Thơ Nguyễn Đình Thi – Sự cô đặc tư duy từ cuộc sống
Nguyễn Đình Thi là một nhà thơ tài hoa, ông không chuyên chú chỉ làm thơ, nhưng lại rất có ý thức về những bài thơ mình làm ra. Ông là một nhà thơ suốt đời say đắm về một nội dung cô đặc được biểu hiện trong thơ, chắt lọc từ những trải nghiệm trong cuộc sống đồng điệu với hơi thở của thời đại. Phải thừa nhận về phương diện này Nguyễn Đình Thi là nhà thơ có cái tạng rất riêng, khó trộn lẫn.
Quan điểm về thơ của Nguyễn
Đình Thi
Ngay từ năm 1944 trong
bài Thơ triết học, số 135 của Tạp chí Tri tân (1941-1945) Nguyễn Đình Thi đã
nói rõ tuyên ngôn về thơ rằng “mục đích của thơ là đi tìm cái đẹp” và “cái đẹp,
không những có trong tình cảm mà còn có trong trí tuệ và trong hoạt động”,
nghĩa là “cái đẹp của thơ gồm hai phần: một phần liên lạc đến cảm giác, tính
tình, và một phần liên lạc đến trí tuệ, và do đó đến xã hội và đời sống”.
Năm năm sau, năm 1949, ở
Việt Bắc trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, thơ không vần và phần
nào có vẻ kiêu sa của ông đã bị nhiều nhà văn, nhà thơ thời đó góp ý thẳng thắn,
Nguyễn Đình Thi đã lắng nghe nhưng không trả lời lại một lời phê bình nào mà lấy
tinh thần của hội nghị làm một cuộc tự phê bình, nêu rõ quan điểm của mình về
thơ như sau:
“- Khi đã bỏ luật lệ rồi,
đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói, thành vần cũng được, không thì thôi. Nói như lời
nói thường vậy.
– Rút ra những cái trong
cuộc sống.
– Nói như lời thường. Tôi
mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đến một độ cảm xúc mãnh liệt.
Những hình ảnh thơ mới bây giờ, tôi tưởng tượng nó cần phải khỏe, gân guốc, xù
xì, chất phác, chung đúc, tự nhiên. Những bài thơ cũ, cùng một nhịp điệu đều đều,
tôi không thể chịu được. Bài thơ chất phác kia tác động vào tâm hồn ta hơn”
(Tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi. XD (Chú thích này cho thấy người ghi biên bản
là Xuân Diệu) ghi theo Biên bản Hội nghị chiều 28. Tạp chí Văn Nghệ số 17, 18
tháng 11, 12. 1949. NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2000, tr. 215 – 229).
Rõ ràng, những quan điểm
về thơ của Nguyễn Đình Thi đã được trải nghiệm và cân nhắc nghiêm túc. Ông nhấn
mạnh đến cảm xúc. Những bài thơ của Nguyễn Đình Thi được làm ra không dễ dàng,
bởi hầu như ở bài nào nhà thơ cũng có “những tìm tòi rất khổ” rồi chắt lọc,
tinh chế, cô lại để bật ra thành lời tự nhiên (có vần hoặc không vần) phản ánh
thực tại khách quan như nó vốn có.
Chính Nguyễn Đình Thi
(1949) trong khi làm cuộc tự phê bình thơ của mình đã nói những lời rất thật tự
con tim rằng: “Rất đau thương mà không nói, đó là thái độ nội dung của tôi. Khi
tôi nói cái đau thương của tôi ra, nó ẩn ở một chỗ rất kín (Ví dụ trong bài
Không nói: Môi em, đôi mắt còn ôm đây)”.
Sự cô đặc tư duy trong
thơ Nguyễn Đình Thi đã trở thành cái tạng thơ không trộn lẫn, được nhiều bạn đọc
thích đọc, nhâm nhi từng chữ, từng câu, thậm chí “một số bạn khác rất mê thơ
tôi”.
Cái sự cô đặc trong thơ
quả là kỳ công vì nhà thơ phải quan sát, phải lăn lộn trong cuộc sống, nhưng
quan trọng hơn là biết khuôn đúc lại thành cái đặc thù của nội dung, bởi vậy,
không có năng khiếu và tài năng của nhà thơ đích thực thì không thể có được những
câu thơ, những vần thơ (dù không vần) tinh lọc, mặc dù nó xù xì, thô kệch. Đó
là tấm gương khúc xạ cuộc đời thật được thể hiện trong thơ, nhưng đằng sau những
con chữ thô kệch, xù xì ấy người đọc, khi đọc kỹ, sẽ thấy lấp lánh con đường hướng
tới cái đẹp.
Nhà văn Nguyên Hồng
(1949) trong cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi đã thấy hé lộ những điều kỳ
diệu của thơ dân tộc trong tương lai: “Ý riêng tôi thì anh Thi rất thành công,
ngay bây giờ đã thành công rồi. Anh Thi tiêu biểu cho tâm hồn rộng rãi, rải
rác. Tôi tin sẽ có những bài thơ kỳ diệu của dân tộc ở trong loại thơ đó”.
Tâm hồn nhà thơ khi đã rộng
mở để thu về cảm xúc trước những cái thô kệch ngoài đời được nhào nặn thành cái
đẹp, cái tinh hoa cho đời thì đó chính là một trong những sứ mệnh cao cả của
nhà thơ – công dân mà Nguyễn Đình Thi hằng theo đuổi. Nhịp sống hào hùng và vô
cùng phong phú của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đòi hỏi ở thơ những
cảm xúc thật nói lên một cách cô đọng “những tình cảm tư tưởng mới của thời đạị”
bên cạnh những cái đời thường nhất của đất nước. Làm được như vậy là có đóng
góp cho thơ, đóng góp cho công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước. Bằng những
bài thơ của mình Nguyễn Đình Thi đã có đóng góp quan trọng. Chỉ riêng những bài
thơ Đất nước (1955), Chia tay trong đêm Hà Nội (1967)
và bài thơ Lá đỏ (1974) được bạn đọc đón nhận với tình cảm
trìu mến là một minh chứng cho lời nhận xét đúng đắn “đoán giữa trần ai” của
Nguyên Hồng.
Tạng thơ Nguyễn Đình Thi
là như thế. Nguyễn Đình Thi làm thơ không nhiều lắm, nhưng thơ Nguyễn Đình Thi
đã để lại những dấu ấn rất riêng trong lòng bạn đọc cũng là vì thế. Ta có thể
thấy trong thơ Nguyễn Đình Thi những hình ảnh của cảm xúc được nâng lên thành lối
tư duy của người Việt như bản lĩnh và niềm tự hào chính đáng của tất cả chúng
ta:
Những dòng sông đỏ nặng
phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao
giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng
đất
Những buổi ngày xưa vọng
nói về.
(Đất nước)
hoặc:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
(Đất nước)
Khi dẹp xong giặc giã,
kháng chiến thành công, trên đường về kinh, nhà vua thi sĩ Trần Nhân Tông thấy
chân các ngựa đá còn dính bùn đã tức cảnh làm hai câu thơ – một bài thơ rất ngắn
– mà ý thì vươn xa:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch
mã
Sơn hà thiên cổ điện kim
âu.
(Xã tắc hai phen chồn ngựa
đá
Non sông nghìn thuở vững
âu vàng).
Ông cha ta khi xưa đánh
giặc là để giữ nước, dựng xây non sông bền vững âu vàng đem lại cuộc sống ấm
no, hạnh phúc. Hướng tới kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
trong trái tim mỗi người dân Việt Nam vẫn chảy mãi những mạch ngầm “rì rầm
trong tiếng đất” nối kết với truyền thống ông cha, nhưng đã hiển hiện lên một đất
nước hiện đại của thế kỉ XX đã bước sang thế kỉ XXI từ sau Cách mạng tháng Tám
năm 1945. Đó là gương mặt đất nước đã được thi sĩ tài hoa Nguyễn Đình Thi trải
nghiệm và đúc kết trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ta bắt gặp trong bài thơ
nhiều hình ảnh hiện đại, nhiều cách nói hiện đại. Khi nhà thơ nói về đất nước
đau thương: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời
chiều”, là khi nhà thơ thay mặt những người còn sống hôm nay nhớ ơn các liệt
sĩ đã hy sinh vì nước, nhưng không hề bi lụy mà tin tưởng vào sức mạnh tiềm
năng của một đất nước anh hùng bất khuất:
Xiềng xích chúng bay
không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy
hoa
Súng đạn chúng bay không
bắn được
Lòng dân ta yêu nước,
thương nhà.
Và nhà thơ đã phác họa
nên một tượng đài đất nước bằng thơ của thời kì hiện đại:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Đúng là “đất nước đã từ
máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng loà”, ý nghĩ đó thôi thúc những người lính Cụ Hồ
trên đường hành quân vào Nam đánh giặc phải làm gì đây để giữ nước mà ông cha
ta đã dựng xây từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hoặc ca ngợi sứ mệnh của người
ra đi cứu nước và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc chống Mỹ cứu nước:
Nhớ nhau chân cứng đá mềm
em nhé
Hẹn đánh Mỹ xong sẽ về
tìm nhau.
…Em
Anh ôm chặt em và cả khẩu
súng trường bên vai em.
(Chia tay trong đêm Hà Nội)
Em đứng bên đường, như
quê hương
Vai áo bạc, quàng súng
trường
Chào em, em gái tiền
phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn…
(Lá đỏ)
Đi tìm cảm xúc thơ từ cuộc
sống
Khi không bị gò bó, không
bị ràng buộc bởi những khắt khe về hình thức của thơ thì bút lực nhà thơ có thể
sáng tạo theo đúng những gì đã cảm nhận từ cuộc sống thông qua “bộ thanh lọc” của
tư duy để nhào nặn thành cảm xúc. Chính Nguyễn Đình Thi luôn tâm niệm: “Khi đã
bỏ luật lệ rồi, đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói” và phải “Rút ra những cái trong
cuộc sống”. Thơ Nguyễn Đình Thi ở nhiều bài đã phản ánh được quan điểm này. Hai
vế “đủ cảm xúc” và “rút ra từ cuộc sống” hầu như đã trở thành sợi chỉ đỏ trong
nhiều bài thơ của ông.
Là người trong cuộc, tắm
mình trong cuộc chiến đấu gian lao của dân tộc, tham gia chiến đấu cùng với bộ
đội, sống với dân và được chứng kiến ngày thắng lợi vẻ vang của đất nước nên
Nguyễn Đình Thi yêu đất nước như đứa con yêu quê hương, đau xót khi thấy quê
hương bị giặc giày xéo, vui mừng khi đất nước được giải phóng khỏi ách xâm lược.
Cảm xúc trong thơ Nguyễn Đình Thi rất cụ thể, gắn với đời sống thực. Thơ ông đã
ghi lại cảm xúc trào dâng của người con đối với gia đình, người thân, làng xóm,
đồng đội. Những tình cảm tự nhiên, chân thành xuất phát từ cuộc sống đã đem lại
cho thơ Nguyễn Đình Thi những cảm xúc mãnh liệt đi vào lòng người. Về phương diện
này thơ Nguyễn Đình Thi đã nói hộ tâm tư, suy nghĩ của bạn đọc. Đó là bằng lối
nói dứt khoát Nguyễn Đình Thi đã khẳng định chủ quyền quốc gia hoàn toàn thuộc
về nhân dân với niềm tự hào của một nhà thơ-công dân:
Trời xanh đây là của
chúng ta
Núi rừng đây là của chúng
ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng
phù sa.
(Đất nước)
Cảm xúc thơ Nguyễn Đình
Thi đồng điệu với cảm xúc của nhân dân nên thơ ông được đông đảo bạn đọc yêu
thích, nghiền ngẫm. Những hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi như “mưa lâu thấm
dần” đến với công chúng và được công chúng yêu mến. Đó chính là thành công của
thơ Nguyễn Đình Thi, vì cảm xúc thơ ông đi từ cuộc sống, chắt lọc lấy những gì
khái quát nhất, đặc thù nhất và bài thơ khi thành hình hài cụ thể thì cảm xúc
thơ lại được trả về cho cuộc sống để công chúng thưởng thức bằng ngôn ngữ thơ.
Từ quan niệm thơ đến thơ
Nguyễn Đình Thi đã vượt qua những chặng đường đi tìm cảm xúc có lúc vất vả,
nhưng có lúc cảm xúc đến một cách tự nhiên tựa như “tóe lên ở những điểm giao
nhau của tâm hồn với ngoại vật”.
Và, như chính Nguyễn Đình
Thi đã nói, “tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đến một độ cảm
xúc mãnh liệt” hoặc “Thơ phải nói ra cảm xúc. Cảm xúc là tai nghe mắt thấy, mũi
ngửi, tay sờ, cảm thế nào nói thế ấy. Thơ không phải kể lể tình cảm. Thơ bây giờ
là hình ảnh cảm xúc. Khi đã có đủ cảm xúc thì nói ra thành vần hay không vần chẳng
còn là điều quan trọng”.
Đúng, khi cảm xúc đã đủ,
đã tràn đầy thì “cuộc trở dạ” cho “đứa con tinh thần” của thơ sẽ không còn nữa.
Cảm xúc đã bật ra thơ. Đây có thể coi là trường hợp bài thơ Lá đỏ được
Nguyễn Đình Thi viết liền một mạch tạc nên khí phách hiên ngang của dân tộc
trong bão giông của chiến tranh vẫn tin chắc về một ngày mai chiến thắng. Những
con chữ, lời thơ trong Lá đỏ đã thành hình hài đủ chín tháng mười ngày và bài
thơ cứ thế “chào đời’ vào năm 1974, khi đất nước đang chuyển động về tương lai:
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời
lửa
Chào em, em gái tiền
phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn…
Hoặc từ cảm xúc rất thật
hòa với niềm tự hào của người đồng hương qua hình ảnh người thủy thủ Việt Nam
Tôn Đức Thắng mang trong mình tinh thần quốc tế vô sản cao cả đã được ngòi bút
Nguyễn Đình Thi lột tả một cách chân thật như biểu tượng của người lính tiên
phong trong hàng ngũ những người cùng khổ trên thế giới:
Anh chạy tới cột cờ cao
nhất
Anh băng mình thoăn thoắt
leo nhanh
Bóng anh mất trên trời
sâu hút
Giữa gió gầm lồng lộn
vùng quanh
(Bài thơ Hắc Hải)
Trước Nguyễn Đình Thi, ở
nước Nga, quê hương của đại thi hào Pushkin và nhiều nhà thơ lớn khác, nhà thơ
Nga Aleksandr Blok của “thế kỷ Bạc” đầu thế kỷ XX tìm thấy được cảm xúc dạt dào
với Tổ quốc – Mẹ hiền đã vùi đầu ròng rã hơn nửa năm trời viết liền một mạch
bài thơ dài Trên bãi chiến trường Kulikovo (1908) gồm 5 chùm
thơ, 120 câu để dâng tặng nước Nga và nhân dân Nga. Cảm xúc chân thật của nhà
thơ – công dân đã sáng tạo nên những bài thơ đích thực.
Cái cách đi tìm cảm xúc từ cuộc sống để làm thơ của Nguyễn Đình Thi thoạt nhìn có vẻ dễ dàng xét trên lí thuyết, song trên thực tế là công việc nhọc nhằn, vật vã đối với mọi nhà thơ, bởi lẽ nhà thơ đích thực là phải biết lấy cái cảm xúc thật của mình đồng điệu với cảm xúc của công chúng thì mới làm ra sản phẩm thơ có giá trị. Nguyễn Đình Thi đã làm được như ông hằng tâm niệm, tuy không phải thành công ở tất cả những bài thơ ông đã làm.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đình Thi. Tác
phẩm chọn lọc. Thơ. NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994.
2. Nguyễn Đình Thi. Thơ
triết học. Trong sách: Tạp chí Tri Tân 1941-1945. Phê bình văn học. Trịnh Bá
Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1999.
3. Tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi. ghi theo Biên bản Hội nghị chiều 28. Tạp chí Văn Nghệ số 17, 18 tháng 11, 12. 1949. NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2000, tr. 215 – 229.
27/3/2025
Nguyễn Xuân Hòa
Nguồn: Văn Học Nghệ Thuật 3.2025
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét