Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Lê Miên Khương, thơ như chung thủy một Hồn Xanh với Mùa thu muôn thuở

Lê Miên Khương, thơ như chung thủy một
Hồn Xanh với Mùa thu muôn thuở

«Les limites de mon langage signifient les limites de mon monde»
(Những giới hạn ngôn ngữ nơi mình đều có nghĩa là những giới hạn chính cái thế giới của ta) - Ludwig Wittgenstein
(Tractatus logico-philosophicus, 1921)

Có thể bạn không thích thơ, nhất là thơ tình. Vì thấy nó viễn vông, thậm chí phù phiếm lạc điệu quá chăng, giữa thời buổi giá trị hoàn toàn đảo lộn: thế giới gãy vỡ, máu lửa chiến tranh, thiên tai địch họa lan tràn mà con người thì lắm kẻ còn đi tôn bọn thô bỉ lên ngồi đầu thiên hạ, xưng hùng xưng bá trên sự giả trá cuồng bạo, chà đạp nhân phẩm, tiêu diệt đồng loại, phá hủy thiên nhiên cùng cả bao thành quả văn minh nhân loại?
Hoàn toàn thông cảm với bạn.
Thế nhưng, nếu thử một cách “nhìn ngược” bức tranh vân cẩu hoen ố này đi, biết đâu ta lại chẳng khám phá ra nhiều điều mới lạ, góp phần thanh lọc tâm trí, triệt tiêu những độc tố lây truyền trong cuộc sống hôm nay? Hãy để Lê Miên Khương vén mở cùng ta những khung trời khác ấy, trong số những trải nghiệm nhân sinh phong phú, đáng được chia sẻ – và có lẽ cũng thuộc vào hàng những mỹ cảm thanh tao, sâu lắng nhất – của anh!
Cách đây đúng một con giáp, đầu năm Quý Tỵ, Lê Miên Khương đã ra mắt giới yêu thơ với Thi tập đầu tay, Đóa Tinh Tuyền Dâng Mẹ 1. Rồi tiếp theo là Thi tập 2, Em Thánh Thiện Dạy Tôi Đôi Điều2.
Lần này, anh đĩnh đạc trình làng cùng lúc hai ấn phẩm Mùa Thu Của Anh [MTCA]  Hồn Xanh Màu Nước Biển [HXMNB]: một thành tích đáng nể, đặc biệt với sự đều tay, hiệu quả (như chính cái sinh hoạt bóng bàn gạo cội hàng tuần – bao gồm cả tham gia thi đấu liên vùng xứ Pháp – của một Bùi Chưởng phong độ, thong dong vượt ngưỡng cổ lai hy đã từ nhiều năm nay rồi này).
LỐI VÀO
Thơ như biểu hiện của tự do và hành trình mỹ học 
Hồn Xanh ư, bạn hỏi? Vâng, cái màu ấm áp, mặn mà, của một biển Thanh Bình Đà Nẵng đã nhập tâm nhà thơ từ thuở nhỏ.
Thế còn Mùa Thu? Đó là mùa của những xao xuyến, vấn vương, ngân lên theo từng sợi nắng tơ vàng lửng lơ trong khu vườn ký ức…
Bất luận nhằm lúc anh đang đứng trên xứ này hay miền nọ, cái-trong-tôi hòa nhập với không gian trước mặt trong mỗi thời khắc, làm thành một cõi riêng huyền diệu: vừa đậm đà chất Quảng quê hương, vừa giông giống một cái gì khác khó phân định – bởi cõi ấy hãy còn liên tục chuyển hóa, với bao thành tố sung mãn dồn lại, đâm hoa kết trái, chối từ mọi sắp xếp cắt chia hay định hình giới tuyến –; tất cả cứ thư thái lướt đi, lãng đãng như hồn thơ, trong một chuyển động rộng mở, sẵn sàng giao thoa, bắt nhịp tương cầu với tri âm bốn biển.
Vậy là đủ. Màn đã mở ra trên sân khấu thơ dựng sẵn, chan hòa dưới ánh sáng mùa trăng năm cũ. Cảnh trí, kịch bản đều hoàn chỉnh, gói ghém nuối tiếc lẫn đam mê nhưng vẫn giữ trong chừng mực, như lời thổ lộ thốt lên từ trái tim chân thật này:
“Viết gởi em một bài thơ xứ Quảng
Có sông Hàn lững thững chở phù sa
Và trong tôi vẫn ôm bóng Sơn Trà
Qua năm tháng hồn xanh màu nước biển…” (HXMNB, tr. 34)
Tiếp cận với thơ Lê Miên Khương, trước tiên, là đi vào thế giới những rung động tình cảm cố điển, thuần túy đó. Là bắt gặp tiếng thì thầm của tình yêu trên những cung bậc thanh trinh, phi nhục cảm3. Bức tranh nghệ thuât của anh, vì vậy, sẽ chỉ trình hiện rõ nét khi nào tâm hồn kẻ thưởng ngoạn đã được dọn mình để đạt tới mức thật sự yên lắng.
Ta vừa nói tới tri âm bốn biển, nhưng nào chỉ có thế: bằng cú gõ thi thoại thần chú, nhà thơ đã mở được cánh cửa chắn ngang mọi vũ trụ, kể cả vùng không gian tít tắp những thiên hà huyền diệu, nơi bay bổng tinh anh những con người vĩ đại chàng hằng ngưỡng mộ. Từ đó, dễ hiểu vì sao Lê Miên Khương đặt tên Thi tập 3 bằng ngay chính cái tựa bài thơ văn xuôi – trong số những sáng tác hẳn là đắc ý nhất (lại thêm được chuyển sang Pháp ngữ bởi một Marina Prévot4 tài hoa) –, mà tác giả đã đặc biệt dành để đề tặng thi hào Rabindranath TAGORE, bài đáng đọc một mạch từ đầu đến cuối ngay đây, cho khỏi mất đi bất cứ chút hương vị nào:
“Một sáng mùa thu, đứng bên hàng dậu trà nhà em, anh thấp thoáng nhìn em không dám gọi. Chỉ thấy em đi qua đi lại nhẹ nhàng dưới giàn hoa thiên lý. Mùi hoa tinh khiết dịu dàng tỏa thơm cả một vùng trời, gọi bướm ong về hút nhụy, đem hương dâng cho đời tươi đẹp. 
Nhà em ở cạnh con sông, có dậu trà xanh để anh đứng đó gieo lòng theo gió cuộn. Làm sao em biết được tiếng gọi của tim anh?
Một chiều mùa thu, đứng dưới bóng hàng cau, anh thấy em soi gương chải tóc. Tóc em mượt mà, bồng bềnh như mây đang trôi trên bầu trời. Anh muốn cài lên tóc em một nài hoa hướng dương, như để níu kéo mặt trời không cho lặn xuống cuối chân trời bên kia triền núi.
Nhà em ở cạnh con sông, có hàng cau cao vút để anh đứng đó dâng hồn theo mây trôi. Làm sao em hiểu được tiếng thổn thức của lòng anh?
Một tối mùa thu, đứng bên hàng hoa râm bụt, anh thấy em thong gót trên bờ sông quê mình. Ánh trăng rằm soi từng bước em đi. Giọng em hát lên, như nói chuyện với các vì tinh tú trên cao xa đang chiêm ngưỡng em. Những con đom đóm như bị em thu hút, bay vờn quanh chân em, soi đường cho em đi vì chúng sợ ánh trăng cô liêu không đủ sáng.
Nhà em ở cạnh con sông, có hàng râm bụt đỏ để anh đứng đó dâng lời ước nguyện cho trăng sao. Làm sao em biết được có một người đang khóc dưới bóng trăng?” (MTCA, tr.5-6)
Thơ ở đây chạm cả tới trăng sao. Và cuốn trọn hồn người.
Tự bản chất, thi ca vốn thuộc một bình diện cao vời, nên mỗi khi phải ngụp lặn với đời, nó luôn luôn đi ngược con sóng bản năng. Nó chắt lọc tối đa cái khả sắc (le sensible) hiện tượng, để chỉ giữ lại phần cốt lõi được xem như vĩnh viễn tồn tại, tích lũy mọi sự đồng quy trên một nẻo về của Ý là nơi – nói cho cùng – tiếp giáp thâm sâu với bầu trời triết luận Platon truyền thống: chưa bao giờ tình yêu lại sát gần với cái khả tri (l’intelligible) đến như thế!
Nơi nhà thơ, động tác đi tìm cái nhân khởi phát rung động này bắt nguồn từ chỗ biết suy tưởng – mà chỉ con người mới có được – nhờ vào một phẩm tính nhân văn cao quý, thường được tin là do tạo hóa ban cho (hoặc được nêu ra như một định đề 5): sự tự do. Tự do, trong ý nghĩa triết học ở đây, là đối cực với tất định (déterminisme) – tức cái lẽ vô hình chi phối, điều khiển mọi sinh vật trừ con người – nhưng không đối nghịch với tất yếu (nécessité) 6: khác với thú, người biết tự-bứt-mình (s’arracher) ra khỏi những điều kiện nguyên sơ dính chặt với muôn loài nói chung, bằng cách cưỡng lại mệnh lệnh tự nhiên của «xung lực sinh học» trỗi lên trong cơ thể, biết lấy khoảng cách với chính mình, với thực tại, để chẳng những nắm bắt cái hiện hữu mà còn làm cho nó khởi sắc, giàu thêm lên, thoát ra ngoài quỹ đạo của sự vật tầm thường, nhờ một khả năng kỳ diệu mang tên sáng tạo.
Khái niệm tự do hiểu như đặc trưng nhân tính nền tảng này, nhân loại hằng cảm nhận từ lâu nhưng đã phài chờ đến sự xuất hiện của một Jean-Jacques Rousseau7– rồi Immanuel Kant– để được lập thuyết hoàn chỉnh, tức cũng ngót ba thế kỷ sau những nhận định khai sáng chủ nghĩa nhân bản của Pic de la Mirandole 8, mà nội dung là sự tích hợp và triển khai các tiền đề do Protagoras 9 khởi lập từ thời cổ đại…
Như vậy, một đằng, tự do thực chứng chất người và, đằng khác, Nàng Thơ chỉ xuất hiện khi nào có mặt tự do. Sáng tác của Lê Miên Khương, vì thế, không thể là trường hợp ngoại lệ. Chỉ cần đọc hết thơ anh, không bỏ sót bài nào, ta sẽ nghiệm ra cái may mắn vô bờ của anh, cũng như của những nhà thơ nói chung: mỗi câu chữ chắp cánh cho ý tưởng – và qua đó là trọn vẹn cả tâm hồn – vượt thoát được cái-thường-nhật xung đột, chật hẹp, mâu thuẫn, cái-chung-quanh ô uế, bạo liệt, suy đồi.
Nhưng vượt thoát không có nghĩa là chạy trốn hay bịt mắt, quay lưng – cho dù thực giới (le réel) có gớm ghiếc, bất kham, đến mấy –, mà là dám ôm choàng, sờ chạm, mổ xẻ, soi rọi nó. Là giải được bài toán hiện sinh. Là khai lối cho dưỡng khí siêu nghiệm (transcendance)10 xuyên sâu vào từng mao quản li ti đến nuôi các tế bào sự-thể-cuôc-đời. Biến chúng thành một thứ hạt báu lượng tử tương đương nào đó mà ta cứ thử hình dung là đang trong trạng thái sẵn sàng thiên biến vạn hóa, kể cả qua cái cơ chế tạm gọi là cảm ứng lượng tử (intrication quantique) 11 đi chẳng hạn, như vật lý ngày nay hay nói tới – biết đâu chừng cũng là rất khả thi trong trường hợp này? –, cho phép chúng hợp với đám hạt đối tác ở mọi góc bể chân trời để nhất cử nhất độngđồng thanh tương ứng, đến tận cùng thỏa chí hả hê!
Để tiếp tục một nghiệp mới. Tức cái hành trình máu thịt, căng tròn sinh lực bản ngã, diễn ra – nếu không ở chính thực giới thì cũng đâu đó, trong một thế giới khả thể song song đầy ma lực –, với những sắc màu, hương vị sực nức mới toanh, điểm tô tới bến”, cho ngay cả những sự kiện khiêm nhường nhất mà chủ thể có lần sống qua.
Chính xác đó là điểm hẹn. Là lằn mức đến, chỗ tai nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm sau quá trình thai nghén cam go: nơi rộ nở tác phẩm chào đời.
DÒNG TỰ SỰ
Thơ như mặc khải tình yêu và chiều sâu cuộc sống
Tác phẩm Lê Miên Khương đã rộ nở như thế, trên kỷ niệm học trò cùng những mối duyên tao ngộ – bất luận là câm nín hay bộc trực – giữa dòng đời. Khi thì theo bước hành hương trên các nẻo đường đất nước, khi thì trực chỉ đến từ những trải nghiệm thường nhật.
Chất lãng mạn không chối cãi trong mỗi câu anh viết là nhân tố thăng hoa, cho dù có thể không nhất thiết được độc giả chia sẻ hết: tán thưởng hay không là tùy tạng người, song cái chân chất trong thơ anh vẫn là hằng số. Không câu nệ hình thức, có khi bất chấp niêm luật hoặc thậm chí ngay cả vần điệu: cái chính là mạch thơ, là tâm tình thôi thúc. Vì vậy, thơ anh thường lóe lên hiệu ứng vừa như gương soi cho chính bản thân, vừa là hoa đóa tặng đời.
Trước cảnh trời thu xa vắng, Lê Miên Khương tư lự, trầm ngâm, chạnh lòng nhắn hỏi:
“… Mùa thu về em có xốn xang
Chim non rời tổ bỏ thiên đàng
Không gian vàng chứa màu thương nhớ
Tiếc chuyện chúng mình nay dở dang…” (sđd, tr.13)
Ngay khi ấy, mồn một hiện về là chuỗi dài những hình ảnh, rất đích thực và riêng tư của tác giả đã đành, nhưng đồng thời cũng lại dễ trùng hợp với chứng tích trên trang đời của bao kẻ khác, nên ta chừng như đứng trước một chùm những sự kiện phổ biến, gắn liền với bất cứ mái trường xưa nào, ở vào cái giai đoạn mà có người đã không ngần ngại chỉ định bằng ngoa ngữ thời học sinh thần thánh:
“… Kỷ niệm xưa lung linh màu thổ cẩm
Mảnh voan quàng trên mái tóc thơm hương
Cánh bướm vàng ngẩn ngơ tìm hoa nở
Tuổi học trò xanh mộng ấp mùa thương…” (HXMNB, tr.37)
Tình yêu ở tuổi đó, dù vu vơ nhẹ hẩng đến mấy, vẫn không dễ phai nhạt như người ta tưởng. Huống hồ chi trường hợp của anh! Cho nên, hãy ghi lấy ngay đây lời khẳng định của nhà thơ, trước khi theo tiếp câu chuyện kể, để thấu rõ ngọn ngành:
“… Nếu ai hỏi màu phượng xưa còn đỏ
Mái tóc xanh nay lấm tấm bạc vàng
Màu nhung nhớ triền miên tình thứ nhất
Cất giữ hoài chống chọi với thời gian!” (như trên)
Lê Miên Khương không dấu diếm. Anh trân trọng lật từng trang tình sử thanh xuân trong tư thế chiêm nghiệm, nghĩa là chủ ý chạm tới cho được cái nguồn nghệ cảm ẩn sau mỗi sự việc giờ đây đã hết còn là thầm kín riêng tư giữa hai người, mà nghiễm nhiện đạt tới cái quy chế khách quan phổ quát của một đối tượng văn học hay mỹ học, nằm ở một khoảng cách nhất định tách ra ngoài chủ thể: mỗi trang ấy đã hóa thân thành tác phẩm. Mô thức này tương ứng với một quy trình làm tái hiện, dưới một ánh sáng mới, bất cứ thực thể vốn sống nào của người cầm bút hay làm nghệ thuật nói chung.
Trong trường hợp cụ thể ở đây, nó dẫn tới ít nhất ba hệ quả tích cực: một là tạo sự tương thông12 nơi độc giả; hai là hóa giải mầm ghen tuông tình cảm (khả dĩ có thể nảy sinh – dù bé nhỏ tới đâu – nơi người bạn đời tác giả chẳng hạn trước mẫu chuyện này hay giai thoại kia), và ba là giải phóng tâm tư làm nhẹ gánh cho người trong cuộc chủ yếu là tác giả, một khi đã hoàn thành cuộc «lột xác phân thân», đã nghiễm nhiên gửi gắm xong xuôi, bàn giao hết thảy cho… những nhân vật trong tác phẩm. Một thứ catharsis13, trong chừng mực nào đó, nếu phải mượn thuật ngữ của Aristote chỉ một khái niệm đặc thù đã tồn tại lâu đời trong kịch nghệ cổ điển Hy Lạp…Riêng hệ quả thứ ba này, tự nó, lại sẽ dẫn thêm tới những nguồn cảm hứng mới cho nhà thơ, mà ta sẽ bàn đến sau.
Trở lại với mối tình thơ ngây mà tác giả hằng ấp ủ, hãy biết rằng nó được đánh dấu bằng một tin vui khi chàng tuổi trẻ nhận được học bổng du học (một ngày cuối thu 1968), đến giã biệt người yêu với tất cả tin tưởng ở ngày mai tươi sáng:
“Xin chào nhé người em xinh mười tám
Tôi lên đường xin tạm biệt quê hương
Em ở lại có vầng trăng sáng rỡ
Và sao trời như ánh mắt tôi thương…” (sđd, tr. 39)
Dĩ nhiên, như trong bất cứ cuộc chia ly nào ở lứa tuổi đời còn xanh mướt – dẫu có nghĩ là chỉ tạm thời ngắn hạn –, những hạt lệ trong ngần từ người con gái khi ấy đã tuôn rơi. Dường như để lại nơi trí tưởng chàng trai hình tượng dấu vết một mối tình ghi bên giếng ngọc, đẹp như đến từ câu chuyện cũng lắm «khúc tơ vương» của một Mỵ nương huyền thoại:
“…Trong niềm vui đã âm thầm tiếng khóc
Một đời người được mấy khúc tơ vương…” (nt)
Năm tháng trôi qua. Chàng vận dụng trí nhớ để thêm hơi tiếp sức nuôi dưỡng niềm tin và có lẽ cũng để nhắc ngay cho cả chính mình:
“…Tôi bên đây vẫn mơ về bên ấy
Dưới vòm trời chung một ánh sao băng…” (nt)
Thế rồi, trong một chuyến về thăm quê hương sau bao nao nức đợi chờ, khi người con trai dừng chân ghé lại thì, như một cơn gió phũ phàng quất mạnh – và chủ thể, dẫu bất ngờ trái ý, vẫn bản lĩnh đối đầu nghịch cảnh, đặc biệt qua cách lấy độ lùi và diễn tả bằng thì quá khứ –, việc gì đến đã đến:
“Ðường xưa lối cũ trở về
Ðâu còn bóng dáng tóc thề ngang vai (…)
Dẫu mình không được tri âm
Không duyên nợ cứ âm thầm chia xa…” (MTCA, tr. 75)  
Rồi tiếp theo, dĩ nhiên, là nỗi dày vò, tiếc nuối, pha lẫn với đôi chút ngẫm ngợi:
“Ðường trăm ngả lắm phôi pha  
Chiều nay bỗng nhớ người ta rất nhiều!
Người ấy nhớ ta bao nhiêu?  
Gia thất an phận, bao điều lo toan!... ” (nt)
Hai tiếng “người ta” mang nồng độ đắng cay, chua chát – ngầm chứa cả đôi chút mâu thuẫn nữa –, ngược hẳn với từ ngữ thường gặp của Lê Miên Khương: hình như trong toàn bộ các tác phẩm, nhà thơ chỉ duy nhất dùng có một lần ở đây. Rồi anh vội vã tuyên bố ngay lời chấm dứt:
“Tại vì duyên nợ dở dang  
Tôi xin thắp một nén nhang cho tình.” (nt)
Nhưng làm gì dễ được như thế! Mà, đúng ra, anh cũng không phải là ca riêng lẻ: thời của anh, những năm thập kỷ 1960, thường vang dội trong tâm tư người trẻ nhiều cuộc tình dang dở đã trở thành bất tử qua nghệ thuật. Ta có thể kể đến những giai điệu rất được ưa chuộng của một Từ Công Phụng xuất hiện trên sân khấu văn nghệ miền Nam khi ấy như ngôi sao sáng rỡ:
“…Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài…” (Bây Giờ Tháng Mấy)14
Hoặc, trước đó hơn một chút, là câu chuyện tình học trò của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà – với câu xưng tụng nổi tiếng "Lạy Chúa! con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên trời” –, cũng đã được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Anh Bằng:  
“…Sau mười năm lẻ, anh thôi học                                                          
Nức nở chuông trường, buổi biệt ly…” (…)                                              
“…Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng…”(Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím)15
Lê Miên Khương cũng “tình thơ ủ kín” như vậy, theo cách của riêng anh. 
Đầu tiên, đó là những hoài niệm, lung linh theo thứ ánh sáng kỳ diệu đến từ sự thủy chung với mộng mơ tuổi trẻ, với cái Đẹp muôn đời:
“Nhớ ngày bướm đậu trên tay
Trong em hoa nở và mây bay về
Phủ trên vai nhỏ tóc thề
Ngõ hoa che lối, đường về quên tên!” (MTCA, tr.54)
Người đọc khó tính có thể cho là quá theo ”hình mẫu”. Nhưng nếu nó là thật, thì sao?
Không thật với mình, với kỷ niệm xưa giàu chất khơi gợi, thì tác giả khó lòng viết được những câu đầy ám ảnh như:
“…Bao năm cách trở vườn tao ngộ
Còn dấu chân người trên sỏi thưa?” (MTCA, tr. 73)  
Sỏi đá cũng trở nên có linh hồn: vừa làm chứng, vừa ngóng theo, truyền đi cái thông điệp đợi chờ.
Về nghĩa, tại sao sỏi chẳng lan tràn khắp lối mà lại phải “thưa”, nếu không là để đồng dạng với một ngoại cảnh rã rời, lãng quên, hoang phế?
Về âm, từ “thưa” – vần bằng, không dấu (phù bình thanh) –, nếu đem so với một từ khác tương đương nhưng mang dấu huyền (trầm bình thanh) chẳng hạn, thì sẽ càng làm nổi bật sự chọn lựa khéo léo của nhà thơ, bởi nó có độ ngân xa hơn hẳn. Như âm hưởng nỗi nhung nhớ của người trong cuộc…
Trong một bài khác, anh đã thể hiện tâm trạng mình, qua những hình ảnh rất ư cố điển mà vẫn cứ hay:
“Chiêm bao em có gọi tôi?
Mà sao choàng giấc tim côi nhói buồn
Ra vườn thấy một sao buông
Tưởng hồn rơi rụng giữa muôn trùng sầu.” (sđd, tr.44)  
Nói thật, thơ thì nhiều người xuất bản lắm đấy, nhưng hình như ít ai có được cái tứ và từ giống Lê Miên Khương, như ta sẽ hoan hỉ nhận anh trao qua nhan nhản những ví dụ này:
“…Vườn quỳnh đêm thơm như cổ tích…” (sđd, tr. 13) (…)
“Trong tôi cũng thấy bồn chồn
Cho tôi mượn nụ hôn đầu của em!?” (HXMNB, tr.33) (…)
“Ai đo hạnh phúc bằng năm tháng
Hạnh phúc tôi đo bằng phút giây
Cái nhìn người tặng tôi hôm đó
Là một trời thơ lúng liếng đầy…” (sđd, tr. 85) (…)
“Khoảnh khắc vàng rơi nghe rất êm
Lá rơi lặng lẽ dọc bên thềm
Anh xa đâu biết màu thương nhớ
Hoa của lòng em nở giữa đêm…” (sđd, tr. 45)
Cũng thế, người đọc cảm thấy cứ như bị bần thần, tái tê, trước những khổ thơ đứt ruột, bay xa rồi lại dội về, quyện khắp không gian, dù giữa núi cao trời rộng hay chỉ khung lại nơi vườn xưa xóm cũ:
“…Góp lửa hong tình cho ấm thêm
Vì mùa đông tới sẽ không em
Mây buồn trên núi không thèm khóc
Tôi mất em rồi đời trống không!” (sđd, tr.68) (…)
“…Vẫn biết mình cần có nhau
Mà sao mỗi ngả thầm đau mỗi người !” (sđd, tr.32) (…)
“…Luống cà đã tím ở vườn sau
 Thương lũ gà con liếp chiếp kêu
 Nhớ nhung có phải như tầm gởi
Trên da thịt buồn, cộng hưởng đau?” (sđd, tr.61)
Nói không ngoa, vẫn cái đặc điểm tứ và từ vừa đề cập bây giờ cứ tiếp tục… “tái bản”: chẳng đúng đó sao – cái đập vào mắt ở đây chính là một điều rất tự nhiên –, hễ cho tầm gởi đứng bên cộng hưởng, thì hiển nhiên chúng sẽ ghép thành… cộng sinh (symbiose)?
Sự tinh tế trong nghệ thuật ”nhả chữ” của nhà thơ còn dễ nhận ra vào những lúc anh ngân nga “tức cảnh sinh tình”, cho ta cái cảm giác như anh nhìn xuyên thấu được tới bản thể:
“…Tôi đi tìm lại dòng sông
Đò ngang bến đợi ngóng trông ai về
Giọt thương giọt nhớ mẫn mê
Mộng du tôi vẫn ngô nghê suốt đời…” (sđd, tr.19)
Và “cảnh” trước mắt ở đây thì được chàng dựng lại tuyệt đẹp bằng một kiến tạo tinh vi – có viễn có cận –, đặc biệt với hai nhân tố hình ảnh (“lá sủi tăm”) và âm thanh (“chuông luân hồi”) vượt trội, như hai cột trụ mỹ từ pháp nâng cao ý tưởng:
“…Người ơi nơi chốn xa xăm
Có nghe lá đổ sủi tăm giọt buồn
Hạnh ngân vàng trải đồi truông
Vượn nai còn nhớ tiếng chuông luân hồi?” (nt)
Ngần ấy duyên nợ dan díu với quá khứ như vậy, mà rồi cuối cùng anh vẫn rời được cái “nghiệp” cũ đó. Và thành tích giữ vẹn “tình thơ” của thi sĩ, trên thực tế, cũng có nghĩa là sự giải phóng con tim về chân trời những gặp gỡ mới với những rung động vẫn hồn nhiên tươi tắn như thuở ban đầu!
Có lúc “sự kiện” chợt đến, tức thì và ngay tại chỗ – chiếm lĩnh khoảng thinh không trước mặt –, rúc rích ra tiếng, dạt dào thành hương:
“…Em cười với ai, hoa muốn ghen
Má lúm đồng tiền, răng khểnh thương
Ngàn sao anh đổi hai ánh mắt
Và dòng suối tóc bồ kết hương.” (MTCA, tr.25)
Nhưng trong đại thể, nó trầm lắng hơn thế – đôi lúc lại xuất hiện dưới dạng những câu nghi vấn –, vì có lẽ bị tác giả ghìm giữ, từ sau cuộc tình bất thành ta đã biết trên:
“…Em, tôi chung một con đường
Mà sao cuối nẻo mù sương vẫn còn (…)
Tháng Mười se sẽ ngón sua
Hương luồn vào sợi tóc xua lá vàng
Hồn tôi gieo hạt đất hoang
Bao giờ gặt hái mùa màng vườn em?...” (HXMNB, tr.33)
Lời lẽ đã bớt tính khẳng định, nhưng bức tranh chương mới thì vẫn còn cố định trong những môtíp quen thuộc của chàng:
“…Cúc hoa trải thảm dịu êm
Mời em nâng bước, bên thềm tôi mong
Trời xanh xanh mắt em trong
Lòng tôi lay lúng chênh chông lụa vàng
Tà ơi gió mãi đi hoang
Chiều thu nắng rụng lang thang cuối trời…” (sđd, tr.35)
Nhìn kỹ, có lẽ chỉ là do tâm tính thận trọng và phong cách “hiền nhân” của tác giả đó thôi. Chứ cái khác – và mới hẳn – bây giờ là việc nhiều đối tượng cùng tình huống bất ngờ, lạ lẫm, cứ ùa tới. Như chuyến ngao du cụ thể “được mùa” qua vùng cao nguyên này, là một:
“Lần đầu tôi đến Ban Mê
Đường đi đất đỏ cà phê xanh rừng
Từ đâu tiếng nhạc tưng bừng
Chập chờn bướm nhỏ vui mừng chào tôi
Hỡi cô sơn nữ đỏ môi
Đường xa bao dặm núi đồi Buôn Đôn? (…)
Rượu cần ấm, quán nướng nem
Một ngày: lạnh, ấm. Êm đềm Ban Mê
Thật không: đi dễ khó về?
Từ cô tiếng hát đê mê trong lòng.” (MTCA, tr.43)
Ở đây, nhờ ngôn ngữ và nhịp điệu, thơ đã hóa nhạc. Nhạc ư? Thật đúng lúc, để bước sang cuộc “tương phùng” giữa chốn phồn hoa đô hội, nơi cô “ca sĩ đường phố” Thanh Hiền16 tình cờ đã lọt cặp mắt xanh thi sĩ:
“À ơi em ngủ cho ngoan
Anh dâng là lụa trải choàng thân em
Một vì sao lạc rời đêm
Hóa thân thành bướm đậu vào tóc em
Em xinh hương tỏa bên thềm
Anh ngây ngất mộng trong đêm tương phùng
Rồi đây trong cõi mông lung
Có đôi chim nhạn nghìn trùng xa bay (…)
Tôi đi đôi bàn tay suông
Nụ hoa chờ nở trên vuông đất gầy
Người về còn giữ thơ ngây
Ðể mộng đẹp vẫn bủa vây tôi hoài!” (HXMNB, tr.110-111)
Bốn câu cuối chân thành, gương mẫu, đáp đúng mọi chờ đợi. Thơ trẻ hóa con người, xóa nhòa đường biên tuổi tác. Song song đó, cái Đẹp cho phép vượt nhiều rào cản, đồng thời cũng thắng cả những động lực mâu thuẫn, trần tục, thường tình: Thơ không chỉ giải phóng như đã nói trên, mà còn tạo ra được sự chế ngự, bởi người thơ đích thực không ham sở hữu (avoir) mà chỉ muốn hiện hữu (être).
Nghe có vẻ lạ tai, nhưng hình như chính nhờ có nàng Thơ, chàng Miên Khương chúng ta mới đạt được mức “tiết chế” ấy, đến độ chấp nhận tình yêu ngay cả khi biết nó… không đi tới đâu nữa:
“…Yêu đương cung bậc trần gian
Kén chọn cho lắm cũng tan cuộc tình
Rồi mình trở lại với mình
Hư không buông trả, lặng thinh với đời
Trăm năm hứa hẹn bao lời
Cũng bay theo gió về nơi ngàn trùng…” (sđd, tr.50)
Hoặc, khi cần, chàng biết tự tạo cho mình một lớp vỏ cứng, một thứ triết lý song song, giúp chủ thể đứng vững vàng trong tư thế sáng suốt:
“…Tôi ơi một cánh sao rơi
Hãy ôm vào mộng mà chơi với tình
Nếu thương hãy tự thương mình
Chứ không mơ tưởng cuộc tình trăm năm!...” (sđd, tr.19)  
Một quan niệm hợp lý để bảo toàn tự do cá nhân, đạt mức «an nhiên tự tại» lý tưởng? Hay đúng hơn, chỉ đơn thuần là sự sòng phẳng tự nhiên, một khi con người đã tỉnh táo:         
“…Hết rồi một thuở đam mê
Yêu thương đa tạ. Trả về ngày xưa!” (MTCA, tr.50)
Thưc ra, đây chỉ là nghịch lý: đối với một tâm hồn nghệ sĩ, làm gì có chuyện hết đam mê! Nhưng may là Thơ – nhờ vào cái Đẹp – có khả năng hóa giải được cả những đau khổ phát sinh từ tình yêu bằng sự nâng tầm cảm thức, gạn lọc cảm quan: tác giả đã chứng minh điều đó qua nhiều bài. Chẳng hạn, khi thất vọng, lời vẫn “giữ nếp” thanh lịch dù có buồn (hai tiếng“tình khờ” nghe thật dễ thương!), để rồi kết thúc bằng một đóm sáng tích cực ở cuối đường hầm:
“…Em hôm nay quá xa xôi
Mộng hoa khép kín, tình thôi, vắng hờ
Anh tìm lối cũ đôi bờ
Dang tay ướp mộng tình khờ đã phai
Thôi đành giũ áo sương mai
Tìm trong hương cũ một vài tịch liêu
Chiếu chăn ngày ấy bồng phiêu
Còn chăng chỉ những đìu hiu cuối trời
Một vùng biển động mù khơi
Cành đào năm cũ tả tơi nhạt nhòa
Ðộng hoa, nỗi nhớ em... và
Giao thừa trăng mọc giữa tà áo xanh.” (HXMNB, tr.46)
Hai câu cuối độc đáo về cấu trúc lẫn hình tượng. Cách khép lại câu chuyện kể bằng lối dứt điểm bất ngờ như thế là một điểm son, và ta hãy còn gặp giống vậy trong bài thơ toàn “tông” buồn dưới đây, mà câu chót nghe chừng như “phát súng định mệnh” chỉa trên mọi ý định xoay chuyển gì khác:
“…Bây giờ người đã xa xôi
Yêu thương lạc bến bèo trôi rã dòng
Hoài niệm nhung nhớ chờ mong
Mảnh trăng vườn cũ lặng không mấy mùa
Cành trơ trong gió đu đưa
Cỏ cây cũng phủ mưa màu biệt ly
Nắng úa dâng sóng làm chi
Lòng tôi xây mộ từ khi xa người.” (sđd, tr.44)
Từ điểm cực tiểu mịt mùng trong quỹ đạo tình yêu đó, tác giả đã làm được bước nhảy vọt, chọn trên “đồ thị” cảm hứng của mình những tọa độ xa cao nhất, ứng với vùng cực đại ít khi hướng tới: Thơ lần này “nhập thế” giúp nhìn ra những giá trị cuộc sống thường nhật, mà anh cẩn trọng vinh danh qua một số chứng từ cảm động về những người thân yêu, gần gũi nhất.
Trước hết là thân mẫu, người đã khai sinh anh và – trong một chừng mực nào đó – cả Thi tập đầu tiên kia nữa, qua cái tên tựa tỏ rõ1:
“Con về mang nặng ưu tư
Mùa xuân đang tới mà như đông về (…)
Thôi thì Mẹ hãy an ngơi
Con đây vẫn đứng bên trời đợi mong
Trải hồn dưới nắng khiết trong
Ðẫm hương sen nở nụ cười Mẹ trao.” (sđd, tr.74)
Rồi đến người bạn trăm năm C.Q., nhân vật nữ thứ hai anh hàm ơn sâu sắc nhất trên đời. Lê Miên Khương đã làm không kém những người trước anh, chẳng hạn như Du Tử Lê/ Từ Công Phụng qua bài thơ phổ nhạc nổi tiếng của họ17. Nhưng anh không nói văn hoa cách điệu “ngực ngải môi trầm” theo kiểu Du Tử, mà dùng toàn những câu chữ giản dị trong suốt như chính bản chất sự chân thành:
“…Ngày hôm nay anh đã về bên em
Cho anh được cầm tay em hôn nhẹ
Và úp đầu vào lồng ngực bao dung (…)
Anh đếm tóc em tìm sợi bạc màu
Qua năm tháng thăng trầm cùng mưa nắng
Ðắng cay tủi hờn em cam, thinh lặng
Làm thân cò gánh hạnh phúc cho anh…” (sđd, tr.41)
Tác giả không chỉ đóng khung trong vòng gia đình. Anh còn bộc lộ lòng ngưỡng mộ đối với một người của công chúng khi ông ta từ giã cõi đời (LM Phan Đ.B., Paris), trên những ba trang Thi tập, dưới tựa đề Nhớ Thương Một Người Tử Tế, mà ta có thể ghi nhận vài nét chính:
“…Anh là người không bao giờ biết nói không
Luôn giúp tha nhân với nụ cười quảng đại
Con tim rộng lượng yêu thương không ngần ngại
Nên rước vào thân bao khổ ải trầm luân (…)
Anh đi để lại đời trái tim rướm máu
Đầy yêu thương, anh cắt bỏ tơ vương
Đời đạo hạnh anh chối từ ngạ quỉ
Nơi anh về đầy ánh sáng với tình thương…” (sđd, tr.10-12)
Trong bài, Lê Miên Khương xử dụng nhiều từ Phật giáo (ngạ quỉ, đạo hạnh, trầm luân) như muốn tạo hiệu ứng một sự hòa đồng tư tưởng trên nền tảng văn hóa dân tộc: một cái ”nháy mắt” văn học thân tình với vị linh mục quá cố, hay chỉ là xác tín cá nhân?
Việc xác định không mấy quan trọng. Chỉ thấy, tính tới đây, thi ca rõ có nhiều phép lạ: qua sáng tác, nhà thơ đã sống thực với tình yêu, đối thoại với quá khứ, nhận chân ý nghĩa cuộc đời trong từng ”sát-na” hiện tại và xa hơn nữa, tiếp cận cả với đấng siêu nhiên.
Vâng, tiếp sau dấu ngoặc ghi chú“(Trước tác theo một lời cầu nguyện)”, anh đã viết thẳng một mạch – không quan tâm đến gò bó vần điệu – bài Ngày Sắp Tàn Tôi Sợ Bóng Tối:
“…Ðầu óc tôi bây giờ hiểu chậm
Khó từ bỏ một thói quen quá khứ
Trong lúc đen tối nhất và đơn côi
Tôi đã nhận được ánh sáng của Ngài
Và may mắn đó đã thay đổi đời tôi
Biết rằng ngựa tôi có thể quen đường cũ
Ngày sắp tàn, tôi sợ bóng tối
Xin Ngài hãy ở bên tôi…” (sđd, tr.57)
Thường ít người chịu nhận khuyết điểm của mình được đến như thế. Sự khẩn thiết tăng lên theo với lòng thành; không phải chỉ riêng trong bài này mà ở nơi khác, tác giả cũng đã lặp lại lần nữa lời cầu xin:
“Xin Ngài hãy nói với tôi dù rất thầm thì
Và nhất là Ngài hãy thắp rực lên trong tôi ngọn lửa
Ðể cho tôi soi sáng lại đời mình…” (sđd, tr.43)
Độc giả không quen với những tình huống tương tự sẽ khó lòng hiểu hết tâm trạng nhà thơ vào thời điểm ấy: đức tin nằm ngoài mọi lý giải. Song, để cảm thông với tác giả, ta cần phải lùi lại phần góc tối khi nãy, nơi thất thểu những câu thơ da diết, nơi hiện nguyên hình nỗi cô đơn sâu thẳm từ đáy lòng anh. Nó ẩn thân trong mỗi động tác nguyện cầu và liên tục rót vào tai điệp khúc tiếng thở dài u uẩn, bởi ”Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”:
“…Hôm qua không phải ngày mai
Hôm nay tình cũng nhạt phai khác rồi
Cuộc đời đầy những chia phôi
Mong đem ý thánh tô bôi tình người...” (sđd, tr.67) (…)
“…Bàn tay xưa ấm, nay còn ấm không?
Riêng tôi bốn mùa: mùa đông
Cành đời trơ lá, dòng sông lặng buồn...” (sđd, tr.62)
Hàn Mặc Tử cũng đã từng chắp tay cầu xin Thượng đế. Nhưng Lê Miên Khương thì hoàn toàn khác, vì không cùng tâm thế và vấn nạn. Diễn ngôn giao cảm với Ơn Trên của anh, đúng hơn, chỉ là lời tạ lỗi của đứa con hoang trở về.
Nó chính là dấu hiệu của sự phục hồi và niềm hy vọng. Bởi tác giả, mặc cho phong ba thử thách trái tim lãng mạn, đã làm được việc sống trọn chữ Tình, dù có thể không đạt tới cái đích hữu danh thế tục thông thường (mà chắc gì anh đã muốn thế?). Nói cách khác, những mối tình không tên còn lại, chính ra, mới dễ hóa thành vĩnh viễn nhất: phải chăng đó cũng là một minh chứng hùng hồn cho vẻ đẹp khó ngờ của cái “siêu khả sắc” (suprasensible) cao ngất muôn đời trong triết học?  
Chú thích:
1. Đã được giới thiệu ở: https://www.vanchuongviet.org/.
2. Lê Miên Khương, Em Thánh Thiện Dạy Tôi Đôi Điều, NXB Hội Nhà Văn (tháng 3/2015)
3. Hoàn toàn không đánh giá hay phán xét, mà đây chỉ là một nhận xét. Mời xem thêm các phân tích trong một bài viết cách đây nhiều năm, về chủ đề không mòn cũ này: https://www.vanchuongviet.org/.
4. Marinat Prévot là dịch giả đáng chú ý gần đây của một số tác phẩm Việt Nam được nhắc tới trên mạng như: https://www.sudoc.abes.fr/; https://www.dictionnaire-creatrices.com/.
5. Kant là một trong triết gia đi xa và đào sâu nhất trên vấn đề tự do, để cuối cùng đi đến kết luận xem nó như một định đề của «lý tính thực hành (la raison pratique)»https://fr.wikipedia.org/.
6. Chính vì thế, ta có thể khẳng định quan niệm này về tự do là tương thích với quan điểm triết học Spinoza
7. Jean-Jacques Rousseau, Discours sur l’origine et les fondements de l’inégalité parmi les hommes (1754) [phiên bản kỹ thuật số của Jean-Marie Tremblay], tr.24-25, https://eet.pixel-online.org/.
8. Pic de la Mirandole, Discours sur la dignité de l’homme (Jean Pic de la Mirandole – De la dignité de l’Homme – Fondamentaux.org); Mời đọc thêm: https://www.philomag.com/; Biographie de PIC DE LA MIRANDOLE (1463-1494): L'idée du microcosme et la «dignité de l'homme» - Encyclopédie Universalis;
9. Mời xem đoạn «Le discours de Protagoras et le mythe de Prométhée» trong https://fr.wikipedia.org/ (Platon)
10. Về sự siêu nghiệm (transcendance), mời xem bài viết trước đây về Mỹ Học: https://www.vanchuongviet.org/.
11. https://fr.wikipedia.org/; https://theconversation.com/.
12. «La poésie est communion, communication» (Paul Valéry, Cahier II du manuscrit de Charmes ; trích dẫn bởi  Florence de Lussy, Charmes d’après les manuscrits de Paul Valéry. Histoire d’une métamorphose, Paris, Minard, «Bibliothèque des Lettres Modernes», 1990-1996, Quyển I, tr.100).
13. Có thể xem qua  https://major-prepa.com/.
14. Từ Công Phụng, Bây Giờ Tháng Mấy; mời nghe hát bởi Trọng Tấn: Vidéos Bing
15. Kiên Giang, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím, https://www.dutule.com/.
16. https://www.youtube.com/.
17. Du Tử Lê (thơ Giữ Đời Cho Nhau,1970) Từ Công Phụng (bài hát Tạ Ơn Em), https://www.dutule.com/.
Thơ như tiếng lòng trên nền âm hưởng những giao thoa thời đại
Sẽ rất là thiếu sót nếu ta chỉ dừng lại ở mức những nhận xét “trung tâm”, dù rất chủ yếu, về thơ Lê Miên Khương mà bỏ qua các khía cạnh khác, bởi lẽ – tuy ít nhiều mang tính “ngoại vi” – chúng sẽ giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn. Thơ là người, mà người thì không chỉ có riêng mỗi… cột sống! Cho nên, ngay như đôi khi trông có vẻ hơi “giai thoại” đi chăng nữa, thì những “cái liếc” láu lỉnh, những kiểu nói đầy “uy -mua” v.v. đây đó trên các trang thơ của anh, cũng đáng được ghi nhận: chúng sẽ có tác dụng bổ sung và làm sống động hơn cho cách cảm nhận về tác giả trong lòng người đọc.
Xuân Diệu đã từng định nghĩa:
“Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây…”18
Nhưng Lê Miên Khương thì không vậy, mặc dù vẫn rất đa cảm, đa tình, với tư cách một nhà thơ. Thực tế cày xới cật lực của anh trên cánh đồng Tao Đàn mênh mông bát ngát là một “phản biện” cần thiết và cân xứng:
“…Đâu phải sinh ra đã là thi sĩ
Nếu không chắt chiu mài dũa câu thơ
Dẫu tim dâng sóng tràn ngập cõi bờ
Phải vắt lòng mới thành lời thánh thót.” (HXMNB, tr.15)
Nó còn giúp ta hiểu hơn thế nào là quá trình thai nghén các tác phẩm nghệ thuật nói chung, dựa trên kinh nghiệm “mồ hôi nước mắt” của một người đã sống hết mình với thi ca:
“…Bạn nghe chăng tiếng nàng thơ thút thít
Đang quặn đau nơi sâu thẳm tế bào
Nếu con tằm không cần mẫn nhả tơ
Đời sao có óng ả tấm lụa đào!...” (nt)
Tấm lụa đó, rõ bõ công và đáng yêu thật. Nhất là nó không đơn điệu, mà vô vàn biến hóa, trong trường hợp của anh.
Bạn muốn dẫn chứng ư? Này nhé, cho tới đây, ta đã quen với một Lê Miên Khương từ tốn, sang trọng, tỉ mỉ trên từng nét hoa văn hay con chữ anh nắn nót. Một đặc điểm chung cho khá nhiều sáng tác khác nhau, như ta có thể nghiệm thêm lại nữa ngay bây giờ, qua mấy câu trích dẫn hoàn toàn theo ngẫu hứng:
“Này đôi mắt ngủ trên cây
Vầng mi chớp mở gọi mây bay về (…)
Giọng ca em rót trên cao
Ðộng lay hạt nắng rớt vào tim anh…” (MTCA, tr.49) (…)
“…Môi còn hương nụ đê mê
Mười năm một giấc chiêm khê chưa tàn
Mùa thu em có soi gương
Mặt hồ tĩnh lặng đọng sương thu chiều…” (sđd, tr.56) (…)
“…Phiền tôi lụy muộn với đêm
Bước ra ánh sáng ngưỡng chiêm ngọc ngà
Dáng em yểu điệu tiên sa
Làm tôi quỳ níu chiều tà quạnh hiu…” (HXMNB, tr.29)
Thế mà, đến một lúc nào đó, nhà thơ đột ngột “thoát xác” để nhập vai mới: đổi hẳn tiết tấu nhịp điệu – thậm chí cả ngôn ngữ – trong một bước khai phá rời xa tâm điểm, vừa như để tiếp cận tình yêu theo lối khác, vừa như muốn cách tân trên phương diện hình thức. Đây là một nỗ lực đáng quý. Bên cạnh đó, để tiến tới một cái nhìn thật bao quát, người đọc thơ anh còn muốn chia sẻ thêm cảm giác này: đằng sau sân khấu thi ca của tác giả, thỉnh thoảng hình như cũng thấy thấp thoáng bóng dáng của một “hậu trường văn học”, vốn thiết yếu cho bất cứ quá trình hình thành sáng tạo nào. Điều ấy không có gì là lạ, mà chỉ khẳng định quy luật về mối tương quan mật thiết giữa một bên là cái rất riêng đặc thù của chủ thể và bên kia là xu hướng chung, hoặc tác động gần xa của môi trường thời đại…
Hãy nghe Lê Miên Khương “ríu rít” tâm sự, trong bầu không khí hân hoan vừa mới được tái tạo:
“Người tôi thương rất hồn nhiên
Hồn nhiên như suối kiếm miền sông xanh
Hồn nhiên em hát bên ghành
Như con sáo nhỏ trên cành líu lo
Tuổi đôi mươi chẳng so đo
Nói cười duyên chẳng vòng vo núi đèo…” (MTCA, tr.63)
Rồi chàng nhanh chóng tự thú, chẳng chút do dự hay… “vòng vo Tam quốc” gì hết (y hệt người đẹp trong thơ):
“… Số phần nghiệt ngã tôi bèo
Gặp em. Tôi đã hai màu tóc sương
Thế mà mắc sợi tơ vương…” (nt)
Từ “bèo” ở đây thật đắc địa, khó kiếm ra tiếng nào bình dị và… cập nhật hơn! Lối nói “bình dân” có nghiên cứu kỹ càng này, anh còn tiếp tục đưa vào những khúc “tự thán” khác, có thể nói là “nghìn dặm cách xa” lối văn trau chuốt mỹ miều mà ta đã gặp, như trường hợp này:
“Tôi viết tặng em một bài thơ
Thay lời nói hộ bao ước mơ
Em không đọc và em đã đốt (…)
Tôi gởi tặng em một đóa hồng
Cánh hoa đỏ rực lòng tôi đó
Em không nhận và vứt trôi sông (…)
Tôi biết đời tôi từ nay sẽ
Đơn thân lầm lũi giữa bụi đời
Anh hùng hảo hớn còn suy lụy
Huống gì tôi thằng nhỏ dở hơi.” (MTCA, tr.12)
Chuyện tình bây giờ sẽ không còn đi đến hồi kết theo kiểu ước lệ ngày trước, chẳng hạn như không thể để cho chàng trai ủ rũ thốt lên rằng:
“…Cố nhân - tôi sẽ gọi em
Mùa tang lá rụng thu đêm vào vườn…” (sđd, tr. 57)
Mà cái thay đổi là ở trong thái độ. Ngay cả khi phải chấm dứt cuộc tình sau nhiều tháng năm gần gũi, tác giả cho thấy vẫn giữ được sự bình thản, nhẹ nhàng, nếu không nói là có phần quảng đại và minh triết trong đó nữa:
“…Thu ơi thu lại đến rồi
Mỗi năm một lượt với tôi em về (…)
Không ngừng nghỉ thời gian ơi
Đẩy tôi về phía tuổi đời mùa thu (…)
Ngày mai tôi sẽ ra đi
Cũng không nuối tiếc những gì đã qua
Đời tôi một giấc mơ hoa
Cảm ơn thu đã tặng quà đời tôi.” (sđd, tr.54-55)
Tương tự, dưới tựa đề Xin Đừng Yêu Anh, nhà thơ cũng biết lấy trước khoảng cách như thế đối với những gì có thể xảy đến, bằng một giọng khá dí dỏm và một ngôn ngữ không kém phần hiện đại:
“… Xin vòng tay hãy lỏng chùng 
Ðể tình rớt lọt ra vùng không anh
Phương nào đừng có trời xanh
Cho anh tới đó, chòng chành cõi riêng
Thôi mà. Tình muộn ưu phiền
Mặt trời không nóng từ miền phía anh
Quả đỏng đảnh hãy còn xanh
Nên tình chưa chín như cành phía em… ” (sđd, tr. 50)
Nói “vùng không anh” là nói theo kiểu… toán học. Nhưng những “quả”, “cành”, “mặt trời”, thì đúng 100% thực tế cuộc sống. Và cái ý tưởng muốn hòa nhập với thiên nhiên, tiệp màu cùng hệ sinh thái, lại càng dễ thấy hơn nữa trong bài anh viết Vì Mình Lá Hoa mà âm điệu nghe rất gần với ca dao đồng nội:
“…Nếu khô hạn đất hiếm xanh
Xin cho tôi được làm cành thanh long
Nếu tôi số phận long đong
Khổ qua xin chọn, chứ không bồ hòn
Nếu là tinh tú cỏn con
Xin làm trái khế vàng năm góc hình…” (sđd, tr. 41)
Dấu ấn nông thôn vốn luôn luôn có mặt trong thi ca, từ trước đến giờ. Thơ Lê Miên Khương, vì thế, cũng có lắm câu như muốn thôi miên, lôi ta chìm đắm trong khí hậu cội nguồn thân thương ấy:
“… Dặm trường mây phủ sơn khê
Anh đi còn nhớ bờ đê quê nhà
Mẹ già luống cải vườn cà
Chăm lo, vun xới. Cơm và nhớ anh!...” (HXMNB, tr.49)
Tác giả còn đi xa hơn nữa, về nội dung lẫn hình thức. Điển hình là bài thơ ngắn mang tên Xuân Nhớ Quê này, sáng tác theo thể “sáu chữ ba câu” khá mới mẻ, một dạng «hai-ku» cây nhà lá vườn đúng điệu:
“Đã lâu không về Quảng Ngãi
Xuân này em gởi mạch nha
Anh nhâm nhi. Nhớ quê nhà
Tối qua cành mai ngậm nụ
Sáng nay vàng đã nở òa
À, thế là Tết đang qua.” (MTCA, tr.17)
Thế rồi, từ trong không khí êm đềm, đậm chất dân dã ấy, nhà thơ của chúng ta thoắt bỏ đi ra ngoài, dùng «độc chiêu» nhảy sang vùng đối cực – có thể, nhưng không nhất thiết, nằm trên xứ người – để cho ra đời những khổ thơ… «lai tạo» có chứa luôn cả từ tiếng Pháp, như trường hợp bài lục bát Rồi Anh Chọn Chữ Ghép Vần dưới đây, tươi rói lạc quan, pha lẫn với đôi chút tinh nghịch:
Ước gì trong kiếp hồi sinh
Dây tơ lại nối cuộc tình dở dang
Anh nào hứa hẹn gì đâu
Mà sao em đợi mưa ngâu bay về
Vì cặp bồ câu tỉ tê?
Ở trên mái lá đê mê kết tình! (…)
Em ơi mình phải kiệm lời
Như người từ mẫu một đời chăm con
Đến khi bày tỏ lòng son
Thì anh sẽ nói ngọt câu em chờ!
Nên giờ mình cứ bơ vơ
Để hoa kết trái để thơ kết vần
Để đá kết nhụy huyền trân
Rồi anh chọn chữ ghép vần Je T’aime!” (sđd, tr. 59)
Trong cùng không gian tình tự ấy, nhưng với nhịp điệu khác, tác giả cũng đã để nguyên dạng một từ tiếng Pháp – tên loài hoa ướp hương một vùng kỷ niệm của anh – trong bài Lời Chào Thơm Mùi Tilleul hoàn toàn theo thể thơ tự do, như chính cái nội dung ý tưởng thông thoáng mà nó chuyển tải:
“Tôi gởi cho em
lời chào thơm mùi hoa tilleul (…)
Em với tôi
có duyên mà không nợ
Thì đường em đi
chúc đẹp mãi xuân thì (…)
Ðời ngắn lắm
hãy bằng lòng với những gì ta có
Còn ngày mai?
Hãy để cho gió
mang lên cao niềm tâm nguyện
Và đưa ta về một cõi bình yên. ” (HXMNB, tr.86-87)
Cảnh và từ có hóa Tây thì cứ Tây vậy, nhưng hồn thơ trong đoạn trên thì lại đưa ta thẳng về  chân trời nhạc Trịnh, theo dư âm của cái điệp khúc giản dị mà khó quên này:
Sống trong đời sống
 Cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?
Để gió… cuốn đi…” (Để Gió Cuốn Đi, Trịnh Công Sơn)
Bình thường, Lê Miên Khương không thuộc mẫu người hay bông đùa; thế mà với tình yêu, đôi khi anh dám viết những lời khá ngộ nghĩnh như trong bài Sợi Tình Rắt Reo:
“Đầu năm giở lịch ra xem
Trở trăn ngày tháng nơi em có buồn
Lòng anh đường dốc trượt tuôn
Đường xa hiu quạnh bốn mùa lắt lay
Thôi ta hãy chọn… một ngày
Ngày lành tháng tốt để… xoay đời mình…” (MTCA, tr.62)
Vậy thì, biết đâu, đấy chẳng phải là bỡn cợt mà do từ bên trong, nhà thơ đã… đổi chiến lược để xoay sang chuộng óc thực tế, nhằm đạt hiệu quả cao hơn chăng? Dẫu sao thì đã có lúc anh nói năng đầy quyết đoán, kiểu thế này:
… Cuộc đời hai nửa vòng tay
Nếu không ôm chặt thì ngày sẽ trôi
Suối sông khi lở khi bồi
Duyên tơ chỉ thắm trời trao hãy cầm! ” (sđd, tr.34)
Hoặc ra sức thuyết phục đối tượng bằng mọi cách, kể cả… gây áp lực:
“…Lá đâu che hết hoa xinh
Sao ta giấu mãi cảm tình cho nhau!
Đừng lưỡng lự lỡ mai sau
Tình duyên khô cạn, mưa ngâu chẳng về! (sđd, tr.58)
Mặt khác, hình như chưa bao giờ bạn bè thân quen thấy anh tiếc than chuyện gì. Điều đó không sai, ngoại trừ với tình yêu! Bởi vì trong lãnh vực này nhà thơ đã có lần phải thú nhận:
“Phải chi ngày ấy tôi liều
Yêu em dám nói bao điều trong tim
Thế mà tôi cứ lặng im
Để cho cau rụng chim bìm bịp bay
Thế rồi từ đó đến nay
Cứ mang nuối tiếc, buồn dày vò tôi…” (sđd, tr.45)
Và dĩ nhiên, tâm trạng đó đẩy tác giả đi đến chỗ vọng tưởng:
Ước gì trong kiếp hồi sinh
Dây tơ lại nối cuộc tình dở dang…” (sđd, tr.35)
Trong một hoàn cảnh như vậy, chỉ có nàng Thơ mới giúp được anh: có thể nói hình tượng  chẳng hạn trong tác phẩm Lê Miên Khương không trung tính hay ngẫu nhiên, mà là một chọn lựa vừa đậm nét đặc trưng vừa mang sắc thái một cuộc thoát ly rất ư… «phải đạo». Nó làm vơi bớt những muộn phiền gặp phải trên đường tình, nhẹ gánh nhân sinh, nhờ tác giả biết vận dụng thủ pháp hư cấu hóa sự kiện một cách bóng bẩy, nhẹ nhàng và nhất là đầy từ tâm. Từ cõi người, nhà thơ bước sang thế giới của lá, mà anh nhân cách hóa rất tự nhiên:
Mùa buồn lá rụng ven sông
Lá nằm lá thở tôi không biết gì
Nhìn chim vỗ cánh thiên di
Đâu ngờ lá khóc, tôi đi hững hờ…” (HXMNB, tr.18)
Cuộc gặp gỡ tình cờ biến thành cuộc đối thoại đầy ý nghĩa, dù là dưới dạng “người nói lá im”:
… Lá thèm nghe sóng trường thiên
Nắng không đủ sáng đông miên mù lòa?
Lá tôi ơi đừng chua ngoa
Một đời lá đợi bước qua luân hồi…” (nt)
Để rồi chấm dứt trên một đề nghị quả là… vượt hết mọi dự kiến:
“Lá hoài vương cuộn chân tôi
Thì tôi và lá kết đôi. Nhé mình! (nt)
Bài Lá Khóc này – nhất là câu chót, với dấu chấm tuyệt vời, như cánh cửa được khép lại, tạo độ căng – có đủ sức gây ngạc nhiên để ta nghĩ rằng, nếu tính theo mức gieo…”cú lạ”, thì Lê Miên Khương ở đây có vẻ còn «mạnh tay» hơn cả chính Bùi Giáng, là nhà thơ anh hằng ái mộ và chịu ảnh hưởng! Đành rằng không có «trường thơ Bùi Giáng» trong văn học, nhưng những câu anh viết trong bài Khề Khà Thu Sang cho thấy khá rõ sự cận kề tương đắc giữa hai phong cách đó:
… Con chim tu hú bay sang
Rủ rê mây tím rộn ràng dâng mưa
Chim muông thảo mộc dạ thưa
Hươu nai khỉ vượn đong đưa tụ về
Thế là trên khắp sơn khê
Tháng mười hạ chết, khề khà thu sang.” (sđd, tr.72)
Lá đúng là đã gợi hứng rất nhiều cho nhà thơ sông Hàn của chúng ta, vốn yêu thiên nhiên chẳng kém chi người. Nếu không tượng trưng cho người tình, thì nó cũng được đóng vai chim xanh sứ giả hoặc kỷ vật làm tin, như anh mô tả trong bài Chuỗi Ngọc Xinh Xinh:
… Thôi vậy nhé, em về bên sông nhỏ
Anh lên ngàn xây đắp bờ suối mơ
Nhớ em anh ký tên vào chiếc lá
Thả xuôi dòng con nước chở làm tin…” (sđd, tr.27)
Nhìn chung văn học nghệ thuật, hình ảnh chiếc lá đã từng được khắc họa trong khá nhiều tác phẩm. Nói thi ca thì không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Toàn với câu thơ nổi tiếng đã được Vũ Thành An phổ nhạc:
… Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…” (Em Đến Thăm Anh Đêm 30) 19
Còn nói nhạc, thì lại càng khó quên hai bài hát xuất sắc trùng tên Chiếc Lá Cuối Cùng, một của Tuấn Khanh (Sài Gòn,1972, quá quen thuộc), một của Đoàn Chuẩn (Hà Nội, 1955, ít người biết vì chỉ được công bố vào năm… 1986). Bài sau – giàu nét lạ so với những sáng tác khác cũng từ tay người đã từng mang danh hiệu “nhạc sĩ của mùa thu” kiêm “công tử Bạc Liêu xứ Bắc”20 này – có tính chứng từ, chứa đựng nhiều kỷ niệm riêng tư 21và đặc biệt là lời nhắn nhủ dưới đây, gửi đến người yêu:
Chiếc lá cuối cùng là của em đó
Em hãy giữ gìn, trước lúc chia tay…”        
Chưa hết. Trong bài «thất ngôn tứ tuyệt» phá thể Thu Ngự Lòng Tôi Lá Của Em, nhà thơ xứ Quảng có cố ý cho lập lại ba lần câu cuối của tiểu đoạn 2 – rất đẹp –, trước khi lấy nó làm tựa:
… Hồn tôi ngọn sóng chờ trăng mọc
Thu ngự lòng tôi lá của em…” (HXMNB, tr.16)
Vẫn mãi… lá là lá. Nhưng bây giờ – phải chăng đấy là hệ quả của «lời kinh» ba lần được nhẩm lại giống như trong lễ… «cầu tiên»? –, bỗng dưng khuôn mặt Vũ Hoàng Chương chợt hiện ra, trên nền thi cảnh! Thật khó hiểu vì sao lại có sự kỳ ảo này, nếu không nêu giả thuyết rằng, trong bài Mười Hai Tháng Sáu 22, Vũ thi sĩ đã để vang vọng đến hậu thế một điệp khúc ma mị, mà ba từ chót có cùng âm với cụm từ “lá của em”, đó là:
Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!…”   
Cuôc thơ thẩn dạo chơi trong khu thượng uyển – mà Lê Miên Khương cố tình mời mọc để ngỏ – có thể sẽ còn hiến tiếp cho khách tao nhân thêm cơ hội gặp gỡ lạ lùng tương tự: cận kề mà huyễn hoặc, mơ hồ nhưng khá dai dẳng, vượt hết mọi suy luận trong không-thời gian hiện thực! Phải chăng là do hiệu ứng cộng hưởng, «đồng thanh đồng khí» đã nói trên? Hay là bởi «cảm ứng lương tử», như đã được vui bút «thậm xưng» tí đỉnh ở phần đầu bài viết này? Hoặc giả, nghĩ cho cùng, đó chỉ đơn thuần là kết quả của cú chạm lóe sáng khởi sinh, dẫn tới sự tan chảy hòa hợp giữa nhà thơ – trong giây phút xuất thần sáng tạo – với cộng đồng văn học có cùng nếp văn hóa anh mang?
Cũng có thể là do tổng hợp của hết thảy những nhân tố đó. Hay, nói theo Duyên Khởi luận Phật giáo, chẳng hề có cái tôi độc lập nào để mà phải mất sức lo tranh dành phân định: mọi sự đều chỉ là một công trình kết nối vĩ đại, vô cùng tự nhiên…  
Một ví dụ cuối cùng sẽ cho thấy thêm về độ rộng của “thi phổ” liên quan – vẫn trong chiều hướng ấy –, vào thời điểm đặc biệt khi Lê Miên Khương cất tiếng:
 “Ở đây nắng ít mưa nhiều
Khí trời lành lạnh chiều chiều mây giăng ” HXMNB, tr.49)
Lập tức, ta thấy ẩn hiện xa xa, một Trịnh Cung đang ngâm bài Ở Đây Thôi Ở Đây Đành 23! Sự kết nối diệu kỳ không ngừng ở đó mà – trong bức tranh toàn cảnh – ta còn thấy có cả dáng dấp của Hữu Loan nữa, lững thững bước đến, nhằm lúc nhà thơ Đà Nẵng cùa chúng ta đang thẫn thờ hạ bút:
… Hai quả tim quên đập cùng một nhịp
Nên mắt buồn loang tím cả chiều quê …” (sđd, tr.36)
Phải xác định ngay rằng toàn bộ các tác phẩm trích dẫn cho đến đây đều không có dính dáng gì với nhau, về mặt thi pháp cũng như xuất xứ: trừ trường hợp Bùi thi sĩ ra, các nhà thơ kia đối với Lê Miên Khương thì – theo chỗ mọi người được biết – chẳng hề có chút liên hệ vật lý hay văn chương nào. Dấu ngoặc về hiện tượng vừa nêu chỉ là để nhấn mạnh đến lực mở vô song của thi ca: một chút dao động “vi phân”(infinitésimal) cực nhỏ của âm-từ-vần-điệu ở đầu này có thể làm dậy sóng «cảm ứng», lôi xô ồ ạt không biết bao nhiêu là hình ảnh chất chồng trong trí tưởng, ở đầu kia!
Cõi thơ cũng có nhiều cửa. Phía cửa buồn – chưa bao giờ khóa chặt –, những thao thức vẫn có thể còn cào cấu, rượt đuổi tác giả, mà chứng cớ là điệu «hai-ku» vần trắc này, nghe như kim chích vào da thịt:
“Nhớ em đi tìm được dăm bước
Đã thấy đường dài buồn trăm năm
Câu thơ chưa xong đòi chạy ngược…” (MTCA, tr.18)
Thậm chí, có khi «đuối lý cùng đường», Lê Miên Khương đã phải đi đến cực điểm là đổi vai, tự «cải trang» thành… giọng nữ, để nài nỉ thiết tha – với cả «ngực hoa ốc đảo» lẫn «bài thơ thấm máu» – đối tượng si mê của mình:
“… Em viết cho anh bài thơ màu đỏ
Vì đã thấm máu của em đâu đó
Có muối mặn vì ướt những giòng nước mắt
Em sẽ ngâm thơ lên để ru anh ngủ
Trên ngực hoa em ốc đảo bồng bềnh
Để làm ấm dịu một trái tim
Chai đá và lạnh lùng với em
Anh ơi
Em phải làm gì để mở được trái tim anh?” (sđd, tr.23)
Có lẽ trên cả ngàn câu thơ anh viết tổng cộng cho tới nay, những rung cảm, xót xa, ước mơ và mất mát, những trăn trở, dự phóng xa gần đó, đương nhiên hẳn đã có cơ ăn sâu,vặn xoáy, chụm thành mũi nhọn, như chùm tia sáng vật lý kia, chiếu hội tụ qua chiếc thấu kính (loupe) thời gian đời người – đủ cường độ để thiêu đốt ở chính ngay tiêu điểm nội tâm tác giả –, nếu không phải là đã bào mòn theo năm tháng từng nơ-ron hay tế bào tinh nhạy nào khác nơi cơ thể con người đa cảm ấy, trong quá trình thai nghén những dòng thơ.
Cho nên, người đọc không thể tránh tự hỏi vì sao nhà thơ – cũng như mọi tác giả văn học nói chung – lại chịu trả bằng giá của ngần ấy năng lượng và thử thách cam go như thế? Câu trả lời dường như đã được gói ghém – đơn sơ mà thấm thía – trong câu nói của Mai Ninh, nhà văn và cũng là bạn du học cùng lứa với nhà thơ, đã ra đi cách đây không lâu giữa xót xa thương tiếc của bao người:  
"... Nếu phần lớn các hành động của con người đều do tình yêu dẫn dắt và chi phối, thì viết, với tôi cũng vì lẽ ấy."24
Vâng, chính tình yêu đã dẫn dắt nhà thơ vượt thoát, xuyên qua cánh đồng hiện hữu, đi tìm tự do bằng chính «mồ hôi nước mắt» những câu cú vần điệu. Thắng hết mọi sự bằng cái giá của những cô đơn, hoài nghi, tuyệt vọng. Chối từ ân huệ của sự liền lặng bằng phẳng để vật lôn với chính mình, để bóc vỏ hạt nhân sinh, làm lọt rớt ra cho được cái “tim sen” ngậm chứa nguồn sáng tạo những thực thể mới: dấu tích vết thiên di của hữu thể trên bầu trời khả tri lồng lộng…                
THAY LỜI KẾT:
Khời thủy là lời. Và lời đã hóa thành Thơ, ngay từ mờ sớm buổi bình minh văn học loài người.25
Thơ vốn đồng nghĩa với cái Đẹp. Cho nên Yên Thao mới viết câu nổi tiếng này:
“…Tôi có người vợ trẻ, đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươì, cưới buổi dâng cờ”. 26
Nhưng cái Đẹp là đối tượng không phải của hưởng thụ mà của cái duyên gặp gỡ, là phần thưởng dành cho sự tạo tác thành tựu. Chính yếu tính của thơ, nói như Paul Valéry, cũng là sự đi kiếm tìm chính nó27, bởi vì giá trị đích thực thì luôn đi đôi với nỗ lực phát hiện và khai phá.
Lê Miên Khương đã phát hiện báu vật từ tro mầu kỷ niệm đời mình. Nàng Thơ đã giúp anh vượt cảm xúc để tìm ra ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ chính là chìa khóa của hiện hữu, suy tư và giá trị. Những gì Orwell tố cáo qua tác phẩm 1984 28 đã được rành rành kiểm chứng qua những hành vi thâm hiểm của Trump và đồng bọn (cùng những “trùm” quốc tế đồng đẳng) hiện nay: tổ chức đi tới sự thủ tiêu ngôn ngữ, để dễ bề sai khiến, thống trị29, thông qua cái Novlangue phiên bản câp nhật 2025 của họ.
Trong tình thế đó, về phần mình, Thơ tự nó hiển nhiên trở nên cao quý hơn bao giờ hết: chẳng những có khả năng giải độc chỉ bằng sự hiện diện, nó còn mang chiều kích của sự phản kháng – đề kháng, nếu cần –, vì sự tồn vong của một xã hội nhân bản. 
Octavio Paz, Giải Nobel Văn học năm 1990, có nói: “Mọi thi sĩ trong những khoảnh khắc thơ, dù dài dù ngắn, nếu thực là thi sĩ, đều nghe tiếng nói khác. Nó là tiếng của chính họ, của một người nào khác, của chẳng ai khác, chẳng của ai cả, và của tất cả mọi người… Chừng nào còn con người, chừng đó còn thi ca (…) Sinh ra bằng trí tưởng tượng của con người, thơ có thể chết nếu trí tưởng tượng chết hoặc đồi truỵ. Nếu con người quên thơ, họ sẽ quên chính mình.” 30
Lê Miên Khương giúp ta không quên ta, bất luận ở tuổi nào.
Bởi chính anh cho thấy đã giữ vững một lòng son sắt với những gì phổ quát, tự nhiên, hằng cửu: rung động đến tận cùng của trái tim, miệt mài sáng tạo, đáp trả đích đáng mọi quả bóng nhân sinh bay tới trong màn giao hữu thường trực với cuộc đời.
Bằng một tâm hồn xanh biếc…                                                               
Chú thích:
18. Xuân Diệu, Cảm Xúc, trong tập Thơ Thơ (1938), https://www.thivien.net/.
19. Nguyễn Đình Toàn, Em Đến Thăm Anh Đêm 30, hát bởi Khánh Ly: https://www.youtube.com/.
20. Đoàn Chuẩn, https://vi.wikipedia.org/.
21. Đoàn Chuẩn, Chiếc Lá Cuối Cùng (mời nghe hát bởi Lê Dung:
https://www.youtube.com/ [xin lưu ý lời nhạc ghi sai trong vidéo vì phải là «Em thời xa» chứ không phải «thời gian»!] và Quỳnh Lan :https://www.bing.com/)
22. Vũ Hoàng Chương, trong thi tập Mây (1943): https://www.chungta.com/.
23. Trịnh Cung, Ở Đây Thôi Ở Đây Đành:https://www.dutule.com/.
24. Mai Ninh trả lời phỏng vấn: http://www.vietbang.com/.
25. Theo Wikipedia: https://fr.wikipedia.org/.
26. Bích Huyền: Nói Chuyện với Yên Thao, Tác Giả Bài Thơ "Nhà Tôi", https://t-van.net/.
27. Nguyên văn câu của Paul Valéry:«L’essence de la poésie est la recherche de la poésie même» trích dẫn bởi Frédéric LEEEVRE, Entretiens avec Paul Valéry, Paris, Le Livre, 1926, tr. 67-68.
28. https://fr.wikipedia.org/).
29. Về nguy cơ hệ thống đến từ Trump và phe nhóm, đặc biệt những kẻ đứng đầu các công nghệ mới, mời xem những phân tích của Asma Mhalla được giới thiệu qua https://fr.wikipedia.org/.
30. Octavio Paz, Thơ văn và tiểu luận (Nguyễn Trung Đức chọn dịch, Nxb Đà Nẵng, 1977, tr. 266/274).
1/1/2026
Bùi Đức Hào
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh

Một phác thảo thơ Ðào Quốc Minh Tập thơ “Phục sinh” của nhà thơ Đào Quốc Minh vừa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024. Nhà...