Biểu tượng cành mai trong một số bài thơ
Trong văn học ta thường gặp
một số biểu tượng như: thuyền, bến, cây đa, mái đình…(Ca dao), dây
mây, điện các, đao binh, cành mai,..(Văn học trung đại), mặt trời, vườn hoa lá,
cành mai…(Văn học hiện đại). Tuy nhiên bài viết này chỉ bàn về biểu
tượng cành mai qua một số bài thơ trung đại và hiện đại.
Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng là “Hiện tượng sinh tâm lí do có một sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức con người nhận biết được vật kích thích hoặc thấy được hình ảnh của nó trở lại trí tuệ hay kí ức”.
Biểu tượng nghệ thuật
được hiểu là những hình ảnh được lặp đi lặp lại nhiều lần có khả năng biểu đạt
một ý nghĩa nào đó ngoài ý nghĩa vốn có của chúng. Hiểu như vậy, cành mai là một
biểu tượng quen thuộc trong thơ ca.
Cơ sở hình thành biểu tượng
cành mai xuất phát từ những quan sát đời sống thiên nhiên, đời sống xã hội
của nhân dân. Hoa mai thường nở vào những ngày cuối đông đầu xuân. Cánh hoa nhỏ
xinh, trắng muốt. Hương thơm dìu dịu. Khi các loài cây đâm chồi nảy lộc và các
loài hoa khoe sắc, trổ hương, mai vẫn khiêm nhường sắc trắng. Do vậy trong tâm
thức của mỗi người vẫn sáng ngời hình ảnh loài hoa trắng gọi xuân về.
Trong văn chương, mai là
một hình tượng nghệ thuật đẹp. Người xưa thường ví mai với dáng người con gái đẹp “Nét
gầy như cúc, điệu gầy như mai”(Nguyễn Du) và thường dùng để diễn
tả vẻ đẹp thanh cao, quý phái:
Xuân đến hoa nào chẳng tốt
tươi
Ta ưa mi vì tiết sạch hơn
người
(Nguyễn Trãi)
Là một trong tứ quý
(tùng, cúc, trúc, mai), mai được xem là loại thứ hai sau tùng. Thi nhân
Nguyễn Trãi yêu mai cũng bởi vẻ đẹp cao khiết của nó. Có lẽ cũng vì vẻ đẹp cao
khiết của mai mà nhà thơ Cao Bá Quát đã từng nói “Nhất sinh đê thủ bái
hoa mai”(Cả một đời chỉ biết cúi lạy hoa mai). Với ý nghĩa này, mai
là biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp của người quân tử .
Nếu trong thơ Nguyễn
Trãi, mai thanh tao bao nhiêu thì trong thơ Thiền sư Mãn Giác mai mạnh mẽ bấy
nhiêu:
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng
hết
Đêm qua sân trước một
cành mai.
(Bản dịch của NXB Văn học)
Hoa mai thường nở vào cuối
đông đầu xuân. Thế mà cuối xuân Thiền sư vẫn nhìn thấy cành mai nở! Cành mai
trong thơ Mãn Giác xuất hiện giữa cảnh “hoa lạc tận” nó phủ nhận tất cả những
quy luật tự nhiên của “trăm hoa rụng”, “trăm hoa tươi”. Nó vượt lên
cả sự sống chết, thịnh suy. Cành mai ấy là biểu tượng cho sức sống mãnh
liệt của vạn vật và con người, bất chấp sự biến đổi của thời gian, thời
tiết. Phải chăng đó là cành mai trong tâm tưởng, trong ý thức của nhà thơ?
Cần nhớ bài thơ được Thiền sư sáng tác khi ông cáo bệnh, nghĩa là khi nhà thơ phải đối mặt với cái chết và cuộc đời con người sẽ đi về phía huỷ diệt không thể cứu vẫn nổi thì mới thấy niềm lạc quan yêu đời, yêu sống của nhà thơ đáng quý, đáng trân trọng biết nhường nào! Đặt bài thơ vào hoàn cảnh ra đời, ta thấy rằng, cành mai còn là biểu tượng cho tinh thần lạc quan của con người thời Lý trước sự đổi thay của đất trời và thời cuộc.
Vẫn là cành mai nhưng
trong thơ hiện đại, mai được khoác thêm một ý nghĩa biểu tượng mới. Đó là trường
hợp Lên núi của Hồ Chí Minh:
Hai mươi tư tháng sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ
Bên suối, một nhành mai
(Bản dịch của Tố Hữu)
Hai câu thơ mở đầu bài
thơ như một lời tự sự kể lại một ngày trong rất nhiều ngày của Bác. Dù công việc
bề bộn, Người vẫn dành thời gian lên núi vừa để ngắm cảnh, vừa tự rèn luyện
mình. Ta có thể hình dung , một bậc hiền triết đang dạo giữa trời mây non non
nước. Khi Người ngẩng đầu lên thì có một phát hiện thật bất ngờ:
“Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai”
Ý thơ rơi vào câu
thơ thứ ba và khép lại ở câu thơ thứ tư. Ngẩng đầu lên thấy “Mặt trời đỏ”,
nhìn xuống “Một nhành mai”. “Mặt trời” trước hết là mặt trời của tự nhiên, một
nguồn ánh sáng vô tận mãi mãi toả sáng cho vạn vật. Mượn hình ảnh của tự nhiên,
Người muốn nói tới một mặt trời Cách mạng đã, đang và tiếp tục soi đường cho
chúng ta đi tới ngày chiến thắng. Đáng chú ý hình ảnh cành mai. “Nhành mai” bên
kia suối không phải nhành mai nào khác mà đó là một nhành mai
độc lập, tự do.
Nếu trong thơ Thiền sư
Mãn Giác, chỉ có một cành mai trước sân thì trong thơ Người, cành mai ấy sóng
đôi với “Mặt trời đỏ” tạo thành một cặp biểu tượng “mặt trời- cành mai” tượng
trưng cho con đường cách mạng và niềm tin chiến thắng. Câu thơ vang lên như một
lời khẳng định chắc chắn. Hơn nữa, nhờ biểu tượng này mà hình tượng thơ có sự vận
động khoẻ khắn, tự nhiên hướng tới ánh sáng, niềm vui- Một nét độc đáo trong
phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Như vậy, xét về phương diện
nghệ thuật, cành mai đã trở thành một tín hiệu thẩm mỹ đem đến cho người tiếp
nhận những ấn tượng khó quên. Đó là cách diễn đạt kín đáo, hàm súc, cô đọng.
Về phương diện nội dung, biểu tượng cành mai có ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Đó
là bài học yêu đời, yêu sống, là niềm tin mãnh liệt vào chân lý.
Dù chưa có điều kiện để
tìm hiểu đầy đủ hơn về biểu tượng cành mai trong thơ cũng như những biến thể của
chúng, song vào những ngày đầu xuân đọc những vần thơ ấy ta như được tiếp
thêm nhựa sống của niềm tin và hy vọng.
1/3/2025
Chu Thị Hảo
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét