Phức điệu tài tình
của "Bước gió truyền kỳ"
Cảm nhận Bước gió truyền kỳ (Phan Hoàng), dường như bạn đọc được đứng trên đỉnh đèo Cả, nhìn khắp nam bắc đông tây, nhìn suốt quá khứ – hiện tại, dọc ngang theo hành trình mở mang bờ cõi về phương Nam và ra biển cả. Thế chẳng phải người con đất Tuy Hoà dẫu có đi đâu, sống ở đâu cũng hướng về quê hương, cất lên tiếng nói yêu nước hoà trong tình yêu quê hương, xứ sở…
Có bao giờ bạn tự hỏi trước
khi mở trang đầu tiên của một tập trường ca: Nhà thơ sẽ ứng xử với nỗi khó của
thể loại trường ca như thế nào? Bởi, muốn dựng lên một thiên trường ca, cái tứ
rất quan trọng và bước thơ (kết cấu), lời thơ, giọng điệu,… cũng không phải là
dễ dàng. “Câu chuyện” (chất tự sự) trong trường ca (tính trữ tình) được xử lý
thế nào để có tác phẩm thơ quy mô mà không bị đơn giản, đơn điệu?
Tâm thế ấy có lẽ là của
chung nhiều bạn đọc trước khi bắt đầu bước vào thế giới nghệ thuật của Bước
gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng. Thế và, trước khi tiếp xúc với cảm
giới “gió” trong Bước gió truyền kỳ, có lẽ trong tâm cảm phần
đông độc giả đều có ấn tượng của cái gió Tuy Hoà “chuyên cần và phóng túng”
trong bài thơ Nhớ máu (Trần Mai Ninh). Liệu tác giả của Bước
gió truyền kỳ – một người được sinh ra từ vùng đất Phú Yên – sẽ làm mới
ngọn gió quê hương mình như thế nào?
Tuy nhiên, đi vào
không-thời gian nghệ thuật Bước gió thần kỳ, bao băn khoăn kể
trên đều được hoá giải. Cái gió Tuy Hoà trong bài thơ Trần Mai Ninh hào sảng để
xốc tới mặt trận Nha Trang – Khánh Hoà, còn cái gió trong Bước gió truyền
kỳ “mở đường bay”, gió “tiếp sức ước mơ”, gió “khẩn
hoang”, gió “xuôi chín khúc sông rồng”, gió “cõng hương qua núi đồi”,
gió “dựng thành luỹ biên cương”… Gió trong bước bay “truyền kỳ” của
nhà thơ Phan Hoàng đa diện, đa thanh, phức cảm nhờ sở trường của tác giả trên
thể trường ca.
Bước gió truyền kỳ là
những nét phác hoạ con đường dựng nước từ thời tiền cổ đến nay, trong đó có
công cuộc chiến đấu, di dân mở cõi và công cuộc xây dựng, bảo vệ bờ cõi. Trong
quá trình đó, bao thế hệ nhân dân đổ máu xương, đổ mồ hôi là tất yếu:
âm vang bước gió truyền kỳ
lớp lớp người người
tay kiếm tay cờ
lớp lớp người người
tay rìu tay giáo
mắt chớp lửa mặt trời
phương nam
lẹ hơn sóc
mạnh hơn hổ báo
nhanh hơn tiếng hú rừng
hoang
lẫm liệt lao mình
máu
máu
máu
mở cõi
máu
máu
máu
giữ nước
Là người con của “đất Phú
trời Yên”, hẳn tác giả không quên vị trí Phú Yên trong tiểu quốc Kauthara (gồm
Phú Yên và Khánh Hoà) thuộc Vương quốc Champa cổ. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông
thân chinh cất quân đánh vào kinh đô Vijaya (Chà Bàn) của Chiêm Thành, toàn thắng,
lấy núi Đá Bia trên đỉnh đèo Cả làm ranh giới mới giữa hai nước Việt – Chiêm.
Tương truyền, vua Lê Thánh Tông đã cho quân khắc chữ vào khối đá trên đỉnh Thạch
Bi Sơn (núi Đá Bia) để làm ranh giới hai nước. Đến thế kỷ XV, Phú Yên là biên
tái, là quan ải xa xôi của đất nước:
Hoàng đế thi sĩ Lê Thánh
Tôn mở đường đến đây lấy cây rừng làm bút, lấy đá núi làm nghiên, lấy nước biển
làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút chín tầng xanh.
Phú Yên là vùng đất
thiêng, có núi thiêng (núi Đá Bia) tượng trưng cho một linga tự nhiên, cho thần
Shiva, có sông thiêng (sông Ba) tượng trưng cho nữ thần Ganga (vợ thần Shiva),
có cửa biển thiêng (cửa Vũng Rô), có đất thiêng (tháp Chàm) – trung tâm thần
quyền, thờ tự thần linh và tổ tiên. Sau khi nhập vào Đại Việt, Phú Yên là vùng
đất duyên hải miền Trung giao thoa, tiếp biến văn hoá, thành điểm tựa, thành
bàn đạp để đất nước đi tiếp về phương Nam:
Ngược hướng đường mòn khẩn
hoang
hạt nắng phương Nam lặng
lẽ địa đầu rừng thiêng phía Bắc,
ta như người lính mới
mang thơ canh giữ biên cương
say trắng đêm hầu chuyện
cùng linh hồn trấn thủ.
Từ quê hương mình, nơi đất
liền nhô ra biển Đông, nằm ở vị trí chính giữa của dải đất chữ S, dường như tác
giả chọn làm điểm khởi phát, ngược sử rồi xuôi sử. Âu cũng là thái độ táo bạo,
sâu sắc dù khá kín đáo và tinh vi:
Sau mỗi chuyến tốc hành
ta ngược đường bay tìm về
ngọn gió biển tuổi thơ,
sân ga cong cong dáng
sông dáng núi
lồng lộng Đá Bia
oai linh tinh hoa trời đất
hào hiệp sông Ba
thiêng liêng dòng sữa
sinh thành.
Trên dòng lịch sử khoảng
bốn nghìn năm ấy, nhà thơ khéo léo điểm những dấu mốc – dấu son bằng giọng điệu
vừa tráng lệ vừa bi hùng. Cùng với hình tượng gió chủ đạo, hình tượng con đường,
núi, biển, máu,… trùng điệp gợi ra dòng lịch sử dày đặc sự kiện, bức tranh lịch
sử dân tộc rộng lớn, tính cách dân tộc vừa kiên cường vừa hồn hậu, vừa hào hùng
vừa hào hoa:
Tổ quốc ban mai tráng
niên
sau mỗi cơn đêm ngả
nghiêng địa chấn,
đất nước huyền thoại những
con đường
khởi từ trái tim máu chảy
về phía bình yên cỏ hoa.
Tiếng nói yêu nước, tinh
thần dân tộc, quốc gia vốn là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo của thể loại
trường ca. Bước gió truyền kỳ đã chuyển tải những vấn đề mang
tính sử thi ấy thật uyển chuyển, tinh tế với giọng điệu tự hào hào sảng:
Những ngọn gió mở đường
mang linh hồn đất đai
mang giấc mơ chinh phục
mang tinh thần bất khuất
chưa bao giờ ngừng thổi
như những chuyến tàu
không ngừng chuyển bánh
và những cánh đồng xanh đến
hạt phù sa cuối cùng
chuyển vụ
lại lên xanh
Sự kết hợp hai cảm hứng
thẩm mỹ hùng tráng và bi tráng trên suy tư về hành trình chiến đấu và xây dựng
đất nước tất yếu tạo nên sự phức điệu trầm bổng của Bước gió truyền kỳ.
Bên cạnh giọng điệu hào hùng chủ đạo, nhiều đoạn trầm lắng, cảm thương nhưng
không bi ai:
Cảm ơn người mở đường,
hoá thân bước gió truyền
kỳ
ta lang thang khắp mọi ngả
đường Tổ quốc,
uống dòng hào khí bi hùng
ngàn năm
dòng hào khí đánh đổi
tinh hoa lớp lớp người người
vẫy vùng thiên tai
hiên ngang chiến trận,
ta ngẩng đầu
nhoà nước mắt
khóc những sinh linh chưa
kịp trọn hình hài hoá những vì sao mồ côi
khóc những gái trai chưa
một ngày vợ chồng vẫn phiêu bồng khao khát
khóc những cỏ cây vươn
xanh trở lại từ núi sông cắt chia hoang phế
khóc những cơn vượt thoát
sinh tồn vĩ đại dòng giống rồng tiên.
Sự đan cài, giao hoà giữa
hai giọng điệu (bi và hùng) làm cho Bước gió truyền kỳ hào
hùng và lãng mạn, bay bổng mà sâu lắng, vừa có tính sử thi vừa đậm nét trữ
tình. Bên cạnh đó, giọng điệu triết lý, chính luận – đích đến của thể loại trường
ca – cũng được nhà thơ Phan Hoàng thể hiện đậm nét ở Bước gió thần kỳ :
Khi lịch sử gồng mình trước
những cơn bão lớn
mọi con đường đất nước đều
thẳng hướng biên cương.
Hoặc:
Tổ quốc ban mai tráng
niên
sau mỗi cơn đêm ngả
nghiêng địa chấn,
đất nước huyền thoại những
con đường
khởi từ trái tim máu chảy về phía bình yên cỏ hoa
Trợ lực cho cảm hứng phức
điệu, ý thức lựa chọn, hoà trộn các thể loại (thơ, đồng dao, sử thi), hoà phối
các thể thơ (thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ lục bát, thơ bảy chữ, thơ bốn chữ,…),
đan cài nhiều biện pháp tu từ,… Tất cả hoà điệu, tạo một diện mạo thơ chân thật,
cảm xúc chân thành, thần sắc gợi cảm, gần gụi:
Lưng trâu chìm bảy nổi ba
đồng dao nghịch gió trôi
ra… dòng đời
nhớ quê nằm mớ trò chơi
sông xưa gió vọng tiếng
cười lưng trâu
dòng sông thơ dại dãi dầu
bắc yêu thương những nhịp
cầu đồng dao!
Bước gió truyền kỳ gồm
năm phần: phần mở đầu, ba chương và phần vĩ thanh rất cân đối, hài hoà, vững
chãi. Phần vĩ thanh làm cho bản trường ca tựa bản nhạc giao hưởng hoành tráng,
đoạn kết chậm lại, lắng đọng nhưng để lại âm ba “bềnh bồng” trong khát vọng
hoá thân kỳ vĩ:
Hoá thân bước gió chủ quyền
truyền kỳ
ta bay giữa những đám mây
tụ đầy khí thiêng ngàn năm tuổi xanh ra đi nhập hồn núi sông biển đảo
cùng những vì sao nhấp
nha nhấp nhổm nụ cười lẩn trốn hơi thở nóng bỏng lứa đôi sum họp bênh bông bềnh
bồng đỏ mặt rạng đông.
Cảm nhận Bước gió truyền kỳ (Phan Hoàng), dường như bạn đọc được đứng trên đỉnh đèo Cả, nhìn khắp nam bắc đông tây, nhìn suốt quá khứ – hiện tại, dọc ngang theo hành trình mở mang bờ cõi về phương Nam và ra biển cả. Thế chẳng phải người con đất Tuy Hoà dẫu có đi đâu, sống ở đâu cũng hướng về quê hương, cất lên tiếng nói yêu nước hoà trong tình yêu quê hương, xứ sở. Vì thế, gọi đó là thành công và đóng góp của trường ca Bước gió truyền kỳ, gọi đó là khát vọng và bản lĩnh nhà thơ Phan Hoàng có lẽ cũng không ngoa…
22/1/2025
Chế Diễm Trâm
Nguồn: Viết và Đọc mùa đông 2024
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét