế giới để
vượt lên chính mình”.
Xét từ phương diện cấu
trúc, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính phi thời gian, phi cốt truyện trong nhiều
trường ca giai đoạn sau 1975 là một biểu hiện của đặc điểm trường ca hiện đại
theo đúng quy luật vận động của trường ca thế giới mà ở đó “nguyên tắc trữ tình
lấn át nguyên tắc tự sự”. Sự lựa chọn này trong nhiều trường hợp, là một chủ
đích nghệ thuật phản ánh nội lực và tham vọng nới rộng biên độ thể loại khi vỏ
hình thức cũ dường như đã trở nên chật chội. Việc sử dụng thể thơ tự do/thơ văn
xuôi với sự phá cách về cú pháp, sự xâm phạm nguyên tắc chuẩn mực truyền thống
của tiếng Việt để tạo nên những “văn bản bất thường” cũng là hiện tượng khá phổ
biến làm nên tính chất “tân kỳ hình thức” của trường ca giai đoạn này so với
các giai đoạn trước. Một trường hợp điển hình là trường ca Phồn sinh (Nguyễn
Linh Khiếu) có dung lượng “ngoại hạng” (dài tới 710 trang, hơn 13 nghìn dòng,
hơn 163 nghìn chữ) nhưng toàn bộ trường ca ngay từ dòng đầu tiên cho tới dòng kết
thúc là một sắp đặt văn bản và ngôn ngữ phi truyền thống: không có bất kỳ dấu
chấm, dấu phẩy hoặc các chỉ dẫn ngắt câu, đoạn nào. Tinh thần cách tân và sự
quyết liệt phá cách trong tiếp cận đời sống, kiến tạo cấu trúc, xây dựng hệ thống
hình tượng/biểu tượng, ngôn ngữ cũng là đặc điểm thuộc về phong cách trường ca
của Thanh Thảo, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Nguyễn Linh
Khiếu, Phan Hoàng, Lê Minh Quốc… tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của cảm thức
trường ca hiện đại.
Những tìm tòi, đổi mới, kết tinh của trường ca Việt Nam sau 1975 như phác thảo ở trên đều được khơi mở, “gợi ý” từ thế hệ trước 1975 (Nguyễn Đình Thi, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, …). Vì thế, có thể hình dung quá trình này như một cuộc “chạy tiếp sức” của nhiều thế hệ, với những lớp sóng thi ca không ngừng gối nhau tạo nên dòng chảy lúc âm thầm, khi mãnh liệt nhưng chưa bao giờ ngưng nghỉ, đứt quãng của trường ca Việt, góp phần làm nên diện mạo phong phú của đời sống văn chương và thơ ca Việt Nam hiện đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1/ Nguyễn Văn Dân, “Trường
ca với tư cách là một thể loại mới”, Tạp chí Sông Hương số 230 tháng
4/2008/tapchisonghuong.com.vn/
2/ Lê Bá Hán – Trần Đình
Sử – Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục,
H.
3/ Hoàng Ngọc Hiến
(1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo Dục, H.
4/ Trần Đình Sử, “Tản mạn
về trường ca”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 700, tháng
7.2009/vannghequandoi.com.vn 24.7.2009
5/ Đỗ Thị Thu Huyền, Đôi
nét về trường ca của các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại,
http://vannghequandoi.com.vn/.
6/ Đỗ Quyên, Trường ca:
tác giả và tác phẩm,
http://vanhoanghean.com.vn/.
7/ Chu Văn Sơn, Thanh Thảo
với trường ca, nguồn: https://nguvan.hnue.edu.vn/.
8/ Octavio Paz –
Kể, hát, bàn về thơ trương nở, (Nguyên bản tiếng Tây Ban Nha. Nguyễn Quốc
Trụ chuyển qua tiếng Việt từ bản tiếng Anh, của Helen Lane, trong The Other
Voice, Essays on Modern Poetry, nhà xb Harcourt Brace Jovanovich, NY,
https://tienve.org/.
24/12/2024
Đỗ Thị Thu Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét