Tiểu thuyết nữ đầu thế kỷ XXI – Ý thức giới của những diễn ngôn cá nhân
“Tôi muốn xã hội hãy đọc
tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu.
Vì đó chính là tiếng lòng
của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân mình” (Y Ban).
Bền bỉ sáng tác hơn bốn
mươi năm, tập trung chủ yếu vào các câu chuyện của đàn bà, Y Ban có lẽ là nhà
văn có đủ thẩm quyền để thay mặt các cây bút nữ khẳng định sự hiện diện của tiếng
nói nhà văn, tiếng nói nữ giới trong văn chương Việt nửa thế kỷ từ sau giải
phóng đến nay. “Khát khao tự giải phóng bản thân”, các nhà văn nữ đã đưa ý thức
giới vào văn chương, vào tiểu thuyết, và từ những câu chuyện cá nhân để thấu hiểu
hơn số phận của giới nữ trong số phận chung của dân tộc, của lịch sử.
Cuối thế kỷ XX, đặc biệt trong hơn 20 năm đầu thế kỷ XXI, với sự vận động, phát triển thể loại, tiểu thuyết của nữ giới cũng bội thu, nở rộ nhiều phong cách. Sự xuất hiện nhiều thế hệ nhà văn nữ, với lối viết mang đặc trưng giới tính, đã làm nên một dòng văn học nữ, đóng góp đáng kể cho thành tựu chung của tiểu thuyết đương đại. Có thể điểm qua hàng loạt tên tuổi đã làm nên diện mạo của tiểu thuyết nữ đầu thế kỷ XXI. Đó là các nhà văn đã thành danh từ cuối thế kỷ XX và tiếp tục có thành tựu những năm đầu thế kỷ XXI; những nhà văn mà cái không khí chiến tranh và những năm tháng thời bao cấp ít nhiều vẫn in dấu trong các tác phẩm của họ như Dạ Ngân, Lý Lan, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Bích Ngân, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà… Đó là các nhà văn ở hải ngoại mà kí ức về một Việt Nam thời hậu chiến vẫn chưa bao giờ bị xóa nhòa, trong những va chạm với các vùng văn hóa mới như Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà, Thuận… Đó còn là những nhà văn lớp sau, thuộc thế hệ 7x, 8x, mà quan niệm và lối viết đã thể hiện rõ một tư duy nghệ thuật mới, không chỉ bắt kịp mà còn hội nhập với văn chương đương đại của thế giới như Phan Hồn Nhiên, Phan Việt, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Dương Thụy, Nguyễn Quỳnh Trang, Di Li, Nguyễn Khắc Ngân Vy, Trường An… Mỗi thế hệ, mỗi nhà văn có một lựa chọn, một lối viết, một hướng đi riêng; song, tất cả họ, một cách có ý thức và cả vô thức, đều thể hiện tiếng nói của giới, qua những câu chuyện cá nhân được nhìn từ điểm nhìn nữ giới.
1. Từ đàn bà đến “đàn bà
hư ảo” và sự trỗi dậy của ý thức giới.
Nhiều ý kiến cho rằng,
phân biệt nhà văn nam và nhà văn nữ là một biểu hiện của bất bình đẳng giới.
Nhiều nhà văn nữ cũng chỉ muốn xác lập vị thế trong tư cách một nhà văn, không
cần thêm thành phần xác định giới tính ấy vào danh xưng. Quan niệm này không phải
không có lý khi cái làm nên giá trị của tác phẩm và thành công của người viết vốn
không phải là giới tính. Tuy vậy, một thực tế không thể phủ nhận rằng, luôn có
một bản chất giới, cái bản chất thiên phú tạo hoá đã mặc định ở người nữ, ẩn hiện
ở những trang văn nữ giới, ngay cả khi những câu chuyện được đề cập ấy không chỉ
dành riêng cho giới nữ. Nhân danh tiếng nói đàn bà, ngay cả khi chạm đến mọi
phương diện của cuộc sống đương đại, tiểu thuyết của các nhà văn nữ, dường như,
vẫn không đi ra khỏi những thân phận nữ giới, trung tâm của những phóng chiếu về
đời sống.
Năm 2004, Y Ban cho ra mắt
cuốn tiểu thuyết Đàn bà xấu thì không có quà, sau rất nhiều tập truyện ngắn
về đàn bà đã xuất bản từ trước như Người đàn bà có ma lực (1993), Người
đàn bà sinh ra trong bóng đêm (1995). Ngay từ nhan đề, nhà văn chuyên tâm
về đàn bà này đã đưa ra một lời khẳng định về những thiệt thòi tất yếu của đàn
bà, nhất là đàn bà xấu. Đàn bà xấu mà lại thông minh thì còn thiệt thòi và cô
đơn gấp bội: vì sự đối xử thông thường của xã hội vốn dựa trên những tiêu chí
do đàn ông thiết lập, và vì tuy trí tuệ có thể giúp họ vượt qua những lối nghĩ
tầm thường, song lại khiến họ đủ tỉnh táo để chọn nỗi cô đơn, thay vì chấp nhận
những gá ghép lệch lạc cho cân xứng với ngoại hình bất hạnh ấy. Lên tiếng về một
thực tế, đàn bà xấu thì không có quà, thì chỉ có tình yêu ảo với những hứa hẹn
có cánh nhưng không bao giờ thành hiện thực, nhà văn Y Ban đã công khai phủ định
quan niệm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” vốn ra vẻ “chiếu trên”, đầy tính an ủi của
các thiết chế xã hội nam quyền, của những người đàn ông vốn mang bản chất “hiếu
sắc”, của cả những người phụ nữ tự ý thức về quyền lực của sắc đẹp, trong khi
ai ai cũng ngầm hiểu, “gỗ” chỉ được nhớ đến khi lớp “sơn” bên ngoài không đạt
chuẩn. Từ góc nhìn giới, qua nhiều truyện ngắn, nhất là tiểu thuyết Đàn bà
xấu thì không có quà, Y Ban đã đòi hỏi xã hội phải thấu hiểu và yêu thương phụ
nữ, cùng những bất hạnh vì nhiều nỗi của đàn bà.
Tiếp sau Y Ban, Lý Lan
cũng đã dùng văn chương để gọi tên trực diện và đề cập đến thân phận đàn bà qua
tác phẩm xuất bản năm 2008, Tiểu thuyết đàn bà. Ở tác phẩm này, nhà văn Lý Lan
đã có một phần mở đầu thú vị khi mượn cái nhìn của một người đàn ông để miêu tả,
nhận diện đàn bà từ cái nhìn của giới khác: “Đàn bà! Rõ ràng không phải một con
báo. Không phải một con cọp. Cũng không phải một con vượn, mà là một con đàn
bà”. Con đàn bà là ấn tượng ban đầu của một người đàn ông, ấn tượng về một con
vật đặc biệt hơn, nhưng vẫn là một con vật như những con vật khác. Phải chăng
cái người đàn ông thấy trước tiên ở đàn bà là phần con, là thân xác. Và phản ứng
tức thì của người đàn ông trong đoạn mở đầu cuốn tiểu thuyết này là “giật mình,
co lại trong thế thủ”; “tim ông đập loạn lên, vừa sợ vừa xấu hổ” trước cái sự
bình thản “hất tóc ra sau lưng, hơi uỡn ngực lên, hai vú căng và đứng” của con
đàn bà. Cái nhìn của người đàn ông là cái nhìn lộ ra ở cấu trúc trần thuật.
Song, ẩn dưới cái nhìn nam tính này lại là một cái nhìn khác mang đậm sắc thái
nữ tính – cái nhìn thiên vị của người kể chuyện khi nhấn mạnh sức mạnh và sự tự
tin nữ giới. Con đàn bà trần trụi, bình thản, đối lập với sự lúng túng, mất chủ
động của người đàn ông. Phải chăng cái phần “người” của đàn ông đã bị phần
“con” của đàn bà đánh gục. Phản ứng lại với cái nhìn nam quyền về thân xác nữ
giới, Lý Lan, ngay từ phần mở đầu của cuốn tiểu thuyết, đã có một câu trả lời
khá thú vị khi tôn vinh giá trị và vẻ đẹp nguyên sơ, bản thể của giới nữ, dù hầu
hết những nhân vật đàn bà trong tác phẩm này đều bất hạnh.
Là những nhà văn thuộc hệ
đầu sau đổi mới, Y Ban, Lý Lan cũng như nhiều nhà văn nữ cùng thời, có lúc đã
mô tả vị thế và số phận của đàn bà từ cái nhìn nam quyền, để rồi từ đó lật lại
vấn đề, thể hiện ý thức giới của họ trong tư cách của những nhà văn, những người
kể chuyện nữ giới. Bằng các câu chuyện riêng tư của phụ nữ như mất trinh tiết,
nạo phá thai, đổ vỡ trong hôn nhân, ngoại tình, cồn cào dục vọng…, các nhà văn
nữ thế hệ này đã cất lên tiếng nói phản kháng, kêu gọi xã hội phải nhìn lại đàn
bà, nhìn họ và hiểu họ từ những đặc trưng riêng của giới. Với Gia đình bé
mọn, Dạ Ngân đã cho phép nhân vật Mỹ Tiệp vượt qua dư luận, định kiến để từ bỏ
hôn nhân, quên đi những tủi nhục khi nhiều lần phải nạo phá thai một mình để có
được tình yêu, một tình yêu gắn liền với những thèm khát da thịt, những vụng trộm
ngoại tình… miễn là thật sự được sống, được yêu như một người đàn bà đúng
nghĩa. Với Trong nước giá lạnh, Võ Thị Xuân Hà đã thể hiện một niềm kiêu
hãnh nữ giới, thách thức những định kiến chính trị và quan niệm đạo đức nam quyền
khi để “tôi” nằm trên cỏ, khỏa thân dưới cơn mưa, thách thức sự chuyên chính của
một người đàn ông thuộc về một thế giới “khác”… Có thể nói, với những mức độ
khác nhau, các nhà văn nữ thế hệ đầu tiên sau đổi mới đã đưa ý thức giới vào
văn chương, trình hiện những mẫu hình phụ nữ mới, ý thức hơn về quyền năng giới
tính của mình, bất chấp những thiệt thòi, mất mát mà xã hội nam quyền vẫn trút
lên số phận và cả thân thể họ.
Xuất hiện muộn hơn, với một
tâm thế khác hơn, các nhà văn thế hệ 7x, 8x không còn quá chú trọng đến việc
kêu gọi xã hội phải chú ý đến phụ nữ, thấu hiểu phụ nữ như một giới, một tập hợp
đàn bà có chung gương mặt. Một cách bình thản, những người đàn bà chỉ là chính
mình, cả tác giả lẫn nhân vật, không ồn ã song vẫn cất lên tiếng nói của giới
thông qua những câu chuyện cá biệt, ít điển hình. Với ba cuốn tiểu thuyết Đàn
bà hư ảo, Phúc âm cho một người, Vạn sắc hư vô, Nguyễn Khắc Ngân Vy tiêu biểu
cho một thế hệ đàn bà viết mới, ưa chuộng kiểu nhân vật vị kỷ hơn là vị tha, nổi
loạn hơn là an phận, thách thức để được là chính mình hơn là hòa hợp để chỉ là
một cái bóng. Một kiểu đàn bà phù phiếm, đàn bà hư ảo đã xuất hiện trong văn
chương của Nguyễn Khắc Ngân Vy cũng như nhiều nhà văn nữ khác, khẳng định một
kiểu ý thức giới mạnh mẽ hơn, bạo liệt hơn, riêng tư hơn, nhưng cũng không kém
phần “đáng thương” so với những người đàn bà trong văn chương của các nhà văn nữ
thế hệ trước.
Như vậy, cùng với sự vận
động của văn học 50 năm sau đổi mới, ý thức giới trong văn học nữ cũng vận động
theo hướng ngày càng rõ rệt và mang nhiều sắc thái hơn. Đặc biệt, không bằng
lòng với việc khắc họa một chân dung đàn bà nói chung, các cây bút tiểu thuyết
nữ những thập niên đầu thế kỷ XXI đã khơi sâu vào những gương mặt đàn bà cụ thể,
cá biệt; những người đàn bà không chỉ ý thức “tôi là đàn bà”, mà còn hiểu rõ
tôi là một người đàn bà phù phiếm, hư ảo, như cái cách mà Y Ban, Nguyễn Khắc
Ngân Vy cùng nhiều nhà văn nữ khác đã khẳng định, qua các trang văn của họ.
2. Điểm nhìn nữ giới
và những diễn ngôn cá nhân
Tiểu thuyết nữ có mặt ở tất
cả các dòng tiểu thuyết tân lịch sử, tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết tính dục…
Dẫu ở khuynh hướng nào, điểm chung của tiểu thuyết nữ giới là đều “nhân danh giới”,
làm thành một dòng tiểu thuyết mang đậm sắc thái giới, thể hiện một lối viết nữ
qua những diễn ngôn cá nhân.
Ở khuynh hướng tiểu thuyết
lịch sử, Võ Thị Hảo là nhà văn xác lập sớm nhất một cái nhìn của nữ giới về những
câu chuyện gắn với những người đàn bà làm nên lịch sử. So với tác phẩm của các
nhà văn nam, Giàn thiêu gây tiếng vang và tạo nên một hiệu ứng tiếp nhận “khác”
về tiểu thuyết lịch sử, bởi thế giới đàn bà và vai trò của họ đậm đặc trong đó.
Sự kiện 76 cung nữ bị thái hậu Ỷ Lan thiêu sống, những số phận đàn bà trong và
ngoài cung cấm…, không chỉ là ngọn lửa thiêu đốt cuộc đời nhiều kiếp của Từ Lộ
mà còn là một thứ ánh sáng rọi chiếu vào những góc tối tăm, để tiếng thét của
những nữ nhân bị cột chặt vào lịch sử được biết đến, cho dù họ là nạn nhân hay
là biểu tượng cứu rỗi. Có thể nói, tuy phụ nữ chưa phải là nhân vật trung tâm của
tiểu thuyết Giàn thiêu, song, với số lượng nhân vật nữ khá nhiều và đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện, dựng lại diện mạo lịch sử,
Võ Thị Hảo đã mở đầu cho một khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử “khác” của các
nhà văn nữ, nơi phụ nữ không còn mờ nhạt khuất sau các tấm màn sự kiện, mà chủ
động vén màn, can dự trực tiếp vào sự vận động của lịch sử.
Với hai tiểu thuyết
mà nhân vật trung tâm đều là phụ nữ, Trần Thùy Mai đã góp phần cũng xác lập một
xu hướng tiểu thuyết lịch sử mang cái nhìn của nữ giới. Tiểu thuyết của Trần
Thùy Mai xoay quanh những bi phận đàn bà như tên gọi của từng tác phẩm (Từ Dụ
thái hậu, Công chúa Đồng Xuân). Từ một sự kiện được ghi chép trong sử sách, Trần
Thùy Mai đã thương cảm cho một số phận hồng nhan trước những ba đào lịch sử mà
viết nên tiểu thuyết Công chúa Đồng Xuân, lật lại một trong những vụ án tai tiếng
bậc nhất triều Nguyễn. Những điểm mờ của lịch sử, những mưu đồ chính trị mà xưa
nay không ít nữ giới bị biến thành công cụ, trở thành điểm tựa để Trần Thùy Mai
viết lại một lịch sử “khác” – lịch sử của một người đàn bà hoàng tộc nhiều khao
khát và trở thành tội đồ của lễ giáo, của gia quy; lịch sử của một giai đoạn
triều Nguyễn gắn với những thân phận và bi kịch nữ giới. Cũng từ điểm nhìn nữ
giới, thay vì tập trung vào những tranh giành quyền lực và các lũng đoạn của đại
thần, tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai đã tô đậm vẻ đẹp nết
na, hiền hậu của Phạm Thị Hằng, từ khi chỉ là một cô thiếu nữ con nhà gia thế,
đến khi ở tột bực ngôi cao, qua một mối tình đơn phương “có thể có” của người bạn
thanh mai trúc mã Trương Đăng Quế, bằng những hình dung của một nhà tiểu thuyết.
Lịch sử qua trang văn của các nhà văn nữ vì thế là một lịch sử của cảm xúc hơn
là lịch sử của những sự kiện chỉ được chép lại bởi những trang sử vô cảm, lạnh
lùng. Đặc biệt, nhìn lịch sử từ những khía cạnh “ngôn tình”, nhà văn trẻ Trường
An đã khôi phục lại một giai đoạn lịch sử phức tạp từ Tây Sơn đến Nguyễn Ánh
qua số phận của những người phụ nữ, nhất là ở hai tiểu thuyết Vũ tịch và Hồ
Dương. Đó là một Ngọc Bình với sự thê lương u uất in cả vào dáng hình, với
cái tên Bình song chữ bình theo nghĩa bèo trôi chứ nào có bình an. Nhân vật Ngọc
Bình trong tác phẩm Vũ tịch được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn. Và ngược
lại cái nhìn của nàng cũng là căn cứ để lý giải những câu chuyện lịch sử: từ sự
bất lực của Quang Toản và cái ngai vàng không đủ sức mang vác; từ những tham vọng
và ưu tư của Gia Long cho một đất nước Việt Nam thống nhất… đến những sự kiện,
biến cố của lịch sử, chiến tranh hằn lên số phận của mỗi người. Đó còn là những
cái giá mà phụ nữ Nguyễn tộc đã phải trả cho một ngày về Phú Xuân của Nguyễn
Ánh qua những oán thán của công chúa Ngọc Du trong tiểu thuyết Hồ Dương.
Có thể nói, đã có một lịch sử được tưởng tượng và lý giải qua lăng kính của
tình yêu và những xúc cảm nữ giới.
Xu hướng tính dục cũng
làm nên nét đặc sắc của tiểu thuyết nữ, đặc biệt là ở tiểu thuyết nữ đầu thế kỷ
XXI. Với nữ giới, tính dục là tự do bản thể, là niềm kiêu hãnh giới tính, là nữ
quyền. Từ ý thức bình đẳng giới, văn học nữ trở thành những diễn ngôn mới về
tính dục nữ. Lấy nữ giới làm chủ thể trải nghiệm, chủ thể trần thuật… nhiều tiểu
thuyết nữ đã công phá vào những “vùng cấm kị” để khẳng định tiếng nói, khẳng định
“quyền” của phụ nữ (trong đó có những “quyền năng” từ giới tính). Tiểu thuyết Y
Ban, Thuận, Dạ Ngân, Lý Lan, Võ Thị Xuân Hà… thường xây dựng những nhân vật nữ
với niềm kiêu hãnh giới, ngôn ngữ thân thể được khai thác tối đa. Y Ban (Xuân Từ
Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc, ABCD,), Thuận (Vân Vi, Thang máy Sài Gòn, Thư
gửi Mina, Sậy), Nguyễn Khắc Ngân Vy (Đàn bà hư ảo, Phúc âm cho một người, Vạn sắc
hư vô) khai thác đến tận cùng những ẩn ức, khát vọng tính dục. Tính dục lệch
pha/ đồng tính cũng xuất hiện đậm nhạt trong những trang văn của nữ giới. Với
cuốn tiểu thuyết đầu tay, Vũ Phương Nghi đi sâu vào thế giới “hủ nữ” với những
câu hỏi day dứt: “Những người đồng tính luyến ái thật sự nhìn nhận thế nào về hủ
nữ? Và cuộc sống thật sự của những cô gái này ra sao?” (Chuyện lan man đầu thế
kỷ). Võ Thị Xuân Hà dựa vào ý thức bình đẳng tính dục giới, khẳng định tiếng
nói, khẳng định “quyền” của phụ nữ (Trong nước giá lạnh, Tường thành). Đã có
nhiều phát ngôn của các nhà văn nữ về sex trong văn chương, đa phần họ đều
“nhân danh tính đàn bà” để khẳng định quyền bình đẳng tính dục.
Đề cao nhân vị, về cơ bản,
tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI vẫn đau đáu truy tìm ý nghĩa của tồn tại trong mỗi một
khoảnh khắc hiện hữu. Nhạy bén, mẫn cảm với những điều thuộc về “cái tôi ẩn mật”,
nữ giới tập trung vào các trạng huống hiện hữu cá biệt của con người trong đời
sống để thấu triệt bản ngã. Góp một cái nhìn của nữ giới vào xu hướng tiểu thuyết
hiện sinh, tiểu thuyết của Phan Việt là hành trình tìm lại chính mình của con
người trong trạng thái lo âu, bất ổn, luôn đuổi theo, truy tìm “khao khát và
ham muốn như một tầng dưới của hạnh phúc, bất chấp hạnh phúc chứ không phải vì
không có hạnh phúc” (Tiếng người). Từ những ẩn ngôn của tâm linh, trên bề mặt của
vật vã đời sống, thấp thoáng ẩn hiện những số phận, những khuôn mặt nữ đầy cá
tính nhưng cũng lắm chông gai, với bốn cuốn tiểu thuyết Ngụ cư, Thức giấc,
Nhân gian và Chân trần, Thùy Dương đã dồn nén nhiều vấn đề triết lí,
nhiều suy tư trăn trở của nhà văn về một cõi nhân gian bé tí hiện tồn ngay từ
nhan đề của tác phẩm. Có thể nói, với cảm thức hiện sinh, các nhà văn nữ gặp gỡ
nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, xa lạ giữa một thế giới phẳng,
thế giới phi lí, chông chênh trong trạng thái vừa muốn kết nối vừa tách rời cuộc
sống. Nhân vật của Phan Hồn Nhiên “sống với khoảng không mênh mông, hoang mang
hơn tất cả những gì tôi đã cố hình dung trước đấy. Tôi không khóc, cũng cũng buồn
thảm kiệt quệ. Chỉ đơn giản là tôi vắng vẻ đến cùng cực” (Dạt vòm). Nhân vật của
Phong Điệp, sau những nỗi đau phải sống, những áp lực cuộc đời cũng tìm đến cái
chết như một sự trút bỏ gánh nặng cuộc đời (Blogger). Từ nhiều góc nhìn, kết hợp
các loại diễn ngôn, nhà văn nữ hải ngoại Đoàn Minh Phượng cũng biểu đạt thành
công nỗi cô đơn phận người qua ba tiểu thuyết Và khi tro bụi, Hạt mưa rơi
bao lâu, Tiếng kiều động vọng. Thuận, với tiểu thuyết Sậy, tiếp tục
nhận diện cảm thức tha hương cùng những loay hoay tồn tại của những thân phận nữ
giới trong những giằng co giữa các nền văn hóa. Có thể nói, từ điểm nhìn giới,
các nhà văn nữ đã đối thoại với quá khứ, không ngần ngại phơi bày xung đột giữa
những định kiến truyền thống và quan niệm hiện đại, giữa những ràng buộc của nữ
giới và những đấu tranh cho chính họ (Y Ban, Dạ Ngân, Nguyễn Khắc Ngân Vy).
Quan niệm và cái nhìn nữ giới trong tiểu thuyết nữ đầu thế kỷ XXI có thể còn
gây nhiều tranh cãi. Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng, bằng các tác phẩm của
mình họ đã trình bày một tiếng nói riêng, tiếng nói của các cá nhân, của những
thân phận nữ giới và làm nên sự khởi sắc của tiểu thuyết đầu thế kỷ.
3. Kết luận:
50 năm sau chiến tranh, gần 40 năm sau đổi mới, và cũng gần hết một phần tư thế kỷ của thế kỷ XXI, từng chút một, các nhà văn nữ đã khẳng định vị trí quan trọng của họ trên văn đàn và đóng góp đáng kể vào thành tựu đa dạng chung của văn học Việt Nam đương đại. Văn học nữ, đặc biệt là tiểu thuyết nữ đầu thế kỷ XXI, không chỉ là những câu chuyện dành riêng cho nữ giới. Nhân danh diễn ngôn đàn bà, tiểu thuyết nữ chạm đến mọi phương diện của cuộc sống đương đại thông qua các trò chơi ngôn ngữ, trò chơi cấu trúc, đem lại những ánh xạ về đời sống qua những khả thể của những câu chuyện văn chương. Phải chăng, từ góc độ của cái riêng, cái khác về giới, các nhà văn nữ đã “Luôn ước muốn sáng tạo một nền văn học cho chính mình (a literature of your own). Cho chính mình? Tức là cho thời đại mình”, như nhà văn Võ Thị Xuân Hà từng chia sẻ. Và vì thể mà đã có một ý thức giới đặc biệt hiện diện rõ rệt trong tiểu thuyết và trong văn học nữ những năm đầu thế kỷ XXI.
7/3/2025
Thái Phan Vàng Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét