Khi biết tin Hoàng Nhuận Cầm mất, ngay lập tức trong tôi vang
lên những câu thơ đã thuộc nằm lòng không biết tự thuở nào: “Em thấy không, tất
cả đã xa rồi/ Trong tiếng thở của thời gian rất khẽ…”.
Hoàng Nhuận Cầm nổi tiếng
với những bài thơ tình trong trẻo.
Giờ đây thì đúng là xa thật, “tất cả đã xa”. Người thơ ấy
cũng đã đi về một chốn xa xăm sau bao năm “ở trọ trần gian”. Tuổi thơ của tôi
cũng đã xa, cùng với bài thơ như ngai ngái mùi của những triền đê rợp cỏ, của
những sân trường rực màu phượng vĩ năm nào, thuở chúng tôi còn thơ bé. Âm hưởng
của bài thơ cứ buồn buồn, nhưng nhức vì chia xa, vì nhung nhớ. “Chiếc lá đầu tiên” và nhiều bài thơ khác của Hoàng Nhuận Cầm
mang màu sắc của những vần thơ lãng mạn một thuở, nó chạm vào hồn người không
phải ở những ngôn từ sắc sảo, cấu tứ hiện đại, mà ở cái tình thấm đẫm phía bên
trong. Có một thời tôi và bạn bè yêu say biết bao những bài thơ như
thế. Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tín, Ngô Thế Oanh… Những bài thơ
dài, đầy tâm sự. Chúng như nói hộ nỗi lòng của mỗi người, mặc dù con đường đó họ
chưa từng đi, mối tình đó họ chưa từng trải qua, nỗi đau đó họ chưa chạm tới.
Nhưng tất cả thật gần gũi, bởi mỗi người chúng tôi đều biết, trong chúng tôi
luôn tồn tại những nỗi niềm như vậy.
Bố nhà thơ là nhạc sĩ Hoàng Giác, ông đặt tên con
Hoàng Nhuận
Cầm, nghĩa là cây đàn vàng. Ảnh: internet.
Sau “Chiếc lá đầu tiên”, tôi tìm đọc những bài thơ khác của
Hoàng Nhuận Cầm như “Viên xúc xắc mùa thu”, “Cùng với buổi chiều nay”, “Đêm
nay”, “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến”… Chính ông là người đưa tôi vào một thế
giới đẹp và buồn. Hai thứ đó trộn lẫn đến nỗi không còn phân biệt được chúng nữa.
Và rồi đến lúc tôi tin vào câu nói của một nhà văn Nga: “Cái đẹp bao giờ cũng
buồn”. Tôi yêu những vần thơ buồn bã lãng mạn của Nguyễn Trọng Tín
trong “Gặp lại một vầng trăng”, gắn với Cầu Ván và mối tình với người con gái
tóc dài, với “mây suông, trăng suông và sông xuôi”, với vườn dâu chín, tiếng
“bìm bịp ngập ngừng kêu nước lớn”, với con chim két trộm trái vườn sau, mùi
hương cũ chẳng bao giờ cũ. Tôi yêu “Đò Lèn” của Nguyễn Duy với hình ảnh người bà “cơ cực”
“mò cua xúc tép”, với người cháu đã trưởng thành và khi “biết thương bà thì đã
muộn/ Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Tôi yêu “Không đề” của Ngô Thế Oanh, yêu
nỗi buồn cũng “tinh khiết” trắng trong như những bông hoa màu trắng trong đó.
Những nỗi buồn không làm ta bi lụy, chúng khiến ta mỉm cười với cuộc đời, thấy
cuộc đời đẹp và đáng sống hơn. Và những nhà thơ, nhà văn, họ đã gọi tên cảm giác của chúng
ta trước trăm ngàn thứ va đập vào chúng ta mỗi ngày: nào một mùi hương, nào một
cái nắm tay, vị mặn của nước mắt, một giọng nói quen thuộc, một đêm trăng đẹp đến
bàng hoàng… Họ dẫn lối cho ta đi, trên cả những mảnh thủy tinh mà ta
không hề cảm thấy đớn đau. Họ chỉ lối cho ta đi khi ta hoang mang, rối quẫn.
Trong những lúc khốn cùng nhất, bao giờ cũng có một câu thơ cho tâm hồn chúng
ta nương tựa. Bao giờ cũng có một nhà thơ nào đó, thấu hiểu và mỉm cười nhìn
ta, vỗ về và chữa lành những nỗi đau tưởng không gì hàn gắn.
Nhiều người sẽ nhớ về Hoàng Nhuận Cầm trong hình ảnh này.
Tôi biết ơn những người nắm giữ linh hồn chúng ta. Biết ơn đã
cho tôi được sống một cuộc sống là mình, hồn nhiên, điên rồ, mộng mơ và không sợ
hãi. Cảm ơn Hoàng Nhuận Cầm, người đã ở bên tôi và bè bạn tôi một thời tuổi trẻ
- tuổi của những con sóng xanh và những cánh buồm lộng gió. Nhờ có ông và những
nhà thơ mà tôi biết vẻ đẹp của sự sống, vẻ đẹp của những nỗi buồn. Một người bạn của tôi, anh Phùng Huy Thịnh, kể rằng anh luôn
nhớ dáng người nhỏ nhắn, vụng về nhưng nhanh thoăn thoắt của Hoàng Nhuận Cầm.
Hai người là bạn cùng học Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội năm nào, từng có
chung với nhau những ngày huấn luyện tại ngũ ở Yên Thế vào tháng 9 năm 1971, rồi
năm 1974 cùng được điều về Trại viết văn Quân khu Bình Trị Thiên. Theo lời anh Thịnh, Hoàng Nhuận Cầm say đắm với thơ đến nỗi
đi gác đêm thường làm khê nồi ngô ninh ăn sáng của đại đội ở phiên giữa đêm vì
mải “tìm thơ”, không kiểm tra giảm than đáy nồi. Có những đêm báo động chiến đấu, bạn bè phải đi tìm nhà thơ ở
bờ mương nước đầu thôn, bởi ông đang say sưa tìm vần điệu cho một bài thơ nào đấy.
Trong những trận bóng đá giữa hai trung đội chiều chủ nhật, sau khi gây cười bằng
những động tác vụng về, Hoàng Nhuận Cầm lại ứng khẩu luôn vài câu lục bát hài
hước. Ông luôn là tâm điểm cho các cuộc giao lưu, thi văn nghệ nhiều đơn vị
trong binh chủng. Tại Trại viết văn Quân khu Bình Trị Thiên, ông sáng tác nhiều
bài thơ rất hay, được nhiều người yêu thích. Trong khóa học lần thứ hai ở Khoa
Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, bạn bè thường thấy ông nhẩn nha vừa học vừa
làm thơ và hút thuốc lào sòng sọc, “đến mức nếu thiếu thuốc lào, dường như Cầm
“tìm” thơ rất khó”, anh Phùng Huy Thịnh nói.
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm trong một mùa đông chưa xa.
Những ký ức của người bạn tôi đã giúp tôi hiểu rõ hơn về
Hoàng Nhuận Cầm, một con người lãng mạn như tôi biết trong thơ, hài hước như
tôi biết trong hình ảnh “bác sĩ Hoa Súng” ở chương trình “Gặp nhau cuối tuần”
trên VTV năm nào. Người ta còn kể lại chuyện vui ngày ông đóng vai “bác sĩ Hoa
Súng”. Ngày đầu quay phim, ông mặc áo blouse trắng, đội mũ in hình trái tim,
tay cầm chiếc kim tiêm lớn. Hôm đó ông vào vai bác sĩ bị chồng của một bệnh
nhân đuổi đánh vì ghen tuông. Vì người đóng vai chồng là dân nghiệp dư nên khi
đánh Hoàng Nhuận Cầm đã đánh rất mạnh, khiến ông sợ và bỏ chạy. Hai anh công an gần đó thấy thế liền đuổi theo hô to: “Bắt lấy
thằng tâm thần!”. Bản tính hài hước, “bác sĩ Hoa Súng” không giải thích là đang
đóng phim mà nói là: “Em không tâm thần, em làm ở bệnh viện Tâm Hồn”. Sau này gặp
lại ông, hai anh công an chào to: “Chào bác sĩ Hoa Súng”. Bố nhà thơ là nhạc sĩ Hoàng Giác, ông đặt tên con Hoàng Nhuận
Cầm, nghĩa là cây đàn vàng. Nhưng Hoàng Nhuận Cầm đã không trở thành một nhạc
sĩ, một con người của âm nhạc. Ông chọn thơ, thứ cất lên muôn vàn giai điệu, thứ
chạm đến tâm hồn con người và đánh thức những cảm xúc nơi họ. Thứ mà, giống như
tình yêu, “đến trong đời không báo động”, giống như viên xúc xắc xoay mặt nào
cũng là nó, “sáu mặt đời lắc cắc tiếng thơ anh”. Hoàng Nhuận Cầm từng nói rằng với ông chiếc lá nào cũng là
chiếc lá đầu tiên, mối tình nào cũng vậy. Và ông đã sống, đã yêu, đã sáng tác
lúc nào cũng như lần đầu được hít thở và được yêu thương. Ông đã sống một cuộc
sống đúng nghĩa. Ngày hôm nay, tôi đọc lại bài thơ năm nào của ông, cũng thấy
như lần đầu tiên được đọc. Nỗi buồn của nó, sự thúc giục phải biết yêu và cảm
nhận từng khoảnh khắc cuộc sống của nó, chẳng bao giờ là cũ cả. Nó giống như
chiếc lá đầu tiên rụng xuống, đánh thức cả một mùa, đánh thức những nỗi niềm. Và tôi đang nhớ về ông như nhớ về “chiếc lá xanh kỳ lạ trút
trong đời” (Bài thơ Phương ấy).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét