Chương ba Nghĩ về ý nghĩa của Phật giáo Thiền tông qua vài suy
luận triết học Heidegger (tiếp theo) 6. Bởi vì muốn tránh sự đồng hóa nông cạn,
chúng ta mới nói Thiền tông chống cái này, chống cái kia. Sự thực thì chữ “chống”
này cũng nguy hiểm và dễ gây ngộ nhận. Thiền là Giải thoát, là Ngộ: như thế Thiền
chống lại những vọng tưởng mà người đời thường nuôi dưỡng trong tâm trí họ. Những
“biến kế sở chấp” (vikalpa) tựu trung là: 1. Luân lý học 2. Chủ nghĩa nhân bản 3. Luân lý 4. Bảng giá trị Người đời thường hay viện dẫn mê tín vào bốn vọng tưởng
trên; thường khi họ lấy những vọng tưởng ấy làm tiêu chuẩn cho mọi hành động; họ
xem những vọng tưởng ấy như là những chân lý bất di dịch, những sự thực tối thượng. Ở Tây phương, triết gia đầu tiên đã nhận thấy rõ những tai hại của những vọng
tưởng trên là Nietzsche: Nietzsche đã can đảm quét sạch những tín điều về bốn vọng
tưởng trên; đến Nietzsche chẳng những Thượng đế đã chết, mà chủ nghĩa nhân bản
cũng chết theo và sau đó ngã quỵ tất cả thành trì của bảng giá trị cũ, của Luận
lý học, của Luân lý. Sau khi Nietzsche mất rồi thì ngày nay, chúng ta thấy
Heidegger đang làm tiếp sự nghiệp của Nietzsche. Mặc dù là một triết gia, nhưng
Heidegger đã đi về con đường của Thiền, khi Heidegger nhận ra những vọng tưởng
trên. Thiền đả phá Luận lý học, bởi vì Luận lý học chỉ là một lề lối suy tư có
hạn định, không thể đưa đến giải thoát, không thể đưa đến Ngộ; một người còn mê
ngủ thì dù họ có lý luận đến tuyệt vời đi nữa thì lý luận ấy cũng chỉ là lý luận
trong mộng. Thiền đả phá chủ nghĩa nhân bản, bởi vì chính chủ nghĩa nhân bản đã
là phi nhân bản rồi, sở dĩ phi nhân bản là vì bị ràng buộc trong chủ nghĩa.
Nhân bản đúng nghĩa là nhân bản thì không có chủ nghĩa; còn chủ nghĩa là còn nô
lệ vào chủ nghĩa ấy, thế mà vẫn chưa giải thoát được. Thiền không là Nhân bản,
mà là “Phật bản”. Thiền đả phá Luân lý vì con người cũng dễ tàn nhẫn một cách
có khoa học, khi họ được Luân lý bảo vệ họ; Luân lý là một cái cớ để người ta cầu
an; Luân lý xuất phát từ lòng yếu đuối nhu nhược của con người; Thiền vượt lên
trên Thiện và Ác. Đại bi (Mahakaruna) cũng đồng nghĩa với Đại trí (Mahaprajna). Thiền đả phá bảng giá trị, vì Thiền cho rằng xem đức Phật là một giá trị tối
thượng, tức là đã hạ thấp Phật tính, vì đã đánh giá đức Phật; dù xem đức Phật
là một giá trị tối thượng vẫn là đánh giá đức Phật; vì giá trị tối thượng cũng vẫn
là giá trị, chúng ta chưa giác ngộ, chúng ta không quyền đánh giá một người đã
giác ngộ; đánh giá là một hành động phạm thượng. Bởi thế, không nên xem đức Phật
là một giá trị tối thượng, mà phải xem đức Phật như là khả năng vô biên mà
chúng ta có thể thực hiện trong đời này, mà thuật ngữ Phật giáo gọi là “Phật
tính”. Sở dĩ tôi phải xác định thêm những dòng trên là vì tôi muốn tránh những
điều ngộ nhận có thể xảy ra khi tôi nói rằng Thiền tông chống Luân lý, chống chủ
nghĩa nhân bản, không xem đức Phật là giá trị tối thượng, vân vân. Sự xác định ở
trên rất cần thiết, vì dễ có người nông nổi không đặt những nhận định vào văn mạch
của toàn bài, rồi hiểu sai chủ ý thì rất đáng buồn. 7. Bây giờ, tôi xin bàn về
những ngộ nhận chung quanh Thiền tông. Viết về Thiền tông, hành động “viết về” ấy
đã là một ngộ nhận to lớn rồi. Và chính bài này cũng đã vướng vào những ngộ nhận.
Nhưng sở dĩ bài này dám nói về những ngộ nhận của người khác chung quanh Thiền
tông là vì ít ra bài này cũng ý thức rằng mình đã ngộ nhận trước tiên. Và đi từ
nhận thức căn bản này: mình có ngộ nhận, mình mới có thể biết những người khác
ngộ nhận, vì tất cả đều nằm chung trong một hoàn cảnh giới hạn. Tôi chưa giác
ngộ, mặc dù tri thức của tôi bảo rằng tôi chưa giác ngộ, nhưng tiềm thức tôi
không nhận thế; nếu tiềm thức của tôi cũng đồng ý thực sự với ý thức tôi rằng
tôi chưa giác ngộ thì lúc bấy giờ chính sự đồng ý giữ ý thức và tiềm thức ấy là
sự giác ngộ rồi; nói một cách khác, nếu thực sự toàn diện con người tôi đồng ý
rằng tôi chưa giác ngộ thì ngay lúc ấy, trong lúc ấy, trong chớp nhoáng ấy, tôi
đã vụt giác ngộ rồi! Giác ngộ rằng chưa giác ngộ, tức đã là giác ngộ. Tôi vừa
nói câu này như một con vẹt, nếu câu nói này đi đôi với toàn diện con người tôi
thì tôi đã giác ngộ. Thiền không có nghĩa là tham thiền, mặc dù Thiền là bởi chữ
Zen mà Zen bởi chữ dhyana; nhưng đến Huệ Năng thì Thiền không có nghĩa là
dhyana, mà Thiền đồng nghĩa với Trí Bát Nhã, hay nói một cách khác dhyana đổi
ra Prajna. Vậy Thiền đồng nghĩa là Giác ngộ. Nói tóm lại Thiền chính là Ngộ mà
người Nhật gọi là Satori. Điều ngộ nhận to lớn nhất mà hiện nay tôi thấy rất
nhiều vị học giả thường vướng là họ hiểu sai chữ Thiền trong nghĩa Thiền tông
là Thiền trong nghĩa tham thiền hay toạ thiền, mặc dù Thiền tông cũng có tham
thiền và toạ thiền, nhưng chính sự tham thiền và toạ thiền ấy không phải là tất
cả nội dung của Thiền tông. Thiền trong nghĩa Thiền tông không phải chỉ là Thiền
trong khi toạ thiền hay tham thiền mà trong bất cứ hành động nào thì cũng có thể
được cả, và người ta có thể Thiền thực sự mà không cần tham hay toạ. Càng tham
thiền hay tọa thiền lại càng xa Thiền, nhưng mượn cớ này để lười biếng không
tham thiền hay toạ thiền thì lại là cuồng thiền. Bây giờ, để dễ thảo luận, tôi
xin nêu ra một nguyên tắc, mà nếu mọi người chấp nhận nguyên tắc này thì mới có
thể thảo luận được. Nguyên tắc đầu tiên là: Thiền có nghĩa là Ngộ. Ngộ ở đây có
nghĩa là Giác Ngộ, tức là kinh nghiệm tuyệt đối mà chỉ có đức Phật là thí dụ cụ
thể nhứt mà ta đã thấy trong lịch sử nhân loại. Nguyên tắc thứ nhất này rất
quan trọng, vì chính nguyên tắc này sẽ làm tiêu chuẩn để chặn đứng tất cả mọi
cuộc tranh luận bí lối và tất cả những lạm dụng nguy hiểm. Từ nguyên tắc thứ nhất
này, chúng ta có thể đi đến mọi nhận thức sau đây: - Thiền là Ngộ, ai cũng có
quyền nói về Thiền, viết về Thiền, bênh vực Thiền, chỉ trích Thiền, tranh luận
về Thiền; muốn làm gì thì làm, nhưng luôn luôn cần phải tự hỏi rằng: “mình có
ngộ hay không?”; nếu mình tự nhận rằng chưa Ngộ thì khi viết hay nói về Thiền
thì phải đứng trên quan niệm “chưa ngộ”; còn nếu tự nhận rằng mình đã “Ngộ” thì
lấy gì làm tiêu chuẩn để biết rằng mình “Ngộ”; bởi vì “Ngộ” làm gì có tiêu chuẩn
và ai cũng hiểu rằng “Ngộ” mà biết rằng mình “Ngộ” thì chưa phải là “Ngộ”; vậy
“không Ngộ” là Ngộ ư? Nói như thế cũng không đúng. Chỉ có cách giải quyết duy
nhất là muốn biết mình “Ngộ” hay không, thì cứ đợi đến “Ngộ” rồi sẽ biết. Tóm tắt
lại từ nguyên tắc thứ nhất: Thiền là Ngộ. Ta đi đến nhận thức này: - Chúng ta,
tôi, anh, ông, chưa được Ngộ. Từ nhận thức này, chúng ta ý thức được thẩm quyền
và giới hạn của chúng ta; - Vì chưa được Ngộ, nên muốn nói về Thiền, chúng ta
phải nhớ đứng trên vị trí “chưa Ngộ”. Từ ý thức trên, chúng ta đi đến những nhận
xét này; - Vì đứng trên vị trí “chưa Ngộ” thì dù có bỏ suốt đời để nghiên cứu
Thiền thì Thiền ấy cũng vẫn là “Thiền chưa Ngộ”. Nếu “chưa Ngộ” mà muốn nói về
Thiền thì phải nói như thế nào? Thì phải nói đến những gì là “chưa Ngộ” của
chính mình; nếu mình thành thật thao thức đau khổ chấp nhận tất cả những gì
“chưa Ngộ” trong con người mình thì lúc ấy là lúc “Ngộ” dễ vụt đến trong nháy mắt,
bởi vì “chưa Ngộ” được thực sự hoàn toàn ý thức là “chưa Ngộ” thì đã là “Ngộ” rồi. Bây giờ xin vào đề. Trước hết, tôi xin phê bình tất cả những tác phẩm của D.T.
Suzuki về Thiền tông. Nhận xét đầu tiên là tôi thấy ngay trọn vẹn sự nghiệp
D.T. Suzuki về Thiền tông là một cái dao hai lưỡi, biết dùng thì có lợi, nhưng
vung tay thì tới đại nguy hiểm. Tất cả những quyển sách của Suzuki chỉ có giá
trị là khi Suzuki viết về Thiền mà đứng trên vị trí “chưa Ngộ” và nhất là, ý thức
rằng mình “chưa Ngộ”. Tôi xin kết luận ngay rằng D. T. Suzuki là một học giả
thông minh, rất uyên bác về Thiền tông, có thể nói là uyên bác nhất thế giới,
nhưng tôi phải nói ngay rằng tất cả những quyển sách của D. T. Suzuki đều hoàn
toàn vô giá trị, vì D.T. Suzuki đã viết về Thiền mà viết với giọng điệu đầy thẩm
quyền như chính D. T. Suzuki đã “Ngộ” rồi! D. T. Suzuki “chưa Ngộ” mà khi viết
về Thiền, ông đã dùng ngôn ngữ của người đứng trên vị trí “Ngộ”. Thực ra “Ngộ”
làm gì có vị trí. Bởi thế, đọc trọn vẹn sự nghiệp của D. T. Suzuki, tôi chỉ thấy
ông lặp đi lặp lại và càng ngày tư tưởng ông càng cạn đi, để rồi đọng lại thành
khuôn thước và hệ thống. Ngộ nhận lớn nhất mà D. T. Suzuki đã phạm là khi ông tự
đặt ra câu hỏi sau đây: Thiền là gì? [1] D. T. Suzuki viết bằng Anh ngữ là: -
What is Zen? Khi hỏi một câu hỏi như vậy thì đã là thiển cận rồi, vì hỏi như thế
thì ít nhất cũng tự nhận mình đã “Ngộ” rồi; nhưng chính vì D.T. Suzuki chưa Ngộ,
nên câu hỏi trên mới tố cáo cho ta thấy những điều này: - Khi đặt câu hỏi thì
trong câu hỏi ấy đã giới hạn câu trả lời; - Khi đặt câu hỏi thì câu trả lời đã
tiềm tàng có trước câu hỏi. Như vậy khi đặt câu “Thiền là gì?” (What is Zen?)
thì đã tự ý định trước là “Thiền là một cái gì” (Zen is something; vì What có
nghĩa là something). Mà nếu cho rằng: “Thiền là một cái gì” thì đã đánh giá Thiền
và lôi Thiền xuống ngang hàng một đồ vật (What tức là chỉ cho vật mà thực ngữ của
Heidegger gọi là: “Vorhandensein”). Bây giờ không cần nói đến chữ “gì” (What),
mà chỉ cần nói đến chữ “là” là đủ kết luận về một điều sai lầm của Suzuki; “là”
(Is tức là to be) là xác nhận một hữu thể, một bản chất, một thể chất, một đặc
chất. Khi ta nói: - Thiền là. - Zen is. Tức là ta đã nhận rằng mình đã “Ngộ” rồi,
vì có “Ngộ” thì mới được bản chất, thể chất, thực chất của Thiền; biết như thế
mới nói là “là”. Nếu chúng ta chưa “Ngộ”, thì chúng ta không thể nói: - Thiền
là. Mà cũng không thể nói: - Thiền không là. Bởi vì nếu nói là “không là” thì
ít nhất cũng đã biết trước cái “là”, tức là chỉ có thể xác nhận là sau khi đã
phủ nhận, mà chỉ có thể phủ nhận là sau khi đã xác nhận; đằng này chúng ta
không biết gì cả, chúng ta “chưa Ngộ” thì dù có phủ nhận hay xác nhận cũng đều
là vô minh. Như thế, trong câu hỏi: “Thiền tông là gì?” chúng ta đã thấy người
đặt lên câu hỏi ấy là một người hoặc nếu không ngu xuẩn thì cũng tự nhận mình
đã “Ngộ” rồi, nhưng thực ra nếu “Ngộ” rồi thì cần gì phải đặt câu hỏi ngu xuẩn
như vậy? Từ những nhận thức trên, bây giờ ta thấy những đường lối mở ra như sau; - Nói về Thiền cho đúng sự thực thì phải “Ngộ” chẳng hạn như lục tổ Huệ Năng và
những vị thiền sư đời Đường, đời Tống. - Nói về Thiền cho đứng đắn, mà đang lúc
mình chưa “Ngộ” thì phải ý thức giới hạn mình và chỉ có thể được quyền đứng
trên phương diện, vị trí lập trường của một sử gia, một người chép sử, một người
ghi lại kinh nghiệm quá khứ. Trong một cuộc tranh luận giữa Hồ Thích và D. T.
Suzuki, chúng ta thấy cả hai đều rơi vào sai lầm [2]. Hồ Thích đứng trên lập
trường của sử gia, nhưng Hồ Thích lại hiểu sai vai trò lịch sử, khi Hồ Thích
cho rằng có thể dùng phương pháp sừ học để hiểu Thiền. Hồ Thích đã sai lầm rất
lớn; Thiền là kinh nghiệm giác ngộ; lịch sử không phải là kinh nghiệm; lịch sử
chỉ là ghi chép kinh nghiệm; Hồ Thích đã sai lầm vì đã cho rằng đứng trên vị
trí “chưa giác ngộ” có thể hiểu được Ngộ; còn Suzuki đã đúng khi cho rằng “chưa
Ngộ” thì không thể nào hiểu “Ngộ” được, nhưng khi nói câu ấy, Suzuki đã ngụ ý rằng
mình đã “Ngộ”. Tất cả những kinh sách của Thiền tông như Pháp bảo đàn kinh, Vô
môn quan, Lăng già sư tư ký, Tín tâm minh, Truyền đăng lục, vân vân,… đều nói
lên ngôn ngữ của những con người đã “Ngộ” rồi. Và chính ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ
của Thiền. Chẳng hạn như dở quyển Vô quan môn ta đọc thấy những câu sau đây của
Thiền sư Vô Môn: Phùng Phật sát Phật, phùng tổ sát tổ. “Gặp Phật giết Phật, gặp
tổ giết tổ”. Thiền sư Vô Môn nói câu trên, dùng ngôn ngữ mạnh bạo trên là lúc
thiền sư đã “Ngộ” rồi; còn nếu bất cứ người thứ hai nào mà lặp lại câu trên,
đang lúc mình “chưa Ngộ” thì câu trên trở thành rất nguy hiểm và tai hại: nó biến
thành cái cớ để người ta tự bào chữa hành động ngu xuẩn của mình; nó là cái cớ
để người ta ngạo mạn kiêu căng; nó là cái cớ để người ta phá hoại tôn giáo, phá
hoại truyền thống, không phải phá hoại để giải thoát, mà phá hoại vì ngu si mê
muội, vì dại dột; phá hoại như thế có nghĩa là tự sát. Chúng ta chỉ có quyền lặp
lại câu nói của thiền sư Vô Môn với ý thức rằng mình chưa Ngộ và câu nói ấy là
câu nói của một người đã chứng “Ngộ”; chúng ta chỉ có quyền lặp lại câu nói
trên sau khi chúng ta biết rằng đó chỉ là một lối nói để phá chấp đến triệt để;
còn chấp “Phật” tức là chưa thành Phật, còn chấp tổ nghĩa là thành tổ: giết Phật
ở đây không có nghĩa là giết Phật, mà có nghĩa là giết ông “Phật” mà ta đã chấp
trong trí ta. Bi kịch lớn lao nhất ở đời là mỗi khi vĩ nhân xuất hiện và sau
khi vĩ nhân ấy đã nói lên một lời nào thì những kẻ hạ nhân cũng bắt chước nói lại
lời ấy; và mặc dù lời ấy cũng gồm bấy nhiêu chữ, nhưng những chữ ấy không còn
là những chữ của vĩ nhân nữa; chẳng hạn vĩ nhân nói “sát Phật” thì hạ nhân cũng
bắt chước mà nói “sát Phật”; nhưng đau đớn biết bao là câu lặp lại bỗng trở
thành thuốc độc và đưa con người đến chỗ tự sát. Nietzsche đã hiểu bi kịch
trên: chúng ta thấy biết bao nhiêu lần Nietzsche đã để cho Zarathustra cảnh cáo
mối tai hại ấy trong quyển Ainsi parlait Zarathustra. Heidegger cũng hiểu ý của
Nietzsche, nên trong quyển Qu’appelle - t-on-penser?, Heidegger có viết: “Trước
kia đó là tiếng kêu la của Nietzsche, mà ngày nay tiếng kêu la ấy đã trở thành
câu chuyện ba hoa của thiên hạ”. Chẳng hạn, chúng ta thấy Nietzsche kêu: “Thượng
đế đã chết”. Đó là tiếng kêu la thống thiết của Nietzsche để báo tin một kỷ
nguyên mới. Ngày nay, thường khi, trong những phòng cà phê hay giảng đường đại
học, chúng ta nghe người ta say sưa nói: “Thượng đế đã chết”; họ nói ba hoa như
vậy, và họ vẫn tiếp tay duy trì thế giới cũ và cản lối làm chướng ngại vật
không cho kỷ nguyên mới mở màn. Thế là “siêu nhân” của Nietzsche đã chết theo
sau đó, do những đầu miệng của kẻ hạ nhân. Thế là Nietzsche cũng chết luôn, như
Malraux đã có lần nói như vậy. Về Suzuki tôi xin tóm lại: Thiền của Suzuki
không phải là Thiền của Vô Môn quan, của Pháp bảo đàn kinh, của Truyền đăng lục,
vân vân; nghĩa là Thiền của Suzuki là Thiền về Thiền, cũng như Luận lý học là
tư tưởng về tư tưởng - la pensée sur la pensée theo kiểu nói của Heidegger. Đó
chỉ là một lối suy tư đặc biệt - une façon particulière de penser - một lối suy
tư đặc biệt như Thiền của Suzuki cũng là một lối Thiền đặc biệt - une façon
particulière de méditer, de “Zenifier”! Những quyển Vô Môn quan, Pháp bảo đàn
kinh, vân vân; là nói lại Thiền của Thiền của vị sư đã “Ngộ”. Vô Môn quan, Pháp
bảo đàn kinh, vân vân, không phải Thiền mà chỉ nói về Thiền. Như vậy Suzuki đã
nói về cái “nói về” ấy; còn những kẻ nào tôn sùng Suzuki và tham khảo sách của
Suzuki (như Alan Watts, Christmas Humphreys, Hubert Benoit, Blyth, Sohuku
Ogata, Chang Chen Chi, vân vân) thì những kẻ ấy lại nói về “cái nói về cái nói
về” dịch ra tiếng Pháp cho dễ hiểu là: la pensée sur la pensée sur la pensée…
Như thế là vô minh quá lắm rồi. 8. Trong một câu chuyện giữa người A và người
B; người A nói rằng: “Tôi thích cái này, tôi ghét cái kia”. Anh B vụt trả lời:
“Anh nói rằng anh có nghiên cứu Thiền nhưng tại sao anh lại nói rằng anh thích
cái này, ghét cái kia? Thiền đâu có ghét, đâu có thích!”. 9. Trong câu chuyện
trên, chúng ta thấy anh A chưa ngộ và anh A hồn nhiên nói năng tự nhiên thành
thật như một kẻ chưa ngộ; còn anh B thì chưa ngộ mà lại chỉ trích anh A; và khi
chỉ trích như vậy thì tỏ ý mình đã hiểu Thiền, đã ngộ Thiền; sự thực thì anh B
chưa ngộ; chẳng những thế anh còn vướng vào tội ngạo mạn ngu si vì anh B đã học
lỏm được trong một quyển sách nào đó rằng “thích và ghét không phải là Thiền”;
câu nói là câu nói của một thiền sư đã Ngộ; anh B chưa Ngộ mà lặp lại một câu của
người Ngộ, và như thế tự cho mình cao hơn anh A, nghĩa là tự cho mình ngộ hơn
người chưa ngộ! Ôi bi kịch! Chân lý mà bị lặp lại thì đã biến thành tà thuyết! 10. Anh X nói chuyện với anh Y; anh Y tỏ cho anh X biết rằng anh Y đều tham Thiền
vào mỗi buổi sáng. Anh X cật vấn anh Y: “Thiền tông làm gì có tham thiền, chỉ
có đốn ngộ thôi, đâu có chuyện lau bụi, anh không nhớ chuyện Thần Tú và Huệ
Năng sao”? 11. Qua câu chuyện trên, ta thấy anh X lặp lại một câu nói của kẻ ngộ,
anh X chưa giác ngộ thì anh làm gì hơn Thần Tú mà lại có ý xem nhẹ Thần Tú? Có
người được “Ngộ” mới xem nhẹ người chưa giác ngộ thôi, nhưng thực ra, người đã
“Ngộ” thực rồi thì không bao giờ xem nhẹ kẻ “chưa ngộ”. 12. Về những quyển sách
của Suzuki, chúng ta thấy những quyển sách ấy chỉ có giá trị quí báu về phương
diện sử học; còn nếu Suzuki muốn đứng về phương diện giải thích kinh nghiệm Thiền
thì Suzuki đã thất bại ngay từ căn bản và đứng trên phương diện này, thì những
quyển sách của Suzuki chẳng có giá trị gì, mà lại rất nguy hiểm. 13. Dùng thuật
ngữ triết học của Heidegger thì sách của Suzuki chỉ có giá trị về mặt ontique
nhưng hoàn toàn không có giá trị về mặt ontologique (thực ra Zen vượt lên trên
cả ontologique!). 14. Erich Fromm và Richard de Martino trong quyển Zen
Buddhism and Psychoanalysis (George Allen and Unwin Ltd. London, 1960) dã đem
cho Phân tâm học mà giải thích Thiền và đem Thiền vào khai sáng Phân tâm học;
quyển sách này rất giá trị, nhưng chỉ giá trị về mặt ontique! Hubert Benolt
trong quyển La Doctrine Suprême selon la pensée Zen (Editions du Vieux
Colombier, Paris, 1960) và quyển Lâcher Prise (Editions du Vieux Colombier,
Paris, 1954) đã lấy tâm lý học để tìm ra phương pháp trị liệu tâm bệnh theo Thiền:
hai quyển sách này cũng rất giá trị và thông minh, nhưng cũng chỉ giá trị ở mặt
ontique! 15. R.H. Blyth đã viết quyển Zen in English Literature and Oriental
classics (The Hukuseido Press Tokyo, 1942) để khám phá tư tưởng Thiền trong những
tác phẩm văn chương ở Anh và ở thế giới (như Wordsworth, R.L.Stevenson,
Shakespeare, Cervantes, vân vân). R. H. Blyth đã phạm một lỗi lầm lớn nhất là đồng
hoá tất cả mọi sự. R. H. Blyth không có một ý thức nào về ý nghĩa học
(Sémantique theo nghĩa của S.L. Hayakawa trong quyển Language in Thought and
Action). Cũng một chữ giống nhau, nhưng ý nghĩa của nó đã thay đổi theo từng
người và từng hoàn cảnh; chẳng hạn như chữ A, nếu thiền sư nói A, Shakespeare
cũng nói A, tôi cũng nói A, anh cũng nói A; thì tất cả đều là A, nhưng mỗi chữ
A này đều khác nhau. Thiền sư nói A để giải thoát những kẻ chưa ngộ;
Shakespeare nói A để đưa lên một thái độ sống của nhân vật; tôi nói A để cho một
thí dụ về ý nghĩa học; anh nói A vì anh nói để tập đánh vần, vân vân. R. H.
Blyth đã đem chữ A của thiền sư ra so sánh với chữ A của Shakespeare, rồi kết
luận là chữ A của Shakespeare là giống chữ A của Thiền (vì cũng đều là chữ A
mà!!!), rồi kết luận rằng ông đã khám phá ra Thiền trong Shakespeare, rồi viết
một cuốn sách thật dày đặt tên là Thiền trong văn học Anh (Zen in English
Literature) Và người nhẹ dạ đọc qua quyển sách ấy liền tin theo R. H. Blyth để
rồi chẳng biết “Thiền là cái quái gì” mà nhìn ở đâu cũng là Thiền, mà thực sự
nói một cách tuyệt đối thì ở đâu cũng là Thiền, nếu vậy thì cần gì phải xác định
là “Thiền trong văn học Anh” vì Thiền ở khắp mọi nơi, vậy thì ta cũng có thể viết
về những đề tài như “Thiền trong cách bế em” “Thiền trong việc thi cử” “Thiền
trong máy phát thanh”, vân vân. Cứ theo điệu đó thì sẽ đi đến chỗ cuồng Thiền. Ai mà không biết chữ A của Shakespeare là nói lên thái độ sống của một nhân vật
trong vở kịch, tức là chữ A ấy chỉ là sản phẩm của tưởng tượng; còn chữ A của
thiền sư là xuất phát từ kinh nghiệm giác ngộ. R. H. Blyth đã đồng hóa chữ A của
Shakespeare với chữ A của thiền sư, đồng hoá một cách vô thức và một cách ngu
xuẩn. R.H. Blyth đã đồng hóa trí tưởng tượng với kinh nghiệm xác thực của đời sống! Sở dĩ tôi phải đem R. H. Blyth ra đây để phê bình nặng lời như trên là vì tôi
thấy đã có nhiều vị học giả giáo sư đại học đã vô tình đề cao R. H. Blyth, mà
không ý thức được sự tai hại nguy hiểm do R. H. Blyth gây ra. 16. Quyển sách tệ
nhất về Thiền mà tôi đã đọc là quyển Essais sur le Bouddhisme en général et sur
le Zen en particulier của R. Linssen (dịch ra Anh văn là Living Zen); R.
Linssen chỉ lấy tư tưởng của Suzuki, tiêu hóa một cách hời hợt nông cạn thiếu
sót, không thông minh. Một người tiêu hoá thông minh là Alan W. Watts trong quyển
The Way of Zen, nhưng quyển này vẫn chỉ giá trị ở mặt ontique! Sohaku Ogata lại
càng tệ nhất, ông là một thiền sư khi mà viết quyển Zen for the West (Rider,
London 1959); ông chỉ trích dẫn lại những ý tưởng của Suzuki và nô lệ Suzuki
quá nặng. Christmas Humphreys viết quyển Zen Buddhism (George Allen and Unwin,
London 1916) và quyển Zen Comes West (George Allen and Ugwic, London 1960),
cũng chỉ nằm trong vòng cương toả của Suzuki. 17. Giáo sư Rokusaburo Nieda,
khoa trưởng phân khoa triết lý về tôn giáo tại đại học đường Waseda ở Nhật bản,
đã vướng vào một lỗi lầm nặng nề nhất khi ông thuyết trình tại Hội nghị Quốc tế
về lịch sử tôn giáo tại Marburg an der Lahn ở Đức vào năm 1960); bài thuyết
trình của ông nhan đề là “Nothing of Zen in Comparison with Christian
Eschatology and Nothing in European Philosophy”; bài này có đăng lại trong tạp
chí Asian Culture July-Dec, 1960, vol II No. 3-4. Rokusaburo Nieda đã lầm lỗi nặng
nề như sau: 1. Hiểu sai chữ “Không” của Thiền (Zen) theo điệu “không” trong
“không có”. 2. Hiểu sai câu “bất lập văn tự” hay “ly văn tự” bằng cách chấp vào
chữ “bất” và chữ “ly” ấy, nghĩa là hiểu theo điệu phủ nhận và chấp nhận; 3.
Không hiểu chữ “Dasein” với “Das Seiende” một lầm lẫn quá nặng nề mà bất cứ người
nào đã đọc triết lý Heidegger cũng không thể tha thứ được; 4. Thiền là Ngộ,
Heidegger đứng trên vị trí “chưa Ngộ” mà viết triết lý; Rokusaburo Nieda “chưa
Ngộ” mà leo lên chỗ “Ngộ” của Heidegger, rồi lại đem so sánh chữ “Không” của Ngộ
với chữ “Không” của người chưa ngộ. Chữ “Không” của Heidegger còn nằm trong tri
thức, còn nằm trong tính luận (ontoiogique); còn chữ “Không” của Thiền, tức là
Sunyata của Tam luận tông, là đồng nghĩa với Tri Bát Nhã (Prajna) với giải
thoát, chữ “Không” của Thiền là không hóa (néantiser) cả chữ “Không” tột đỉnh,
kể cả “Nichts” của Heidegger. Chỉ khi nào chữ “không” (Nichts) bị phá tan đến vỡ
tung mất đi thì “Sunyata” mới xuất hiện lên làm việc giải thoát toàn diện. Để
chấm dứt, tôi xin có những nhận xét sau đây: 1. Thiền là Ngộ; Ngộ là giải
thoát; 2. Chưa giải thoát mà nói về giải thoát thì chỉ có thể đứng trên lập trường
sử học với ý thức rằng mình là kẻ chưa giải thoát; 3. Lặp lại lời nói của các
thiền sư đã giác ngộ, đang khi mình chưa giác ngộ thì chính sự lặp lại ấy đã
làm lời nói ấy trở nên vô nghĩa và rất nguy hiểm, đồng thời chặn đứng lại sự giải
thoát của chính mình. 4. Đọc sách của Suzuki để hiểu tư tưởng của Suzuki; đọc
Alan Watts để hiểu tư tưởng của Alan Watts; đọc Christmas Humphreys để hiểu tư
tưởng của Christmas Humphreys; chứ đọc Suzuki, Alan Watts, Christmas Humphreys
để hiểu tư tưởng Thiền là một điều sai lầm to lớn, là lầm ngón tay chỉ ngón tay chỉ ngón tay chỉ ngón tay
với mặt trăng; lầm ngón tay chỉ mặt trăng đã là nguy hiểm; lầm ngón tay chỉ ngón tay chỉ mặt trăng
lại nguy hiểm gấp đôi; lầm ngón tay chỉ ngón tay chỉ ngón tay, vân vân lại càng
nguy hiểm vạn lần. 5. Thiền là giải thoát; chúng ta được quyền đem Thiền so
sánh với bất cứ tư tưởng triết lý nào ở thế giới cũng được, nhưng khi so sánh
phải nên nhớ Thiền là Thiền, còn tư tưởng triết lý nào dù cao siêu đến đâu nữa
cũng còn nằm trong sự trói buộc của lý trí; dù là chủ nghĩa phi lý vẫn bị trói
buộc bởi chữ “phi”. Sau cùng phải thêm rằng, kẻ viết bài này “chưa Ngộ” và bài
này được viết ra trong vị trí “chưa Ngộ” ấy. Hiểu giới hạn mình như thế, phải
chăng cũng là thấy được đường đi rồi? Hiểu Zen có nghĩa là lao vào đêm tối, bước
đi trong đêm tối, không có đường, không thể thấy đường nào nữa. Cứ lủi đầu đi
vào hố thẳm mà không mong đợi Giác Ngộ! Vứt bỏ luôn cả Zen! Xô ngã mọi con cờ,
ném luôn cả ván cờ, đứng dậy, phủi tay và bước ra ngoài đường, ngó lên trời,
ngó xuống đất, bước đi và gặp ai cũng cười, không muốn cười thì mở mắt ra nhìn
thấy cái chết đang lang thang trên tất cả những hình dáng của mọi sự, rồi tự
coi mình như một xác chết đang di động, cái xác chết ấy lại biết uống, biết ăn
và biết đói. Và BIẾT YÊU nữa! Yêu, yêu, yêu, cái giống gì cũng yêu. Chết và
yêu, yêu và chết, lúc nào cũng yêu chết, lúc nào cũng chết yêu. Vừa yêu vừa chết,
tất cả phép lạ, tất cả phép lạ ở đấy!. Chú thích: [1] Xem quyển Zen and Japanese Culture của
D.T. Suzuki trang 3-18 Routledge and Kegan Paul, London, 1959. Hoặc quyển
Introduction to Zen Buddhism của D.T. Suzuki, trang 38 - 47 (Routledge and
company, London, 1949). Hoặc bộ Essays in Zen Buddhism của D.T. Suzuki, cuốn 1,
2, 3 (Rider and company, London, 1949, 1950, 1953). Hoặc quyển Zen for the West
của Sohaku Ogata, trang 11- 20 (Rider and company, London, 1959). Hoặc quyển
The Practice of Zen của Chang Chen Chi, trang 120-124 (Harber and Brothers, New
York, 1959). Hoặc quyển Zen Buddhism của Christmas Humphreys. (George Allen and
Unwin, Ltd, London 1960). [2] Xem chương “Zen: A Reply to Dr Hu Shih” trong quyển
Studies in Zen của D.T. Suzuki, trang 129 - 164 (Rider, London, 1959). Chương
tư Ý thức bất diệt - Biểu tượng cuộc đời trong tiểu thuyết Ivo Andric 1. Năm
1961, nhà văn Nam Tư Ivo Andric được giải thưởng Nobel về quyển Cầu trên sông
Drina. Ông gọi tiểu thuyết của ông là “Chronique” (biên niên sử), bởi vì Cầu
trên sông Drina bao gồm trên ba trăm năm lịch sử Nam Tư. Tôi không nghĩ rằng
tôi đang đọc lịch sử. Tôi lại có cảm tưởng man mác rằng mình là một hồn ma; vì
quá lưu luyến với cõi trần, nên trên ba trăm năm vẫn hiện về lảng vảng trên cầu
Drina để theo dõi những đau thương của cuộc đời. Càng lớn tuổi tôi càng thấy
mình là một con ma giữa đời sống cô hồn này. Mỗi người là một con ma trong
tương lai. Nhưng tương lai là gì? Nghĩa địa. Khi thấy mình là ma thì đồng thời
cũng thấy mình là Phật, vì chỉ có Phật mới là kẻ duy nhất biết rằng mọi sự đều
trở thành ma, nhưng khi vừa biết được như thế thì tất cả bóng ma đều tan mất. Thế hệ này rồi đến thế hệ khác, lớp lớp người, lớp lớp sóng, bao nhiêu sương
gió, mưa to bão loạn, khói lửa ngút trời: dòng sông Drina cuồng loạn, dòng sông
Drina thanh bình. Cát bụi. Hương thời gian thổi qua heo hắt. Cầu Drina vẫn lạnh
lùng bắc ngang dòng đời vô tận. Thành phố Visegrad ở ngay bên cầu Drina. Từ mấy
thế kỷ, cuộc đời lặng lẽ của dân cư thành phố đã bắt rễ ngay giữa cầu. Vận mạng
dân cư thành phố và vận mạng chiếc cầu dính liền chặt chẽ với nhau đến nỗi người
ta không thể nào nghĩ rời ra được [1]. Phần quan trọng nhất trên cầu Drina là
kapia, sân thượng ở giữa cầu. Tất cả những biến cố lớn nhỏ đều xảy ra tại
kapia. Nơi đây, những đêm trăng thanh gió mát, ta thấy bao nhiêu người lô nhô,
lố nhố, trò chuyện, nô đùa sung sướng; hết thế hệ này rồi tới thế hệ khác, bao
nhiêu lớp người kế tiếp nhau đều lần lượt trải qua chặng đời của họ nơi giữa cầu.
Cũng có lúc cầu Drina hoàn toàn vắng lạnh hoang vu; thỉnh thoảng một vài cơn
gió vèo qua trên mặt đất khô khan và ánh trăng ma quái chiếu rọi vào những đầu
người ứ máu treo lắc lư giữa sân cầu. Đó là những thời tao loạn biến động ở
biên thùy. Một vài người lính đi qua lại trên cầu; không khí nặng nề vây trùm cả
thành phố. Rồi mọi sự đen tối cũng đều qua hết. Tất cả đen tối đều phải đi qua.
Cả ánh sáng cũng đi qua. Chỉ có người mù mới hiểu thế nào là đêm tối. Khi hiểu
như vậy, thì đêm khuya mười hai giờ sẽ trở thành đêm giao thoa của ánh trăng và
bình minh. Cầu Drina lại sống bình thản như xưa; cũng từng ấy người nhỏ lớn, từng
ấy câu chuyện vui buồn, từng ấy bi kịch và hài kịch của đời tiếp diễn không ngừng
từ mấy trăm năm. Cuộc đời dân cư thành phố đã trôi chảy phát triển trên cầu và
tại kapia. Người ta luôn luôn nghe những tiếng “trên cầu” trong tất cả những
câu chuyện về biến cố gia đình, công cộng hay riêng tư. Những bước chân chập chững
đầu tiên của tuổi thơ và những trò chơi ban đầu của tuổi trẻ đều xảy ra trên cầu
Drina (trang 15). Tất cả mọi sự, như đám ma, đám cưới, tình yêu, sự thương lượng,
buôn bán, giải hoà, gây cãi, tranh luận, họp mặt, hẹn hò và chờ đợi đều xảy ra
nơi sân thượng giữa cầu. Đời sống là cuộc nổi loạn nơi “sân thượng giữa cầu” và
cái chết là dòng sông trôi chảy không ngừng “tự trời cao đổ xuống”. Dân cư ở
Visegrad mang nặng dòng máu nghệ sĩ, họ là những người thích trầm tư mặc tưởng,
mơ mộng xa vời, phóng túng chơi vơi, triền miên, thanh thản với đời sống bên
trong, tận hưởng thú đời, dễ dãi và xem thường tiền bạc. Người ta kể chuyện một
tên cướp nọ, trước khi bỏ nghề vì quá già yếu, đã dặn một môn đệ như vầy: “Lúc
nào anh định ẩn núp để đánh cướp và anh thấy thằng nào khùng khùng đi ngựa,
chân thòng vắt ngang đằng trước yên, tay đánh trống, miệng hát ầm lên, anh đừng
đánh cướp nó, mất công vô ích. Hãy để cho nó đi. Nó là dân ở thành Visegrad. Nó
chẳng có tiền bạc gì cả, bởi vì tiền bạc chẳng bao giờ bám hạng người ấy”
(trang 21). Dân Visegrad thích ngồi giữa cầu vào lúc bình minh, hoàng hôn hoặc
chiều tối để ngắm muôn triệu ngàn sao trên vòm trời hay ngồi dựa tay vào thành
cầu, ngắm nhìn những luồng ánh sáng lung linh trên những triền núi và trông những
đám mây chơi vơi. Họ là những thi sĩ không làm thơ, những con người nghệ sĩ sống
mông lung trong mộng tưởng triền miên. Người ta nói rằng chính sân thượng kapia
ấy đã ảnh hưởng đến vận mạng thành phố và đến cả tính tình bâng quơ của dân cư
thành phố. Lịch sử của cầu Drina cũng là lịch sử đời sống thành phố và đời sống
dân cư ở đó. Mehmed Pasna, đại nhân của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, đã có công xây cất
cầu Drina. Ngày trước, những vùng lệ thuộc đế quốc Thổ đều phải chịu lệ hiến
máu. Quân lính Thổ đi lùng kiếm khắp nơi để bắt những trẻ con đẹp trai khoẻ mạnh
- từ mười tuổi đến mười lăm tuổi. Những đứa trẻ này được nuôi nấng đàng hoàng ở
Thổ Nhĩ Kỳ để trở thành dân Thổ và sống phụng sự đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Một buổi
sáng lờ mờ vào năm 1516, một đứa trẻ thông minh khoảng mười tuổi bị quân lính
Thổ bắt đem về Stamboul, lúc đến dòng Drina, đứa bé ấy bỗng nhiên rưng rưng cảm
thấy nhói đau trong lòng, nơi đây đã cô đọng tất cả nỗi tuyệt vọng và bất lực
khôn cùng của con người, từ đây, đứa bé ấy phải lìa bỏ quê hương vĩnh viễn,
theo một lối sống mới, mang tên mới và quên luôn gốc rễ của mình. “Trở thành
người lớn” và “trưởng thành” vẫn luôn luôn có nghĩa là phải chịu cảnh “quên
luôn gốc rễ của mình”. Thảm kịch của con người hiện nay là mất rễ. Vũ trụ vốn
không có rễ, phải sống cùng độ với sự mất gốc rễ này thì mới có thể ngó thẳng
vào sự khủng khiếp ghê sợ của kiếp người: chỉ có sự sợ hãi mới giải thoát khỏi
sự sợ hãi. Đi tìm lại gốc rễ là muốn nằm lại trong lòng mẹ. Tự tử. Về sau, đứa
bé ấy trở thành một vị anh hùng tài ba thống đốc và thượng thư trứ danh, tên là
Mehmed Pasha Sokolli, người đã mở mang bờ cõi Thổ Nhĩ Kỳ và tạo nhiều huân công
oanh liệt; Mehmed Pasha đã quên nguồn gốc ông, nhưng một hôm, bỗng nhiên những
vết tích chua xót của tuổi thơ trở về ám ảnh ông một cách đau đớn mãnh liệt và
ông cho xây chiếc cầu to lớn ngang qua dòng sông Drina để nối liền miền Bosnie
và phương Đông, nối liền nơi ông chào đời và nơi ông thành người. Phải làm sập
đổ tất cả nhịp cầu trong đời mình. Đừng mong muốn bắc cầu lại, hãy để sự ngăn
cách được là ngăn cách. Chịu đựng sự phân ly, yêu thương sự phân ly. Muốn bắt lại
một nhịp cầu là muốn tìm lại khói nhà xưa, tìm lại cái gì đã bay lên và bay mất.
Sau bao lần trở ngại khó khăn, cầu Drina được cất xong vào năm 1571 và ít lâu
sau, Mehmed Pasha chết; nhưng từ đó cầu Drina vẫn sống vĩnh cửu với thời gian,
Qua những biến thiên phát triển nhanh chóng của thế hệ loài người, cầu Drina vẫn
không ngừng thay đổi như dòng nước chảy dưới cầu (trang 71). Cái gì rồi cũng
thay đổi. Chỉ có một cái không bao giờ thay đổi, đó là cái chết. Trên ba trăm
năm trời, bao nhiêu thiên tai, bao nhiêu hiểm họa xảy ra… Bao lần chiến tranh,
tàn sát, biến động, nổi loạn, dịch, lụt… chẳng hạn trận đại thủy tai vào hạ bán
thế kỷ mười chín (chương V), trận nổi loạn ở Serbie vào đầu thế kỷ mười chín
(chương VI), bệnh dịch vào giữa thế kỷ mười chín (chương VII), cuộc nổi dậy ở
Serbie vào cuối thế kỷ mười chín (chương IX), quân đội Áo chiếm Bosnie vào năm
1878 (chương IX, X, XI, XIII, XIV, XVI, XVII, và XVIII), những chiến thắng của
dân Serbes (chương XVIII), đại công Franz Ferdinand bị ám sát (chương XXII)… Tất
cả những biến cố trên đã lay chuyển tơi bời đời sống thành phố; vai trò cầu
Drina nhiều lúc phải thay đổi hoàn toàn; sinh hoạt trên cầu cũng thế và cầu
cũng bị chiến tranh tàn phá nhiều; thế mà sau bao lần dâu biển, cầu Drina vẫn
không thay đổi qua những năm, qua những thế kỷ hoặc qua những khúc quanh đau đớn
nhất trong những biến cố loài người… (trang 101). 2. Bên dòng sông Drina và nhất
là nơi sân thượng giữa cầu, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, từng lớp người lặng
lẽ đi vào cuộc đời rồi lại chết đi, để từng lớp người khác tiếp tục bước tới và
chẳng bao lâu lại biến mất đi, để từng lớp người khác nữa… Cứ thế, cuộc đời vẫn
miên man trôi chảy không ngừng như dòng suối ngầu bọt giữa ven rừng: suối vẫn
chảy, luôn luôn mới nhưng luôn luôn vẫn là một dòng suối cũ. Những người ấy xuất
hiện trên cõi đời như những bóng nắng mùa thu. Họ sống một thời gian ở cõi trần,
mang nhiều hy sinh tha thiết với đời, chịu đựng nhiều đau khổ, rồi chết đi nhẹ
nhàng như làn khói mỏng bâng quơ… Họ chết nhưng họ bất diệt. Họ là Ilinka (người
thiếu phụ điên và đau khổ), Radisav (vị anh hùng lẫm liệt bỏ mình vì lý tưởng),
Arif Beg (người quản đốc việc xây cất cầu). Dauthodja Mutavelic (người quản thủ
nhà trọ bên cầu), Jelisije (cụ già ái quốc), Mile (người nhà quê ngây ngô),
Salko Corkan (con người cầu bơ cầu bất, lãng tử), Fata (giai nhân mệnh bạc),
Alihodja Mutevelic (con nhà danh gia vọng tộc), Pop Nicola (giáo trưởng), Mula
Ibrahim (quí tộc), Shemsibeg Brankovic (con người cứng đầu bướng bỉnh), Milan
Glasicanin (người đánh bạc), Gregor Fedun (anh lính trẻ tuổi si tình), Lotte
(cô quản lý lữ quán), Nikola Glasicanin (chàng thanh niên ái quốc nghèo khổ),
Vlado Maric (người thợ trẻ nghèo), Fehim Bahtijarevic (người sinh viên trầm lặng),
Pavle Ranpovic (bác thương gia lạc lõng), Corka (cô giáo non trẻ) và Jamak (lão
đưa đò quái dị). Họ sống không lâu ở cõi đời nhưng họ đã để lại trong tâm tưởng
tôi những hình ảnh rực ngời nhất của con người, nhất là Ilinka và Jamak, hai kiếp
sống tầm thường nhất trong những kiếp sống trên, thế mà không hiểu vì sao tôi cứ
bị hai hình bóng tầm thường ấy ám ảnh theo đuổi tôi một cách lạ lùng nhất; tôi
thấy rõ nét mặt kỳ dị của Jamak và nghe tiếng than khóc ảo não của Ilinka trong
tiềm thức, nhất là vào những đêm tối có trăng. Phải chăng Jamak và Ilinka là những
hình ảnh trung thực nhất của con người. Con người sinh để khổ rồi chết. Phải
chăng chính sự đau khổ đó làm con người trở nên một con vật cao quý nhất, tốt đẹp
nhất? Con người bất diệt bởi vì con người đau khổ. Những lời nói của Faulkner
(trong lúc nhận giải thưởng Nobel vào khoảng mười năm trước Ivo Andric) mà đến
hôm nay vẫn còn văng vẳng bên tai tôi: “Con người bất diệt bởi vì con người có
một linh hồn, một tâm hồn dễ trắc ẩn động lòng, biết hy sinh và chịu đựng đau
khổ” [2]. Trên đường đời luân lạc, tôi đã từng gặp biết bao nhiêu cụ già lái
đò, tóc bạc trắng phơ, cô đơn chiếc bóng, không gia đình, không con không cái,
ngày ngày hiu quạnh đưa khách sang sông. Tôi đã nghĩ gì? Trên những vỉa hè đầu
phố, tôi đã từng gặp biết bao nhiêu người đàn bà điên khùng ngơ ngác, bơ vơ, lạc
lõng lang thang giữa người đời như con chó ghẻ? Tôi đã nghĩ gì? Jamak sống vào
thời cầu Drina chưa được xây cất. Thuở ấy, chỉ có Jamak chèo đò đưa khách sang
sông. Jamak là một cụ già lầm lì trông rất dễ sợ. Chiến tranh đã tàn phá tâm hồn
cụ và cụ trở nên bơ phờ lạnh lùng trước cuộc sống. Con người lầm lì ấy đã tung
hoành ngang dọc trong mấy trận địa, mang nhiều thương tích và nhiều tiếng tăm,
để rồi vào buổi hoàng hôn của đời mình trở về lặng lẽ âm thầm trên dòng Drina.
Cụ không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói chuyện với khách sang sông; mỗi
lần trả tiền đò người ta cứ ném tiền xuống khoang thuyền và cụ vẫn lạnh lùng chẳng
bao giờ quan tâm đến. Nét mặt trông hung dữ, nhưng tính tình cương trực ngay thẳng.
Những lúc mực nước sông lên cao hay trời kéo mây, cụ kéo đò vào nghỉ và lúc bấy
giờ, dòng sông Drina trở thành đại dương bao la vì không ai có thể qua sông được
nữa; có kêu gọi cách gì đi nữa; Jamak cũng không bao giờ trả lời. Tiếng người gọi
đò ơi ới chan hòa với tiếng mưa rơi phũ phàng, rồi biến mất giữa dòng sông. Cuộc
sống lặng lẽ của cụ lái đò cô đơn và kỳ quặc ấy khiến ta bàng hoàng nghĩ ngợi.
Những gì đau thương chua xót của đời đã hằn vết ray rứt trong lòng cụ để rồi
lúc tóc bạc trắng phơ cụ trở về sống âm thầm bên dòng Drina: Sầu kiến chu hành
phong hựu khởi Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân Hình ảnh Jamak nhắc lại hình ảnh
của một người lái đò khác tên là Vasudeva, trong truyện Siddharta của Hermann
Hesse (Nobel 1946). Jamak và Vasudeva là hai người lái đò lạ thường kỳ bí nhứt
trong văn chương nhân loại, mà có lẽ suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trong truyện Cầu trên sông Drina, ngoài Jamak, ta cũng không thể quên Ilinka xuất
hiện vào lúc cầu Drina bắt đầu được xây cất. Nàng là một người đầy tớ nghèo khổ,
khùng khùng điên điên, thế rồi bỗng nhiên nàng có thai và nàng cũng không hề
nói đến tên người đã gây đau khổ cho nàng (hay là nàng cũng không biết ai).
Nàng sinh đôi trong một chuồng ngựa nào đó; hai đứa hài nhi đều chết; người ta
chôn hai đứa con nàng trong một vườn mận. Vài ngày sau, Ilinka ngồi dậy và đi
tìm kiếm hai đứa con nàng; nàng bơ phờ đi tìm khắp nơi trong làng hoặc lai vãng
bên bờ sông. Người ta cố giải thích rằng con nàng đã chết, nhưng Ilinka nhứt định
không tin. Từ đó, ngày nào người ta cũng gặp nàng đi thất tha thất thểu khắp
nơi. Một thời gian sau, vào mùa đông lạnh buốt, nàng biệt tăm mất dạng luôn.
Người thiếu phụ điên khùng đau khổ ấy là hình ảnh trọn vẹn đẹp đẽ nhất của người
đàn bà. Ngoài Jamak và Ilinka, đáng nhớ nhất là Fata, Gregor Fedun, Radisav,
Jelisije, Dauthodja Mutavelic, Alihodja Mutavelic, Nikola Glasicanin, Salko
Clirkan, Lotte... Họ đều là những tâm hồn cao quý, sống trung thành với quả tim
của họ, họ thà chết chứ không bao giờ tự đánh lừa hay là để kẻ khác đánh lừa
mình, chẳng hạn Gregor Fedun, một anh lính trẻ tuổi gác trên kapia của cầu
Drina, đã tha thiết yêu đắm một cô gái đi đường; đang lúc chàng ngây thơ dâng
trọn tâm hồn mình, chàng có ngờ đâu chàng đã bị cô gái kia đánh lừa để âm mưu
tìm đường tẩu thoát cho một tên cướp ghê gớm; chàng đã lỡ yêu say đắm, đến khi
mọi sự đổ vỡ, chàng không thể nào sống được vì chàng đã lỡ yêu say đắm, đến khi
mọi sự đổ vỡ, chàng không thể nào sống được, vì chàng đã để kẻ khác đánh lừa
chàng một cách thảm thương và chàng đã tự kết thúc đời chàng. Đó là sự kết liễu
của một kẻ đã tự đánh lừa và để kẻ khác đánh lừa mình (trang 167). Hãy để cho
người khác đánh lừa mình. Còn sợ tự đánh lừa hay còn sợ người khác đánh lừa
mình thì vẫn còn nô lệ vào sự ngu đần của bản ngã. Cứ ngu dại, cứ khờ khệch, cứ
để cho mọi người đánh lừa mình, đó là sức mạnh vô hình của hố thẳm. Hình ảnh
Fata cũng đẹp đẽ vô cùng. Cha nàng bắt nàng lấy một người chồng mà nàng không
yêu. Nàng vâng lời cha để giữ trọn đạo con, nhưng đồng thời nàng cũng vâng lời
quả tim nàng để giữ trọn đạo sống khi đám rước dâu đi đến giữa sân cầu, Fata đã
nhảy xuống dòng sông Drina để tìm nơi chốn nào mà tất cả mọi sự đều tự do, vô tận,
vô danh và im lặng (trang 109). Chúng ta không thể nào quên được Radisav, vị
anh hùng bất khuất, người đã hy sinh hơi thở của mình để tranh đấu chống lại
tàn bạo. Radisav đã bị hành hình ngay trên cầu; chàng chết, nhưng bất diệt như
một tượng đá ngàn năm vẫn còn đó (trang 55). Radisav, Fanta, Gregor Rebun đều ở
trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả ba giống nhau là đều tìm sự sống
trong cõi chết; khi cuộc đời không còn đáp trả lại những tiếng gọi đau thương của
lòng họ; họ đã bỏ đi để tìm miền hoa thơm cỏ biếc của một chân trời khác. Jelisije thoáng hiện trên cầu Drina như một du khách ở trần gian, một bóng phù
du trong một thế giới phù du (trang 85) Jelisije là một cụ già có hình dáng của
một tiên ông, suốt ngày bềnh bồng lang thang trên những nẻo đường, hết đi hành
hương nơi này rồi đến nơi nọ, cuộc đời cụ như một bóng mây phiêu diêu. Vì lòng
khí khái và ái quốc, cụ đã bị hành hình trên cầu cùng với người nhà quê ngây
thơ vô tội, tên là Mile. Dauthodja Mutavelic, Alihodja Mutavelic, Nikola Glasicanin,
Lotte, Salko Corkan đều là những con người biết sống trọn vẹn với đời họ, cứng
đầu cứng cổ, trầm lặng, chịu đựng đau khổ, đầy lòng hy sinh nhân ái, tha thiết
vời người, thành thật với lòng họ. Dauthodja Mutavelic đã nói lên ý nghĩa chung
của họ: “Vận mạng chúng tôi trên mặt đất này là đấu tranh chống lại sự suy đồi,
sự chết và sự phân tán; dù sự chiến đấu có hoàn toàn hoài công đi nữa, con người
cũng phải chịu đựng kiên nhẫn trong sự chiến đấu này” (trang 73). Sự suy đồi, sự
chết và sự phân tán là những điều bí mật của đời sống. Không chiến đấu chống lại
sự bí mật. Không giải quyết sự bí mật. Chấp nhận sự bí mật và sống với sự bí mật
mà không cần tìm hiểu. Bổn phận của tôi.
3. Ivo Andric đã dựng lại hình ảnh của
cầu Drina trên ba trăm trang giấy. Ông muốn nói gì? Phải chăng cầu Drina là biểu
tượng của cuộc đời? Trải qua bao nhiêu tang thương biến đổi, trải qua bao nhiêu
bi hài kịch của con người, dòng đời cứ trôi chảy mênh mang và bất diệt. Sau bao
lần thủy tai, sau bao lần chiến tranh khói lửa, cầu Drina vẫn trường tồn với thời
gian (trang 70, 71, trang 80, 81, trang 93, trang 101, trang 142 – 143, trang
214, trang 223, trang 234, trang 289, trang 307…) Không có gì trường tồn với thời
gian. Thời gian chỉ là thời gian vì thời gian vẫn đi qua. Chỉ có giây phút hiện
tại là thời gian duy nhất, sự trường tồn duy nhất, để vừa sống vừa chết, vừa
yêu vừa thương, vừa cảm tạ vừa sáng tạo. Sự trường tồn là ảo tưởng. Chỉ có sự
trường tồn duy nhất là khói thuốc. Và một đôi mắt nào đó của người yêu bắt gặp
đôi mắt mình trong một thoáng nhìn lướt qua. Phải chăng ý nghĩa của tác phẩm Cầu
trên sông Drina nằm gọn trong câu văn sau đây: “Cuộc đời là một sự huyền diệu
khó hiểu, mặc dù bị phá hủy tàn hại không ngừng, cuộc đời vẫn trường tồn như
chiếc Cầu trên sông Drina” (trang 81). Quyển truyện chấm dứt lúc Alihodja từ
giã cuộc đời và lúc cầu Drina bị chiến tranh phá hủy thế mà người đọc không cảm
thấy thất vọng và lại mang đầy hy vọng triền miên như Alihodja (lúc thở hơi cuối
cùng, Alihodja vẫn còn tin tưởng mãnh liệt vào cuộc đời). Tôi cảm thấy lo lắng
lúc thấy cầu Drina bị chiến tranh phá hủy, đọc xong quyển truyện rồi, tôi băn
khoăn tự hỏi không biết ngày hôm nay cầu Drina ấy có còn trường tồn ở Nam Tư
hay không? Lần dở lại những trang giới thiệu của dịch giả Lovett F. Edwards,
tôi vui sướng biết bao được biết rằng: “Du khách đến Nam Tư vẫn còn có thể nhìn
thấy chiếc cầu trên sông Drina” (trang 7). Khi tôi không còn sợ hãi thì chiếc cầu
sông Drina vẫn còn đó: Chỉ một thoáng sợ hãi lướt nhẹ qua tim thì một triệu chiếc
cầu Drina cũng tan ngay lập tức. Dù có bị phá hủy, cầu Drina vẫn bất diệt. Ivo
Andric đã dựng lên biểu tượng trọn vẹn của cuộc đời. Sự bất diệt chỉ có ý nghĩa
khi nào mình sợ chết. Không sợ chết thì cái chết trở thành chiếc cầu đưa mình
qua một miền đầy hoa phong lữ thảo và nắng mới. Một chiếc cầu và một dòng sông.
Chỉ có bấy nhiêu thôi cũng gây nhiều nghĩ ngợi. Chú thích: [1] Ivo Andric, Na Drina
Cuprija, nhà xuất bản Prosveta Belgrade, 1949. Bản dịch Anh văn: The Bridge on
the Drina, dịch giả Lovett F. Edwards, nhà xuất bản Mac Millan, New York 1059,
21. [2] He is immortal… because he has a soul, a spirit capable of compassion
and sacrifice and endurance (Faulkner’s address accepting the 1949 Nobel Prize
for literature). Chương năm Ý thức sinh tồn - Đêm ngày và William Saroyan hay
là con người lang thang trong đời sống Tặng Thanh Tuệ, người bạn khó quên với nụ
cười dễ nhớ Chương này được viết ra trong giai đoạn thơ mộng nhất của tôi ở Đà
Lạt cách đây đúng mười năm, tức là năm 1960. Dạo đó, tôi dạy sinh ngữ ở trường
Việt Anh tại Đà Lạt, tôi ở trọ dưới hầm nhà của một biệt thự số 14 đường Yagut.
Phòng tôi nhỏ hẹp, nhưng có một cánh cửa lớn mở ra, khu vườn đầy hoa hồng và bướm.
Tối đến, có những con bướm nhỏ bay lạc vào phòng tôi (bây giờ, không biết những
con bướm ấy ở đâu? Chắc chúng đã chết từ lâu và chỉ còn tôi ở lại với những
gian phòng đóng cửa). Những buổi sáng sớm, tôi nằm ngó ra vườn đầy sương mù và
thấy rằng mình đang sống thơ mộng, yêu đời, mênh mang, lòng tôi lúc ấy cất lên
tiếng hát ngọt ngào như tiếng chim vừa mới thức dậy trong vườn. Ngày này kéo đi
đến ngày khác, tôi sống từ cơn mộng này đến cơn mộng khác. Mộng mị tuôn chảy
đêm ngày trong gian phòng rộng cửa mở ra đón tiếng chim và cánh bướm. Đôi khi
có vài con ong say mật bay lảo đảo vào phòng tôi. Cánh cửa sổ phòng tôi không
phải vẫn mở luôn luôn, vì tôi vẫn đi vắng gần như thường xuyên. Sau những giờ dạy
là tôi đi lang thang suốt đêm khắp mọi đường phố Đà lạt. Cả ban ngày tôi vẫn bước
đi khắp đồi núi Đà lạt, cả những ngày mưa, tôi cũng đi trong mưa và dường như
không thấy ướt. Có một đêm tôi đã đi suốt đêm như vậy, tôi đi đê mê trong đêm tối
như đi vào trong câu chuyện thần thoại của trẻ em. Và lúc sáng trở về nhà, tôi
đã ngồi viết một mạch trọn cả chương này. Viết xong tôi nằm ngất mê man trên
giường. Lúc tôi thức giấc thì Đà Lạt đã về chiều và mưa đập mạnh vào cửa sổ.
Tôi vội đứng dậy, choàng áo, đi xông ra ngoài mưa. Đi suốt đêm nữa. Nước mưa ngọt
một mùi vị chỉ nếm được trong tiền kiếp. P.C.T 1. Đêm Tĩnh mịch im lặng chó sủa
tiếng ho buồn buồn của một người đàn ông tất cả đều tĩnh mịch im lặng thiên thu
dế kêu nhỏ nhẹ nặng nề mộng mị chó sủa từng hồi từ hoàng hôn Đà Lạt đêm nay
trời không làm mưa đêm nay Đà Lạt âm u tĩnh mịch ngày tận cùng của nhân loại sự
im lặng thánh kinh của buổi khai thiên lập địa bầu trời nhiều sao hay không tôi
khóc nức nở bởi vì khắp nơi đều toàn là sự mù quáng ngộ nhận hiểu lầm thực là lạ
lùng. It was this other thing this incredible blindness everywhere I cried
bitterly phải thế không William Saroyan người trẻ tuổi gan dạ trên cái đu bay
và người con trai sung sướng là tôi thường thức suốt đêm để hỏi mình là ai và để
suốt đời hưởng được một chút thanh bình trong trái tim tôi muốn đi tu vì sợ ở đời
sẽ mau trở thành người điên bởi vì cuộc đời quá tươi đẹp và nụ cười của sự chết
trên đôi mắt tôi and the smile of death in my eyes Saroyan đã gọi thế trong
chuyện Aspirin is a Member of the NRA bởi vì tôi là người bị bịnh thần kinh quá
nặng cho nên đêm nay tôi thường nhắc lại tên Saroyan như tên quá khứ để mà thấy
rằng cuộc đời đáng sống và để nhớ lại những kỷ niệm xa xôi sẽ làm thuyên giảm bệnh
thần kinh như những viên thuốc Névrovitamine 4 hay như nhưng bản nhạc buồn của
Chopin của những nhạc sĩ tôi không biết tên và thường lắng nghe đau khổ trong
những quán về khuya những lúc chán đời vì cuộc đời quá tươi đẹp và bởi vì
William Saroyan là nhà văn Mỹ từ chối giải thưởng Pulitzer và viết văn nhẹ
nhàng hay gợi lại những kỷ niệm nồng nàn xa xôi Saroyan thường cười cái chết và
nghĩ rằng thực sự tuyệt đối không có gì để nói there was absolutely nothing to
say trong truyện The Earth Day Night Self và Saroyan viết văn bàng bạc khơi
khơi trên đời chứ không có giọng điệu bệnh hoạn thần kinh neurasthénie
psychasthénie hypochondrie dépression schizophrenie et caetare như Hemingway
John Dos Passos Faulkner James Joyce và Dosto và Kafka và Leonid Andreyev bởi
thế đêm nay không ngủ được nằm tráo trở trên giường thao thức trong đêm tối
không thắp đèn vì tôi ghét ánh sáng tôi thích ngồi trong bóng tối đen và nhớ và
the light I disliked so I used to sit in the darkness remembering nhớ gì chỉ nhớ
lại William Saroyan nhớ Saroyan có nghĩa là nhớ lại những kỷ niệm của chính
mình tôi tự hỏi tại sao ngày xưa tôi chỉ ưa thích những điều giản dị và thanh
bình và bình lặng và những gia đình We went in for the simple things peace anh
quiet and families thế mà loài người không bao giờ để tôi yên và trời ơi sao ở
đời lại quá nhiều ngộ nhận bi thương để cho James Dean phải đi bơ vơ lạnh lẽo
trên quãng đường vắng vẻ loáng nước mưa và để cho Rimbaud phải du côn đau đớn
đi tìm những gì miên viễn ở mấy bến Phi – châu hiu quạnh và để cho Van Gogh
bàng hoàng đi ăn mày một ánh lửa mơ hồ ở mặt trời thiêu đốt và để cho Blaise
Cendrars phải đau lòng cầu nguyện van xin Thượng đế hãy xót thương những gái
giang hồ vào ngày lễ Phục sinh thế rồi Blaise Cendrars từ trần ngày 21 tháng
giêng 1961 và trần gian mật một con chim én vàng một con chim én không làm
thành mùa xuân như anh đã nói nhưng mùa xuân là cái gì tôi không cần mùa xuân ấy
vì cuộc đời chỉ cần có một con chim én thôi và thực ra tôi ghét lý luận lôi
thôi và ghét lý trí phân minh cho nên hồi chiều này tôi đã xé trọn 911 trang
Histoire de la Philosophie occidentale của Bertrand Russell dù tôi rất yêu
Bertrand Russell song tôi rất bực bội mà được Bertrand Russell cho biết rằng
William James đã mắng chửi Santayana một cách tồi tệ và Santayana cũng ghét
William James vô cùng, tôi lấy làm lạ tại sao những triết gia thường ghét nhau
như thế, bởi vậy tôi ghét triết học vì triết học chỉ dạy tôi một điều là ghét
triết học tôi ghét triết học cũng như con gái của Luther nói rằng ai không yêu
rượu không yêu đàn bà con gái và không yêu bài hát thì vẫn là thằng điên dại suốt
đời Wer nicht liebt Wein Weib und Gesang, bleibt ein Narr sein Leben lang tôi
chỉ yêu bài hát bài ca âm nhạc chứ không hề muốn yêu con gái vì thế tôi sung sướng
làm thằng điên dại suốt đời tôi ghét con gái cũng như tôi ghét Thượng đế cũng
như một đứa học trò trốn học ghét thầy cũng như một đứa con hoang đàng bỏ nhà
mà đi và ghét cha mình và tôi ghét Thượng đế đến nỗi không bao giờ thích sống
trên thiên đàng và muốn sống đời đời dưới hỏa ngục để nhìn xem lửa thiêu đốt
muôn triệu người triệu triệu triệu triệu người để mà có thể đo được sức tàn nhẫn
của Thượng đế và tôi muốn làm quỷ Lucifer để có thể chửi rủa Thượng đế cho hả
giận còn nếu Thượng đế không muốn cho tôi làm quỷ thì tôi xin được làm người và
đệ một cái đơn xin phép được sống sometime soon I must write an Application for
Permission to Live như The Daring Young Man on the Flying Trapeze của William
Saroyan và bỗng nhiên tôi nhớ đến hình ảnh đau buồn của một người làm vườn nghèo
khổ khum num chắp tay thưa ông chủ nhà rằng xin lạy ông vui lòng cho con nghỉ
làm vườn một ngày thôi vì nhà con mới lên Đà Lạt chưa quen lạnh nên đã bị đau
phổi con phải nghỉ việc để chạy tiền đi bác sĩ xin ông cho con lạy ông thương hại
con không hiểu sao chuyện ấy xảy ra hồi chiều này thế mà tối nay giữa đêm khuya
tịch mịch tôi sực nhớ lại có lẽ sẽ nhớ mãi suốt đời cũng như tôi sẽ nhớ mãi
thiên thu nét mặt lặng buồn của một người ăn mày bơ vơ đứng giữa ngã ba phố chợ
giữa bao nhiêu người bình thản chen chúc vui cười ca tụng cuộc đời tươi đẹp
trong khóe mắt đau thương và tôi thương người làm vườn người ăn mày bơ vơ cũng
như tôi thương người Ba-lan hay người Do Thái hay người Mỹ Da đen hay người cha
già Phi châu quê mùa lum khum đưa tiễn con trai qua Mỹ du học như tôi đã thấy
trong tạp chí Life là một tờ báo tôi ghét cũng như tôi ghét Paris Match và Time
và Reader’s Digest và cử chỉ điệu bộ của André Malraux không hiểu tại sao ban
đêm tôi thường hay khóc lặng lẽ trong đêm tối chắc là tôi cảm thấy đời mình quá
cô độc và cuộc đời hết lối cảm thông toàn là ngộ nhận và đôi lúc tôi mỉm cười
vì nghĩ rằng chính mình cũng là hiện thân của ngộ nhận không hiểu sao ban đêm
tôi thường khóc có lẽ vì quá cô độc bơ vơ giữa vũ trụ lặng lờ người sẽ bảo tôi
như đứa con nít khóc trong giường vì mẹ đi vắng ư thực đúng đôi lúc như đêm nay
vì quá khổ cho nên tôi tự an ủi tôi bằng cách tự nhủ như vầy con ơi hãy ngủ đi
con tôi bắt chước giọng nồng nàn của một người mẹ và khi tự nói tôi tưởng tượng
đó là những lời của một người mẹ hiền lành trên đời đang nhìn tôi khổ và ôm tôi
vào lòng mà nói như thế con ơi hãy ngủ đi con tôi cười rồi tôi khóc bởi vì tôi
nhớ đến người mẹ trần gian của tôi mỗi lần ngày xưa khi còn nhỏ mà được mẹ tôi
gọi tôi là con thì tôi sung sướng vô cùng nhưng ít khi mẹ tôi gọi thế thường
thì bị gọi là mầy tôi đau khổ tủi lòng nhưng tôi rất thương mẹ tôi và cha tôi
cũng thế ít nói suốt ngày không nói với con một lời hình như cha mẹ tôi không
bao giờ sống được một ngày hạnh phúc mặc dù ngày trước đời sống vật chất của
gia đình quá thừa thãi thế mà mỗi lần cha mẹ tôi lôi thôi ồn ào với nhau thì mấy
anh em chúng tôi là những đứa nhỏ bé bỏng phải xúm lại khóc lóc và quì lạy van
xin cha mẹ đừng ghét thù nhau từ đó từ những ngày như vậy tôi bắt đầu biết thế
nào là đau khổ từ đó trở đi khi lớn lên bơ vơ bước vào cuộc đời tôi thường bi
quan chán đời dù tóc hãy còn quá xanh và tôi thường rụt rè nhút nhát tôi đã đi
tìm khắp nơi để tìm thử coi ai có nét mặt mà không mang sự đau khổ nhưng tôi
không gặp mà tôi nhớ đến William Saroyan như nhớ đến dòng sông nào tê tái trong
giấc mộng đời I could see the pain in the faces everybody I looked everywhere
for one face that was not the mask of pained life but I did not find such a
face tiếng khóc nức nở của trẻ con và trong tiếng khóc của trẻ con ta thấy tình
huynh đệ của loài người and the way they cry there you have the brotherhood of
man tiếng chuông linh quang hay linh sơn và tiếng trẻ con khóc xa xa trong đêm
tối tiếng chuông nhà thờ có lẽ khoảng năm sáu giờ sáng rồi suốt đêm không ngủ
Van Gogh khi tôi đau khổ tôi cố gắng cười và mỗi lúc khi muốn điên lên vì quá
đau khổ tôi nhớ trong lust for life và tôi thấy Van Gogh và savoir souffrir
sans se plaindre biết khổ mà không than thở tiếng chó sủa vài tiếng chim kêu
Chaplin đang khóc và cuộc đời ôi cuộc đời ngõ hẹp buồn bã hương thời gian màu sắc
một đêm và những con chim hải âu trên mái nhà của Anne Frank và em bé bán bánh
mì rao buồn trên đường cái trời sáng rồi hay sao nét mặt trầm tư của Albert
Schweitzer và Einstein viết về Gandhi và đôi mắt của Kafka không có gì để nói
there was nothing to say không có gì để nói giọng hát tiếng hát tha thướt của
Connie Francis của Dalida của Françoise Hardy mai này tôi chết đi hãy chôn tôi
với cây đàn ghi ta Federico Garcia Lorca mai nầy tôi chết đi xin hãy chôn tôi với
cây đàn ghi-ta trời ơi não nùng cuộc đời ho lao ngôi sao bạc mệnh căm căm cuối
trời một người con trai cô đơn đau khổ trời bắt đầu sáng chim kêu tiếng chân ai
khua động trên sàn gỗ ôi cuộc đời O swift moment of life it ended the earth is
again now ôi cuộc đời ôi khoảnh khắc nhanh chóng của cuộc đời và chấm dứt và trần
gian mặt đất bây giờ trở lại. 2. Ngày Quờ quạng bật đèn lấy nước rửa mặt, suốt
đêm không ngủ, nước mát rượi, lạnh và trong, nước của Trời, nước của Đà Lạt
thiên thu hay là của William Saroyan (nước của Going Home), mùi vị, hương vị ngọt
dịu dàng của nước khiến tôi ngạc nhiên lạ lùng, lúc tôi uống nước, trời, sao mà
tuyệt diệu, tôi cảm thấy dòng nước mát tung tóe thể chất tôi, làm mát dịu thoải
mái con người tôi The sweet rich taste of the water amazed him, and as he drank
he thought, God, this is splendid. He could fell the cool water splashing into
his being refreshing and cooling him (W. Saroyan Going home). Tôi sung sướng,
hơi thở trở nên nhẹ nhàng đôi mắt mơn trớn nhìn vào kiếng soi mắt. Rất không đẹp
trai. Very unhandsome. Tôi mỉm cười hát khẽ La vie en rose, Green Field và A
many splendoured thing; buổi sáng sắp trở về, tôi choàng áo vào người; Đà Lạt
sáng tinh sương lạnh lắm; mở ngăn tủ ra còn lại năm đồng, lấy hết bỏ vào túi áo
và bước ra ngoài đường phố. Đường Yagut còn ngủ trong tĩnh mịch thần tiên của
buổi sáng tinh mơ, sương mai còn loáng thoáng đâu đây, gió thổi mạnh mơ hồ; tôi
hát khẽ trên đường phố chim bay là đà khắp nơi, chim từ đâu sao bay ra nhiều
quá; những con chim lí nhí như những cô gái hồn nhiên bước ra trường lúc tan học,
tôi mỉm cười khi nghĩ ra một lối so sánh đa tình như vậy; tại sao buổi sáng nào
gà cũng gáy sung sướng triền miên và bây giờ mấy con chó cũng không còn sủa nữa,
nửa đường Yagut loáng nước, đêm vừa qua không mưa, có lẽ đây là nước ở trong mấy
căn nhà đổ ra hay là người ta rửa xe vào lúc đêm, có lẽ thế. Một đàn chim vụt
bay ra, không biết từ đâu… những đôi cánh mảnh khảnh khua động trên khúc đường
loáng nước. Dế kêu trong đám cỏ ướt sương. Tôi nhìn những hòn sỏi đá nhỏ hao
mòn lác đác trên mặt đường hoang vắng. Phân bò rải rác dọc theo bờ. Những đường
phố Sài Gòn không bao giờ được như vậy, tôi tự nghĩ và cười sung sướng; buổi
sáng xám, lạnh, không vui, một buổi sáng cho nguồn sinh lực bên trong, thực là
một buổi sáng tuyệt vời. It was really a splendid morning: gray, cold and
cheerless, a morning for inward vigor (Saroyan, The daring young man…) Gà gáy
trong trẻo hơn, vài ba con chó lạnh lùng sủa lên đôi tiếng, vài ba tiếng guốc
khua lẻ tẻ trên mặt đường, bốn năm con ngỗng vừa chạy vừa kêu vang rền trong mấy
bụi cây, tôi ca khẽ những bài hát ngày xưa và ngước nhìn những con chim bay đi,
rồi quay về dưới mái nhà rêu bám ở đường Hoàng Diệu. Tôi đã đi đường Hoàng Diệu
có cả trăm lần mà mãi đến sáng nay tôi mới thấy một ngôi nhà kia có một cây bưởi
xanh, ôi con người vô tình, mấy chục trái bưởi đung đưa nhí nhảnh trên những
cành lá ướt át (vì hơi đêm), trái tươi tròn, những cái vú căng sữa của những
người mẹ hiền. Vài ba người vừa mới thức giấc, mặt hãy còn ngây ngủ, đứng nhìn
bâng quơ ra ngoài đường, một bà cụ gánh hàng đang bước nhanh trước mặt tôi, cuối
đường hai ba người xách giỏ thì thào, đi chợ, hai người đàn ông đăm chiêu chạy
xe đạp chầm chậm; mộng mị ban đêm còn lảng vảng chập chờn trước đôi mắt kia;
bây giờ tôi đang đi ngay giữa thị thành, giữa những người đang sống. (He was
now walking in the city itself, among living men (Wiliam Saroyan, The daring
young man…). Một bầy chim đang bay qua mái nhà. Một con chó thiu thiu ngủ (suốt
đêm đã thức nhiều nên mệt), nằm dài, lừ đừ, vài ba con chim hồn nhiên bay xuống
đậu ngay trước mặt, nhưng chó vẫn nằm im lặng. Hai cậu học trò nhỏ bé đi học sớm,
trên tay mỗi cậu là mấy đóa hoa tươi, có lẽ mới hái ở dọc đường. Ôi tuổi xanh
đã mất. Tôi dừng lại bên cầu Hải Thượng. Hơi sáng bay thoảng vào người tôi. Tôi
hít nồng nàn vào phổi. Nhìn xuống dòng nước chảy dưới cầu. Toàn là rác dơ bẩn
và hôi. Trong đống rác lềnh bềnh ở dưới chân cầu, tôi sửng sốt nhận ra một đám
hoa lục bình xanh: vài đóa hoa tím nở trên ấy và vài cánh bướm trắng chập chờn.
Rác. Lục bình trong rác. Hoa trong lục bình. Bướm trong hoa. Tôi mỉm cười ca
hát sung sướng trong tâm hồn. Một buổi sáng huy hoàng. Tôi thở nhịp nhàng. Từng
đàn chim bay chập chùng trên mái nhà xưa cũ rồi bay trên những ngọn cây cao.
Gió thổi nhẹ qua những lá cỏ xanh non. Mùa này mưa bắt đầu trở về và cỏ xanh lạ
lùng. Khói nhà ai đun lên tận trời. Những điệu nhạc xa xôi của Chopin trở về
bàng bạc trong tâm tưởng. Anh hãy đàn cho tôi nghe bản nhạc Tristesse của
Chopin và bản Paloma, anh đàn đi anh. Tôi thích hai bản này nhất. Thằng này mơ
mộng quá, còn nhỏ quá mà thích tình tứ mộng mơ rồi, tao biết tại sao mày thích
hai bản này. Gió thổi nhẹ một chiếc lá rơi xuống đất. Trông anh như thằng ngáo.
Nhìn nét mặt ngơ ngác. Đi đường phố nào anh cũng tần ngần. Nhìn bộ tịch anh người
ta có thể đoán anh mới đến Đà Lạt lần đầu tiên. Gặp cái gì anh cũng nhìn hết,
anh chưa đến Đà Lạt bao giờ sao? Vâng đây là lần đầu tiên tôi đến Đà Lạt. Anh
sao khó tính quá, anh hãy để tôi nhìn Đà Lạt chứ sao? Đà Lạt đẹp quá vậy anh?
Anh trông tôi đứng lại, nhìn đằng trước cũng đẹp, nhìn bên phải cũng đẹp, nhìn
bên trái cũng đẹp, nhìn lên trời cũng đẹp mà nhìn dưới đất cũng đẹp, anh nhìn
xem: mấy con bướm trắng bay thơ mộng quá, tôi thương mấy con kiến kia quá, anh
ơi. Tôi tự tính lại thì ngạc nhiên thấy mình đã sống ở Đà Lạt khá lâu, mấy con
bướm và mấy con kiến (mà tôi gặp hồi đến Đà Lạt lần đầu tiên) chắc đến ngày hôm
nay chúng nó đã chết rồi. Con người tôi ngày trước bây giờ không còn nữa, con
người hồn nhiên ấy cũng chết theo dòng đời. Đôi mắt tôi ngày nay không còn là
đôi mắt ngày xưa, của lần đầu tiên đến Đà Lạt. Tôi là một kẻ khác, không phải
là tôi nữa. Tôi đã chết lâu rồi. Nghĩ lại mấy năm tôi sống ở Đà Lạt, tôi mới thấy
rằng tôi sống như một cái xác không hồn, lãnh đạm, thờ ơ, lạnh lẽo, khó khăn,
bơ phờ, mất mát, chết giữa ngày tháng tịch mịch; mỗi sáng mỗi chiều cũng bấy
nhiêu cử động, ăn uống, đi dạy, ngủ, ăn, dạy, ngủ, ăn, dạy, đi, về, ngủ, thức,
ăn, dạy, đi, về, đi, đi, về, đi rồi về, cũng bấy nhiêu cử động lặp đi lặp lại,
ngày nào cũng như ngày nấy, cũng bấy nhiêu cử động máy móc, cũng bấy nhiêu
sáng, chiều, tối trở đi, trở lại, trở đi, trở lại, bao nhiêu lần tôi đi lang
thang giữa phố chợ mà không biết mình là ai, bao nhiêu lần tôi đi giữa đường phố
mà đôi mắt kia không nhìn thấy gì cả, đôi mắt thao láo như đôi mắt của một người
chết. Buổi sáng hôm nay bỗng nhiên tôi cảm thấy sống lại; con người tôi của
ngày đầu tiên đến Đà Lạt bỗng nhiên trở về nhập lại cái xác không hồn này, tôi
lắng nghe hơi thở của tôi dịu dàng trong thể xác, tôi lắng nghe điệu nhạc triền
miên của thuở hoa niên xanh mộng trở về thướt tha trong lòng tôi, tôi lắng nghe
tiếng lá rơi nhẹ trên mặt đất tôi trố mắt nhìn từng sự vật, tôi có cảm giác như
đã mù từ lâu rồi và bỗng nhiên hôm nay mắt được sáng lại; tôi phân biệt từng đợt
màu xanh khác nhau trong từng chiếc lá, tôi đứng lại để lặng nhìn một con kiến
bé nhỏ đang bò lên lá cỏ; tôi ngửi được hương vị nồng nàn của không khí, mùi
thoảng của lá khô, hương thơm của khói, của cây non, của một đóa hoa héo trong
bụi cây bên đường; mấy năm nay, tôi đã đi trên đường này biết bao lần nhưng nào
có thấy, nghe, ngửi, cảm gì đâu, thế mà hôm nay, cũng trên con đường này, đột
nhiên tôi ý thức rằng mình đang thở nhịp nhàng, rằng bao nhiêu sự vật xinh đẹp
lạ lùng đang thở quanh tôi. Tôi có cảm giác lạ lùng mới lạ của một đêm ngủ miên
man trong một ngàn năm rồi bỗng thức dậy và mắt sửng sốt nhìn tất cả hình ảnh
huyền diệu vây phủ chung quanh mình. Tất cả sự vật chung quanh đều xuất hiện ra
lần đầu tiên trước đôi mắt tôi. Thực là huy hoàng tuyệt vời. I walked into
town, into the streets where we had put up our building, and suddenly I saw
them for this first time, suddenly I was really seeing them and they were
splendid (W. Saroyan, And Man). Tôi chỉ đứng lại trên cỏ và lắng nghe mình thở;
chỉ thở thôi và sung sướng rồi, now it was a pleasure even to breath (Saroyan,
Going Home). Thế rồi tôi giựt mình khi nghe tôi cười vang lên giữa đường phố;
tôi cười tất cả những điều thảm thương ở trần gian, sự ngộ nhận khắp nơi, sự
xung đột đời đời, sự hung dữ tàn ác, những điều đó làm con người trở nên một
con vật nham hiểm, tôi cười sự chết, he was laughing at all the pathetic things
in the world, the misunderstandings everywhere, the everlasting conflict, the cruelty,
the things that made man a malignant thing… (Saroyan, Laughter). The worst that
can happen to any of us, I used to laugh, is death. (Saroyan, Aspirin is a
Member of NRA). Tôi cúi xuống hái một lá nhỏ, lặng lẽ nhìn và hôn vào lá ấy. Một
người đi đường ngơ ngác ngó lại. Tôi cười. Tôi cảm thấy thương yêu tất cả nhân
loại, yêu cả kẻ thù, yêu cả những điều tôi ghét, yêu hết mọi sự vật ở trần gian
này. Tôi bước đi. Người ấy ngó theo. Năm sáu con chim én tung bay lên trời. Ý
nghĩa trọn vẹn hiện ra; hình ảnh trọn vẹn của trần gian và của con người xuất
hiện huy hoàng trước đôi mắt rực ngời của tôi. Ôi trần gian mặt đất này đẹp biết
bao. The earth was so lovely (Saroyan, The Earth, Day, Night, Self). Chỉ sống
thôi thì thực là vinh quang biết bao. How glorious it is to be alive, to be
still living (Saroyan, My self upon the earth). Tôi yêu và thờ phượng cuộc đời…
Tôi tin rằng tôi sống… Thoáng giây này sẽ không bao giờ bị xóa nhòa; nó vượt thời
gian, I love and worship life… I believe that I live … and the living of this
moment can never be effaced. It is beyond time (Saroyan, My self upon the
earth). Tôi là tôi, je suis moi, vũ trụ là vũ trụ, trần gian này là trần gian,
cuộc đời là cuộc đời, con người là con người. Tôi đang đi đây, ngày nay, năm
này tại thành phố Đà Lạt; tôi biết rằng rồi đây tôi sẽ chết, bởi thế hôm nay
tôi sống. Chết là một thực tại, bởi thế sống cũng là một thực tại. Chết không
thể nào tránh được, cũng giống như sống cũng không thể nào tránh được. In order
not to be a fool, you must believe that as much as death is inevitable life is
inevitable (Saroyan). Sự huy hoàng tuyệt vời của Sống. Hãy để con người đi và
nói và nghĩ và ngủ và mơ và thức và lại đi và lại nói và lại di động và sống.
The splendor of the mere fact of his being alive… Let him walk and talk and
think and sleep and dream and awaken and walk again and move and be ALIVE
(Saroyan, A cold day). Hãy sống. Đừng chết nữa. Tôi đã chết. Rất nhiều người đã
chết. Hầu hết nhân loại hiện nay đang chết. Hãy sống. Hãy ca tụng tình huynh đệ
của những sự vật sống, the brotherhood of things alive (Saroyan). Sống là tuyệt
đối là trọn vẹn, vĩnh cửu, thiên thu. Sống là chân lý. Nhớ là sống, cười là sống,
không hấp tấp vội vã là sống, you are in a hurry but I am not: I shall witness
your disintegration (Saroyan, Aspirin is a Member of the NRA). Ngủ là sống, It
is only sleep that we my know that we live (Saroyan, The daring young man…).
Yêu thương là sống, đau khổ là sống, trung thành với chính mình là sống, I want
him to be himself (Saroyan, Myself upon the earth). Luật lệ, phép tắc, quy chế,
truyền thống, ngôn ngữ, triết học, lý trí không phải là sống. All my life I
have laughed at rules and mocked traditions, styles and mannerisms… I do not
believe in philosophies (Saroyan, Myself…). Sự thù ghét, sợ hãi, sự ham quyền lực
không phải là sống, những chủng tộc, những chính quyền không phải là sống. I do
not believe in races, I do not believe in governments (Saroyan, Seventy
thousand Assyrians). Những nhà đạo đức, luân lý, những kẻ hèn nhát và những hiền
nhân, thánh nhân, hiền triết không phải là sống. I love to make small
explosions with the infated bags of moralists cowards, and wise men (Saroyan,
Myself upon…). Tất cả những ngôn ngữ hợp lại là sống, hay không có ngôn ngữ
nào cả là sống, sự im lặng là sống, We see the universe through the language we
know, we do not see it through all languages or though no language at all
through silence. If I want to do anything, I want to speak a more universal
language (Saroyan, Seventy thousand Assyrians). Trái tim của con người là sống,
the heart of man, the unwritten part of man that which is eternal and common to
all races (Saroyan, Seventy thousand…). Mâu thuẫn, nghịch lý là sống, Every
life is a contradiction… I believe in the right of man to contradict himself (Saroyan,
Myself upon….). Hình ảnh trọn vẹn, hình ảnh của sự trọn vẹn là sống. Chương
trình kế hoạch của tôi là SỐNG vô hạn định, It is my plan to stay ALIVE
indefinitely (Saroyan, Fight your own war). Đà Lạt có nhiều chim hơn bất cứ nơi
nào ở Việt Nam. Tôi vừa đi vừa lắng nghe tiếng chim kêu. Tôi cười miên man và
nhìn mấy chiếc lá đung đưa trên những cành cây gầy yếu. Tại sao anh trông gầy yếu
xanh xao như vậy? Bởi vì mấy tháng nay tôi bị bịnh mất ngủ, tối nào tôi cũng nằm
trằn trọc suốt đêm, nằm ngó trần nhà chứ không làm gì cả. Suốt đêm, tôi nằm
trong bóng tối, không dám nghĩ gì cả, nhiều khi tôi cười sặc sụa lúc khuya khoắt
hoặc tôi lấy tay đập mạnh vào giường. Tôi không hiểu tại sao tôi làm như vậy;
có những đêm, tôi tự hỏi tôi là ai, tại sao lại nằm nơi cái giường này, tôi giựt
mình toát mồ hôi ra; sáng thức dậy tôi cử động ăn nói vô ý thức vắng mặt, đi đứng
bơ phờ, đầu óc mệt mỏi, chán chường không thích, không thèm gì cả, không ham,
không ghét gì cả; tôi sống xa lạ chơi với tất cả mọi người, - tôi không biết đi
đâu, không biết thuộc về đâu; tôi là ai, là ai, thân xác này thuộc về ai, mười
ngón tay của ai, của tôi; tôi là gì, tôi không biết, tôi không gì cả; tôi không
biết gì cả; anh đừng hỏi tôi tại sao tôi gầy yếu, anh đừng hỏi, xin đừng hỏi,
tôi là ai, tôi chết, tôi sống, gầy yếu, mạnh khỏe, trắng, đen, không, có, sống,
chết, tôi không biết, xin đừng hỏi, tôi không hiểu gì cả, tôi hét đây, tôi la
đây, tôi không hiểu gì cả, anh có nghe không? Thuở ấy tôi đã chết và tôi không
biết rằng mình chết, tôi chạy loanh quanh trốn tránh hư vô: tôi đã trốn tránh đủ
cách, đủ đường, đủ lối mà càng trốn tránh hư vô tôi càng gặp hư vô và tôi chết;
không hiểu sao bỗng nhiên sáng nay tôi thấy mình sống lại và sống là một bí mật,
là sự huyền nhiệm, chân lý là đã đi trong sự chết để rồi mới thấy lại sự sống.
Tôi không thể cắt nghĩa được và thực ra, tuyệt đối không có gì để nói cả, there
was absolutely nothing to say (Saroyan, The earth, day, night, self). Hôm nay,
tôi biết rằng tôi sống, tôi thở. Chỉ có thế thôi. Sống là Chân lý. Tìm chân lý
là tìm sống. Sống là thiêng liêng, ngoài ra trên đời chẳng có gì thiêng liêng cả,
there was no sacred thing in the world (Saroyan, Seventeen). Sống là gì? Tôi
không hiểu. Đó là chân lý. Tôi không thể kể nói gì cả. Mỗi người phải tự tìm lấy
chân lý cho chính mình. Chân lý ấy không ở trên trời mà lại ở tại trần gian
này, tại mặt đất này. I cannot tell anyone. Everyone must see for himself.
Everyone must seek the truth for himself (Saroyan, And man). Tôi sống cuộc đời
tôi. Anh sống cuộc đời anh. Chị sống cuộc đời chị. Tôi thở cho tôi; tôi không
thể nào thở hộ cho ai được. Tôi hoàn toàn vô trách nhiệm; tôi chỉ có trách nhiệm
đối với riêng tôi; cũng như anh có trách nhiệm đối với anh. Tôi không có kẻ
thù. Nếu có kẻ thù chăng thì chính tôi mới là kẻ thù của tôi. Chính tôi tự cứu
lấy tôi; chỉ những nỗ lực của chính tôi mới cứu được tôi; tôi không trung thành
với bất cứ một ý niệm hoặc một danh từ trừu tượng nào; tôi phản bội với tất cả;
đôi khi tôi cũng phản bội với chính tôi; tôi chỉ trung thành với hơi thở nhịp
nhàng của tôi và của con người. Ở đời không có tốt và không có xấu không có giả
, chỉ có chết và sống mà thôi; thực ra thì chỉ có sống bởi vì chết chỉ là một
hình thức triền miên của sống và sống và chết chỉ là một; sau cùng chỉ có hơi
thở là duy nhất, thiên thu, bất diệt, vĩnh cửu, tuyệt đối, trọn vẹn. Hai ba chiếc
lá rơi xuống, tôi đứng lại nhìn rồi lại tiếp tục bước đi. Mây trắng bàng bạc đầy
trời. Chim én tung bay đầy trời. Mây trắng, chim én, lá rơi, ôi cuộc đời! Đà Lạt
đẹp. Trần gian đẹp. Ôi cuộc đời! Mặc dù trần gian này đầy đau khổ, nhưng trần
gian này vẫn luôn luôn là một trần gian tươi đẹp. Nếu sự đau khổ không còn ở trần
gian này thì trần gian không còn tươi đẹp nữa. Thế giới này phải được thoát
thai trong sự đau khổ để làm trần gian này trở thành một toàn thể (une
totalité). Trần gian này, cuộc đời này, sự sống này là một cái gì trọn vẹn mà
chúng ta không bao giờ nhìn thấy đủ hết tầm vóc. Bất cứ một hệ thống triết lý
nào, bất cứ một ý thức hệ nào, bất cứ một chính trị nào cũng thất bại. Con người
muốn nhìn thấy rõ sự thật, sự trọn vẹn của cuộc đời, của trần gian, của con người
mình thì phải đánh đổ phá hủy tất cả những gì hiện nay mình yêu quý hoặc mình
ghét; con người ấy phải là con người chỉ sống trong hiện tại, không quá khứ, không
tương lai, không truyền thống, không đất đứng, không một mái nhà để che đầu.
Con người ấy tự lột cả áo quần, đứng trần truồng và nhìn sự trần truồng của trần
gian, của cuộc đời. Con người ấy phải là một đám mây trắng lênh đênh trên trời,
bềnh bồng trong sự sống không vô hạn, bay trên những ti tiện và cao siêu của
nhân thế. Bay trên tất cả những chiều hướng xung khắc đối chọi nhau của cuộc đời.
Đám mây trắng phiêu bạt ấy không thuộc về một bầu trời nào, không thuộc về một
lũng đồi nào, không thuộc một giải đất nào, không thuộc về một đại dương nào;
đám mây trắng ấy không thuộc về riêng một cái gì và đám mây trắng ấy thuộc về tất
cả. Con người hãy ngước nhìn mây trắng, con người không cần phải thuộc về đâu cả,
không cần phải thuộc một nhóm nào, một đảng phái nào, một tôn giáo nào hoặc một
chủ nghĩa nào. Con người không cần phải nhập Đảng cộng sản hay đi theo tư bản mới
có thể sống được. Con người không cần phải đi nhà thờ hoặc đi chùa mới thở được.
Không cần phải đứng dưới một lá cờ nào mới có thể sống. Trái lại phải tránh tất
cả những thứ ấy. Hơi thở là hơi thở; có những thứ ấy hay không hơi thở vẫn là
hơi thở. Dù sao tôi vẫn tin rằng tất cả mọi sự đều được tạo ra để trần gian này
được thở. Người ta sinh ra để thở. Người ta sinh ra để hạnh phúc. Bởi vì người
ta không muốn thở, không muốn hạnh phúc cho nên người ta chết và không hạnh
phúc. Tôi xin mãnh liệt rằng tôi đang sống và tôi muốn sống. Tôi không đòi hỏi
những kẻ khác phải tự hy sinh để thực hiện đức tin của tôi. Tôi không cần người
khác phải trung thành, phải kính trọng tôi. Tôi chỉ ước rằng những kẻ khác cũng
muốn sống trọn vẹn như vậy. Tôi là một người có đức tin. Tôi tin nơi tôi. Tôi
tin nơi con người et ma foi est dans l’ homme. Tôi tin nơi quả tim của con người.
Quả tim ấy ngừng, tôi sẽ không còn thở nữa, chỉ có thế thôi. Tôi ước mong thế
giới này sẽ tiêu tan ra từng mảnh và nhân loại sẽ bị tiêu diệt hết đi để còn
sót lại hai người thôi; hai người ấy sẽ sinh con đẻ cái, tạo ra những con người
mới, những con người thực sự, yêu thương nhau, lắng nghe hơi thở nồng nàn và được
kết hợp nhau bằng nhịp điệu du dương của con tim chớ không phải bằng giai cấp,
tôn giáo, tổ quốc, nòi giống, nghề nghiệp, chính trị, nhân sinh quan hay ý thức
hệ. Dù sao tôi vẫn tin rằng nhân loại vẫn không đến nỗi phải đáng chịu tiêu diệt
như vậy bởi vì tôi vẫn tin nơi con người; nói như Anne Frank, tôi vẫn tin nơi
lòng tốt bẩm sinh của con người (omdat ik nog steeds aan de innerlijke goedhied
van de mens geloof) It is the heart of man that I am trying to imply in this
work… Man has great dignity, do not imagine that he has not (W. Saroyan,
Seventy Thousand Assyrians). Tôi tôn thờ một tổ quốc: con người, nghĩa là trần
gian và tất cả những người ở trần gian. Tổ quốc con người hiện nay đang đổ vỡ
điêu đứng nhưng rồi đây tất cả mọi điêu đứng tan thương sẽ qua hết. Tôi phải giết
con người tôi hiện nay để mà có thể sống lại giữa đất ngước loài người. Con người
của tôi hiện nay là con người giả dối, hèn nhát, không dám trung thành với
chính mình mà chỉ trung thành với những khuôn thước mẫu mực của người, không
dám ăn, không dám nói, không dám đi đứng, di động và không dám thở. Tôi phải giết
tôi để tìm lại tôi. Tôi chúc anh tìm lại anh. Đường này là đường Phạm Phú Thứ?
Nhiều cây lá lắm. Lá thông khô đưa ra một hương vị ngày xưa. Hoa đỏ từng chùm
trong bụi cây xanh. Hai ba chiếc lá rơi xuống, tôi đứng lại nhìn rồi tiếp tục
bước đi. Mây trắng bàng bạc đầy trời. Chim én tung bay đầy trời. Mây trắng,
chim én, lá rơi, ôi cuộc đời! Đà Lạt đẹp. Trần gian đẹp. Ôi cuộc đời! Cuộc đời
lạ lùng biết bao. Mỗi cuộc đời là một sự mâu thuẫn, một chân lý mới, một phép lạ
mới. Every life is a contradiction, a new truth, a new miracle (W. Saroyan, My
self upon the earth). Tôi phải bỏ tất cả tư tưởng và lăn mình vào cuộc sống. Cuộc
đời đầy mâu thuẫn. Đây không phải là bi kịch; chỉ bi kịch là khi người ta sợ
mâu thuẫn, chân lý là sự bí mật, đầu tiên là Trời, tiếng Trời, ngoài tất cả mọi
vật mà vượt lên trên, không có không gian và không thời gian, rồi hư vô, sự trống
rỗng im lặng rộng hơn trí óc của con người, trừu tượng và đích xác và thực sự
và mất mát, bản thể trong sự trống rỗng, rồi lại đích xác và với sức nặng và sự
cứng cỏi và hình thể, hoả và chất lỏng và rồi đi bách bộ qua những vườn nho.
The truth was the secret, god first, the word, the word god, out of all things
and beyond, spaceless and timeless, then the void, the silent emptiness, vaster
than any mortal mind could conceive, abstract and precise and real and lost,
the substance in the emptiness, again precise and with weight and solidity and
form, fire and fluid, and then, walking through the vinegards. (W. Saroyan, And
man). Thế giới của tôi sống hiện nay là một thế giới hoàn toàn phi lý, không luật
lệ, đầy mâu thuẫn, con người hiện nay cảm thấy bơ vơ lạc lõng, mất gốc. Hư vô
phủ đầy trời. Ngày xưa tôi thường chạy trốn như vô, tìm nguôi khuây trong sự giả
dối tạm bợ, tìm lãng quên bằng trăm vạn lối. Tôi đã chạy trốn và tôi đã thất bại.
Hôm nay, tôi đã biến thành con người mới. Tôi không trốn hư vô nữa. Tôi không
than thở nữa. Tôi không tìm về mái nhà xưa nữa. Tôi không còn đau khổ vì mình
phải bị mất gốc và mất đất đứng giữa cuộc đời. Tôi sung sướng bơi lội trong hư
vô. Tôi hoàn toàn cảm thấy thoải mái trong hư vô và không cảm thấy hãi hùng nữa
mà lại cảm thấy tuyệt diệu thanh thoát. Hư vô không phải là bi kịch; chỉ bi kịch
là người ta không muốn bơi lội trong Hư vô, khi người ta buông xuôi để cho dòng
nước Hư vô cuốn trôi đến chết, khi người ta không cố gắng nhô lên mà thở, khi
người ta không chịu học bơi lội. Đây là chân lý. Chân lý thường giản dị như thế. Muốn bơi được trong Hư vô mà không bị chìm, tôi phải làm những điều giản dị như
sau: trước hết tôi phải cởi bỏ tất cả quần áo giầy dép nặng nề, tôi lột truồng
ra để cho được nhẹ người; công việc này cũng khá khó khăn và hơi kỳ cục vì hiển
nhiên người ta sẽ gọi tôi là một thằng điên. Nhưng có hề gì. Thà làm thằng điên
để được sống hơn là làm thông thái thánh nhân để bị chìm mà chết. Trước hết tôi
cởi bỏ công ước ra ngoài thân thể tôi. Công ước (convention) là một bộ phần quần
áo nặng nề nhất có thể làm tôi bơi lội không được; công ước là kiến thức, ngôn
ngữ, dấu hiệu, luật lệ, luân lý, đạo đức, nhãn hiệu, số đếm, vai trò, nghệ thuật,
vân vân. Nói tóm lại, tất cả những quy ước do loài người đặt ra để tiện giao
thiệp với nhau. Tôi gọi những thứ ấy là công ước bởi vì đó là một sự ký kết đồng
ý giữa xã hội này đối với xã hội khác. Tôi lột bỏ những thứ ấy bởi vì những thứ
ấy đã thất bại trong việc giúp tôi làm nhẹ nhàng thân thể tôi trong giòng nước
Hư vô. Tất cả những gì thuộc về công ước để có thể nhìn được hình ảnh trọn vẹn
của vũ trụ và của đời tôi; tôi không thể nào dùng những danh từ trừu tượng để
diễn tả thực tại cụ thể. Dù muốn dù không, khi lớn lên, con người phải sống
trong giả tạo, sống trong những lề lối công thức đã có sẵn. Khi tôi bắt đầu có
trí khôn, tôi phải đi học và đi học có nghĩa là học cách chấp nhận những luật lệ
công ước của xã hội; nếu tôi biết chấp nhận thâu thái những thứ đó thì tôi sẽ
trở thành phần tử kiên cố của xã hội, một người công dân tốt và gương mẫu. Còn
trái lại thì tôi sẽ trở thành một con người bị bỏ rơi, mất đất đứng, sống ngoài
vòng xã hội, một persona non grata. Khi ra đời sống với con người, tôi phải làm
hoà với công ước và nếu tôi không thể làm hoà được thì sẽ có sự giao tranh mãnh
liệt giữa công ước xã hội với lòng khát sống phong phú của tôi, khi sự giao
tranh ấy trở nên quá phũ phàng, tôi rất dễ trở thành một người điên, một người
tội lỗi, một kẻ giết người, một tu sĩ, một người tự tử hoặc một kẻ biết sống trọn
vẹn với đời mình. Chỉ có hai đường như trên, một đường thông thường của thế
nhân chứa nhiều thành công, hứa hẹn nhiều hạnh phúc và một đường bất thường của
một số ít người chứa nhiều thất bại cay đắng, hứa hẹn đầy nguy hiểm giông tố.
Tôi tha thiết muốn sống thực sự với tôi, tôi muốn giữ gìn bản ngã tôi, but I
have said that I want to preserve my identity (W. Saroyan, My self upon…) bởi
thế tôi xin chọn con đường thứ hai. Anh sẽ bảo rằng tôi cực đoan bởi vì người
ta không thể nào sống được nếu ở đời không có công ước giả tạo như thế, dù muốn
hay không khi lớn lên tự nhiên con người đã biết nói rồi, người ta không thể
nào tự mình muốn câm được. Tôi cũng có nghĩ như anh, nhưng thực ra chính công ước
tự nó không có gì xấu, chỉ có thái độ của người ta hiện nay đối với những công
ước ấy mới là nguy hiểm; người ta đã vô tình quên đi vai trò của những công ước
ấy và tự đồng hóa sức sống mênh mang của mình với những ý niệm chết cứng, khô
khan trừu tượng. Khi tôi nghĩ rằng phải lột bỏ tất cả thứ gì thuộc công thức
không có nghĩa là tôi phải cởi tất cả quần áo ra, cởi bỏ kiến thức, giáo dục,
ngôn ngữ, tư tưởng vân vân. Tôi có thể ăn mặc sang trọng, thắt cà vạt, quần áo
chải chuốt, ăn nói trưởng giả, làm công công chức, ở nhà lầu, đi xe huê kỳ;
nhưng mà tôi vẫn có thể tự hào là một người chống công ước mãnh liệt nhất, bởi
vì chính những cái cà vạt kia, những chiếc xe huê kỳ kia, những nhà lầu kia thực
sự chẳng có gì xấu cả, chỉ nguy hiểm là thái độ của tôi đối với những thứ ấy.
Tôi xin lặp lại một sự thật đơn sơ; ở đời chẳng có gì là xấu và chẳng có gì là
tốt; chỉ có lối nhìn của ta mới nguy hiểm thôi, ta nghĩ rằng có tốt, ta nghĩ rằng
nó xấu, chỉ có thế thôi. Ta nên xem những thứ công ước ấy chỉ là phương tiện tiện
lợi nhất và đừng để những thứ ấy dùng lại ta. “Con người trọn vẹn nhất ở trần
gian này là những đứa hài nhi. Những đứa hài nhi chưa bị học nói bất cứ một
ngôn ngữ nào mới là nòi giống duy nhất của trái đất này, nòi giống con người thực
sự; tất cả những gì còn lại đều là giả dối, hư ngụy như văn minh, hờn ghét, sợ
hãi, ham quyền lực, vân vân… khi lớn lên con người học tiếng và chữ của một
ngôn ngữ và xem nhìn vũ trụ qua ngôn ngữ ấy”. Babies who have not yet been
taught to speak any language are the only race of earth, the race of man: all
the rest is pretense, what we call civilization, hatred, fear, desire for
strength… we grow up and we learn the words of a language and we see the
universe through the language we know (Saroyan, Seventy thousand assyrians).
Tuy thế hiển nhiên là ta không thể nào là hài nhi mãi mãi ta phải lớn và cũng
như ông cha của ta, ta phải chấp nhận những giả tạo công ước đã có sắn từ bao
nghìn năm. Bi kịch không phải là chấp nhận những thứ ấy. Bi kịch là ta đã lãng
quên vai trò giới hạn của những thứ ấy và đồng hoá những–tên-để-gọi-sự-vật với
sự vật. Tôi nhìn mây trắng trên vòm trời xanh và tiếp tục bước đi trên vệ đường,
đến gần thư viện Đà Lạt, tôi đứng lại và bước qua bãi cỏ bên kia, nhìn sang
thung lũng và những ngọn đồi bé nhỏ. Mùa này cỏ xanh lạ lùng và thơm. Tôi không
muốn nghĩ ngợi gì nữa, vì mỗi khi nghĩ thì người ta luôn luôn quên thở. Tôi sinh
ra không phải để nghĩ. Tôi sinh ra để thở. Một cơn gió rào rạt vi vu thoảng qua
người tôi. Mát lạnh. Vài tà áo màu bay xa xôi trong rừng thông bên kia. Một con
chim non đậu. Và nhìn tôi. Tôi nhìn lại chan chứa rồi lại tiếp tục bước đi nhè
nhẹ. Tôi nhìn thấy nét mặt của Thượng đế trong một đóa hoa capucine ở một bụi
lá bên đường. Tôi tiếp tục đi chậm rãi. Bước đến nhà thờ Đà Lạt tôi đứng lại
nhìn mấy cây thông rồi bước vào nhà thờ, quì xuống làm dấu thánh giá rồi thì thầm:
“Xin Chúa và Đức Mẹ, không hiểu tại sao con không bao giờ chịu tin có Chúa và Đức
Mẹ”. Nói nho nhỏ như thằng khờ, rồi tôi lại ngồi trên ghế và khoanh tay nhìn
thánh giá ở đằng xa, rồi bỗng nhiên đôi mắt tôi hướng về những luồng nắng vàng
từ ngoài đưa vào khung cửa kính của nhà thờ. Tôi sung sướng nhìn nắng vàng và
quên cả Chúa. Thế rồi tôi bước ra nhà thờ, cảm thấy khoan khoái nhẹ nhàng hơn,
tôi bước đi xuống đường bờ hồ. Một cơn gió thoảng bâng quơ. Hàng cây anh đào
không hoa. Xuân đã xa rồi. Tôi sống trong giây phút thiên thu bất diệt. Giờ đây
tôi thấy tôi có thể làm bất cứ chuyện gì trên đời này. Tôi đang sống trọn vẹn với
tôi. Tôi không còn đau khổ nữa. Tôi đã chấp nhận đau khổ “Không có sự đổ vỡ nào
mà vô phương cứu chữa. Tất cả ý nghĩa cuộc đời đều nằm trong chữ đau khổ”
(Aucun désastre n’est irrémédiable. Tout le sens de la vie est contenu dans le
mot souffrance.) (Henry Miller, Assassinez l’ assassin). Chính sự đau khổ đã
làm cuộc đời có ý nghĩa và sống. Tôi không còn than van oán trách nữa. Tôi cười.
Tôi thường nghĩ đến sự đau đớn và sau cùng tôi chỉ biết cười. I used to think
about the pain and in the end all I could do was laugh (Saroyan). Sống là
thiêng liêng. Đau khổ cũng thiêng liêng. Không có sự đau khổ, tôi không thể nào
đi vào bên trong cuộc đời và không thể nào hiểu được những bí mật của đời người;
không có sự đau khổ tôi sẽ nằm triền miên trong sự khô khan của cuộc đời tẻ nhạt.
Sự đau khổ làm phong phú tâm hồn tôi. Biết đau khổ mà không than mới là chân lý
của đời. Savoir souffrir sans se plaindre. Tôi càng bị đau khổ nhiều chừng nào,
tôi càng phải cảm tạ trời đất nhiều chừng ấy. Giữa cuộc đời tôi phải đứng bơ vơ
với một trái tim rỉ máu. Tôi phải lặn hụp lầy lội trong sự đau khổ. Con người
duy nhất thuộc về trần gian này là con người mà thượng đế không bao giờ giết được.
Sự đau khổ chỉ giết những kẻ yếu đuối và những kẻ không đáng sống. Tôi đang
trôi miên man trong đại dương của Hư vô. Tôi không sợ và không trốn sự đau khổ.
Tôi không trốn Hư vô. Tôi thênh thang đi về những phương trời miên viễn để tìm
xa lạ. Il s’agit d’arriver l’inconnu par le dérèglement de tous les sens, les
souffrances sont énormes mais il faut être fort (Arthur Rimbaud). Cuộc đời đẹp.
Giây phút này thiên thu và tôi đang thở khoan khoái. Le vierge, le vivace et le
bel aujourd’hui. Tôi yêu cuộc đời không phải chỉ vì cuộc đời đẹp. Tôi là một
tình nhân say đắm. Tôi yêu cả những nét xấu xa nhất của cuộc đời. Những gì xấu
xa ấy, đối với tôi vẫn duyên dáng và đẹp đẽ. Tôi biết rằng ngày mai tôi chết
nhưng có hề gì, bởi vì cuộc đời tôi là vĩnh cửu thiên thu; cuộc đời tôi hơi thở
tôi vẫn không bao giờ chấm dứt; mỗi một kinh nghiệm chỉ là sự thai nghén ra một
kinh nghiệm khác. Ngay đến cái chết cũng thế. Sau cùng đây là đạo sống: Hãy cố
gắng tập thở cho nồng nàn, khi ăn cho ra ăn, khi ngủ thì cho ra ngủ, hết sức cố
gắng trọn vẹn và khi cười, cứ cười ầm lên, và khi giận cứ giận điên lên. Cố gắng
sống. Chẳng bao lâu anh sẽ chết. Try to learn to breathe deeply, really taste
food when you eat, and when you sleep, really to sleep. Try as much as possible
to be WHOLLY ALIVE, with all your might, and when you laugh, laugh like hell,
and when you get angry, get good and angry. Try to be ALIVE. You will be dead
soon enough. (William Saroyan) Hai ba chiếc lá rơi xuống, tôi đứng lại nhìn rồi
tiếp tục bước đi. Mây trắng bàng bạc đầy trời. Chim én tung bay. Mây trắng,
chim én, lá rơi, ôi cuộc đời! Đà Lạt đẹp. Trần gian đẹp. Ôi cuộc đời! Gió lạnh
thổi vi vu. Mưa bắt đầu rơi. Điệu Fantaisies impromptu của Chopin từ xa xưa đưa
lại theo nhịp mưa trên đường vắng. Mưa trở nên nặng hột. Nước mưa càng ướt lạnh
cả người tôi. Tôi mỉm cười sung sướng. Ngày trước mỗi lần đi đường bị mưa bất
chợt, tôi thường vội vã chạy đi tìm chỗ trú mưa. Hôm nay, tôi không làm thế nữa.
Tôi thản nhiên vui sướng đi dưới cơn mưa phũ phàng của cuộc đời. Trên con đường
hoang vắng, một bóng người bước lặng lẽ dưới mưa.
Viết thêm về Saroyan Tôi bao
giờ cho đến bây giờ, đối với tôi, Saroyan vẫn là một hiện tượng đáng yêu quý.
Nhiều lần, tôi đã chán Saroyan, tôi thấy ông chỉ lặp đi lặp lại bao nhiêu chuyện,
cũng như nhiều lần tôi nói tôi đã chán Krishnamurti, tôi thấy ông cũng chỉ lặp
đi lặp lại có bao nhiêu lời, cũng như nhiều lần tôi đã chán Hermann Hesse, tôi
cũng thấy Hesse chỉ lặp đi lặp lại có bao nhiêu chuyện, cũng như tôi đã chán
D.T. Suzuki, tôi chỉ thấy D.T. Suzuki lặp đi lặp lại có bao nhiêu việc. Nhưng tại
sao tôi chưa chán kinh Phật, vì tất cả kinh điển Phật giáo cũng đều chỉ lặp đi
lặp lại nói tới nói lui nói lên nói xuống nói ngang nói ngược nói thuận nói nghịch
cũng trong mấy điều duy nhất? Ngày nào tôi đã chán hết mọi kinh Phật thì chắc
chắn ngày đó tôi đã thành Phật! Tại sao tôi chưa muốn thành Phật mặc dù tôi có
thể là Phật bất cứ lúc nào? Tại sao tôi triển hạn? Tại vì thành Phật không quan
trọng bằng không thành Phật. Không chịu thành Phật, đó là khả năng tối thượng để
thành Phật mà tôi muốn san sẻ với tất cả con người trên mặt đất. Có một buổi
chiều nổi cơn điên, tôi chạy hối hả tại thư viện của trường đại học Columbia ở
Nữu Ước để mượn toàn thể tác phẩm của Saroyan để đọc lại, từ trường đại học Columbia,
hai tay ôm hai chồng sách, tôi thả bộ lừ đừ trở về phòng tôi ở khu phố
Riverside Drive gần con sông Hudson, gió thổi lạnh vì trời sắp đổ tuyết, tôi bước
đi lểnh khểnh như chàng say rượu, mặc dù buổi chiều ấy, tôi không uống một giọt
rượu nào cả. Cả thành phố New York đã ám sát tôi, một “thiên tài hạng nặng” từ
Việt Nam gửi đến, tôi, một đứa con trai của một nước nghèo nhất thế giới, một
nước ngang tàng nhất thế giới. Tôi cao có một thước sáu mươi phân, thế mà tôi
có cảm tưởng hai chân của tôi đang đạp lên đầu của cái cao ốc cao nhất nước Mỹ,
Empire State Building! Tôi, một người con trai của một đất nước quê mùa thất học
nhiều nhất ở thế giới, đã nắm trọn cả văn hóaá Mỹ quốc trong mười ngón chân. Tôi
thừa biết rõ rằng một ngày nào gần đây trong tương lai gần đây, nếu tôi còn sống,
nhất định tôi sẽ chinh phục cai trị Mỹ quốc với năm ngón tay phải của tôi; tôi
sẽ viết những quyển sách ký đi bằng chữ Anh và xô đẩy toàn thể Mỹ quốc vào
trong hố thẳm! Lòng tôi đầy căm thù, thù hận mặc dù tôi thừa biết rằng chỉ có
trái tim nguyên vẹn của tôi mới có sức chuyển hóa thế giới tan nát này thành một
tòa sen vĩ đại! Tôi căm thù Mỹ quốc nhưng tôi sẵn sàng khoan dung tha thứ tội lỗi
của Mỹ quốc: vì Mỹ quốc cũng tạo ra được những đứa con hoang đàng vĩ đại như
Thoreau, Emerson, Whitman, Henry Miller, Faulkner, Wolfe, Robinson Jeffers,
E.E. Cummings, Kenneth Patchen, Saroyan, Salinger, Tennessee Wiliams, Carson Mc
Culler. Leswis Mumford, và ad infinitum! Mấy ngày trước đó, tôi đã nhận thư mời
của viện Giáo Dục Quốc tế ở New York, tức là Institute of International
Education (I.I.E): viện này cử tôi làm đại diện sinh viên ngoại quốc để dự buổi
tiếp tân do đại sứ Arthur Golberg khoản đãi; trong một thoáng căm hờn bốc đồng,
tôi đã viết thư cho Viện Giáo Dục Quốc tế ấy rằng “tôi là thiên tài vĩ đại của
nước Việt Nam gửi đến, tôi không tham dự buổi tiếp tân nào hết, tôi đã chán ngấy
Mỹ quốc, vì thấy Mỹ quốc chỉ là trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng. (utterly
empty, awfully, dreadfully empty). Có lẽ nhờ thiên thần hộ vệ, bức thư ấy được
gửi đi rồi, thế mà tính mạng tôi vẫn an toàn. Không ai ám sát tôi, vì chắc họ
cho tôi là một thằng điên, điên, điên, điên. Chỉ có những thằng điên mới cứu vớt
thế giới này khỏi điên loạn. Saroyan, buổi chiều hoang trống ở Nữu Ước dạo ấy,
tôi đã đóng kín cửa phòng, đóng kín cửa sổ, bật đèn lên, cởi truồng ra, nằm soải
người ra để đọc Saroyan và tôi khóc như đứa con nít. Sức nóng của tình người đã
thổi vào phòng tôi buổi chiều hoang vắng ấy. Tôi thương hết tất cả, tất cả. Tôi
thương con gà, con bò, con cá, con chó, con kiến; tôi thương trái đất, trái
cây, trái vú; tôi thương dân Mỹ, dân Nga, dân Tàu, dân Pháp, dân da đen, da đỏ,
dân Tây, dân Thổ, dân nghèo, dân giàu. Saroyan còn khổ, còn đau, còn bị chà đạp
gấp trăm lần tôi; Saroyan nghèo đói, cô độc, điên gan, ngu dại, ngây thơ, lung
tung, bất thường gấp trăm lần tôi. Saroyan viết văn thơ mộng gấp trăm lần tôi:
Saroyan thông minh tế nhị, nhạy cảm gấp trăm lần tôi. “Trong gang tấc lại gấp
mười quan san.” Câu thơ ấy của Nguyễn Du đã trở về ám ảnh tôi giữa một chiều
thu lạnh giữa Nữu Ước. Tại sao tôi phải căm thù bọn nổi loạn? Buổi chiều hôm ấy,
trên các thành phố hoang vu ở Mỹ quốc, ít nhất cũng có hàng trăm triệu người
cũng cô độc, cũng tàn tạ, cũng gẫy đổ tan nát như tôi. Họ cũng không biết phải
làm gì cho đời họ, họ cũng bắt buộc phải sống, phải hiện lên một lần cô liêu ở
trái đất buồn thảm này để rồi chết đi trong đôi mắt khép kín của kiếp người. Cuộc
đời cần tình yêu của tôi, trái tim trong sạch của tôi hơn là cần hận thù chua
xót. Hận thù quá dễ. Chán đời quá dễ. Yêu thương mới khó, yêu đời mới khó. Hãy
đứng dậy đạp mạnh hai chân xuống đất, đưa hai tay lên trời, khom xuống và vùng
dậy và cười lên một tiếng cười ầm ầm như sấm sét. A ha! aha, aha, aha aha aha
aha, tôi yêu đời, tôi yêu hết, yêu, yêu, thương, thương… Aha aha aha aha aha
aha… Nữu Ước, ngày 8 tháng 10 năm 1965, William Saroyan thương mến. Tôi, Phạm
Công Thiện, có cha có mẹ, có tim có phổi, còn hai chân đi được, xin gửi đến anh
một bức thư không gửi. Tôi biết hiện giờ phút này anh đang yêu đời và anh đang
nói chuyện với tôi, mặc dù anh không biết tôi là ai và anh cũng không thấy mặt
mày tôi lần nào cả. Tôi sướng hơn anh, vì tôi đã nhìn thấy mặt mày anh cả trăm
lần, thấy hình anh đăng trong báo, đằng sau bìa sách: tôi biết mọi sự rất rõ về
anh, về đời anh, về những ý tưởng trong đầu anh, về vợ con anh, về cha mẹ, ông
nội ông ngoại của anh, về tuổi thơ tuổi trẻ của anh, về quê hương bạn bè của
anh, tôi biết rõ rằng anh uống mấy tách cà phê mỗi ngày, anh ăn ngủ làm sao,
anh đi chơi gái thế nào, thánh thiện thế nào, dâm đãng thế nào, vui buồn thế
nào. Còn anh thì anh chẳng biết gì về tôi cả, thế là có nghĩa anh đã biết hết về
tôi rồi đó: anh biết rõ tôi hơn là tôi biết anh, anh biết rõ tôi hơn cha mẹ anh
em tôi, hơn cả bạn bè gọi là “thân thiết” của tôi, anh biết rõ tôi hơn cả chính
tôi tự biết tôi, nhưng điều huyền diệu lạ lùng là anh không gặp tôi lần nào cả,
anh cũng chẳng biết tên tôi là gì cả, nhưng giờ phút này tôi biết rằng đang có
hai dòng sóng điện kỳ dị đang xẹt xẹt trong không khí, một dòng đỏ và một dòng
vàng, làn sóng điện của tôi có màu vàng đang xẹt xẹt với dòng sóng điện màu đỏ
của anh. Tôi với anh đang nói chuyện nhau trong không khí xẹt lửa. Tôi biết rằng
anh không còn sống được bao năm nữa, nhiều nhất là hai chục năm hay ba chục năm
nữa; lúc chết anh hãy đầu thai làm thằng con trai của tôi và tôi sẽ dạy anh
(con trai của tôi) đọc lại tất cả những chuyện anh viết lúc anh đầu thai ở Mỹ
quốc. Lúc ấy, tôi sẽ nói với anh như vầy: “Này con, kiếp trước con đã viết những
chuyện lạ lùng như thế, chỉ có tuổi thơ mới hiểu con nói gì, còn người lớn thì
họ cho con điên và sống như đứa con nít; kiếp này, cha sẽ dạy con làm người lớn
vì người lớn cũng thơ mộng như con nít; kiếp này, con phải sống như người lớn,
lấy vợ, sinh con để cái và làm việc đứng đắn để nuôi sống con của con cho đàng
hoàng, rồi cha sẽ chết và sẽ đầu thai làm con trai của con và lúc ấy con phải dạy
cha (tức con trai của con và cháu của cha), con phải dạy cha cho ra hồn, phải sống
như con nít, phải biết ăn ở dơ dáy, đánh lộn, trèo cây, kéo đuôi con chó; kiếp
trước, cha đã lỡ làm cha của con và cha đã bỏ mất tuổi thơ của cha, cha đã sống
như ông già lúc mới 9 – 10 tuổi thôi, kiếp này, con phải dạy cha sống lại cho
đàng hoàng, con đừng bắt cha đi học, đừng bắt cha phải ăn nói lễ độ khả kính, cực
cha lắm con ơi! Nhưng riêng đối với con, cha khuyên con hãy làm người lớn cho
ra hồn, rồi bỏ quách hết mọi sự, lủi mất vào đồi non núi lá nào đó, ngồi tham
thiền nhập định, thỉnh thoảng nhớ đọc Tâm Kinh để cứu vớt mấy trăm ngàn ức tỷ
con ma đang khổ bơ vơ đang chờ con tế độ… Mỗi khi con giận, thù ghét bất cứ người
nào thì con phải nhớ rằng kẻ ấy vừa là người ma cũng vừa là ma-sẽ thành, bất cứ
người nào cũng sẽ là con ma trong tương lai, vậy thì con hãy đọc Tâm Kinh và hô
lớn đại thần chú để giúp đỡ họ sang sông. Kiếp trước, con là một đạo sĩ ở Tây Tạng,
nhưng vì con đã tỏ ra khinh khỉnh với hạng văn nghệ sĩ, cho nên kiếp vừa qua
con đã đầu thai làm Saroyan và con phải viết văn lung tung, nhưng kiếp này, con
đã làm con của cha thì con phải trở lại con đường đạo sĩ của con, mỗi ngày, cứ
ngồi tham thiền nhập định và khi nào buồn lắm thì hãy phóng làm điện đỏ lên mây
và cha sẽ rẩy lên làm sóng điện vàng để ca cười múa hát với con…” “Thôi, cha
cũng đã nói nhiều với con rồi, cha đã xúc phạm đến cõi vô hình, bây giờ cha tập
im lặng, không khéo thì cha lại bị đầu thai làm cháu, làm chắt của đứa con của
con nữa thì tội cha lắm.” Anh Saroyan thân mến, Nằm dài trên giường nệm trắng
toát, tôi nghe tiếng xe điện subway chạy rầm rộ lên tiềm thức. Nếu anh đã bắt
được làn sóng điện của tôi thì sẽ hẹn gặp lại anh vào kiếp sau. Chào thân mến. Phạm Công Thiện (Chép lại từ Nhật ký không ghi chép xong ngày 1-8-1970) Chương
sáu Ý thức thể hiện - Phác hoạ về Somerset Maugham hay là con người hoạch định
mẫu sống 1. Đi vào tác phẩm của Somerset Maugham là đi vào cuộc đời, miên man lạc
vào thế giới tạp sắc của tâm hồn con người, là khơi dậy trong ta một niềm phẫn
nộ, một lòng trắc ẩn, một mối hoài nghi xao xuyến, một thoáng nhìn chan chứa đối
với thân phận mong manh của con người. Đi vào tác phẩm của Somerset Maugham là
soi kính để thấy hình bóng của mình, là tự vấn, là tra gạn ý nghĩa của vận mệnh
mình, là đi tìm ý thức thể hiện để hoạch định mẫu sống. Chẳng những thế, đi vào
tác phẩm của Somerset Maugham còn là thâm thiết đi vào ngã tư của trần gian, là
hít mạnh hương vị nồng đượm của mười phương trời thanh sắc, của Thái bình dương
“chóng thay đổi và bất thường như lòng người” (The trembling of a leaf), của đảo
Tahiti “khả ái như một trinh nữ tuyệt trần lãng phí một cách duyên dáng sức mê
hoặc và vẻ diễm kiều của mình” (The Moon and Sixpence), của những đêm Á châu
huyền ảo, vạn lý trường thành sương phủ thoang thoảng mùi vị nha phiến và hương
trà Khổng Trang (On a Chinese Screen), của miền thị tứ Trung Hoa ngột ngạt dưới
sự tiêu diệt tàn nhẫn của bệnh dịch “như người ta bị những bàn tay của một kẻ
điên bóp cổ” đang lúc đó “màu xanh lơ của bầu trời vẫn trong suốt như cõi lòng
của một đứa trẻ ngây thơ” (The Painted Veil) của những dấu chân người trong nẻo
rừng huyền hoặc ở Mã Lai (Ah King), của một nội địa Ấn Độ nhiệm màu thoang thoảng
“mùi vị Đông phương vừa chát vừa thơm” (The Razor's Edge). 2. Somerset Maugham
đã để lại đời những nhân vật đáng ghi nhớ nhất: 1. Nhân vật Larry Darrell của
quyển tiểu thuyết The Razor's Edge. 2. Nhân vật Mayhew của truyện ngắn “Mayhew”
trong quyển Cosmopolitans; 3. Nhân vật Strickland của quyển tiểu thuyết The
Moon and Sixpence. 4. Nhân vật Edward Barnard trong quyển The Fall of Edward
Barnard. Tất cả những nhân vật trên đều là những tâm hồn nghệ sĩ; họ làm cuộc đời
họ trở thành một bài thơ tuyệt vời; Larry Darrell là hình ảnh lý tưởng của mọi
người thanh niên thời đại, con người nghệ sĩ lang thang khao khát đi tìm Tuyệt
Đối trên những phương trời xa lạ, từ Âu châu đến Ấn độ; Mayhew và Larry Darrell
đều từ bỏ nước Mỹ để sống vô danh trên những đất trời miên viễn để thực hiện những
mộng đời miên man của họ; Strickland và Edward Barnard khước từ nền văn minh
Tây phương để trở về sống hồn nhiên trên hải đảo Thái bình dương. Chúng ta có
thể quên hết tất cả những tác phẩm của Maugham và chỉ nhớ nhân vật Larry
Darrell thôi cũng là đủ lắm rồi. Mỗi thanh niên đều ngạc nhiên thấy Larry
Darrell là chính hình bóng của mình, một hình bóng thân yêu của Mộng đời bất tận. Larry Darrell đi vào tâm hồn mình như là một chất rượu mạnh; Larry Darrell là
hình ảnh nên thơ nhất của con người nghệ sĩ giang hồ, của lãng tử lang thang, của
những giấc mộng đẹp nhất ở trần gian này. Somerset Maugham đã tạo ra Larry
Darrell bằng chữ bằng lời; nhưng Larry Darrell đã nhập thể, trở thành con người
bằng da bằng thịt: Larry Darrell trở thành thần tượng của thế hệ thanh niên
ngày nay. Hơn thế nữa, Larry Darrell đã trở thành chính hơi thở của mọi người
trai trẻ ở thời đại này. Mỗi người thanh niên hiện nay phải xem quyển The
Razor's Edge của Somerset Maugham là Thánh kinh của thế hệ mình và nên tôn thờ
Larry Darrell như là đấng Cứu Thế của thời đại điêu đứng này. Chú thích: Nói đến
tác phẩm của Somerset Maugham người ta thường ca tụng Philip Carey trong quyển
Of Human Bondage (Servitude Humaine), nhưng thực ra Philip Carey không đáng được
ca tụng; Philip Carey chỉ đáng thương hại và chẳng có gì đáng nói. Philip Carey
chỉ là một hình ảnh thanh niên nhu nhược, yếu đuối, vướng bệnh thương thân
trách phận (“self-pity”) và tầm thường khờ khệch, lăng nhăng, không dám vươn
lên những bầu trời phiêu lãng của Hư vô và Tuyệt Vọng. Viết thêm về Somerset
Maugham Somerset Maugham là tác giả văn chương đầu tiên tôi đọc trong đời; lúc
bé nhỏ khoảng 9 - 10 tuổi gì đó, tôi chỉ đọc loại sách văn chương con nít, những
quyển sách của Contesse de Ségur, Trilby, Swift, Ed. de Amicis, vân vân (tôi
mong rằng lúc nào tôi già được khoảng 80 tuổi thì tôi sẽ viết về những tác giả
của tuổi thơ tôi với những dòng tuyệt đối cao siêu nhất). Tác giả văn chương
người lớn đầu tiên tôi đọc vào khoảng 10-15 tuổi chính là Somerset Maugham; quyển
sách đầu tiên ấy là quyển Of Human Bondage dày khoảng 700 trang. Dạo ấy, tôi
còn sống với cha mẹ tôi ở Mỹ Tho, tôi còn nhớ nằm dài trên ghế sofa và đọc trọn
quyển sách dày 700 trang từ 6 giờ chiều cho đến 9 giờ sáng trọn đêm không hề ngủ
quên một giây! Ôi cái tuổi 15, cái tuổi 16! Cái tuổi yêu đương rạo rực, khát
khao lãng mạn, chứa đựng tất cả những phiêu lưu vĩ đại sau này của trọn đời người… Từ 15 tuổi cho mãi đến 18 tuổi, tôi đọc bao nhiêu sách của Maugham, truyện ngắn,
truyện dài, cảo luận, kịch. Tôi nhớ dạo ấy thư viện Anh British Council còn ở
đường Nguyễn Huệ, suốt ngày tôi cứ ngồi ở đó đọc tất cả những quyển sách của
Somerset Maugham. Năm 18 tuổi, tôi có viết một loạt bài về Maugham đăng trong tạp
chí Bách Khoa, nhưng vì tòa soạn Bách Khoa chỉ cho đăng có một lần thôi và bỏ dở
dang (có ý cho rằng tôi viết dòng lê thê quá), tôi nổi giận bỏ luôn ý định viết
hẳn một quyển sách về Maugham. (Dạo nhỏ tuổi ấy, tôi thường thích viết bài đăng
trong Bách Khoa, nhưng tôi vẫn thường nổi giận và bị cụt hứng thường xuyên vì
tòa soạn Bách Khoa có cái tật kỳ quái là hay cắt bỏ bài viết của tôi, chẳng hạn
tôi viết 20 trang thì họ cắt lại chỉ còn 5 trang là nhiều!) Chừng khoảng 19 tuổi
gì đó, tôi bỏ đọc Maugham, vì lúc ấy, tôi cảm thấy Maugham là một văn sĩ hạng
bét, ông chỉ kể chuyện và tôi thì đã chán tất cả những truyện kể; tâm hồn tuổi
trẻ tôi khao khát những lương thực khó tiêu khác, tôi xô đẩy Maugham vào loại
tác giả viết cho những người chưa trưởng thành! Rồi từ 19 tuổi đến bây giờ, khoảng
10 năm, tôi đã quên Maugham như quên một câu truyện cổ tích bỏ rơi trong kẹt cửa. Bây giờ tôi gần 30 tuổi, tôi mới khám phá lại rằng thích Somerset Maugham đã ảnh
hưởng tôi nhiều nhất vào chính thời gian tôi bỏ quên ông ta! Vì trong khoảng 10
năm gần đây, bây giờ nhìn lại, tôi thấy mình đã sống y hệt như những nhân vật của
Somerset Maugham! Ngay đến cái tật kỳ quái của tôi, cái tật hay nghi ngờ rằng tất
cả đàn bà con gái đều là kẻ ngoại tình, chính cái tật này đã được (bị) di truyền
từ những tác phẩm của Somerset Maugham! Ô, tôi đã tìm ra thủ phạm (ân nhân) rồi! Bây giờ tôi coi nhân vật Larry trong quyển The Razor's Edge như anh chàng nghệ
sĩ làm trò con nít (như cái việc lang thang, nghệ sĩ, tìm đạo, vân vân), nhưng
lúc 18 tuổi, đối với tôi, Larry là một cái gì phóng hiện ra để nói lên mười năm
sau tuổi trẻ tôi. Trong khoảng mười năm gần đây, giống như Larry trong The
Razor's Edge (Le Fil du Rasoir), tôi cũng bày đặt lãng mạn lung tung, cũng lang
thang, nghệ sĩ, tìm đạo, ôi đủ chuyện nhảm nhí buồn cười. Hiện tại, tôi đã chấm
dứt những chuyện lung tung ấy và tôi đang bắt đầu mở một chu kỳ khác cho mười
năm sắp tới; và trong chu kỳ tới, tôi quyết định sống lung tung, sẽ lang thang
tới nơi tới chốn gấp triệu lần lúc trước. Nghĩa là tôi sắp đẩy tất cả cái chất
nghệ sĩ trong tôi cho nổ vỡ tan hoang, một cơn nổ vỡ tan hoang trong sự Im Lặng,
trong một ngàn nỗi im lặng trên tận đỉnh Hy mã lạp sơn. … Tôi xin đánh mật hiệu
bằng ba dấu chấm (…) cho mười năm sắp tới… Phạm Công Thiện Sài Gòn, ngày
12-8-1970 Chương bảy Ý thức siêu thực - Tình yêu trong thơ Apollinaire hay là sự
đồng nhất giữa Thơ và Tình Tặng thi sĩ Ninh Chữ và xin cảm ơn một ngày ở Đà Lạt. 1. Apollinaire là người dân của thế giới, ta không biết gọi chàng là người nước
nào; mẹ chàng là người Ba Lan, cha chàng là Ý đại lợi, trước kia quốc tịch
chàng là Nga, sau chàng đổi lại quốc tịch Pháp, chàng sinh tại La Mã, học ở
Monaco và Pháp, sinh sống ở Đức, giang hồ luân lạc khắp Âu châu, yêu một cô gái
Anh, sau chàng trở về sống ở đất Pháp, làm thơ đăng tạp chí Đức, tham dự chủ động
vào tất cả những phong trào văn nghệ mỹ thuật ở Âu châu vào đầu thế kỷ; cũng
như Blaise Cendrars chàng là lãng tử, lấy tất cả vũ trụ làm quê hương. Apollinaire sinh tại Rome vào ngày 26 tháng 8 năm 1880: tên thực của chàng là
Guillaume - Albert - Wladimir-Alexandre-Apollinaire- Kostrowitzky, thông minh
ngay từ nhỏ, học lớp nào ở ban trung học cũng đều lãnh rất nhiều phần thưởng ưu
hạng; mới 17 tuổi, chàng đã là thi sĩ, thuở nhỏ ngoan đạo lắm, nhưng sau bỏ đạo,
tuy còn nhỏ tuổi, chàng đọc rất nhiều sách và bỏ học lúc chưa đầy hai mươi tuổi,
bước vào đời sống văn nghệ, rồi năm hai mươi tuổi yêu một cô gái Do Thái, tên
là Linda, làm thơ dâng tặng nàng, nhưng lòng nàng (cũng như lòng của nhiều cô
gái) không khác gì chiếc lá khoai “đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu); còn
trái lại lòng chàng (cũng như lòng của tất cả chàng trai) thì như biển sóng còn
“chứa muôn con nước ngàn con sông dài”, Apollinaire thất tình, sang Đức làm thầy
dạy chữ Pháp trong một gia đình quí phái, rồi lại yêu một cô gái người Anh cũng
làm việc ở đó và chàng lại thất tình, rong chơi phiêu lãng mấy nước Âu châu, trở
về làm việc ở Paris, cô đơn đau khổ, tham gia đời sống văn nghệ, kết bạn tâm
giao chí thiết cùng Picasso và Max Jacob, sống đời nghệ sĩ lang thang, la cà những
quán cà phê cùng bạn bè văn nghệ, lòng vẫn hướng về cô gái người Anh thuở ấy
(tên là Annie Playden) nhưng chàng đành tuyệt vọng và suốt đời là một kẻ thất
tình; năm 1907, chàng gặp Marie Laurencin, hai người yêu nhau say đắm, nhưng
sau này cũng chẳng đi đến đâu, nàng lấy chồng vào năm 1914; ít lâu sau,
Apollinaire tự ý xin nhập ngũ, chàng thi sĩ quan nhân ấy gặp lại nàng Louise de
Coligny Châtilion (tức là Lou trong những bài thơ của chàng) và chàng say mê
nàng; thi sĩ vốn đa tình, trong một chuyến xe lửa, chàng gặp một cô gái khác
tên là Madeleine Pages, chàng cũng say mê luôn; năm 1916, chàng bị một mảnh tạc
đạn đâm thủng vào đầu, chàng bị thương, rồi băng đầu trở về Paris lay lắt sống
đời nghệ sĩ trong mấy quán cà phê văn nghệ và Apollinaire chết vào ngày 9 tháng
11 năm 1918; chàng chết lúc mới 38 tuổi, cuộc đời chàng bị cắt đứt lưng chừng
nhưng chàng vẫn trở thành mặt trời sáng rực trong vũ trụ thi ca hiện đại. 2. Apollinaire trông to lớn; tướng người hiên ngang, nhưng nét mặt buồn buồn, nhất
là đôi mắt, đôi mắt đau khổ mơ mơ màng màng. Jean Cocteau nói rằng Apollinaire
có con mắt tròn tròn của con chim hoạ mi [1]; André Billy nói rằng Apollinaire
vốn vui tính, yêu đời, tò mò, tọc mạch,ham thích dị vật hiếm, thích lông bông
và tế nhị (ce bon vivant, cet amateur de raretés et de curiosités, ce
dilettante, ce raffiné) [2] … Gertrude Stein có nhắc nhiều đến Apollinaire. Bà
nói rằng Apollinaire rất khả ái, dễ cảm, dễ thương, đẹp trai thông minh rực rõ
dị thường “Guillaume Apollinaire was very wonderful… Apollinaire was very
attractive and very interesting… Guillaume was extraordinarily brilliant…) [3].
Bà nói thêm rằng từ ngày Apollinaire chết, những bạn văn nghệ đều chia rẽ nhau,
nếu Apollinaire còn sống thì chàng sẽ nối kết lại hết vì chàng có đức tin ràng
buộc giữ gìn tình bè bạn giữa anh em (Guillaume would have been bond of union,
he always had a quality of keeping people together, and now that he was gone
everybody ceased to be friends…). Đọc lại những tập hồi ký của André Rouveyre,
Vlaminck, André Salmon, Toussaint Luca, Francis Carco, Faure Favier, vân vân,
tôi thấy tất cả bạn bè của Apollinaire đều tỏ lòng yêu quý, mến thương chàng vô
cùng tính tình của Apollinaire hiền lành lịch sự dễ dãi, hết lòng tử tế với anh
em bạn.[tran1] Mặc dù là một nhà thơ rất “avant- gardiste”, rất “lập dị” nhưng
tính tình của Apollinaire không “du côn ngang tàng xấc xược” như Rimbaud,
Apollinaire không phải là loại poète maudit; tính tình chàng không khó khăn,
không cuồng loạn đầy thịnh nộ như những poète maudits (như Lucrèce, Rimbaud,
Antonin Artaud, Ezra Pound, Hart Crane, Baudelaire, Mayakovsky…) Những nhà thơ
thường hay lười biếng, thi sĩ thường hay ít đọc sách, nhưng Apollinaire lại đọc
sách rất nhiều, nhiều hơn cả những học giả (T. S. Eliot, Pound hay Kenneth
Rexroth cũng thế) nhưng mặc dù đọc sách rất nhiều, thơ của Apollinaire không
nhiễm không khí bác học thông thái như thơ của T. S. Eliot, K. Rexroth hay
Pound, Apollinaire cũng giống như Leopardi, là nhà học giả trước khi là nhà
thơ, nhưng khi họ làm thơ, thì thơ họlà thơ thuần túa. Đứng giữa thời đại kỹ
nghệ, cơ khí, Apollinaire không có những bực bộ phẫn nộ phản kháng; chàng không
phải là l’ homme révolté; chàng không cảm thấy “xa lạ, mất gốc, bị đày” như
Melville hay Kafka; chàng không có cảm giác bi đát trước cuộc đời như Unamuno;
chàng không phũ phàng cuồng nộ bơ phờ như Knut Hamsun, Strindberg hay D. H.
Lawrence; đời sống thành phố không làm náo động thần kinh chàng (Knut Hamsun
nghĩ rằng đời sống thành thị đã ăn mòn con người). Đứng trước chiến tranh,
chàng không phản kháng chống đối theo kiểu Hermann Hesse, Romain Rolland hay
Bertrand Russell; đối với chàng, những trái phá tạc đạn rực trời đẹp đẽ không
khác gì pháo bông; ở giữa mặt trận, chàng mơ màng ngắm tạc đạn nổ tung “như cây
trinh nữ trổ hoa.” Un obus éclatant sur le front de l’armée Un bel obus
semblable aux mimosas en fleurs (Poèmes à Lou) Chàng không mạt sát văn minh,
chàng không chạy trốn bỏ Âu châu và Mỹ châu lại đằng sau như Rimbaud hay
Lafcadio Hearn. Chàng không có những khắc khoải siêu hình như những thiên tài
khác. Ta thấy những thiên tài khai sinh nền văn học hiện đại đều là những kẻ
xao xuyến khắc khoải, thác loạn (như Nietzsche, Kierkegaard, Lautréamont,
Dostoievsky, Melville, Strindberg, Kafka, Joyce, Rimbaud.) Rimbaud và
Apollinaire đã khai sinh ra nguồn thơ hiện đại (Blaise Cendrars và Max Jacob
cũng có tham dự vào việc khai sinh này). Trường thơ siêu thực đã tôn
Apollinaire (cùng Rimbaud và Lautréamont) là những kẻ tiền phong, những người
cha khai sinh ra thơ mới. Cùng với Rimbaud và Lautréamont, Apollinaire đã mở ra
những chân trời bát ngát cho thi ca hiện đại, nhưng ngược lại với Rimbaud và
Lautréamont, Apollinaire không sống ở hỏa ngục, Apollinaire không điên loạn ma
quỷ như Rimbaud và Lautréamont, Apollinaire rất “trần tục”; Apollinaire cũng có
những khắc khoải, Apollinaire cũng đau khổ; nhưng những khắc khoải đau khổ của
Apollinaire không đến nỗi khiến chàng điên cuồng hoặc tự tử, những khắc khoải
đau khổ của chàng không đến nỗi khiến chàng phải bỏ làm thơ như Rimbaud; trái lại
càng đau khổ, Apollinaire lại càng làm nhiều thơ. Apollinaire đau khổ, nhưng
đau khổ của Apollinaire là nỗi đau khổ của một con người hồn nhiên; chàng ngây
thơ lắm; đọc thơ chàng (nhất là trong tập Poèmes à Lou), ta thấy chàng hay làm
thơ với những danh từ tục tĩu “đỏ mặt” (Henry Miller, D. H. Lawrence cũng thế).
Những dòng chữ tả chân “tục tĩu” của Alberto Moravia (hay Erskine Caldwell)
mang một dụng ý phong phú, nhưng không ngây thơ hồn nhiên như Apollinaire (Tôi
nhớ đến truyện “The Innocent” của Graham Greene; truyện này giúp ta hiểu rõ hơn
về tương quan giữa sự tục tĩu và sự ngây thơ.) • Apollinaire ngây thơ; •
Apollinaire không bạo động, không phẫn nộ, không điên loạn, không tuyệt vọng; •
Apollinaire không bận tâm thù ghét chiến tranh, không thù ghét văn minh, đời sống
kỹ nghệ máy móc hay đời sống thành thị; • Apollinaire là học giả sâu rộng mà
không làm thơ tư tưởng hay thơ triết lý hay thơ siêu hình. Đó là những nét
chính mà tôi đã thấy trong con người Apollinaire. Những nét chính trên đã đi
ngược hẳn với trào lưu văn học và tư tưởng hiện đại. Văn học hiện đại thì quá
già dặn, hết ngây thơ hồn nhiên, có chứa phức cảm tội lỗi, bạo động, phẫn nộ,
điên loạn, thù ghét chiến tranh, chán mứa văn minh kỹ nghệ máy móc; nhìn chung,
tiểu thuyết hay kịch hiện đại đều là nặng nề về tư tưởng; thơ hiện đại chỉ thừa
hưởng những khám phá kỹ thuật của Apollinaire (và của Blaise Cendrars) còn về
đường tư tưởng thì thơ ca hiện đại đi ngược hẳn màu sắc trữ tình; thơ hiện đại
là thơ triết lý hoặc thơ tôn giáo. Về nội dung tư tưởng, Apollinaire đã đi ngược
lại những trào lưu chính của nền văn học hiện đại, nhưng về kỹ thuật hình thức,
thì thi ca hiện đại đều nằm trong hơi thở của Apollinaire. 3. Nói đến con người
Apollinaire mà không nói đến Tình yêu là không nói được gì cả. Có những người
sinh ra đời chỉ để yêu đàn bà và mọi sự trong đời họ đều bị đàn bà chi phối
mãnh liệt. Apollinaire thuộc vào hạng người này. Tình yêu đã ảnh hưởng quyết định
đến sự nghiệp thi ca của Apollinaire. Đối với Apollinaire, Cuộc Đời, Thơ và
Tình Yêu chỉ là Một; Cuộc Đời là Tình Yêu, tất cả mọi sự đều dẫn về Tình Yêu.
Ta có thể gọi những thi sĩ nào ở thế giới là thi sĩ của Tình yêu? Robert Burns?
Giacomo Leopardi? Christopher Marlowe? So wol Kim? Byung Wha Cho? Sappho?
Pétrarque? Heine? Tất cả những thi sĩ không nhiều thì ít đều ca tụng Tình yêu;
Tình yêu đã ảnh hưởng mãnh liệt đến Rainer Maria Rilke, nhưng Rilke vẫn xem
tình yêu như “gia tăng thêm sự cô đơn” và suốt đời Rilke vẫn lang thang đi tìm
“một quê hương tâm linh” mặc dù Rilke đã chết vì đoá hoa hồng của Tình yêu,
nhưng phải gọi Rilke là thi nhân của Tâm linh (Gabriel Marcel gọi Rilke là
“témoin du spirituel”; danh từ “Thi nhân của Tình Yêu” phải dành cho Pétrarque
hay, gần đây hơn, phải dành cho Apollinaire. Pétrarque đã bất tử nhờ mối tình của
thi nhân đối với Laura; Apollinaire đã bất tử là nhờ những mối tình của thi
nhân đối với Anne với Marie, với Lou, với Madeleine. Tất cả nhân sinh quan hay
vũ trụ quan của Apollinaire đều trở về trung tâm điểm là người đàn bà. Có người
làm bao nhiêu bài thơ chỉ để ca tụng con người trong đời sống hiện đại (như
Walt Whitman), có người làm bao nhiêu bài thơ khóc than cho nỗi bi thương của
mình (như Leopardi), có người làm thơ để đọc kinh cho nỗi cô đơn mãnh liệt của
mình (như Hàn Mặc Tử và Hoài Khanh), có người làm thơ ca tụng Thượng đế, để tìm
Vô hạn (l’inépuisable) trong Hữu hạn (như Paul Claudel), có người làm thơ để
tìm Thượng Đế ở Hoả Ngục (như Rimbaud), có người làm thơ chỉ để ca tụng “ngày
mai ca hát” (như Bertolt Brecht), nhưng cũng có người làm hàng ngàn bài thơ chỉ
để ca tụng một người đàn bà đó là Apollinaire. Apollinaire tham lam, suốt đời
chỉ chạy loanh quanh lẩn quẩn với hình bóng nàng này và mái tóc nàng kia,
Apollinaire nhìn ở đâu cũng thấy những giai nhân; suốt đời chàng cứ bận rộn với
những nàng con gái “xinh như mộng”; mặc ai đánh giết nhau, thế giới có tơi bời
lửa đạn đi nữa, Apollinaire cũng chẳng hề nhọc óc, chàng cứ thản nhiên làm thơ
gửi về “những nàng con gái bên kia ấy”; đang lúc khỏi lửa và đạn bay vèo đầy trời,
Apollinaire vẫn thản nhiên mơ mơ màng màng ở giữa trận tuyến; chàng nhìn mọi sự
vật trên đời với cặp mắt mơ màng của một người đang yêu, bởi thế chiến tranh
không ảnh hưởng gì đến chàng cả; cả vũ trụ của chàng chỉ có nàng: nhìn ở đâu,
chàng Gui (Guillaume) Apollinaire cũng đều thấy nàng Lou; ở giữa trận tuyến lửa
đạn nghi ngút đầy trời, thi nhân mơ màng: La nuit S’achève Et Gui Poursuit Son
rêve Où tout Est Lou On est en guerre Mais Gui N’y pense guère Đêm tàn Và chàng Mơ màng Chỉ thấy Tất cả Là nàng Chiến tranh Nhưng chàng Vẫn chẳng hề màng Đứng
trước cuộc đời, chàng cũng có thái độ như thế. Cần gì bạo động cần gì phẫn nộ
phản kháng, ai muốn làm gì cứ làm, ai muốn nghĩ gì nghĩ, tôi chẳng xao xuyến gì
cả, tôi dửng dưng hết, bởi vì thế giới của tôi chỉ có một hình bóng mà thôi.
Apollinaire chẳng cần thắc mắc xao xuyến trước ý nghĩa của cuộc đời, chẳng cần
run run đi tìm Thượng đế, bởi vì đối với Apollinaire, Thượng đế là nàng Anne,
là nàng Lou, là nàng Marie, là nàng Madaleine, là nàng có tên gọi là la Jolie Rousse. Có những kẻ thất tình vài lần thì mất tự tin và tuyệt vọng rồi trở thành triết
gia hoặc kẻ độc tài (như Hitler); Nietzsche và Schopenhauer rút cục lại chỉ là
những kẻ thiếu tình yêu của đàn bà và trở thành thù ghét đàn bà; những
misogynes chỉ là những kẻ đại thất tình; nhưng càng thất tình, chàng càng đeo
miết mấy cô, mỗi lần bị thất tình, chàng cũng đau khổ dữ dội lắm, chàng cũng thất
vọng, nhưng không bao giờ tuyệt vọng; nàng Anne không yêu chàng, chàng đau khổ
quằn quại lắm, nhưng rồi chàng lại đi tìm nàng Anne khác (như Marie, như Lou,
vân vân). Xin hoan hô tư cách “đàn ông” của Apollinaire. Dại gì khổ mãi? Hãy
bôi sạch những nàng tiên đã đi qua trong đời mình, vì cả vũ trụ này còn có những
mấy mươi trăm triệu nàng tiên khác đang rụt rè chờ đợi mình! Có những triết gia
mà cả đời không trả lời được một câu hỏi; trái lại, ta tưởng chừng như
Apollinaire trả lời rất dễ dàng. Nếu ta hỏi cuộc đời là gì? Có lẽ Apollinaire sẽ
trả lời: là chàng yêu nàng. Thơ là gì? Thơ là em. Triết học là gì? Là lời em thỏ
thẻ. Nietzsche đã từng gọi “chân lý” là một “cô nàng”! Và ai thấy lời thỏ thẻ
nào của nàng Lou Salomé đang run rẩy đằng sau những trang triết lý cuồng nộ của
Nietzsche! Apollinaire không chạy trốn cuộc đời (như Kafka, Hemingway, Sadegh
Hedayat, vân vân); chàng bám vào cuộc đời, chàng nghiến ngấu cuộc đời như nhai
một trái đào tươi, chàng uống cuộc đời như say mê uống ly rượu mạnh; bởi vì đối
với chàng, cuộc đời là tình yêu. Đối với Apollinaire, tất cả đều mất hết biên
giới: Cuộc Đời, Thơ và Tình Yêu lộn lẫn với nhau và chỉ có một ý nghĩa với
nhau, Hư và Thực chỉ là một, Vô Hạn và Hữu Hạn chỉ là một, L’intérieur và
L’extérieur của L’existant chỉ là một; Phénomène và Noumène chỉ là một, Trắng
hay Đen chỉ là một, Chiến tranh hay Hoà bình chỉ là một, Essence và Existence
chỉ là một; En - soi và Pour - soi chỉ là một; Sunyata và Tathata chỉ là một;
Logique và Alogique chỉ là một; Xấu và Đẹp chỉ là một; Thành phố và Đồng quê chỉ
là một; Tầm Thường và Cao Siêu chỉ là một; Dơ dáy và Sạch sẽ chỉ là một, và Một
là gì? Một là Nàng. Một là chàng yêu nàng và nàng yêu chàng. Khi Hai trở thành
Một thì cả vũ trụ giao hòa thuận hợp. Khi Hai trở thành Một thì Hỗn Độn trở
thành Trật Tự. Một là gì? Một là Tuyệt đối. Một là Siêu Thực Tại (Surréalité).
Apollinaire đã khai sinh ra chữ “Surréalité” và từ đó phong trào Surréalisme
chào đời để khai thác lĩnh vực hoang vu mà Apollinaire đã tìm ra. Nhưng chính
trường phái gọi là “Surréalisme” lại đánh mất Surréalité! Giống như Bouddhissme
đánh mất Bouddha và Christianisme đánh mất Christ! Sống và Chết chỉ là một. Thực
tại và Tưởng tượng chỉ là một, Quá khứ và Tương lai chỉ là một, Trên và Dưới chỉ
là một. Khi Hai trở thành Một thì mọi Mâu Thuẫn đều chấm dứt. TÔI LÀ CUỘC ĐỜI,
TÔI LÀ ÂM THANH, và ÁNH SÁNG, TÔI LÀ XÁC THỊT ĐÀN ÔNG. Je suis la Vie… Je suis
le Son et la Lumière Je suis la Chair des Hommes (Poèmes retrouvés) Khi HAI ôm
thành MỘT, ta có thể khiêu khích thách đố cả sự chết và ta có thể gọi xanh là đỏ,
gọi trắng là đen, gọi sáng là chiều: Et liés l’un à l’autre en une étreinte
unique Nous pouvons défier la mort et son destin Quand nos dents claqueront en
claquement panique Nous pouvons appeler soir ce qu’on dit matin (Poèmes à Lou) Đứng trước Tình yêu, Kafka cảm thấy bàng hoàng trước cái vật “gớm tởm”
(abscheulich) và “dơ dáy” (schmutzig). Kafka chán sợ trước cái nhầy nhụa của
xác thịt, bởi thế khi Kafka định tìm giải thoát khỏi sự ám ảnh Hư Vô, Kafka
không thể tìm trong Tình Yêu và chàng đã thất bại đau đớn. Đối với Apollinaire
thì trái ngược hẳn với Kafka, Apollinaire thần tượng hoá Tình Yêu; Apollinaire
ngây thơ, chứ không mang nặng phức cảm tội lỗi như Kafka. Apollinaire hồn nhiên
và trước sự nhầy nhụa ấy Apollinaire vẫn hoàn toàn “trong sạch như bầu trời đẹp”. Tu peux défier ma volonté sauvage Je peux me prosterner comme vers un autel Devant ta croupe qu’ensanglantera ma rage. Nos amours resterons pures comme un
beau ciel. (Xin miễn dịch) (Poèmes à Lou) Đối với chàng, những mối tình cao thượng
không bao giờ xấu xa tội lỗi. Tình yêu là thiêng liêng.
4. Không hiểu mấy ngày
vừa qua, tôi lừ đừ bơ phờ như một kẻ bị giam hãm trong ngục tù. Chẳng có lý do
gì. Bỗng nhiên chán nản hết mọi sự. Thù ghét hết mọi sự. Lấy bút ra định viết
ít bài đăng báo, viết được chục trang rồi xé liệng, toàn là những ý tưởng lăng
nhăng bệnh hoạn. Lấy tiểu thuyết ra đọc để lấy tinh thần, đọc chừng năm trang
đã thấy mệt và cũng chẳng biết mình đang đọc gì; đôi mắt nhìn vào mấy dòng chữ
mà tâm trí đang bềnh bồng nơi khác. Đứng dậy định bước chân ra ngoài nhưng rồi
ngồi xuống vì không biết đi đâu. Đi mà không biết đi đâu. Ngồi: không biết ngồi
làm chi. Viết: chẳng biết viết gì. Muốn làm một cái gì: chẳng biết làm gì bây
giờ. Tôi bước đi quờ quạng trong phòng; tình cờ bàn tay thờ ơ rờ mó vào tập thơ
Hàn Mặc Tử. Tôi bơ phờ giở ra đọc bâng quơ. Thời gian bỗng ngừng lại. Đôi mắt
tôi sáng lên. Tôi ngồi xuống. Trời tối. Ánh nắng chiếu vàng vọt yếu ớt. Tôi cố
gắng trừng mắt đọc. Tôi đọc. Chừng năm phút sau tinh thần tỉnh lại. Thần kinh hết
căng thẳng. Hết những chán chường thất vọng. Tôi cười. Một người bệnh nan y và
cô đơn ở trong một túp lều tranh tồi tàn. Nỗi chán chường bơ phờ của tôi không
có nghĩa lý gì cả nếu so với nỗi bơ phờ tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử: Mây chết đuối
ở dòng sông vắng lặng Trôi thây về xa tận cõi vô biên Tôi hết thất vọng chán mứa.
Tôi hết mất mát. Thơ làm tôi sống lại. Thơ giải thoát tôi ra khỏi vòng tù hãm
nhọc nhằn của cuộc sống. Thơ đặt tôi trước đời sống. Tôi mỉm cười bước xuống
nhà dưới, tình cờ thấy tờ giấy báo dơ nằm dưới đất, tôi lượm lên đọc bâng quơ: Mùa thu đêm mưa phố cũ hè xưa công viên lá đổ ngóng em kiên khổ phút giờ Mùa
thu âm thầm Bên vườn Lục Xâm ngồi quen ghế đá, không em buốt giá từ tâm mùa thu
nơi đâu người em tóc nâu tóc vàng sợi nhỏ? Mong em chín đỏ trái sầu… (Cung Trầm
Tưởng) Tôi ngạc nhiên. Tim tôi máy động. Cung Trầm Tưởng là ai mà làm thơ tài
hoa vậy? Tôi mơ màng. Tôi hình dung những chiếc lá rơi. Tôi nhìn thấy dòng sông
Seine lững lờ trôi chảy. Kia là tả ngạn Rive Gauche… Kia là đường phố Aumont-
Thiévil và l’ avenue des Ternes… Kia là những kẻ tứ chiến giang hồ… Kia là cầu
Mirabeau… Kia là mùa thu rơi… Kia là Pont - Neuf. Ôi Paris Souvenir Souvenirs…
Remember to Remember… Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Apollinaire. Ừ, chỉ có
Apollinaire mới có những giòng thơ bất tuyệt để làm sống lại Paris. Nói đến
Paris là nói đến Kỷ niệm, nói đến Nghệ sĩ, là nói đến Tình yêu và Tuổi trẻ.
Paris là thành phố của những kẻ tứ chiếng giang hồ, của những clochards của những
femmes de joie, của những Henry Miller, những Hemingway, những Gertrude Stein,
những Picasso, những Apollinaire… Mùa thu nơi đâu người em mắt nâu tóc vàng sợi
nhỏ Mong em chín đỏ trái sầu Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Apollinaire… J’
ai cueilli ce brin de bruyère L’ automne est morte souviens t’en Nous ne nous
verrons plus sur terre Odeur du temps brin de bruyère Et souviens-toi que je t'
attends Cũng vào mùa thu, Cung Trầm Tưởng ngóng người yêu “kiên khổ phút giờ”
và “chín đỏ trái sầu”, ngóng chờ mong đợi như Apollinaire đã ngóng chờ mong đợi
giữa hương thời gian và mùi thạch thảo: Odeur du temps brin de bruyère Et
souviens-toi que je t' attends Trời tối hẳn rồi. Tôi bước vào giường nằm ngủ, mắt
nhắm lại, những dòng thơ của Hàn, của Cung, của Apollinaire chan hòa thướt tha
đưa tôi vào giấc ngủ triền miên… 5. Sáng sớm, tôi sực thức giấc. Tôi thở khoan
khoái. Giấc ngủ êm đềm đã xóa nhòa tất cả những khắc khoải của mấy ngày qua.
Tôi bước ra ngoài vườn; gió cao nguyên lạnh buốt. Mặt trăng còn chiếu sáng. Bỗng
nhiên tôi sực muốn viết về Apollinaire. Bỗng nhiên… Ừ, chắc những dư vang của tối
hôm qua còn đọng lại sau giấc ngủ nhẹ nhàng. Tôi bước vào nhà vội vã ngồi vào
bàn. Nhưng… nhưng mà viết gì đây? Có thể viết về Apollinaire sao? Viết thế nào?
Viết về thơ Apollinaire? Không thể được. Có thể phê bình thơ Apollinaire?
Không. Ừ, không gì vô lý bẩn thỉu bằng cái việc phân tích phê bình thơ. Nói đến
thơ thì chỉ có việc ca tụng hoặc thờ phụng. Nói đến Thơ không khác gì nói đến
Thượng đế. Phê bình Thơ là làm việc phạm thánh, là “blasphème.” Nhưng thi sĩ
không phải là loài người, họ là những thiên thần, những thánh hoặc những quỷ ma. Nếu ta không chấp nhận họ được thì ta phải ca tụng họ hết lời. Ta không được
quyền có thái độ của học giả hoặc giáo sư hoặc nhà phê bình. Phải giết hết những
nhà phê bình để cho Keats sống, để cho Chatterton đừng chết lúc mới 18 tuổi
xanh! Anh không thể cảm thơ người ta thì anh hãy im lặng; còn nếu cảm được thì
anh hãy tha thiết ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những nhà phê
bình thơ mà chỉ nên có những kẻ ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người; không
có ai làm thầy ai cả. Phê bình văn nghệ ư? Đau đớn lắm. Giở lại mấy trang của
André Rousseaux trong quyển Littérature du vingtième siècle (cuốn thứ 6), tôi đọc
đôi lời thú nhận của học giả già dặn: “Il est très difficile de parle vraiment
d’ Apollinaire.” Ừ, không thể nào nói về Apollinaire cho đàng hoàng được. Đối với
những thi hào đều thế. Đối với Rimbaud cũng thế. Blaise Cendrars cũng thế.
Miloz, Lorca, Georg Trakl, Seferis, Cummings, Blake, Dylan Thomas, Kathleen
Raine, Cavafis cũng thế. Đây không phải là một bài khảo luận. Xin anh đừng kiếm
sự quảng bác thông minh. Tôi không biết lý luận; tôi không biết phân tích và
phê bình. Tôi chỉ biết ca ngợi. Tôi ca ngợi: Apollinaire là thiên tài của nhân
loại; Apollinaire là hiện thân của thơ; Apollinaire là mây trắng của vòm trời
xanh bất diệt… Chú thích: [1] Les Écrivains célèbres, éditions Lucien Mazenod cuốn III,
trang 195. [2] Apollinaire, Oeuvres poétiques, bibliothèque de la Plélade,
préface, Paris. XXXII. [3] Gertrude Stein, The Autobiography of Alice B. Toklas,
trang 58-63 (Random House, N.Y.) Tập Alcools là tập thơ tuyệt vời nhất của
Apollinaire; tập Calligrammes mang nặng màu sắc “avant-gardiste”; những tập thơ
khác của Apollinaire (như Poèmes à Lou, Le Guetteur mélancolique, II y a, Vitam
Impendce Amori, v.v…) chứa đựng hương sắc trữ tình nồng nàn ân ái vô tận. Tập
thơ đầu tiên của Apollinaire là tập Le Bestiaire ou cortège d’ Orphée. Tập thơ
này không lôi cuốn như tập Alcools, nhưng thỉnh thoảng tập Le Bestiaire cũng
lóe lên vài ánh ngọc lung linh như: Belles journées, souris du temps Vous
rongez peu à peu ma vie Phòng của tôi có vài ba con chuột: tối ngủ mấy con chuột
ấy cứ gặm phá ồn ào, tôi bực mình lắm. Đọc hai câu trên của Apollinaire tôi
toát mồ hôi, tôi không bao giờ nghĩ được hình ảnh lạ lùng như thế. Ôi chuột thời
gian mi gặm nhấm ăn mòn cuộc đời của ta!... Belles journées, souris du temps Vous rongez peu à peu ma vie Tập Alcools mở đầu với bài thơ “Zone”, một trong
những bài thơ lạ lùng nhất của Apollinaire và của thi văn hiện đại ở thế giới: A la fin tu es las de ce monde ancien Bergère ô tour Eiffel le troupeau des
pónt bêle ce matin. Thế rồi sau cùng mi chán thế giới cũ kỹ này Ô kẻ chăn cừu Hỡi
tháp Eiffel đoàn cừu của nàng là những cây cầu kêu be be sáng nay Chắc
Apollinaire là một thiên thần mới có thị quan khơi vơi như trên? Phải chăng
thiên thần Apollinaire bay liệng trên thành phố Paris và tưởng tháp Eiffel là một
kẻ chăn cừu và những cây cầu rải rác là một đoàn cừu? Kẻ chăn cừu ấy là một
nàng con gái: Bergère ô tour Eiffel… Thành phố Paris hiện ra huy hoàng, tôi bước
đi lang thang vào một con đường xinh xinh mơ màng quên hết mọi sự: J’ ai vu ce
matin une jolie rue don’t j’ai oublié le nom Neuve et propre du soleil elle
était le clairon. Sáng nay tôi thấy một con đường xinh đẹp mà tôi đã quên tên Mới
tinh và sạch sẽ như kèn lính của mặt trời Thành phố huyên náo nhộn nhịp, ốc hụ,
chuông gắt gỏng (“cloche rageuse”), những bảng hiệu, những tờ cáo thị, con đường
kỹ nghệ yêu kiều (“la grace de cette rue industrielle”) tôi nhớ tuổi thơ ngoan
đạo hồn nhiên trong trắng (“vous priez toute la nuit dans la chapelle du
collège”), dĩ vãng xinh đẹp chim én bay đầy trời, nhưng hỡi ơi, hiện tại chỉ là
nỗi cô đơn buồn sầu héo: Maintenant tu marches dans Paris tout seul parmi la
foule Des troupeaux d’autobus mugissants près de toi roulent L’angoisse de
l’amour te serre le gosier Bây giờ mi đi bách bộ ở Paris và cô đơn chiếc bóng
giữa thiên hạ người đời Những đàn cừu ô tô buýt kêu rống chạy gần mi Nỗi đau đớn
ray rứt của tình yêu bóp cổ họng mi. Đi giữa thành phố Paris, bước lang thang
vào con đường xinh xắn, Apollinaire bỗng dưng nhớ đến tuổi thơ của chàng, người
thi sĩ ấy nhớ lại tuổi hoa niên ngây ngô trong trắng, chưa lấm bụi đời, cái tuổi
đầy mơ mộng, cậu bé nhỏ mặc áo xanh trắng ấy đã đọc kinh ngoan đạo và mơ mộng hồn
nhiên ngây thơ vô cùng; nhưng hỡi ơi dĩ vãng xanh mộng ấy đã qua rồi và hiện tại
chỉ phũ phàng cay đắng, ngày xưa là xinh đẹp vô tư lự, nhưng bây giờ chàng đau
khổ cô đơn, đang bước đi lang thang giữa đường phố đông người và đang đau đớn
thất tình: L’angoisse de l’amour te serre le gosier. Đau khổ quá, chàng lẩm rẩm
đọc kinh giữa đường phố, nhưng chàng giật mình hổ thẹn khi bắt chợt mình đang đọc
kinh (bởi vì từ lâu, chàng đã mất đức tin và không còn ngoan đạo nữa, tuổi thơ
sùng đạo mất rồi), chàng cười ra nước mắt: Vous avez honte quand vous surprenez
à dire une prière Tu te moques de toi et comme le feu de l’ Enfer ton rire
pétille Les étincelles de ton rire dorent le fonds de ta vie Anh hổ thẹn lúc
anh bắt chợt anh đang đọc kinh Mi chế nhạo mi và như lửa ở Hỏa Ngục tiếng cười
mi nổ lẹt đẹt. Những đóm lửa của tiếng cười mi mạ vàng đáy sâu của cuộc đời mi
Cười chua chát, chàng tiếp tục bước đi lang thang giữa đường phố Paris: Aujour
d’hui tu marches dans Paris les femmes sont ensanglantées Hôm nay mi đi bộ ở
Paris những người đàn bà loang máu Lòng chàng, tim chàng cùng loang máu, tình
yêu ám ảnh chàng vô cùng mãnh liệt, tình yêu hành hạ chàng một cách tủi nhục
(“l’amour dont je souffre est une maladie honteuse”), bước đi lang thang ở
Paris, chàng nhớ đến những chuyến giang hồ, những chuyến viễn trình trong đời
chàng những mẩu tình vụn vặt chàng đã gặp trên bước lang thang hải hồ, những
chuyến đi ở Prague, ở Marseille, ở Coblence, ở Rome, Amsterdam… Chàng làm những
chuyến giang hồ vui và buồn, chàng đã thất tình lúc hai mươi tuổi và lúc ba
mươi tuổi. J’ai vécu comme un fou et j’ai perdu mon temps. Tôi đã sống như một
thằng điên và tôi đã đánh mất thời gian. Chàng không dám nhìn hai bàn tay chàng
(“tu n’oses plus regarder tes mains’) và chàng muốn khóc nức nở, khóc cho
chàng, cho người chàng yêu, cho tất cả những khi bẽ bàng kinh hãi. Chàng tiếp tục
bước đi giữa thành phố Paris và đến một quán nước, chàng dừng chân lại: Tu es
debout devant le zine d’un bar crapuleux Tu prends un café à deux sous parmi
les malheureux Tu es la nuit dans grand le restaurant. Mi đứng trước quầy rượu
bẩn thỉu dâm ô. Mi uống cà phê rẻ tiền giữa những người đau khổ. Ban đêm mi
đang ở trong một nhà hàng sang trọng. Đêm sắp tàn bình minh ló dạng: Tu es seul
le matin va venir, Les laitiers font tinter leurs bidons dans les rues Mi cô đơn
và ngày sắp đến Những người bán sữa khua động bình thiết trên những đường phố.
Những âm thanh của buổi sáng tinh mơ trỗi dậy: đường phố khua động du dương,
chàng nâng ly lên uống rượu trước khi rời bỏ quầy hàng. Et tu bois cet alcool
brûlant comme ta vie Ta vie que tu bois comme une eau-de-vie. Và mi uống rượu nồng
cháy như cuộc đời mi Cuộc đời mi mà mi uống như rượu mạnh. Chàng bước trở về
nhà để ngủ một giấc miên man. Mặt trời lưng chừng thoáng hiện. Adieu Adieu Soleil cou coupé Giã biệt giã biệt Mặt trời cổ bị cắt Bài thơ “Zone” chấm dứt
như trên. Tôi muốn trích trọn bài “Zone” vào đây, nhưng bài thơ dài quá, dài đến
sáu trang giấy. (Xin xem phần chú thích) [1] . Bài “Zone” là bài thơ tiêu biểu
nhất của Apollinaire. Người ta than rằng bài “Zone” khó hiểu. Tôi đã đọc hết cả
những tập thơ Apollinaire từ xưa, thế mà từ đó đến nay không có bài thơ nào ảnh
hưởng tôi mãnh liệt như bài “Zone”, có những bài thơ mà hồi còn trẻ nhỏ ta rất
say mê nhưng đến lúc lớn khôn ta không thích, nhưng ngược lại cũng có những bài
thơ mà càng lớn tuổi ta càng say mê hơn nữa. “Zone” nằm trong trường hợp sau.
Thực ra, bài “Zone” chẳng có gì khó hiểu. Có khó hiểu chăng là vì quá nhiều
hình ảnh lạ lùng dồn dập hoà lẫn với nhau và biên giới thời gian không gian đã
mờ nhạt đi, không còn thứ tự thường lệ nữa. Hầu hết thi ca hiện đại đều thế. Ta
từng đọc những quyển tiểu thuyết khác thường của Faulkner và James Joyce, James
Joyce và Faulkner đã sử dụng lối độc thoại nội tâm (monologue intérieur) trong
tiểu thuyết. Apollinaire (và nhất là T. S. Eliot) đã xử dụng lối độc thoại nội
tâm trong thơ. Bài “Zone” (hay bài “Cortège”) của Apollinaire chỉ là những bài
độc thoại nội tâm thường khó hiểu đối với những người quen đọc lối văn cũ. Chủ
đề bài “Zone” là gì? Theo tôi đó là một bài trầm buồn của một người thất tình
Apollinaire là một nhà thơ của Tình yêu; những bài thơ tuyệt vời nhất của
Apollinaire đều là những bài hát của kẻ thất tình. Bài “Zone” đưa ta vào những
đường phố Paris; Apollinaire buồn chán đi lang thang trên những đường phố Paris
từ sáng đến chiều tối, rồi đến khuya sáng hôm sau mới trở về nhà mà ngủ. Đang
lúc Apollinaire lững thững bước đi, những hình ảnh tưng bừng của Paris và ngày
xưa trở về xuất hiện lộn xộn trong tâm tưởng chàng, chàng thấy lại lúc bé thơ
ngây thơ hồn nhiên, chàng thấy lại những lúc bé thơ ngây ngô hồn nhiên, chàng
thấy lại những lần lang bạt kỳ hồ ở bờ Địa trung hải, ở Prague, ở Marseille, ở
Coblence, Rome, Amsterdam; đang lúc chàng đi lang thang ở Paris, những hình ảnh
ấy sống lại trong tâm tưởng chàng; mỗi bước chân chàng gợi lại những quãng đời
chàng, những hình ảnh hiện tại và quá khứ xuất hiện lẫn lộn trong tâm tưởng của
một chàng thi sĩ thất tình đau khổ; đêm tàn buổi sáng trở về; trước khi về nhà
ngủ, chàng uống một ly rượu mạnh như uống cuộc đời chàng: Et tu bois cet alcool
brûlant comme ta vie. Ta vie que tu bois comme une eau - de - vie. Hai câu thơ
trên là hai câu thơ hay nhất của bài “Zone”; Apollinaire đã lấy chữ Alcool
trong hai câu thơ ấy để đặt nhan đề tập thơ Alcools. Khi viết bài “Zone”, Apollinaire
muốn nói gì? Đi trên thành phố phai nhầu Bước chân xiêu vẹo nghe sầu vọng âm Lời
em trên mắt âm thầm Khua chân phố nhỏ giọt đầm đìa tuôn (Hoài Khanh) Có thể lấy
mấy câu thơ trên để làm chủ đề cho bài “Zone” là một buổi lang thang xiêu vẹo
“nghe sầu vọng âm” trên thành phố phai nhầu Paris. Tôi không hiểu tại sao tôi lại
thích mê đi lang thang trên những đường phố, bất cứ một đường phố nào. Chỉ bước
đi lang thang và ngó nhìn bâng quơ, chỉ bấy nhiêu thôi là đủ hạnh phúc lắm rồi. Nhất là đi lang thang từ tối khuya đến sáng tinh mơ. Tôi nghĩ rằng bất cứ kẻ
nào đã từng lang như chó hoang, khi đọc bài “Zone”, sẽ càng thấm thía vô cùng.
Nếu có đọc “Zone”, chắc Sherwood Anderson thích thú lắm. (Sherwood Anderson là
kẻ lang thang bâng quơ nhất trên những đường phố Mỹ quốc). Apollinaire đi lang
thang ở nhiều nước ngay từ lúc còn trẻ. Blaise Cendrars cũng thế. Valéry
Larbaud cũng thế. Hơi thở của “Zone” nhắc ta nhớ đến “Prose du Transbérien” hoặc
“Pâques à New York” của Blaise Cendrars. “Zone” mạnh và dồn dập thôi thúc hơn
bài “Le Pont Mirabeau”. Dở tập Alcools, ta thấy sau bài “Zone” là bài “Le Pont
Mirabeau”; cả hai bài đều bất hủ; nhưng cái style nouveau được thể hiện rõ ràng
mãnh liệt trong “Zone” hơn là trong “Le Pont Mirabeau”. Bài “Le Pont Mirabeau”
nằm trong truyền thống thi ca trữ tình Pháp: Sous le pont Mirabeau coule la
Seine Dưới cầu Mirabeau sông Seine chảy. Apollinaire đứng nhìn sông Seine trôi
chảy và thi nhân đau đớn khắc khoải sống lại dĩ vãng và những mối tình xưa: Sous le pont Mirabeau coule la Seine Et nos amours Faut - il qu’il m’en
souvienne Tôi nhớ đến mấy câu thơ của Hoàng Trúc Ly; Hoàng Trúc Ly sống lại dĩ
vãng và những mối tình xưa: Tôi đứng bên bờ dĩ vãng Thương về con nước ngại
ngùng xuôi Những người con gái bên kia ấy Ai biết chiều nay có nhớ tôi Tôi muốn
hôn bằng môi của em Mùa mưa thao thiết nắng hoe thềm. (Hoàng Trúc Ly) Hoàng
Trúc Ly “Thương về con nước ngại ngùng xuôi” mang theo mất những mối tình của
thi nhân cũng như Apollinaire thổn thức “Tình yêu trôi đi như dòng nước chảy”: L’amour s’en va comme cette courante L’amour s’en va Comme la vie est lente Et
comme l’Espérance est violente Vienne la nuit sonne l’heure Les jours s’en vont
je demeure Tình yêu trôi đi như dòng nước chảy. Tình yêu trôi đi, cuộc đời chậm
chạp, hoài vọng mãnh liệt. Đêm đến, giờ điểm, thời gian trôi chảy, chỉ còn thi
nhân ở lại bên cầu thương dĩ vãng. Chẳng biết có chịu ảnh hưởng Apollinaire hay
không mà Hoài Khanh cũng có những lời thơ tuyệt tác có thể khiến ta nhớ đến những
câu thơ của Apollinaire. Rồi em lại ra đi như đã đến Dòng sông kia cứ vẫn chảy
xa mù Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu. (Hoài Khanh) Mỗi nhà thơ mang một giọng điệu riêng, nhưng ta có thể lấy câu “ta
ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” để giải thích câu “je demeure” của Apollinaire
trở nên bất hủ; ý nghĩa cô đọng súc tích mông lung vô cùng, ta muốn hiểu thế
nào cũng được. Thời gian trôi đi mất, chỉ còn nỗi khổ triền miên ở lại cùng
tôi! Đoạn thơ hay nhất trong bài “Le Pont Mirabeau” là đoạn này: Les mains dans
les mains restons face à face Tandis que sous Le pont de nos bras passe Des
éternels regards l’onde si lasse Vienne la nuit sonne l’heure Les jours s’en
vont je demeure Tay trong tay mặt hãy nhìn mặt Đang lúc dưới Cầu của những cánh
tay đôi ta lướt dòng nước mệt mỏi của những thoáng nhìn thiên thu Hãy để đêm về
giờ điểm Ngày trôi tôi vẫn còn đây. Thi nhân nhớ lại ngày xưa cũng tại nơi đây,
thi nhân cùng người yêu âu yếm nhìn nhau, tay trong tay, mặt đối mặt, đang lúc ấy
cánh tay của hai người chàng qua như một cây cầu (“le pont de nos bras”) và dưới
cầu tay ấy là những thoáng nhìn thiên thu của đôi tình nhân không khác gì dòng
nước mệt mỏi lướt chảy dưới cầu (“l’onde des étenrnels regards”). Bài “Le Pont
Mirabeau” chấm dứt thật tái tê thê lương: Passent les jours et passent les
semaines Nile temps passé Nil les amours riviennent Sous le pont Mirabeau coule
la Seine Vienne la nuit sonne l’heure Ngày đi, tháng đi, năm đi, những tuần lễ
trôi đi, thời gian bên ngoài trôi xuôi đi mất, chỉ còn thời gian bên trong tâm
tưởng là không đi và những mối tình cũng không trở lại (“Ni les amours
reviennent”) và nước sông Seine vẫn “xuôi lạnh một dòng sầu” dưới cầu Mirabeau
để cho “mấy mầu thời gian” trôi đi mất và chỉ còn lại thi nhân đứng nhìn con
sông xa nguồn mà tê tái (“je demeure”) Nước xuôi lạnh một dòng sầu Biết về đâu
hỡi mấy màu thời gian (Hoài Khanh) Sous le pont Mirabeau Vienne la nuit sonne
l’heure Les jours s’en vont… (Apollinaire) Con sông nào đã xa nguồn Thì con
sông ấy sẽ buồn với tôi (Hoài Khanh) Sous le pont Mirabeau coule la Seine… Les
jours s’en vont je demeure (Apollinaire) Màu thời gian không xanh Màu thời gian
tím ngát Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh (Đoàn Phú Tứ) Màu thời gian không còn xanh nữa, màu thời gian đã tím ngát và chỉ còn
Apollinaire đứng lại bên cầu Mirabeau bẽ bàng mơ màng ngửi lại “hương thời
gian” như dịch mấy chữ “Odeur du temps” trong bài “Adieu” của Apollinaire (chắc
Đoàn Phú Tứ không đọc Apollinaire và đây chỉ là trùng nhau thôi). Bài “Le Pont
Mirabeau” chấm dứt với hai chữ “je demeure” để lại những âm vang đồng vọng mãi
suốt cả đời tôi: Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi Tình hoang mang gợi tứ hoang
mang (Quách Tấn) Tiếng dội lưng mây ấy là tiếng “je demeure” của Apollinaire.
Suốt đời tiếng “je demeure” vẫn quyện lấy lòng tôi như tảng mây trắng quyện lấy
núi đồi. …Je demeure Phải chăng đối với: … Je suis l’Autre (Gérard De Nerval) Hay là: … Je est un autre (Rimbaud) Giao hoà cùng: … Ta có là Ta chăng hề Ai chứ
là Ngươi (Vũ Hoàng Chương) Ngoài hai bài tuyệt tác như “Zone” và “Le Pont
Mirabeau”, tất cả những bài thơ khác trong tập Alcools đều tuyệt vời, bất cứ
bài nào trong tập Alcools cũng đều đặc sắc. Tôi khó lòng quên những câu du
dương lướt thướt như: Voie lactée Ô soeur lumineuse Des blancs ruisseaux de
Chanaan Et des corps blancs des amoureuses Nageurs morts suivrons-nous d’ ahan Ton cours vers d’ autres nébuleuses (…) L’ amour est mort j’ en suis tremblant J’ adore de belles idoles (…) Juin ton soleil ardente lyre Brule mes doigts
endoloris Trisle et mélodieux délire J ‘erre à travers mon beau Paris Sans
avoir le coeur d ‘y mourir Apollinaire suốt đời vẫn lang thang ở Paris, thành
phố đẹp tuyệt trần của lòng chàng (“mon beau Paris”…); đời sống Paris vẫn gắn
bó nồng nàn cùng bài hát thất tình của chàng thi nhân đau khổ ấy; oô những buổi
chiều Paris… những chiều bàng bạc men nồng… Soirs de Paris ivres de gin Câu
trên là câu thơ hay nhất của bài “La Chanson du Mal - Aimé.” Men khói đêm nay sầu
dựng mộ Bia đề tháng sáu ghi mười hai Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc Tố của
Hoàng nay Tố của Ai (Vũ Hoàng Chương) Ôi, men khói đêm Paris… Soirs de Paris
ivres de gin (Apollinaire) Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với
ai (Vũ Hoàng Chương) Ừ, chỉ say với những đêm Paris… Soirs de Paris ivres de
gin (Apollinaire) Apollinaire yêu một cô gái người Anh tại Đức. Chàng yêu say đắm;
chàng yêu nàng ngây ngất khi nàng trở về Anh, chàng đã lững thững sang đến Luân
Đôn để hỏi cưới nàng, chàng bị từ khước; thất vọng chàng làm bài “La Chanson du
Mal - Aimé”; cùng với bài “Zone” và “Le Pont Mirabeau”, bài “La Chanson du Mal
- Aimé” cũng trở thành bất hủ: L’ amour est mort j’ en suis tremblant Đời đã vắng
em rồi… Đời vắng em rồi… L’ amour est mort… L’ amour est mort… từ đây anh bơ vơ
lang thang khắp phố phường Paris, J ‘erre à travers mon beau Paris… lòng khô đắng,
ôi tình anh đã chết, men khói đêm nay sầu dựng mộ… Soirs de Paris ivres de gin Anh đi trên những buổi chiều Paris, men khói cuồng say, ôi Tố của Hoàng hay Tố
của Ai? Ôi, những buổi chiều Paris men khói cuồng say, đời vắng em rồi say với
ai? Apollinaire lang thang đau đớn trên những buổi chiều Paris… Soirs de Paris…
Apollinaire lắng nghe tiếng xe điện khua động điên cuồng trên đường phố (“Les
tramways feux verts…”) những quán cà phê bồng khói (“Les cafés gonflés de funée
”); đời sống Paris quay cuồng và lòng thi nhân xót xa hướng vọng về người yêu.
L’ amour est mort j’ en suis tremblant, Duyên trăm năm đã chết… Duyên trăm năm
đứt đoạn Tình một thủa còn hương Hương thời gian thanh thanh Màu thời gian tím
ngắt (Đoàn Phú Tứ) Hỡi ơi, tình một thủa còn hương, nhưng Hương đã chết rồi và
suốt đời chàng lang thang đau khổ để lại “La Chanson du Mal - Aimé” giữa cuộc đời
lạnh lẽo này. Chàng đi vào nghĩa địa hoang vu: Dans ce cimetière presque
dérzst… (“La Maison des morts”) Hoặc chàng đi tìm hương thơm của mấy dòng sông
để cho đỡ nguôi sầu nhớ em Hương thủa ấy: L’ odeur des fleuves dans leurs
villes (“Cortège”) Hoặc chàng rưng rưng gõ cửa, nước mắt chàng ràn rụa, hỡi ôi,
cuộc đời luân lưu bất định như dòng Euripe, chàng rưng rưng gõ cửa, nhưng cửa vẫn
đóng kín, em nỡ lòng nào tàn nhẫn thế? Ouvrez-moi cette porte où je frappe en
pleurant La vie est variable aussi bien que l ‘Euripe (“La Voyageur”) Hoặc những
lần nhìn lá thu rơi lác đác chàng thấy hai bàn tay nàng thu thướt: Et tes mains
feuilles de l’automme (“Marie”) Hoặc chàng lững thững bên bờ sông Seine, tay cầm
sách cũ, dòng sông giống như nỗi khổ đau đớn của chàng, sông vẫn chảy mãi và
không bao giờ khô cạn, biết về đâu hỡi mấy mầu thời gian? Je passais au bord de
la Seine Un livre ancien sous le bras Le fleuve est pareil à ma peine Il s’
écoule et ne tarit pas Quand donc finira la semaine (“Marie”) Hoặc Nguyệt lên
trời chàng đau thương nhìn thấy Thu đã chết, Hương thủa ấy không còn, giờ đây
Thu cũng mất, Hương và Thu đã bỏ chàng bơ vơ: L’ automne est morte souviens-t’
en (“Adieu”) Đã chết mùa thu em biết chưa Anh không khóc nữa để mong chờ Buồn
không chở nổi bao niềm nhớ Rưng rức đâu từ vạn cổ sơ (Hoài Khanh) Hoặc chàng buồn
bã lắng nghe tiếng hát biến mất xa xôi, tê tái: J’ entends mourir et remourir
un chant lointain (“La porte”) Some song that I might hear little by little Dying into the distance down a lane (G. Leopardi) Hoặc chàng say lúy túy để phá
tan “vạn cổ sầu”, ly rượu lung linh leo lét như một ngọn đèn óng ánh: Mon verre
est plein d’un vin trembleur comme une famme (“Rhénanes”) Chàng say; men lên
chuếnh choáng; chàng “gắng say say để lên hề tận độ” và ly rượu bể tan tành như
một tiếng cười vang động thiên thu: Mon verre s’est brisé comme un éclat de
rire (“Rhénanes”) Hoặc bị giam hãm giữa đường đời, mọi lối thoát không còn,
chàng khóc than những năm trời trôi mất và những người con gái quá xa xôi: Ô
mes année ô jeunes filles (“A la Santé”) Những hoàng hôn mưa ướt cuộc đời Em
cách xa rồi xa rồi em ơi! (Hoàng Trúc Ly) Chàng khóc những giờ phút trôi đi thê
lương như đám ma: Que lentement passent les heures Comme passe un enterrement (“A la Santé”) Hoặc khi Thu trở về, chàng khóc như gió khóc, rừng khóc, tiếng
Thu rơi xào xạc, chàng yêu Thu chàng yêu những tiếng mùa ào ạc, trái rơi, những
giọt lệ thu rơi từng lá, tiếng chân ai khua động đạp trên những chiếc lá, tiếng
tàu hoả buồn buồn và cuộc đời trôi chảy lênh láng: Et que j’aime ô Sàigòn que
j’aime tes rumeurs Les fruits tombant sans qu’on les cueille Le vent et la
forêt qui pleurent Toules tours larme en automme feuille à feuille Les feuilles Qu’on foule Un train Qui roule La vie S’ écoule (“Automne malade”) Ừ, em nghe
chăng mùa thu? Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô thu… ôi tiếng thu!… Les feuilles Qu’on foule Un train Qui roule La vie S’ écoule Một chiều trở về
nhà, đi dọc theo bờ sông hoang tối, chàng lắng nghe tiếng hát trầm buồn văng vẳng
đồng vọng: Un soir passant le long des quais désertsy et sombres En rentrant à
Auteuil j’entendis une voix Qui chantait gravement se taisant quelque fois Pour
que parvint aussi sur les bords de la Seine La plainte d’autres voix limpides
et lointaines Chàng lắng nghe tiếng hát của Paris trỗi dậy trong đêm tối tưng bừng
són nhạc: Et j’ écoutais longtemps tous ces chants et ces cris Qu’éveillait
dans la nuit la chanson de Paris? (“Vendémiaire”) Máu giang hồ sống lại, chàng
khát khao những thành phố Pháp, ở Âu châu và khắp ở hoàn cầu. J’ai soif des
villes du France, d’ Europe et du monde Venez toutes couler dans ma gorge
profonde (“Vendémiaire”) Chàng từng làm bao nhiêu chuyến đi ngoại quốc, bao
nhiêu chuyến viễn trình, nhưng giờ đây chàng lại khao khát muốn lên đường nữa,
chàng muốn đi vào biển cả mênh mông, để “chôn chuyện yêu đương vào quá khứ” như
người thủy thủ cô đơn này: Biển cả mênh mông với nhiều đảo hoang cô độc Sóng bạc
trùm lấy đầu anh, với những tảng mây trắng vướng trên đầu anh Kết thành vòng
hoa tang chôn chuyện yêu đương của Phương Anh ngày xưa vào quá khứ (…) Anh sẽ
chôn em dưới lớp lá mùa thu, mỗi buổi chiều không tên để khuôn mặt đừng thiếu
máu thời gian cho người đời rẻ rúng Rồi người thủy thủ trẻ con trở về những bài
thơ cuộc đời đầy bão loạn, đống dây thừng buộc chặt lấy đời anh (…..) Anh trở về
hành lý ngày xưa chỉ còn dăm ba hàng mây trắng (Định Giang) Chàng khao khát những
thành phố ở thế giới, vì thế chàng đã uống say mèm vì đã uống cả vũ trụ: Je
suis ivre d’ avoir bu tout l’ univers (“Vendémiaire”) Ừ, hãy say lên, say để
chôn em dưới lớp lá mùa thu. Bài “Vendémiaire” là bài thơ cuối cùng trong tập
Alcools của Apollinaire. Tôi xếp tập Alcools lại và cả tâm hồn thể xác tôi say
lúy túy, tôi bước chuếnh choáng hơi men, đã đưa cho tôi li rượu mạnh nồng cháy
và tôi đã uống cuộc đời tôi như uống rượu mạnh: Et tu bois cet alcool brûlant
comme ta vie Ta vie que tu bois comme une eau de vie. Xếp tập Alcools lại, tôi
say tận độ, tiềm thức bừng cháy, thời gian chới với, không lẫn lộn men lên ngào
ngạt, tôi uống cạn Alcools, tôi đã uống cạn cuộc đời tôi. O mes années ô jeunes
filles… Hỡi ôi, tôi đã chôn quá khứ dưới lớp lá chết mùa thu… Chú thích: [1] Ý thức siêu thực
bàng bạc mênh mông trong thi phẩm của Apollinaire; sau đây, tôi xin dịch những
bài thơ hay nhất của thi nhân. (Do phần chú thích này của tác giả quá dài nên
chúng tôi chuyển thành phần phụ lục cuối bài viết - talawas).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét