Thơ Phan Hoàng trong
hành
trình ngược lối
Nhà thơ Phan Hoàng đã được Ủy ban nhân dân TPHCM trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TPHCM 5 năm lần thứ II với trường ca Bước gió truyền kỳ. Đây là tập thơ đầu tiên được vinh danh giải cao của giải thưởng lớn này. Đó cũng là sự ghi nhận xứng đáng quá trình lao động sáng tạo nhiều khác biệt của nhà thơ Phan Hoàng…
Phan Hoàng đã từng được
nhiều bạn đọc quý mến qua nhiều tác phẩm như Tượng tình (thơ – 1995), Hộp
đen báo bão (thơ – 2000), Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam (1996-1998, 4 tập), Phỏng
vấn Người Sài Gòn (2 tập, 1998), Phỏng vấn Người Hà Nội (2000), Dạ, thưa thầy!
(2000), Chất vấn thói quen (thơ – 2012), Bước gió truyền kỳ (trường ca – 2016)…
Từ Tượng tình đến Bước
gió truyền kỳ là quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, say mê sáng
tạo không ngừng của thi sĩ Phan Hoàng. Đọc những tác phẩm trước năm 2000 và gần
đây là Chất vấn thói quen và Bước gió truyền kỳ, Nxb
Hội Nhà văn, người đọc thấy rõ lối đi ngược sáng tạo của nhà thơ.
Đi để tìm về nguồn cội, kí ức và những thăng trầm của lịch sử, để xác định một
con đường riêng nhưng luôn biết cách đồng hành sáng tạo theo chiều thuận của
quy luật phát triển trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Ngược lối trong thơ Phan
Hoàng chính là bài học về lao động sáng tạo nghệ thuật và giáo dục nhân cách.
1. Sáng tạo!
Theo lý thuyết, các tác
phẩm văn học thuộc nhóm “siêu” thể loại như thần thoại, trường ca, sử thi… đã xếp
vào hàng “vang bóng một thời” trong thực tiễn sáng tác hiện nay. Tuy nhiên, lối
rẽ ngược từ tác phẩm của Phan Hoàng đã giúp người đọc phải suy nghĩ lại về vấn
đề này. Điểm bắt đầu của thơ anh là thơ mới, thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại
và điểm dừng chân hiện tại là trường ca. Biết đâu từ trường ca, nhà thơ trong
hành trình ngược lối lại về với lục bát, tứ tuyệt… mà vẫn không hề xưa cũ. Lối
đi ngược của anh không giống ai nhưng đã giúp anh có con đường đi riêng vào lâu
đài văn học. Con đường ấy vẫn còn nhiều ngã rẽ. Và mỗi lần dẫn dụ người đọc rẽ
lối là mỗi lẫn nhà thơ vẫy gọi người đọc chú ý hơn trong lộ trình đi tìm bí mật
ẩn giấu trong tác phẩm của anh. Đây là điều cần thiết đối với nhà thơ ở Việt
Nam hiện nay một khi không muốn mình thành người nhả chữ quen thuộc, sáo mòn.
Ngược lối như chính tác
giả đã viết: Đôi lúc ta gặp trên đường những chàng trai phi ngựa như
bay, đôi khi ta gặp những cô gái rực rỡ yếm đào chít khăn mỏ quạ, họ ngược
thời gian đi về phía giấc mơ cháy bỏng xuân thì. [Vĩ thanh – tr
79]. Hay Sau mỗi chuyến tốc hành/ta ngược đường bay tìm
về ngọn gió biển tuổi thơ [Gió tiếp sức mơ – tr 32]. Hoặc Mãi
theo di chúc chín lời/ chơi vơi giữa trời khuya vắng/ ta ngược bước gió tổ
tiên/ lành lạnh địa đầu sương trắng/ vẫn nghe từ trong xa thẳm/núi rừng không
ngừng chuyển rung [Gió dựng thành lũy biên cương – tr 70]… Ngược, ngược,
ngược thời gian, ngược, ngược, ngược không gian… ngược lối trần gian xuôi theo
kí ức lịch sử bi hùng nhưng là để đối thoại với hiện tại!
Nhiều lần, Phan Hoàng đã
dùng kết cấu thơ hiện đại để thể hiện những quan điểm, triết lý về lẽ sống, cái
chết, miếng ăn, quan niệm về cuộc đời, không thời gian sống truyền thống. Các hệ
triết lý đã được vận dụng trong đối thoại với quan điểm truyền thống như tranh
luận sinh tử. (Sống chết của cổ nhân: sinh ký tử quy. Hay sống của con người hiện
tại: sống là để chết. Hay với hai học thuyết cơ bản là: Sống một đời sống hay sống
nhiều đời sống? Sống có linh hồn hay không có linh hồn…). Phan Hoàng không
tranh luận trực tiếp nhưng quan niệm sống của anh thể hiện rõ trong nhiều tác
phẩm. (Những ngọn gió mở đường in dấu bao linh hồn/ bộ hành xuôi về hướng
tây/ gió hóa thân những chàng trại vạm vỡ lưu dân/ gánh trên vai ánh mắt kỳ vọng
của người già/ giấu kín trong tim mùi hương vợ trẻ tiếng khóc con thơ) –
[Gió khẩn hoang, tr 48]. Đó chính là triết lý nhiều đời sống của người phương
Đông được thể hiện qua hình ảnh linh hồn của con người. Phan Hoàng đối thoại với
đời sống (Dường như có bóng ai lướt nhanh trong màn sương đục/ bóng của hôm
qua bóng của hôm nay hay bóng của mai sau… chắp tay cúi đầu bái biệt nghĩa
trang ta bỗng gặp bóng mình [Gió cõng hương qua núi đồi – tr 61], đối
thoại với lịch sử, với vĩ nhân, thi nhân và với cả những con người bình thường,
giản dị, thân thương đã từng hiện tồn trong những khoảnh khắc sống của anh…
Ngoài những triết lý được
thể hiện qua kết cấu đối thoại mở, thơ Phan Hoàng còn thể hiện nỗi trăn trở với
cuộc đời, với con người, về bản chất người. Đó là nỗi đau với thăng trầm của những
khoảnh khắc lịch sử phi lý, mà trong đó con người có những lúc thăng hoa nhưng
cũng có lúc như sống trong địa ngục trần gian, thậm chí còn đối xử tàn nhẫn với
chính mình. Liệu có đáng sống?… (Có những cỏ cây bị đánh cắp xứ người cất lời
trách gió/ có những hồn thiêng mất quê đớn đau phẫn uất mắt đêm/ có những ngọn
đồi máu xương vô tình bụi mờ cát phủ …) [Gió dựng thành lũy biên cương
– tr 64] hay (ta ngẩng đầu/ nhòa nước mắt/ khóc những sinh linh chưa kịp trọn
hình hài hóa những vì sao mồ côi/ khóc những gái trai chưa một ngày vợ chồng vẫn
phiêu bồng khao khát/ khóc những cỏ cây vươn xanh trở lại từ núi sông cắt chia
hoang phế/ khóc những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại dòng giống rồng
tiên – [Vĩ thanh, tr 90]. Nhiều câu thơ như những phát ngôn mang tính
đối thoại đầy chiêm nghiệm như kiểu của một triết gia, một nhà tư tưởng, và
cũng gần giống với thi sĩ tâm lý (Núi cao chừng hơn bảy trăm thước, một hòn
đá nhô lên trên đỉnh như mũi giáo, mũi gươm, mũi tên hùng cứ một phương và như
dương vật sinh tồn khổng lồ quanh năm cường lực ôm mây trắng… Núi nghênh đón những
tao nhân mặc khách và đón những gã ăn mày thất cơ lỡ vận… [Cuộc trò chuyện
giữa gió và núi tr 28, 29].
Nhờ sự linh hoạt, táo bạo
trong cách biến hóa kết cấu của trường ca, cách biểu đạt hình tượng bằng các kiểu
ngôn từ lạ mà cấu trúc câu thơ, nhịp điệu, hình tượng biểu tượng, chi tiết nghệ
thuật, nhân vật, giọng điệu trong Bước gió truyền kỳ có những
đột phá lớn. Những câu thơ độc đáo, giàu triết lý đối thoại trong thơ Phan
Hoàng giúp người đọc có thêm những cảm nhận mới về lịch sử của dân tộc nhìn từ
các góc độ văn hóa, tôn giáo, triết học và cả mối quan hệ chính trị phức tạp của
lịch sử dân tộc qua các mối quan hệ giữa con người và con người, con người và
thế giới thiên nhiên. Mỗi tác phẩm của Phan Hoàng không chỉ là một triết lý sống
mà còn là sự thể hiện quan điểm sáng tạo nghệ thuật của anh luôn mới trong những
điều tưởng như đã yên ổn hàng ngàn năm. Các phát hiện riêng của anh về cuộc sống,
về văn hóa, lịch sử và thậm chí có cả sự cản trở của biến đổi, khí hậu kinh
tế, chính trị…đã tạo nên tâm thế đối thoại thơ, tâm thế đối thoại trường ca
Phan Hoàng. (Nỗi buồn ngọt ngào gió chướng phương Nam se se cay đắng/ nỗi buồn
ly hương dựng mới quê hương)… [Gió khẩn hoang – tr 47].
Đặc điểm của cấu trúc trường ca truyền thống là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình… còn trường ca của Phan Hoàng được tạo dựng bằng một kết cấu mở, hiện đại và có sức ám gợi cực mạnh. Nhìn bên ngoài, kết cấu bản trường ca vẫn tuân thủ hình thức truyền thống với đầy đủ các phần mở đầu, phần nội dung các mục, phần vĩ thanh… Tuy nhiên bên trong cấu trúc truyền thống ấy là một tư duy thơ hiện đại được biểu đạt bằng những trải nghiệm nghệ thuật thú vị. Thơ của anh vì vậy có những chiêm nghiệm, suy tư, lãng đãng của thi sĩ nhưng vẫn luôn tỉnh táo, chắc chắn trong luồng tư duy, trong quá trình sử dụng các thủ pháp nghệ thuật thơ. Kết cấu trường ca của Phan Hoàng có xu hướng tổng hợp đa dạng các yếu tố vừa trữ tình vừa tự sự, vừa thể hiện các trạng thái tâm lý, triết lý kết hợp với những xúc cảm riêng trong mối quan hệ mật thiết với những chấn động lớn của lịch sử dân tộc. Yếu tố cốt truyện được tác giả tinh giản đến mức tối đa để nhường lời cho các đối thoại của gió, núi. Các kiểu giọng điệu thay đổi liên tục từ phần mở đầu đến kết thúc. Sự xuất hiện nhiều kiểu giọng điệu đan xen, lúc trầm tư, lúc bi tráng, lúc đầy khí phách hào sảng. Và xuyên suốt trường ca, Phan Hoàng đã sử dụng giọng chủ âm là anh hùng ca. Các thủ pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng khá đa dạng. Thủ pháp dùng câu hỏi tu từ, câu hỏi không nhằm mục đích hỏi, kiểu lặp cấu trúc câu, từ, âm tạo sức gợi mãnh liệt về các hình ảnh lịch sử (thức dậy trong ta bước chân huyền thoại/ … thức dậy trong ta khí phách cha ông…/những ngọn gió mang hương hồn đất đai…/ những ngọn gió tiên phong mở đường…) [Gió khẩn hoang, tr 46]. Và sức hút của gió trong thơ anh càng mạnh bởi mỗi khi xuất hiện trong hình hài từ “gió” quen thuộc nhưng đều được thể hiện bằng những phong thái mới lạ khác nhau qua mỗi nhiệm vụ, mỗi giai đoạn lịch sử. Từ kết cấu này, cấu trúc xã hội trong thơ Phan Hoàng được trình hiện bằng nhiều giá trị đan xen, chồng chéo nhau. Đó là nơi cán cân công lý thiên về cái ác, thiên về kẻ giàu có và quyền lực. Những người quay lưng lại với xã hội, bất lực trước sự thay đổi nghiệt ngã của thời đại mới thì bơ vơ lạc lõng mất niềm tin vào nơi mình đang sống. Trong thơ anh có sự phức hợp, có khi là những cuộc đối thoại kịch liệt giữa văn hóa xã hội hiện đại và văn hóa truyền thống.Những xung đột trong cuộc sống của chính mỗi con người trong thơ anh cũng đang đứng trước thử thách của thời đại toàn cầu hóa.
Biểu tượng gió trong
thơ Phan Hoàng đã góp phần diễn đạt lịch sử thăng trầm, nhen nhóm những khát vọng,
ước mơ của người Việt. (Một thời núi là vị trọng tài phân chia ranh giới hai
nước Việt – Chiêm (…) Hoàng đế thi sĩ Lê Thánh Tông mở đường đến đây lấy cây rừng
làm bút, lấy đá làm nghiên, lấy nước biển làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút
chín tầng xanh)/ Con đường minh quân xây bằng máu đào soi sáng đường bay chim
Việt, nối ngàn xưa cho tới ngàn sau). [Cuộc trò chuyện giữa gió và
núi, tr 28- 29]. Kiểu kết cấu đối thoại trong thơ này mở ra cấu
trúc không gian và khoảng trống thời gian dành cho người đọc đồng hành tìm về
nguồn cội cùng nhà thơ. Khoảng trống ngầm xuất hiện quan hệ câu hỏi tu từ (Gió
từ đâu mà có?…Gió có nội có ngoại? – [Gió mở đường
bay, tr21], hay – Núi nhớ gì một thời trận mạc? Núi nhớ gì một
thời đội sấm đội chớp mở đường? Núi nhớ gì một thời làm người lính trấn biên?/Núi
lại làu làu lịch sử… [Cuộc trò chuyện giữa gió và núi, tr 28]… giúp
người đọc có nhiều cơ hội ngược lối thời gian đặt mình trong vị trí cần phải đối
thoại với lịch sử 4.000 năm của dân tộc. Đây là một cách sáng tạo kết cấu cần
thiết mà các nhà thơ cần lưu tâm trong sáng tác tại thời điểm này. Lịch sử được
khai khẩn bằng một con đường riêng trong thơ Phan Hoàng: “Gió khẩn
hoang”, “Gió xuôi chín khúc sông rồng”, “Tây Nam mùa gió chướng”. Lịch
sử Việt Nam với những sắc màu đa dạng của nó đã hiện hình vào gió, vào thơ Phan
Hoàng, để lại cho người đọc niềm cảm kích sâu sắc (Cảm ơn người mở đường/
hóa thân bước gió truyền kỳ”. “Sông rồng chín khúc mây bay/ Sông
tình chín lúc gió ngây hương nồng) [Gió khẩn hoang, Gió xuôi chín khúc sông
rồng, tr 46 – 52]. Và trên mỗi con đường đầy thương đau, trên
lối ngược nghệ thuật ấy, Phan Hoàng đã mở ra niềm hy vọng cho bạn đọc vào cuộc
sống. Đây là điều đáng quý trọng trong thơ Phan Hoàng dành cho các thế hệ người
đọc. (Mỗi con đường thương đau/ mở ra chân trời hy vọng/ tinh lọc bóng
đêm quá khứ/ kết nối ánh sáng tương lai [Những cơn vượt thoát sinh tồn
vĩ đại – tr 79]).
Đọc thơ Phan Hoàng vì vậy người còn đọc được đắm mình trong trong không gian sâu rộng của đất nước theo một trật tự cảm xúc lôgic, những biến đổi của gió cũng tuân theo quy luật lịch sử: Những ngọn gió vô danh/ Gió tiếp sức ước mơ/ Bước gió truyền kỳ/Gió dựng thành lũy biên cương… và tận cùng của gió là sự đối mặt với những cơn vượt thoát sinh tồn đời người. Gió là một kí hiệu mở, đa nghĩa. Nó không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà còn là sự biểu đạt đa dạng, sinh động của tất cả các trạng thái sống, các cung bậc hỉ nộ ái ố của cuộc đời. Kết cấu mở như thế luôn có khả năng rút ngắn khoảng cách giữa người đọc và thơ Phan Hoàng để tạo nên những giá trị thẩm mỹ mới.
2. Nhân cách
Trong lối ngược ấy luôn
có hình ảnh mẹ như nguồn cội cho cảm xúc thơ Phan Hoàng. Mẹ cũng là kí hiệu biểu
tượng về lịch sử, về sự sống, về quy luật sinh tử dị diệt trong thơ Phan Hoàng.
Mẹ chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng, hi sinh, cam chịu. Mẹ, ngọt ngào, nồng
ấm, thiêng liêng, cho con biết yêu bản thân biết yêu quê hương, yêu những khoảnh
khắc sống của con người. Mẹ chỉ cho mà không mong cầu con đáp trả. Mẹ đối lập với
giả tạo, lừa lọc, bon chen… để cho con đến chốn bình yên. Đọc thơ
Phan Hoàng, dù ở đâu, bận đến mấy thì con cũng muốn bỏ hết, bỏ hết để về với mẹ!
Từ những tập thơ trước, Mẹ là biểu tượng có sức ám gợi khá mãnh liệt trong thơ
Phan Hoàng. Dù trong bất cứ thời khắc nào trong cuộc đời thì mẹ cũng xuất hiện
bên con. Quy luật này được Phan Hoàng diễn tả bằng nghệ thuật bút vấn theo kiểu
cấu trúc đối thoại song hành trong thơ.
Mẹ là người gánh ước mơ
cho cuộc đời con, cho con mạng sống qua mùa loạn lạc, cho đất nước có chút bình
yên trên những con đường loang lổ hố đen bao phủ, trên những sông suối lềnh bềnh
ngầu đỏ máu tươi, trên những giải độc vạt rừng giãy giụa da cam… (Mẹ quảy mẹ
chạy/…/ Tuổi thơ tôi trên thúng gióng tản cư/ Mẹ gánh ước mơ chạy qua mùa loạn
lạc. … Bước mẹ đè gió nam cồ/…Gỡ nón quạt mùi bom/bóng mẹ che tầm đạn/
âu yếm con mẹ khóc… [Mẹ gánh ước mơ – tr 14]). Những ai đã trải nghiệm
cảnh chạy loạn của người dân Việt trong chiến tranh đều có thể hiểu được niềm
xúc động sâu sắc của tác giả khi đọc những câu thơ này. Mẹ cũng là mặt trời
thao thức từng cơn vượt cạn không ngừng phải chống chọi những trận cuồng phong…
[thuở cha canh rừng mẹ đưa con về giữ biển khơi…/ từ ngọn sữa bầu ơi thương
lấy bí cùng của mẹ – Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc, tr 17). Mẹ vì
vậy là bí mật chuyển lưu nguồn sáng chân lý kỳ lạ, là quang hợp sức mạnh rồng
tiên, là di truyền bản lĩnh núi non, là hội tụ sâu thẳm của tấm lòng biển cả,
là người hào phóng cho con, cho nhiều thế hệ năng lượng tái sinh giống nòi! Mẹ
hiện tồn trong nỗi ám ảnh sắc sắc không không, chênh vênh trong cuộc đời ba
chìm bảy nổi, trên con đường sợ hơn bão táp của ông. (Một Con Người viết
hoa/đột ngột rời nhân loại… tình yêu mẹ dở dang/hành trình khai mở dở dang –
[Tình yêu tiếng mẹ dở dang, tr 59]. Mẹ dự báo trước những hiểm họa khủng bố và
ô nhiễm, mẹ mang thông điệp của cái chết làm nhân chứng (Tiếng khóc sơ sinh
như bông hoa chớm nở cũng có nguy cơ chết trên bầu vú nhiễm độc sữa mẹ… Tại sao
trắng/ Tại sao đen – [Cái chết đen và vũ khúc trắng, tr 67]. Mẹ luôn ở
phía thảng thốt sau những loạt bom dội xuống xóm làng, ruộng nương. (Ở phía ấy
chiều chiều/ Mẹ tôi ngồi thất thần nhìn / nén từng hơi thở dài quay mặt khóc/
những giọt nước mắt xói mòn đôi vai/ gầy guộc cô đơn/…những bí mật lóng lánh
xót xa/ như nước mắt mẹ tôi lặng lẽ gầy… [Con trâu thiêng, tr 80]. Mẹ minh
chứng cho những cái lưỡi robot giáo điều đạo đức giả (Gã mặt người đánh mẹ
ngã/ quỵ/ chiếc gậy tre chới với chống tuổi già chới với), [Về một đoạn
phim buồn, tr 83]. Mẹ luôn trong nỗi mòn mỏi vì sự trưởng thành của con. Hình ảnh
mẹ đớn đau, nghiệt ngã (Lại thêm những gã mặt người vung tay đánh đuổi mẹ/…Ôi
những tiến sĩ, kỹ sư, luật sư học vấn tới chân răng/ bước ra từ gánh thóc mồ
côi lướt giông đôi bão…/ bước ra từ người mẹ nghèo quắt queo mù chữ động kinh/
có khi nào trong giấc mơ các ngươi rùng mình/ bao giờ con lớn giống mẹ giống mẹ
giống cha [Bao giờ con lớn?, tr 84]. Mẹ thường trực trong tâm thức, kể
cả khi viết về bình nguyên bay, về những ngọn đồi, về tiến sĩ giấy, về những thầy
giáo quấy rối tình dục sinh viên, về những ngôi mộ không cánh vụt bay… dù không
cố ý viết về mẹ thì mẹ vẫn ẩn hiện trong giờ lên rẫy sớm
khuya (Mượt mà mông/ mủm mỉm môi/ mơ màng mắt/ tình tang ngang dọc…/chàng
trai nào mạnh như con hổ con báo chợ tình đêm nay?!/ tiếng khóc trẻ thơ thơm
như tiếng chích chòe/ tinh mơ mẹ lên rẫy [Bình nguyên
bay, tr 86]. Kể cả khi trái tim lạc nhịp đánh vật xứ người/ trả lãi từng
đồng đô la nhan sắc…thì Mẹ đã xuất hiện trước đó trong nỗi day dứt khôn
nguôi (Tôi đang ở đâu mảnh vườn trĩu nặng lời ru của mẹ?/…Dòng sông bị bắn
trọng thương/ bởi những viên đạn bọc đường lén lút/ Tôi đang ở đâu tái tim thôn
nữ rụt rè/ bước khỏi cổng làng …Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng… [Tôi
đang ở đâu? tr 91]. Cả khi bàng hoàng nhận tin nhắn của bạn Phan
Hoang oi, me toi mat luc 3h24p thì mẹ như cánh chim đêm/
mãi mãi hóa thân vào Châu Thổ… tôi bàng hoàng lội ngược gió sông Ba [Níu
lòng sông Đáy, tr 94]. Mẹ là máu thịt của con (Mỗi nụ cười của con/ một nụ tầm
xuân/ từ máu thịt mẹ cha nở ra xanh biếc…tỏa hy vọng những chân trời) – [Nụ
tầm xuân 231, tr 231]. Khi bộn bề công việc thì mẹ cũng là bến bờ bình yên khiến
con muốn bỏ tất cả để trở về (Gục đầu lên máy vi tính/ tôi thèm đứt ruột /
được làm ngọn gió không đồng phục/ không điện thoại/ không internet/ bay về mái
tranh vách đất của mẹ/ cởi trần lăn lóc tắm mưa…hóa con sáo sậu bước thấp bước
cao/ bập bẹ nói cười …cậc cậc cậc…) – [Thèm làm ngọn gió tự
do, tr 99].
Đến trường ca Bước
gió truyền kỳ, mẹ vẫn không thôi ám ảnh trong ký ức tác giả. (Người lên
đầu non/ người xuôi cuối bể/ xác hóa mây bay hồn về đất mẹ…[Những ngọn gió
vô danh – tr 17]. Mẹ xuất hiện khi tuổi thơ ta hồn nhiên bao câu hỏi, trong
xanh như mắt sương mai (Những câu hỏi ngây ngô như ngọn gió ngây ngô bay khắp
nhà bay khắp vườn bay khắp cánh đồng mênh mông đêm đông vắng mẹ –
[Gió mở đường bay – 21]. Mẹ bao dung bên cạnh dáng cha hiên ngang
thách thức đại dương, thách thức những cơn giông lịch sử. Mẹ gắn với thăng trầm
buồn vui của lòng đại dương khó đoán (Mênh mang đôi bờ cát dài độ lượng
/ gió say bầu rượu dân ca, sông Ba/ bao dung tấm lòng của mẹ/ mỗi cây lúa nghĩa
tình/ nuôi cả lũ kiến chòm ong… [Gió tiếp sức mơ – 21]. Mẹ mang sự sống
cho những miền hoang vắng (Gió dâng lên chín khúc hóa rồng cuồn cuộn ước
mơ… gió dâng lên bao xóm làng trù phú như bầu sữa mẹ mới sinh con) –
[Gió khẩn hoang – tr 46]. Mẹ là hình ảnh của lịch sử vọng lại (tiết kiệm
sông máu núi xương đại dương nước mắt…/mừng những bà mẹ trong cơn đau hạnh phúc
sinh nở không còn) [Gió dựng thành lũy biên cương – tr 59]. Mẹ như biểu tượng
của sinh mệnh tổ tiên (Cỏ hoa giấu nước mắt/ những con đường giấu kín
biệt ly… nỗi đau hơn biển không nước/ nỗi đau mới tượng hình bụng mẹ đã đau/ trồi
lên trên thân thể hấp hối chính mình/ hoa trái nhân hậu bao dung như nếp nhăn vầng
trán mẹ – [Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại – tr 81). Mẹ song hành
bên cạnh những nhân vật anh hùng nổi danh, những con người vô danh. Họ đều phải
gánh chịu hằng hà những hy sinh mất mát, đớn đau trong các cuộc chiến: “bao
bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con/ bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng
đông cứng” …bình thản trước nỗi lòng ta/gió biển tuổi thơ dang rộng
vòng tay từ mẫu [Gió tiếp sức ước mơ – tr 43]. …Mẹ như thế …cũng là chứng
tích sinh động, khủng khiếp của chiến tranh để lại ngàn đời, cho
con, cho hậu thế! Mẹ đã cùng hóa thân trong hành trình ngược lối
thơ con!
Phan Hoàng đã làm thơ theo lối vận dụng kết hợp cách viết của kí hiệu học nghệ thuật và lịch sử, hiện tượng luận và chủ nghĩa trực giác. Mặc dù đôi lúc các tầng tầng biểu tượng kí hiệu xuất hiện quá dày đặc, thiên về tính kể, sự chuyển mạch cảm xúc, chuyển cấu trúc câu đột ngột khiến cho người đọc mệt mỏi, mất phương hướng, muốn bỏ cuộc nhưng mỗi tác phẩm của anh đều có một kết cấu sáng tạo trong từng yếu tố chi tiết nghệ thuật riêng biệt. Một số đoạn thơ lặp cấu trúc liên tục, thiên về cách liệt kê nhân vật, sự kiện và địa điểm… đã tạo ra áp lực ngôn từ cho người đọc nhưng nhiều hình ảnh lạ hóa trong thơ được diễn đạt bằng các thủ pháp nghệ thuật khá phong phú khẳng định thêm phong cách đặc trưng của thơ Phan Hoàng. Cách viết của anh khiến người đọc nhận ra anh đã viết cho họ, đã dành cho họ một sự trải nghiệm sáng tạo nghệ thuật, một khoảng lặng để nghiệm lại bản thân mình. Nhiều câu thơ đột phá cấu trúc có khả năng khuyến khích người đọc tìm cách giải phóng những kìm hãm của truyền thống từng gắn bó với thơ Việt như là bộ da của thân thể con người. Thơ Phan Hoàng vì vậy như một chiếc áo mới cách tân, khá hấp dẫn đã được khoác vào đúng đối tượng. Làm thơ, với anh như là quá trình thông diễn bản thể, là cách tìm lối đi riêng của một thi sĩ có khả năng chịu đựng “nắng gió” để đóng góp sức mình vào quá trình kiến tạo xã hội phát triển đúng nghĩa, theo cách riêng của thơ.
- Tài liệu tham khảo:
- [1]. Phan Hoàng, Chất vấn
thói quen, tái bản, Nxb Văn hóa văn nghệ, 2015.
- [2]. Phan Hoàng, Bước gió
truyền kỳ, Nxb Hội Nhà văn, 2016.
- [3]. Văn Lê, Bước gió truyền
kỳ, cảm hứng lịch sử và cảm hứng thời đại. Bước gió truyền kỳ,
Nxb Hội Nhà văn, 2016
- [4]. Nguyễn Quyến, Thay đổi cảm
hứng bầu trời. Chất vấn thói quen, Nxb Văn hóa văn nghệ, 2015.
- [5]. Võ Trần Băng Phương, Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng, người đi hái bụi vàng kí ức, http: dien dan. thơ tre.com
4/2/2025
Mai Thị Liên Giang
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét