Ánh sáng của tình người
Thuở nhỏ, Đỗ Công Tiềm nổi tiếng là một cậu học trò ham học.
Anh dành nhiều thời gian cho việc đọc sách. Anh vun vén tình yêu văn chương từ
dạo ấy làm động lực cho những ngày tháng nhập ngũ; và sau này, nhân thêm niềm
say mê, hứng thú trong các giờ dạy. Anh bắt đầu bén với nghề viết từ năm 1989.
Hiện nay, gia tài anh đã có 3 tập truyện ngắn: “Bạn láng giềng” (1), “Đêm vắng” (2) và “Ánh
đèn bên nhà hàng xóm” (3). Đọc văn của Đỗ Công Tiềm, nhất là những người đã
từng gặp anh ngoài đời, hẳn cùng một suy nghĩ: văn và đời là một. Những trang
viết mộc mạc, bình dị nhưng không kém phần sâu lắng, nỗi niềm. Nổi bật trên hết
là ánh sáng của tình người, lòng bao dung và nhân ái. Cũng nằm trong nguồn ánh
sáng đó, “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là tập truyện phản ánh một cách
rõ nét đời sống nông thôn và số phận người nông dân thông qua những biến cố xã
hội.
Nói đến đề tài nông thôn, nông nghiệp và người nông dân,
không thể không nhắc đến những cây bút gạo cội như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu,
Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ
Duy Anh, Nguyễn Quang Lập,… So với các cây bút này, Đỗ Công Tiềm tuy chưa thể đọ
vai, bằng vai, nhưng giọng văn dân dã, đời thường và cái nhìn thấm đẫm tinh thần
nhân văn của anh lại là thế mạnh, giúp anh trụ vững với đề tài về mảnh đất nông
thôn. Ba tập truyện và một số giải thưởng, có thể khẳng định, anh đã đang đồng
hành với nhiều tác giả khác, cùng lấp khoảng trống, để đề tài nông thôn không
còn là “đất trắng”. Anh đạt được một số giải như: giải 3 cuộc thi truyện ngắn của
Tạp chí Kinh Bắc năm 2010, giải nhất Giải thưởng sáng tác văn học đề tài “Xây dựng
nông thôn mới” cho bút kí “Đất - Người Minh Tân”, giải C của Liên hiệp
các Hội VHNT Việt Nam năm 2019 cho cuốn “Ánh đèn bên nhà hàng xóm”.
“Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là tập truyện xoay quanh đề
tài đời sống người dân ở nông thôn trong thời kì thị trường hóa, đô thị hóa.
Các sự kiện như cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, hay những
năm tháng gian khổ của chiến tranh được anh nhắc đến qua dòng hồi ức, kể lại của
nhân vật, chứ không trực tiếp mổ xẻ, dựng lại. Dưới cái nhìn thế sự, dòng hồi ức
này đã góp phần bổ sung và lí giải những bi kịch dai dẳng mà người nông dân phải
gánh từ bao đời nay. Người nông dân của anh vừa chịu tàn dư chấn thương của
giai đoạn trước, vừa bị trì níu, ràng buộc bởi những hủ tục, vừa chịu guồng
quay hối hả, bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực, của quá trình đô thị hóa.
Đỗ Công Tiềm quan niệm: “Con người ta cái cần thiết cốt
yếu nhất là gia đình. Gia đình có êm ấm bền vững thì cuộc đời mới có ý nghĩa,
có hạnh phúc” [tr.29]. Nên, các truyện của anh hầu hết xoay quanh các mối
quan hệ trong gia đình. Anh dùng không gian nhỏ bé này khắc họa số phận của người
nông dân, đặc biệt là người phụ nữ. Họ không chỉ chịu nỗi đau, dư chấn của chiến
tranh mà còn phải chịu áp lực của quá trình đô thị hóa. Có những người phụ nữ
chịu nhiều nhọc nhằn, giông bão vừa thương vừa trọng như chị Nhã (Ngăn cách),
bà và mẹ (Ngăn cách), chị dâu (Chị dâu tôi), người vợ (Kẻ khuyết tật), chị Lựu
(Đêm vắng),… Có những người phụ nữ vừa đáng thương nhưng vừa đáng trách như
Hoài (Bong bóng vẫn bay), chị Hạnh (Bụi gạch),… Tình yêu và hạnh phúc của người
phụ nữ thật mong manh, bất hạnh. Chị Lựu dành cả tuổi thanh xuân của mình để chờ
đợi anh Huấn - chồng chị. Đời không lấy hết nước mắt của chị, vẫn cho chị có những
giây phút vui vẻ, rạng rỡ bên cạnh chồng, dù cuộc trở về của anh còn mang theo
sự không vẹn nguyên hình hài (Đêm vắng). Người mẹ trong truyện “Cô bé xấu
xí” “có quản chi vất vả nhọc nhằn, chỉ mong sao sinh nở lấy vài mụn con, để
lấy được cái ‘lãi’ của đời người con gái” [tr.161] nhưng rồi cũng không
thoát nổi định mệnh, từ giã cõi đời trong trạng thái người điên. Mỗi người đeo
đuổi một mất mát riêng. Nhưng những người phụ nữ của Đỗ Công Tiềm đều gặp nhau ở
một điểm, đó là giàu lòng hi sinh, yêu thương và vị tha: “Tình yêu của
những người phụ nữ… thật mộc mạc chân thành, cứ như rễ trúc, rễ tre, đã đâm vào
lòng đất rồi thì chẳng có một thứ giông bão nào lay nhổ nổi” [tr.162].
Trong “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” “… những con người,
nom ai cũng đen đúa lầm lụi, tất bật, nhưng ai cũng cởi mở đến lạ” [tr.59].
Đó là vợ chồng tôi (Tiếng chim lẻ bạn), tôi (Ánh mắt học trò), Phác, Dũng,
Chiên, Mai, Hoa và Bình (Bong bóng vẫn bay), tôi (Ánh đèn bên nhà hàng xóm),
tôi, vợ chồng anh Phân (Bạn láng giềng)… Họ là những con người lam lũ, vất vả,
cơ cực nhưng sống với nhau chận thật, tình nghĩa và bao dung. Bao năm bôn ba
ngược xuôi, dành một phần đời cho trận mạc, cứ ngỡ người vợ yêu quý sẽ bù đắp mọi
thứ, nhưng rồi người vợ cũng bỏ anh Hoán mà đi (Tiếng chim lẻ bạn). Trong hoàn
cảnh ấy, anh Hoán nhận ra giá trị thực sự của tình bè bạn: “tình bạn… là tài
sản quý giá nhất mà mình còn lại” [tr.41]. Anh Phân trong truyện “Bạn
láng giềng”, nếu không có người bạn láng giềng tốt bụng giúp đỡ, sẻ chia,
đâu dễ trở về cội nguồn khi từ giã cõi đời? Y trong truyện “Ánh đèn bên
nhà hàng xóm” bị cuộc đời giày xéo bầm giập, nhưng trước sau vẫn là người
có tấm lòng nhân ái, tốt bụng. Y hi sinh bản thân mình, chấp nhận vào tù vì người
khác. Y cưu mang hai mẹ con chị Xim và bé Anh Thư khi người chồng/cha ngã bệnh
chết trong tù. Sự gắn bó, vun đắp cái tình, cái nghĩa theo tập quán “sớm lửa, tối đèn có
nhau” của người nông dân trong truyện của Đỗ Công Tiềm chính là bài học vô giá
nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn của mỗi chúng ta. Đó là món quà quý, vốn quý mà ai
trong cuộc đời cũng từng ước ao.
Trong quá trình đô thị hóa, nông thôn của Đỗ Công Tiềm niềm
vui đan cài nỗi buồn. Niềm vui khi đời sống vật chất lẫn tinh thần của bà con
xóm làng được nâng cao, cải thiện. Nỗi buồn khi sự phân hóa giàu nghèo, các tệ
nạn xã hội liên tục bủa vây làm họ đánh mất tình làng nghĩa xóm, đổi thay nhân
tính. Tắm gội trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường, của đô thị hóa, Mí bị đồng
tiền chi phối, chỉ quan tâm đến chuyện được mất, hơn thua (Ánh mắt học trò);
Quang đi du học về, ngỡ mở mang văn hóa, ai ngờ đầy toan tính (Tháng ngày vẫn
trôi). Đỗ Công Tiềm thường nhìn những nhân vật bị tác động, biến đổi do hoàn cảnh
xã hội bằng thái độ cảm thông xen lẫn xót xa. Một số người nông dân bị tác động
của xã hội, trượt ra ngoài lối sống văn hóa, nhưng anh vẫn phát hiện gốc rễ
thiên lương thẳm sâu bên trong tâm hồn họ. Nếu đặt họ trong hoàn cảnh xã hội
cũ, trong một bối cảnh khác, họ là người tốt bụng, thiện lương. Nhưng đặt trong
hoàn cảnh xã hội mới, họ vô tình trở thành nạn nhân của cái xấu xa. Anh em nhà
cậu Chung trong “Chị dâu tôi”, Quang trong “Tháng ngày vẫn trôi”,
chị Hạnh trong “Bụi gạch”, Mí trong “Ánh mắt học trò” vốn
là những người tử tế nhưng đều vì đồng tiền mà đánh mất giá trị bản thân. Hoài
để cuộc đời của mình trượt dài trên đồng tiền và danh vọng, nhưng nhờ tình cảm
vô giá của bạn bè mà cô đã nhận ra những lỗi lầm và quyết làm lại cuộc đời. Người
thợ đấu mang trong mình nỗi oan là kẻ giết vợ, phải chịu cảnh tù đày, song lại
có tấm lòng nhân hậu, chấp nhận nuôi Bống, đứa trẻ thiểu năng trí tuệ bị bỏ
rơi. Tấm lòng ấy còn trong sáng hơn, quý hơn khi anh thợ đấu luôn tự dằn vặt
mình để tình cảm giữa anh và Bống mãi mãi là ông cháu. Đó là nét đẹp văn hóa ứng
xử mà anh luôn tự hào, nâng niu, hướng đến trong các trang văn của mình. Hoặc
thông qua những câu chuyện như việc anh em tranh giành đất đai trong truyện “Chị
dâu tôi”, “Tháng ngày vẫn trôi”, anh chỉ ra những mâu thuẫn trong gia
đình, làng xóm, dòng họ; chỉ ra những suy nghĩ lạc hậu, cổ hủ về ý thức tộc họ;
đồng thời thắp lên ánh sáng của vẻ đẹp bình dị, thật thà, nhân hậu của người
dân quê đồng bằng Bắc bộ, kết gắn tình yêu cội nguồn trong cái tình cái nghĩa của
xóm làng.
Bên cạnh người nông dân tha hóa, anh còn khai thác người nông
dân bi kịch, biết vượt lên chính mình. Trong truyện của anh, nhiều số phận đối
lập, không trùng khít với hoàn cảnh xã hội mới. Sự đối lập này không phải do
thiên tính mà do biến động phức tạp, xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Họ trở thành kẻ lạc lõng, lệch về một phía. Như ông Bốc
trong truyện ngắn cùng tên - “Ông Bốc”, ông Vạm trong truyện ngắn “Người
của một thời”, ông già trong “Ông già đợi xe buýt”. Những hoài
niệm của ông Bốc, ông Vạm, ông già, xét ở một góc độ nhất định, có thể nói là lời
cảnh báo sự xuống cấp, băng hoại về các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của
làng quê. Trong truyện của anh, có những nhân vật bước ra từ chiến tranh, không
một vết xước nào trên cơ thể, nhưng lại bị trầy xước từ cuộc sống hiện tại. Anh
Tính, thực hiện lời hẹn với anh Trường, lấy Lan, không sinh con mà dồn hết tình
yêu thương và sự chăm sóc cho hai đứa, Quang và Quốc. Nhưng Quang đã nhẫn tâm,
sống vì tiền, đánh đổi hết mọi thứ bằng gáo nước lạnh khi quyết lấy lại đất đai
mà bố Trường và mẹ Lan để lại. Cư xử của Quang còn thua cư xử của hai đứa trẻ tật
nguyền của anh Phượng và chị Nụ. Cuộc sống dồn anh Tính từ bi kịch này đến bi kịch
khác, nhưng anh biết hóa giải nỗi đau, đứng vững, giữ lòng thanh thản. Số phận
của ông Bốc còn bi kịch hơn anh Tính: mất cha mẹ từ khi còn nhỏ, đi chiến đấu
trở về thì người yêu đã đi lấy chồng, thành tích trên chiến trường không được
ghi nhận, anh em chia rẽ vì tranh giành đất đai. Ông Bốc trở thành kẻ trắng
tay. Ấy vậy mà, khi có trong tay ngôi nhà của người đàn bà khổ hạnh để lại, ông
cũng không nghĩ đến bản thân mình mà dành tất cả những gì mình có cho hai mẹ con
nhà chị Lân. Vết xước từ cuộc sống không hề làm những người nông dân như anh
Tính, ông Bốc đổi thay. Cái gốc nhân ái vẫn vững bền, kiên gan trước mọi giông
tố.
Tập truyện nổi bật với ba nguồn cảm hứng: cảm hứng nhân văn,
cảm hứng bi kịch và cảm hứng phê phán. Đan xen ba nguồn cảm hứng này, Đỗ Công
Tiềm đã tái hiện một cách khá chi tiết về đời sống nông thôn và người nông dân
trong giai đoạn tiền đổi mới. Bằng giọng văn đầy xa xót, ngậm ngùi, anh đã bày
tỏ sự đồng cảm trước những phận số bất trắc, thiệt thòi do biến động của lịch sử,
xã hội, bày tỏ nỗi niềm khôn nguôi về một thời đã xa và khát vọng nuôi dưỡng
tình yêu thương lẫn nhau giữa người với người. Như thế, không gian chật chội,
tù động bởi cái nghèo đói, bởi dư chấn của thời kỳ trước, bởi những tập tục tăm
tối, lạc hậu, bởi sự ảnh hưởng quá trình đô thị hóa của làng quê, không bó hẹp
được vẻ đẹp tâm hồn sớm tối có nhau của người nông dân.
Kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ trong truyện của Đỗ Công Tiềm
tuy giản dị, mộc mạc như con người quê nhưng anh đã tái hiện được những thân phận
người trên mảnh đất nông thôn, đã ít nhiều rút ngắn khoảng trống văn học về đề
tài nông thôn. Nông thôn trong “Ánh đèn bên nhà hàng xóm” vì thế vừa
là nơi minh chứng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp,
vừa là nơi ảnh hưởng, tồn tại các tập tục lạc hậu, lỗi thời. Phải là nhà văn rặt
yêu quê, một lòng một dạ sống, trải nghiệm và gắn bó với quê, Đỗ Công Tiềm mới
khai thác được kiệt cùng cái chất cộng đồng và tự trị của người quê như thế.
“Ánh đèn bên nhà hàng xóm” là ánh sáng của tình yêu
thương. Nguồn sáng ấy không bao giờ tắt, như tâm niệm của chúng ta khi nói về
người nông dân: tối lửa tắt đèn có nhau. Và đó cũng là ánh đèn được thắp từ
chính trái tim nhân hậu của nhà văn Đỗ Công Tiềm.
Chú thích:
(1). Đỗ Công Tiềm, Bạn láng giềng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội,
2005.
(2). Đỗ Công Tiềm, Đêm vắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
2010.
(3). Đỗ Công Tiềm, Ánh đèn bên nhà hàng xóm, Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2019.
8/5/2020 Hoàng Thụy Anh
8/5/2020


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét