Hòa âm cùng Thiên lý độc hành ca
“Một con én một đoạn đường lay lất
Một đêm dài nghe thác đổ trên cao
Ta bước vội qua dòng sông biền biệt
Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
Bóng ma gọi tên người mỗi sáng
Từng ngày qua từng tiếng vu vơ
Mưa xanh lên tóc huyền sương nặng
Trong giấc mơ lá dạt xa bờ
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng
Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa
Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa?
Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng
Người vẫn đi như nước chảy xa nguồn
Bờ bến lạ chút tự tình với bóng
Mây lạc loài ôi tóc cũ nghìn năm
Đó là bài thơ Mưa Cao Nguyên của Tuệ Sỹ mà kẻ lang
thang này đã ngâm nga biết bao lần trên khắp dặm ngàn phiêu bạt. “Năm tháng
vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ ám ảnh, cứ đọc đi đọc lại
mãi như đọc thần chú, trên những chuyến giang hồ xuôi ngược
sương gió đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch
đi qua. Đi trên nhịp bước bềnh bồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những
chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu” (1). Phiêu
lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô
thường:
“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Tồn sinh rụng cánh hồng” (2)
Bồng phiêu tựa cánh chim trời vút bay giữa muôn trùng cuộc lữ,
như Nguyễn Du tung vó ngựa băng qua những ngọn núi chập chùng Hồng Lĩnh,
còn nghe văng vẳng vọng lại khúc Đoạn Trường Tân Thanh, như
Basho bộ hành, du tử ca trên Con Đường Sâu Thẳm khắp xứ
hoa Anh đào Nhật Bản, như Lý Hạ lê la trong bóng đêm dài sinh tử,
trỗi khúc quỷ ma ca với những âm hồn lênh đênh, như
Rimbaud sầu bi ca quá rùng rợn vượt qua Một Mùa Địa
Ngục trần gian, như Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng lưu
đày tận những vùng băng tuyết tuyệt mù xa ở Trung Hoa, như Tuệ Sỹ đi
và đi theo cuộc Thiên Lý Độc Hành giữa ngày tháng ngao
du suốt Mười Năm Trong Cuộc Lữ:
“Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Rủ mi dài trên bến cỏ sương khô
Vì lêu lổng mười năm trời nói mộng
Ôm tình già quên bẵng tuổi hoàng hôn
Một sớm nọ nghe chim rừng đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần
Đất đỏ thắm nên lòng người hớn hở
Đá chưa mòn sao lòng dạ trơ vơ
Thành phố nọ bởi sương mù nắng quái
Nên mười năm quên bẵng mộng giang hồ”
Bước tiêu dao qua khắp mười phương trời
Đông Tây kim cổ, từ Nguồn Gốc Của Một Thế Giới Quan Vô
Tận đến Triết Học Về Tánh Không, từ Tư Tưởng Là
Gì? đến Sự Hủy Diệt Của Một Trào Lưu Tư Tưởng (2)… Thi nhân lên tận núi
rừng mênh mông để Tổng Thuyết Vũ Trụ Luận về các nền văn
minh tối cổ của nhân loại, lặn lội sâu xuống biển cả Hoa
Nghiêm mở tung cánh cửa Mười Huyền Môn rồi Dẫn
Vào Duy Thức Học, Truy Tìm Tự Ngã và Ý Hướng Triết Lý Của
Trung Quán (2)… Hát ca hòa tâm khúc từ Huyền Thoại Duy Ma Cật đến Tô
Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, từ Giấc Mơ Trường Sơn đến Thiên
Lý Độc Hành…
Hành viễn xứ đẫm phong trần dấn bước, vượt qua vô
số khổ lụy đoạn trường, giáp mặt tử thần, cận kề quỷ sứ ma
vương trong tù ngục đọa đày, vượt qua, băng qua những thành trì ngã
chấp điên đảo, những vọng tưởng cuồng si của một thứ hư vô
chủ nghĩa thật khủng khiếp kinh hồn…
Rồi cuộc Thiên Lý Độc Hành ấy rời núi rừng cao
Đamri, Bảo Lộc, xuống đèo non dốc núi, lội qua ồn ào phố thị, xuôi dọc
dòng sông nước Cửu Long và trôi dạt ra đại dương, tận Ngoài Hải
Đảo Lại Sơn ngút ngàn lồng lộng, rạt rào bao sóng biển Kiên
Giang:
Mù xa ra giữa mênh mang
Trùng khơi hải đảo ngút ngàn Lại Sơn
Trên đồi cao nhịp võng vờn
Thoảng nghe hương vị cô đơn tuyệt cùng
Cô liêu một bóng thung dung
Từ tâm loang thấm chập chùng cỏ cây
Rừng hoang lau lách mọc đầy
Trèo non lội suối sương bay ngát trời
Kể từ cuộc lữ rong chơi
Đã qua mấy triệu năm rồi phải không?
Từng đau rợn máu lệ hồng
Từng thương vô hạn xót trong tim sầu
Chừ đây giữa biển lòng sâu
Lặng nghe tận đáy địa cầu nói chi
Tịch nhiên chẳng một lời gì
Mà vô lượng nghĩa hòa vi diệu huyền
Huyền hòa vi diệu cái chi, khi dừng chân Trên
Đồi Cao Vô Trú Am tận ngoài hải đảo xa xôi, heo hút giữa
ngàn khơi bát ngát?:
Ven triền đảo nhấp nhô gành đá tảng
Ngát rừng cao hoa lá trổ bao dung
Lòng như đại hải mênh mông chứa
Cả vô biên vô lượng cái tuyệt cùng
Trùng khơi hỡi bao la hòa sóng vỗ
Vỗ huyền ngân cung bậc đại dương cầm
Âm ba có lúc rung thần khí
Lúc im lìm nín bặt lặng hồn câm
Trầm nhịp võng đong đưa vầng nhật nguyệt
Lặng nghìn năm nghi ngút khói vô vi
Thái hư tự tại cười rỗng suốt
Cánh chim qua dấu vết chẳng lưu gì
Bước đi của thi sĩ giống như một cánh chim nhạn bay qua dòng
sông, chim đâu cố ý lưu ảnh hình dưới dòng nước chảy, dòng nước kia
cũng vô tư không cố giữ hình bóng chim lại làm chi. Chim vẫn bay, nước
vẫn chảy tự bao giờ giữa thiên địa hoang lương.
Đường lên dốc đá qua bãi cát xanh quanh triền núi nhấp nhô, Vô
Trú Am nằm trên ghềnh đá chập chùng, nhìn xuống muôn trùng đại hải bao
la. Nơi đây, nhà thơ cảm hứng theo cuộc lữ về mắc võng đong đưa giữa
hai đầu biển núi, sớm chiều tiêu sái trong cõi tịch mặc, uyên tư
trên Đồi Đá Tảng Hoang Sơ:
Về đây vất hết danh từ
Trút đi khái niệm toàn hư huyễn rồi
Ý nào chưa nói trên môi
Đã vang sóng vỗ thành lời thơ bay
Bay tan theo bọt sóng này
Chỉ còn điệu thở ở ngay bây giờ
Trên đồi đá tảng hoang sơ
Giữa ngàn khơi lộng không chờ đợi chi
Ơi trời xanh quá xanh rì
Tận cùng cuộc lữ là tri kiến mình
Tịch nhiên im vắng lặng thinh
Tịnh hồn sâu thẳm nghe tình tự ca
Nghe ra trong sâu thẳm tâm tình những niềm ý chi không biết.
Chỉ hay rằng, thanh thản nụ cười mây trắng, an nhiên ánh mắt
mưa xanh, thi nhân trút xuống muôn ngàn giọt từ tâm thâm thiết tuôn
tràn khắp cõi bụi phù trần, gội mát vô lường, khơi mở cho đời xiết bao
thông lộ yêu thương.
Thưởng thức nguồn xanh thanh khí, tiêu dung năng lượng thanh
cao, bổ dưỡng tâm hồn. Còn gì thi vị hơn, khi du sĩ được ngồi đối diện,
uống trà với thi nhân trên đồi cao, bên ghềnh đá tảng chập chùng ven triền biển,
như uống từng giọt cam lồ hay sương huyền nguyên trinh, tịch lặng, lắng
nghe Hương Vị Một Tách Trà:
Sớm tinh mơ đốt trầm ngồi đối ẩm
Rót giọt sương vào ly gió muôn trùng
Trộn lẫn nắng nghìn thu trong một cốc
Trà thi ca cùng thưởng thức vài chung
Nghe lý sự tan trong niềm im lặng
Chén trà xanh thanh đạm tỏa vờn hương
Hương vị đó có trời cao đất rộng
Hòa quyện nhau thành diệu nghĩa vô lường
Một tách trà chứa càn khôn vũ trụ
Đủ tương phùng sông suối biển ngàn khơi
Mời toàn thể mười phương cùng nhau uống
Nguồn sơ nguyên uyên mặc vốn không lời
Tuy không lời nhưng vẫn nghe đồng vọng trong lòng xiết bao niềm
thâm thiết, truyền âm nhập mật qua từng cung bậc thi ca, hòa chan dạt dào Vô
Lượng Tình Thương:
Chén trà chứa cả đại dương
Ôi tình thơ đó vô lường vô biên
Nâng ly sạch hết ưu phiền
Tan nghìn u tối bừng nguyên sơ này
Hương trà thoảng ngát đồi cây
Ấm lòng tỏa quyện hiển bày thanh tâm
Lời thơ trên mắt lặng trầm
Thầm nghe trực tiếp niềm thâm cảm nào
Tưởng chừng như lạc chiêm bao
Bàng hoàng ánh nguyệt chiếu vào sâu xa
Mới hay trong một chung trà
Hòa vi diệu pháp reo ca giữa hồn
Chén trà vi diệu tâm pháp từ bàn tay gầy của
thi sĩ rót xuống giữa đêm trăng rằm hay sớm tinh sương kia bỗng hóa
thành thơ nhạc, rộn ràng qua từng nét chữ linh động, tài hoa:
“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vút tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba” (1)
Cũng rộn ràng như vậy, cây lá, hoa vàng, cát sỏi ven triền dốc
đồi đá tảng hoang vu, nghiêng xuống biển trời hải đảo, vô cùng hân
hoan, khi thi nhân bất ngờ vân du đến chơi và dừng gót phiêu bồng lại
trên đồi cao gió lộng, ngồi thong dong giữa đại hải mênh
mông, lắng nghe hòa khúc Đại Dương Cầm âm vang rào rạt:
Đại dương như một cung đàn
Ngày đêm vỗ nhịp mênh mang sớm chiều
Dị thường hương vị cô liêu
Thoảng quanh gành đá hải triều âm dư
Lẫn trong khói sóng bay mù
Trên đồi cao bóng hoang vu chạm trời
Thênh thang giữa cuộc lữ chơi
Đến đi như vậy thấy rồi như nhiên
Thấy chi cũng tuyệt diệu huyền
Miên man sáng tạo cõi uyên nguyên nào
Cung cầm âm khúc tiêu dao
Cảm rung cùng tận nghe rào rạt ngân
Rạt rào bao âm thanh vi diệu nên mọi tiếng
nói, diễn giải lý đạo lẽ đời xin im lặng, chẳng thể miêu tả được
thành lời. Ngôn ngữ trở thành không cần thiết khi chống
gậy trúc cùng song hành Lên Núi Ma Thiên Lãnh, một ngọn núi cao
nhất ngoài hải đảo, vang vọng sóng mây ngàn vần vũ giữa thanh
thiên:
Suối truông ngập lá ven triền
Trèo lên dốc đứng giữa thiên nhiên này
Gậy thiền động cánh chim bay
Lượn phong quang ngợp trắng đầy mây trôi
Dừng chân bên thạch động ngồi
Màu rêu xanh lặng nghe hơi núi trầm
Thoáng vèo qua mấy nghìn năm
Mà rừng sâu vẫn còn thầm ngát hương
Hương chi thi vị lạ thường
Quyện vào hương tích hòa tương cảm cùng
Đường sương nắng trải mông lung
Dấu chân tiền kiếp trên vùng hoang sơ
Hoang sơ là thuở trời đất mới phôi dựng còn thanh
tân, nhật nguyệt còn chiếu diệu một làn ánh sáng mông lung, huyền mộng.
Màu ánh sáng ban sơ ấy, bây giờ vẫn còn hiện ngời rực rỡ trên
ánh mắt tỏa hào quang đầy thần thái an lạc với nụ cười
trầm tịnh, trinh tuyền trong nắng sớm bình minh. Tinh sương, tinh tú, tinh
anh, tinh túy đều dồn lại lấp lánh thành tuệ nhãn, biểu hiện rực ngời
trên Đôi Mắt Tuệ Sỹ:
Như Long Tượng mắt mở trừng sáng rực
Một hôm gầm sấm dậy khắp nhân gian
Làm chấn động khắp sơn hà đại địa
Rền ngân vang tận rú thẳm non ngàn
Đôi mắt ấy cháy ngời xanh ánh lửa
Thiêu rụi tàn ngàn bóng tối u minh
Vô lượng quang sáng bừng lên trí tuệ
Đại bi tâm hàm dung chứa bao tình
Đôi mắt đó trầm sâu màu đáy biển
Hòa chan nhau máu lệ nỗi đau đời
Từ nhãn thị chúng sinh đầy thương cảm
Mà đọa đày trong cuộc lữ chao ơi!
Ôi đôi mắt lặng nhìn xuyên tam thế
Cõi tồn lưu huyễn mộng khói sương lồng
Lòng trăng hiện giữa đêm dài sinh tử
Thõng tay vào phố chợ bước dung thông
Bước dung thông là thõng tay vào chợ, bước đi như
thị, biết khế lý, khế cơ, không vướng kẹt vào bên này hay bên kia, chẳng mắc
dính vào cao thấp, lớn nhỏ, trí ngu, đúng sai, phải trái, hơn thua, tốt xấu,
giàu nghèo, thiện ác, sang hèn, ghét thương, sướng khổ, có không, mộng thực, mê
ngộ, đạo đời, được mất, chân giả… chi chi cả.
Phải chăng, đó là bước đi tùy duyên, tùy thuận chúng
sinh, dùng nghệ thuật để chuyển mê khai ngộ một cách diệu dụng của
hàng Bồ tát thị hiện giữa dòng đời? Không rõ nữa, chỉ biết rằng,
bước chân vân thủy đó đang rong chơi, mở ra bất tuyệt miền không
xứ trên vạn nèo đường Nước Chảy Mây Trôi:
Muôn dòng nhập cuộc rong chơi
Hòa chan cát bụi ngút vời phiêu nhiên
Lên núi ẩn xuống chợ triền
Bước chân vân thủy theo duyên thuận tùy
Như nước chảy chẳng dính chi
Như mây bay chẳng mắc gì thế gian
Dù rực rỡ hay điêu tàn
Vui lòng chấp nhận hân hoan như thường
Dù trăm thảm họa tai ương
Cũng không than oán can trường đến đi
Xem như chẳng xảy ra gì
Gốc từ vô ngã nên chi mỉm cười
Vô ngã là nhận biết “cái tôi” hay “cái
ta” chỉ là giả danh, tạm gọi để xưng hô trong sinh hoạt, tiếp
xúc với mọi người giữa cuộc sống thường nhật, chứ không thực có
một “cái tôi, cái bản ngã” nào cả. Biết rõ như vậy thì mình không
chấp chặt, mắc dính vào ngôn ngữ, lợi danh, tránh được mọi phiền
não. Vô ngã là một thái độ không chấp giữ vào bất cứ một điều
chi cả, cứ thanh thản, an nhiên qua lại với cái đang là.
Nhà thơ Tuệ Sỹ ngồi đó mỉm cười, một nụ cười vô ngã và
đọc thơ chơi: “Một cõi Vĩnh Hằng thu giọt nắng. Nghe tình du tử chợt xôn
xao.” Xôn xao khi ngắm biển trăng ngần, rạt rào bao sóng vỗ âm
ba và lúc leo lên tận ngọn Đề Thơ Mờ Sương Khói Núi, ngồi thưởng
thức những cụm mây trời vạn cổ bay bềnh bồng trong gió
nắng reo vui:
Núi Đề Thơ gập ghềnh lên tận đỉnh
Nhìn xuống sâu hun hút ngút đồi nghiêng
Hương trời biển lâng lâng vờn lan tỏa
Lồng trong mây trắng lượn khói sương huyền
Những tảng đá lạ lùng cao sừng sững
Đứng uy hùng xem lịch sử trôi qua
Gậy Thiền sư gõ trên đầu sử lịch
Mấy nghìn năm vang dội khắp sơn hà
Đá nhập định chuyển rung hồn xuất cốt
Bỗng nhiên nghe tiếng vỗ một bàn tay
Một tiếng vỗ vô thanh mà chấn động
Bùng vỡ ra cả vũ trụ phơi bày
Hiển lộ bày ra cái tinh khôi mới mẻ trên từng cái thấy,
từng ngón tay gầy sáng tạo, qua ánh mắt thần lực rực ngời, trong
giọng nói tiếng cười thân thiện, truyền cảm, tự nhiên gây sự chú
tâm. Chú tâm mới nghe ra trong tiếng cười, giọng nói kia, bỗng dội rền
lên một tiếng gầm sấm sét Rúng Động Tiếng Sư Tử Hống:
Lên đỉnh Ông Rồng nhìn mây trắng
Bát ngát ngàn sương giữa muôn trùng
Cây Thiên tuế lặng trầm tịch mịch
Cuộn tròn như lý sự viên dung
Thiên tuế nghìn năm nằm chờ đợi
Bừng lên sinh khí hạo nhiên tràn
Tiếng sư tử hống làm rúng động
Khiếp vía kinh hồn cáo chồn hoang
Tháo chốt nhổ đinh rời tù ngục
Mở dây ràng buộc trói cột mình
Bước tiêu dao dạo vô sở trú
Đùa chơi hý lộng với tồn sinh
Sinh tử có không trò huyễn mộng
Sống chơi chết cũng vậy chơi thôi
Chơi không dính mắc vào đâu hết
Nên tự do đi cảm hóa đời
Tự do, tự tại, vô quái ngại là phong thái của Thiền
sư thi sĩ đi về mặt đất, trần gian này. Chỉ cần ngồi lắng nghe sự im
lặng hay giọng nói thôi là cũng đủ hiểu ra lẽ thật của bao nghĩa đời, lý đạo
cao siêu. Đạo và Thơ cùng hòa chung trên tiết nhịp thư thả hòa hài:
“Cái ảo diệu không phải là cái ảo ảnh. Muốn
cho lời thơ tuyệt diệu thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh.
Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh. Ngắm
nhìn sự đời, bôn ba giữa đời mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao.
Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát, trong đó có cái hương vị tuyệt vời…
Người học Thiền, học từ cái khổ đau, hư ảo, học
cho thân tâm ra là thứ tro tàn nguội lạnh. Học như thế là học để mà
đọa đày. Sở đạt của sở học đó là buông thả, hóa thành cái Không và trở
thành cái Tĩnh. Buông thả thì không câu chấp, không còn bị ràng buộc.
Cũng tiêu dao như hồn thơ thoát sái và lãng mạn. Tâm Tĩnh
thì trầm lặng như mặt nước không gợn sóng, phản chiếu trọn
vẹn ngoại cảnh. Tâm Không thì Tâm rộng như mặt biển bao la, dung
nạp tất cả ngân hà tinh đẩu.
Người học Thiền chịu đọa đày cho thân mình gầy, cho tâm mình
nguội, trong đó có cái diệu dụng phi thường của nó. Người làm
thơ, cuộc đời bị đày ải truân chuyên, trong đó cũng có cái ảo diệu của
vị chua vị mặn. Suốt đời học Thiền, suốt đời vẫn đày đọa thân
tâm, đày đọa trong cái Không và cái Tĩnh. Đày đọa đó mà kỳ thực không là
đày đọa. Cũng vậy, suốt đời làm thơ thì suốt đời khổ lụy, lao
đao nhưng không là khổ lụy, lao đao. Chỗ ảo diệu đó, chưa đạt đến cõi thượng
thừa của thi ca, làm sao hiểu nổi?...
Thi sĩ và Thiền sư cũng lao đao và cùng
tiêu sái trong cùng một cõi trầm mặc phiêu bồng, vừa Không vừa Tĩnh… Đạt tới
cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng chỗ Không
tịch của Dạo, cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm, ba
mươi năm đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí bỏ đi, bất chợt thấy
một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoạt nhiên, đột ngột mở ra…” (3)
Thật không ngờ, mới 26 tuổi mà Tuệ Sỹ đã viết một tác
phẩm thâm trầm, thâm thúy, kỳ tuyệt như thế. Mở ra Tô Đông Pha Những
Phương Trời Viễn Mộng, mở ra Ý Nghĩa Đề Kinh Kim Cang hay Những Giá
Trị Phổ Quát Của Bồ Tát Hạnh (2) rồi mở ra những cảnh giới Thi
Ca Và Tư Tưởng để Dẫn Vào Thế Giới Văn Học Phật
Giáo (2) cùng giao hòa trên cung bậc Chân Thiện Mỹ ngân nga mà
nghe vang lên tiết nhịp đồng thanh tương ứng trong một niềm
chi Im Lặng Sấm Sét không lời:
Những phương trời viễn mộng đi
Thi ca tư tưởng bước kỳ ảo qua
Đọa đày một thuở ta bà
Nỗi đau rực cháy thấy ra tột cùng
Ôi! Giấc Mơ Trường Sơn rung
Rúng hồn tim máu chợt bùng vỡ mơ
Kinh thiên động địa sững sờ
Đâu chân diện mục của Thơ với Thiền?
Mặc như lôi ngồi tịch nhiên
Nghe ban sơ vọng ngân huyền diệu âm
Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm
Từ vô tận ý vang thâm thiết niềm
Niềm chi mà thâm thiết vang âm, ý gì mà từ vô tận ngân
dội về? Để cho Giấc Mơ Trường Sơn và Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm vẫn
còn nghe đồng vọng lại, khi du sĩ đang rong chơi với nhà thơ cùng lội
suối trèo non, leo lên trên tuyệt đỉnh cô phong, ngút ngàn ngoài ven
trời vạn dặm giữa trùng khơi, hoang đảo rào rạt sóng, để nghe ra Diệu Dụng Cung
Đàn vang ngân vi vút:
Ngút tận mù khơi trời hoang đảo
Trèo lên tuyệt đỉnh núi lặng im
Im lặng lắng nghe mây ngàn hát
Vang vọng nghìn năm biết bao niềm
Nghìn năm sóng vỗ trào vô ngã
Rạt rào trên biển lớn mênh mông
Mộng huyễn phù du bèo bọt nổi
Sóng tan thành nước chảy theo dòng
Sóng nước tuy hai mà vốn một
Nên sinh hay diệt vắng lặng rồi
Cũng ngay ngũ uẩn thân mình đó
Chân tánh nhiệm huyền hiện hữu thôi
Trùng trùng duyên khởi muôn vạn pháp
Đủ duyên thì hiện hết thì tan
Không có cái chi là tự ngã
Hòa chung vũ trụ trỗi cung đàn
Cung đàn vang dậy trỗi khúc vô ngã bồng
tênh, lênh láng trên lớp lớp sóng trào, ngoài viễn xứ xa xăm cùng
hòa âm theo Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm du dương, thánh thót. Một
thi phẩm trầm tư, ảo diệu mà Tuệ Sỹ hát ca quá mộng dưới vầng nguyệt thiên thu u
huyền, thoảng ngát hương trời sương giăng vắng lặng:
“Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên” (4)
Vô biên vô lượng tuy hoằng viễn thiên hà mà thực
ra vẫn gần gũi quanh đây, ngay nơi đáy lòng bi mẫn, ngân dài
khúc điệu vô ngôn. Vô ngôn một cách thâm thúy, diệu kỳ
trong ý vị sâu xa. Vì lẽ: “Người thi sĩ xuất chúng, xuất thần,
hay có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất
nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ mà như nói hết
cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới
chuyện thiên hạ nghe hay là chẳng nghe”.
Bùi Giáng nhận xét về Tuệ Sỹ như thế trong Đi
Vào Cõi Thơ và thi nhân cũng lai rai hồi đáp lại: “Bởi
vì, cách điệu của Thi ca vốn dĩ phiêu hốt, khơi vơi, lãng đãng, nên bờ
biếc bích ngạn chiêu hoa như một nơi chốn thong dong thánh thót. Thảm
kịch khốn cùng dù có đổ ào lên Thi ca đến mấy đi nữa, Thi ca vẫn
như điềm nhiên, ngao du theo ngày tháng, trong ngày tháng ngao
du” (2). Ngao du trên phong vận tài hoa, nhập cuộc cùng buồn
vui, thương nhớ chút cảm hoài:
“Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao” (4)
“Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao” hay “Vẫn yêu người
từng khoảnh khắc chiêm bao” là điệp khúc Đại bi tâm mà một
lần gần gũi chợt thầm cảm nghe được từ giọng nói và cái nhìn sâu
thẳm của Tuệ Sỹ, khi ngồi trên tuyệt đỉnh ngàn cao giữa đại
dương, Nhìn Xuống Cõi Phù Du chập chùng trùng khơi biển nước:
Trèo lên tuyệt đỉnh núi cao
Ồ mây sóng lượn cuộn trào bay lên
Nhấp nhô trắng xóa đầu ghềnh
Mênh mang trời biển lặng mênh mang đầy
Ngó nhìn xuống cõi đời say
Dưới kia nhỏ bé đang dày xéo nhau
Lô nhô lúc nhúc loạn nhầu
Cứ tranh giành giật cứ xâu xé hoài
Chạnh niềm thương kiếp trần ai
Mãi còn hỗn độn đêm dài vô minh
Sao chưa thức dậy vươn mình
Ca bài giải thoát điêu linh phận người?
Phận người điêu linh, trầm thống không phải mới ngày hôm
nay mà xảy ra từ vô lượng kiếp rồi. “Nước mắt chúng sinh nhiều
hơn nước biển đại dương”. Đức Phật đã từng thấy như thế. Kể làm sao
cho hết nỗi ngậm ngùi, xiết bao khổ lụy… Khi mình nhận thấy sự thống
khổ, đảo điên vô cùng tận thì mới phát khởi Đại bi tâm hay Bồ
đề tâm:
“Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng
sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ
nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản
thân khỏi những đe dọa, áp bức mà còn là để giải thoát cho
tất cả những người cùng cảnh ngộ.
Bồ đề tâm, đó là ý chí kiên cường, bất khuất của một
người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức
mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của
một tập thể ma quái chung quanh ta. “Vui sướng gì, thích thú gì
giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt?. Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi tìm
ngọn đuốc?”
Không có tâm nguyện đó, không có ý chí đó, Bồ
tát đạo chỉ là một con đường xa xôi, không tưởng, thần
thoại hoang đường. Và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của
một người mê sảng trong giấc ngủ ngày…” (5). Tuệ Sỹ khơi mở
cho chúng ta một sinh lộ hướng thượng, vượt lên trên thân
phận trầm kha, đắm chìm trong mịt mùng u tối, rồi lặng lẽ đi về,
lắng nghe giữa hun hút thẳm sâu lòng:
“Ta về một cõi tâm không
Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
Còn yêu một thuở đi hoang
Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya” (2)
Giữa khuya trầm giá lạnh mù sương, khúc cung cầm tâm cảm lại
hòa âm theo từng bước chân của người thi sĩ dị thường: “Anh cúi xuống
nghe núi rừng hợp tấu. Bản tình ca vô tận của Đông
phương” (1). Từ bản tình ca đó, có ai như du sĩ nghe rưng rưng dư vang
kéo dài bất tận qua khắp rừng cao lũng thấp, trên mặt đất hư vô, khô cằn
sa mạc, vang dội xuống tuyệt cùng hố thẳm tư tưởng, rồi vút bay
theo cánh đại bàng ra biển cả ngàn trùng, tung lượn trên sóng vỗ nghe tiếng Cười
Giữa Tịch Không:
Cánh đại bàng bay qua đại dương
Lượn vờn chao trào bọt sóng dị thường
Bên ghềnh biển tiền thân về thấp thoáng
Ngát hồn xanh lấp lánh thanh lương
Chợt cơn mưa vừa đổ ngoài hiên
Mà nghe vang pháp vũ mát rượi liền
Đồi hoang dại cỏ cây đều mới lạ
Đá tảng ngồi thanh thản an nhiên
Trăng ngàn soi dọi chiếu vào trong
Nghìn xưa nay thấy hiện giữa lòng
Mặt mũi đó ồ vô ngôn thuyết
Huyền gặp huyền cười giữa Tịch Không
Không Tịch minh nhiên giữa biển ngàn hoang vắng, tịch
liêu, chìm sâu trong nín thinh, tịnh khẩu. Bàng bạc dưới vầng trăng vĩnh hằng,
lắng nghe những lời vô thanh văng vẳng bên đồi, kẻ viết những dòng
khói sương này mường tượng, bằng con mắt Hoa Nghiêm, thi nhân nhìn thấy toàn
thể cuộc đời trùng trùng duyên khởi, đầy ắp giọt lệ và nụ cười
trộn lẫn viên dung, rúng động cả hồn vạn cổ. Cho nên tâm từ rải
xuống thành Bi Tráng Một Hồn Thơ:
Bừng hiện sơ nguyên ngời ánh nguyệt
Biển tâm sóng gió lặng u trầm
Con mắt Hoa Nghiêm im ắng thấy
Toàn thể cuộc đời giữa diệu thâm
Từ ái hoài rung nguồn xúc cảm
Khi chúng sinh đầy nước mắt rơi
Thiên lý độc hành từng chứng kiến
Máu lệ thế gian thấm tận lời
Lời thơ bi tráng còn âm vọng
Trong cõi tồn sinh khiến giật mình
Vô thanh mà động hồn nhân thế
Nguyện kiếp người ta thoát u minh
Nguyện kiếp người ta thoát u minh. Phải
chăng đó là tâm nguyện Đại bi phi thường, như trong “Kinh Phổ
Hiền Hạnh Nguyện nhắc nhở lý tưởng ấy rằng: “Hư không hữu tận,
ngã nguyện vô cùng”. Hư không còn có thể có chỗ tận cùng, nhưng tâm
nguyện Đai bi của ta thì không bao giờ cùng tận…” (2)
Thật vậy, lòng thương vĩ đại của thi nhân trải dài
trên vô lượng đường thơ. Từ bụi hồng phố thị đi vào tù ngục
đọa đày, từ trên cao nguyên rừng núi qua khắp những nẻo đèo truông, heo hút gió
sơn khê. Về ngang xô bồ phố thị qua châu thổ đồng bằng, hòa âm điền dã cùng hoa
ngàn cỏ nội, rồi ra tận trùng khơi hải đảo xa mù… Đến đâu thì suối nguồn yêu
thương ấy cũng chảy tràn đầy đến đó, mang lại cho đời xiết bao Nguồn Sáng
Tạo Vô Biên:
Trùng trùng sóng bên triền non biển núi
Đảo ngàn khơi rờn xanh ngát hoang mờ
Những tâm khúc không lời trầm bổng lướt
Dưới trăng vàng thoáng hiện cõi nguyên sơ
Bờ dương liễu phất phơ chờ sương đọng
Giọt man thiên huyền diệu quá thâm trầm
Niềm bí mật tận lòng sâu u ẩn
Dâng trào lên vang dội hải triều âm
Tình vạn đại yêu người không bờ bến
Nên lời thơ ngân bất tuyệt thiên thu
Thi nhân mở suối nguồn thương ảo diệu
Cho trần gian tàn rụng bóng sa mù
Bóng mù sa tan hết liền hiện ra luồng ánh sáng
triều dương. Thương yêu diệu kỳ xanh ngát cả bầu trời thiên thanh
vĩnh thúy, sâu lắng lặng nghe tiếng thơ đồng vọng lại từ thuở nào Cô Hành
Độc Lữ ngoài vạn dặm xa xăm:
Dặm trường Thiên Lý Độc Hành
Qua ngàn lau trắng đồi tranh cỏ vàng
Bụi đời nhẹ gót rỗng rang
Dọc đường tạm trú khi hoàng hôn buông
Bàn chân dẫm nắng mưa nguồn
Bước rừng núi vượt qua truông suối ghềnh
Hết rồi những chuyện tuổi tên
Đã buông xuống giữa khói bềnh bồng sương
Cô hành độc lữ trên đường
Nghìn phương rốt lại một phương tâm này
Thấy rồi muôn thuở xưa nay
Cũng từ tự tánh mà bày hiện thôi
Tự tánh, tự tâm là gì? Đâu là thể tính siêu
việt của Thơ và Thiền? Đâu là vầng trăng Không Tịch chiếu nguyên
sơ? Không biết nữa, chỉ biết rõ ràng: “Hương vị của Chánh pháp vẫn
là hương vị cô liêu của sự sống” (2). Hương vị cô liêu thoảng ngát chung
quanh gành đá tảng, trên đồi cao Vô Trú Am, nằm cạnh một mé triền đồi
nhô ra phía biển mênh mông. Tịnh yên, miên mật để cho thần trí thi
nhân nhập cảnh giới Thiền:
“Ngã cư không xứ nhất trùng thiên
Ngã giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên”
Ta ở tầng trời thứ nhất trong cõi không
Cảnh giới của ta thật là cõi thiền
Không vật không người không lắm chuyện
Ngồi xem thiên nữ rải thiên hoa (2)
Vô Trú Am, trên đồi hoang vắng tịch liêu ấy,
chỉ có cây lá, đá tảng, sóng trào, mưa xanh, nắng vàng và gió ngàn khơi lồng
lộng thổi suốt ngày đêm. Thiền sư ngồi nhập định giữa thiên
nhiên: “Thiền, cốt yếu nhất là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng
ta, nó chỉ con đường từ triền phượt đến giải thoát.
Đưa ta đến uyên nguyên của cuộc sống uống ngụm nước đầu nguồn. Thiền cởi bỏ tất
cả những gì ràng buộc chúng ta, những sinh linh hữu hạn,
luôn luôn quằn dưới ách khổ lụy trong thế gian này…" Trang
mở đầu Thiền Luận, một tác phẩm đồ sộ của Suzuki cả mấy nghìn
trang đã viết như thế.
Thiền là ngộ. Ngộ là giải thoát. Mình chưa giải
thoát, chưa ngộ thì nên im lặng, dù có nói thao thao bất tuyệt về
Thiền cũng chỉ hý luận mà thôi. Cho nên, Thiền sư cứ chiêm
nghiệm cái cốt tủy, cái uyên nguyên tinh túy, đi sâu vào cảnh giới diệu
tuyệt huyền hòa giữa Tịch Mịch Núi Biển Ngàn:
Một mình tịnh khẩu sâu xa
Trên đồi cô tịch căn nhà pháp không
Dựa lưng vào núi mây lồng
Trùng dương trước mặt ngắm mông mênh trời
Mỗi ngày một bữa cơm thôi
Đủ cho điệu thở nhẹ vời rỗng rang
An bình tịnh hạnh thanh nhàn
Trang kinh vô tự thành trang thơ này
Viết lên dòng nước biển mây
Lời chi vi diệu hiển bày nhất nguyên
Sáng bừng thực tại hiện tiền
Yên tâm là nụ cười viên dung hòa
“Cười với nắng một ngày sao chóng thế” (1) để nghe ra giây
phút dội miên trường. Đó là phút giây bây giờ và ở đây, hoàn toàn mới
lạ từng sát na giữa thực tại hiện tiền. Một ngày thong
dong cùng thi nhân cất bước rong chơi, leo lên tận đỉnh núi Ông Rồng,
ngồi giữa vòng tròn cây Thiên tuế ngàn năm mà cảm nhận Trùng Ngộ Ở Nơi
Này:
Ngoài hải đảo ngút ngàn vạn dặm
Giữa muôn trùng sóng vỗ mênh mông
Sớm mai bát ngát nhìn vũ trụ
Thấy càn khôn trong một giọt sương lồng
Trên tuyệt đỉnh ngàn cao hùng vĩ
Thật không ngờ xuất hiện bóng Thiền sư
Hùng tâm tráng khí vang đầu gậy
Dội huyền âm rền khúc hát đại từ
Đại hỷ xả hòa vô công dụng hạnh
Rúng ngân dài tận góc bể chân mây
Biển núi bừng reo theo sỏi cát
Hát mừng vui trùng ngộ ở nơi này
Không hân hoan làm sao được khi kỳ ngộ, trùng ngộ một
bậc Thiền sư có tâm hồn thi sĩ dị thường như thế.
Một con người diệu tuyệt thiên tài, chẳng khác đóa hoa Ưu
đàm, nghìn năm mới xuất hiện một lần trên mặt đất như vậy.
Như vậy, như thế, như thị, như như trên bước
đi đại hỷ xả hòa vô công dụng hạnh, rúng ngân dài tận góc bể
chân mây. Vô công dụng hạnh là hành động không cần dụng công,
không cần tác ý mà vẫn đem lại hữu ích, tốt đẹp cho người
khác. Thiền sư tự tại, đại bi, vô úy, là những vị đã kiến
tánh, sự sự viên dung vô ngại, còn Bồ tát là ai? Như
Lai là ai?:
“Như Lai tức là đến như vậy và đi như vậy. Đây mới thiệt
là lý tưởng hành động của Bồ tát đạo. Công nghiệp đó sẽ
được mô tả như là những dấu chân của con chim trong bầu trời. Bồ
tát đến với thế gian cũng vậy. Tất cả mọi công trình đã
từng thực hiện và đã để lại cho thế gian chẳng khác nào
như sự tích lũy của bao nhiêu dấu chân của cánh chim bay giữa
bầu trời. Lối diễn tả này quả thực mang một khí vị văn chương đặc
biệt. Theo thuật ngữ, hành động này được mệnh danh là Vô công dụng hạnh:
Hành động không cần dụng công, ví như hư không…” (2)
Không thể nghĩ bàn chi về các vị thượng sĩ làm mà như
không làm, làm một cách “vô công dụng hạnh” như vậy.
Thôi thì, hãy trở lại nơi đây ngoài hải đảo, chỗ cao nhất trên đỉnh
ngàn hoang vu chỉ có cây lá đã thay màu, xào xạc “hồn ai
trong khóm lau” và những bước chân nhà thơ “xao xuyến từng hơi thở” khi
đưa tay chạm bóng mây trời vần vũ:
“Từ thuở hồng hoang ta ở đâu
Quanh ta cây lá đã thay màu
Chợt nghe xao xuyến từng hơi thở
Thấp thoáng hồn ai trong khóm lau” (2)
Ngút ngàn giữa đại dương bát ngát, lạc chốn hoang
sơ không một bóng người, chỉ có truông rừng chim suối, chập chùng đồi mây
trắng lẫn khói trời hoa nắng trên cao. Ồ! Bỗng nhiên hiện ra một cảnh
giới:
“Lô Sơn hùng vĩ, phiêu bồng nhưng u ẩn. Lòng núi giấu
kín những tâm sự nghìn năm không nói, lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm
mặc, những thân thể khô gầy như hạc như trúc, những tâm hồn nguội
lạnh như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm cho gió ngàn gào thét, cho mây trời vần
vũ và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh cao mù đổ ào xuống. Lô
Sơn đồng vọng một cõi thi ca bát ngát. Cõi thi ca trùng
trùng điệp điệp những ẩn ngữ kỳ diệu…” (5)
Diệu kỳ là khi cùng thi nhân ngẩn mặt nhìn lên trời cao xanh
bát ngát giữa đại dương. Đứng trên tuyệt đỉnh Ông Rồng hay đỉnh Lô
Sơn đó, có thể nhìn xuyên suốt mười phương, thấy toàn cảnh ba
nghìn thế giới thấp thoáng trong sương khói bồng bềnh, thưởng
thức được hương vị cô liêu và vẻ đẹp tuyệt mỹ Trên Đỉnh Núi
Ông Rồng mông mênh trầm tịnh:
Lên Ông Rồng hay lên Lô Sơn đỉnh
Núi rừng ơi! Chạm bóng mây trời
Gió lồng lộng thổi bừng vắng lặng
Mắt tuệ ngời tỏa chiếu nghìn nơi
Trên chót vót ngàn cao nhìn xuống
Muôn trùng xanh bát ngát đại dương
Hương Chánh pháp cảm từ thiên địa
Từ sơ nguyên chơn mỹ đẹp dị thường
Hương vị đó cô liêu diệu tuyệt
Từng tế bào mạch máu trổ bông
Sớm nay hít thở đầy buồng phổi
Đồi diêu mang thể nhập khói sương lồng
Sương lồng bay mênh mang hòa quyện, huyền đồng cùng thanh
khí bao la, hòa chan giữa thiên nhiên hùng vĩ. Tuyệt hồn nghe biển
rừng mênh mông đồng vọng tiếng gầm của Thiền sư Không Lộ, từ
đèo cao heo hút, muôn thuở xa xôi vọng về. Rồi bồi hồi quay
mặt lại, thấy thi nhân đang đứng trên đỉnh núi, viết lên bầu trời những vần
thơ vô ngôn biếu tặng cho mây trắng, trùng dương, sương ngàn, nắng
gió, rồi thung dung xuống núi Hòa Cát Bụi Đời Với Tỉnh Mê:
Xưa kia có lão Thiền sư nọ
Phiêu hốt một ngày lên núi chơi
Tuyệt đỉnh cô phong gầm một tiếng
Lạnh cả không gian chấn động trời
Còn nay có bậc trượng phu ấy
Cũng bỏ lên rừng ngắm đồi hoang
Lấy mây khói quyện làm bút viết
Bài thơ biếu tặng nắng sương ngàn
Biếu tự do cho cây lá cỏ
Cho suối nguồn trôi tự tại kia
Tặng hết mênh mông tam giới mộng
Không còn chi giữ chẳng chi lìa
Xuống núi lại qua cùng thế sự
Hòa cát bụi đời với tỉnh mê
Huyễn hóa mà thôi cười thương hết
Nên cứ tùy duyên bước đi về
Kề cận, thân mật, hoan hỷ, tùy duyên theo
nhịp thở khơi vơi với từng ngọn cỏ, lá cây, với mỗi viên sỏi, cục đá lăn
lóc dọc đường. Bước đi kỳ cùng cuộc lữ, Tuệ Sỹ thi nhân đã từng mở cuộc Thiên
Lý Độc Hành bằng hai bàn chân đi bộ và đi bộ như Basho hay Rimbaud, dãi nắng
dầm mưa suốt gần cả năm trời, băng qua khắp đỉnh đèo heo hút gió, bạt ngàn cát
bụi, ruổi rong trên cao nguyên, rừng hoang rú rậm Lâm Đồng:
“Trên đỉnh đèo cao bát ngát trông
Rừng mây xanh ngất tạnh vô cùng
Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không” (2)
Bến không nào mà tiền thân thấp thoáng? Vạn dặm nào
mà thi sĩ trải áo thơ? Để cho: “Từ tâm tình đến cuộc tình, từ cuộc tình đến
cuộc chơi, rồi từ cuộc chơi đến cuộc hẹn. Thế là, đang lân la bỗng đột
ngột phát hiện một phương trời viễn mộng xa xôi.
Trong cõi đó, lữ khách bao giờ cũng thấy mình đang
bươn bã ra đi, đi biền biệt, đi triền miên, tưởng như không bao
giờ có bến bờ để đỗ lại, nhưng đi là đi mất, trong từng khoảnh khắc, cái đến và
nơi đến đã đến tự bao giờ.
Cuộc tình chia phôi từ độ đó. Bên này là những dòng tuế nguyệt
cứ mãi trôi đi và bên kia là một chân trời đồng vọng không có đến. Bóng chiều rủ
lên tảng đá ven đường, đọng trong mắt của người một mối sầu cô lữ…” (3)
Phải chăng, đó là mối sầu vạn đại của một khách lữ thiên
thu, đi và đi mãi dưới cơn “mưa rừng tuôn thác đổ” đi như một bóng ma
qua sáu cõi luân hồi… Cho nên lữ khách ấy đã thấm thía nỗi đời bên
ngoài và thấu thị niềm đạo bên trong:
“Bóng tối sập mưa rừng tuôn thác đổ
Đường chênh vênh vách đá dọa nghiêng trời
Ta lầm lũi bóng ma tròn thế kỷ
Rủ nhau đi cùng tận cõi luân hồi
Khắp phố thị ngày xưa ta ruổi ngựa
Ngang qua đây ma quỷ khóc thành bầy
Lên hay xuống mắt mù theo nước lũ
Dẫm bàn chân lăn cát sỏi cùng trôi
Rồi ngồi xuống nghe suối tràn ngập máu
Thân là thân cỏ lá gập ghềnh xuôi
Chờ mưa tạnh ta trải trăng làm chiếu
Nghìn năm sau hoa trắng trổ trên đồi” (2)
“Chờ mưa tạnh ta lấy trăng làm chiếu. Nghìn năm sau hoa trắng
trổ trên đồi” Hình ảnh thật ấn tượng, đẹp lạ kỳ, chỉ
có tâm hồn thơ mộng đó mới vẽ lên được như thế mà thôi. Tâm hồn thơ
mộng mà cũng huyền mộng lạ lùng. Không ngờ, lúc mới 25 tuổi, nhà thơ đã viết Triết
Học Về Tánh Không rồi. Bây giờ đọc lại, hỏi vu vơ - Tánh
Không luận là gì? “Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại
đôi cánh và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn…”:
Đọc Triết Học Về Tánh Không
Là xem những chữ trên dòng suối kia
Trôi qua luôn mới lạ kìa
Ngữ ngôn rực rỡ như tia chớp lòe
Ừ nghe lại cái tánh nghe
Thấy lại cái tánh thấy nè tuệ minh
Lật qua nếp gấp hồn mình
Chạm trời tuyệt đối nên thinh lặng cười
Lý và sự rỗng rang chơi
Không tâm không cảnh không người không ta
Chơn Không Diệu Hữu chan hòa
Có mà chẳng kẹt vào ta hay người
Lý sự, tánh tướng, chân vọng, hữu vô, ngộ mê… đều viên
dung trong nụ cười Chơn Không Diệu Hữu. Sống chẳng kẹt vướng,
không cố chấp, xa lìa mọi đua tranh, giành giật với
người khác là một thái độ thanh thản, an nhiên. Biết buông
xả hết những thứ danh lợi, hơn thua, được mất, lại còn biết
phát đại nguyện hiến dâng tất cả. Đó là đại nguyện thượng
thừa của Thắng Man, phu nhân của vua Hữu Xứng. Phu nhân tin
tưởng tuyệt đối trong mình có sẵn Như Lai tạng, nên thực
hành Bốn nhiếp sự: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự:
“Thắng Man phu nhân điển hình cho phụ nữ thực
hành Bồ tát đạo bằng cung cách trang nhã, từ ái, khiêm cung.
Môi trường thực hành bao gồm từ giới hạn thân thuộc với
bổn phận tôn kính bậc trưởng thượng, yêu mến những người thấp
hơn, cho đến những sinh hoạt trong cộng đồng xã hội,
biết săn sóc những người côi cút, biết làm vơi nỗi khổ và tăng
niềm vui cho mọi người. Như trong lời phát thệ của phu nhân đã
nói rõ: “Không vì riêng mình mà thực hành bốn nhiếp sự” (5). Thư
thả lắng nghe những lời giảng luận mạch lạc, khúc chiết của Thiền
sư mà Cảm Tác Thắng Man Giảng Luận:
Bờ Nhất thừa bến muôn chiều
Làm cho tất cả cùng tiêu dao hòa
Về nương tựa Phật Thích Ca
Là nương tựa chính ruột rà Tâm linh
Pháp thân thường trụ trong mình
Từ vô lượng kiếp vốn minh mẫn rồi
Bồ tát đạo vào muôn nơi
Tùy duyên hóa độ chuyển hồi phục nhanh
Bố thí Ái ngữ Lợi hành
Và Đồng sự nữa là thanh thoát lòng
Bốn nhiếp sự như nước trong
Làm tươi nhuận mát bao hồng hào xinh
Thắng Man hiểu chính nơi mình
Sẵn Như Lai tạng chẳng sinh diệt gì
Pháp thân không đến không đi
Vượt ngoài sinh tử ồ kỳ tuyệt thay!
Kỳ diệu, tuyệt vời hơn nữa là mỗi sớm tinh sương
hay lúc chiều tà lãng đãng, nằm võng đong đưa trên đồi cao lồng lộng gió
trùng dương, chú tâm đọc, thưởng thức và Cảm Tác Huyền
Thoại Duy Ma Cật, một tác phẩm thâm huyền, uyên áo mà
Phạm Công Thiện, khi giới thiệu bên Mỹ đã ca ngợi Tuệ Sỹ hết
lời về tác phẩm này.
Vậy Duy Ma Cật là ai mà gây nguồn cảm hứng xuất
thần như thế? - “Duy Ma Cật điển hình cho cư sĩ lão thành, thể hiện Bồ
tát đạo bằng Du hý tam muội với đời sống phóng khoáng, thong
dong không hề câu nệ vào hình danh sắc tướng…”(5):
Duy Ma Cật vẫn thung dung bước
Chốn trà đình tửu điếm chẳng ngại chi
Thõng tay vào chợ đời rong dạo
Chẳng cần tu hay chứng đắc gì
Vì đã thấy ra rồi Tánh giác
Nên hòa chơi với kẻ mê lầm
Bước chân Bất nhị vô phân biệt
Khiến mọi người ai cũng sáng tuệ tâm
Tự do hát bài ca tự tại
Giữa chập chùng sắc tướng âm thanh
Thanh sắc vốn không như huyễn mộng
Pháp là đây ngay đó thực hành
Hiện hóa pháp rỗng rang đi đến
Thênh thang về chuyển hóa phù vân
Mang lại nguồn vui cho thiên hạ
Thượng thừa chơi tuyệt hảo vô ngần
Tuyệt hảo vô ngần trên bước thượng thừa của thi
ca và tư tưởng, Thiền sư như một đại nghệ sĩ đi về mặt
đất, chân không lưu dấu mà vẫn còn dư vang bát ngát trong những tác
phẩm thâm trầm đầy huy hoàng sáng tạo. Những tác phẩm thơ
văn, luận triết tuyệt trù nằm rải rác đó đây trên khắp dặm trường gió bụi hơn nửa
thế kỷ nay, được Hạnh Viên sưu tập lại thành Tuệ Sỹ Văn Tuyển:
“Gởi lại tình yêu ngọn cỏ rừng
Tôi về phố thị bởi tình chung
Trao đời hương nhụy phơi hồn đá
Thăm thẳm mù khơi sương mấy từng” (2)
Trao cho đời chút nhụy hương lòng của một con người đã thưởng
thức được hương vị cô liêu của cuộc sống. Nói một chút là cách nói khiêm hạ,
nhưng thực ra là cả một vũ trụ bao la đầy hương trời đất, nhật
nguyệt mà chúng ta tha hồ thưởng thức Tuệ Sỹ Văn
Tuyển Quá Tuyệt Vời:
Đời như hoa đốm phải không?
Đi mà không đến nên bồng tênh chơi
Giữa khuya chợt thấy mặt trời
Sáng bừng tâm khảm chạm hơi thở này
Là vi diệu pháp xưa nay
Đã âm thầm uống suốt ngày tháng năm
Giọt sương thanh khiết nguyệt rằm
Thấm sâu huyền nghĩa tận thăm thẳm lòng
Bừng lên ngôn ngữ huyền không
Tuệ Sỹ Văn Tuyển muôn dòng thái hư
Lửa tim rực chiếu đại từ
Thấy ra toàn cảnh cười như nhiên về
Về đâu cũng là chốn quê
Ngay đây cố quận vẫn kề cận luôn
Chẳng đâu xa ấy cội nguồn
Là tâm ý thức từ muôn thuở rồi
Là tâm ý thức từ muôn thuở rồi. Tâm
ý thức là chi? Trừ cái Tâm Phật bất khả tư nghì, cái Tâm tuệ giác Bát
Nhã, hiểu theo nghĩa Chơn đế ra, chúng ta có thể tìm
hiểu tâm theo nghĩa Tục đế:
“Tâm là cái tâm có tác dụng ý niệm hóa, cái
tâm kiến thức ý niệm, cái ý thức biện biệt, cái lý trí phán
xét, cái trực giác nhận thức, sự tự tri nhận, cái ý thức về bản
thân, sự tự ý thức, ý tưởng, tư tưởng, suy tưởng, cảm
xúc, cảm giác, tư duy, tinh thần, tâm linh, thần thức,
linh thức, thông minh, thông tuệ, lý luận, diễn dịch, quy nạp, linh
hồn, tâm hồn, tâm trạng, tất cả những gì mình có thể nghĩ, có thể ý
niệm, có thể cảm biết, có thể định đoạt, có thể cảm thông và thông
cảm, tất cả những gì mình có thể suy tư và trầm tư, có thể lãnh hội, thấu
đạt, tất cả những gì mình có thể hiểu biết, ý thức và chính
cái ý thức, vô thức, tiềm thức ấy… đều thuộc về Tâm…” Phạm
Công Thiện đã giải thích như thế trong Những Bước Chân Nhẹ
Nhàng Trở Về Sự Im Lặng.
Còn Tuệ Sỹ thì: “Tâm là kinh nghiệm đời sống,
tất cả những gì đã từng trải bằng hành động và nhận thức, tích lũy lại thành
tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người, từ khi biết suy
nghĩ, biết hành động và có ghi nhớ cho đến khi chết, tất cả những ghi
nhớ trong óc não còn lại đó là tâm. Chính những ghi nhớ đó tác thành một con
người, hoặc thiện hoặc ác, tùy theo kinh nghiệm, môi trường, hoàn cảnh.
Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời sống con người.
Như vậy, tâm đó chính là nghiệp, là hành vi của con
người… Nếu nhận thức được thực tại, thấy được thực tại, hiểu
rõ được chân lý thì có thể biến đổi được thế gian này.
Làm cho nó tồn tại hay làm cho nó hủy diệt, đó chính là nói rằng ma
hay Phật cũng đều do tâm, ba cõi duy chỉ một tâm, là nói theo ý
nghĩa này” (2)
Vậy đó, Phật hay ma cũng đều do tâm mình tạo ra cả. Hoa
Nghiêm kinh nhấn mạnh: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tâm mê
muội là ma, tâm giác ngộ là Phật, tuy hai mà vốn thật chẳng
khác, vì khi mình tỉnh thức, biết mê thì ngay đó, lập tức ngộ liền xuất
hiện với một nụ cười:
Khi mê thì chấp chặt đời
Ngộ rồi trôi chảy như chơi thôi mà
Thánh phàm Phật Chúa quỷ ma
Danh từ khái niệm chỉ là giả danh
Khi mê thì tập tu hành
Ngộ rồi đối nghịch tan nhanh chóng liền
Hết mâu thuẫn thuận tùy duyên
Thõng tay vào giữa chợ triền dạo rong
Khi mê thì dính kẹt vòng
Ngộ rồi cởi trói cười thong dong về
Thực ra đâu có ngộ mê
Tuệ đăng xóa hết trò hề thế gian
Trên sân khấu cuộc đời, mọi sinh hoạt cá nhân hay
tập thể, tầm cỡ quốc gia hay quốc tế đi chăng nữa thì cũng chỉ là trò
hề múa rối “mua vui cũng được một vài trống canh” giữa cuộc đại huyễn
hóa mà thôi. Trừ khi trí tuệ Bát Nhã bùng vỡ ra ánh sáng tuệ
giác “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ
ách…” mới có thể thấy được toàn diện cái Nhất nguyên tuyệt
đối. Trên tinh thần tìm hiểu về Tâm về Thức đó, du sĩ lắng nghe Tuệ
Sỹ Giảng Kinh Kim Cang:
Chuyện sướng khổ buồn vui đều vắng lặng
Ghét hay thương được mất tựa mây trời
Phiền não bồ đề thiên đường địa ngục
Cũng đều do mê vọng khởi lên thôi
Vì ảo giác tưởng có này có nọ
Có tài năng tốt xấu những khen chê
Nên dốc lòng ra chạy theo đeo bám
Tham sân si tác hại mãi ê chề
Cứ nhiễm vướng lo âu đầy sợ hãi
Giật giành nhau khổ lụy quá chất chồng
Bỗng nhiên xuất hiện cây tuệ kiếm
Chém sạch làu hoa đốm rụng hư không
Mộng huyễn cả hơn thua trò danh lợi
Rơi tàn tro dưới gươm báu Kim Cang
Tâm không dính vào đâu cười như thị
Thì tự nhiên mặt đất trổ hoa ngàn
Tâm không dính vào đâu cười như thị. Thì tự
nhiên mặt đất trổ hoa ngàn… Mở ra cuộc lữ tân kỳ hy hữu theo nhịp
bước vô úy, đại hoan hỷ, tùy thuận nhập cuộc rong chơi khắp
sáu cõi mười phương. Phương này hay chốn nọ cũng chính là vườn tâm hay cõi
tâm mình chứ chẳng ở đâu xa. Dù có phiêu lưu đi khắp cả ba nghìn thế giới,
thì cũng không ngoài cõi tâm của mình đây thôi, như đại văn hào Henry
Miller đã phát biểu:
“Chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà thôi, đó là đi
vào bên trong tâm hồn sâu kín, thăm thẳm trong lòng
mình và đi vào giữa lòng mình thì thời gian, không gian,
ngay đến hành động cũng không quan trọng gì cả. Một thi nhân chân chính, một
kẻ sáng tạo đích thực thì luôn luôn độc hành, tự do tự tại.
Cái mà người thi sĩ cần, chính là sự cô độc, cô đơn, cô liêu…”
Cho nên, cuộc Thiên Lý Độc Hành của Tuệ Sỹ cũng là
một cách điệu phiêu bồng, ngao du, chơi rong trong cảnh giới tâm
linh của mình vậy. Ở đây, tâm và cảnh, ngoài và trong, mộng và thực, có và
không, sống và chết… đều dung thông, vô ngại giữa Cuộc Lữ Thiên
Thu ngay từng giây phút thực tại đang là, ngắm trăng ngoài đại
hải mênh mông:
Ngợp lòng xanh ánh trăng lồng
Mông mênh trên biển lặng trông huyền hòa
Nghìn năm trong một sát na
Hiện sờ sờ giữa đang là đây thôi
Cười theo lãng đãng sương trời
Thấy mình như khói nên chơi rong hoài
Khói sương thường trụ không phai
Bụi đời là cuộc đi dài thiên thu
Đến đi vô đích tuyệt trù
Như cơn gió lạ thoảng vu vơ cùng
Từ vô thủy tới vô chung
Chưa từng sinh diệt trên vùng tâm uyên
Sinh diệt là cõi Tục đế, cứ mãi lặn hụp, nổi chìm
trong dòng sinh tử luân hồi từ vô lượng kiếp, còn không
sinh không diệt là cõi Chân đế, miền Không xứ của những bậc Thiền
sư tự tri tự ngộ, đã giải thoát khỏi vòng sinh tử trầm
kha. Tuy nhiên, Chân hay Tục thì cũng không ngoài cái thực tại Nhất
nguyên tuyệt đối này:
“Ngay trong phiền não tức là Bồ đề, ngay trong
những nguy hiểm đáng sợ hãi của sinh tử cũng chính là Niết
bàn an ổn. Sợi dây bị tưởng lầm là con rắn, nhưng không phải hủy diệt sợi
dây để diệt trừ ảo giác gây nên sợ hãi. Ngoài những
gì vô thường được thấy, được kinh nghiệm bằng chính mắt,
tai, mũi, lưỡi này, không tồn tại một thế giới chân thường, đại
lạc hay đại ngã nào khác. Đó chính là thực tại Nhất
nguyên tuyệt đối” (6).
Thực tại hiện tiền đó chẳng đâu xa mà ở ngay liền trước
mắt, đương xứ tức chân. Cho nên họ tự do tự tại, rong chơi trong tam
giới với phong thái phiêu bồng, thong dong Thõng Tay Vào Chợ,
hòa cùng giọt lệ và nụ cười của thập loại chúng sinh, tùy duyên mà hóa độ muôn loài vạn vật:
“Làm trai dốc chí xông trời đất
Chớ dẫm Như Lai bước đã qua”
Quảng Nghiêm bỗng hét lên như thế
Ồ nghe chấn động cõi ta bà
“Đỉnh non có buổi leo lên thẳng
Gầm dài một tiếng lạnh hư không”
Không Lộ gầm chi mà sấm sét
Dội vang rúng chuyển khắp bụi hồng
“Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Nói im động tịnh thảy an nhiên”
Huyền Giác phát ngôn như vậy đó
Cho nên dứt tuyệt hết ưu phiền
“Một cõi Vĩnh Hằng thu giọt nắng
Nghe tình du tử chợt xôn xao”
Tuệ Sỹ đi về trên cuộc lữ
Tự do qua lại ngát phương nào…
Tham khảo:
1. Tuệ Sỹ. Giấc Mơ Trường Sơn (thơ). An Tiêm, Paris 2002
2. Tuệ Sỹ Văn Tuyển. Hạnh Viên sưu tập. Phương
Đông, Sài Gòn 2015
3. Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn
Mộng. Ca Dao, Sài Gòn 1973
4. Tuệ Sỹ. Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm (thơ). Phương
Đông, Sài Gòn 2009
5. Tuệ Sỹ. Thắng Man Giảng Luận. Phương Đông, Sài Gòn
2012
6. Tuệ Sỹ. Huyền Thoại Duy Ma Cật. Phương Đông, Sài
Gòn 2007
28.8.2018Tâm Nhiên



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét