Tiếng Việt – Lạ mà quen
Trước đây, người ta chia tiếng Việt làm nhiều phương ngữ, hiện nay theo cách nhìn phổ biến, tiếng Việt có ba phương ngữ: Bắc, Trung và Nam. Người Việt, về văn hóa, bên cạnh hệ giá trị chủ đạo, còn có hệ giá trị của tiểu nhóm, tiểu nhóm có thể nhìn nhận theo xã hội hoặc theo địa lý. Và có thể nói, mỗi phương ngữ dù đậm hay nhạt, dù ít hay nhiều đều mang cá tính của một vùng đất.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng
ba mẩu hội thoại sau:
a, Một cô gái quyết tâm
đi đến hôn nhân với bạn trai, nhưng cha cô không đồng ý, dứt khoát ngăn cản. Thấy
con gái buồn bã, khóc lóc, người mẹ dỗ dành:
Từ từ con, để cha
bay nguội đã, rồi mẹ tìm cách nói vào cho.
b, Một đôi nam nữ đang ngồi
tâm sự trong công viên, nhận thấy tay anh con trai đang “miệt mài thám hiểm’’,
cô liền ngăn cản:
Dừng lại anh, đừng đi quá
xa,
hãy dành trọn vẹn cho ngày cưới.
c, Cả bọn đực rựa đang uống
cà phê, thấy một cô gái đẹp đi ngang qua, một cậu vuột miệng:
Ồ! Con nhỏ có body ngon
ghê!
Bạn thấy tất cả đều bình
thường phải không nào? Bởi đây là cách nói rất đỗi quen thuộc trên cửa miệng của
người Việt. Thế nhưng, cũng không hẳn thế đâu. Ở (a) tại sao lại là nguội, để
ba bay nguội đã… Hóa ra, người ta hình dung Giận là lửa, Giận là nóng.
Ở (b) ngồi yên một chỗ chứ có di chuyển đâu mà đi quá xa? Hóa
ra, cách diễn đạt này lại bắt nguồn từ suy nghĩ: Tình yêu là một cuộc hành
trình (Con đường, quá trình). Còn ở (c), body đâu nào phải thực
phẩm, có ăn uống được đâu mà ngon với không ngon! Thật ra đây là cách ý niệm
hóa quen thuộc trong tư duy của người Việt Nam. Có thể nói, người Việt có thể
lược quy hầu hết các sự vật, hiện tượng về thang độ ngon/dở để nhận xét đánh
giá. Ví dụ, Nhà hai mặt tiền, ngon ơi là ngon, Ghế đó ngon lắm, chạy cả triệu
đô mới được, Phim (sách) dở quá, Anh ta xử sự với vợ con dở ẹc… và về sâu xa là
có lý do của tri nhận luận.
Như vậy, tiếng Việt cũng
có điều lạ đấy chứ, thậm chí có nhiều điều lạ nữa là khác.
Hiển nhiên đi tìm nét
riêng của tiếng Việt, trong liên hệ với ngôn ngữ khác, không thể không chú ý đến
những đặc điểm nội tại của nó, như loại hình ngôn ngữ, tương tác văn hóa và cả
thành tựu nghiên cứu mang tính thời đại. Nói rõ hơn, thời đại kỹ thuật số, với
sự tiến bộ của của khoa học kỹ thuật trên nhiều phương diện, gần gũi với ngôn
ngữ học là khoa học máy tính, khoa học tri nhận, trí tuệ nhân tạo… tất cả đã
mang lại cho ngôn ngữ học nhiều cách tiếp cận rất mới mẻ, trong đó việc đề cao
hoạt động trí não của con người, là điều dễ thấy nhất.
1. Vấn đề lý thú trong tiếng
Việt: Lạ mà quen
1.1. Do nhiều lý do khác
nhau, trước đây khi giới thiệu về từ láy, ví dụ như láy mô phỏng âm thanh hiện
thực: róc rách, xình xịch, meo meo… và láy hình tượng như: thổn thức, dào dạt,
ngậm ngùi…, không ít nhà nghiên cứu cho rằng đây là lớp từ mang cái riêng của
tiếng Việt, đặc biệt nó thể hiện lỗ tai thẩm ẩm rất độc đáo của chúng ta.
Thế nhưng không hẳn là như thế, phương thức láy nói chung, từ láy nói riêng là
hiện tượng phổ quát trong mọi ngôn ngữ, có điều trong tiếng Việt, loại từ láy
hình tượng xuất hiện nhiều hơn là từ láy mô phỏng.
Mặt khác đặc điểm lí thú
lại xuất phát từ loại từ mô phỏng cấu âm, nói khác có sự liên tưởng về nghĩa của
một số vần liên quan đến cách chúng ta phát âm. Hãy quan sát vần um trong
các tiếng sau: bụm, chụm, chùm, túm, dúm, xúm, núm, khúm núm,… khi phát âm miệng
chúng ta chụm lại và động tác này biểu trưng ngữ nghĩa là “gom lại, chụm
lại”, hay vần ứt trong các tiếng: bứt, đứt, nứt, sứt,
rứt, vứt… Cách phát âm các tiếng này biểu trưng ngữ nghĩa” rời ra, tách ra, lìa
khỏi” (một từ cùng vần -ưt chỉ chất thải ra của con người cũng nằm trong sự
liên tưởng ngữ nghĩa này). So sánh ba từ “sập, sụm, sụn” về mặt trực giác, ai
cũng nhận ra rằng nghĩa của từ “sập” chỉ tốc độ phá hủy cao nhất. Điều này là
có lý do,bởi khi phát âm ba tiếng này thì Sập miệng đóng lại kín nhất so với
hai tiếng còn lại.
Hơn nữa, khi các từ ngữ
láy song tiết có sự hòa phối âm thanh giữa các vần như đóng/đóng, mở/ mở,
đóng/mở, mở/ đóng tạo nên giá trị biểu trưng rất lớn, nhất là trong môi trường
văn chương. Không phải không có lý, khi có người cho rằng, với sự hòa phối
âm thanh của hai vần – ấp và – ênh trong hai cặp từ láy có mô hình
đóng/ mở trong hai câu thơ: Đoạn trường thay lúc phân kỳ ! Vó câu khấp
khểnh, bánh xe gập ghềnh, Nguyễn Du đã thâu tóm được cả cuộc
đời truân chuyên, ba chìm bảy nổi của nhân vật Kiều.
Liên quan đến vần
và biểu trưng ngữ nghĩa, ta có vần i, trong các tiếng: tí, rí, xí… mang nghĩa
nhỏ bé, muốn diễn đạt nhỏ hơn ta láy: tí ti, nhỏ hơn nữa: tí tì ti nhỏ nữa tí tỉ
tì ti. Gần gũi với nó, là hiện tượng lặp: nghĩa của ngày so với ngày
ngày, nhà so với nhà nhà, người so
với người người. Đặc điểm chung ở đây là, dù láy hay lặp, nghĩa gốc
đều mở rộng.Nếu hình dung ngôn ngữ là vật chứa đựng thì âm thanh, chữ viết là vật
chứa, nội dung, ngữ nghĩa là vật được chứa và hễ càng nhiều hình thức thì
càng nhiều nội dung. Thông thường, với hạt nhân nghĩa đẹp, chúng ta
sẽ có các dạng thức phát triển như sau: (i) Đẹp ơi là đẹp, Đẹp đẹp là, rất
ư là đẹp, (ii) kéo dài nguyên âm chính đe-e-e-e- ẹp.Từ hạt nhân nghĩa nhỏ (i)
có thể nói nhỏ ơi là nhỏ, nhỏ nhỏ là, nhỏ rí, nhỏ rí ri, nhỏ rí rỉ rì ri, nhỏ
chút chun, nhỏ chút chủn chùn chun, rất rất rất nhỏ (ii) kéo dài âm chính
râ- â- â- â-ất nhỏ hoặc nhỏ-ỏ-ỏ -ỏ. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, để chỉ mức độ lớn
từ hạt nhân nghĩa bự, cũng có thể nói (i) bự-ự-ự-ự-ự (ii) bự
chà bá, bự chảng, bự chảng bành ki.
Rõ ràng các dạng thức kéo
dài hoặc mở rộng hình thức đã làm cho nghĩa hạt nhân mở rộng, đặc trưng đẹp sẽ
đẹp hơn, nhỏ sẽ nhỏ hơn, bự sẽ bự hơn. Và do chúng ta không gian hóa hình thức
ngôn ngữ bằng chữ viết hay âm thanh nên vị trí và tầm tác động của các yếu tố từ
ngữ trên hình tuyến có ý nghĩa quan trọng, nhất là đối với tiếng Việt, nếu
không cẩn trọng đễ rơi vào lỗi ngữ pháp “xa mặt cách lòng”.
1.2. Tiếng Việt là một
ngôn ngữ đơn lập, tiếng (âm tiết) trùng với hình vị, đặc điểm này đã tạo nên một
diện mạo riêng cả về ngữ âm, từ vựng và cả ngữ pháp.
(a) Về ngữ âm, khi nói,
các tiếng bao giờ cũng được phát âm, một cách tách bạch, rạch ròi, không có hiện
tượng đọc nối, đọc gộp âm vào nhau. (Ở đây, có hiện tượng chữ viết rất dễ đánh
lừa chúng ta, Cố ý và cối, Khu A và khua và cám ơn và cá mơn…, đây không
phải là nối, hay gộp âm). Do vậy, ranh giới giữa các tiếng có ý nghĩa quan trọng.
Và lúc đầu, người ta nói nhiều về quãng ngắt trên dòng ngữ lưu. Ví dụ,
xét phát ngôn sau: Quân ta đánh đồn giặc chết như rạ.
Tùy theo cách ngắt ngữ lưu mà ta có những nghĩa khác nhau, Quân ta đánh /đồn
giặc chết như rạ (đồn giặc chết), Quân ta đánh đồn/ giặc chết như rạ (giặc
chết), Quân ta đánh đồn giặc/ chết như rạ (quân ta chết). Sau này
Phạm Hữu Lai, đặc biệt Cao Xuân Hạo trên cứ liệu thực nghiệm đã chỉ ra rằng tiếng
Việt có trọng âm và trọng âm có liên quan đến quan hệ ngữ pháp, nhờ có trọng âm
mà ta có thể phân biệt đâu là quan hệ trong câu, đâu là quan hệ trong từ, trong
từ cũng dựa vào trọng âm có thể phân biệt các loại đơn vị xét về cấu tạo và cả
ngữ nghĩa.
Và trong thực tế, nhiều
biểu đạt về ngữ âm không chính xác như… mắt đen tròn thương
thương quá đi thôi… (G. N.) thường thương thương được đọc
(ngâm) liền nhau và như vậy sẽ rơi vào mô hình trọng âm của xinh xinh, đèm đẹp,
xanh xanh… nghĩa là” hơi xinh, hơi đẹp, hơi xanh” lẽ ra phải là thương / thương
vì nghĩa của ngữ đoạn có sự tăng tiến. Tương tự lời bài hát… đời sống
nghiệt ngã không cho chúng mình ấm mộng… (V.T.A, BKTS 50)
phần lớn các ca sĩ đều xử lý như sau: đời sống nghiệt ngã không / cho
chúng mình ấm mộng mà lẽ ra phải là: đời sống nghiệt
ngã / không cho chúng mình ấm mộng.
Cũng về ngữ âm, dựa vào đặc
điểm của cấu trúc của âm tiết, trẻ con có những trò chơi ngôn ngữ rất lý
thú như lặp âm đầu: Bà ba bả bán bánh bèo, bả bứt bông bụt, bả bỏ bậy bạ, bả bị
bắt ba bốn bửa…, nói lái: Cái gì trên trời rơi xuống mà lại mau co? (mo
cau), Đập chuông là đuông chập, đuông chập là đâm chuột, đâm chuột là đâm tí,
đâm tí là đi tắm. Hoặc phức tạp hơn: Thầy giáo, tháo giày, vấy đất, vất đấy; Thầy
tu, thù Tây, cạo đầu, cầu đạo.
(b) Về mặt từ vựng, chính
cương vị mỗi tiếng là một từ đã tạo nên hiện tượng cấu trúc bài thơ như một ma
trận mà dân ngữ văn ai cũng biết. Đó là trường hợp, một bài thơ đọc xuôi, đọc
ngược, đọc theo chiều dọc, chiều ngang, chiều chéo, đọc căn cứ vào số lượng
tiếng theo thể loại, tất cả đều có nghĩa. Rồi có thể đọc theo trật tự tuyến
tính hay đọc nhảy đều có nghĩa: Lên phố mía gặp cô hàng mật, kéo tay
lai hỏi thăm đường (hai dãy nghĩa: (i) có một ai đó đi lên
phố bán mía, gặp cô bán mật, kéo tay lại hỏi thăm đường, (ii) Mía, mật, kẹo, đường).
Tương tự, Trời mưa, đất thịt, trơn như mỡ, giò (dò)
đến hàng nem chả muốn ăn. Thậm chí từ láy cũng có thể tách, chẻ ra được: Con
công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ ra ; Con
cóc leo cây vọng cách, nó rơi đánh cọc, nó cạch đến
già (Công kênh, cồng kềnh; cóc cách, cọc cạch).
Hơn nữa nghĩa bao giờ
cũng gắn liền với một hình thức biểu hiệu liên quan đến hình ảnh tinh thần gọi
là ý niệm, ý niệm gắn với các đơn vị ngôn ngữ trong đó có từ ngữ. Các tổ hợp từ
liên kết các ý niệm như nhạc vàng, nhạc đỏ… ở đây là một thực thể
tinh thần gắn với tính chất, tạo nên một tổ hợp ý niệm tích hợp hoàn toàn khác
với nghĩa của nhạc Việt, nhạc không lời. Vẫn trên các ý
niệm vốn có bằng con đường khác nhau,chúng ta tạo nên những ý niệm mới,
chẳng hạn như Chìm xuồng (Chỉ những hiện tượng tiêu cực không
được xử ký đến nơi, đến chốn) trùm mền hay đắpmền (chỉ
vật tư, máy móc từ nước ngoài nhập về không được đem ra khai thác, sử dụng) hay
gần đây là Check VAR (đây là hiện tượng hoán dụ, Hành động
thay cho sự kiện) và Phông bạt (cũng là một hiện tượng hoán dụ,
sự vật thay cho hành động).
c, Về mặt ngữ pháp, từ
lâu. người ta chú ý đến ba phương diện: trật tự, hư từ và ngữ điệu. Trong
đó đáng chú ý là các kết cấu hai tiếng có quan hệ bình đẳng nhau như áo quần,
ăn uống, cay đắng… về trật tự có thể hoán đổi vị trí mà nghĩa không đổi: quần
áo, uống ăn, đắng cay… nhưng không phải tất cả, còn nghĩa của các kết cấu loại
này thường là nghĩa thành ngữ và có giá trị biểu trưng.
Thành tựu nghiên cứu của
tiếng Việt gợi mở cho chúng ta nhiều kiến giải mới hơn, lạ hơn.
Xét các ví dụ sau:
Tinh giản, sáp nhập bộ
máy nhà nước là đúng rồi, mới có ba giờ chiều mà cả xếp và nhân viên đã lặn khỏi
cơ quan rồi.
Lo quá, thằng nhỏ nhà
tôi đang bơi môn toán.
Nó còn lăn tăn nhiều
thứ, nhưng ngại không dám nói ra.
Ô hay, có liên quan gì đến
sông nước đâu mà lặn, bơi và lăn tăn?
Hay, con người nào phải
cây cối mà mọc với rụng, điều gì kết nối cách nói lạ lùng này. Hãy xem:
Mọc tóc, mọc lông, mọc
răng, mọc nhọt, mọc mụn, mọc nhánh trong tai…… Rụng
tóc, rụng lông, rụng răng… và khi tiếp xúc với câu thơ: Hãy là hoa,
nhưng hãy khoan là trái, hoa nồng hương mà trái lắm khi chua…
(TNTH) thì không ai nghĩ là chỉ để nói về thực vật cây cối.
2. Vấn đề có lý / vô lý
trong tiếng Việt: Lạ mà quen
2.1. Hãy bắt đầu bằng các
thành ngữ sau: Con ông cháu cha, Cao chạy xa bay, Nhường
cơm xẻ áo. Sao lại con ông, cháu cha mà không ngược
lại? sao lại cao chạy, xa bay mà không ngược lại? Cơm thì nhường
là được rồi nhưng áo lại xẻ ra te tua ra thì sao mặc được?
Thường thì người ta giải
thích rằng, thành ngữ là những đơn vị nghĩa có giá trị biểu trưng, nghĩa của
chúng khái quát chứ không phải nghĩa của các thành tố trong tổ hợp cộng lại,
không nên dùng con dao logic mà mổ xẻ.
Liên quan đến vấn đề đang
bàn, đơn vị thành ngữ sau đây phức tạp hơn nhiều: Sinh con rồi mới sinh
cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới ông. Cứ như những gì nghĩa câu
chữ biểu đạt thì hết sức vô lý, con được sinh trước, cha
sinh sau; cháu sinh trước, ông sinh sau. Thật
ra, đây là những kiến giải có tính chất thơ ngộ về cấu trúc và quan hệ trong một
hệ thống. Cụ thể, trong một hệ thống, khi một yếu tố mới xuất hiện lập tức nó
thiết lập một quan hệ mới và đảm nhiệm một chức năng mới, con là con trong quan
hệ với cha và ngược lại, cháu là cháu trong quan hệ với ông và ngược lại. Như vậy,
nếu không có yếu tố con thì sẽ không có quan hệ và chức
năng cha, tương tự quan hệ cháu / ông cũng như thế. Và với ý nghĩa
quan hệ và chức năng như đã phân tích thì con có trước cha, cháu có trước
ông!
Nếu mở rộng quan sát, ta
thấy trong tiếng Việt có không ít trường hợp có cách biểu đạt lạ: Nghĩ
thầm trong bụng, sống để bụng chết mang theo, mát dạ, ấm bụng…
Rồi, giận cành hông, giận bầm gan tím ruột, sợ
tái mặt, sợ muốn rụng tim, tức ói máu, tức lộn ruột…
Hình như vùng bụng là cơ quan suy nghĩ thứ hai của người Việt và hình như ở
đây, các biểu hiện cảm xúc có liên quan đến bộ phận cơ thể người theo mô hình:
Cảm xúc X + bộ phận cơ thể người. Điều này theo tri nhận luận, xuất phát từ
nguyên lý con người dùng những hiểu biết về cơ thể mình để nhận thức thế giới.
Quan sát tiếp hai câu ca
dao sau đây: (i) Sáng đi bóng hãy còn dài, trưa về bóng đã
nghe ai bóng tròn. Và (ii) Sáng đi bóng hãy còn dài,
chiều về bóng đã nghe ai bóng tròn. Nội dung ở (ii) là vô lý, vì chỉ vào buổi
trưa, khi mặt trời trên đỉnh đầu thì bóng mới tròn, còn sáng hay chiều
bóng đều dài. Thế nhưng, qua một cuộc điều tra bỏ túi của chúng tôi, mọi
người cũng thừa nhận, cách biểu đạt ở (ii) hay hơn và đây là một mô tip đối lập
sáng đi/ chiều về rất quen thuộc trong ca dao. Rồi trong nhận thức, lúc xác nhận, Anh
em là ruột là rà, Vợ chồng như áo thay rồi là xong ,
lúc thì bảo,Vợ chồng là ruột là rà, anh em thì có cửa
nhà anh em.
2.2.Trong tiếng Việt hiện
song tồn hai dạng thức: Tất nghiệp/ tốt nghiệp, tiếp thụ/ tiếp thu, phản ánh/
phản ảnh… Ở đây không chỉ là vấn đề có lý/ vô lý mà có chuyện đúng /sai. Ý kiến
thứ nhất cho rằng, đây là các từ Hán Việt vì vậy phải đọc cho đúng, tức chọn tất
nghiệp, tiếp thụ, phản ánh… Ý kiến thứ hai cho rằng, ngôn ngữ là một hiện tượng
xã hội,có trường hợp sai nhưng dùng mãi rồi sẽ quen, vả lại, lớp từ ngữ
vay mượn Hán Việt đã được Việt hóa cả về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp,
cho nên đã đến lúc phải coi chúng đã nhập vào hệ thống từ ngữ Việt và họ
chọn hình thức từ ngữ còn lại. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp như tham
quan/ thăm quan, phần lớn ý kiến lại chọn hình thức thứ nhất: tham quan. Tương
tự, hiện nay cũng tồn tại hai câu tục ngữ: Cái khó bó cái
khôn và cái khó ló cái khôn. Có lý hay vô lý là tùy
theo người cảm nhận và lý giải.
Về xác định phương
hướng, người phương Tây lựa chọn: Bắc – Nam – Tây – Đông, trong khi
người Việt lại là Đông – Tây – Nam – Bắc, nói rõ hơn, với người phương Tây nói
từ Tây tới Đông, từ Bắc tới Nam trong khi người Việt là, từ Đông sang Tây, từ
Nam ra Bắc. Cũng thật khó xác định lựa chọn nào có lý, lựa chọn nào vô lý
vì vấn đề không thuần là ngôn ngữ mà còn là lịch sử và văn hóa.
Cũng giống như một số dân
tộc khác, người Việt hay dựa vào sông để định vị: lên nguồn/ xuống biển, trên
nguồn/dưới biển…, Ai về nhắn với nậu nguồn/ trầu cau gởi xuống, cá chuồn gởi
lên. Cũng theo trục này nhưng với, ra vào, lên, xuống… phức tạp hơn. Gần
đây, cư dân mạng boăn khoăn về một số trường hợp, ví dụ như lấy mốc là Gia Lai,
cứ như những gì lâu nay theo đường thiên lý hay đường cái quan với cách dùng,
Vào (vô) Nam/ ra Bắc thì phải là ra Kon Tum, chứ không nên
dùng lên Kon Tum.
Tương tự, nếu lấy cái mốc
là Cần Thơ, cũng theo đường cái quan thì xuống Bạc Liêu, xuống Cà
Mau nhưng lạ là bà con đều nói lên An Giang. Điều này
chưa hẳn là vô lý. Và nếu lấy mốc xuất phát là các tỉnh miền Tây thì bà con đều
định vị là lên Sài Gòn, lên Thành Phố. Rõ
ràng, ngoài trục đường cái quan, lên/ xuống, ra / vào (vô) còn tùy thuộc vào địa
hình cao thấp và cả vị thế kinh tế, trung tâm/ ngoài vi nữa. Định vị liên quan
đến sông nước, có thể kể thêm, phần lớn các nền văn hóa khi xác định vị trí bờ
của con sông đều xuất phát từ dòng chảy, cụ thể xuất phát từ đầu nguồn của
dòng sông, theo dòng chảy, lấy người quan sát làm quy chiếu, sau lưng là nguồn,
trước mặt là biển, bên tay trái là tả ngạn, bên phải là hữu
ngạn (Từ nguồn nhìn ra biển) ,nhưng rắc rối là, sông nước ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long thì nửa ngày nước lên, nửa ngày nước xuống theo thủy triều, làm sao xác định
tả ngạn, hữu ngạn? Lại nữa, ở khu vực miền Trung người ta định vị bờ sông xuất
phát từ biển nhìn lên nguồn, nên bờ bắc của sông Hương của Huế là hữu ngạn, bờ
Nam của sông Hương là tả ngạn, thậm chí phân chia địa lý hành chính cũng
dựa vào căn cứ này. Huế là trung tâm, phía phải là các tỉnh phía Bắc như
Quảng TrỊ, Quảng Bình…, phía trái là các tỉnh phía Nam, Quảng Nam, Quảng
Ngãi…, tất cả có thể tìm thấy trong sách Đại Nam nhất thống chí.
3. Triết lý tiếng Việt: Lạ
mà quen
Thành ngữ, tục ngữ và cả
ca dao là những thành tố ngôn ngữ – văn hóa, thể hiện cách nghĩ, cách sống,
cách ứng xử, nhất là cách ý niệm văn hóa của cộng đồng diễn ngôn đối với bản
thân mình và với môi trường tự nhiên.
3.1. Với bản thân, nhất
là cơ thể mình, đúng hơn là dùng những kinh nghiệm, những hiểu biết về chính cơ
thể người và những trải nghiệm trực tiếp hay gián tiếp để nhận thức thề giới.
Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các ngôn ngữ đều biểu đạt ý niệm phải là
đúng, là quan trọng, trái là sai, là ít quan trọng hơn. Kinh
nghiệm cho biết, phần lớn chúng ta đều thuận tay phải, bất lợi, phiền
toái với những ai thuận tay trái. Từ đây, hệ giá trị phải / trái liên quan vị
trí trung tâm,liên quan đến ngữ pháp hình ảnh và cả chỗ ngồi của cánh tả/ cánh
hữu hoạt động chính trị ngày xưa.Nói rộng ra, những tri thức trực tiếp của cơ
thể (đầu, mình, tay, chân… ruột, gan, bụng, da… bộ phận/ toàn thể, đi, đứng , nằm,
ngồi, ngủ, thức…), những tri thức gián tiếp (trước mặt /sau lưng, trên đầu/ dưới
chân, bên phải/ bên trái… trong/ ngoài, lên /xuống, ra / vào…) đều là những cơ
sở kinh nghiệm để nhận thức và thể hiện triết lý nhiều khi là vô thức. Ta
bắt đầu bằng tục ngữ, Ruột để ngoài da, kinh nghiệm cho thấy,
cơ thể người là một vật chứa đựng, ruột bên trong, da ở ngoài, trong quan
trọng hơn ngoài, ruột biểu trưng cho tính tình, cảm xúc, hành động.Khi
ai đó nói, Hắn là người ruột để ngoài da là
muốn đề cập đến tính cách chân chất, thẳng như ruột ngựa, nghĩ ao nói vậy,
không cần rào đón, nói ra chứ không để bụng. Còn ruột bỏ ra, da bỏ vào thì
vẫn dựa vào những tri thức vừa nhắc, Ruột quan trọng hơn Da, bà
con ruột rà máu mủ thì xa lánh trong khi người dưng, nước lả thì vì một lý do
nào đó lại săn đón, gần gũi, thấy sang bắt quàng làm họ.
Nếu phương Tây dựa vào
triết lý nhị nguyên: đầu biểu trưng cho lý trí, tim biểu
trưng cho tình cảm, suy nghĩ thiên về phương thẳng đứng, trên quan
trọng hơn dưới, đầu quan trọng hơn tim, lý
trí quan trọng hơn tình cảm, trong khi với người Việt
thì bụng, lòng, dạ, ruột, gan 5 bộ phận biểu trưng cho tình cảm,
lý trí, tính tình và suy nghĩ thiên về phương nằm ngang. Và các yếu tố biểu
đạt đều có vai trò như nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh, không có yếu tố nào
quan trọng hơn yếu tố nào. Nói khái quát, triết lý đa nguyên đa vị khác
với nhất nguyên nhất vị và khác với cả nhị
nguyên nhị vị.
3.2 Ngôn ngữ học tri nhận
chỉ ra rằng, mảng hiện thực nào, chủ đề nào gần gũi và quen thuộc với cộng đồng
diễn ngôn thì xuất hiện trước nhất, xuất hiện nhiều nhất và có tầm tác động lớn
nhất trong suy nghĩ và hành động của họ. Quả nhiên, với người Việt, môi trường
sống như sông nước, cây cối, núi đồi, bão lụt… chủ đề quen thuộc như ăn uống,
ăn mặc, thực phẩm, đói no,… có một vị trí hết sức quan trọng trong không gian
tinh thần và qua đó có thể hiểu nếp sống nếp nghĩ và cả triết lý
dân gian. Chẳng hạn, có đến gần 500 đơn vị thành ngữ, tục ngữ về sông nước,
trong đó có những biểu đạt rất hay như: Nước khe đè nước
suối, Có nước sông nước đồng mới nhảy, Mạch trong nước
chảy ra trong… và đặc biệt cách hình dung sau:
– Đời người là đời
của con sông: con người sinh ra từ nước (nước ối), chết về với nước
(suối vàng, chín suối, nước tiên, nước phật, tục đưa linh).
– Hành
trình đời người là hành trình của dòng sông: Người không khác gì Sông, xuất
phát từ nguồn trôi dần về biển cả, Sông có khúc, người có lúc, đục trong
của nước và đục trong của cuộc đời, trong hành trình đó có khi thuận lợi:
Biển lặng sóng êm, Xuôi thuyền mát mái, Thuận buồm xuôi gió… nhưng cũng có khi
gặp khó khăn: Gió dập sóng dồi, Lên thác xuống gềnh, Thuyền xuôi gió ngược…
– Ứng xử với cuộc
đời là ứng xử với sông nước: Coi gió bỏ buồm, Lựa chiều bẻ lái, Theo nước
lượn thuyền…
Cụ Cao Xuân Huy (1900 –
1983), một nhà đạo học, trong quá trình nghiền ngẫm về bản sắc và lịch trình tư
tưởng của Việt Nam, nhà nghiên cứu đã nhận ra: cái đặc tính mềm mại, uyển
chuyển, linh hoạt, lưu động của nước… Từ đó, ông khái
quát rằng, dân tộc ta có tính nước và ghi nhận chính
khả năng thích nghi và cân bằng, là bí quyết sinh tồn của người Việt
Nam trước thiên nhiên khắc nghiệt và trước nhiều thế lực của giặc ngoại
xâm hùng mạnh. Cũng theo chiếu hướng đó, hệ phái Phật Giáo Khất Sĩ Nam Bộ
nhìn nhận Tánh Phật là tánh thủy. Và nếu so sánh triết lý về nước của
người Việt với người Trung Hoa và cả người Anh, Mỹ chúng ta sẽ khám phá
ra nhiều điểm khác biệt.
4. Phương ngữ tiếng Việt:
Lạ mà quen
Tiếng Việt tồn tại dưới dạng
các phương ngữ (còn gọi là tiếng địa phương). Mỗi phương ngữ là một hệ thống
riêng, tuy vậy ngày nay giao tiếp giữa các phương ngữ không gặp trở ngại lớn.
Vì thế, người ta hay nói tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trong thế đa dạng.
Sự khác biệt giữa các phương ngữ dễ thấy nhất là ngữ âm, từ vựng và một
ít là ngữ pháp.
Trước đây, người ta chia
tiếng Việt làm nhiều phương ngữ, hiện nay theo cách nhìn phổ biến, tiếng Việt
có ba phương ngữ: Bắc, Trung và Nam. Người Việt, về văn hóa, bên cạnh hệ giá trị
chủ đạo, còn có hệ giá trị của tiểu nhóm, tiểu nhóm có thể nhìn nhận theo xã hội
hoặc theo địa lý. Và có thể nói, mỗi phương ngữ dù đậm hay nhạt, dù ít hay nhiều
đều mang cá tính của một vùng đất.
Cá tính, trước hết là ở nội
dung, nhưng cũng có khi được thể hiện trong lựa chọn hình thức:
Bắc: Ăn như
thuyền chở mã
Làm như ả chơi trăng.
Trung: Ăn như còng chạy
Làm như mày mạy bơi.
Nam: Ăn như xáng Xúc
Mần như lục bình trôi.
Quan sát cách biểu đạt
trong ca dao, dân ca có thể ghi nhận, phương ngữ Bắc thường khuôn định trong thể
loại( ví dụ vẫn có nhấn nhá đệm lót nhưng về cơ bản lục bát vẫn 6 tiếng và 8 tiếng),
câu chữ trau chuốt bóng bẩy, bóng bẩy đến điêu luyện.
Phương ngữ Trung, nổi bật
với đặc điểm trung dung, nghĩa là vẫn còn ảnh hưởng của tính chất khuôn
thước của phương ngữ Bắc nhưng đồng thời đã hấp thụ được tính chất phóng khoáng
của lời ăn tiếng nói của phương ngữ Nam.Do địa hình, núi biển không xa cách mấy,
đất đai không được trù phú, lại luôn đối phó với thời tiết khắc nghiệt, bão lụt
hằng năm… tất cả đã tạo nên tính chất rất” lạ”. Hãy nghe chàng trai tán tỉnh:
Tui đi lên tui gặp chị,
tui đi xuống tui gặp chị
Người ta đồn mộng, đồn mị,
đồn chị với tui là hai vợ chồng
Hôm nay gặp giữa chợ
đông, Cầm tay chị lại, tui hỏi: Bây giờ chị tinh Sao?
Phương ngữ Nam, nhất là Đồng
bằng sông Cửu Long, ca dao dân ca nói riêng, cách thức biểu đạt nói chung thường
không câu nệ vào hình thức mà chủ yếu là làm thế nào diễn đạt được tiếng lòng,
chẳng hạn, đâu đó ở Bắc hay Trung thường có mô tip, khi thất tình, khi thất
cơ lỡ vận hay xuất hiện hình ảnh lên chùa mà tu, hãy lắng nghe tiếng hò của người
Đồng bằng:
… Việc gì mà phải
lên chùa đi tu, ta về Cà Mau, ta qua Rạch Giá, gặp con cá ta bắt con cá, gặp
con cua, ta bắt con cua, gặp việc gì ta mần việc nấy…
Hay cái ăn, cái mặc vốn
là nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ cha ông chúng ta thì ở đây hình dung rất đơn giản,
nhẹ nhàng:
Ăn: Người ta giàu, ăn
cơm ngày ba bữa, nhà mình nghèo, nấu ít, ăn hết nồi rồi lại nấu thêm.
Mặc: Mần cho lắm,
tắm cũng ở truồng/ Mần lay ray (lai rai) ngày thay hai ba bộ.
Về lược đồ văn hóa,
xe tơ, kết tóc của ông Tơ, bà Nguyệt, nhìn chung trong văn học dân gian, người
Việt đề cập đến với tấm lòng ngưỡng vọng, kính trọng, còn ở Nam Bộ
quan hệ giữa nhân vật trữ tình với họ, rất dân chủ, rất bình
đẳng :
Bắt ông Tơ, đánh sơ ít chục
Mối chỉ sậm sờ, ông ngủ gục
ông không xe.
Hay:
Đánh ông Tơ cái
trót, ông nhảy thót lên ngọn trâm bầu
Ông xe đâu đó, ông thấy
nhơn ngãi tui nghèo, ông không xe.
Ngoài việc thể hiện cá
tính của một vùng đất, mỗi phương ngữ còn có phong vị riêng, ngoài những hiện
tượng đặc phương ngữ, tức có phạm vi giao tiếp hẹp hoặc quá hẹp, không nhất thiết
phải thống nhất giọng nói và từ vựng.
5. Vĩ thanh:
Các bài trong tập sách
này phần lớn đã được in ở một số báo và tạp chí. Chúng được xác lập, nhìn
nhận, kiến giải từ cái nhìn của ngôn ngữ học tri nhận – một ngành học còn non
trẻ, xu thế nghiên cứu và ứng dụng rất gần với khoa học trí tuệ nhân tạo.
Các bạn, tùy theo nhu cầu,
có thể đọc riêng từng bài, vì mỗi bài có tính độc lập tương đối nhưng cũng có
thể đọc theo chủ đề gồm nhiều bài.
Rất mong các bạn lượng thứ cho, vì nhiều lý do khác nhau, một số ý tưởng, một số phân tích, một số ví dụ minh họa còn bị lặp lại.
24/3/2025
Trịnh Sâm
Nguồn: Lời tác giả cuốn sách Tiếng Việt: Lạ mà quen
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét