Nói về Nam Phong tạp chí
Tôi sinh ở Cái Răng (Cần Thơ), bắt đầu đọc Nam Phong vào lúc
9, 10 tuổi. Dĩ nhiên không phải tôi mua đọc. Tôi tìm thấy những tập Nam Phong ở
nhà một ông cậu tên là Lý Kim Thanh, tục gọi là ‘ông Hội đồng Thanh;’ vì là địa
chủ giàu có và Hội đồng nên ‘bị’ mua Nam Phong.
Hồi đó mỗi làng đều ‘bị’ mua một số; những vị cai tổng, bang
biện, hội đồng cũng buộc phải mua; nhiều người lấy tiền công nho (công quỹ) mà
mua.
Những số Nam Phong tôi thấy ở nhà ông cậu đều chưa được ai đọc
cả, mấy chị dâu của tôi nói: “Thằng Thuộc (tên của tôi) mày cứ mang về mà đọc,
nếu không thì mấy chị cũng sẽ dùng mà nhúm lửa hay là đưa vào cầu tiêu.” Do đó,
tôi ôm Nam Phong về nhà đọc. Đọc nhưng chẳng hiểu gì, tuy thế vẫn đọc vì tò mò
thấy có nhiều tiếng mới lạ, đọc cho hết những tiếng đó. Lớn lên, nghe những bậc
đàn anh phê phán thái độ bênh Tây của nhóm Nam Phong, rồi chánh tôi cũng tự nhận
ra như thế, nên không đọc nữa và cho đến bây giờ, tôi cũng không bao giờ đọc lại
Nam Phong vì không thèm đọc, vì gớm ghét nó.
Phải nói tôi dốt Nam Phong!
Lúc tôi còn thiếu niên, trong những buổi hội hè, ăn giỗ, tôi
nhớ thỉnh thoảng một vài vị hương chức hội đồng có bàn về Nam Phong qua mục văn
uyển mà thôi.
Tại sao đọc văn uyển? Miền Nam vẫn bị tiếng oan là đồng chua
nước mặn không làm thơ văn và cũng không biết thưởng thức thơ văn. Phạm Quỳnh
lúc vào Nam có nói chuyện ở Mỹ Tho đưa ra nhận định trên, nên đã bị đả kích kịch
liệt. Thực ra sách văn chương quá ít, nên báo nào ra đời, dù là báo thực nghiệp
cũng có mục văn uyển để đáp ứng nhu cầu thèm thơ văn, chính vì thế mà mấy người
yêu văn thơ tìm đọc mục văn uyển trong Nam Phong.
Những người đọc mục văn uyển không phải chỉ để thưởng thức suông mà cốt tìm
trong những bài sáng tác do độc giả gửi đăng những ngụ ý mỉa mai xỏ xiên Pháp,
hoặc Triều đình, hoặc ngay chính nhóm Nam Phong mà biết là thân Tây. Còn những
người có ý thức hơn chống đối Nam Phong không phải chỉ về chính trị mà cả về
văn học.
Hồi 1930, chúng tôi bị cảnh sát Pháp rượt sau một cuộc biểu
tình bất hợp pháp. Nhờ bạn bè Pháp tổ chức, chúng tôi sang tới Bỉ không cần giấy
thông hành. Đêm đó tôi ngủ chung cùng phòng, cùng giường với Phan Văn Hùm và được
anh kể lại câu chuyện chống Nam Phong ở Hà Nội nhân bàn về việc viết văn. Theo
lời anh Hùm kể mà đến nay tôi còn nhớ rất rõ, lúc anh ra Hà Nội học ở trường
Công chánh anh được nghe dư luận các cụ Nho chống báng Nam Phong, nhất là qua vụ
cụ Ngô Đức Kế đả Phạm Quỳnh tổ chức những lễ kỷ niệm đề cao việc suy tôn truyện
Kiều. Các cụ nói: “Thằng đó nó làm đĩ lại mượn con đĩ Kiều mà tự bênh vực lấy;
rồi nó còn muốn kéo cả dân tộc đi làm đĩ. Phải chi người khác đề cao truyện Kiều
thì không nói làm gì.”
Sau khi đã biết các cụ Nho ở Hà thành đều chống Nam Phong,
anh bàn với Tuệ, một người miền Nam cùng lớp: mấy cụ chống mà ít dám nói, tụi
Nam Kỳ thích gây lộn phải nói thay cho các cụ. Thế là một tờ báo được ra đời lấy
tên là Le Jalon (cái móc để dóng hướng trong nghề công chánh,) nhưng viết bằng
tiếng Việt nhằm chống Nam Phong về những sai lầm trong sứ mệnh mà Nam Phong vẫn
tự quảng cáo là “truyền bá văn hóa,” đặc biệt sai lầm dùng chữ Hán một cách lố
lăng, giả tạo, trong khi tiếng Việt đã có chữ sẵn.
Một số của tờ báo trên đăng một câu chuyện không nói rõ tên
nhân vật, nhưng người đọc thừa biết là ai. Câu chuyện viết như sau: Một người đạo
mạo, đeo kính trắng bước từ trường Viễn Đông bác cổ ra, coi bộ học giả, vẫy chiếc
xe tay rồi lên ngồi giục anh kéo chạy mau vì quá trưa rồi. Xe kéo chạy đến gần
một ngã tư thì có một chiếc ô tô sắp chạy ngang qua. Ông đạo mạo ngồi trên xe
la lớn, cảnh giác anh kéo xe: “Tự động ca, tự động xa!” Anh phu xe không hiểu tự
động xa là gì, lại tưởng ông khách giục kéo nhanh nên cắm đầu chạy mau hơn; tai
nạn xảy ra, xe kéo đụng vào xe ô tô, nhẹ thôi nhưng cũng đủ hất cả ông khách và
anh phu xe ngã lăn ra đường, ông khách đạo mạo rầy anh phu xe; anh phu xe thưa
lại: “Phải chi cụ nói tiếng Việt cho con nghe, cụ bảo xe ô tô, hay xe hơi nói
theo người Nam, thì đâu đến nỗi như vậy cụ ôi!”
Anh Hùm nói số báo đó bán chạy quá, là một thành công lớn,
gây được trận cười khoái trá. Trong một số sau, được các cụ danh Nho mách, tờ
báo lại vạch cái dốt của Phạm Quỳnh khi dùng chữ Ngữ vựng, từ vựng thay vì ngữ
vị, từ vị. Chữ vựng (晕)
có bộ nhật: mặt trời, bộ xa: xe, ý nói đi xe dưới ánh nắng mặt trời hoa mắt; chữ
vị (彙) có bộ thĩ: đầu con thịt, quả; trái
cây, ý nói đi săn, hái quả bỏ lộn xộn về nhà sắp xếp lại; vậy vị – là sắp xếp.
Từ thời Huỳnh Tịnh Của, khi viết Đại Nam quấc âm tự vị đã dùng chữ vị. Phạm Quỳnh
không thông thạo chữ Hán, hai chữ vựng, vị viết gần giống nhau nên đã dùng sai
từ vựng.
Bài báo kết luận: xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ. Sai lầm
trên vẫn còn cho đến ngày nay chứng tỏ Phạm Quỳnh đã làm hại văn hóa như thế
nào. Phạm Quỳnh cũng không biết phục thiện, vì sau đó khi cho ra đời tủ sách
Nam Phong tùng thư, ở cuối sách có một bảng dịch từ ngữ, Phạm Quỳnh vẫn dùng ngữ
vựng.
Về chính trị tôi có hỏi Phan Văn Hùm, tại sao các cụ không đọc
Nam Phong là cơ quan của lính kín? Anh Hùm trả lời. Hãng buôn đã treo bảng quảng
cáo lên đó, các cụ đọc thấy là biết rồi. Hiệu đó là gì, là tên của người chung
chủ bút với Phạm Quỳnh: Nguyễn Bá Trác. Sự thực theo các cụ, Nguyễn Bá Trác
không phải là người làm cách mạng rồi sau ra đầu thú với Pháp như người ta vẫn
tưởng, nhưng là người của Pháp gài trong hàng ngũ cách mạng để dò xét phong
trào Đông Du. Đến khi bị lộ, Pháp bố trí cho Trác ra đầu thú rồi sau đó đưa ra
làm văn hóa. Các cụ chỉ nhìn vào con người Nguyễn Bá Trác mà xác tín về Nam
Phong là gì, của ai, nhằm mục đích nào. Chính vì thế mà sau này, Sarraut và
Marty thấy trên Nguyễn Bá Trác không lừa bịp được ai, nên bỏ tên đó đi trên mặt
báo.
Trở lại ảnh hưởng của Nam Phong về phương diện văn hóa, thời
trước cũng như bây giờ, vẫn có vài người nói về chính trị, đã rõ rồi, Nam
Phong, Phạm Quỳnh là phản bội nhưng về văn hóa còn chút công chứ. Tôi cũng đã
nêu nhận xét đó với Phan Văn Hùm, anh ta bảo tôi anh cứ coi đi, trong đó nó viết
trật lắm. Từ đó, tôi vẫn muốn kể tội Nam Phong về văn hóa, những sai lầm tai hại
mà Nam Phong gây cho văn học nhưng không đủ can đảm đọc lại Nam Phong, tôi thực
sự buồn mửa (nói theo tiếng Nam). Khi nghĩ đến phải đọc Nam Phong; tôi có nhờ Nguyễn
Ngu Í nhiều lần đọc giùm kê khai những sai lầm, nhưng anh cũng không thèm làm,
không ai thèm làm cả.
Bây giờ tôi xin kể một chi tiết sau cùng liên quan đến chuyện
Nam Kỳ du ký của Phạm Quỳnh. Câu chuyện này anh Hùm không kể cho tôi nghe,
nhưng do ông Mai Văn Ngọc, rể của Sương Nguyệt Anh và bố vợ của Phan Văn Hùm kể
lúc ông còn sống.
Dự định thành lập một tờ Nam Phong ở miền Nam
Sau khi Nam Phong ra đời, Phạm Quỳnh được Albert Sarraut sai
vào Nam thực hiện một sứ mệnh đặc biệt. Bề ngoài lấy tiếng là đi cổ động cho
Nam Phong nhưng thực ra mục đích chính là tranh thủ thuyết phục nhà Nho và
thành lập một cơ quan ngôn luận ở miền Nam tương tư như Nam Phong ở ngoài Bắc.
Nam Kỳ là đất thuộc địa, nhưng vẫn còn mến triều đình Huế.
Năm 1907, Thành Thái vào Nam thăm dân tình. Đứng đầu đám Nho sĩ đón tiếp Thành
Thái là Sương Nguyệt Anh, con gái Đồ Chiểu. Gia đình Đồ Chiểu tượng trưng cho
tinh thần bất khuất của giới Nho sĩ trong Nam và đất Ba Tri quê Đồ Chiểu là
trung tâm văn hóa của miền Nam. Do đó nếu thuyết phục được gia đình con cháu Đồ
Chiểu cộng tác với Pháp thì kể là tranh thủ được giới Nho sĩ trong Nam. Theo kế
hoạch của Sarraut, Phạm Quỳnh đi gặp Mai Văn Ngọc, rể của Sương Nguyệt Anh, giỏi
chữ Nho, tiếng Pháp, mời nhận làm chủ bút Nam Phong chung với Phạm Quỳnh. Sau
khi đã hội ý trong gia đình, ông Ngọc từ chối không nhận lấy cớ hay đau.
Phạm Quỳnh đi tìm Nguyễn Đình Chiêm, con thứ bảy của Đồ Chiểu,
thông thạo chữ Nho, biết nghề thuốc nữa. Trong chính sách nâng đỡ một số nhà
Nho không biết quốc ngữ bằng cách bổ nhiệm giáo viên chữ Hán, trả lương khá hậu
để xoa dịu tinh thần chống đối của họ, Nguyễn Đình Chiêm đã được Pháp bổ làm
giáo viên chữ Nho ở Ba Tri lương tháng 15 đồng. Tuy nhiên khi được Phạm Quỳnh
tiếp xúc, Nguyễn Đình Chiêm cũng từ chối lấy cớ kém chữ quốc ngữ.
Sau cùng Phạm Quỳnh đành đến gặp bà Sương Nguyệt Anh, con gái
của cụ Nguyễn Đình Chiểu, thông minh hơn hết và là người duy nhất trong gia
đình được học quốc ngữ. Năm 24 tuổi, lấy chồng, được ba năm, chồng mất, bà thủ
tiết nên thêm chữ Sương vào tên Nguyệt Anh.
Gia đình họp lại hội ý: cần có mặt, nên có thể cộng tác về
phương diện văn hóa nhưng phải công khai với sự ưng thuận của Triều đình Huế.
Nhân dịp Khải Định ra Bắc đến thăm Nam Phong, Khải Định sẽ soạn một bài thơ nói
lên ý định hợp tác đó, bài thơ do Sương Nguyệt Anh soạn.
Thật ra gia đình đưa những điều kiện trên để cho Tây từ chối,
nhưng Sarraut lại nhận. Tờ báo ra đời, lấy tên là Nữ Giới Chung. Pháp đặt Lê Đạt
làm quản lý, chịu mọi phí tổn. Trong lời Phi Lộ số đầu, có xác nhận rõ, báo
không bàn đến chuyện chính trị nhà nước, nhưng chỉ nhằm mục đích nâng cao mức sống
của đồng bào An Nam.
Tờ báo ra được mấy số thì ngừng vì người Pháp thực ra chú ý đến
tranh thủ giới Nho sĩ trong Nam, và tờ báo chỉ nói đến chuyện phụ nữ, nội trợ,
thơ văn không gây được một tác dụng chính trị nào, nên thôi trợ cấp.
21/10/2020Hồ Hữu TườngNguồn: Nguyễn Văn Trung, trường hợp Phạm Quỳnh, trang 18-24,
Nam Sơn XB, 1975


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét