Phim "Đào, phở và piano": Còn
những gì ngoài đào, phở, và piano?
Bộ phim “Đào, phở và piano” đang là tác phẩm điện ảnh hot trên dư luận xã hội và báo chí truyền thông. Hiệu ứng cảm xúc lan tỏa và kèm theo đó là hiện tượng cháy vé đã từ lâu lắm chưa thấy ở thị trường điện ảnh Việt Nam. Câu chuyện cháy vé của bộ phim “Đào, phở và piano” cùng với phản ứng tích cực của nhiều khán giả, trong đó hầu hết là khán giả trẻ khiến cho nhiều nhà chuyên môn cho rằng đó là hiệu ứng từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc được khơi dậy đúng lúc, đúng chỗ. Nhưng nếu chỉ như vậy thì liệu phim “Đào, phở và piano” có thành hiện tượng? Vậy để tạo được một hiện tượng như vậy, đạo diễn Phi Tiến Sơn đã làm như thế nào?
Phản ứng tích cực của nhiều
khán giả về một dòng phim xưa nay không mấy được lòng công chúng
Dĩ nhiên mọi nhận định chỉ
có thể tạm coi là khoa học và đúng khi mà có một cuộc khảo sát xã hội học văn
hóa từ những khán giả đã xem phim, thuộc mọi lứa tuổi, tầng lớp với cả phỏng vấn
định tính và định lượng. Nhưng ở đây tôi chưa có điều kiện làm điều đó. Tôi chỉ
cố gắng ghi nhận những gì trong phạm vi tôi nhìn thấy từ hai lần xem phim “Đào,
phở và piano”. Lần thứ nhất xem ở Beta Cinemas Trần Quang Khải và tôi ngồi ở
chiếc ghế xấu nhất rạp. Khi ấy tôi ghi nhận:
Toàn bộ là các bạn trẻ.
Chỉ có hai mẹ con, mà cô con gái đang bó bột ở chân. Tôi muốn giúp cô bé đang
bó bột ở chân, nhưng hai mẹ con bảo không cần, rất dễ thương. Hỏi thăm bà mẹ
mua vé lúc nào, bà bảo sáng qua. Hỏi hai mẹ con có thấy phim hay không, hai mẹ
con khen: Hay lắm. Hỏi tiếp 3 nhóm nữa, tổng cộng gồm 8 bạn trẻ đã đi làm hay
còn đi học, tất cả đều khen hay. Cảm xúc của khán giả trẻ cực kỳ thú vị. Các bạn
thay đổi trạng thái cảm xúc theo mạch phim và diễn viên Trần Lực quả là ngôi
sao sáng nhất phim theo ý các bạn ấy, điều khiển được cảm xúc của khán giả trẻ.
Điều này rất đặc biệt và tôi thử tìm cách lý giải ở phần sau. Tôi hỏi 1 bạn gái
rất trẻ: có thích chú Trần Lực trong phim này không, bạn ấy cười tươi: Con là
fan chú Lực, follow chú ấy và biết phim này cũng vì chú ấy. Thật sự chứng kiến
cảm xúc của các bạn trẻ thấy thật đáng yêu. From Saigon with love. Đấy là lời của
các fan trẻ trung gọi diễn viên Trần Lực bằng chú, bác.
Lần thứ hai sau một tuần,
tôi đi xem với giới chuyên môn qua một thư mời. Kết thúc phim là một tràng vỗ
tay. Nhưng điều tôi để ý là cảm xúc của khán giả (nhiều vị lớn tuổi) khá trùng
với mạch cảm xúc của khán giả trẻ mà tôi chứng kiến ở lần xem thứ nhất. Đó là
cùng cười ở những câu thoại, phân cảnh, cùng mạch cảm xúc chùng xuống ở những
cao trào phim.
Vậy thì ít ra nhiều khán
giả ở Sài Gòn cũng có sự hưởng ứng tích cực với phim. Tôi không nói ở các địa
phương khác vì không có điều kiện chứng kiến thực tế.
Hiện nay đa phần là những khán giả trẻ đi xem phim này, bởi lẽ chỉ có họ mới có
sự nhiệt huyết và thời gian, cũng như sức trẻ để… xếp hàng mua vé hay kiên nhẫn
mua qua các app. Bên cạnh những lời chê phim dĩ nhiên là luôn phải có, thì cảm
xúc đến từ nhiều khán giả thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi rất đáng lưu tâm. TS. Phạm
Ngọc Lan (Đại học Sư phạm TPHCM) thì cho rằng: “Nhìn chung phim khá hay mặc dù
không phải xuất sắc, so với kinh phí 20 tỉ thì không thể đòi hỏi hơn được nữa.
Cốt truyện phi tuyến tính được xử lý ổn. Các sự kiện trong quá khứ được sắp xếp
khá khéo léo, đẩy xung đột lên cao một cách hợp lý, nhưng lẽ ra cao trào cần phải
căng thẳng hơn, mâu thuẫn giữa 2 nhân vật chính cần phải gay gắt hơn thì tháo
nút mới kịch tính. Nhưng mà đáng tiếc mạch truyện bị lộ, kết khá dễ đoán, nên
người xem có cảm giác hơi hẫng”. Còn cảm xúc từ bạn trẻ Bùi Anh Quốc là: “Dù
mình đánh giá nó ở mức trên trung bình (đã cộng điểm khuyến khích cho phim Việt
Nam nhưng nói chung là đáng thời gian bỏ ra đi xem. Dẫu vậy cũng cần nói ra một
số điểm yếu là cách nói lời thoại của nữ chính nó giống giống với các phim thời
xưa xưa hơn mà như thế thì bị lệch bộ với các diễn viên còn lại. Câu chuyện
cũng được, có phần dễ đoán nhưng nói chung đúng là điện ảnh chứ không phải dạng
web drama hay là hài nhảm đem ra rạp”.
Qua những nhận xét của
nhiều khán giả, từ trực tiếp đến trên mạng xã hội, có thể nhận thấy bộ phim nhận
được khá nhiều sự ưu ái. Sự ưu ái đó không chỉ đến từ chuyện bộ phim lấy cảm hứng
từ cuộc chiến bảo vệ Hà Nội 60 ngày đêm trong giai đoạn 1946 – 1947, mà còn đến
từ một kịch bản khá lạ với định kiến quen thuộc của nhiều khán giả Việt Nam đối
với dòng phim do nhà nước cấp kinh phí: phim thường không hay, làm xong là đi
thẳng từ phim trường vào kho. Kịch bản khai thác một câu chuyện tình trên bối cảnh
thời chiến, với thời gian là một ngày đêm, dùng thủ pháp phi tuyến tính để phát
triển mạch phim không theo trình tự thời gian và có cũng cảnh đồng hiện để minh
họa cho ước mơ về tình yêu, hạnh phúc và cả sự thèm phở của nhân vật cậu bé
đánh giày.
Theo lý thuyết tiếp nhận
(Reception Theory) thì: Tính chủ quan luôn là tiền đề cho mọi hoạt động thưởng
thức tác phẩm của con người. Công chúng tiếp nhận tác phẩm với những tâm trạng
buồn vui khác nhau, có trình độ văn hóa khác nhau, xuất thân từ những nghề nghiệp
khác nhau, có độ tuổi và giới tính khác nhau, có thái độ khác nhau và ở sống những
thời điểm khác nhau trong lịch sử. Kết quả là có bao nhiêu người thưởng thức một
tác phẩm, thì sẽ bấy nhiêu cách tiếp nhận. Người khen, kẻ chê, người thì hứng
thú với chi tiết này, người thì khó chịu với chi tiết kia. Có những cách tiếp
nhận sâu sắc, cũng có những cách tiếp nhận hời hợt, nhưng nói chung, mọi người
đều có quyền xây dựng những cách hiểu riêng của mình về tác phẩm. Và rất nhiều
khi, các cách hiểu riêng ấy lại trùng hợp với nhau. Khi ấy tác phẩm thường được
số đông đồng ý cho là hay (hoặc dở). Mặt khác, khi đến với một tác phẩm, công
chúng thường có sẵn một “tầm đón nhận”, tức là những thị hiếu có sẵn trước khi
thưởng thức một tác phẩm nào đó, phụ thuộc vào sự hiểu biết, tri thức cá nhân,
tình cảm, quan niệm, lứa tuổi, giới tính… Do vậy sẽ xảy ra hiện tượng là thấy
tác phẩm này hay vì phù hợp với tầm đón nhận của mình, hoặc thấy không hay, thấy
lúng túng vì xa lạ với tầm đón nhận sẵn có. Nhưng tầm đón nhận cũng sẽ thường
xuyên thay đổi thông qua việc thưởng thức tác phẩm theo dòng chảy thời gian,
cho nên ở những thời điểm khác nhau, công chúng có thể có những đánh giá khác
nhau về cùng một tác phẩm.
Nên với bộ phim “Đào, phở
và piano”, mọi lời khen hay chê đều chỉ có giá trị mang tính tương đối và chủ
quan, bởi phụ thuộc rất nhiều vào “tầm đón nhận” của mỗi người.
Đặc tả sự lãng mạn trong
cuộc chiến qua lát cắt lịch sử với thời gian một ngày đêm và không gian một vài
nơi chốn hà nội
Bộ phim “Đào, phở và
piano” do đạo diễn Phi Tiến Sơn chấp bút viết kịch bản. Đây là bộ phim được Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch đặt hàng Công ty Cổ phần hãng phim truyện 1 sản xuất
với kinh phí là 21.963.580.658 đồng, nghĩa là xấp xỉ 22 tỉ đồng, chưa có kinh
phí phát hành, phổ biến phim. Nói nôm na, đây là bộ phim được nhà nước tài trợ
toàn bộ kinh phí làm phim. Bộ phim ra mắt công chúng lần đầu tiên vào tháng
9.2023 và đã đoạt giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 23 tổ
chức tại Lâm Đồng vào tháng 11/2023, như một minh chứng cho sự đánh giá của giới
chuyên môn trong điện ảnh. Dĩ nhiên mọi giải thưởng và đánh giá đều mang tính
tương đối, song có thể nói trong con mắt của Ban Giám khảo thì bộ phim này được
ghi nhận.
Đạo diễn Phi Tiến Sơn là
một đạo diễn lão thành và có danh tiếng trong giới điện ảnh Việt Nam hiện nay.
Ông làm phim cả trong lĩnh vực điện ảnh và truyền hình. Một số bộ phim của ông
gây được tiếng vang cả trong điện ảnh và truyền hình như: “Vào Nam ra Bắc”,
“Nghề báo”, “Lưới trời”, “Người vác tù và hàng tổng”, “Xin thề anh nói thật”,
“Lập trình cho trái tim”… Theo cách nhìn của tôi, những bộ phim của đạo diễn
Phi Tiến Sơn, dù là điện ảnh và truyền hình đều khá đa dạng về đề tài, thường tập
trung xoáy sâu vào những vấn đề nóng và mới mẻ của xã hội như nghề báo chí, vụ
án, nông thôn, chuyện giới trẻ… Thậm chí ông còn có gia tài là một bộ phim về
chiến tranh mà ít ai nhắc đến, là bộ phim “Cầu ông Tượng”. Nhân vật chính trong
phim “Cầu ông Tượng” là Tâm, một người lính tình nguyện của Việt Nam sang Lào
chiến đấu năm 1972. Do vậy ông không phải là người lần đầu mới làm phim chiến
tranh, nhưng cách khai thác phim “Đào, phở và piano” khác hẳn phim “Cầu ông Tượng”.
Đạo diễn Phi Tiến Sơn là
người Hà Nội, ông chọn làm một bộ phim có đề tài lấy cảm hứng chiến tranh, từ
cuộc chiến 60 ngày đêm trong giai đoạn năm 1946 – 1947. Như đạo diễn thổ lộ
trên báo chí thì vì cả cuộc đời sống và làm việc tại Hà Nội, nên ông muốn sáng
tạo một tác phẩm về quê hương mình để tôn vinh Hà Nội. Nhưng với một kinh phí hạn
hẹp 22 tỷ cho một bộ phim về đề tài chiến tranh rõ ràng rất khó làm phim cho thỏa
đáng. Không thể có kinh phí làm những đại cảnh hoành tráng, đạo diễn Phi Tiến
Sơn đã chọn một lát cắt thời gian để nhìn xuyên suốt cuộc chiến 60 ngày đêm. Đó
là thời gian khoảng một ngày đêm vào ngày 17 và 18.2.1947, ngày và đêm cuối
cùng trước khi quân và dân Hà Nội được lệnh rời khỏi Thủ đô và rút lên chiến
khu để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng không cần thiết phải am hiểu
kỹ về lịch sử thì mới hiểu bộ phim này. Cảm hứng từ cuộc chiến 60 ngày đêm khi
đi vào phim, cho dù vẫn có những khung hình miêu tả sự khốc liệt của cuộc chiến,
song chủ yếu bộ phim tập trung khắc họa những số phận con người tham gia cuộc
chiến đó. Những dòng chữ trên phim về các mốc thời gian và bối cảnh, khiến cho
những người không am hiểu lịch sử vẫn xem khá dễ dàng. Và thật ra đây không phải
là một phim về chiến tranh hay lịch sử như nhiều người nhầm tưởng. Đây là phim
về những số phận con người trong chiến tranh, từ đó cho thấy những tính cách
“con người hà nội” đặc biệt, rất khó lẫn lộn với bất cứ nơi nào. Cốt truyện
cũng khá đơn giản. Cặp đôi nhân vật chính trong phim là anh lính tự vệ Văn Dân
(Doãn Quốc Đam đóng) và cô tiểu thư Thục Hương (Cao Thị Thùy Linh đóng). Họ lạc
nhau trong biến loạn chiến tranh, gặp lại nhau và cưới nhau với sự chứng kiến của
ông họa sĩ già (Trần Lực đóng) và cha xứ (Trung Hiếu đóng). Bên cạnh đó là tuyến
nhân vật phụ như người chỉ huy trưởng, cậu bé đánh giày, nhà tư sản Hà Nội và
hai ả đào, vợ chồng ông bán phở…
Như ở trên đã nói, đạo diễn
Phi Tiến Sơn đã khôn ngoan chọn những bối cảnh hẹp, tập trung vào một góc chiến
lũy, một số ngoại cảnh và thời gian dồn nén trong một ngày đêm. Cách chọn bối cảnh
như vậy đòi hỏi diễn viên phải có diễn xuất tốt và cũng dễ khiến cho khán giả
có tâm trạng dồn nén theo và dễ bùng nổ cảm xúc, tạo hiệu ứng lan tỏa. Đây là một
điều vừa khó vừa dễ cho chính đạo diễn phim và bộ phim “Đào, phở và piano” chỉ
làm tốt được một nửa trong khâu chọn diễn viên.
Với một kinh phí không
nhiều và phim trường cũng thiếu và kém, kỹ xảo điện ảnh không phải là thế mạnh,
đạo diễn Phi Tiến Sơn khi viết kịch bản và làm phim “Đào, phở và piano” đã chọn
giải pháp lãng mạn hóa cuộc chiến tranh. Nghĩa là cũng có mất mát, đau thương,
hy sinh, gay xúc động, nhưng câu chuyện tình yêu của đôi nam nữ nhân vật chính
được đẩy lên thành tâm điểm của bộ phim. Vì vậy, ngay cả khi hai diễn viên Doãn
Quốc Đam và Cao Thị Thùy Linh nhập vai còn có những lúng túng, diễn xuất tâm lý
và biểu cảm chưa thật tốt, thậm chí không được đánh giá cao như cặp đôi Nguyệt
Hằng và Anh Tuấn vào vai vợ chồng ông bán phở, nhưng vẫn tạo được cảm xúc cho
khán giả xem phim. Đào, phở hay piano không chỉ là biểu tượng của một Hà Nội
thanh lịch, hào hoa như lời đạo diễn Phi Tiến Sơn giải thích, mà còn có thể coi
là một kiểu nhân vật ẩn trong phim, liên kết mạch phim và các chi tiết lại với
nhau, thúc đẩy mạch phim phát triển.
Một cách khai thác kịch bản
về thời xưa nhưng lại hợp “trend” với thời nay
Bộ phim “Đào, phở và
piano” được lòng công chúng nhờ vào một yếu tố luôn khiến cho nhiều bộ phim về
đề tài lịch sử ăn khách nếu biết khai thác tốt: tinh thần dân tộc! Lòng yêu nước
và tinh thần dân tộc là một đề tài không bao giờ xưa cũ trong các tác phẩm văn
học nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng. Nhiều bộ phim trên thế giới trở
thành kinh điển, hiện tượng phòng vé hay gặt hái được nhiều giải thưởng danh
giá nhờ khai thác hay và hợp lý đề tài này. Khơi gợi được tinh thần dân tộc của
công chúng rất dễ tạo ra những hiệu ứng bùng nổ trong phim, điều này thì lịch sử
điện ảnh thế giới đã ghi nhận không ít trường hợp. Ở Nga có thể kể đến bộ phim
kinh điển “Khi đàn sếu bay qua” hay trường hợp bộ phim “The Longest Day” (Ngày
dài nhất) trở thành cơn sốt ở Mỹ và Châu Âu kể về cuộc đổ bộ của quân đồng minh
lên bờ biển Normandy vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, trong Chiến tranh thế giới thứ
hai, đứng số 1 trong top 50 phim hay nhất về chiến tranh mọi thời đại.
Bộ phim cho dù còn có những cảnh chưa tốt, thậm chí nhìn giả và thiếu sức thuyết phục, ngay cảnh bát phở quay cận cảnh thì nhìn cũng không mấy hấp dẫn, đôi diễn viên nam nữ chính do Doãn Quốc Đam và Cao Thị Thùy Linh đóng chưa đạt, biểu cảm tâm lý chưa hay, đài từ cũng chưa ổn, nhiều đối thoại vẫn bị lên gân, mang tính kịch, nhiều chi tiết còn khiên cưỡng, chẳng hạn như cảnh thả chiếc đàn piano từ trên tầng nhà xuống để mang đi trong khi đang đánh nhau, hay cảnh hai nhân vật chính cãi nhau rồi làm lành cũng khá gượng, cảnh đua xe được tái hiện rất giả tạo, cảnh kết phim tuy bi tráng lại bị lỗi kỹ xảo quá kém, xe tăng, vũ khí trong phim còn chưa thật chuẩn xác, những đoạn thoại tiếng Pháp tuy ít nhưng ban đầu khi chiếu rạp không có phụ đề, tuy nhiên ở thời điểm hiện tại đã được khắc phục.… nhưng bộ phim lại được nhiều khán giả đánh giá là thành công nhờ vào sự khai thác yếu tố tinh thần dân tộc trên nền một câu chuyện tình yêu bi tráng. Tuy nhiên, nếu chỉ có vậy thì ở Việt Nam cũng đã có những đạo diễn thành công mà tiêu biểu nhất cho đến nay vẫn là NSND Đặng Nhật Minh với những bộ phim trở thành kinh điển trong điện ảnh Việt. Nhưng “Đào, phở và piano” được lòng công chúng của ngày hôm nay còn vì những yếu tố khác. Trước hết, đó là cách xây dựng nhân vật. Doãn Quốc Đam diễn chỉ ở mức tròn vai và Cao Thị Thùy Linh thì có thể nói là nhờ nét đẹp hợp vai cô tiểu thư Hà thành mà bù đắp được cho diễn xuất. Nhưng lời thoại của hai nhân vật khá tốt, thể hiện được sự hào hoa, thanh lịch của người trí thức Hà Nội xưa, với những từ ngữ khá cổ nhưng lại phổ biến vào thời đó. Vợ chồng ông bán phở là một cặp đôi thú vị và rõ ràng nhân vật ông bán phở có lẽ được lấy cảm hứng từ một ông chủ hàng phở danh tiếng ở phố cổ Hà Nội. Hai diễn viên Nguyệt Hằng và Anh Tuấn vào vai ông bà chủ hàng phở cũng là vợ chồng ngoài đời thực, do vậy họ có sự tương tác rất tốt, với một phản ứng cảm xúc gọi là chemistry, thường thấy giữa các cặp đôi yêu nhau. Đặc biệt vai ông họa sĩ già yêu cái đẹp, tính cách tưng tửng, kỳ quái, nhưng nhân hậu được NSND Trần Lực vào vai rất đạt, từ cái nhún vai, khoát tay, đến giọng điệu hài hước, bất cần thốt ra ở những hoàn cảnh đang “nước sôi lửa bỏng” chết người của cuộc chiến. Nhiều khán giả bật cười theo mỗi lời thoại của nhân vật ông họa sĩ và có thể nhận thấy rằng nghệ sĩ Trần Lực một mình gánh được cả bộ phim. Khán giả trẻ rất thích những chi tiết như vậy, kể cả sự thèm phở được đẩy lên quá mức của nhân vật cậu bé đánh giày, gây ra tiếng cười. Có lẽ vì khán giả của ngày hôm nay luôn mang quan niệm rằng phim lịch sử của Việt Nam thường nặng về minh họa, hô khẩu hiệu, thiếu chất đời thường. Nhưng “Đào, phở và piano” làm họ bất ngờ, vì bộ phim đi ngược lại với suy nghĩ thường có ở họ.
Sự “tận hiến” và sự “tín
niệm” trong tính cách người hà nội khiến khán giả dễ tha thứ những thiếu sót của
phim
Nhiều khán giả Việt Nam,
đặc biệt là nhiều khán giả trẻ yêu thích một bộ phim như “Đào, phở và piano” là
điều đáng mừng vì cho thấy công chúng vẫn nặng lòng với lịch sử dân tộc, vẫn tự
hào về truyền thống trong quá khứ. Nhưng nếu chỉ có thế thì chưa đủ, vì thực tế
điện ảnh Việt Nam cũng có không ít những phim về đề tài lịch sử không được giới
chuyên môn đánh giá cao. “Đào, phở và piano” thu hút khán giả, nhất là khán giả
trẻ vì còn những yếu tố khác, trong đó chuyện thay đổi mạch cảm xúc trong phim
và thay đổi nhịp phim được đạo diễn Phi Tiến Sơn làm khá chắc tay. Bộ phim đan
xen giữa những trường đoạn mang tính bi tráng, đủ sức làm khán giả lặng đi, như
đoạn truy điệu các liệt sĩ hy sinh trong tiếng nhạc hay đoạn kết của phim,
nhưng đồng thời cũng có những lời thoại duyên dáng, gây cười đúng chỗ, đúng
lúc, cùng với diễn xuất của các diễn viên phụ như ông họa sĩ tưng tửng, quái
quái, nhưng nhân hậu và tôn thờ nghệ thuật, như vợ chồng ông hàng phở ở lại
chưa tản cư ngay chỉ để nấu phở cho cậu bé đánh giày và gánh phở lên chiến lũy.
Những phân cảnh trữ tình cũng được lồng ghép qua tâm tư dằn vặt, xoay chuyển của
Văn Dân và Thục Hương, khi vừa gặp nhau, cưới nhau cũng là để chết bên nhau,
qua tiếng đàn piano của Hương, qua sự kiên quyết của Dân khi tìm cách mang cành
đào về chiến lũy.
Bộ phim khắc họa được
đúng tính cách người Hà Nội gốc với sự tinh tế, thanh lịch, hào hoa đôi khi lên
đến mức cực đoan và cũng cho thấy khi ở giữa sự sống và cái chết, tính cách ấy
không thay đổi mà chỉ bị đẩy lên đến mức tận cùng. Thế nên khán giả xem phim có
thể sẽ không tự hỏi vì sao phải mang cành đào lên chiến lũy, vì sao cô tiểu thư
Thục Hương gắn bó với cây đàn theo một “chấp niệm” nào đó, vì sao anh lính tự vệ
Văn Dân lại có thể thản nhiên ngồi ôm bom ba càng làm mẫu vẽ cho ông họa sĩ và
sẵn sàng ôm bom ba càng quyết tử, vì sao vợ chồng ông hàng phở vẫn nấu phở dù
xung quanh mọi người đã tản cư hết, vì sao một nhà tư sản với hai ả đào xinh đẹp
cặp kè lại lái xe ô tô đưa anh lính tự vệ lên chiến lũy… Bởi vì đơn giản đấy
không chỉ là những nhân vật, mà đấy chính là cách sống, cách ứng xử đã đi vào
tính cách người Hà Nội và chúng bùng nổ ra trong sự khốc liệt, bi thảm của cuộc
chiến. Chiến tranh có thể khiến cho con người ta làm những điều phi thường để bảo
vệ lý tưởng, tín niệm của mình, cũng như lời vị linh mục trong phim, đó là
“ngày tận hiến”. Tận hiến cuộc đời mình vì những điều mình đã sống, đã tin! Và
không chỉ là người Hà Nội, có lẽ, bất cứ khán giả ở đâu khi xem phim “Đào, phở
và piano” nhiều người cũng xúc động vì tinh thần “tận hiến” ấy.
Bộ phim nhận được nhiều sự
thông cảm của khán giả về những thiếu sót, chưa làm tốt trong phim, với lý do
là kinh phí hạn hẹp cho một phim về chiến tranh. Nhưng điều làm cho khán giả rộng
lượng nhất, có lẽ vì bộ phim có những câu thoại xúc động, những cảnh quay tạo
được cảm xúc như cảnh anh lính tự vệ Văn Dân cố gắng mang cành đào lên chiến
lũy, hay cảnh cô tiểu thư Thục Hương chơi đàn trong khung cảnh đổ nát của chiến
tranh, cảnh truy điệu liệt sĩ… Nhưng đặc biệt cảnh ông họa sĩ già vẽ tranh với
sự giúp đỡ của cha xứ là một cảnh gợi nhiều mỹ cảm. Qua đó có thể mượn lời vị
cha xứ, bảo đây là “ngày tận hiến”. Một từ ngữ của Công giáo được dùng để khán
giả liên tưởng đến sự tận hiến của mỗi nhân vật trong phim. Cách xây dựng nhân
vật được đạo diễn Phi Tiến Sơn cố tình đẩy lên đến mức cực đoan, điều thường thấy
ở những con người thời kỳ đầu háo hức với niềm tin và lý tưởng, nhưng lại thuyết
phục bởi có sự tương đồng với tính cách người Hà Nội gốc. Dưới những hành động
cử chỉ hào hoa, thanh lịch ấy, là sự quyết tâm, kiên định, là sự cực đoan không
thể thay đổi khi đã đặt niềm tin và cuộc sống vào những tín niệm nào đó. “Đào,
phở và piano” lấy được cảm xúc của khán giả nhờ vào sự thể hiện tinh thần “tận
hiến” xuyên suốt trong phim.
Chất “weird” và “slay”
thu hút nhiều khán giả trẻ
Tôi luôn nhìn các bạn trẻ
với cái nhìn trân trọng và đánh giá cao. Bởi vì các bạn có điều kiện tiếp cận với
thế giới bên ngoài, với tri thức nhiều hơn các thế hệ trước. Các bạn cũng sẵn
sàng bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình thẳng thắn. Và đương nhiên các bạn trẻ
có những gu, sở thích khác nhau. Khán giả lớn tuổi đi xem phim với sự từng trải,
hiểu biết thì “Đào, phở và piano” khơi gợi cho họ những cảm xúc mà họ đã từng bắt
gặp từ những tác phẩm nghệ thuật có nét tương đồng trước đó, khi mà dòng phim về
chiến tranh, lịch sử luôn là một thế mạnh được ghi nhận trong lịch sử điện ảnh
Việt Nam và khi ấy dòng phim giải trí, thị trường chưa lấn át, khuynh đảo như
hiện nay. Giới trẻ cũng bị cuốn hút bởi họ muốn xem một bộ phim đang đình đám
là như thế nào. Yếu tố lịch sử hay sự lãng mạn, tình yêu thời chiến đương nhiên
là một món ăn tinh thần khá lạ giữa vô vàn những sự giải trí thời thượng hiện
nay.
Nhưng không chỉ thế, sự
thành công của “Đào, phở và piano” còn đến từ một vài yếu tố mà có lẽ đạo diễn
Phi Tiến Sơn cũng không ngờ tới. Phi Tiến Sơn đẩy ba yếu tố đào, phở và piano
lên trong phim theo kiểu rất điện ảnh để khắc họa một Hà Nội như người ta vẫn
hay nghĩ về, nhưng bản thân cái tên phim “Đào, phở và piano” khá lạ lùng so với
một phim thể hiện đề tài lịch sử, xưa nay vốn thường mang cái tên khá công thức,
khô cứng. Giới trẻ thích cái tên phim bởi chất độc, lạ, trẻ trung của nó. Bản
thân tên phim “Đào, phở và piano” đọc lên tuy có vẻ rời rạc, không gắn kết,
nhưng với bất cứ ai am hiểu văn hóa Việt Nam đều biết đấy là những biểu tượng đặc
trưng cho Hà Nội và là những biểu trưng đẹp, nên thơ, tương phản với sự khốc liệt
của chiến tranh.
Chất “quái” khi làm phim
của đạo diễn Phi Tiến Sơn không rõ tình cờ hay cố ý lại khá hợp gu với giới trẻ
bây giờ. Sự thanh lịch hay hào hoa nhiều khi trở thành cực đoan, thành tín niệm
của người Hà Nội trong bối cảnh chiến tranh được đẩy lên thành trùng hợp với chất
“weird” và “slay” được thể hiện trong phim, hai tính chất mà giới trẻ bây giờ rất
thích, đặc biệt là giới trẻ có vốn hiểu biết nhất định. “Weird” là kỳ quái, lạ
lùng. Còn khi giới trẻ khen ai đó slay, có nghĩa là thích cách họ hành động,
phong cách hoặc ngoại hình của họ. Dõi theo nhiều trang giải trí Việt trên mạng
xã hội cũng như các fanclub Việt, luôn dễ thấy rằng những ngôi sao ca nhạc, điện
ảnh, sân khấu… quốc tế thường thu hút đông đảo các bạn trẻ Việt hâm mộ không chỉ
bởi tài năng hay nhan sắc, mà còn bởi những hành động, cử chỉ mang chất quái,
phát ngôn cá tính, ấn tượng. Thậm chí nhiều bạn trẻ hâm mộ không chỉ những người
cùng thế hệ như Taylor Swift, Rihanna, Adele.., mà còn tạo những fanclub cho những
nghệ sĩ kỳ cựu như Madonna, Cate Blanchett… với những lời khen ngợi, tôn sùng.
Bộ phim “Đào, phở và piano” có một nhân vật mà nhiều bạn trẻ rất thích bởi nhận
thấy sự tương đồng mang chất “weird” và “slay”. Đó là nhân vật ông họa sĩ do
NSND Trần Lực thủ vai. Đóng một vai phụ nhưng lại xuất hiện xuyên suốt trong
phim, vai ông họa sĩ ở nhiều cảnh diễn đã lấn át các nhân vật khác và tạo được
cảm xúc thú vị cho khán giả. Từ những phát ngôn hài hước, tưng tửng một cách dễ
thương cho đến những triết lý nghe có vẻ nửa đùa nửa thật không hợp với thời
chiến nhưng thật sự gây ấn tượng kiểu như: “Thì cũng phải có người ở lại để
hương khói cho họ chứ”; từ điệu bộ nhún vai, phớt đời rất khinh bạc kèm câu nói
để giải thích vì sao vẫn sống cùng với chiến lũy: “Thì chết là cùng chứ gì” cho
đến cảm hứng nghệ thuật bùng cháy ở bức tranh vẽ trong đêm cuối cùng… đều được
nghệ sĩ Trần Lực diễn rất xuất sắc.
Hình ảnh ông hàng phở
cũng là một điểm nhấn thú vị của phim. Bởi vì ông hàng phở trong phim làm tôi
nhớ đến một ông hàng phở cũng hói, nổi danh ở phố cổ mà thỉnh thoảng ra Hà Nội
tôi hay ghé vào ăn phở. Ai đã từng ăn phở ở đó, sẽ có cảm giác thú vị vì thấy
ông hàng phở trên phim… quen quen. Tôi nghĩ nhiều khán giả ở Hà Nội cũng sẽ có
cảm giác giống như tôi.
Những thủ pháp phi tuyến
tính, đồng hiện, dòng ý thức, liên văn bản, phi trung tâm hóa trong phim
Nói thêm một chút cho rõ,
vì có một số khán giả có thể chưa quen. Thủ pháp phi tuyến tính là không theo
trình tự thời gian, nên mới có cảnh đầu phim là cảnh nóng, và bộ phim đan xen
giữa các mốc thời gian trong một ngày đêm, khi mà các cảnh chuyển qua lại giữa
các thời điểm. Đồng hiện và dòng ý thức có thể thấy khi mà nhân vật anh lính
Văn Dân nghĩ về đám cưới với Thục Hương và nghe Thục Hương chơi đàn piano. Chú
bé đánh giày thì ở thời điểm đưa anh lính Văn Dân đi tìm vũ khí, lại nhớ về
ngày xưa vui vẻ chưa có chiến tranh, chơi với các bạn cùng tuổi…
Liên văn bản, hình ảnh
thì cực kỳ nhiều. Liên văn bản (intertextuality), cùng với phi trung tâm hóa
(decentralization) nằm trong lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction). Đạo diễn
Phi Tiến Sơn có lẽ không phải là người am hiểu về lý thuyết nghệ thuật. Song
ông là người có chất “quái”, có sự nhạy cảm mang tính bản năng, và rất tình cờ
những cái mà ông làm phim, lại trùng với điều mà nhiều khán giả thích và có thể
nhìn những điều này từ lý thuyết nghệ thuật. Liên văn bản có nhiều hình thức
như: phóng tác/chuyển thể (adaptation); dịch thuật (translation); mô phỏng
(imitation); điển cố, điển tích; giễu nhại (parody); nhại, cắt dán
(pastiche, collage); nghịch đảo (anagram); ám chỉ (allusion); xoáy vặn
(twisting)… Thế thì ở bộ phim “Đào, phở và piano”, có những gì là liên văn bản?
– Bộ phim có những khung
cảnh gợi nhớ tác phẩm nổi tiếng “Sống mãi với Thủ đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
và những bài thơ như “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi với “Người ra đi đầu không
ngoảnh lại. Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” và những người lính trí thức tiểu tư
sản trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Hay
gợi nhớ bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi:
“Hà Nội cháy, khói lửa ngập
trời.
Hà Nội hồng ầm ầm rung,
Hà Nội vùng đứng lên! Hà
Nội vùng đứng lên! Sông Hồng reo, Hà Nội vùng đứng lên!”
– Hình ảnh bát phở và vợ
chồng ông chủ quán làm liên tưởng đến tác phẩm “Hà Nội băm sáu phố phường” của
Thạch Lam và “Miếng ngon Hà Nội” của Vũ Bằng, hay tùy bút về phở của Nguyễn
Tuân.
– Cây đàn piano và cô gái
chơi đàn làm khán giả nhớ đến một Hà Nội với “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ”
trong ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố” (nhạc Phú Quang; thơ Phan Vũ) và trong nhiều
bài hát khác của Phú Quang. Âm nhạc trong phim được trau chuốt và cũng khiến
cho khán giả thích thú, với những giai điệu từ piano với các bản nhạc kinh điển
của các nhà soạn nhạc Richard Wagner, Franz Liszt, bản ca trù như “Chí làm
trai” (lời thơ Nguyễn Công Trứ), “Đời đáng chán” (lời thơ Tản Đà) hay ca khúc
“Du kích ca” (Đỗ Nhuận), “Suối mơ” (Văn Cao)…
– Chú bé đánh giày là một
hình bóng của em bé Gavroche trên chiến lũy trong tác phẩm “Những người khốn khổ”
của nhà văn Pháp Victor Hugo. Cũng là phảng phất hình bóng của em Lượm trong
thơ Tố Hữu
Ngày Huế đổ máu,
Chú Hà Nội về,
Tình cờ chú cháu,
Gặp nhau Hàng Bè.
Chú bé loắt choắt,
Cái xắc xinh xinh,
Cái chân thoăn thoắt,
Cái đầu nghênh nghênh,
Ca-lô đội lệch,
Mồm huýt sáo vang,
Như con chim chích,
Nhảy trên đường vàng…
– Với cái nhìn nghệ thuật
như là tôn giáo thiêng liêng, cảnh vẽ tranh của ông họa sĩ già với sự giúp đỡ của
cha xứ là sự diễn lại một “Chữ người tử tù” mới của Nguyễn Tuân và phảng phất cả
“Chiếc lá cuối cùng” của nhà văn Mỹ O’Henry, tạo nên mỹ cảm!
– Chuông nhà thờ vang lên
và câu thoại của nhân vật ông Phán “Chuông nguyện hồn ai” là tên một tác phẩm nổi
tiếng của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway viết về chiến tranh.
– Bức họa mà ông Phán
nhìn vào thoại, chính là một bức tranh cực kỳ nổi tiếng trong lịch sử hội họa
thế giới “Nữ thần Tự do trên chiến lũy”, tranh sơn dầu của họa sĩ Pháp
EugeneDelacroix vẽ năm 1831, miêu tả cuộc cách mạng dân chủ Pháp 1930. Nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng, bên cạnh nữ thần, hình ảnh chú bé đường phố ở bức
tranh đã trở thành nguồn cảm hứng cho Victor Hugo xây dựng nhân vật chú bé
Gavroche trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ”.
Và mặc dù có hai nhân vật
chính, nhưng bộ phim này lại “phi trung tâm hóa” nhân vật. Có nghĩa là theo mạch
phim, không có nhân vật nào trở thành trung tâm, mỗi nhân vật đều có một vai
trò gần như nhau, đều cố gắng gây ấn tượng cho khán giả. Chính vì thế, vai ông
họa sĩ già hay vợ chồng ông hàng phở là kiểu nhân vật được nhiều khán giả chú ý
hơn cả hai nhân vật chính và thu hút cảm xúc hơn.
Thành công nhất từ bộ
phim “đào, phở và piano” là… mạng xã hội
Phim “Đào, phở và piano”
được hưởng lợi từ hiệu ứng mạng xã hội, đây là cách quảng bá miễn phí và rộng
rãi nhất. Trong trường hợp này, như tôi đã từng đưa ra quan điểm khi nghiên cứu
về văn hóa mạng (Internet Culture) thì đây là quyền lực thứ năm và nhiều khi lấn
át cả báo chí, bởi lẽ khán giả có thể nói khá thoải mái, nhận xét khá thoải mái
về phim này, mà không bị hạn chế gì, với mọi cách nhìn và quan điểm khác nhau.
Mọi lời khen hay là chê đều mang hiệu ứng lan tỏa.
Quyền lực thứ năm là gì?
Theo quan điểm của tôi, đó là những phương tiện truyền thông mới qua Internet
như blog cá nhân, mạng xã hội như Facebook, Instagram, X và Youtube, Tik Tok…
Ưu điểm của quyền lực thứ năm là gì? Thứ nhất, là không bị giới hạn về không
gian (có thể đọc được ở mọi nơi, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau) và thời gian (đọc
lúc nào cũng được, dễ dàng tìm lại các tư liệu cũ chưa đọc). Thứ hai, là tính
tiện nghi và linh hoạt, chúng ta có thể sử dụng các thiết bị từ đắt tiền đến rẻ
tiền để đọc và viết, ở bất kỳ trạng thái nào. Thứ ba, đó là tính cá nhân song
hành với tính cộng đồng. Một cá nhân nào đó có thể lập ra một trang mạng hoặc
blog, hoặc trang Facebook, tài khoản Instagram, X, Tik Tok… và thu hút cộng đồng
tham dự. Từ đó mới nảy sinh ra các KOLs trên mạng xã hội, cũng như các nhóm cộng
đồng.
KOLs (Key Opinion
Leaders) theo Từ điển Merriam – Wester có thể hiểu là “người dẫn dắt quan
điểm, tư tưởng”. Họ là là những người nổi tiếng, họ tạo ra những xu thế trong
đời sống và dẫn dắt cộng đồng theo mức độ ảnh hưởng của họ. Họ có thể là những
ngôi sao điện ảnh, ca nhạc, những stylist, chuyên gia làm đẹp, ẩm thực… hoặc
cũng có thể là những con người có thế mạnh nào đó trong lĩnh vực chuyên môn của
họ, chẳng hạn như nhà văn, nhà thơ, doanh nhân, kỹ sư, bác sĩ, nhà báo, nhiếp ảnh
gia… hoặc có những hoạt động thu hút cộng đồng chẳng hạn như người làm từ thiện,
người truyền đạo…
Tất nhiên quyền lực thứ
năm cũng là con dao hai lưỡi, trên đó chúng ta thấy thông tin giả song hành
cùng thông tin thật, người xấu chen với người tốt, và những người tỉnh táo, hiểu
biết thì luôn có sự nhìn nhận, đánh giá rõ ràng của riêng mình. Bù lại, quyền lực
thứ năm được tự do và độc lập về mặt tư duy và nhận thức, và nó chính là sự bù
đắp tốt nhất cho những nhược điểm của quyền lực thứ tư. Thực tế trong xã hội Việt
Nam bây giờ, quyền lực thứ tư và quyền lực thứ năm đang có sự cạnh tranh gay gắt
trong rất nhiều vụ việc, cung cấp thông tin và rất nhiều lần, cán cân và lòng
tin của công chúng nghiêng hẳn về quyền lực thứ năm.
Cho nên với “Đào, phở và
piano”, quyền lực thứ năm thể hiện qua nhiều vụ việc cụ thể, gần đây nhất là
qua lời chê của một khán giả trẻ có nói là từng học lớp phê bình phim ảnh, một
nhà văn nữ hay một nữ tổng biên tập tạp chí. Những lời chê này từ góc nhìn của
họ, song cũng làm tăng thêm hiệu ứng lan tỏa cho bộ phim. Còn bản thân những
người tham gia bộ phim, họ cũng tương tác nhiều hơn trên mạng xã hội để quảng
bá cho phim và cho chính họ. Bản thân các công dân mạng (netizens) thì cũng có
dịp để thể hiện quan điểm, cách nhìn của mình về bộ phim. Cho nên tôi nhận định
rằng: Như nhiều hiện tượng văn học nghệ thuật khác, người thắng lớn nhất trong
bộ phim “Đào, phở và piano” chính là… mạng xã hội!
Nhưng trên mạng xã hội
cũng đầy thông tin giả. Hình ảnh những chiếc máy điều hòa nhiệt độ như một tấm ảnh
đang lan truyền rộng rãi là không hề có trong phim. Cảnh chiếc muôi inox sáng
lóa ở chạn bếp nhà ông hàng phở cũng không hề có trong phim, chắc có lẽ là ảnh
photoshop! Nên cẩn trọng với những thông tin này.
Bộ phim về đề tài chiến
tranh ấn tượng nhất trong những năm gần đây, dù nhiều thiếu sót
Chọn cách làm phim đan
xen giữa kết cấu phi tuyến tính, tức là không theo trình tự thời gian và sử dụng
cả thủ pháp đồng hiện trong nhiều phân cảnh, bộ phim đòi hỏi người xem phải tập
trung theo dõi nếu không sẽ khó mà hiểu được ý đồ của đạo diễn. Vì vậy, một số
khán giả kêu ca không hiểu là do họ chưa hiểu được thủ pháp này. Khâu thiết kế
phim trường và kỹ xảo nhiều chỗ còn chưa chân thực, tạo cảm giác giả. Có thể do
hạn chế về kinh phí nên khung cảnh chiến lũy, xe tăng, lính Pháp đi càn… còn
chưa thật sự thuyết phục. Thậm chí trong các vũ khí mà bộ phim đưa ra, chỉ có
bom ba càng là gần nhất với hình ảnh trong lịch sử quân sự Việt Nam, còn thì
các vũ khí khác đều sai, hoặc mô phỏng na ná. Cành hoa đào thì giả trân. Ít nhất
là thay đạo cụ cành đào vài lần, vì mỗi cảnh quay thì cành đào lại to nhỏ khác
nhau. Lúc thì cành đào có dây buộc, lúc thì không!
Nếu đi soi về khung cảnh
phim, về vũ khí, trang phục, chiến lũy… khán giả có thể đến Bảo tàng Lịch sử
quân sự ở Hà Nội. Tại đây có thể xem các hình ảnh và vũ khí thực về cuộc chiến
60 ngày đêm ở Thủ đô Hà Nội. Có thể thấy đạo diễn Phi Tiến Sơn đã khảo sát khá
kỹ tư liệu. Song, từ việc khảo sát tư liệu đến việc biến thành đạo cụ hiện thực
trên phim là cả một khoảng cách dài! Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh một điều, Hà
Nội thời đó không như nhiều người, nhất là nhiều người miền Nam lầm tưởng, Hà Nội
thời đó cũng hoa lệ, thanh lịch, nhất là ở tầng lớp tư sản, trí thức và cách ăn
nói thì khá cầu kỳ, nên thoại trong phim nhiều khán giả nghĩ là giống kịch,
nhưng không hẳn như thế. Còn về trang phục thì thời đó là động viên, mang tinh
thần tự vệ quân, không phải lính chính quy, nên có gì mặc nấy, không phải ai
cũng mặc trang phục lính.
Bộ phim cố gắng tạo cảnh
giống thật, nhưng kỹ xảo còn kém, khiến cho khán giả xem có thể thấy khó chịu.
Đoạn kết phim là cao trào, bi tráng nhất, tạo được cảm xúc cho người xem nhưng
sẽ thuyết phục hơn nếu như dùng kỹ xảo tốt hơn. Một số phân đoạn nhấn nhá về
chuyện thèm phở của cậu bé đánh giày tuy có thể làm cho một số nhà phê bình điện
ảnh không thích, nhưng phản ứng của phần đông khán giả lại khá thú vị, thích
thú, gây cười cho khán giả, như một thủ pháp “làm mềm mại hóa” sự cứng nhắc,
khô khan của cuộc chiến. Nhưng không hẳn khán giả nào cũng thích sự “làm quá” về
hình ảnh bát phở. Bản thân tôi cũng không thích hình ảnh bát phở bị làm quá
lên. Nhưng dù vậy, bộ phim “Đào, phở và piano” vẫn là một bộ phim đáng xem bởi
sự ấn tượng của nó, và có thể nói đây là một bộ phim về đề tài chiến tranh được
làm với sự tâm huyết, chỉn chu nhất trong những năm gần đây.
Suy nghĩ thêm: điện ảnh
việt nam cần phim chính luận, phim giải trí mang tính thị trường và cần cả dòng
phim nghệ thuật, độc lập
Cũng từ hiện tượng cháy
vé và sự phản hồi tích cực của khán giả đối với phim “Đào, phở và piano”, việc
cần làm hiện nay là để cho bộ phim được công chiếu rộng rãi hơn, tạo điều kiện
cho nhiều khán giả được thưởng thức. Tuy ở thời điểm hiện tại, đã có những cụm
rạp tư nhân cũng tham gia phát hành nhưng còn vướng cơ chế về kinh phí cho phát
hành, phổ biến, quảng bá, nên những việc cần làm ngay là những cơ quan có thẩm
quyền về văn hóa, điện ảnh cần có sự làm việc tích cực với các cụm rạp tư nhân
về việc đưa phim về chiếu. Đồng thời có thể đưa phim về chiếu miễn phí hoặc với
giá rẻ trong các trường phổ thông và đại học, chiếu miễn phí nơi công cộng ở
các vùng sâu vùng xa, các địa phương còn khó khăn. Hơn thế nữa, việc đưa phim
lên bán ở những nền tảng giải trí trên mạng của Việt Nam và thế giới như FPT
Play, Neflix… cũng cần được tiến hành sớm.
Về lâu dài, bản thân các
cơ quan chức năng cũng nên có đưa ra những quy định mới về kinh phí phát hành,
tỉ lệ ăn chia với các nhà phát hành phim tư nhân về việc phát hành phim nhà nước
và có những giải pháp thiết thực, cụ thể như phát hành phim trên các nền tảng
giải trí trên mạng trong và ngoài nước… Có như vậy, định kiến về chuyện làm
phim Nhà nước để… xếp vào kho, không phát hành được, mới dần mất đi và điều
quan trọng nhất là vừa phục vụ được nhu cầu giải trí tinh thần của người dân một
cách chính đáng, vừa không làm lãng phí nguồn ngân sách nhà nước.
“Đào, phở và piano” trở
thành một hiện tượng mà ngay cả người trong cuộc cũng bất ngờ, cho thấy rằng
dòng phim về đề tài lịch sử, do nhà nước đặt hàng, nếu được thể hiện theo một
kiểu gần gũi với khán giả, thoát ra khỏi những công thức chung thông thường,
thì rất dễ được lòng công chúng. Hiện tượng bộ phim “Đào, phở và piano” đang trở
thành cơn sốt phòng vé cho thấy một bộ phim được làm từ kinh phí nhà nước xưa
nay mang nhiều định kiến là chỉ để “xếp kho” vẫn có thể thu hút khán giả, nhất
là khán giả trẻ. Sức hút của “Đào, phở và piano” đến từ việc biết khơi gợi tinh
thần dân tộc, lòng yêu nước là những giá trị bất biến, trường tồn, nằm trong
tâm thức của mỗi người dân đất Việt. Cách làm phim của đạo diễn Phi Tiến Sơn và
thành công của “Đào, phở và piano” cho thấy rằng nếu có cách tiếp cận thích hợp,
những bộ phim về đề tài lịch sử, có sự hỗ trợ của nhà nước, hoàn toàn có thể sống
được, thu về kinh phí cho nhà nước. Đó là cách làm phim lịch sử trong điều kiện
kinh phí hạn hẹp, phim trường thiếu thốn thì điểm nhấn của phim phải là về những
số phận con người trong cuộc chiến, khai thác không chỉ là những đại cảnh hoành
tráng, mà còn phải biết cân bằng với cuộc sống hôm nay thông qua những chi tiết
gần gũi, đời thường, thậm chí hài hước, gây cười.
Từ “Đào, phở và piano” có
thể thấy rằng dòng phim chính luận vẫn được khán giả dành cho nhiều thiện cảm
và nếu có chiến lược quảng bá tốt, thì tác phẩm không chỉ đến được với công
chúng, mà còn có doanh thu về cho nhà nước. Nhưng cũng qua đó thấy rằng trong
cơ chế tài trợ kinh phí cho dòng phim nhà nước, vẫn còn nhiều lỗ hổng. Cụ thể,
hoàn toàn không có phần kinh phí dành cho phát hành phim và quảng bá phim. Nên
chăng cần bổ sung, cập nhật, điều chỉnh những quy định sao cho các bộ phim làm
từ kinh phí nhà nước có điều kiện được ra rạp. Bản thân các cơ quan có thẩm quyền
cũng cần tạo những điều kiện thuận lợi để cho dòng phim này đến được với khán
giả. Trong khi chưa có những quy định mới bổ sung, thì nên chăng cần áp dụng một
số điều khoản trong các Nghị định hay Luật Điện ảnh về phổ biến phim để tìm đường
ra cho phim Nhà nước. Chẳng hạn Nghị định số 131/2022/NĐ-CP về việc quy định
chi tiết một số điều của Luật Điện ảnh, trong đó điều 9 nêu rõ: “Phim Việt Nam
phải được chiếu trong hệ thống rạp chiếu phim, đặc biệt vào các đợt phim kỷ niệm
các ngày lễ lớn của đất nước, phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, đối ngoại
theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.” Về lâu dài nhà nước mà cụ thể
là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng với Cục Điện ảnh phải đóng một vai trò
lớn hơn. Thị phần thị trường phim ảnh không thể chỉ nằm hoàn toàn trong tay tư
nhân, mà nhà nước cũng nên phát triển một hệ thống rạp, chứ không thể chỉ trông
cậy vào Trung tâm Chiếu phim Quốc gia.
Thành công về mặt doanh
thu của Trấn Thành đối với phim “Mai” và nhiều phim trước đây của anh cho thấy
Trấn Thành là một người làm rất tốt khâu marketing cho phim và bản thân anh
cũng xác định rất tốt đối tượng khán giả – khách hàng của mình. Trấn Thành nắm
bắt được phân khúc thị trường của mình. Chúng ta cũng không thể bắt phim Trấn
Thành phải hay như là nhiều bộ phim giải trí của Hollywood được vì ngoài kịch bản,
còn cần bối cảnh, kinh phí và cả trình độ của người làm phim cũng như số đông
khán giả. Phim Trấn Thành là phù hợp với thị hiếu khán giả bình dân, nội dung
đơn giản, dễ xem, dễ hiểu, đặt trong bối cảnh Việt Nam và có thể mang ra chiếu ở
thị trường nước ngoài để tăng thêm doanh thu, với khán giả chủ yếu là Việt kiều.
Quan điểm của nhà nước Việt
Nam về văn hóa từ trước đến nay luôn nhấn mạnh yếu tố “đại chúng”, kể từ “Đề
cương văn hóa” ra đời năm 1943 cho đến Chiến lược phát triển công nghiệp văn
hóa của Việt Nam. Theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê
duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, thì điện ảnh được xem là một ngành mũi nhọn để tập
trung phát triển vì có sẵn lợi thế và tiềm năng. Theo Chiến lược phát triển các
ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam thì ngành điện ảnh đạt doanh thu 250 triệu
USD, tương đương hơn 6000 tỷ VNĐ và các ngành công nghiệp văn hóa chiếm 7% GDP
cả nước. Như vậy doanh thu cao chứng tỏ phim hợp thị hiếu của đông đảo khán giả
đại chúng và cũng là một nội dung của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp
văn hóa Việt Nam. Và dòng phim tư nhân từ trước đến nay đáp ứng khá tốt yêu cầu
về mặt doanh thu. Một loạt các nhà làm phim tư nhân như Trấn Thành, Lý Hải, Nhất
Trung, Võ Thanh Hòa… với những phim như “Bố già”, “Nhà bà Nữ”, “Mai”, series
phim “Lật mặt”, ‘Siêu lừa gặp siêu lầy”, “Quỷ cẩu”… lập nên những con số doanh
thu ấn tượng, cho thấy trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, điện ảnh không chỉ
mang lại lợi nhuận cho cá nhân, mà còn là một nguồn thu đáng kể cho ngân sách
nhà nước. Dòng phim thị trường tồn tại là có lý do của nó và bản thân sự tồn tại
của nó đang nuôi sống ngành công nghiệp điện ảnh ở Việt Nam.
Nói như vậy để thấy dòng
phim giải trí mang tính chất đại chúng, dành cho số đông khán giả vẫn là một
dòng chủ lực trên thị trường phim ảnh Việt Nam. Còn muốn đi xa hơn nữa như một
bộ phim giải trí vẫn có thể mang tính nghệ thuật kiểu “Titanic” hay hoàn toàn
dùng công nghệ để chinh phục khán giả kiểu như phim “Avatar” thì điện ảnh Việt
Nam hiện nay rõ ràng không thể đạt tới tầm đó, dù nguồn cảm hứng sáng tạo cho
những phim mang tính “bom tấn” có đầy rẫy trong lịch sử Việt Nam. Chỉ có điều nếu
bằng lòng với hiện tại và vẫn mãi như vậy thì cũng có nghĩa là để cho điện ảnh
Việt Nam đứng chân tại chỗ.
Điện ảnh Việt Nam rõ ràng
còn rất nhiều điểm yếu. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra mà rất khó có câu trả lời:
Điện ảnh Việt Nam ở đâu trên bản đồ điện ảnh thế giới? Đã có những tác phẩm gì
tiếp cận với điện ảnh thế giới? Đã có những hoạt động nổi bật gì để giao lưu quốc
tế? Các thế hệ nghệ sĩ, đạo diễn có những ai vươn tới tầm ngôi sao bên ngoài
lãnh thổ Việt Nam? Và điều quan trọng nhất, đâu là bản sắc điện ảnh Việt Nam?
Thị trường phim Việt Nam sẽ đọng lại những gì, giới thiệu ra thế giới những gì
với những phim như “Mai” hay “Gặp lại chị bầu”? Là gì ngoài doanh số? Là gì
ngoài những tranh cãi? Vậy điện ảnh Việt Nam sẽ phát triển như thế nào nếu
quanh năm suốt tháng vẫn chỉ là sản xuất những bộ phim giải trí tầm trung với
thị hiếu của khán giả Việt? Bù đắp vào những điểm yếu đó, không chỉ là dòng
phim chính luận do nhà nước đặt hàng, mà còn cần chú trọng phát triển dòng phim
độc lập, nghệ thuật.
Dòng phim nghệ thuật, độc
lập ở Việt Nam khá kén người xem, song đây lại là dòng phim không chỉ cho thấy
sự đam mê, tài năng sáng tạo của người làm nghề, mà còn có khả năng tiếp cận với
trình độ điện ảnh thế giới. Một số giải thưởng quốc tế gần đây của phim Việt
Nam như “Tro tàn rực rỡ” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đoạt giải Khinh khí cầu
vàng tại Liên hoan phim Ba châu lục tại Nantes (Pháp) năm 2022, “Bên
trong vỏ kén vàng” của Phạm Thiên Ân giành giải Camera Vàng (Camera D’or) dành
cho phim đầu tay xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes 2023, phim “Cu li
không bao giờ khóc” của Phạm Ngọc Lân thắng giải phim đầu tay xuất sắc tại Liên
hoan phim Berlin… cho thấy vị thế và thành công của dòng phim nghệ thuật, độc lập.
Sự phát triển của dòng phim này rất đáng được khuyến khích, bởi đây là cách để
trình độ điện ảnh Việt Nam hướng đến tiếp cận với thế giới.
Điện ảnh vốn bản thân là
công việc sáng tạo đặc thù, là thành quả của rất nhiều người, hướng đến lượng
công chúng đông đảo bậc nhất trong các loại hình nghệ thuật. Một nền điện ảnh
mang tính toàn diện, đa dạng và phong phú với nhiều dòng phim, nhiều thể loại
phim, có sự phát triển cân bằng để có những bộ phim hay, có chất lượng nghệ thuật,
có doanh thu cao, là điều mà khán giả mong mỏi.
Một chút ngoại đề không
trữ tình
Cho dù “Đào, phở và
piano” theo tôi không phải là một bộ phim hay theo đúng nghĩa của từ “hay”,
nhưng đó là phim tốt nhất lấy đề tài từ cảm hứng chiến tranh trong những năm gần
đây. Tôi nghĩ tôi xem phim này với hai cảm xúc, cảm xúc của một người làm phê
bình văn học nghệ thuật và nhận ra phim còn nhiều thiếu sót, nhưng lại đủ sức
đánh động cảm xúc của nhiều khán giả nhờ vào khai thác yếu tố lòng yêu nước và
tinh thần dân tộc, cũng như những thủ pháp nghệ thuật mà tôi nêu ở trên.
Còn về cảm xúc cá nhân, bản
thân tôi đã xem nhiều phim của Việt Nam lấy đề tài từ chiến tranh. Mỗi khi xem
những phim về chiến tranh, tôi thường nghĩ đến gia đình hai bên nội ngoại của
tôi. Tôi hiểu được lý tưởng của những thế hệ đi trước một thời, khi mà họ có
trong tay nhiều thứ, nhưng lại vứt bỏ tất cả để đi làm cách mạng. Sức hấp dẫn của
lý tưởng bao giờ cũng rất đặc biệt. Những lời tuyên truyền trên sách vở hay
phim ảnh không thể nào bằng thực tế chứng kiến trong gia đình. Lý tưởng đã khiến
cho ông nội tôi, một nhà nho tham gia Quốc dân đảng, rồi năm 1927 tham gia Việt
Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, năm 1930 trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản.
Nhưng một trong những bí danh khi đi làm cách mạng của ông nội tôi lại là một
tác phẩm của Đạo gia! Lý tưởng đã khiến cho ông ngoại tôi, một công tử thập
niên 30 cưới vợ rước dâu bằng một đoàn xe ô tô, nhưng năm 1944 vào nhà ngục Hỏa
Lò vì là Việt Minh, và chỉ được ra tù vào tháng Tám năm 1945. Tôi cũng đọc những
lá thư bà ngoại tôi gửi cho ông ngoại những ngày ông ở chiến khu, vẫn đầy nũng
nịu, mơ mộng, trách móc, giận hờn! Một bác ruột tôi là liệt sĩ. Và tôi cũng chứng
kiến hai bác ruột tôi, một thương binh mất một chân, một thương binh mất một mắt,
nhưng chưa bao giờ có một lời than về những năm tháng chiến tranh. Chỉ có xã hội
Việt Nam sau khi hòa bình làm họ thất vọng. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, một bác ruột
tôi, từng làm việc ở Bộ Tổng tham mưu, hay gửi cho gia đình tôi những lá thư
thông tin về các vụ việc tiêu cực, trong đó bác ký vào không ít những lá đơn kiến
nghị của những tướng tá về hưu. Tôi cũng đọc những dòng nhật ký của bố tôi trên
đường vượt Trường Sơn vào miền Nam. Nhật ký của ông nhan đề bằng tiếng Pháp, có
nghĩa là “bí ẩn tâm hồn”. Và tôi đọc nhật ký biết rằng trên đường vượt Trường
Sơn, bố tôi vẫn học tiếng Anh, vẫn làm thơ, vẫn tìm đọc tiểu thuyết xuất bản ở
Sài Gòn để biết phía bên kia là thế nào, thậm chí còn ghi cả những nhận xét,
phân tích về những tác phẩm, trong khi chuyện sống chết là chuyện xảy ra hàng
ngày! Nên tôi không thấy xa lạ với những nhân vật được thể hiện trong phim.
Lý tưởng làm cho con người ta có sức mạnh phi thường, dù là trong hoàn cảnh chiến tranh, dù là đối mặt với cái chết. Do vậy, với những ai có trải nghiệm từ chính cuộc sống cá nhân hay gia đình, hay dù không như vậy, nhưng có quan tâm đến việc thể hiện lịch sử thông qua số phận con người trong tác phẩm điện ảnh như thế nào, thì có lẽ đây là một bộ phim mà họ muốn xem. Còn xem xong cảm thấy như thế nào thì tùy thuộc vào “tầm đón nhận” của mỗi khán giả.
7/2/2025
Hà Thanh Vân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét