Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Không gian nghệ thuật trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

Không gian nghệ thuật trong bài thơ
Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

I. VŨ HÁN VÀ LẦU HOÀNG HẠC

Từ 3.000 năm trước đã có dân cư sinh sống ở Vũ Hán. Năm 223 được xem là năm thành lập Vũ Hán. Cũng năm 223 Hoàng Hạc lâu được xây dựng trên khu Vũ Xương của sông Dương Tử. Thôi Hiệu (704-754) là một trong những nhà thơ nổi tiếng đời Đường (618 - 907) đã đến thăm ngôi lầu và viết bài thơ “Hoàng Hạc lâu”. Tương truyền rằng Lý Bạch (701-762) khi đến Hoàng Hạc lâu, thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng: “Nhãn tiền  hữu cảnh đạo bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Trước mắt thấy cảnh không tả được/ Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu). Nhờ bài thơ Hoàng Hạc lâu, địa danh này đã nổi tiếng khắp Trung Quốc.
Hoàng Hạc Lâu, một trong tứ đại danh lâu của Trung Quốc

Thành phố Vũ Hán từ lâu đã được xem là trung tâm nghệ thuật (thi họa) và học thuật của Trung Quốc. Trong những ngày đại dịch COVID-19 này, bài viết như một niềm cảm thông, yêu mến, trân trọng của tác giả với Vũ Hán.
II. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG BÀI THƠ "HOÀNG HẠC LÂU" CỦA THÔI HIỆU
HOÀNG HẠC LÂU
Phiên âm:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Dịch nghĩa:
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!
Bản dịch của Tản Đà
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Lời bình:
1. Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận về thế giới và con người thì không gian nghệ thuật (KGNT) chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới. “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu là một trong những bài thơ Đường luật nhưng “thất luật” (sai luật) hay nhất cổ kim, đã thể hiện đầy đủ các đặc trưng thi pháp của thơ Đường, đặc biệt thi pháp KGNT.
2. KGNT trong thơ Đường chủ yếu là không gian vũ trụ.
Xuất phát từ quan niệm của người Trung Hoa xem vũ trụ là căn bản tồn tại của cá thể, không gian vũ trụ trong thơ Đường có ý nghĩa bao quát tuyệt đối. Có thể nói không gian vũ trụ trong thơ Đường lấn át không gian đời thường là nơi hoạt động của con người xã hội, không gian này có xu hướng thu hẹp, ở đó con người bị dồn vào những địa dư chật hẹp để vật lộn trong cuộc tồn sinh. Không gian vũ trụ là một cái gì vô cùng thân thiết trong cảm thức của người Trung Hoa, nó trở thành phạm trù duy nhất và cuối cùng để con người cảm nhận nhân sinh.
Không gian vũ trụ trong thơ Đường thường được tính bằng những khoảng cách lớn ngang tầm vũ trụ: đất trời, nhật nguyệt, nam bắc, đông tây, nghìn mẫu, vạn dặm…không gian đó có bầu trời xuất hiện với tần số cao.
3. KGNT trong bài thơ Hoàng Hạc lâu là không gian vũ trụ ở hai cấp vĩ mô và vi mô. Đó là không gian bầu trời mênh mông, bát ngát, vô cùng, vô tận (ở bốn câu đầu), không gian cỏ cây, sông nước (ở bốn câu cuối).
3.1. Có thể nói, ngay nhan đề bài thơ đã chứa đựng phần không gian
Nếu KGNT là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, một cách nhìn thì tại Hoàng Hạc lâu nơi người xưa đã cưỡi hạc ra đi nay chỉ còn mình Thôi Hiệu đứng trên lầu Hoàng Hạc. Lầu Hoàng Hạc nơi có độ cao hơn cảnh vật xung quanh. Từ đây, Thôi Hiệu có thể phóng tầm mắt nhìn. Dường như khoảng cách giữa trời và đất cách nhau không xa lắm.
Cổ nhân có câu:
“Dục cùng thiên lý mục
Cánh thướng nhất tằng lâu”
(Muốn tầm mắt nhìn thấu nghìn dặm/ Hãy lên cao thêm một tầng lầu) - “Đăng Quán Tước lâu”, Vương Chi Hoán.
Phải chăng vì lẽ đó Thôi Hiệu đã chọn lầu Hoàng Hạc là điểm nhìn lý tưởng để giãi bày tâm sự, để ngắm khoảng không gian rợn ngợp trước mắt mình.
3.2. Câu đầu của bài thơ đã gợi ra một không gian vũ trụ ở cấp vĩ mô: “Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ”. “Tích nhân” là người xưa. Câu thơ gợi lại điển tích Phí Văn Vi cưỡi hạc thành tiên, làm tăng tính huyền ảo của không gian. Không gian đó là không gian huyền thoại. Từ “Tích nhân” còn mở ra chiều sâu hàng nghìn năm của thời gian (mà thời gian là chiều thứ tư của không gian). “Hoàng hạc” (hạc vàng) là tín hiệu không gian mở ra về tầm cao. “Hạc khứ” (chim hạc bay mất), ở đây sự phá điệu của hai thanh trắc gợi liên tưởng như cánh chim hạc bay vút lên không trung, mất hút về phía trời xa, mở ra một không gian vũ trụ mênh mông. Trên một bình diện ngôn từ eo hẹp (7 chữ) mà trường liên tưởng gợi ra không cùng.
3.3. Câu thơ thứ hai “Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu” xuất hiện lầu Hoàng Hạc giữa trời đất bao la. “Không” này là trống không, vô nghĩa. Người xưa cưỡi hạc vàng đi mất rồi thì lầu Hoàng Hạc còn sót lại (“dư”) ở chốn này là sót lại một cách vô nghĩa (“không dư”). Câu này Tản Đà dịch một cách thần tình: “Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ”.
Trong cảm quan không gian toàn vẹn hoàn chỉnh, rõ ràng sự mất mát của “hoàng hạc” - một yếu tố vốn có để lại trống vắng cô đơn cho lầu Hoàng Hạc - yếu tố cận kề. Ở đây, cái còn lại nhắc cái vắng mặt và gợi niềm nuối tiếc bâng khuâng - cái bâng khuâng man mác về không gian.
3.4. Câu thơ thứ ba, thứ tư
“Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản/ Bạch vân thiên tải không du du”, cho thấy không gian vũ trụ càng rõ.
Nếu trong thơ Đường, không gian chiếm một vị trí lớn và không gian này chủ yếu là bầu trời - bầu trời trống không trong quốc họa Trung Hoa thì trong “Hoàng Hạc lâu” cũng vậy. Bầu trời này chỉ có: “Bạch vân thiên tải không du du”. Câu thơ này, Tản Đà dịch là: “Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay”. Khương Hữu Dụng giữ nguyên thể, dịch: “Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi”. “Không du du” chỉ có thể hiểu là vô định. Mây trắng lang thang vô định trên bầu trời. Ba chữ phù bình (không dấu) này với ba thanh bằng kéo theo sự trống rỗng vô biên, trống rỗng tới tuyệt đối.
Nếu thời gian vũ trụ được đặc trưng bởi “vô hạn”, “vô cùng”, “thiên cổ”, “vạn cổ” thì thời gian trong câu thơ này là thời gian vũ trụ vĩnh hằng: “thiên” (nghìn năm). Trong thời gian đó, chỉ có “bạch vân” (mây trắng) là vĩnh viễn.
Ta biết rằng, trong thơ Đường không gian thường được thời gian hóa làm cho nó thêm mênh mang, vời vợi. Nhà thơ luôn nhìn thấy thời gian trong không gian, không gian biến hóa. Trong thơ Đường, mọi biểu tượng không gian đều hàm chứa thời gian. Câu thơ “Bạch vân thiên tải không du du” vừa gợi lên không gian, vừa là một câu thời gian - thời gian tàn phá tất cả những gì con người dựng nên.
Nhưng KGNT đâu chỉ là “trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn” mà nó còn mở ra từ một “cách nhìn”. Trong không gian vũ trụ ấy, tác giả chính là con người vũ trụ. Ở đó, con người nhà thơ được giao hòa, tương thông cùng thế giới. Chim hạc bay đi, để lại một ngôi lầu trống rỗng, một vòm trời trống rỗng, bởi lòng nhà thơ trống rỗng. Mang tâm trạng nuối tiếc, buồn thương, nên cảnh buồn như lòng người. Cảnh đó đâu chỉ là “phong cảnh” mà còn là “tâm cảnh”. Có phải trước cái hiện thực phũ phàng kia: hạc bay, mộng vỡ, ngẩng lên chỉ thấy “Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay” mà nhân vật trữ tình thấy lẻ loi, mất mát, đơn côi - một sự nuối tiếc vô bờ nhưng không tang thương, bị lụy.
3.5. Ở bốn câu cuối, KGNT lại được mở ra khi nhà thơ phóng tầm mắt nhìn từ cao xuống thấp, từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoại cảnh đến nội tâm.
Vẫn cái không gian vũ trụ ấy nhưng từ không gian vĩ mô (bầu trời, cái cực lớn hư vô của vũ trụ), đến không gian vi mô (cỏ cây, sông nước). Hiện thực đã cận kề: trời đã về chiều, cảnh sắc lầu Hoàng Hạc đã thay đổi. Nắng chiều phản chiếu rõ mồn một hàng cây trên đất Hán Dương và xa xa là bãi cỏ thơm Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Bức tranh đã có thêm màu sắc. Ngoài màu mây trắng mang phong vị triết học thì bức tranh có thêm màu xanh của cỏ cây, sông nước, màu vàng nhạt của nắng chiều. Dù chỉ là nắng chiều nhưng bức tranh ấm nóng hơn. Nhưng chưa hết, ở đây còn có hương thơm từ bãi cỏ Anh Vũ bay lẫn vào không trung làm cho bức tranh thêm sinh khí.
Khác với bốn câu thơ trên, thiên nhiên ấy hiện ra là một thiên nhiên cụ thể, với những đường nét và màu sắc có thật. Thiên nhiên tươi tắn giàu sức sống hơn phải chăng do “cách nhìn” của nhà thơ cũng khác?
Nhưng lòng nhà thơ chỉ ấm lên trong chốc lát, cái hiện thực tươi tắn, mơn mởn, đầy sức sống này chỉ thoáng qua rồi tất cả chìm vào hoàng hôn. Chiều tối rồi, nhà thơ tự hỏi: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?”. Đâu là quê hương? Chỉ thấy dòng sông mịt mù khói sóng. Màu sắc hư hư, thực thực của sương khói làm sông xa vời mênh mông, không biết đâu là bến bờ: “yên ba giang thượng”. Cái màu của “yên ba” đó cũng chính là màu tâm trạng của nhà thơ - một lữ thứ xa quê trong một buổi hoàng hôn mịt mù khói sóng: tâm trạng man mác buồn thương.(Và nhà thơ có biết đâu cái khói sóng trong bức tranh hoàng hôn đó của mình đến hơn một nghìn năm sau còn vương vấn trong lòng người yêu thơ ông như một hình tượng ám ảnh?).
4. “Hoàng Hạc lâu” tên bài thơ đọc lên ta cứ tưởng Thôi Hiệu chỉ tập trung miêu tả lầu Hoàng Hạc. Nhưng nét bút của nhà thơ tung hoành trong một không gian rộng lớn mang tầm vũ trụ. Cảnh có độ cao, chiều rộng và có cả chiều sâu. Cảnh có màu sắc, đường nét và cả hương vị. Cảnh được miêu tả theo đúng luật “xa, gần” của hội họa. Vì thế “Hoàng Hạc lâu” không chỉ là một tác phẩm thơ mà còn là một tác phẩm hội họa sắc nét mang hồn vía của cảnh, đồng thời chứa chan tâm hồn thi sĩ.

Rõ ràng KGNT trong Hoàng Hạc lâu đã góp phần đắc lực biểu hiện tình điệu của bài thơ, tâm sự của nhân vật trữ tình. 
3/3/2020
Nguyễn Thị Lan
Theo http://www.cuuchienbinhtphcm.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...