Xóm Rẫy Hà Tiên với bài thơ độc vận của nhà thơ Nguyễn Bính
Trong bài viết «Đêm du
ca Liêu Trai» đăng trong tạp chí Bách Khoa vào năm 1971, nữ sĩ Mộng Tuyết có
nhắc đến con đường về xóm Rẫy xa xưa ở Hà Tiên của bà, con đường đất gồ ghề với
hai bên bờ đầy cỏ dại và ngập nước với ánh sáng đom đóm lập lòe, con đường đi đầy
kỷ niệm vì bà đã cùng người bạn đồng hành từng so bước :
Ao tràn mưa ngọt bờ hoang
dại
Bèo nở xinh xinh cánh nở tròn
……..
Đường về xóm ấy nhiều đom đóm
Lấp lánh ngân hà ngập bước sao
Ngở lạc tiền thân vào xứ mộng
Hồn tiên nghe tiếng gọi nao nao…
Trinh Trắng (Đông Hồ 1961)
Con đường ấy ắt hẳn là
con đường Mạc Cửu, Hà Tiên và xóm Rẫy xa xưa đó ắt cũng chính là xóm nhà nằm giữa
hai con đường Mạc Cửu và Mạc Tử Hoàng, phía sau chùa Tam Bảo ra tới ao sen giữa
và trên.
Ngày xưa đây là xóm nhà
có vườn tược và cây ăn trái rất nhiều, vì thế có tên là xóm Rẫy, ở đây có căn
nhà của gia đình nữ sĩ Mộng Tuyết với các thành phần được mang nhiều cái tên rất
thơ mộng, đượm màu văn chương như: Khu vườn chung quanh nhà được Đông Hồ đặt
tên là Bách Phương Viên, sau đó là Úc Viên, mái hiên trên căn gác của Mộng Tuyết
được gọi là Tân Nguyệt Hiên (tức Mái Trăng Non)…, quanh năm bốn mùa mái nhà và
góc vườn vào những đêm có trăng được ngập ánh trăng chiếu sáng, ngôi vườn thì
luôn thoang thoảng mùi hương kỳ lạ như mùi hương của những cây vị thuốc bạch
đàn hương, thanh hải hương, ngọc quế hương…
Cũng chính ở xóm Rẫy nầy
vì gần cạnh ao sen miếu Lịnh nên thường xuyên Mộng Tuyết lúc đó chỉ là một cô
bé theo các chị ra ao sen lấy nước và gặp chàng thư sinh thanh nhã đang thong
thả ngắm hoa sen, lòng cảm thấy có chút mộng mơ, rồi đến lúc tuổi đi học nhiều
năm sau mới biết ra người đó chính là thầy giáo Lâm Tấn Phác và hai người có một
định mệnh gắn bó cả đời…
Cũng tại xóm Rẫy đó, nhà
thơ Nguyễn Bính (1) sau nhiều tháng đi ngao du hải hồ ở Huế, Sài Gòn, cũng lần
mò đến tận Hà Tiên và để hồn mình hòa vào cái xóm thơ mộng của bà chị Mộng Tuyết
rồi con tim cũng có chút rung động trước cô cháu gái của Mộng Tuyết…
Lúc đó vào khoảng năm
1944, người vợ thứ hai của Đông Hồ là Thái Nhàn Liên (Thái Thị Thân) cũng là
người chị thứ năm của Mộng Tuyết (Thái Thị Sửu), đang bị bệnh, có lúc được đưa
lên Sài Gòn để chửa trị, rồi lại phải đưa về nhà ông Đông Hồ ở Hà Tiên, bà Mộng
Tuyết phải lo cho chị và các cháu nhỏ (2). Ngoài chợ Hà Tiên (3) Mộng Tuyết có
một tiệm may đặt tên là Yiễm Yiễm thương điếm và cũng là tiệm sách tên Yiễm Yiễm
thư trang (4), đúng lúc nầy nhà thơ Nguyễn Bính xách va ly xuất hiện tại tiệm
may để tìm gặp Mộng Tuyết, thực ra thì từ trước, khi Đông Hồ, Mộng Tuyết thường
giao lưu văn hóa với các nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc, Đông Hồ có viết thư mời
Nguyễn Bính đi Hà Tiên một chuyến để bạn thơ văn được gặp nhau.
Sau buổi gặp mặt, Nguyễn
Bính rất mừng và được đưa về nhà Đông Hồ để trú ngụ, vì thời gian ở cũng kéo
dài nên Đông Hồ nhường căn gác mang tên Nam Phong tiểu các cho Nguyễn Bính (hay
Gác Nam Phong, nơi Đông Hồ viết văn, làm thơ và tàng trữ các số báo Nam Phong).
Vì Nguyễn Bính nhỏ tuổi hơn Mộng Tuyết nên ông xem nữ sĩ như một người chị tinh
thần, đối lại, Mộng Tuyết cũng chăm sóc Nguyễn Bính rất chu đáo như là một chú
em trong nhà, nữ sĩ đã may cho ông một bộ quần áo bà ba bằng lụa Hà Đông, còn
Đông Hồ thì dành cho ông những ngọn nến hồng lạp quý giá để đêm đêm ông chong
đèn làm thơ trên gác.
Thường ngày, sau khi ăn
sáng ở nhà Đông Hồ, Nguyễn Bính ra tiệm may Yiễm Yiễm thương điếm của Mộng Tuyết
để trông tiệm giúp và nhất là lãnh công đi bỏ thư cho nữ sĩ ở bưu điện, vì đi bỏ
thư rất nhiều lần đến nổi Nguyễn Bính thuộc lòng các địa chỉ người nhận thư và
có lần cũng muốn ghen tức vì thấy thư gởi cho một tên người rất nhiều lần…
Những buổi sáng như thế,
nữ sĩ đi chợ và thường mua trà và bánh ngọt cho ông thưởng thức, Nguyễn Bính rất
thích chiếc bánh qui của Hà Tiên, chiếc bánh làm bằng nếp dẻo màu trắng, hình nửa
trái cầu trên đỉnh có một vòng đỏ như có đóng triện son, bên trong có nhân dừa
ngào đường hoặc đậu xanh ăn rất ngon.
Theo hồi ký trong bài « Để
nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên » đăng trên tạp chí Văn số 60, năm
1966, Mộng Tuyết kể lại là Nguyễn Bính thường đưa Mộng Tuyết về nhà ở xóm Rẫy
sau khi đóng cửa tiệm ở chợ, vì ông còn chưa biết đi xe đạp nên nữ sĩ phải dắt
xe đi bộ cùng ông, điều nầy làm cho Nguyễn Bính thấy hơi xấu hổ nên ông cố gắng
lén tập chạy xe đạp để rồi có những buổi chiều ông đã đưa được Mộng Tuyết về nhà
trên chiếc xe đạp… Nữ sĩ còn kể rằng bà và Đông Hồ thường bàn chuyện về bộ Tam
Quốc Chí cho Nguyễn Bính nghe, nghe mà không thể góp ý được vì ông chưa từng biết
chuyện nầy, đó lại là một điều làm ông cũng thấy xấu hổ vì Mộng Tuyết và Đông Hồ
rất ngạc nhiên vì sao ông lại chưa đọc Tam Quốc Chí…
Đến khi Nguyễn Bính quyết
tâm đọc bộ Tam Quốc suốt nhiều đêm thì ông lại thấy rất thích bộ truyện Tàu nầy
và đã đưa vào truyện dài bằng thơ do ông viết trong thời gian nầy nhiều điển
tích từ Tam Quốc Chí.
Nguyễn Bính thường rủ
Đông Hồ vào Rẫy chơi sau khi ăn tối xong. Có đêm Đông Hồ không đi thì Nguyễn
Bính cũng đi một mình…Rồi vì nhà ở Rẫy thì đầu hôm thường đóng cửa, bên trong
sinh hoạt trong nhà, cô cháu của Mộng Tuyết, tên Ngọc (5), đọc Tam Quốc cho
thân mẫu của nữ sĩ nghe, Nguyễn Bính đến trể nhìn cửa đã cài then, không dám
kêu cửa, chỉ ngồi ở mái hiên gần tới khuya và nghe trộm tiếng cô gái Ngọc đọc
sách, cách một cánh cửa, ông nói có một điều thú vị riêng….
Trong bài viết «Bóng
giai nhân và Nguyễn Bính» đăng trên tạp chí Văn số 189, năm 1971, Mộng Tuyết
có kể lại khi ở gác Nam Phong nhà Đông Hồ, ông tình cờ tìm gặp lại tấm thiệp do
Mộng Tuyết còn giữ kỹ lại từ năm 1942 khi bà được mời xem vở kịch «Bóng Giai
Nhân» được tổ chức ở Nhà Hát Tây Hà Nội, ông rất ngạc nhiên và cũng rất thích
thú, vì một điều là vở kịch thơ đầy màu sắc Xuân Thu Chiến Quốc nầy do một người
bạn thời ở Huế là Xuân Khai (hiệu Yến Lan) viết với sự hợp tác của ông, một điều
nữa là ông thấy Mộng Tuyết cũng đã xem và biết vở kịch thơ nầy… Kỷ niệm chợt hiện
về và nhà thơ lại cao hứng đẽo gỗ làm gươm thiêng để độc diễn lại vở kịch cho
Đông Hồ và Mộng Tuyết xem. Một công trình tay chân của Nguyễn Bính nữa là ông
đã dùng một đoạn tre già và dây đồng để chế ra cái điếu có chân để hút thuốc
lào, vì thời đó ở Hà Tiên không tìm ra đâu được cái điếu thuốc lào. Hai công
trình thủ công nầy khiến ông rất hảnh diện.
Ở Hà Tiên thời xưa, vào dịp
Tiết Đoan Ngọ (ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), có tục nấu nước lá Thạch Xương Bồ
để tắm gội, xông hơi, lá có tinh dầu, tác dụng tẩy uế. Thấy Mộng Tuyết nấu nước
lá Thạch Xương Bồ, Nguyễn Bính thích cái tên đó nên sẳn lúc đang viết một trường
thiên truyện thơ dài dạng lục bát, nên lấy ba chữ Thạch Xương Bồ đặt tên cho
tác phẩm mà ông nói là sẽ dài hơn cả truyện Kiều.
Thời gian dần dà trôi đi,
nhà thơ chân quê Nguyễn Bính ở Hà Tiên đã được nhiều tháng, cuộc sống có vẻ
ngăn nắp, yêu đời, lành mạnh, mẫu mực, đằm thắm với hai nhà thơ đất Hà và đặc
biệt là ông luôn mộng mơ và nghĩ nhiều đến cô cháu của Mộng Tuyết. (6)
Cuối cùng không biết có
phải máu giang hồ, lãng du nổi lên hay có một quyết định nào đó đúng đắn hơn, mặc
dù trường thiên truyện dài bằng thơ lục bát mới viết chưa được bằng nửa truyện
Kiều mà Nguyễn Bính nhất định rời Hà Tiên mặc dù đôi thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết
hết sức níu giữ lại…
Nguyễn Bính không hoàn
thành truyện thơ lục bát Thạch Xương Bồ trong lúc ở Hà Tiên, tuy nhiên sau khi
ra đi về Rạch Giá, rồi mãi một thời gian sau không có tin tức, sau nầy mới biết
là ông vào chiến khu Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến. Không biết ông đã bắt
đầu viết từ lúc nào nhưng sau đó ông đã có một tác phẩm đặc biệt mà ông xem như
là Trường ca người xóm Rẫy, viết để tặng người chị Mộng Tuyết và em… Ngọc, người
mà khi ông vừa có bộ áo bà ba may bằng lụa, đã thêu trên vạt áo cho ông bốn chữ
Hán « Khả Thủy Sơn Nhơn », Mộng Tuyết không đoán ra nghĩa gì nhưng ông Đông Hồ
giải thích đó là do cách chiết tự hai chữ Hà Tiên, Khả Thủy là Hà và Sơn Nhơn
là Tiên.
Một thời gian sau, Mộng
Tuyết nhận được một bài thơ vận «Rẫy», bài thơ Hà Tiên, người xóm Rẫy… (sẽ sao
chép lại phần cuối bài).
Có thể là xóm Rẫy của Hà
Tiên qua trường ca Người xóm Rẫy của nhà thơ lãng du Nguyễn Bính viết làm cho
cái xóm yên bình xinh đẹp nầy thêm nhiều người biết và trở thành nổi tiếng
chăng? Ngày nay chúng ta chỉ còn biết xóm Rẫy qua thơ văn và hồi ký của người nữ
sĩ quê xóm Rẫy. Bây giờ dấu vết xưa hình như biến mất cả, nhà cửa quá xưa vì thời
gian, chiến cuộc đã sụp đổ, hư hao, vườn tược, nương rẫy mất dần nhường chỗ cho
nhà gạch, nhà ngói, nhà lầu, nhà đúc mọc lên, không còn hoa xinh, cỏ lạ với mùi
hương thoang thoảng như mùi các cây vị thuốc,… Trước miếu Lịnh và ao sen cũng
đã thay đổi bộ mặt, mé ao sáng sủa, ngăn nắp hơn, bệ gạch xi măng thẳng tấp
không còn cây cỏ hoang dại quanh bờ ao như ngày xưa, cảnh vật có vẻ hiện đại
hơn tuy xinh đẹp nhưng mất dần đi tính thơ mộng…, ngay cả con đường dẫn về xóm
Rẫy ngày xưa ngập nước dưới ánh sáng đom đóm lập lòe đã thay đi lớp đất ghồ ghề
bằng một mặt đường tráng nhựa trơn láng…
Dưới đây là bài thơ theo
một vần là vần «Rẫy», bài thơ rất dài, có nhiều chương (I, II, …), được trích
ra ở đây một vài phần để chúng ta thưởng thức :
Bài thơ vần Rẫy
Gởi người chị «Dưới Mái Trăng Non»
Phần mở đầu:
Một mình làm khách gác Nam Phong
Giở Tam Quốc Chí đọc mê mải
Mơ xanh uống rượu luận anh hùng
Tóc bạc, ném nghiên tỏ khí khái
Mê gái, cửa thành giết bố nuôi
Thương người, đường hẻm thả giặc chạy…
Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy
Đường mòn, bóng nhạt soi tà tà
Biển khơi, gió mặn thổi hây hẩy
Giậu thưa, rau muống loe màu xanh
Bờ vắng, chim cu ồn tiếng gáy
Thân cau thương nhớ ai gầy mòn
Tay chuối đợi chờ ai ve vẩy…
Hoa tươi gặp gió tha hồ rung
Trái chín gần tay tự do hái
Đời người đã thong thả thế ru?
Đời người đã sung sướng đến vậy:
Vườn cây, gió thổi lộng muôn cành
Nhà cỏ, trăng soi vàng nửa mái.
Thềm trăng, trải chiếu ngồi song song
Bàn chuyện Tam Quốc cười sảng khoái.
Khương Duy mật to như trứng gà
Mã Siêu mặt đẹp như con gái
Mê gái cửa thành giết bố nuôi
Vì nước qua thuyền giành chúa dại
Xót anh, may áo tang ba ngày
Nhớ nghĩa, đường cùng thả giặc chạy
Vận trời thế đất đang chông chênh
Thiên hạ chia ba, ai thắng bại?
Ai ngờ ông trời làm trò đùa
Cả ba chân vạc theo nhau gẫy.
Dần dà nói đến chuyện nhân duyên
Chị có cô cháu tuổi mười bảy
Tóc dài chấm gót má hồng tươi
Mi vòng cánh cung mắt đen láy
Chị ơi! trôi nổi là thân tôi
Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải
Than ôi! không có giá liên thành
Để đổi cho tròn viên ngọc ấy!
Xứ người lần lữa gót phiêu linh
Quê cũ cha anh hết trông cậy.
Tấm thân bảy thước chửa ngang tàng
Khói lửa bốn trời đã bốc dậy.
Con thuyền dầu lạc hướng phương nào
Vẫn nhớ ai người nơi tuyệt tái!
Chừng nào mới lại vào Hà Tiên
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy?
Chắc chẳng bao giờ nữa, chị ơi:
“Hoa lưu động khẩu ưng trường tại…” (7)
Chú thích:
(1): Nhà thơ Nguyễn Bính
(1918 – 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, có lúc vì thời cuộc ông đổi tên là
Nguyễn Bính Thuyết, người Nam Định. Ông được xem là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng
và cũng là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân
dã, mộc mạc. Một vài tác phẩm nổi tiếng đặc trưng của ông như: Lỡ bước sang
ngang, Cô hái mơ, Cô lái đò…
(2): Thời gian nầy Đông
Hồ có hai người con gái còn nhỏ tuổi: Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm.
(3): Ngôi chợ Hà Tiên
trong thời điểm nầy có thể không phải là ngôi chợ ở giữa hai con đường Tuần Phủ
Đạt và Tham Tướng Sanh như ở thời điểm những năm 50, 60, 70. Ngôi chợ trong bài
viết nầy có thể tọa lạc ngay phía trước khách sạn Đại Tân (hay sau đó tên Đông
Hồ), sát ngay bến đò qua xóm Tô Châu. Đến những năm cuối thập niên 40 người ta
mới bắt đầu cất ngôi chợ mới ở giữa hai con đường Tuần Phủ Đạt và Tham Tướng
Sanh, bây giờ ngôi chợ mới nầy cũng đã bị phá hủy và nơi đây trở thành một công
viên rộng lớn.
(4): Đó là một cách viết của ông Đông Hồ: Viết là Yiễm Yiễm nhưng vẫn đọc là
Diễm Diễm. Thực ra Yiễm Yiễm thương điếm và Yiễm Yiễm thư trang là do Đông Hồ lập
ra, nhà sách Yiễm Yiễm thư trang được lập ra từ năm 1940 tại chợ Hà Tiên ngày
xưa.
(5): Nhân vật «Ngọc» ở
đây chính là cô cháu gái tên Hồng Tú Ngọc, cháu nữ sĩ Mộng Tuyết. Bà Hồng Tú Ngọc
không có gia đình, mất khoảng hơn 70 tuổi, thân mẫu của bà là người chị thứ hai
của Mộng Tuyết.
(6): Theo nhà văn Sơn
Nam trong bài “Vài kỷ niệm về nhà thơ Nguyễn Bính» đăng trên tạp chí Văn số
60, năm 1966, Nguyễn Bính thừa lúc ở Hà Tiên để xa lánh nàng tiên nâu, ả Phù
Dung (bỏ tật hút thuốc phiện), trong thời gian đó ông không hút điếu nào cả.
(7): Câu thơ “Hoa lưu động
khẩu ưng trường tại” trích trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động” của
Tào Đường, một thi nhân đời Vãn Đường, năm sinh và năm mất không rõ. Ông tên chữ
là Nghiêu Tân, hiệu Tố Quá đạo sĩ, người Quế Châu, ông có hơn 140 bài thơ được
lưu lại. Câu thơ chữ Hán trên có nghĩa là Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi.
Tài liệu tham khảo:
*/ Tạp chí Bách Khoa số
344, 1971.
*/ Tạp chí Văn các số 60
(1966), 145 (1970) và 189 (1971).
*/ Tiểu luận «Nguyễn
Bính và Tỉnh giấc chiêm bao», tác giả Nguyễn Ước, Văn Chương Việt, 2/2010.
*/ «Theo dấu văn thơ – Kỳ
10: Về nơi núi Mộng gương Hồ», tác giả Thanh Dũng, báo Thanh Niên, 8/2013.
*/ «Nguyễn Bính hành
phương Nam – Bài 3: Từ gác Nam Phong đến thơ Người xóm Rẫy», tác giả Hà Đình
Nguyên, báo Thanh Niên, 3/2010.
*/ «Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội với tùy bút Dưới Mái Trăng Non», tác giả Hồ Trường An, Văn Tuyển, 5/2014.
11/6/2026
Trần Văn Mãnh
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét